Đối với những phân tích trung bình, báo cáo sẽ cung cấp một bức tranh về các đặc điểm của đồng bào các dân tộc thiểu số nghèo bằng cách so sánh giữa nhómdân tộc thiểu số với nhóm đa số.6
Trang 1Ngheo cua Dân tôc thiêu số ở Viêt Nam:
Hiên trang và Thach thưc ở cac xã thuôc Chương
trinh 135 Giai đoan II, 2006-2007
Phạm Thái Hưng
Lê Đặng Trung và Nguyễn Việt Cường
Hà nội, Tháng 07/2011
Trang 2Mục lục
Tóm tắt 4
Giới thiệu 5
Chương 1 Tổng quan về nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số 6
1.1Nghèo ở Việt Nam đã trở thành một hiện tượng gắn với đồng bào dân tộc thiểu số 6
1.2Chênh lệch về mức sống: các dân tộc thiểu số tụt hậu lại phía sau 7
1.3Những khía cạnh khác về nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn 7
Chương 2 Khả năng tiếp cận dịch vụ công của đồng bào dân tộc thiểu số nghèo 19
2.1Tiếp cận giáo dục 19
2.2Tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe 22
2.3Tiếp cận hạ tầng cơ sở thiết yếu 25
Chương 3 Sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số nghèo 28
3.1Tham gia thị trường lao động và phân bổ lao động 28
3.2Nguồn thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số 28
3.3Các hoạt động sinh kế chính của đồng bào dân tộc thiểu số nghèo 39
Chương 4 Đánh giá lại chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân tộc 41
4.1Chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân tộc: Kết quả phân tách 41
4.2Chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân tộc: Tìm kiếm một lời giải thích 41
Chương 5 Một số đề xuất về chính sách giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trong tương lai 43
5.1Phân tích các chính sách và chương trình hiện hành cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo 43
5.2 Đề xuất cho các chính sách và chương trình trong tương lai dành cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo
43
Kết luận 45
Tài liệu tham khảo 46
Phụ lục 47
Phụ lục 1 Điều tra kì gốc (BLS) 47
Phụ lục 2 Các chiều phân tích 47
Phụ lục 3: Phương pháp phân tách Blinder-Oaxaca 48
Phụ lục 4 Các số liệu thống kê khác 49
Trang 3Danh mục viết tắt
BLS Điều tra kỳ gốc Chương trình 135-giai đoạn II
MOLISA Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
CT135-I Chương trình 135, Giai đoạn 1
CT135-II Chương trình 135, Giai đoạn 2
VHLSSs Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam
Trang 4Tóm tắt
Tinh hinh ngheo cua đồng bào dân tôc thiêu số ngheo ở Viêt Nam
Ngheo đoi ngay cang trở thanh hiên tương gắn với đồng bao dân tôc thiêu số
Chinh phủ Viêt Nam đã xây dưng môt số chương trinh và chinh sach giam ngheo quan trong cho cac khu vưc dân tôc thiêu số ngheo trong thời gian qua, trong đó có Chương trinh 135 Giai đoạn II vơi số vốn đâu tư vào khoang gân môt tỉ đô-la Mỹ trong giai đoạn 2006-2010 Nhưng sang kiên này cung đã nhân đươc sư hỗ trơ tich cưc từ phia cac Đối tac Phat triên ở Viêt Nam Kêt qua là đã giam đươc tinh trạng ngheo ở cac khu vưc dân tôc thiêu số, măc dù ở nhưng khu vưc này tốc đô giam ngheo cung không đươc nhanh chóng như trên ca nươc Đồng bào dân tôc thiêu số chiêm 14,5% trên tông dân số của ca nươc năm 2008 nhưng lại chiêm hơn môt nưa số người ngheo Do vây, nêu không đạt đươc nhưng cai thiên nhanh chóng và quan trong về mưc sống thi ngheo đói gân như sẽ trở thành môt hiên tương gắn liền vơi người dân tôc thiêu số trong tương lai gân
Ở cac xã ngheo cung co nhưng khoang cach đang kê về thu nhâp
Kêt qua điều tra cho thây cac hô gia đinh thuôc nhưng trong khuôn khô CT135 ngheo hơn rât nhiều so vơi mưc binh quân của ca nươc, và điều này gơi ý răng Chương trinh nhin chung là hương tơi đung cac xã cân hỗ trơ Ở cac xã này lại có khoang cach đang kê giưa cac hô thuôc dân tôc đa số và cac hô dân tôc thiêu số Trong thưc tê, kha năng cac hô dân tôc thiêu số trong canh ngheo cao gâp đôi so vơi cac hô thuôc dân tôc đa số sống trên cùng đia bàn Tuy nhiên, đây cung không phai là toàn bô bưc tranh Viêc phân tich dư liêu ở câp
đô sâu hơn cho thây răng khoang cach về mưc sống lơn nhât lại là giưa cac hô trong cùng môt dân tôc chư không phai là bât binh đăng giưa cac dân tôc vơi nhau Mưc đô bât binh đăng ở cac xã 135 là kha cao, vơi hê số Gini vào khoang 0,52%, so vơi hê số binh quân ca nươc cho khu vưc nông thôn là 0,40% Sư thay đôi của tinh trạng ngheo đối vơi đồng bào dân tôc thiêu số là môt hiên tương phưc tạp, đoi hoi phai có nhưng giai phap chinh sach nhạy cam và linh hoạt
‘Dân tôc thiêu số’ không phai la môt nhom đồng nhât
Dư liêu từ điều tra cơ ban cho thây răng giưa cac nhóm dân tôc thiêu số cung có khoang cach đang kê Nói môt cach đơn gian là, môt số dân tôc kha hơn cac dân tôc khac Điều này đăc biêt đung đối vơi môt số dân tôc thiêu số có dân số lơn hơn, vi dụ như dân tôc Khơ-me, Mường, Tày và Thai Cac dân tôc này có tỉ lê ngheo thâp hơn so vơi tỉ lê ngheo binh quân của toàn bô cac dân tôc thiêu số, và kha gân vơi tỉ lê ngheo của nhóm dân tôc đa số Ngươc lại, môt số dân tôc thiêu số it người hơn như dân tôc H’re và Bana, cac dân tôc
Trang 5ở Tây Nguyên và miền nui phia Bắc, và dân tôc H’mong có tỉ lê ngheo cao hơn rât nhiều Môt đăc điêm đăc biêt và đang chu ý về ngheo của dân tôc thiêu số là người dân tôc thiêu số không nói đươc tiêng Viêt hoăc là nói đươc it có nguy cơ ngheo cao hơn so vơi đồng bào có khả năng nói tiếng Việt
Cac khia canh phi thu nhâp cung quan trong khi giai thich về ngheo đoi
Thu nhâp không phai là thươc đo duy nhât cho tinh trạng ngheo của đồng bào dân tôc thiêu số Xet về diên tich đât sở hưu, mưc đô sở hưu tài san và tiêp cân cac hàng hóa và dich vụ công như là nươc sạch và vê sinh, người dân tôc thiêu số cung tụt hâu hơn môt cach rõ rêt Sở hưu đât là môt khia cạnh quan trong trong đời sống hô gia đinh Kêt qua điều tra cho thây răng tông diên tich đât mà người dân tôc thiêu số sở hưu trên thưc tê là lơn hơn so vơi dân tôc đa số Tuy nhiên, khi xem xet chât lương đât thi người dân tôc thiêu số thường sở hưu đât vơi chât lương tốt nhât lại ở mưc đô thâp hơn Người dân tôc thiêu số cung sở hưu đât rừng nhưng cac hoạt đông sinh kê liên quan đên rừng chỉ chiêm môt vi tri rât khiêm tốn trong tổng thu nhập bình quân hộ gia đình
Mưc đô hai long cua ngươi dân đối với Chương trình 135 Giai đoan II va mưc đô tự đanh gia về đơi sống
Măc dù cac cuôc Khao sat ý kiên người dân về Chương trinh 135 Giai đoạn II cho thây răng nhin chung người dân có mưc đô hài long cao và đanh gia cao nhưng hỗ trơ của Chương trinh Tuy nhiên, kêt qua khao sat trong Điều tra cơ ban cho thây sư thiêu hụt đáng kể về mức độ tiếp cận của đồng bào dân tộc thiểu số với cơ sở hạ tầng và dịch vụ thiêt yêu Sư khac biêt giưa nhóm dân tôc thiêu số vơi nhóm dân tôc đa số đươc thê hiên đăc biêt rõ net ở cac linh vưc lương thưc, nươc sạch và thuốc men Nhin tông thê thi khoang môt nưa số người dân tôc thiêu số trong Điều tra cơ ban cho răng ho “không hài long” vơi mưc sống hiên nay của ho
Mưc đô tiêp cân dich vụ công và chiên lươc sinh kê cua ngươi ngheo dân tôc thiêu số
Cơ sở ha tâng va dich vụ đã đươc cai thiên nhưng khuyến khich đồng bao dân tôc thiêu số sử dụng nhưng công trình cơ sở ha tâng va dich vụ săn vân con la môt thach thưc
Đã có nhưng cai thiên quan trong trong viêc cung câp cơ sở hạ tâng cơ ban và dich vụ công
cơ ban cho người dân tôc thiêu số ở cac xã đăc biêt khó khăn trên ca nươc Tuy nhiên, phân tich kêt qua điều tra cho thây răng người dân tôc thiêu số có xu hương it sư dụng cơ sở hạ tâng và dich vụ hơn so vơi người dân tôc đa số Xet về sinh kê, người dân tôc thiêu số it hoa nhâp vào cac mạng lươi thương mại hơn và kha năng ho san xuât ra cac loại cây hoa màu hoăc cây công nghiêp mà giup tạo nguồn thu nhâp đang kê cung ở mưc thâp hơn Đối tương chủ yêu tham gia vào cac mạng lươi thương mại vân là người dân tôc đa số
Mưc đô tiếp cân giao dục cua ngươi dân tôc thiêu số
Trang 6Người dân tôc thiêu số có trinh đô hoc vân thâp hơn nhiều so vơi người dân tôc đa số Môt nhân tố quan trong dân tơi thưc tê này là ngôn ngư, và “khó khăn trong viêc sư dụng tiêng Viêt” là khó khăn chinh mà trẻ em dân tôc thiêu số trong Điều tra cơ ban găp phai trong trường hoc Và kha năng người dân tôc thiêu số bo hoc cung cao hơn rât nhiều Nguyên nhân chinh ở đây là ho đã “qua tuôi” và do đó không muốn hoăc không thê tiêp tục theo hoc Môt nguyên nhân quan trong nưa là ho cân phai làm viêc đê nuôi gia đinh Do vây ngheo đói là môt nhân tố quan trong dân tơi trinh đô hoc vân thâp, và viêc không đươc hoc hành lại là môt nhân tố hêt sưc quan trong làm cho cai ngheo của người dân tôc thiêu số tiêp tục đươc truyền từ thê hê này sang thê hê khac.
Mưc đô tiếp cân cac dich vụ y tế
Về măt y tê, người dân tôc thiêu số cung đã đươc hưởng lơi từ chinh sach câp thẻ bao hiêm
y tê và thẻ kham chưa bênh miên phi đươc thưc hiên qua Chương trinh 135 và cac chương trinh khac Trên 70% người dân tôc thiêu số trong diên khao sat của điều tra cơ ban có bao hiêm y tê, và 14% có thẻ kham chưa bênh miên phi Chỉ có dươi 10% người dân tôc thiêu số ở cac xã khao sat là không có bao hiêm y tê, trong khi đó tỉ lê này là 32% đối vơi nhóm dân tôc đa số.Tuy nhiên, người dân tôc thiêu số lại chủ yêu dưa vào cac dich vụ y tê câp xã, mà dich vụ này thi con rât thô sơ, và bao hiêm y tê thi lại không chi tra cho nhưng khoan chi phi kham chưa bênh lơn Trong bât cư trường hơp nào thi người dân tôc thiêu số cung không có tiền đê trang trai cho chi phi đi lại và ăn ở tại bênh viên huyên hoăc cac cơ sở y tê khac Người dân tôc thiêu số thường sư dụng cac hinh thưc kham chưa bênh
“khac” nhiều hơn rât nhiều, trong đó bao gồm viêc đên kham chưa bênh tại cơ sở của cac thây lang, hoăc cac hinh thưc “tư điều tri”
Sinh kế cua ngươi dân tôc thiêu số ngheo
Mưc đô cac hô đa dạng hóa sinh kê ngoài hoạt đông nông nghiêp là môt trong nhưng nhân tố chinh quyêt đinh đời sống hô gia đinh Kêt qua phân tich cac chiên lươc sinh kê của người dân tôc thiêu số sinh sống ở cac xã đăc biêt khó khăn cho thây răng ho it di chuyên và it hoa nhâp vào thi trường lao đông so vơi cac hô thuôc dân tôc đa số trên cùng đia bàn Đồng bào dân tôc thiêu số thường làm nông nghiêp dươi hinh thưc tư cung tư câp, đồng thời ho thường không san xuât cac loại cây hoa màu gia tri cao hoăc là cây công nghiêp đê đạt đươc lơi ich kinh tê cao Kêt qua là, thu nhâp trung binh của cac hô dân tôc Kinh ở cac xã đươc khao sat cao hơn so vơi cac hô dân tôc thiêu số Xet về cơ câu thu nhâp của cac hô thuôc dân tôc đa số, 60% trên tông thu nhâp là từ viêc làm công ăn lương, thu nhâp phi nông nghiêp hoăc từ nhưng khoan tiền đươc chuyên về, con vơi dân tôc thiêu số thi con số này là 38% Hơn môt nưa nguồn thu của cac hô dân tôc thiêu số là từ trồng trot và chăn nuôi, và trồng trot là nguồn thu nhâp quan trong nhât của tât ca cac nhóm dân tôc thiêu số ngheo
Hiêu về “khoang cach thu nhâp” giưa cac dân tôc
Trang 7Khoang cach thu nhâp không phai chỉ do sự khac biêt về đặc điêm va nguồn lực; nhưng khac biêt về thu nhâp từ nhưng đặc điêm va nguồn lực nay cung quan trong
Cac phat hiên từ điều tra củng cố thêm cac kêt luân đươc rut ra từ nhưng phân tich khac gân đây mà sư dụng kêt qua Khao sat Mưc sống Hô Gia đinh Viêt Nam (VHLSS) Đó là, chỉ có khoang 1/3 mưc chênh lêch thu nhâp giưa người dân tôc đa số và người dân tôc thiêu số là do khac biêt về cac đăc điêm và nguồn lưc, vi dụ như diên tich đât sở hưu, trinh
đô hoc vân, đăc điêm nhân khâu hô gia đinh hoăc là tiêp cân cơ sở hạ tâng Phân con lại (tưc là 2/3) là do nhưng lơi ich mà mỗi dân tôc thu đươc từ nhưng đăc điêm và nguồn lưc này Nói môt cach đơn gian thi điều này có nghia là người dân tôc đa số có kha năng sư dụng nhưng tài san và nguồn lưc mà ho có môt cach tốt hơn so vơi người dân tôc thiêu số, xet về kha năng chuyên từ tài san và nguồn lưc thành thu nhâp Điều này có hàm ý quan trong về măt chinh sach, bởi vi nó ngụ ý răng nêu chỉ thu hep khoang cach về cơ sở hạ tâng hoăc về số năm đi hoc giưa người dân tôc đa số và dân tôc thiêu số thi cung không hoàn toàn thu hep đươc khoang cach về thu nhâp Người dân tôc thiêu số cung cân phai có kha năng thu lơi từ tài san và nguồn lưc của ho tốt hơn nưa
Đâu la nhưng nguyên nhân co thê giai thich cho “sự khac biêt về thu nhâp từ cac đặc điêm
va nguồn lực” giưa dân tôc đa số với dân tôc thiêu số?
Có môt số nguyên nhân đươc nhân diên đê giai thich cho nhưng sư khac biêt này Môt nhân tố quan trong có lẽ là ngôn ngư Viêc không nói đươc tiêng Viêt đã “loại trừ” người dân tôc thiêu số (và đăc biêt là phụ nư dân tôc thiêu số) khiên ho không tham gia đươc vào cac mạng lươi thi trường, tiêp cân thông tin thi trường và sư dụng cac dich vụ công Đồng thời, cac tâp quan văn hóa như là cac cơ chê đam bao đồng đều về thu nhâp trong công đồng đê làm sao không ai qua ngheo cung như nhưng nhân thưc mang tinh đăc thù văn hóa về trach nhiêm xã hôi đối vơi công đồng cung có thê là nguyên nhân làm hạn chê cơ hôi của cac hô dân tôc thiêu số trong viêc tich luy thu nhâp Môt nguyên nhân khac đê giai thich cho điều này có thê là chât lương của cac tài san và dich vụ Măc dù diên tich đât mà người dân tôc thiêu số hưu có thê lơn hơn diên tich đât mà người dân tôc đa số sở hưu nhưng thường nhưng phân đât mà ho sở hưu lại có chât lương kem hơn và không có điều kiên tươi tiêu Xet về cac dich vụ hỗ trơ nông nghiêp, có thê có hỗ trơ khuyên nông nhưng hỗ trơ đó lại không phù hơp vơi nhưng điều kiên môi trường đăc thù nơi người dân tôc thiêu số sinh sống Tương tư, chât lương giao dục ở cac trường dân tôc thiêu số nhân đươc có thê kem Và kê ca khi người dân tôc thiêu số có cùng trinh đô hoc vân như người dân tôc
đa số nhưng cac nghiên cưu cung đã chỉ ra răng người dân tôc thiêu số nhân đươc mưc tiền công/lương thâp hơn so vơi người dân tôc đa số Cuối cùng, có thê đưa ra môt lời giai thich răng nguyên nhân con là do quan niêm sai và dâp khuôn về người dân tôc thiêu số Măc dù khó có thê lương hóa đươc nhưng cung có thê là viêc đưa ra nhưng mô ta tiêu cưc về người dân tôc thiêu số cung góp phân tạo nên nhưng “khac biêt về thu nhâp” như đã thây
Trang 8Khuyên nghi cho cac chương trinh và chinh sach trong tương lai
Thay đôi về cach tiếp cân
Ngheo của người dân tôc thiêu số có đăc điêm phưc tạp và đa diên Do đó, cach tiêp cân nhăm giai quyêt vân đề ngheo của người dân tôc thiêu số cung cân phai linh hoạt, có kha năng thich ưng và nhạy ben trong viêc đap ưng nhu câu thưc sư của cac nhóm dân tôc thiêu số Cân tiêp tục củng cố cac chinh sach và chương trinh hiên có trên cơ sở đăt chung vào môt khung chung nhăm đam bao tinh thống nhât và có cach tiêp cân toàn diên Cung có thê cân nhắm tơi người dân tôc thiêu số môt cach hiêu qua hơn nôi trong cac vùng ngheo nhăm đam bao răng ho nhân đươc lơi ich từ nhưng khoan đâu tư giam ngheo Có thê cân phai bô trơ cho cach tiêp cân theo vùng băng phương phap hương tơi đối tương mục tiêu theo hô gia đinh Cac giai phap ap dụng chung không con phù hơp nưa và có thê cân có cach tiêp cân có sư phân câp hơn, đươc điều chỉnh cho phù hơp hơn vơi từng dân tôc và phù hơp hơn về văn hóa, trong đó ban thân người dân tôc thiêu số đươc giao đam trach vai tro nôi bât hơn trong viêc xac đinh nhu câu
Thay đôi về trong tâm
Viêc giai quyêt nhưng sư khac biêt về thu nhâp từ cac đăc điêm và nguồn lưc giưa nhóm đa số và nhóm thiêu số đoi hoi phai có sư chuyên dich về trong tâm hỗ trơ, nghia là không phai chỉ có thu hep khoang cach về cơ sở hạ tâng và dich vụ đươc cung câp nưa mà con phai chuyên dich sang hinh thưc hỗ trơ theo hương giai quyêt cac vân đề về chât lương và đam bao có sư đối xư công băng vơi tât ca moi người Ở cac nươc phương tây, điều này đoi hoi phai thưc hiên cac biên phap như là đưa ra luât tạo cơ hôi binh đăng, tuy nhiên khi đã có luât thi con phai đam bao thưc thi luât môt cach nghiêm ngăt Cac chương trinh
‘hành đông tich cưc’ cung đã đươc sư dụng ở cac nươc khac nhăm cai thiên triên vong lâu dài cho cac nhóm yêu thê Đồng thời viêc tiêp tục hỗ trơ cai thiên chât lương cơ sở hạ tâng, tài san và dich vụ cho người dân tôc thiêu số đóng vai tro hêt sưc quan trong
Thay đôi về công cụ
Nhăm hỗ trơ thưc hiên sư chuyên dich về cach tiêp cân và trong tâm như trên, có thê ap dụng cac công cụ mơi trên cơ sở kê thừa kinh nghiêm quốc tê Hỗ trơ băng tiền măt có điều kiên đã đươc ap dụng môt cach rông rãi và thành công trong viêc thưởng cho cac hô có nhưng thay đôi quan trong về hành vi mà có thê giup ho thoat khoi vong ngheo đói kinh niên, vi dụ như cho con đi hoc thường xuyên, cho phụ nư có thai đi kham thai theo đung quy đinh, và cho trẻ nho đi tiêm chủng Viêc câp tiền măt cho cac hô ngheo khiên ho đươc linh hoạt trong viêc quyêt đinh xem ho cân làm gi đê đap ưng nhu câu cụ thê của ho Ngoài ra viêc hỗ trơ ngân sach tron gói cho chinh quyền đia phương câp cơ sở cung cho phep nhưng nhà ra quyêt đinh ở câp đia phương Chinh quyền đia phương là nhưng người ở ‘gân’ đồng bào dân tôc thiêu số hơn, có kiên thưc và kinh nghiêm tốt trong viêc xac đinh
Trang 9nhưng yêu câu cân thưc hiên đê giai quyêt vân đề ngheo ở cac khu vưc nhât đinh – có thê quyêt đinh cach thưc sư dụng cac nguồn lưc môt cach hiêu qua nhât đê giai quyêt tinh trạng ngheo kinh niên, thâm căn cố đê.
Trang 10Giới thiệu
Tăng trưởng kinh tế nhanh đã tạo ra những thành tích nổi bật trong giảm nghèo tại Việt Nam trong suốt thập niên 1990 và đầu thập niên 2000 Tuy nhiên, không phải nhóm dân tộc nào trong số 54 nhóm dân tộc của Việt Nam đều được hưởng lợi như nhau từ quá trình tăng trưởng Mức chi tiêu, tuổi thọ trung bình, tình trạng dinh dưỡng và những khía cạnh khác về mức sống của đa số các nhóm dân tộc thiểu số vẫn còn khá thấp Mặc dù chỉ chiếm gần 14.5% tổng dân số Việt Nam nhưng có khoảng 56% người nghèo trên toàn quốc là các
hộ gia đình dân tộc thiểu số (tính đến thời điểm 2008) Thực trạng nghèo và một số khía cạnh khác về mức sống của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu, ví dụ như Báo cáo Phân tích Xã hội Việt Nam về Dân tộc và Phát triển của
Ngân hàng Thế giới (WB, 2009), nhiều nghiên cứu khác được nhắc đến trong Baulch và các tác giả (2008), Phạm và Reilly (2009), VASS (2007), Van de Walle và Gunewardena
đi kèm với những cải thiện quan trọng về tiếp cận với giáo dục, dịch vụ y tế, và các cơ sở
hạ tầng thiết yếu khác Tuy nhiên, tốc độ nâng cao mức sống của các nhóm dân tộc thiểu số vẫn còn chậm hơn nhiều so với nhóm đa số Vì vậy, khoảng cách về mức sống giữa nhóm
đa số và các nhóm dân tộc thiểu số khác có xu hướng tăng dần theo thời gian
Trong bối cảnh đó, hiểu biết rõ lý do vì sao tình trạng nghèo vẫn bám đuổi đồng bào dân tộc thiểu số trong nhiều năm qua là rất quan trọng để có những chính sách hỗ trợ hiệu quả hơn cho phát triển kinh tế xã hội của các nhóm dân tộc thiểu số Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này nhưng hầu hết các công trình nghiên cứu hiện có (gồm cả các nghiên cứu nói trên) đều sử dụng nguồn số liệu từ Khảo sát mức sống dân cư (VLSS) từ thập niên 1990 hoặc từ những Khảo sát mức sống hộ gia đình (VHLSS) được thực hiện trong thời gian gần đây Đây là những cuộc điều tra có chất lượng cao và có tính đại diện toàn quốc, có thể được sử dụng cho các phân tích về tình trạng nghèo và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số Tuy nhiên, sử dụng nguồn số liệu này thưởng gặp hai hạn chế Thứ nhất, V(H)LSS không được thiết kế để đảm bảo tính đại diện cho đồng bào dân tộc thiểu số, do vậy các hộ gia đình dân tộc thiểu số thường không được chọn mẫu đầy đủ Thứ hai, cỡ mẫu được điều tra là hộ dân tộc thiểu số thường tương đối nhỏ, nên phân tích
Trang 11chi tiết theo các nhóm dân tộc riêng lẻ khó có thể đưa ra được kết quả tin cậy Với hai hạn chế này, cách hiểu và sử dụng kết quả phân tích từ nguồn dữ liệu này cho việc hoạch định
và xây dựng khuyến nghị chính sách cần phải được cân nhắc một cách thận trọng
Trong điều kiện đó, báo cáo này phân tích tình trạng nghèo của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam theo một cách tiếp cận khác Thay vì sử dụng dữ liệu từ VLSS và VHLSS như các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này sẽ khai thác nguồn dữ liệu sẵn có từ Điều tra kì gốc (BLS) của Chương trình 135-II (CT135-II) làm nguồn dữ liệu chính BLS được tiến hành bởi Tổng cục Thống kê (GSO) năm 2007 theo yêu cầu của Uỷ ban Dân tộc (UBDT) và với
sự hỗ trợ kỹ thuật của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP).1 Khảo sát này tiến hành trên một mẫu gồm 6000 hộ gia đình thuộc những xã đặc biệt khó khăn của cả nước Khảo sát tuân theo chuẩn mực giống như các cuộc khảo sát VHLSS vốn được xem là các cuộc khảo sát có chất lượng cao.2 Kể từ khi được hoàn thành cho đến nay, BLS đã được sử
dụng nhiều trong việc đánh giá giữa kì của CT135-II bởi Phạm và các tác giả (2009a) hay
UNDP-UBDT (2009) Sau khi phân tích chi tiết bộ số liệu BLS, các tác giả này kết luận rằng BLS có thể là bộ dữ liệu đầy đủ nhất về các dân tộc thiểu số tính đến thời điểm hiện nay (xem thêm Phụ lục 1).3
Trên các phương diện đã được đề cập, báo cáo này sẽ đưa ra câu trả lời cho những câu hỏi nghiên cứu chính sau:4
1 Cuộc điều tra này được thực hiện sau hơn một năm rưỡi kể từ khi Chương trình 135-II bắt đầu, vì vậy ý nghĩa của nó không hẳn là ‘điều tra kỳ gốc’ Tuy nhiên, cuộc điều tra này cung cấp rất nhiều thông tin phong phú về các xã đặc biệt khó khăn trong thời điểm đầu của quá trình thực hiện Chương trình, và vì vậy có thể
sử dụng để thiết lập các giá trị cơ sở phục vụ cho công tác giám sát đánh giá và đánh giá tác động của Chương trình.
2 Các cuộc điều tra VLSSs và VHLSS thực hiện trong hơn hai thập kỉ qua dựa trên phương pháp luận Điều tra Đo lường Mức sống Hộ gia đình (Living Standards Measurement Survey - LSMS) của Ngân hàng Thế giới LSMS được thực hiện ở hầu hết các quốc gia đang phát triển nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu có chất lượng cao về mức sống của các hộ gia đình (xem thêm www.worldbank.org/lsms để biết thêm thông tin)
3 Theo tinh thần của Điều khoản Tham chiếu, số liệu từ Điều tra Người dân (Citizen Report Cards - CRC) được thực hiện trong đợt đánh giá giữa kỳ MTR của CT135-II và Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Giảm nghèo (NTP-PR) Kết quả điều tra CRC cung cấp thông tin về sự hài lòng của người dân đối với các hỗ trợ nhận được từ CT135-II, gồm (i) phát triển cơ sở hạ tầng; (ii) hỗ trợ sản xuất; và (iii) các hỗ trợ khác gồm hỗ trợ trẻ em đến nhà trẻ, hỗ trợ học sinh bán trú/nội trú dân nuôi, và hỗ trợ pháp lý Cuộc điều tra này thu thập thong tin từ mẫu hộ gia đình tại bốn tỉnh gồm Lào Cai, Lao Châu, Bình Phước, Sóc Trăng Mặc dù kết quả điều tra đưa ra nhiều thông tin hữu ích về sự nhận biết, mức độ đóng góp, và hài lòng của người dân nhưng những đó là những vấn đề không thuộc trọng tâm nghiên cứu của báo cáo này Chính vì vậy, một số kết quả
từ CRC sẽ được sử dụng một cách chọn lọc khi phù hợp Thay vào đó, báo cáo sẽ sử dụng BLS như là nguồn
dữ liệu chính Ngoài ra, trong quá trình phân tích, một số dữ liệu từ V(H)LSS sẽ được để sử dụng để so sánh khi thích hợp.
4 Những câu hỏi nghiên cứu này được xây dựng trên cơ sở cân nhắc và nhóm các yêu cầu đặt ra trong Điều khoản Tham chiếu (TOR) Theo cách tiếp cận như vậy, 5 câu hỏi nghiên cứu xác định ở đây là sự tổng hợp của gần 20 câu hỏi nhỏ xác định trong TOR.
Trang 121. Câu hỏi 1: Các đặc điểm chính về nghèo của đồng bào các dân tộc thiểu số, trên cả khía cạnh thu nhập và phi thu nhập, là gì?
2. Câu hỏi 2: Những bất lợi của đồng bào dân tộc thiểu số nghèo trong việc tiếp cận dịch
vụ công và các cơ sở hạ tầng thiết yếu là gì?
3. Câu hỏi 3: Đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện các hoạt động sinh kế, tạo thu nhập như thế nào? Những yếu tố nào quyết định chênh lệnh về thu nhập giữa các nhóm dân tộc khác nhau?
4. Câu hỏi 4: Các chính sách và các chương trình hiện tại đã hỗ trợ nâng cao mức sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số nghèo như thế nào?
5. Câu hỏi 5: Những gợi ý có thể đưa vào các chính sách và chương trình trong tương lai
để hỗ trợ giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số?
Với những mục đích như vậy, báo cáo này tập trung vào ba khía cạnh quan trọng về mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số Thứ nhất, báo cáo sẽ mô tả một cách toàn diện về tình trạng nghèo của các nhóm dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn Mô tả này sẽ tập trung ở
cả khía cạnh thu nhập và các khía cạnh phi thu nhập (ví dụ: tiếp cận giáo dục, dịch vụ y tế, hay các hỗ trợ khác) Thứ hai, báo cáo phân tích các yếu tố quyết định chênh lệch thu nhập giữa nhóm đa số và nhóm dân tộc thiểu số khác Bằng cách phân tách chênh lệnh thu nhập thành hai phần, một là khác biệt về các đặc điểm và nguồn lực giữa các nhóm dân tộc, hai
là sự khác biệt về thu nhập từ các đặc điểm và nguồn lực Khía cạnh quan trọng thứ ba là tìm hiểu xem đồng bào các dân tộc thiểu số nghèo được hỗ trợ từ những chính sách và chương trình hiện tại như thế nào Điều quan trọng là sau những phân tích trên, báo cáo sẽ đưa những khuyến nghị về chính sách/chương trình trong tương lai nhằm đưa ra những hỗ trợ hiệu quả hơn cho việc nâng cao mức sống cho các dân tộc thiểu số
Báo cáo này sử dụng nhiều phương pháp luận khác nhau.5 Đối với hai câu hỏi đầu tiên, phương pháp phân tích thống kê mô tả sẽ được sử dụng để đưa ra các phân tích cả ở khía cạnh trung bình cũng như các chiều phân tích sâu hơn Đối với những phân tích trung bình, báo cáo sẽ cung cấp một bức tranh về các đặc điểm của đồng bào các dân tộc thiểu số nghèo bằng cách so sánh giữa nhómdân tộc thiểu số với nhóm đa số.6 Ngoài ra, báo cáo sẽ
5 Trọng tâm của nghiên cứu này là một nghiên cứu định hướng chính sách do vậy các mô tả mang tính kỹ thuật về phương pháp thống kê, phương pháp kinh tế lượng sẽ không được xây dựng như là một chương chính của Báo cáo như nhiều nghiên cứu khác tình trạng nghèo ở Việt Nam Thay vào đó, những vấn đề này
sẽ được mô tả trong phần Phụ lục.
6 Cần lưu ý rằng, thuật ngữ “thiểu sổ” được sử dụng trong phân tích này để thuận tiện cho việc so sánh kết quả trình bày ở đây với những nghiên cứu trước đó về giảm nghèo ở Việt Nam Thuật ngữ này sử dụng để chỉ các nhóm dân tộc thiểu số Tuy nhiên, các quan sát ở trong BLS chỉ có 22% là hộ gia đình người Kinh còn lại
là hộ gia đình có chủ hộ là người dân tộc thiểu số Bởi vậy, nhóm dân tộc “thiểu số” trong cơ sở dữ liệu này lại chính là nhóm chiếm đa số ở các xã đặc biệt khó khăn
Trang 13đưa ra các phân tích chi tiết theo năm tiêu chí phân tổ khác Do số liệu từ BLS cung cấp nhiều quan sát về đồng bào dân tộc nên báo cáo sẽ đưa ra các phân tích chi tiết cho một số nhóm dân tộc riêng (thay vì chỉ tập trung vào sự khác biệt giữa nhóm đa số và nhóm dân tộc thiểu số) Để các kết quả tính toán thống kê có độ tin cậy cao, bất cứ nhóm dân tộc náo
có hơn 100 quan sát trong mẫu điều tra của BLS đều được xem là một nhóm dân tộc trong quá trình phân tích (ngoại trừ nhóm dân tộc Bana chỉ có 90 hộ trong điều tra BLS) Theo cách tiếp cận như vậy, báo cáo sẽ đưa ra các phân tích chi tiết cho 14 nhóm dân tộc, bao gồm dân tộc Kinh và Hoa (hay còn gọi là nhóm đa số)7, Tày, Thái, Mường, Nùng, Dao, Mông, các dân tộc khác ở vùng Núi Phía Bắc, Bana, H’re, Cơ Tu, các dân tộc khác ở Tây Nguyên, Khơ me, và cuối cùng là nhóm dân tộc khác (là những nhóm khác nhưng không sinh sống ở vùng Núi Phía Bắc hay Tây Nguyên).8 Trong quá trình thực hiện báo cáo, chúng tôi mong muốn đưa ra phân tích về nhiều nhóm dân tộc hơn nữa nhưng điều kiện số liệu sẵn có không cho phép đưa ra những kết quả tin cậy cho việc phân loại các nhóm dân tộc theo cách chi tiết hơn (xem thêm Phụ lục 2)
Bên cạnh việc phân tích chi tiết theo các nhóm dân tộc riêng lẻ (trong phạm vi số liệu cho phép), báo cáo này cũng sẽ đưa ra một số so sánh về tình trạng nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số theo khả năng sử dụng tiếng Việt Trong thực tế, khả năng sử dụng tiếng Việt là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ hòa nhập của đồng bào dân tộc thiểu số với
xã hội và cũng là một yếu tố có tác động nhất định đến mức sống Xuất phát từ thực tế đó, một số vấn đề của báo cáo sẽ được phân tích so sánh theo ba cấp độ thành thạo trong sử dụng tiếng Việt Ngoài ra, giới tính của chủ hộ cũng là một yếu tố có ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định, và vì thế ảnh hưởng đến mức sống của hộ gia đình Do vậy, giới tính của chủ hộ cũng là một chiều phân tích sâu quan trọng Điều kiện sống ở các khu vực khác nhau được tính đến bằng cách phân chia rõ theo vùng miền và theo đặc điểm địa lí (ví dụ: các xã thuộc vùng ven biển, xã đồng bằng, xã trung du, xã miền núi) Ngoài ra, báo cáo này cũng sẽ đưa ra một số phân tích so sánh giữa nhóm nghèo và nhóm không nghèo Những chiều phân tích sâu này được mô tả chi tiết hơn ở Phụ lục 2
Đối với câu hỏi nghiên cứu thứ ba, báo cáo vận dụng phương pháp phân tách Oaxaca Đây là phương pháp đã được sử dụng ở một số nghiên cứu trước đây về chênh
Blinder-lệch mức sống giữa nhóm đa số và thiếu số tại Việt Nam (ví dụ như Baulch và các tác giả,
7 Hộ gia đình người Hoa có tỷ lệ nhỏ trong mẫu quan sát (khoảng 42 hộ trong số 6000 hộ được điều tra) nên không tách được thành một nhóm riêng Chúng tôi đã cố gắng tách nhóm người Hoa từ nhóm Kinh-Hoa nhưng thực sự không có sự khác biệt đáng kể nào về kết quả Vì thế, nhóm người Hoa được xem xét như là một bộ phận nhỏ của nhóm đa số để thuận tiện trong việc so sánh với các nghiên cứu trước đây thường sử dụng định nghĩa nhóm đa số gồm Kinh và Hoa.
8 Ở giác độ này, sự phân chia nhóm dân tộc chủ yếu dựa vào thống kê kỹ thuật hơn là phân chia theo nền tảng tập tục, văn hóa, hay nhân chủng học.
Trang 142008); Phạm và các tác giả, 2009b) Theo phương pháp này, chênh lệch về thu nhập bình
quân đầu người giữa các nhóm dân tộc sẽ được phân tách thành hai thành phần; phần thứ nhất là sự khác biệt về các đặc điểm và nguồn lực giữa các nhóm dân tộc (thường được biết đến dưới tên gọi là khác biệt về sở hữu các yếu tố nguồn lực); phần thứ hai là sự khác biệt
về thu nhập từ các đặc điểm và nguồn lực Thuật ngữ “đặc điểm và nguồn lực” bao gồm cả các đặc trưng của hộ gia đình (ví dụ như đặc điểm nhân khẩu, giáo dục, tài sản của hộ gia đình như đất đai), tiếp cận với dịch vụ công, tiếp cận với cơ sở hạ tầng thiết yếu Thuật ngữ
“thu nhập từ các nguồn lực” chỉ lợi ích mà hộ gia đình có thể thu được từ các đặc điểm và nguồn lực của họ (xem chi tiết về Phương pháp Blinder-Oaxaca ở Phụ lục 3)
Đối với câu hỏi nghiên cứu thứ tư, phương pháp nghiên cứu tại bàn được sử dụng để xem xét những vấn đề còn tồn tại trong các chính sách và chương trình hỗ trợ giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số Lưu ý rằng báo cáo này không nhằm mục tiêu cung cấp một bức tranh toàn diện về tác động của các chính sách và chương trình trong việc nâng cao mức sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số - đây vốn là vấn đề rất phức tạp và không thể đề cập đến một cách đầy đủ trong một nghiên cứu ở quy mô như thế này Thay vào đó, báo cáo sẽ nhấn mạnh vào “khoảng cách” hay “sự không tương thích, không phù hợp” giữa các chính sách, chương trình hiện tại với các đặc trưng về nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số Trọng tâm phân tích được xác định để phát hiện những vấn đề/thách thức mà sự can thiệp của các chính sách, chương trình hiện tại chưa đạt hiệu quả hoặc chưa chú ý đến Đối với câu hỏi nghiên cứu thứ năm, việc giải đáp được bốn câu hỏi ở trên sẽ cung cấp nền tảng phù hợp để đưa ra các gợi ý về chính sách/chương trình trong tương lai cho việc hỗ trợ giảm nghèo cho các đồng bào dân tộc thiểu số Ở khía cạnh này, báo cáo sẽ đưa ra một số những đầu vào cho thảo luận giữa các nhà hoạch định chính sách và các đối tượng liên quan khác, đặc biệt là cho việc thiết kế và thực hiện giai đoạn tiếp theo của CT135-II.Báo cáo có một số những hạn chế về phạm vi và số liệu cần được nhấn mạnh Về khía cạnh
số liệu, mặc dù BLS có thể là bộ số liệu đầy đủ nhất cho đến nay về mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số tại những xã đặc biệt khó khăn, vùng tập trung nhiều dân tộc thiểu số nhưng do cỡ mẫu còn hạn chế nên bộ số liệu này có thể không cung cấp được thông tin về một số nhóm dân tộc Ngoài ra, dữ liệu này được thu thập trong quý III năm 2007, tính từ thời điểm đó cho đến nay đã có nf cải thiện quan trọng trong mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là việc tiếp cận các cơ sở hạ tầng thiết yếu và dịch vụ công Những cải thiện này vì vậy không được đề cập đến trong báo cáo Về khía cạnh phạm vi của báo cáo, do hạn chế về nguồn số liệu sẵn có nên báo cáo không thể đánh giá được tác động một số cú sốc kinh tế (khủng hoảng kinh tế, lạm phát, dao động giá lương thực và năng lượng) đối với đời sống của đồng bào nghèo dân tộc thiểu số Cũng cần nhấn mạnh rằng, báo cáo này chủ yếu tiếp cận vấn đề nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số dưới góc độ định lượng Trong khi đó, có nhiều yếu tố ảnh hưởng mạnh đến mức sống của đồng bào
Trang 15như văn hóa, tập quán là những yếu tố định tính không thuộc phạm vi phân tích của báo cáo.
Kết cấu của Báo cáo bao gồm những phần chính như sau Chương 1 mô tả tổng quát về tình trạng nghèo và các khía cạnh kinh tế liên quan đến mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã đặc biệt khó khăn Các chương tiếp theo sẽ tập trung vào các khía cạnh quan trọng về đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số tại những xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn Cụ thể, Chương 2 phân tích sâu về tiếp cận dịch vụ công, tập trung vào vào giáo dục, y tế, và cơ sở hạ tầng thiết yếu Chương 3 đề cập đến các hoạt động sinh
kế chính của các hộ gia đình Chương 4 phân tích sâu về khoảng cách thu nhập giữa các nhóm dân tộc Đặc biệt, chương này sẽ xem xét lại những kết quả nghiên cứu trước đây về khoảng cách mức sống giữa các nhóm dân tộc Chương cuối của báo cáo đưa ra một số nhận xét về hệ thống chương trình/chính sách hiện hành đối với giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số; trên cơ sở đó đưa ra một số gợi ý cho các chính sách/chương trình hỗ trợ giảm nghèo cho các đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian tới
Trang 16Chương 1 Tổng quan về nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số
Chương này đưa ra các phân tích tổng quan về tình trạng nghèo của đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống ở các xã đặc biệt khó khăn thuộc CT135–II Trong các nghiên cứu về nghèo ở Việt Nam, có hai phương pháp hay được sử dụng Phương pháp được Ngân hàng Thế giới
và nhiều tổ chức khác ủng hộ dựa trên chi tiêu hộ gia đình; còn MOLISA và nhiều cơ quan ban ngành khác ở Việt Nam sử dụng cách tiếp cận dựa trên thu nhập Vì BLS không thu thập số liệu về chi tiêu, do vậy các phân tích về trình trạng nghèo trong nghiên cứu này sẽ dựa trên số liệu thu nhập hộ gia đình Phần tiếp theo cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung trước khi đi sâu phân tích tình trạng của nhóm dân tộc thiểu số nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn Phần thứ hai sẽ tập trung vào một số chỉ số về chênh lệch mức sống giữa các nhóm dân tộc Nhằm bổ sung cho những phân tích về khía cạnh thu nhập của đời sống ở hai phần đầu, phần cuối cùng của chương này sẽ tập trung vào một số khía cạnh phi thu nhập liên quan đến mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số
bào dân tộc thiểu số
Để xem xét thực trạng nghèo của đồng bào những dân tộc thiểu số ở những xã đặc biệt khó khăn, chúng ta có thể bắt đầu từ cái nhìn tổng quan về tình trạng nghèo của dân tộc thiểu
số trên cả nước Việt Nam đã đạt được những tiến bộ lớn trong công tác giảm nghèo, tỷ lệ nghèo đã giảm từ gần 58% năm 1993 xuống còn dưới 14% vào năm 2008 Tuy nhiên, Hình 1.1 cho thấy tốc độ giảm nghèo ở đồng bào dân tộc thiểu số thấp hơn so với của cả nước Năm 2008, gần 50% đồng bào dân tộc thiểu số sống dưới ngưỡng nghèo; trong khi đó tỷ lệ tương ứng của nhóm đa số chỉ là dưới 9%.9 Điều đáng lo ngại ở đây là người dân tộc thiểu
số chiếm tỉ lệ ngày càng cao trong tổng dân số nghèo Được ký hiệu bằng chấm tròn trong Hình 1.1 vào đầu những năm 90, tỷ lệ phần trăm người nghèo là người dân tộc thiểu số chỉ
có 18%, tuy nhiên đến năm 1998 tỷ lệ này là 29%, năm 2004 tăng lên 39%, và gần đây nhất là 56% vào năm 2008 (sử dụng số liệu của V(H)LSS) Chỉ chiếm gần 14,5% tổng dân
9 Trong phần phân tích này, chuẩn nghèo của Ngân hàng Thế giới và Tổng cục Thống kê được sử dụng là chuẩn quốc tế Chuẩn nghèo nói chung dựa vào chuẩn chi phí cho những lương thực, thực phẩm tối thiểu Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm dựa vào chi phí cần thiết cho vấn đề lương thực, đối với lương thực thực phẩm ở Việt Nam là 2100 calo/người/ngày Đây là chuẩn nghèo tuyệt đối, có giá trị được điều chỉnh theo thời gian để đảm bảo giá trị thực không đổi Giỏ hàng hóa được dùng để đo chuẩn nghèo là giống nhau ở các năm, chỉ có điều chỉnh về giá để phù hợp với chi phí cần thiết để mua giỏ hàng hóa.
Trang 17số nhưng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đến hơn một nửa dân số nghèo, và xu hướng này tăng dần theo thời gian Trong điều kiện đó, tình trạng nghèo ở VN sẽ sớm trở thành một vấn đề gắn liền với đồng bào dân tộc thiểu số.
Hình 1.1 Tình hình nghèo ở Việt Nam (%)
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả dựa trên V(H)LSS và BLS
Tỷ lệ hộ nghèo ở những xã đặc biệt khó khăn cũng được thể hiện trong Hình 1.1 (đọc theo trục tung thứ hai), tuy rằng việc so sánh giữa các chỉ số nghèo là không phù hợp vì trong khi tỷ lệ nghèo chung trên cả nước xác định theo chi tiêu thì tỷ lệ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn này được xác định từ nguồn số liệu về thu nhập hộ gia đình trong BLS.10 Đáng chú ý là có sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ nghèo của nhóm đa số và nhóm các dân tộc thiểu
số trong các xã đặc biệt khó khăn, dù sự chênh lệch này lại thấp hơn khi so sánh trên phạm
vi cả nước Cụ thể, chênh lệch tỷ lệ nghèo giữa nhóm đa số và nhóm thiểu số là 25% tại các xã đặc biệt khó khăn trong khi mức chênh lệch trên cả nước là 42% vào năm 2006 (và gần như không thay đổi cho đến 2008) Điều này cho thấy mặc dù Việt Nam đã đạt được thành tựu lớn trong công cuộc giảm nghèo, nhưng tình trạng nghèo đói vẫn tiếp diễn một cách nan giải đối với các dân tộc thiểu số và nghèo có nguy cơ trở thành một vấn nạn gắn với đồng bào dân tộc thiểu số trong tương lai
Với bức tranh toàn cảnh như trên, Bảng 1.1 đưa ra một số chỉ số nghèo (tỷ lệ nghèo, khoảng cách nghèo tính theo chuẩn nghèo chính thức) để miêu tả chi tiết hơn tình trạng nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn được khảo sát trong BLS Tính trung bình năm 2007 tại những xã đặc biệt khó khăn có gần 43% hộ gia đình sốngdưới chuẩn nghèo Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước xét theo cùng ngưỡng nghèo Lưu ý rằng tỷ lệ nghèo của các hộ dân tộc thiểu số cao hơn khá nhiều so với tỷ lệ nghèo của các
hộ đa số tại những xã đặc biệt khó khăn Trong khi gần một nửa số hộ gia đình dân tộc thiểu số là hộ nghèo , thì tỷ lệ tương ứng ở nhóm đa số chỉ xấp xỉ 27% Kết quả này hàm chứa một khuyến nghị chính sách quan trọng Mặc dù người Kinh chiếm phần lớn dân số
cả nước, đồng bào dân tộc thiếu số mới là nhóm “đa số” thực sự ở những xã đặc biệt khó khăn Theo số liệu của BLS, 67% dân số ở những xã đặc biệt khó khăn này là người dân tộc thiếu số Tình trạng nghèo kéo dài ở những xã đặc biệt khó khăn là một thách thức rất lớn Do điều kiện địa hình cách trở và tình trạng khó khăn trong điều kiện hạ tầng ở các xã này, nỗ lực giảm nghèo trong thời gian tới cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã khó khăn này sẽ tốn kém hơn nhiều so với trước đây
10 Do BLS không thu thập thông tin về chi tiêu bình quân mà chỉ thu thập các thông tin về thu nhập hộ gia đình, vì vậy chuẩn nghèo chính thức của Việt Nam theo Quyết định số 170/2005 của Thủ tướng Chính phủ (ra ngày 08/07/2005) được sử dụng Vì tất cả các xã đặc biệt khó khăn được khảo sát trong BLS đều là các xã khu vực nông thôn, vì thế đường nghèo cũng sẽ là 200.000/người/tháng
Trang 18Trong các nhóm dân tộc thiểu số nhỏ hơn, ngoại trừ đồng bào dân tộc Khơ-me, tỷ lệ hộ nghèo cao hơn mức nghèo trung bình tại các xã đặc biệt khó khăn Hình 1.2 cho thấy trong hầu hết các nhóm dân tộc thiểu số được phân loại trong nghiên cứu này có hơn một nửa dân cư sống dưới ngưỡng nghèo 200.000 đồng/người/tháng Tỷ lệ hộ nghèo ở các hộ dân tộc đồng bào Mông cao một cách đáng lo ngại (74% hộ đồng bào dân tộc Mông là hộ nghèo) Tiếp sau người Mông là người Bana, H’re, và các dân tộc khác ở Tây Nguyên cũng
có tỷ lệ nghèo rất cao Các dân tộc Tày, Thái, Mường, Nùng, Dao và các dân tộc khác ở vùng Núi Phía Bắc có tỷ lệ nghèo xấp xỉ với mức bình quân các dân tộc thiểu số trên cả nước
Hình 1.2 Tình trạng nghèo đặc biệt nghiêm trọng ở một số nhóm dân tộc thiểu số
Nguồn: tính toán từ số liệu BLS
Một điểm quan trọng cần chú ý là tỉ lệ nghèo ở trên được tính toán dựa trên ngưỡng nghèo được quy định từ tháng 7 năm 2005 Nếu điều chỉnh ngưỡng nghèo theo thời điểm tháng 9 năm 2007, thời điểm thực hiện BLS, tỷ lệ hộ nghèo ở các nhóm sẽ tăng thêm 10 điểm phần trăm Theo ngưỡng nghèo mới (400.000 đồng/người/tháng), tỷ lệ nghèo sẽ tăng thêm ít nhất 30 điểm phần trăm.11 Đặc biệt, khi đó tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn sẽ tăng đến trên 74.4%, tỷ lệ nghèo ở hầu hết các nhóm dân tộc thiểu số ở vùng Núi Phía Bắc
và Tây Nguyên sẽ cao hơn mức 80%
Bảng 1.1: Nghèo ở những xã đặc biệt khó khăn (%)
Chuẩn nghèo
giai đoạn 2005-2010
Tỷ lệ nghèo (điều chỉnh lạm phát)
Tỷ lệ nghèo mới (điều chỉnh chuẩn mới)
11 Chuẩn nghèo mới của MOLISA giai đoạn 2011-2015 theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 được xác định ở mức 400.000 VNĐ/người/tháng.
Trang 19Khơ me 28,4 13 34,7 69.8Các nhóm còn
Hoàn toàn không nói hoặc nói ít tiếng Việt 53,8 21 64,2 85,4
Hoàn toàn không nói hoặc nói ít tiếng dân tộc 28,7 20 38,9 59,4
Tình trạng nghèo
Nguồn: Tính toán của tác giả theo BLS
Ngoài chỉ số nghèo cho thấy tỷ lệ dân cư có mức thu nhập thấp hơn ngưỡng nghèo đã được phân tích ở trên, chỉ số khoảng cách nghèo đưa ra một chỉ báo về chi phí giảm nghèo Dân tộc Mông không chỉ là nhóm dân tộc có nhiều hộ gia đình nghèo nhất mà còn là nhóm dân tộc có chi phí giảm nghèo cao nhất Trung bình, thu nhập của hộ dân tộc Mông phải tăng tương đương 29% ngưỡng nghèo/người mới kéo được một hộ gia đình Mông thoát khỏi nghèo Các nhóm dân tộc có chỉ số khoảng cách nghèo cao (đồng nghĩa với chi phí giảm nghèo cao) là các nhóm dân tộc khác ở Tây Nguyên (27%), và các nhóm đồng bào dân tộc thiếu số còn lại (24%) (xem thêm bảng 1.1) Hộ các gia đình có chi phí giảm nghèo thấp nhất là các hộ đồng bào dân tộc Tày, Mường, Nùng, Dao và Khơ-me
Tình hình nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số cũng thay đổi theo khu vực địa lý trên cả nước Vùng Núi Phía Bắc là vùng nghèo nhất, tiếp theo là vùng Duyên Hải và Tây Nguyên Tỷ lệ nghèo cũng thay đổi tùy theo mức độ nói thông thạo tiếng phổ thông Những người không biết hoặc có khả năng nói tiếng Việt thấp thuộc nhóm nghèo nhất (54% người dân thuộc nhóm này sống dưới mức nghèo) Những người nói được cả tiếng Việt và tiếng dân tộc có mức nghèo tương đương với mức nghèo trung bình ở các xã đặc biệt khó khăn Còn những người chỉ nói tiếng Việt hoặc nói tiếng Việt và biết một ít tiếng dân tộc là nhóm khả quan nhất (tỷ lệ nghèo của nhóm này gần tương đương với tỷ lệ nghèo trong nhóm đa số) Ngoài ra, cũng có sự khác biệt lớn về tỷ lệ nghèo theo giới tính của chủ
hộ Như đã trình bày trong Bảng 1.1, trong số các hộ có chủ hộ là nam giới thì có gần 44%
là hộ nghèo, còn tỷ lệ hộ nghèo ở các gia đình có chủ hộ là nữ là 33%
Trang 20Những hàng cuối cùng của Bảng 1.1 gợi ý một số vấn đề quan trọng về chính sách Trong hai hàng này, số liệu về thu nhập của các hộ gia đình được sử dụng để tính tỉ lệ nghèo ở hai nhóm - là nhóm nghèo và nhóm không nghèo theo kết quả bình xét hộ nghèo của địa phương.Trong thực tế, việc xác định hộ nghèo hay không nghèo được thực hiện thông qua quy trình bình xét hộ nghèo do MOLISA quy định Đối với một số chương trình và chính sách, chỉ có nhóm nghèo mới thuộc diện được hưởng hỗ trợ, trong khi nhóm “không nghèo” sẽ không nhận được Tuy nhiên, số liệu BLS chỉ ra rằng chỉ có 62% hộ gia đình thuộc nhóm “nghèo” theo kết quả bình xét hộ nghèo là thực sự nghèo Có nghĩa là có một
tỷ lệ rò rỉ tương đương 38% hộ nghèo được nhận hỗ trợ từ các chương trình giảm nghèo không thuộc đối tượng thụ hưởng những hỗ trợ này Ngoài ra, theo báo cáo thu được, có 28% hộ trong nhóm “không nghèo” thực sự là hộ nghèo, nhưng không được bình xét là những hộ thuộc diện được hưởng những hỗ trợ mà họ đáng ra phải được hưởng Tỷ lệ rò rỉ lớn này đặt ra một câu hỏi về hiệu quả xác định đối tượng mà các chính sách và chương trình giảm nghèo cho các xã nghèo nhất hướng tới Nghiên cứu này không phải là nghiên cứu đầu tiên đưa ra vấn đề này Những quan ngại tương tự cũng đã được đưa ra bởi MOLISA, CEMA và UNDP (2009) khi thực hiện đánh giá giữa kỳ chương trình CT135-II
là sử dụng hệ số Gini, giao động trong khoảng 0 đến 1 Hệ số càng gần mức 0 thì sự phân
bổ thu nhập càng đồng đều và hệ số càng gần mức 1 thì sự phân bổ thu nhập càng chênh lệch Ngoài việc sử dụng hệ số Gini, vốn được coi là công cụ tương đối để đánh giá bất bình đẳng trong thu nhập, cũng có thể phân tích sự phân bổ thu nhập ở các xã nghèo nhất dựa trên việc tính toán các chỉ số chênh lệch thu nhập ở các điểm khác nhau của phân phối chi tiêu Sử dụng hệ số Gini tính theo mức chi tiêu bình quân đầu người, WB (2007) cho thấy hệ số Gini tăng từ 0,34 năm 1994 lên đến 0,35 năm 1998 và 0,37 năm 2006, thể hiện mức tăng khiêm tốn về mức chênh lệch thu nhập ở Việt Nam trong thời gian vừa qua.Một trong những khía cạnh được nhắc đến nhiều nhất về sự chênh lệch mức sống ngày càng tăng giữa các nhóm dân tộc Từ năm 1993 đến 2008, tỷ lệ nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số giảm đáng kể (từ 86% năm 1998 xuống gần 50% năm 2008), tỷ lệ nhập học,
Trang 21tuổi thọ trung bình và các chỉ số phát triển con người khác cũng được cản thiện Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo, tỷ lệ trẻ em đến trường, các chỉ số dinh dưỡng và tuổi thọ trung bình của đồng bào đồng bào dân tộc thiểu số vẫn thấp hơn nhiều so với nhóm đa số (VASS,
2007; WB, 2007) Theo báo cáo của Baulch và các tác giả (2008), khoảng cách về mức
tiêu dùng trên đầu người giữa nhóm đa số và nhóm các dân tộc thiểu số đã được nới rộng hơn gần 15 điểm phần trăm trong khoảng từ năm 1993 đến 2004 Tuy nhiên, những nghiên cứu về chênh lệch mức sống ở Việt Nam trước đây đều dựa trên số liệu chi tiêu tiêu dùng Chương này sử dụng những số liệu về thu nhập để phác họa một bức tranh về chênh lệch mức sống ở những xã đặc biệt khó khăn
Bảng 1.2 đưa ra những ước tính về chỉ số thể hiện khoảng cách về mức sống (thường được gọi bằng thuật ngữ ‘bất bình đẳng’ trong nhiều báo cáo nghiên cứu) tại các xã đặc biệt khó khăn, phân theo nhóm phân theo dân tộc, khu vực, giới tính của chủ hộ, ngôn ngữ sử dụng trong đời sống hàng ngày và tình trạng nghèo Hệ số Gini trung bình tại các xã đặc biệt khó khăn là 0,52, đồng nghĩa với chênh lệch trong phân bổ thu nhập là tương đối cao ở các xã này Để so sánh, chúng tôi đã tính toán các chỉ số bất bình đẳng dựa trên thu nhập sử dụng các mẫu hộ ở nông thôn của V(H)LSS năm 2006 Ở các vùng nông thôn, chỉ số Gini là 0,40 thấp hơn nhiều so với chỉ số Gini ở những xã đặc biệt khó khăn Sự khác biệt này có thể có ý nghĩa quan trọng về chính sách Như đã nhấn mạnh ở phần trên, do số liệu BLS là
về các xã đặc biệt khó khăn nên một trong những giả thuyết ban đầu là sự chênh lệch thu nhập ở những vùng nghèo nhất sẽ thấp hơn so với mức trung bình trên cả nước Tuy nhiên, nghiên cứu này lại thu được một phát hiện hoàn toàn ngược lại Dựa trên dữ liệu về thu nhập, mức chêch lệch về phân bổ thu nhập ở những xã đặc biệt khó khăn lại cao hơn một cách đáng ngạc nhiên so với mức trung bình ở vùng nông thôn Thực tế này là một nhiệm
vụ khó khăn cho chính phủ và cộng đồng các nhà tài trợ Rõ ràng là cần phải có nhiều nỗ lực hơn để giảm tình trạng bất bình đẳng về thu nhập ở những xã đặc biệt khó khăn này
Bảng 1.2 Phân phối thu nhập ở những xã đặc biệt khó khăn
Trang 22Ngôn ngữ sử dụng trong sinh hoạt
Hoàn toàn không nói hoặc nói ít tiếng Việt 0,4 6,0 2,6 0.3
Hoàn toàn không nói hoặc nói ít tiếng dân tộc 0,6 9,2 3,0 0.6
Tình trạng nghèo
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả theo BLS
Notes: * p90/p10 là tỷ lệ thu nhập trung bình của 10% nhóm giầu nhất so với 10% nhóm nghèo nhất;; ** p75/p25 là tỷ lệ thu nhập của 25% nhóm giầu nhất so với 25% nhóm nghèo nhất, *** GE(0) là chỉ số Generalized Entropy, đây là một dạng chỉ số thay thế cho chỉ số Gini trong cách tính khoảng cách thu nhập.
Hình 1.3 dưới đây đưa ra tính toán các hệ số Theil’s L (hệ số GE với trọng số bằng 0) của tổng thể mẫu ở những xã đặc biệt khó khăn, và phân chia theo nhóm đa số và nhóm đồng bào các dân tộc thiểu số Bảng (b) chia tỉ lệ bất bình đẳng trong thu nhập “sự chênh lệch giữa các nhóm” và “sự chênh lệch trong nhóm” Bảng này cho thấy gần 21% chênh lệch thu nhập là sự chênh lệch giữa các nhóm (sự khác biệt về mức thu nhập giữa nhóm đa số
và nhóm dân tộc thiểu số) Tuy nhiên 79% còn lại được thể hiện ở sự chênh lệch thu nhập trong nhóm Phát hiện này hàm ý rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự chênh lệch thu nhập ở những xã nghèo nhất không phải là sự khác biệt về thu nhập giữa các nhóm dân tộc,
mà chính sự khác biệt về phân bổ thu nhập trong trong từng nhóm dân tộc mới là căn nguyên chính dẫn đến sự bất bình đẳng cao ở những xã này
Hình 1.3 Phân tích chênh lệch thu nhập theo các nhóm dân tộc
Trang 23(a) GE (0): Nhóm đa số và nhóm thiểu số (b) Phân tách GE(0) theo nhóm dân tộc
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả theo BLS
Khi phân tích về chênh lệch phân bổ thu nhập giữa các nhóm dân tộc, Bảng 1.2 cho thấy mức độ chênh lệch trong phân bổ thu nhập là tương đối tương đồng giữa các nhóm dân tộc (ngoại trừ nhóm đa số có mức chênh lệch thu nhập cao nhất) Điều thú vị được phát hiện ở đây là tất cả các nhóm dân tộc ngoại trừ nhóm đa số đều có các chỉ số chênh lệch thu nhập thấp hơn mức bình quân Xét theo phân bố về mặt địa lý, hệ số Gini ở Tây Nam Bộ giữ ở mức cao nhất, 0,63 Ngược lại, với hệ số Gini thấp nhất là 0,37, vùng Nam Trung Bộ là khu vực có sự phân bổ thu nhập đồng đều nhất Vùng Tây Nguyên xếp ở vị trí khu vực có chỉ số chênh lệch cao thứ hai, sau Tây Nam Bộ Tuy nhiên, chỉ số chênh lệch tuyệt đối, đo bằng tỷ lệ giữa thu nhập giữa điểm 90% và điểm 10% của phân phối chi tiêu cho chênh lệch trong phân bổ thu nhập giữa nhóm “người giàu” và nhóm “nghèo nhất” ở Tây Nguyên là cao nhất (tỉ lệ phân bổ ở Tây Nguyên là 12,60) Tiếp theo là ở Tây Nam Bộ với
tỉ lệ phân bổ là 10,09 Tỷ số 75%/25% trong phân phối thu nhập ở các nhóm ở giữa cũng cho thấy tình hình tương tự Tây Nguyên và Tây Nam Bộ giữ hai vị trí đầu về chênh lệch thu nhập Vùng Nam Trung Bộ có các chỉ số chênh lệch thu nhập thấp nhất
Phân tích trên về nghèo và khoảng cách giàu nghèo sử dụng thu nhập làm thước đo phúc lợi Trong phần này, chúng tôi xem xét những khía cạnh phi thu nhập khác của mức sống như sở hữu đất đai, tài sản có giá trị, và khả năng tiếp cận dịch vụ công và cơ sở hạ tầng thiết yếu.12
Đất đai được xem là tài sản vật chất quan trọng nhất ở các hộ gia đình nông thôn, đặc biệt
là các hộ gia đình cư trú tại những xã đặc biệt khó khăn, sinh kế của họ chủ yếu dựa vào nông nghiệp Bảng 1.3 tóm tắt diện tích đất trồng hằng năm, đất trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp phân bổ theo các nhóm dân tộc, theo khu vực địa lý, theo giới tính của chủ hộ, ngôn ngữ sử dụng hàng ngày và tình trạng nghèo Diện tích đất trồng hàng năm của nhóm
đa số và nhóm các dân tộc thiểu số không có chênh lệch đáng kể Bình quân một hộ gia đình ở các xã đặc biệt khó khăn có 1413m2 đất trồng hàng năm Các hộ gia đình đa số sở hữu trung bình 1353m2, còn các hộ dân tộc thiểu số sở hữu khoảng 1442m2 So sánh giữa các nhóm dân tộc khác nhau, các hộ gia đình dân tộc Tày, Mường, Nùng sở hữu ít đất trồng hàng năm hơn, trong khi đó các hộ gia đình dân tộc Mông, Bana và các dân tộc khác ở
12 Trong phân tích này, việc tiếp cận dịch vụ công và cơ sở hạ tầng thiết yếu sẽ được thực hiện ở cấp độ hộ gia đình Trong chương 2 của báo cáo, sẽ có nhiều thông tin được phân tích ở cấp độ xã về vấn đề tiếp cận các dịch vụ này
Trang 24vùng Núi Phía Bắc sở hữu nhiều đất trồng nhất Tuy nhiên những số liệu này không đề cập đến vấn đề chất lượng đất Các quy định hiện hành chia đất trồng hàng năm thành sáu loại,
và chia đất trồng cây lâu năm thành năm loại Thứ tự trong phân loại càng tăng dần thì chất lượng đất càng giảm Cách phân chia các loại đất này nhằm mục đích tạo điều kiện cho chính quyền địa phương thu thuế sử dụng đất của các hộ gia đình Trong báo cáo này, đất trồng hàng năm và đất trồng cây lâu năm thuộc hai nhóm đầu được coi là “đất tốt” Bảng 1.3 chỉ rõ hộ gia đình thuộc nhóm đa số có ưu thế hơn xét về chất lượng đất trồng mà họ sở hữu Mặc dù có diện tích đất trồng hàng năm lớn hơn nhóm đa số, các hộ gia đình dân tộc thiểu số chỉ sở hữu diện tích đất có chất lượng tương đương với 13% diện tích đất tốt của các hộ gia đình dân tộc đa số Tất cả các hộ gia đình dân tộc thiểu số, chiếm 74% dân số ở các xã nghèo nhất, chỉ sở hữu 24% đất trồng có chất lượng tốt Theo phân tích ở chương 3 của nghiên cứu này, thu nhập từ mùa màng là nguồn thu nhập quan trọng nhất của các hộ gia đình cư trú tại các xã đặc biệt khó khăn Thực tế nhóm đa số sở hữu gần hết diện tích đất trồng trọt màu mỡ trong khu vực có thể giải thích cho khoảng cách lớn về thu nhập giữa nhóm đa số và nhóm các dân tộc thiếu số (xem chi tiết tại Chương 4)
Bảng 1.3 Sở hữu đất đai ở những xã đặc biệt khó khăn (m2)
Đất trồng hàng năm
Đất trồng cây lâu năm
Đất lâm nghiệp
Trung bình 1412,7 193,1 370,6 11,8 1461,1Nhóm dân
Trang 25Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả theo BLS
Một phát hiện khá thú vị ở đây là, các hộ gia đình có chủ hộ là nữ giới sở hữu ít đất trồng trọt hơn các hộ gia đình có nam giới là chủ hộ Bình quân diện tích đất trồng trọt của một
hộ gia đình có chủ hộ là nữ là gần 937m2, trong khi bình quân diện tích đất trồng trọt của
hộ có chủ hộ là nam là 1490m2 Đây là thực tế bất lợi cho các hộ có chủ hộ là nữ giới, có thể dẫn đến sự chênh lệch về tỷ lệ hộ nghèo của hai nhóm Một kết quả không bất ngờ nữa
là những hộ gia đình không thuộc nhóm nghèo thì được sở hữu tổng diện tích đất lớn hơn cũng như chất lượng đất trồng trọt tốt hơn những hộ gia đình thuộc nhóm nghèo
Do những xã đặc biệt khó khăn chủ yếu nằm ở vùng sâu vùng xa (và thường là miền núi), nên lâm nghiệp thường là một nguồn thu quan trọng trong các hoạt động tạo thu nhập của người dân Diện tích đất lâm nghiệp là một trong số ít những thuận lợi mà đồng bào dân tộc thiểu số có được so với nhóm đa số Bình quân hộ đồng bào dân tộc thiểu số sở hữu diện tích đất lâm nghiệp cao gấp ba lần diện tích đất lâm nghiệp của hộ gia đình người đa
số Đặc biệt, các nhóm dân tộc thiểu số ở vùng Núi Phía Bắc và vùng Bắc Trung Bộ có ưu
thế vượt trội về diện tích đất lâm nghiệp Báo cáo của Phạm và các tác giả (2010) cũng đã
sử dụng số liệu từ V(H)LSS để làm nổi bật thuận lợi này của đồng bào dân tộc thiểu số Theo đó, đồng bào dân tộc thiểu số sở hữu nhiều đất lâm nghiệp hơn nhóm đa số và lợi thế này có xu hướng tăng dần theo thời gian Khi bắt đầu công cuộc cải cách đất đai năm 1993,
Trang 26trung bình một hộ gia đình có chủ hộ là người dân tộc thiểu số sở hữu nhiều hơn 63% đất (tất cả các loại) so với hộ gia đình có chủ hộ là người nhóm đa số Sau 14 năm, lợi thế này
đã tăng lên 154% Lợi thế này vẫn có thể được nhận thấy ngay cả khi tính đến sự khác biệt của các loại đất Ưu thế này thường nằm ở diện tích đất lâm nghiệp Bình quân các hộ gia đình có chủ hộ là người dân tộc thiểu số sở hữu diện tích đất lâm nghiệp cao gấp 10 lần so với các hộ gia đình có chủ hộ thuộc đa số Tuy nhiên, liệu lợi thế này có mang lại cơ hội tốt hơn để tạo thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số hay không hiện vẫn đang còn là một mối quan ngại Như sẽ trình bày trong chương 3 của nghiên cứu này, lâm nghiệp đóng góp một nguồn thu rất khiêm tốn (và gần như là không đáng kể ở một vài nhóm dân tộc) đối với các hộ gia đình cư trú tại địa bàn những xã đặc biệt khó khăn
Ngoài đất đai được xem là tài sản vật chất quan trọng nhất, Bảng 1.4 đưa ra các số liệu về
sở hữu các tài sản lâu bền có giá trị như xe máy, ti-vi, đài phát thanh, điện thoại, tủ lạnh, bếp điện ở các hộ gia đình sinh sống tại những xã đặc biệt khó khăn Có sự khác nhau rõ rệt về sở hữu tài sản giữa nhóm đa số và nhóm các dân tộc thiểu số Ví dụ, 54% hộ gia đình
đa số có xe máy, trong khi chỉ có 40% hộ gia đình dân tộc thiểu số có loại phương tiện này
Tỷ lệ hộ gia đình ở các xã đặc biệt khó khăn có các tài sản lâu bền có giá trị thấp hơn đáng
kể mức bình quân ở vùng nông thôn Dựa trên các tính toán từ số liệu của VHLLS năm
2006 cho thấy, gần 53% dân số nông thôn có xe máy; 81% có ti-vi; 23% có điện thoại (điện thoại cố định hoặc điện thoại di động), và 53% có bếp điện Các tỷ lệ tương ứng ở các xã nghèo nhất là 45%, 58%, 19% và 27% (xem thêm trongBảng 1.4)
Bảng 1.4 Sở hữu tài sản có giá trị của hộ gia đình (%)
Xe máy Ti-vi Đài phát
Trang 27Ngôn ngữ sử dụng trong sinh họat
Hoàn toàn không nói hoặc nói ít tiếng
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả theo BLS
Đời sống của hộ gia đình ở nông thôn nói chung và ở các xã đặc biệt khó khăn nói riêng cũng được thể hiện ở điều kiện nhà ở Từ số liệu của BLS, có thể chia nhà ở thành ba loại: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố và nhà tạm bợ Với điều kiện của xã đặc biệt khó khăn, hầu hết các hộ gia đình cư trú trong những căn nhà bán kiên cố hoặc tạm bợ Chỉ có 7,4% số hộ gia đình có nhà kiên cố, trong khi đó có đến 39% hộ gia đình cư trú ở các xã đặc biệt khó khăn sống trong điều kiện nhà ở tạm bợ, dột nát Tuy nhiên, điều kiện nhà của nhóm đa số tại những xã này lại vẫn có phần tốt hơn so với các nhóm dân tộc thiểu số Từ những câu hỏi giống nhau về điều kiện nhà ở trong BLS và V(H)LLSs, có thể đưa ra so sánh khi sử dụng số liệu từ hai nguồn dữ liệu này Điều kiện nhà ở của các hộ gia đình ở vùng nông thôn tốt hơn rất nhiều điều kiện nhà ở của các hộ thuộc các xã đặc biệt khó khăn Ví dụ, theo số liệu của BLS và VHLSS 2006, chỉ có 19% dân số nông thôn sống trong các ngôi nhà tạm bợ, so với 39% dân số ở các xã đặc biệt khó khăn sống trong điều kiện nhà ở tạm bợ; tỷ lệ dân cư nông thôn sống trong điều kiện nhà ở kiên cố cao gấp hơn hai lần tỷ lệ ở các vùng nghèo nhất (17% so với 7%)
Khả năng tiếp cận dịch vụ công là một khía cạnh quan trọng của đời sống Đa số người dân được tiếp cận tốt tới hệ thống nước sạch và điện lưới quốc gia Như trong Bảng 1.5 dưới đây, mức độ tiếp cận các dịch vụ này là rất cao đối với nhóm đa số, cụ thể là 87% có nước sạch để nấu ăn, và 91% hộ gia đình có điện Ngược lại, mức độ tiếp cận các dịch vụ cơ bản này trong nhóm các dân tộc thiểu số lại ít hơn rất nhiều Ngoại trừ điều kiện về mạng lưới điện quốc gia, mức độ tiếp cận của nhóm các dân tộc thiểu số đến nguồn nước sạch, nhà xí hợp vệ sinh thấp hơn ít nhất là hai lần so với nhóm đa số Cụ thể là, mức độ tiếp cận của
Trang 28từng nhóm dân tộc đến nguồn nước sạch, điện, và nhà xí hợp vệ sinh là rất thấp, đặc biệt là đồng bào dân tộc Mông, Dao, Cơ Tu, và đồng bào các dân tộc thiểu số khác ở Tây Nguyên Kết quả tính toán cho thấy 53% hộ gia đình tại các xã đặc biệt khó khăn có nước uống sạch.13 Việc sử dụng nhà xí hợp vệ sinh cũng ở mức thấp một cách đáng lo ngại ở các xã đặc biệt khó khăn; hiện mới chỉ có 8% hộ gia đình cư trú trong khu vực này có nhà xí hợp
vệ sinh14, trong khi hầu hết các hộ chỉ có “các loại hố xí khác”, thường là những hố tiêu đơn giản và không hợp vệ sinh Mặc dù thông tin về hố xí hợp vệ sinh mà các hộ gia đình
sử dụng không phản ánh toàn bộ điều kiện vệ sinh của hộ gia đình, nhưng nó cũng phản ảnh điều kiện vệ sinh thấp ở những xã đặc biệt khó khăn
Bảng 1.5 Khả năng tiếp cận nguồn nước sạch, điện lưới quốc gia và nhà xí vệ sinh
% sử dụng nước sạch trong ăn uống
% sử dụng nước sạch trong sinh họat
% sử dụng năng lượng cho sinh hoạt
14 Như các báo cáo trước, các loại hố xí hợp vệ sinh: nhà vệ sinh tự hoại, hố xí thấm, nhà vệ sinh có 2 ngăn ở dưới đất cũng được xem là hố xí hợp vệ sinh
Trang 29Nói cả tiếng Việt và tiếng dân tộc 37,6 37,1 76,6 5,1
Hoàn toàn không nói hoặc nói ít tiếng
Tình trạng nghèo
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả theo BLS
Ngoài những chỉ số định lượng, BLS cung cấp một số thông tin định tính về cảm nhận của
hộ gia đình sự thiếu hụt các điều kiện sống thiết yếu như thực phẩm, nước sạch, thuốc men, điện, và tiền học phí cho trẻ em Các số liệu này được thể hiện trong Bảng 1.6 Trung bình, 45% hộ gia đình cho biết họ không có đủ thực phẩm, 44% thiếu nước sạch sinh hoạt, 44% thiếu thuốc men y tế, và 32% cho biết họ không có đủ tiền nộp học phí cho con Quan trọng hơn là mức độ thiếu hụt này ở hộ đồng bào dân tộc thiểu số cao hơn rất nhiều so với
đa số các hộ gia đình khác Tỷ lệ các hộ gia đình không đủ thực phẩm đặc biệt cao ở vùng Tây Nguyên Theo quan sát của chúng tôi tại nhiều địa phương, tình trạng thiếu lương thực hay xảy ra vào trước thời điểm canh tác khi các hộ gia đình đã sử dụng hết thực phẩm thu hoạch được từ vụ trước và cần tiền để mua giống, phân bón cho mùa vụ giáp hạt
Bảng 1.6 Tự đánh giá của người dân về sự thiếu hụt các dịch vụ thiết yếu (%)
Trang 30Khơ me 37,8 29,5 28,7 17.7Các dân tộc
Nói cả tiếng Việt và tiếng dân tộc 47,5 46,0 54,1 38,9
Hoàn toàn không nói hoặc nói ít
Tình trạng nghèo
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả theo BLS
Các số liệu về sự thiếu hụt tiền nộp học phí cho con là rất đáng chú ý Cần lưu ý là các xã đặc biệt khó khăn này là mục tiêu của hầu hết các chương trình và chính sách để giảm nghèo, hỗ trợ trẻ em đến trường là một trong những ưu tiên của nhiều chính sách Mặc dù
hỗ trợ tiếp cận giáo dục được xác định là một trọng tâm và đã có nhiều nguồn lực được huy động để thực hiện hỗ trợ này nhưng mức độ thiếu hụt tiền đóng học phí cho trẻ em là rất cao ở một vài dân tộc Ví dụ, 67% người dân tộc Bana cho biết họ thiếu tiền để cho con đi học Các dân tộc Thái, Tày, Mường và các dân tộc khác ở vùng Núi Phía Bắc và Tây Nguyên cũng có tỷ lệ hộ gia đình không đủ tiền đóng học phí cho con là rất cao Đáng ngạc nhiên là dù dân tộc Mông là nhóm nghèo nhất nhưng mức độ thiếu tiền đóng học phí cho trẻ em thấp nhất Như đã trình bày về tỷ lệ rò rỉ cao của các chương trình giảm nghèo trong phần đầu của chương này, điều này dẫn tới một quan ngại về tính hiệu quả của những
hỗ trợ hiện nay để nâng cao khả năng tiếp cận đến các dịch vụ giáo dục cho người dân
Bảng 1.7 Tự đánh giá của người dân về điều kiện sống hiện tại (%)
Bình thường với mức sống hiện tại
Không hài lòng với mức sống hiện tại
Rất không hài lòng với mức sống hiện tại
Trang 31Nùng 1,7 9,7 41,3 46,4 1.1
Các nhóm khác ở vùng Núi
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả theo BLS
Để kết thúc chương thứ nhất của báo cáo, chúng tôi xem xét số liệu về sự tự đánh giá của người dân sống ở các xã đặc biệt khó khăn về mức độ hài lòng của họ với điều kiện sống hiện tại (bảng 7.1) Với tình trạng nghèo như mô tả ở trên, không quá ngạc nhiên khi hơn một nửa số người trả lời không hài lòng với mức sống hiện tại Bảng 1.7 cũng cho thấy gần như không có hộ gia đình nào “Rất hài lòng” với điều kiện sống của họ Những số liệu đơn giản này đưa ra một thông điệp chính sách quan trọng: dù Chính phủ và cộng đồng các nhà tài trợ đã triển khai nhiều chương trình và chính sách giảm nghèo và đã đạt được những thành tựu quan trọng, con đường để đạt đến mục tiêu vẫn còn rất dài Quan trọng hơn là,
do tỷ lệ nghèo ở những vùng đặc biệt khó khăn vẫn duy trì ở mức cao nên những nỗ lực giảm nghèo trong tương lai sẽ tốn kém hơn và khó khăn hơn trong hai thập kỷ vừa qua
Trang 32Việc tiếp tục hỗ trợ giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn là cực kỳ cần thiết
và cấp bách
Trang 33Chương 2 Khả năng tiếp cận dịch vụ công của đồng bào dân tộc thiểu số nghèo
Đẩy mạnh khả năng tiếp cận dịch vụ công và các điều kiện về cơ sở hạ tầng thiết yếu được xem là một trong những con đường cơ bản để thoát nghèo đã và đang được chú ý ở nhiều nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam Nhiều chương trình và chính sách đã được thực hiện nhằm nâng cao khả năng tiếp cận của người dân đối với dịch vụ công và cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các vùng sâu, vùng xa của đất nước Điều này được phản ánh rõ nét trong CT135 (qua các giai đoạn khác nhau) và gần đây nhất là Chương trình 30A tại các huyện nghèo, cũng như các chính sách, chương trình hỗ trợ các dân tộc thiểu số nghèo (xem chương 5) Chương này sẽ giải đáp câu hỏi nghiên cứu thứ 2, xem xét việc tiếp cận giáo dục, dịch vụ y tế và cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các xã đặc biệt khó khăn được điều tra trong
bộ số liệu BLS
Học vấn được xem là nhân tố quan trọng quyết định mức sống, việc tham gia thị trường lao
động và thu nhập (xem Glewwe và các tác giả, 2004) Tiếp cận với dịch vụ giáo dục đóng
vai trò quan trọng trong giảm nghèo Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội trình độ giáo dục của người dân không ngừng tăng lên Việt Nam cũng đã cam kết thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ về phổ cập giáo dục tiểu học Theo các VHLSS, tỷ lệ người trên 22 tuổi tốt nghiệp trung học phổ thông đã tăng lên từ 18% năm 2002 đến 26% năm 2006 Nhóm dân tộc thiểu số cũng đạt được những tiến bộ đáng kể trong giáo dục (WB, 2007)
Tất cả các xã được điều tra trong BLS đều có chương trình xoá mù chữ Tuy nhiên vẫn còn khoảng cách lớn về trình độ học vấn giữa nhóm đa số và nhóm dân tộc thiểu số Bảng 2.1 trình bày tỷ lệ đạt được các trình độ học vấn khác nhau đối với cá nhân trong đột tuổi trưởng thành tại những xã đặc biệt khó khăn Theo kết quả tính toán này, chỉ khoảng 7% tốt nghiệp trung học phổ thông, dưới 1% dân số có trình độ trên trung học phổ thông Đáng lưu ý là có tới hơn một nửa dân số không có bất cứ trình độ giáo dục nào, kể cả tiểu học Tại những xã đặc biệt khó khăn này, có sự chênh lệch đáng kể về trình độ học vấn giữa các nhóm dân tộc thiểu số Các nhóm đa số, Mường và Tày có trình độ học vấn khá cao; trong khi đó các nhóm dân tộc Mông, Bana, H’re có trình độ học vấn thấp nhấp
Trình độ học vấn cũng thay đổi theo các vùng địa lý Bảng 2.1 cho thấy Đồng Bằng Bắc
Bộ là nơi có trình độ giáo dục cao nhất Chỉ có 12% dân số trong vùng này là không có bằng cấp giáo dục Trong khi đó tỷ lệ này có thể trên 40% ở các vùng khác Đông Bắc và
Trang 34Nam Trung Bộ là hai vùng mà trình độ giáo dục của người dân xếp vào diện thấp nhất Giữa nhóm nghèo và không nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn cũng có sự khác biệt về trình
độ giáo dục Tỷ lệ người nghèo không có bằng cấp là 58%, còn đối với người không nghèo
tỷ lệ này tương ứng là 40%
Bảng 2.1 Bằng cấp giáo dục cao nhất đạt được (%)
Không bằng cấp Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Sau trung học
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ số liệu BLS
Trình độ giáo dục thấp có nghĩa là nguồn nhân lực kém và năng suất lao động thấp Nhằm đẩy mạnh giáo dục, chính phủ đã cam kết thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ tiếp cận giáo dục Theo VHLSS 2006 tỷ lệ nhập học của trẻ
em trong độ tuổi 7 đến 11 là 97% Đây là tỷ lệ rất cao so với các nước có thu nhập thấp và trung bình Tuy nhiên thành tựu về giáo dục tiểu học chưa rõ nét trong các nhóm dân tộc thiểu số ở các xã đặc biệt khó khăn Bảng 2.2 trình bày tỷ lệ nhập học ở bậc tiểu học và trung học, theo đó tỷ lệ nhập học ở bậc tiểu học tại các xã này chỉ đạt 80%, trong khi tỷ lệ nhập học ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông tương ứng là 60% và 38% Tỷ lệ đi học cũng rất khác nhau giữa các nhóm dân tộc thiểu số, các nhóm đa số, Tày, Mường, Nùng và Cơ Tu có tỷ lệ nhập học rất cao, trong khi đó còn các dân tộc Bana, Mông, H’re
và Khơ me có tỷ lệ nhập học thấp hơn hẳn Tỷ lệ đi học cũng thay đổi theo vùng địa lý
Trang 35Vùng Đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có tỷ lệ học sinh đi học cao hơn những vùng khác Dân tộc thiểu số tại các vùng Tây Bắc và Tây Nam Bộ có tỷ lệ nhập học thấp nhất so với các vùng khác
Bảng 2.2 Tỷ lệ nhập học (%)
Tiểu học Trung học
cơ sở
Trung học phổ thông
Không nói hoặc nói ít tiếng Việt 78,6 55,4 25,6
Nói cả tiếng Việt và tiếng dân tộc 77,0 67,5 43,8
Không nói hoặc nói ít tiếng dân tộc 82,2 65,8 52,5
Tình trạng nghèo
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ số liệu BLS
Tỷ lệ bỏ học cao ở các xã đặc biệt khó khăn đang là một vấn đề đáng lo ngại Phạm và các tác giả (2010) nhận định rằng việc bỏ học chủ yếu xảy ra khi chuyển cấp từ tiểu học lên
trung học cơ sở và từ trung học cơ sở lên trung học phổ thông Ở khu vực miền núi, lý do
bỏ học thường là do khoảng cách từ nhà tới trường học khá xa (trường thường được xây dựng ở trung tâm xã) Ở khu vực vùng Núi Phía Bắc, để tới được trường tiểu học thì trẻ em thường phải đi bộ khoảng một giờ đồng hồ hoặc nhiều hơn để tới trung tâm xã, điều này hiển nhiên làm nản lòng đối với học sinh sống ở khu vực xa trường Hơn nữa, hầu như
Trang 36những dân tộc thiểu số ở Phía Bắc lại sống chủ yếu ở những vùng xa xôi hẻo lánh khác với các dân tộc khác như Tày, Thái, Mường, Nùng.
Số liệu từ BLS cũng cung cấp thông tin về nguyên nhân cơ bản vì sao trẻ em không đi học Bảng 2.3 chia các nhóm trẻ em theo nguyên nhân không đi học Nguyên nhân chủ yếu là quá tuổi đi học Nguyên nhân thứ hai khiến trẻ em không đi học là phải làm việc cho gia đình Rõ ràng là cha mẹ đóng vai trò quan trọng trong giáo dục trẻ em Nếu cha mẹ có trình
độ học vấn thấp thì có xu hướng không chú trọng đến việc học hành của con cái
Bảng 2.3 Nguyên nhân bỏ học ở trẻ em (%)
Quá tuổi Khoảng
cách đển trường quá xa
Không
có tiền
Không muốn học
Phải
đi làm
Nguyên nhân khác
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ số liệu BLS
Bảng 2.4 đánh giá những khó khăn đối với việc đi học tiểu học và trung học cơ sở của học sinh ở những xã đặc biệt khó khăn Đối với một số học sinh nhỏ tuổi, ngôn ngữ là khó
khăn chính trong việc học tập Phạm và các tác giả (2009) thấy rằng học sinh tiểu học bỏ
học nhiều hơn ở khu vực xa xôi hẻo lánh so với khu vực nông thôn nói chung và ngôn ngữ
có thể là một rào cản đáng kể WB (2009) cũng cũng nhấn mạnh sự cần thiết cần phải có lớp dạy tiếng Việt cho con em dân tộc thiểu số trước khi đến trường Đối với học sinh trên tiểu học, tiếng Việt không phải là trở ngại chính mà khó khăn chính ngăn cản việc tiếp tục tới trường của những học sinh này là thiếu dụng cụ học tập như sách, vở
Bảng 2.4 Những khó khăn trong việc đến trường (%)
Không có khó khăn gì Thiếu dụng cụ học tập Khó khăn về ngôn
ngữ (tiếng Việt)
Thiếu trang thiết bị học tập tại trường
Các khó khăn khác
Tiểu học
Trang 37Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ số liệu BLS
Với những khó khăn trong tiếp cận giáo dục, đẩy mạnh tỷ lệ nhập học ở các xã đặc biệt khó khăn là một trong những trọng tâm của nhiều chương trình và chính sách hỗ trợ khác nhằm nâng cao mức sống cho đồng bào dân tộc thiểu số Sử dụng số liệu BLS, chúng ta thấy là có tới 91% học sinh tiểu học được miễn giảm học phí và đóng góp xây dựng trường
ở các xã đặc biệt khó khăn trong khi con số này tại khu vực nông thôn cả nước vào khoảng 75% theo số liệu VHLSS 2006 Tương tự, ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông tỷ
lệ miễn giảm học phí và đóng góp ở các xã đặc biệt khó khăn tương ứng là 81% và 69%; trong khi đó tỷ lệ miễn giảm tại khu vực nông thôn cả nước tính theo VHLSS 2006 tương
ứng là 21% và 18% (xem thêm Phạm và các tác giả, 2010) Những khác biệt này phản ánh
nỗ lực thúc đẩy việc nhập học ở các xã đặc biệt khó khăn Việc tiếp tục hỗ trợ này là rất cần thiết để đạt được mục tiêu đẩy mạnh tiếp cận giáo dục cho trẻ em ở các xã đặc biệt khó khăn của cả nước
Mặc dù Việt Nam đạt được những thành tựu đáng kể về giảm nghèo, nhưng tình trạng nghèo vẫn còn phổ biến ở mức cao đối với các nhóm dân tộc thiểu số Một trong những nguyên nhân của nghèo là những vấn đề về sức khoẻ Trong các nghiên cứu, đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng, người nghèo thường cho rằng ốm đau là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến những khó khăn cho họ (World Bank, 2004) Chi phí thuốc thang khi đau ốm là gánh nặng chi tiêu đối với rất nhiều hộ gia đình Theo số liệu VHLSS 2006, khoảng 10% hộ gia đình dành hơn 16% chi tiêu của họ cho vấn đề sức khỏe Mức chi trả cao cho khám chữa bệnh của hộ gia đình cũng được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu khác như WB (2001), Wagstaff và Van Doorslaer (2003)
Để tăng cường chăm sóc y tế cho người dân và giảm gánh nặng chi tiêu cho y tế, chính phủ Việt Nam muốn thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân trước năm 2015 Trong suốt thập kỉ vừa qua, Việt Nam thành công trong việc cung cấp bảo hiểm y tế, đặc biệt cho dân tộc thiểu số Theo WB (2007), tỷ lệ người dân tộc thiểu số có bảo hiểm y tế và thẻ khám chữa bệnh miễn phí tăng từ 8% năm 1998 lên 78% năm 2006 Trong những xã đặc biệt khó khăn thì
tỷ lệ này vào khoảng 84% (Bảng 2.5) trong khi tỷ lệ trung bình của cả nước là khoảng
Trang 3854%.15 Điều thú vị là tỷ lệ nhóm dân tộc thiểu số có bảo hiểm y tế hay thẻ khám chữa bệnh miễn phí lại cao hơn nhóm đa số Tỷ lệ người không có bảo hiểm y tế hay thẻ khám chữa bệnh miễn phí là 32% đối với nhóm đa số, và bằng 10% đối với dân tộc thiểu số Mức độ bao phủ của bảo hiểm y tế đối với nhóm người nghèo cao hơn đối với nhóm người không nghèo Điều này thể hiện sự quan tâm về y tế của nhà nước và các tổ chức quốc tế đối với những hộ gia đình nghèo, khó khăn và dân tộc thiểu số
Bảng 2.5 Tỷ lệ người có bảo hiểm y tế (%)
Có bảo hiểm y
tê chữa bệnh miễn Có thẻ khám
phí
Không có BHYT cũng như thẻ khám bệnh
Nói cả tiếng Việt và tiếng dân tộc 78,2 11,2 10,5
Không nói hoặc nói ít tiếng dân tộc 57,2 12,6 30,2
Tình trạng nghèo
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ số liệu BLS
15 Số liệu của cả nước được ước tính từ VHLSS 2006
Trang 39Tuy nhiên có bảo hiểm y tế không đồng nghĩa với việc tiếp cận dịch vụ y tế tốt hơn Cơ sở
y tế ở những vùng nghèo thường chỉ được trang bị sơ sài Đáng tiếc là trong bộ số liệu BLS không cung cấp thông tin gì về điều kiện cơ sở vật chất khám chữa bệnh Mặc dù vậy, quan sát thực tế phổ biến cho thấy các trung tâm y tế của các xã đặc biệt khó khăn đều rất nghèo
về trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh Những trung tâm này do vậy cũng chỉ khám, chữa được những bệnh thông thường hay tiến hành sơ cứu trước khi chuyển lên bệnh viện tuyến cao hơn Theo kết quả điều tra BLS, khoảng cách bình quân từ thôn, bản trong những xã nghèo đến bệnh viện là 39km, trung bình người dân sẽ phải mất ít hơn 3 giờ đồng hồ nếu sử dụng phương tiện giao thông công cộng (đối với những nơi có dịch vụ vận tải) hoặc một giờ nếu sử dụng xe máy Hình 2.1 cho thấy việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú của dân tộc thiểu số là thấp hơn so với nhóm đa số Mặc dù tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế của dân tộc thiểu số đang còn thấp nhưng nó đang có xu hướng tăng lên theo thời gian Về khám chữa bệnh nội trú thì tỷ lệ khám chữa bệnh cũng như số lần khám chữa bệnh thì tương đương nhau giữa nhóm dân tộc thiểu số và nhóm đa số
Hình 2.1: Sử dụng dịch vụ y tế: điều trị ngoại trú và nội trú (%)
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ số liệu điều tra VHLSS 2004, 2006
Hình 2.2 Sử dụng dịch vụ y tế ở các xã đặc biệt khó khăn (%)
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ số liệu BLS
So với khu vực nông thôn, thì tỷ lệ người sử dụng dịch vụ y tế của người dân ở các xã đặc biệt khó khăn là khá cao Hình 2.2 cho thấy tỷ lệ người sử dụng dịch vụ y tế thay đổi từ 25% đến 56% cho các nhóm dân tộc khác nhau Nhóm đa số vẫn là nhóm có tỷ lệ khám chữa bệnh cao nhất, còn tỷ lệ này ở nhóm dân tộc Mông ở Tây Bắc và nhóm Bana ở Tây Nguyên lại là thấp nhất Đáng chú ý là có khoảng 53% người bị ốm hoặc bị thương sẽ khám chữa bệnh ở trạm y tế xã Điều này là do sự thuận tiện đi lại đến trạm y tế xã, chỉ cách khoảng 3.8km Thêm vào đó, việc sử dụng các cơ sở, loại khám chữa bệnh “khác” cũng là một điều thường gặp ở các xã đặc biệt khó khăn này, chiếm khoảng 28% BLS
Trang 40không đặt ra các câu hỏi cụ thể về những loại này tuy nhiên quan sát thực tế của chúng tôi cho thấy một vài hình thức thay thế có thể biết tới như việc tự chữa bệnh tại nhà hay thậm chí là cúng bái để chữa bệnh cũng được sử dụng
Các xã đặc biệt khó khăn chủ yếu nằm ở miền núi, vùng sâu, vùng xa Vì vậy, mặc dù đã
có rất nhiều nguồn lực đầu tư cho cơ sở hạ tầng nhưng điều kiện hạ tầng cho phát triển kinh tế tại các xã này vẫn còn nhiều khó khăn Bảng 2.6 đưa ra một số con số về khả năng tiếp cận đến đường ô tô các xã đặc biệt khó khăn, trong đó hơn 90% xã đặc biệt khó khăn
có đường đến trung tâm xã Tỷ lệ có đường giao thông ở các xã cao ngang với mức trung bình ở khu vực nông thôn tính theo VHLSS 2006 Tuy nhiên tỷ lệ có đường thấp hơn đáng
kể khi xuống đến các thôn, bản (chỉ có 68% thôn bản đặc biệt khó khăn có đường ô tô chạy qua) Ở những thôn, bản không có đường ô-tô đi qua, thì khoảng cách bình quân đến đường ô-tô gần nhất là 7,8km Ở những nơi đã có đường, chúng được sử dụng thời gian trung bình là 9,9 tháng dữ liệu về các loại đường giáo thông bao gồm tất cả các loại nguyên vật liệu được sử dụng để xây dựng cho thấy có tới hơn 50% đường của các thôn bản là đường đất Điều này có thể cho ta thấy mối liên hệ nhất định giữa các xã đặc biệt khó khăn và đường chất lượng thấp ở trong xã Chất lượng đường thấp và khả năng không
sử dụng được trong một số tháng trong năm dẫn đến những khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục, y tế và cũng như sẽ đề cập ở chương 3, đó là nguyên nhân chính cản trở việc liên kết thị trường
Bảng 2.6 Tiếp cận đường giao thông ở trong làng, xã (%, km và số tháng)
% xã có đường ô tô
% thôn bản có đường ô tô
Khoảng cách
từ thôn bản đến đường gần nhất (km)
Số tháng trong năm mà đường