1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu

86 408 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Đánh giá tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh BĐKH” thuộc dự án GIZ nhấn mạnh yếu tố giới trong sự tương tác giữa các vấn đề về tính tổn thương, tính thích ứng và khả

Trang 1

Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu

Trang 2

Bonn và Eschborn, CHLB Đức

Chương trình Quản lý Tổng hợp Vùng Ven biển (ICMP)

Tầng 9, Landmark, 5B Tôn Đức Thắng, Quận 1, TP HCM, Việt Nam

Báo cáo không phản ánh quan điểm của Chính phủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia,

Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức cũng như GIZ

© GIZ 2014

GIZ chịu trách nhiệm nội dung của ấn phẩm này.

Dưới sự ủy quyền của

Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức, Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc

Trang 3

Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu

Trang 5

Là một tổ chức thuộc chính phủ Đức, Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ) GmbH hỗ trợ Chính phủ Đức hoàn thành các mục tiêu của mình trong lĩnh vực hợp tác quốc tế hướng

tới phát triển bền vững

GIZ đã hoạt động ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua Thay mặt cho chính phủ Đức, GIZ cung cấp các dịch

vụ tư vấn cho Chính phủ Việt Nam và hiện đang tham gia vào ba lĩnh vực ưu tiên: (i) Đào tạo Nghề; (ii) Chính sách Môi trường và Sử dụng bền vững Nguồn Tài nguyên Thiên nhiên; và 3) Năng lượng

Nhà tài trợ vốn và ủy nhiệm chính của GIZ Việt Nam là Bộ Hợp tác và Phát triển Kinh tế Liên bang Đức (BMZ) Ngoài ra còn có các Bộ liên bang về Môi trường, Bảo tồn Thiên nhiên, Xây dựng và An toàn hạt nhân (BMUB), Bộ Liên bang về các vấn đề Kinh tế và Năng lượng (BMWi) và Bộ Tài chính Liên bang (BMF) GIZ Việt Nam cũng tham gia nhiều dự án do Chính phủ Úc (thông qua Bộ Ngoại giao và Thương mại - DFAT) và Liên minh châu Âu đồng tài trợ cũng như hợp tác chặt chẽ với Ngân hàng phát triển Đức KfW

Chương trình Quản lý Tổng hợp Vùng Ven biển (ICMP) do hai chính phủ Đức và Úc tài trợ nhằm hỗ trợ Việt Nam quản lý các hệ sinh thái ven biển giúp tăng khả năng phục hồi và giảm khả năng bị tổn thương nhằm bảo vệ vùng đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với biến đổi khí hậu Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ cùng phối kết hợp với Bộ Nông nghiệp và PTNT, và các sở, ban ngành của năm tỉnh chương trình gồm An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Sóc Trăng triển khai thực hiện Chương trình

Để biết thêm thông tin, xin ghé thăm Website của chúng tôi www.giz.de/viet-nam và http://daln.gov.vn/icmp-cccep.html

Trang 6

Nghiên cứu được thực hiện bởi hai giảng viên trường Đại học Cần Thơ, Trần Thị Phụng Hà và Nguyễn Thanh Bình, chuyên ngành Xã hội học và Phát triển Nông thôn thuộc Khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn

và Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long Chúng tôi xin cám ơn tổ chức, cá nhân, thành viên dự án GIZ và cán bộ địa phương đã hỗ trợ, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Trước hết xin cám ơn hai cán bộ GIZ Cà Mau: Nguyễn Thị Hồng Thụy và Nina Seib đã hỗ trợ tích cực trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu từ việc giới thiệu tài liệu nghiên cứu, tổ chức chu đáo các hội thảo cho đến đọc nhận xét góp ý từng trang của báo cáo Chúng tôi rất cám ơn những ý kiến đóng chân thành và xác đáng của hai bạn Cũng như cán bộ GIZ Cà Mau, cô Ngân và anh Tĩnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức chuyến đi thực tế và nhiều lần họp, hội thảo ở Cà Mau

Chúng tôi xin cám ơn Ủy ban Nhân dân (UBND) Tỉnh Cà Mau và UBND Xã, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Cà Mau đóng góp nhiều ý kiến quan trọng trong các cuộc họp ở Cà Mau và địa phương

Cô Bùi Anh Đào Sở NNPTNT Cà Mau

Cô Huỳnh Kim Duyên Hội Liên hiệp PN Cà Mau

Cô Nguyễn Thị Thùy Trang Hội Liên hiệp PN Cà Mau

Cô Lâm Mỹ Dung Hội Liên hiệp PN xã Nguyễn Huân

Cô Lê Thanh Bình Hội Liên hiệp PN Thị trấn Sông Đốc

Cô Trần Diễm Trang Hội Liên hiệp PN xã Đất Mũi

Cám ơn CB Hội Liên hiệp Phụ nữ và người dân ở địa bàn nghiên cứu vì sự mến khách và giúp đỡ nhiệt tình

Chúng tôi cám ơn Tiến sĩ Lê Thanh Phong, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ và Chuyển giao Công nghệ; xin cám ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn và Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long đã tạo điều kiện cho chúng tôi được tham gia nghiên cứu

Cuối cùng, chúng tôi cũng xin cảm ơn Chương trình Quản lý Tổng hợp vùng Ven biển tại tỉnh Cà Mau đã tạo điều kiện và hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu Đặc biệt, xin cảm ơn Cố vấn kỹ thuật của dự án GIZ đã nhận xét và đóng góp những ý kiến hữu ích

Trang 8

Lời cảm ơn 4

Danh mục bảng 8

Danh mục hình 8

Danh mục từ viết tắt 9

Tóm tắt 11

1 Giới thiệu 16

1.1 Bối cảnh chung 17

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu 19

1.3 Cơ sở lý thuyết 19

1.4 Giới hạn đề tài 21

1.5 Phương pháp luận 21

1.6 Địa bàn và mẫu nghiên cứu 24

1.7 Lược khảo tài liệu thứ cấp 29

1.8 Cấu trúc của báo cáo 32

Trang 9

2.2 Tổn thương từ yếu tố tự nhiên và môi trường vật chất 41

2.3 Tổn thương dưới tác động của BĐKH 43

2.4 Đánh giá tổn thương: khu vực, chỉ số và các vấn đề về giới 47

3 Thích ứng và khả năng phục hồi 54

3.1 Ứng phó của chính quyền địa phương với BĐKH 55

3.2 Khả năng tiếp cận nguồn lực ở cấp hộ gia đình 59

3.3 Chiến lược sinh kế và thích ứng 62

4 Đề xuất giảm tính tổn thương về giới trong bối cảnh BĐKH 66

4.1 Tạo cơ hội sinh kế cho phụ nữ thông qua đa dạng hóa nguồn thu nhập 67

4.2 Nâng cao kiến thức và kỹ năng cho phụ nữ 69

4.3 Nâng cao nhận thức về BĐKH 70

4.4 Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong tiến trình ra quyết định 71

4.5 Lồng ghép BĐKH và bình đẳng giới trong kế hoạch phát triển KT-XH 73

4.6 Hỗ trợ tín dụng cho những nhóm dễ bị tổn thương để phát triển kinh tế hộ 74

4.7 Giảm rủi ro trong nuôi trồng và đánh bắt thủy sản vùng biển 75

4.8 Áp dụng phương pháp quản lý tổng hợp vùng ven biển 76

4.9 Tóm tắt các đề xuất 77

Tài liệu tham khảo 78

Trang 10

Bảng 1-1: Tiêu chí đánh giá tổn thương cấp hộ gia đình 20

Bảng 1-2: Các nhân tố gây tổn thương và tác động (điểm số) của chúng đến 3 huyện 23

Bảng 1-3: Thông tin thu thập được từ cuộc họp sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) 23

Bảng 1-4: Thông tin chung về 3 huyện 26

Bảng 1-5: Địa bàn và số mẫu 28

Bảng 1-6: Đặc điểm địa lý và yếu tố rủi ro ở 3 xã 28

Bảng 1-7: Những điểm nóng của phân tích tổn thương và rủi ro 29

Bảng 1-8: Tính phơi nhiễm trước rủi ro của 3 huyện 31

Bảng 2-1: Năng lực của người nghèo, trung bình, khá 36

Bảng 2-2: Nguồn lực tài chính 37

Bảng 2-3: Điểm phân biệt giữa các nhóm ngày càng nghèo, nghèo và giảm nghèo 38

Bảng 2-4: Ảnh hưởng của thời tiết thất thường theo mùa (theo âm lịch) 44

Bảng 2-5: Chỉ số tổn thương ảnh hưởng đến 4 loại hình sinh kế ở 3 xã 48

Bảng 2-6: Chỉ số tổn thương 50

Bảng 3-1: Chương trình hàng động cấp quốc gia và cấp tỉnh ứng phó với BĐKH 56

Bảng 3-2: Úng phó với BĐKH ở cấp xã 57

Bảng 3-3: Hành động thích ứng để giảm nhẹ tổn thương 64

Bảng 4-1: Thu nhập ròng (triệu đồng/hộ/năm) và chia sẻ lao động giữa nam và nữ trong một số hoạt động sinh kế ở địa phương 68

Bảng 4-2 : Số năm đi học giữa nam và nữ từ 15 tuổi trở lên 70

Bảng 4-3: Khác biệt giữa nam và nữ khi hỏi về thuật ngữ BĐKH 71

Danh mục bảng Hình 1-1: Khung lí thuyết đánh giá tổn thương của giới 22

Hình 1-2: Bản đồ Việt Nam và ĐBSCL 25

Hình 1-3: Bàn đồ Cà Mau và vị trí của 3 xã nghiên cứu 27

Hình 1-4: Bản đồ các huyện tổn thương vào năm 2030 và 2050 30

Hình 1-5: DT nuôi tôm bị ngập nước (km2) của 3 huyện (tổng DT, đã ngập 2000, sẽ ngập 2030 và 2050) .31

Hình 2-1: Yếu tố tổn thương liên quan đến KT-XH theo 4 lọai hình sinh kế 39

Hình 2-2: Yếu tố tổn thương liên quan đến con người theo 4 loại hình sinh kế 40

Hình 2-3: Tính tổn thương từ giúp đỡ xã hội và cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến 4 loại hình sinh kế 40

Hình 2-4: Tổn thương từ yếu tố tự nhiên, môi trường vật chất ảnh hưởng đến 4 loại hình sinh kế 41

Hình 2-5: Thời tiết thất thường và mối nguy hiểm ảnh hưởng đến 4 loại hình sinh kế 44

Hình 2-6 : Những khu vực xói lở thuộc địa bàn nghiên cứu 49

Hình 3-1: Mối tương quan giữa tác động của BĐKH và khả năng đa dạng sinh kế 65

Hình 4-1: Chia sẻ công việc nhà giữa nam và nữ trong gia đình 67

Hình 4-2: Trình độ học vấn giữa nam và nữ ở địa bàn nghiên cứu 69

Danh mục hình

Trang 11

ARCC Sự thích ứng và ứng phó với Biến đổi Khí hậu

BĐKH Biến đổi Khí hậu

CFAW Ban vì sự tiến bộ phụ nữ

CFSC Ủy ban phòng chống bão lụt

CVRA Đánh giá tổn thương và rủi ro

SNNPTNT Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

DFID Bộ Phát triển Quốc tế

DOET Sở Giáo dục và Đào tạo

SLĐTBXH Sở Lao động Thương binh và Xã hội

STNMT Sở Tài nguyên và Môi trường

SKHĐT Sở Kế hoạch và Đầu tư

GIZ Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ

ICEM Trung tâm Quốc tế và Quản lí môi trường

ICZM Quản lí tổng hợp vùng ven biển

IIRD Viện quốc tế về Môi trường và Phát triển

IMHEN Viện Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu

IPCC Ủy ban Quốc tế về Biến đổi Khí hậu

KHXH&NV Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn

KT-XH Kinh tế - Xã hội

LVI Chỉ số sinh kế tổn thương

MRC Ủy ban Sông Mê Kông

VNCPTĐB Viện Nghiên cứu phát triển Đồng bằng

NTP Chương trình mục tiêu Quốc Gia Ứng phó với Biến đổi Khí hậu

UBND/PC Ủy ban nhân dân (UBND)

Chữ viết tắt

Trang 12

PN Phụ nữ

PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia

PTD Phát triển công nghệ có sự tham gia

UBND Ủy ban nhân dân

UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp quốc

VACB Vườn Ao Chuồng Biogas (Hệ thống canh tác nông nghiệp tích hợp gồm

trồng trọt, nuôi trồng thủy sản và khí sinh học)VASEP Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam

WU Hội Liên hiệp Phụ Nữ

Trang 13

Đề tài “Đánh giá tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh BĐKH” thuộc dự án GIZ nhấn mạnh yếu tố giới trong sự tương tác giữa các vấn đề về tính tổn thương, tính thích ứng và khả năng chống chịu của người dân trong điều kiện BĐKH Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng, bao gồm đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và điều tra nông hộ phối hợp với thu thập số liệu thứ cấp Qua kết quả thảo luận nhóm với cán bộ (CB) Hội Liên hiệp Phụ Nữ 3 huyện Trần Văn Thời, Đầm Dơi

và Ngọc Hiển được chọn là những huyện bị ảnh hưởng nhiều nhất dưới tác động của BĐKH (bao gồm mưa lớn, bão, xói lở, nước biển dâng và ngập lụt) đồng thời cũng chịu tác động tiêu cực bởi yếu tố KT-

XH và môi trường như nghèo đói, thất nghiệp, thiếu vốn, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt v.v… Dựa trên mức độ phơi nhiễm trước những hiểm họa do BĐKH, mức độ tổn thương do cạn kiệt tài nguyên và mức

độ nhạy cảm trước những khó khăn về KT-XH, đề tài chọn ra 3 xã điển hình để nghiên cứu đó là Thị trấn Sông Đốc (huyện Trần Văn Thời), xã Nguyễn Huân (huyện Đầm Dơi) và xã Đất Mũi (huyện Ngọc Hiển) Kết quả nghiên cứu này được trình bày tóm tắt gồm 3 phần như sau

1 NHỮNG KHÍA CẠNH TỔN THƯƠNG VỀ GIỚI

1 Những yếu tố tổn thương bao gồm (1) các yếu tố KT-XH ảnh hưởng đến nông hộ như: thu nhập thấp, tài sản ít, cơ sở hạ tầng yếu kém, thị trường biến động, không tiếp cận vốn vay v.v…; (2) yếu

tố tổn thương từ bên ngoài liên quan đến sự suy thoái của hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường, tôm bệnh, cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng/biển; và (3) các tác động của BĐKH bao gồm nước biển dâng, ngập lụt, xói mòn và những hậu quả của các cơn bão

2 Không phải tất cả mọi người trong địa bàn nghiên cứu đều có mức độ rủi ro giống nhau Người nghèo là nhóm dễ bị tổn thương nhất Nghèo dẫn đến nhiều hệ lụy như nợ nần, không có tài sản,

ít có mối quan hệ, không tiếp cận được dịch vụ và sự giúp đỡ từ người thân để tạo mối quan hệ lâu dài Nghèo liên quan đến các vấn đề khác như bị phân biệt đối xử, khó tiếp cận được với dịch

vụ y tế, giáo dục, nước sạch, thông tin liên lạc, điện gia dụng và thị trường Người nghèo phải sống trong môi trường ô nhiễm và thiếu an ninh, các nhà tranh vách lá tạm bợ dễ bị quét sập bởi gió mạnh hoặc lốc xoáy; các tàu đánh bắt cũ kỹ và ngư cụ thô sơ dễ dàng bị tàn phá do bão, gió lốc

3 Tiêu chí để phân biệt 3 nhóm: nghèo, ngày một nghèo và nhóm giảm nghèo được xây dựng bởi

ý kiến đánh giá của cộng đồng qua thảo luận nhóm Các tiêu chí để phân nhóm nghèo dựa vào

3 nhóm tác nhân: (1) yếu tố KT-XH; (2) khả năng tiếp cận tài nguyên và mức độ phơi nhiễm trước hiểm họa do thời tiết; và (3) khả năng thích ứng

4 Trong địa bàn nghiên cứu, hộ nghèo có chủ hộ với số năm đi học/đến trường là 4.4 năm và khoảng 75% trong số họ có vấn đề về sức khỏe, đặc biệt số hộ nghèo có nữ là chủ hộ chiếm đến 72% Hộ nghèo có ít đất sản xuất, với diện tích trung bình khoảng 4.500 m2 và giá trị dụng cụ lao động của

hộ chỉ khoảng 12 triệu đồng Trong khi hộ giàu có số tiền vay trung bình là 83 triệu đồng thì người nghèo chỉ vay 24,7 triệu đồng nhưng hầu như họ chỉ có thể vay ngoài hệ thống ngân hàng với lãi suất cao Điều đó cho thấy người nghèo khó tiếp cận nguồn vốn

5 Trong 4 nhóm (nuôi tôm, đánh bắt, mò cua cá và làm thuê) thì nhóm đánh bắt vay số tiền lớn hơn

cả (65,6 triệu đồng) và độ lệch chuẩn (SD) cao chứng tỏ đây là nhóm có nguy cơ về tài chính nhiều nhất Vấn đề là cả bốn nhóm đều không tích lũy được và có thu nhập âm sau khi trừ chi phí cuộc sống Có khoảng 60% hộ dân (92% hộ làm mướn) cho rằng cuộc sống của họ ngày càng sa sút

Tóm tắt

Trang 14

6 Do cuộc sống lệ thuộc tài nguyên thiên nhiên, vào thời tiết khí hậu, người dân nông thôn tổn thương cao khi “phơi nhiễm” trước hiểm họa của thời tiết như ngập úng, xói lở, bão tố… Nắng nóng kéo dài, mưa dầm và ngập úng gây khó khăn cho người dân nuôi tôm vì điều đó ảnh hưởng đến chất lượng nước trong ao vuông, ảnh hưởng đến thể chất và năng suất tôm Tương tự, mưa lớn, gió mạnh và bão gây ảnh hưởng trực tiếp đến ngư dân, kể cả những người có và không có ngư cụ (đánh bắt thuê), và những người đánh bắt gần bờ hoặc xa bờ

7 “Giới” được hiểu là thái độ của mọi người đối với nam và nữ và là cảm nhận về phân công lao động của họ Trong nuôi tôm, phụ nữ là biểu tượng của xui xẻo, phụ nữ không được vào trại tôm giống hoặc lội xuống vuông tôm thâm canh; trong đánh bắt, phụ nữ không được phép xuống tàu, không được ra khơi, không được đứng ở cầu tàu vẫy tay chào từ biệt hoặc đón chồng con khi họ đánh bắt trở về Họ lẩn quẩn với những việc không công “bên trong” gia đình như nội trợ, chăm sóc người già và trẻ con, đa dạng sinh kế và chịu trách nhiệm trong việc chi tiêu và tiết kiệm của gia đình Họ vừa là vợ, là dâu, là mẹ, người trông trẻ, nội trợ, gia sư của trẻ con, y tá của người già …Những công việc không công ấy đã gây áp lực lên người phụ nữ, khiến họ cảm thấy đuối sức trong việc tự nâng cao kiến thức và kỹ năng cho riêng họ

8 Phụ nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn so với nam giới dưới tác động của BĐKH và thiên tai Phụ nữ ít có khả năng làm những việc đòi hỏi chuyên môn cao nên họ ít có cơ hội xin được việc làm tốt Số phụ

nữ (PN) thất nghiệp hoặc phải làm những công việc đơn giản nhiều hơn nam giới Họ có sức khỏe yếu hơn nam giới nên được trả lương thấp hơn (khoảng 30%) Những gia đình nghèo có PN là chủ

hộ lại càng khó khăn hơn khi ứng phó với BĐKH, họ gặp khó khăn khi di dời tái định cư, xây dựng hoặc sửa chữa nhà cửa sau khi thảm họa thời tiết xảy ra

9 Nam giới và PN chịu tác động bởi BĐKH khác nhau tùy thuộc vào hoạt động sinh kế của họ Nam giới có trách nhiệm trong những hoạt động sản xuất như: xử lí nước trong vuông tôm, xây bờ kè dọc sông để tránh lở đất hoặc gia cố bờ bao trong vuông tôm để tránh ngập tràn Đàn ông đi biển quyết định có nên ra khơi đánh bắt hay ở nhà trú bão, mùa nào đánh loại ngư cụ gì, ở vùng biển nào v.v… Nam giới đóng vai trò chính trong sản xuất tạo thu nhập nên họ có quyền quyết định mọi vấn đề kể cả cách đối phó với BĐKH PN chịu trách nhiệm trong những hoạt động tái sản xuất chuyển dời đồ đạc đến nơi khô ráo, tát nước, vệ sinh nhà cửa mỗi khi ngập lụt PN nghèo tìm kiếm sinh nhai bằng đi làm mướn hoặc mua bán nhỏ mà những nghề này thường thu nhập thấp hoặc không có thu nhập vào những ngày mưa bão

10 Cà Mau được dự đoán trong tương lai là có mực nước biển dâng cao, nhiệt độ và lượng mưa cũng tăng Nước biển dâng và lượng mưa tăng gây ngập úng; nhiệt độ tăng, độ ẩm giảm trong mùa khô gây nắng nóng kéo dài Ba huyện Trần văn Thời, Đầm Dơi và Ngọc Hiển đã nhiễm mặn hoàn toàn

và đã có mức độ ảnh hưởng bởi ngập lụt và bão khác nhau Trần Văn Thời bị ảnh hưởng bởi ngập lụt nhiều nhất trong ba huyện và Ngọc Hiển đối phó nhiều với bão lụt do huyện có địa hình thấp

và có bờ biển dài nên nhiều nơi trong huyện chịu tác hại do bão

11 Địa phương khác nhau có mức độ tổn thương với BĐKH khác nhau phụ thuộc vào mức độ địa phương ấy “phơi nhiễm” trước hiểm họa của BĐKH, trước sự cạn kiệt tài nguyên và các vấn đề khó khăn về KT-XH Việc quản lí rừng nghiêm ngặt ảnh hưởng đến sinh kế người dân mò cua bắt ốc và

do cạn kiệt tài nguyên ven bờ, rất nhiều hộ nghèo ở Đất Mũi đã bị tổn thương lớn Họ không được phép hưởng lợi tài nguyên rừng ngoài gỗ, trong khi nguồn tài nguyên biển cạn kiệt Khắc nghiệt hơn khi họ phải đối mặt với bão, gió xoáy, mưa thất thường và lở đất, đặc biệt là những hộ dân dọc sông Kinh Đào Thị trấn Sông Đốc có mức độ đô thị hóa cao, người nghèo và những người nhập cư sống ven biển gặp khó khăn do ngập lụt, bão tố, hay mưa dầm gió lốc Xã Nguyễn Huân có nhiều

hộ nghèo và gặp khó khăn vì phải bán sản phẩm giá rẻ cho vựa, lái do ít cơ hội cạnh tranh Ngư dân nghèo trong làng chài xã Mai Hoa phải kiếm sống, chống chọi với bão tố bằng những dụng cụ ghe,

Trang 15

12 Đề tài đề nghị thang chỉ số đánh giá tổn thương dựa vào mức độ “phơi nhiễm” với BĐKH, tính “nhạy cảm” của chủ thể trong hệ thống và khả năng thích ứng của cộng đồng, trong đó cụm 1 tập trung vào tính nhạy cảm, cụm 2 tập trung và mức độ phơi nhiễm và cụm 3 thể hiện khả năng thích ứng Tuy nhiên khả năng thích ứng còn cần đo lường chi tiết kỹ hơn ở phần sau.

2 KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VÀ PHỤC HỒI ĐỐI VỚI BĐKH

13 Khả năng thích ứng với BĐKH có thể được xem như tập hợp các hoạt động hữu hình, nhìn thấy được hoặc tiềm tàng, chưa thể hiện Hoạt động thích ứng với BĐKH được diễn ra từ cấp quốc gia, đến cấp tỉnh Cà Mau và dần đến cấp hộ gia đình Không phải tất cả mọi người đều có chiến lược thích ứng giống nhau Họ nghĩ ra hàng loạt chiến lược thích ứng khác nhau phụ thuộc vào từng địa phương, bối cảnh, thời điểm, giới tính, hoàn cảnh gia đình, khả năng tiếp cận tài nguyên và khả năng thích ứng của từng cá nhân hoặc nhóm v.v…

14 Khi theo dõi cách người dân đối phó, thích ứng, quản lí – hoặc học cách quản lí – với những thay đổi do môi trường và BĐKH, ta có thể chia chiến lược sinh kế ra làm 3 cụm căn cứ vào khả năng phục hồi ở cấp độ gia đình đó là (1) học cách sống với sự thay đổi; (2) nuôi dưỡng sự học tập và thích nghi; và (3) tạo cơ hội cho tự tổ chức cuộc sống (Folke et al., 2003; cited in Marschke & Berkes, 2006)

15 Cụm thứ nhất bao gồm các chiến lược thích ứng ngắn hạn, phản ứng tức thì khi ứng phó BĐKH hay hiểm họa khí hậu, các chiến lược này có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến khả năng phục hồi Nhóm hai là các chiến lược ngắn hạn hoặc dài hạn, học tập và nuôi dưỡng kinh nghiệm, khả năng ứng phó với BĐKH Chiến lược hướng đến bảo vệ môi trường, tài nguyên hoặc xây dựng mối quan

hệ chính trị, xã hội bền vững Cụm thứ ba liên quan đến khả năng tự tổ chức và quản lý tài nguyên thiên nhiên cho hiện tại và tương lai

16 Người nghèo chỉ tham gia những hoạt động thích ứng ở cụm 1, những đối phó tức thì và không mang tính bền vững; ngược là người giàu tham gia những hoạt động thích ứng mang thính bền vững và có khả năng phục hồi kinh tế hộ cũng như bảo vệ môi trường tốt hơn Tương tự, PN có thể tham gia tất cả các hoạt động trong các cụm, nhưng nhiều nhất vẫn là cụm 1 và 2, những hoạt động của kế hoạch ngắn và trung hạn Vì vậy, những chương trình nâng cao nhận thức về BĐKH và

hỗ trợ các giải pháp thích ứng với BĐKH nên đặc biệt quan tâm đến người nghèo và PN, những đối tượng yếu thế vừa bị tổn thương nhiều, vừa phải tự xoay sở trong các chiến lược thích nghi không bền vững

3 NHỮNG ĐỀ XUẤT GIẢM TÍNH TỔN THƯƠNG VỀ GIỚI

17 Tạo cơ hội sinh kế cho phụ nữ thông qua đa dạng hóa nguồn thu nhập

Sở NNPTNT nên phối hợp với Sở LĐTBXH, Hội Liên hiệp PN và GIZ thực hiện các thử nghiệm và

mô hình trình diễn với sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chăn nuôi, trồng trọt và/hoặc các hệ thống canh tác khác bằng cách tiếp cận PTD (Participatory Technology Development – phát triển

kỹ thuật có sự tham gia), đây là cách tiếp cận mới đã được áp dụng thành công ở ĐBSCL Tăng nguồn thu nhập cũng có thể thông qua các hoạt động phi nông nghiệp, tạo việc làm nông thôn

Để đảm bảo người dân có việc làm sau khi được đào tạo cần quan tâm: (i) xây dựng chương trình huấn luyện cho phụ nữ dựa vào lợi thế từng địa phương và nhu cầu thực tế, (ii) liên kết Chương trình với thị trường lao động, (iii) tạo việc làm cho phụ nữ thông qua phát triển công nghiệp và dịch

vụ tại địa phương như kinh doanh qui mô nhỏ, thủ công mỹ nghệ, du lịch, v.v

Trang 16

18 Nâng cao kiến thức và kỹ năng cho phụ nữ

Kết quả khảo sát cho thấy người dân địa phương có trình độ học vấn thấp, nhất là phụ nữ Nâng cao kiến thức cho người lớn có thể thực hiện thông qua đào tạo ngắn hạn và khuyến nông; tuy nhiên, bất bình đẳng giới cũng xảy ra khi xét ở khía cạnh tiếp cận huấn luyện và khuyến nông Do vậy, điều cần thiết là tạo điều kiện khuyến khích phụ nữ tham gia các khóa huấn luyện để nâng cao kiến thức

và kỹ năng trong sản xuất hướng đến cải thiện thu nhập cho bản thân và gia đình

19 Nâng cao nhận thức về BĐKH

Nhận thức về BĐKH có thể được nâng cao thông qua các lớp tập huấn tại cộng đồng để phổ biến những kiến thức cơ bản về nguyên nhân và hậu quả của BĐKH, cũng như các biện pháp giảm thiểu cho cộng đồng địa phương Nâng cao nhận thức về BĐKH cũng có thể thực hiện bằng cách tổ chức các cuộc thi (Ví dụ: thi về kiến thức BĐKH) hay các chiến dịch tuyên truyền (ví dụ: nói không với túi nylon) với sự tham gia của toàn cộng đồng kể cả nam và nữ giới Các phương tiện truyền thông đại chúng như truyền hình, báo chí, tờ rơi, áp phích, v.v cũng là những kênh quan trọng góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH

20 Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong tiến trình ra quyết định

Nâng cao nhận thức về giới cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước ở các cấp cũng là điều cần phải làm Việc này có thể thực hiện bằng cách tổ chức các khóa huấn luyện, hội thảo, hội nghị chuyên đề về bình đẳng giới và lồng ghép giới vào kế hoạch phát triển KT-XH cho cán bộ các cấp

từ xã đến huyện và tỉnh Thêm vào đó, điều không kém phần quan trọng là nâng cao tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội và đảm bảo rằng họ có quyền tham gia vào tiến trình ra quyết định

21 Lồng ghép BĐKH và bình đẳng giới trong kế hoạch phát triển KT-XH

Các chương trình thích ứng với BĐKH và bình đẳng giới nên lồng ghép vào kế hoạch phát triển

KT-XH ở tất cả các cấp Tuy nhiên, kế hoạch phát triển KT-KT-XH ở địa phương cũng như Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH và nước biển dâng trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2012-2015 không bao gồm vấn đề giới Do vậy, những đề xuất dưới đây có thể thúc đẩy việc lồng ghép BĐKH và bình đẳng giới trong kế hoạch phát triển KT-XH địa phương: (i) Bình đẳng giới và thích ứng với BĐKH nên được xem xét như là những chỉ tiêu quan trọng và được đề cập trong kế hoạch phát triển KT-XH để theo dõi và đánh giá, (ii) Những hoạt động của Hội Liên hiệp PN tỉnh mang lại kết quả tốt có thể góp phần vào phát triển KT-XH và thích ứng với BĐKH (Ví dụ: bếp củi có ống khói, hầm ủ phân hữu cơ, biogas, …) nên được đánh giá và xem xét để có biện pháp hỗ trợ nhân rộng trên địa bàn, (iii) Lồng ghép giới và BĐKH vào kế hoạch phát triển KT-XH đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên có liên quan;

do đó, nên thành lập một “Ban Chỉ đạo về giới” ở cấp tỉnh bao gồm tất cả các bên có liên quan hoặc tăng cường vai trò của “Ban vì sự tiến bộ phụ nữ” hiện có, (iv) Để thực hiện thành công việc lồng ghép BĐKH vào kế hoạch phát triển KT-XH của tỉnh điều cần thiết là nâng cao năng lực cho cán bộ

ở các cấp thông qua tập huấn các chủ đề liên quan như kiến thức về BĐKH, kỹ năng lồng ghép giới vào kế hoạch phát triển KT-XH địa phương, kỹ năng lập và quản lý dự án có sự tham gia

22 Hỗ trợ tín dụng cho những nhóm dễ bị tổn thương để phát triển kinh tế hộ

Nhóm dễ bị tổn thương thường thiếu vốn đầu tư nên điều cần thiết là tạo điều kiện để họ tiếp cận với tín dụng quy mô nhỏ hoặc quỹ tiết kiệm để đầu tư chăn nuôi, trồng trọt hay mua bán nhỏ Các nguồn vốn này có thể tổ chức theo kiểu “tiết kiệm xoay vòng” như Hội Liên hiệp PN đã làm trong thời gian qua Tuy nhiên, họ là những người nghèo nên thiếu vốn đóng góp ban đầu, do đó cần có

Trang 17

và theo dõi giám sát chặt chẽ khi đầu tư Mặt khác, hệ thống ngân hàng nhà nước nên có những chính sách đặc biệt để mọi người dân địa phương có thể tiếp cận được, vì với chính sách hiện tại một số người không thể vay mượn từ ngân hàng (Ví dụ: ghe tàu đánh bắt không được xem là tài sản thế chấp để vay) Cuối cùng, nhà nước nên khoanh nợ cho những trường hợp gia đình họ gặp phải những cú sốc, để họ được tiếp cận vốn ngân hàng.

23 Giảm rủi ro trong nuôi trồng và đánh bắt thủy sản vùng biển

Những hoạt động sinh kế chính ở vùng biển như đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đang phải đối mặt với nhiều rủi ro liên quan đến BĐKH và ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môi trường, mưa quá nhiều, bão

và lốc xoáy được đánh giá ở mức rất quan trọng ảnh hưởng đến nghề đánh bắt thủy sản; trong khi đó, các yếu tố được đánh giá ảnh hưởng quan trọng đến nuôi trồng thủy sản bao gồm ô nhiễm môi trường (nước), dịch bệnh, mưa nhiều và bão Tất cả các yếu tố này đều có xu hướng tăng cả về tần suất xuất hiện

và cường độ trong những năm gần đây Do đó, quản lý rủi ro trong lĩnh vực đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đóng một vai trò quan trọng để giảm thiệt hại và ổn định sinh kế cho người dân địa phương Giảm thiểu rủi ro có thể thông qua: (i) cải tiến công tác dự báo thời tiết và hệ thống cảnh báo sớm để thông tin cho người dân biết sớm và chính xác khi thời tiết xấu, (ii) giảm ô nhiễm môi trường, (iii) quản lý dịch bệnh tôm, (iv) quản lý tôm giống, và (v) chuyển giao kỹ thuật phù hợp

24 Áp dụng phương pháp quản lý tổng hợp vùng ven biển

Ở khu vực ĐBSCL, phương pháp quản lý tổng hợp vùng ven biển (ICZM – Integrated Coastal Zone Management) đã được áp dụng thông qua dự án hợp tác phát triển Việt-Đức “Quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng” Do đó, chúng tôi đề xuất ứng dụng cách tiếp cận ICZM để nâng cao khả năng phục hồi và giảm tính tổn thương do những biến đổi kể cả yếu tố khí hậu và phi khí hậu ở vùng biển tỉnh Cà Mau Những kiến nghị dưới đây có thể hỗ trợ cho việc áp dụng ICZM ở Cà Mau: (i) tổ chức một chuyến tham quan cho cán bộ lãnh đạo tỉnh để họ thấy cơ hội áp dụng và có chủ trương ủng

hộ ICZM, (ii) tổ chức hội thảo, hội nghị, tham quan chia sẻ kinh nghiệm cho các bên có liên quan ở các cấp nhằm nâng cao nhận thức và tìm sự đồng thuận của các bên có liên quan để thực hiện ICZM, (iii)

tổ chức các khóa huấn luyện về nguyên lý ICZM và kỹ năng triển khai ICZM cho cán bộ các cấp để thực hiện mô hình thí điểm ICZM ở cộng đồng, (iv) triển khai thí điểm ICZM, đảm bảo rằng cả nam giới và nữ giới trong cộng đồng tham gia vào các giai đoạn của ICZM, từ lập kế hoạch đến thực hiện, giám sát và đánh giá, (v) cần có một sự thỏa thuận, thống nhất về mặt pháp lý để thúc đẩy sự hợp tác và phối hợp giữa các bên có liên quan

Trang 18

01 01 01Giới thiệu

Trang 19

là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất do BĐKH BĐKH liên quan đến sự suy giảm độ

ẩm, nhiễm mặn, lở đất và gió bão thường xuyên hơn Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có địa hình thấp hơn 5m so với mực nước biển là một trong ba đồng bằng dễ bị tổn thương nhất trên thế giới khi mực nước biển dâng cao Nghiên cứu của Mackay & Russell (2011) và Carew-Reid (2008) chỉ ra rằng khoảng 38% vùng ĐBSCL sẽ bị ngập chìm nếu nước biển dâng lên 1m Nước biển dâng cao kéo theo

lũ lụt, phá vỡ hệ thống đê điều, gây ngập mặn, xói lở bờ biển và dẫn đến đời sống, sinh kế người dân ven biển thêm bấp bênh Ảnh hưởng ngày càng rõ của BĐKH đang làm giảm khả năng phục hồi và tính thích ứng của người dân ven biển

Các yếu tố tổn thương ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hàng ngàn người dân sống trong địa bàn nghiên cứu, họ là những người có đời sống sinh kế dựa vào nông nghiệp, đánh bắt và nuôi tôm ở Cà Mau Cà Mau là một tỉnh cực nam của Việt Nam, người dân sống xa trung tâm phố thị và cách trở bởi mạng lưới các con sông dày đặc nên việc đi lại khó khăn Điều đó cản trở họ tiếp cận thị trường, cũng như giáo dục và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Hơn nữa, do tiếp giáp với biển Đông và Vịnh Thái Lan,

Cà Mau chịu tác động nhiều bởi BĐKH cực đoan như bão nhiệt đới, lũ lụt và xói lở Các hoạt động tạo thu nhập như nuôi tôm, trồng trọt và đánh bắt thủy sản đang bị đe dọa trước những thảm họa thiên nhiên Trong tương lai gần, BĐKH được dự báo sẽ tác động mạnh đến đời sống người dân địa phương hơn nữa

Không phải tất cả người dân trong địa bàn nghiên cứu đều chịu rủi ro như nhau hoặc họ sẽ có chiến lược sinh kế như nhau để đối phó với BĐKH Từng địa bàn và mỗi mô hình sinh kế sẽ chịu tác động bởi BĐKH khác nhau Mô hình nào có độ phơi nhiễm và nhạy cảm cao với tác động của BĐKH sẽ bị tổn thương nhiều Tương tự, mô hình nào có chiến lược thích ứng tốt và khả năng phục hồi cao sẽ ít tổn thương

Trang 20

hơn Tính tổn thương đối với BĐKH của một quốc gia phụ thuộc vào tiềm năng KT-XH của nước ấy, người nghèo và những người yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người già trong nước nghèo là những đối tượng dễ

bị tổn thương nhất

Về mặt văn hóa, Việt Nam bị ảnh hưởng bởi Nho giáo suốt hàng ngàn năm qua Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội không được đề cao và công nhận là cần thiết cho sự phát triển của xã hội Phụ nữ đảm trách cùng lúc 3 nhiệm vụ (sản xuất, tái sản suất và cộng đồng); tuy nhiên, họ được mặc định thực hiện những việc tái sản xuất và những nhiệm vụ không được thù lao như sinh đẻ, chăm sóc con cái, quán xuyến nhà cửa Họ có thể làm những việc tạo thêm thu nhập như mua bán nhỏ, bán hàng rong, chăn nuôi, trồng trọt v.v… nhưng những công viêc này mang thu nhập ít, không ổn định nên thường không được đánh giá cao Vì vậy, PN bị bất lợi trong XH Bên cạnh PN, những người nghèo, trẻ em, người già, người bệnh là đối tượng thiệt thòi dưới tác động của BĐKH (Kasperson & Kasperso, 2001)

Nhận biết được điều này, dự án GIZ với tên gọi “Lồng ghép sự thích ứng với BĐKH vào công tác quy hoạch quản lý vùng ven biển tỉnh Cà Mau” là một phần trong nhóm dự án về “BĐKH và các hệ sinh thái” (ICMP/CCCEP) tại Việt Nam nhấn mạnh vấn đề giới như một chủ đề độc lập và liên ngành (không thuộc hẳn về một hợp phần nào trong 4 hợp phần của dự án) và cần được đưa vào xem xét và hành động trong bối cảnh BĐKH

Trong dự án này, đề tài nghiên cứu về “Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh BĐKH” được thực hiện để nghiên cứu sự tương tác giữa các yếu tố tổn thương, sự thích ứng của người dân và khả năng phục hồi của hệ thống dưới ảnh hưởng của BĐKH tác động đến sinh kế của người dân, phụ nữ và nam giới, tại tỉnh Cà Mau Nghiên cứu tập trung vào sự khác biệt mang tính tổn thương trong địa bàn nghiên cứu Những yếu tố gây tổn thương bao gồm khả năng tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khỏe, cơ hội việc làm, quyền sở hữu, quản lý tài sản gia đình và cộng đồng và quyền ra quyết định trong việc sử dụng và quản lí tài nguyên Kết quả của việc phân tích các yếu tố tổn thương, các cách đối phó

Trang 21

với thiên tai và các chiến lược thích nghi nhằm để thiết lập các kế hoạch có liên quan, xác định phương pháp tiếp cận, các chính sách hỗ trợ để phục hồi hệ thống Ngoài ra, xác định tính tổn thương trong bối cảnh BĐKH sẽ làm căn cứ cho việc phân tích các chương trình quản lí và phòng chống thiên tai trong tương lai

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu nền này bao gồm:

1 Nhận diện các khía cạnh then chốt của tính tổn thương về giới tại Cà Mau, các nhóm (Ví dụ như thanh thiếu niên/phụ nữ đã có gia đình/người đã nghỉ hưu) và khu vực (các huyện/xã) có tính tổn thương cao trong điều kiện hiện tại và trong bối cảnh BĐKH tương lai

2 Đánh giá khả năng phục hồi của các nhóm dễ bị tổn thương nhất trong điều kiện hiện tại và trong bối cảnh BĐKH tương lai

3 Xác định các yếu tố then chốt giúp các nhóm đối tượng giảm bớt tính tổn thương của họ

4 Phát triển các chỉ số xác định tính tổn thương có thể dùng cho việc đánh giá tác động trong tương lai

5 Khuyến nghị đưa ra các biện pháp/phương pháp/chương trình cần thiết lập hoặc áp dụng để cải thiện khả năng chống chịu

6 Đưa ra các biện pháp/hành động/cách tiếp cận/cách thức lồng ghép các hoạt động giảm bớt tính tổn thương của giới dưới tác động của BĐKH vào tiến trình lập kế hoạch phát triển KTXH (giai đoạn 5 năm và kế hoạch hàng năm) của tỉnh Cà Mau

1.3 Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu sử dụng khái niệm tính tổn thương được định nghĩa bởi Ủy ban Quốc tế về BĐKH (IPCC) Tổn thương là “mức độ mà một hệ thống không thể chịu được hoặc không có khả năng chống lại các tác động tiêu cực của BĐKH, bao gồm tính biến động cực đoan của khí hậu Tính tổn thương là hàm số của tính chất, cường độ, tần suất của BĐKH và nó thay đổi theo mức độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và năng

lực thích ứng của hệ thống đó” (Kasperson & Kasperso, 2001) Sterlacchini (2011) định nghĩa mức độ phơi nhiễm là “sự hiện diện (theo vị trí) của một hệ thống (bao gồm sinh kế, các dịch vụ môi trường, các

nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng, các tài sản văn hóa xã hội v.v ) bị ảnh hưởng bởi những bất lợi từ các

hiện tượng thời tiết tự nhiên” Độ nhạy cảm là “mức độ mà một hệ thống bị ảnh hưởng, kể cả tiêu cực

hoặc tích cực, do sự thay đổi về khí hậu hoặc các yếu tố liên quan đến khí hậu” Các hệ thống khác nhau

có mức độ nhạy cảm khác nhau với BĐKH, vì vậy, mức độ tác động của BĐKH lên các hệ thống khác nhau

là khác nhau Khả năng thích ứng là “năng lực của một một hệ thống nhằm ứng phó với BĐKH (bao gồm

tính thay đổi và cực đoan của khí hậu) để giảm những thiệt hại, tận dụng các cơ hội có lợi, hoặc để đối phó với những hậu quả của hiện tượng khí hậu”

Khi tăng độ nhạy cảm và sự phơi nhiễm thì tính dễ tổn thương sẽ tăng, khi tăng sự thích ứng của hệ thống (dựa vào sự giàu có, kỹ thuật, tiếp cận thông tin, quan hệ xã hội v.v ) thì tính tổn thương sẽ giảm

Để giảm tính tổn thương, chúng ta cần phát huy khả năng thích ứng hoặc làm nhẹ tổn thương hoặc cả hai (Nair & Bharat, 2011)

Có rất nhiều khung lí thuyết, phương pháp và công cụ nghiên cứu tính tổn thương, tính thích ứng và khả năng phục hồi đã được đề xuất để mô tả quá trình khiến con người và môi trường bị tổn thương Nghiên cứu này áp dụng khung lý thuyết của Nair & Bharat (2011) để xác định ai, nhóm, cộng đồng, nơi chốn nào phơi nhiễm nhiều nhất dưới tác động và nguy hiểm của khí hậu, nhạy cảm nhất với những

Trang 22

ảnh hưởng BĐKH và có khả năng thấp nhất khi thích nghi với sự thay đổi Tính tổn thương khác nhau phụ thuộc vào thời điểm nghiên cứu, loại hình sinh kế bị ảnh hưởng, phạm vi đánh giá (bên trong hay ngoài), và lĩnh vực đánh giá (KT-XH, điều kiện môi trường) Nếu chúng ta nghiên cứu tổn thương bên trong hệ thống, đó là tổn thương nội bộ, nếu do tổn thương do từ áp lực bên ngoài, gọi là tổn thương ngoài (Nair & Bharat, 2011) Fussel (2007) đã phân biệt 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tính tổn thương dựa vào phạm vi và lĩnh vực (Bảng 1-1) Để biết thêm chi tiết, đề tài kết hợp với nghiên cứu trước đây về Chỉ số Tổn thương Sinh kế (LVI) được phát triển bởi Hahn et al.(2009) để ước tính ảnh hưởng khác nhau của BĐKH tại 3 xã ven biển ở Cà Mau.

Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá tính tổn thương của giới và nhấn mạnh sự khác biệt tổn thương

về mặt tự nhiên và xã hội theo giới và theo vùng địa lý Giới đề cập đến sự khác biệt xã hội giữa nam và

nữ và xác định mối quan hệ giữa họ trong xã hội Giới liên quan đến giới tính, được xây dựng trên những giá trị, quan niệm, niềm tin và phong tục xã hội, giới ảnh hưởng đến vai trò và nghĩa vụ khác nhau của nam và nữ cũng như cách họ tiếp cận kiến thức và nguồn lực (Deare, 2004) Sự khác biệt về vai trò của nam và nhấn mạnh sự thiệt thòi của phụ nữ khi tiếp cận tài sản sinh kế: tự nhiên, xã hội, tài chính, vật chất, con người và năng lực ra quyết định cho sự tiếp cận đó (Chambers & Conway, 1999)

Nghiên cứu sử dụng lý thuyết về năng động sinh kế của Kaag (2004), xem xét mối tương tác giữa con người và môi trường XH, tự nhiên, và sự thay đổi của chúng theo thời gian Nghiên cứu tập trung vào

sự xáo trộn và tổn thương ở địa phương (Adger et al., 2001; Blaikie, 1995), sự căng thẳng hoặc những cú sốc ảnh hưởng đến sinh kế, cũng như kết quả của mối tương tác giữa những tác động mang tính toàn cầu và hoàn cảnh địa phương (Armitage & Johnson, 2006; De Haan, 2000; De Haan & Zoomers, 2003) Việc điều tra các quá trình thay đổi và thích ứng là những phản ứng trong ngắn hạn (Davies, 1996) hoặc dài hạn (cited in Marschke & Berkes, 2006; Singh & Gilman, 1999)

Bảng 1-1: Tiêu chí đánh giá tổn thương cấp hộ gia đình Phạm vi KT-XH Tự nhiên, sinh học

Bên trong Xã hội-nhân khẩu: tỉ lệ nữ, tỉ lệ trẻ

em dưới 15 tuổi và người già trên

Giáo dục và cơ hội nghề nghiệp cho

nam giới và PN

Điều kiện cơ sở hạ tầng Mạng XH và vốn XH

Môi trường nghèo nàn, ô nhiễm

Tài nguyên thiên nhiên: rừng, biển, nước

Sử dụng đất: nông nghiệp, thủy sản,

rừng

Đa dạng sinh học: ít và suy thoái

Bên ngoài Chính sách nhà nước, lạm phát,

biến động giá cả, chương trình hỗ trợ của nhà nước v.v

Thảm họa thiên nhiên và BĐKH: lũ lụt, bão, úng ngập, nhiễm mặn.

Nguồn: Theo Fussel (2007) và Hahn et al (2009)

Trang 23

Chiến lược sinh kế, giảm nhẹ và sự thích ứng rất đa dạng và phức tạp tùy thuộc vào nơi chốn, thời gian, bối cảnh, điều kiện hộ gia đình và chính bản thân người thực hiện Áp dụng 3 nhóm chiến lược thích ứng của Folke cộng tác viên (2003) chúng tôi nghiên cứu cách con người thích ứng, quản lý – hoặc học cách quản lý – những thay đổi để thấy khả năng phục hồi ở cấp hộ gia đình, đó là (1) học cách sống với

sự thay đổi và sự không chắc chắn; (2) nuôi dưỡng học tập và thích nghi; và (3) tạo cơ hội cho việc tự tổ chức cuộc sống (Folke cộng tác viên, 2003; cited in Marschke & Berkes, 2006)

Khả năng phục hồi, tính tổn thương và tính thích ứng là rất quan trọng khi nghiên cứu sự tương tác của con người với môi trường (Janssen & Ostrom, 2006; Young cộng tác viên, 2006) Hơn nữa, để phát triển bền vững, những chính sách và thể chế cần chú ý đến khả năng phục hồi KT-XH và hệ sinh thái Những chính sách này trưc tiếp ảnh hưởng đến sinh kế và khả năng ra quyết định của người dân, đặc biệt là PN

ở vùng ven biển

1.4 Giới hạn đề tài

Đề tài không thể nghiên cứu hết tất cả các dạng sinh kế ở Cà Mau mà chỉ tập trung vào sinh kế của người dân nuôi tôm và đánh bắt, đây là hai dạng sinh kế chính của người sống ven biển ở Cà Mau, họ đang chịu nhiều tổn thương từ các yếu tố tự nhiên và phi tự nhiên Có hàng loạt các dạng sinh kế phụ khác bên cạnh đánh bắt và nuôi tôm như làm thuê, khai thác tài nguyên bãi bồi (mò cua bắt cá) hoặc lâm sản ngoài gỗ, mua bán nhỏ, dịch vụ v.v Tương tự như vậy, chúng tôi không thể khảo sát nông hộ và phỏng vấn sâu tất cả các hộ dân trên Thay vào đó, đề tài nghiên cứu 3 huyện trong đó lựa chọn ra 3 xã điển hình để tìm hiểu tác động của BĐKH và khả năng thích ứng của người dân

Đề tài cũng không thể nghiên cứu tất cả các thuộc tính và hậu quả của BĐKH mà chỉ tập trung vào những hiện tượng phổ biến nơi địa bàn nghiên cứu như bão, ngập nước, trượt đất, xói lở, nắng nóng kéo dài và mưa dầm Do vậy, đề tài sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân để phát hiện các chiến lược sinh kế phù hợp nhằm giảm nhẹ những tác động của thời tiết cực đoan

1.5 Phương pháp luận

Khung lí thuyết

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm xác định nguồn gốc của tổn thương, lí do bị tổn thương và cách những nhóm nam giới và PN hành động để giảm nhẹ tổn thương trong điều kiện hiện tại và trong bối cảnh BĐKH tương lai Những khái niệm được mô tả trong Hình 1-1 được kế thừa bởi nhiều nghiên cứu trước đây để mô tả tính tổn thương đối với địa bàn và cộng đồng cụ thể (Carew-Reid, 2008; Hung, 2012; IMHEN, 2013; Mackay & Russell, 2011) Nghiên cứu nhấn mạnh những yếu tố then chốt gây tổn thương

Trang 24

Nhân tố gây tổn thương

Tính thích ứng

Giảm thiểu tổn thương của giới

mà người dân ven biển Cà Mau và hệ sinh thái đang gánh chịu, những yếu tố đó có thể do (hoặc không do) hậu quả của BĐKH Sự tiếp cận này nhằm xác định các khia cạnh liên quan đến tổn thương như ai bị tổn thương (nam hay nữ), chiến lược thích ứng của họ, các chương trình và chính sách hợp lý để có thể giảm nhẹ những tổn thương đối với BĐKH (Hình 1-1)

Hình 1-1: Khung lí thuyết đánh giá tổn thương của giới

dữ liệu định tính giải thích sự khác biệt hoàn cảnh gia đình và các chiến lược ứng phó Đề tài được tến hành theo một chuỗi các hoạt động sau:

Bước 1, cuộc họp ở cấp Tỉnh được triển khai vào ngày 01/09 với sự tham gia của 40 lãnh đạo Hội Liên hiệp PN Tỉnh, Huyện và Xã Mỗi huyện có 3-5 cán bộ Hội Liên hiệp PN tham gia đại diện cho những xã có điều kiện địa lý và nhiều mô hình sinh kế khác nhau Các đại biểu so sánh tính tổn thương trên từng khu vực qua sự đa dạng nhưng đặc thù của nơi ấy Nội dung cuộc họp này là đánh giá xếp hạng các nhân tố gây tổn thương ở địa bàn bằng cách đo sơ bộ tính phơi nhiễm, tính nhạy cảm và khả năng thích ứng của địa phương Để thực hiện điều này, đại biểu liệt kê các nhân tố gây tổn thương, đánh giá xác suất tính phơi nhiễm và so sánh kết quả giữa các huyện Danh sách các yếu tố tổn thương được nhóm lại thành 3 cụm: KT-XH; điều kiện tự nhiên sinh học-vật chất; và yếu tố tác động của BĐKH Đại biểu đánh giá mức

độ phơi nhiễm ở mỗi nhân tố theo thang điểm 10 (từ 1 là thấp nhất đến 10 là cao nhất) và tính nhạy cảm theo thang điểm 5 (từ 1 là thấp nhất đến 5 là cao nhất)

Ba huyện Trần Văn Thời, Đầm Dơi and Ngọc Hiển được lựa chọn để nghiên cứu do chúng có số điểm của

sự phơi nhiễm và nhạy cảm đến những tác động của BĐKH cao nhất (Ví dụ như bị ảnh hưởng bởi mưa dầm, bão, lở đất, nước biển dâng và ngập lụt) (Bảng 1-2)

Trang 25

Bảng 1-2: Các nhân tố gây tổn thương và tác động (điểm số) của chúng đến 3 huyện

Tương tự, Thị trấn Sông Đốc (huyện Trần Văn Thời), xã Nguyễn Huân (huyện Đầm Dơi) và xã Đất Mũi (huyện Ngọc Hiển) được lựa chọn để nghiên cứu tiếp

Huyện Trần Văn Thời Đầm Dơi Ngọc Hiển

Nhân tố về tự nhiên, sinh học-vật

chất

Cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên 20 5 30

Dịch bệnh, suy thoái môi trường,

Hội Liên hiệp PN, Thảo luận nhóm cấp Tỉnh, 2013

Bảng 1-3: Thông tin thu thập được từ cuộc họp sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn

có sự tham gia (PRA)

Nội dung Phương pháp

Mô tả hoạt động sinh kế Lịch mùa vụ

Xác định những nguy cơ và nhân tố tổn thương Xếp hạng và cho điểm ma trận-trực tiếp

Sự phơi nhiễm và tính nhạy cảm đối với các tổn

thương Xếp hạng và cho điểm ma trận-trực tiếp

Định vị sinh kế và nhân tố tổn thương Vẽ bản đồ, sơ đồ

Ghi chép sự thích ứng và khả năng phục hồi Hành động và niềm tin bản địa

Sự thay đổi và động lực sinh kế Lịch sử địa phương và dòng thời gian, phỏng vấn sâu Tình hình về giới: phân công lao động, quyền ra quyết

định, tham gia sinh kế Mô tả hoạt động hàng ngày

Trang 26

Bước thứ 2, ba cuộc họp ở cấp xã được thực hiện Người tham dự là Cán bộ UB, Hội Liên hiệp PN ấp, Hội Nông dân và những người cao tuổi có kinh nghiệm và được kính trọng ở địa phương Mục tiêu của các cuộc họp này là thu thập những thông tin như bước 1 nhưng chi tiết đến cấp hộ như loại hình sinh kế, khía cạnh của tổn thương, các nhóm bị tổn thương và chỉ số tổn thương, tính nhạy cảm và khả cách thích ứng Những vấn đề này được tìm hiểu thêm bằng phương pháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn hộ gia đình sử dụng bảng câu hỏi bán cấu trúc trong quá trình điều tra thực địa (Bảng 1-3).

Bước thứ 3, điều tra thực địa Sau các cuộc họp cấp xã, chúng tôi đã chọn ra các hộ dân ở những ấp mang tính tổn thương cao để tiến hành quan sát, phỏng vấn sâu và phỏng vấn hộ dân Sự hạn chế của khả năng tiếp cận nguồn lực, sự lựa chọn phương cách thích nghi, ứng phó với BĐKH ở mỗi thời điểm

và ở mỗi hộ dân khác nhau là khác nhau, đề tài nên sử dụng phương pháp khảo sát theo thời gian Khảo sát này lấy mẫu tại hai hoặc nhiều thời điểm khác nhau để xem kết quả thay đổi như thế nào (Ellis, 1994) Tuy nhiên, chúng ta không thể lập lại nghiên cứu trong quá khứ và tương lai, vì vậy đề tài hỏi người dân những thay đổi sinh kế của họ vài năm về trước và dự đoán trong tương lai Tóm lại, quá trình đánh giá tổn thương được bắt đầu bởi các cuộc họp nhóm để thiết kế bảng câu hỏi và sử dụng công cụ PRA ở cấp tỉnh và xã Tất cả câu hỏi và hoạt động được thiết kế để thu thập thông tin về tính phơi nhiễm với hiểm họa, tính nhạy cảm và khả năng thích ứng đối với rủi ro Dữ liệu thu thập tập trung vào những vấn

đề sau: khả năng tiếp cận tài nguyên vật chất và phi vật chất của người dân, phân công lao động theo giới, yếu tố khác nhau của giới về chăm sóc sức khỏe và giáo dục, nhân tố tổn thương, chiến lược người dân đối phó, thích ứng với BĐKH và những kinh nghiệm họ tích lũy được

Bước thứ 4: xử lý số liệu Giá trị trung bình được tính từ dữ liệu thu thập được ở địa bàn nghiên cứu Các biến giá trị có thể là biến định tính, định lương, số đo theo tỉ lệ, theo thứ tự v.v Câu hỏi bán cấu trúc và câu hỏi mở được sử dụng tập trung vào chiến lược đối phó và thích nghi trong thời gian dài Trong quá trình xử lí và phân tích số liệu, Crosstab và phân tích phương sai (ANOVA) trong SPSS-15® được sử dụng

để so sánh khả năng tiếp cận tài nguyên của các nhóm nông dân khác nhau Phép thử hai biến tương quan Pearson and Spearman được sử dụng để kiểm tra mức độ tương quan giữa các nhóm Nghiên cứu chi tiết này nhằm đóng góp những hiểu biết tốt hơn về khả năng ứng phó với BĐKH của người dân ở cấp hộ gia đình Kết quả đề tài làm cơ sở xác định khả năng phục hồi của hệ sinh thái ở Cà Mau và tiến đến đóng góp vào việc qui hoạch phát triển KT-XH của tỉnh

1.6 Địa bàn và mẫu nghiên cứu

Giới thiệu tỉnh Cà Mau

Cà Mau là tỉnh cực nam của Việt Nam (Hình 1-2), có một thành phố là Cà Mau, 8 huyện, và 101 đơn vị cấp

xã Dân số Cà Mau hơn 1,23 triệu người với mật độ trung bình khoảng 226 người/km2, thấp hơn so với mật độ cả nước (260 người/km2) và mật độ ĐBSCL (425 người/km2) Mức tăng dân số là 1,3% mỗi năm

và tỉ lệ PN chiếm 49,6% tổng dân số của tỉnh Tỉ lệ nhập cư của Cà Mau là 0,4% và di cư là 0,7% dẫn đến

tỉ lệ di cư thuần là -0,3% (Mackay & Russell, 2011)

Từ năm 2000 Cà Mau thực hiện một số biện pháp phát triển kinh tế trong đó quan trọng nhất là việc chuyển số lượng đáng kể từ đất trồng lúa sang nuôi tôm, điều này tạo việc làm cho nhiều ngành liên quan trong chuỗi giá trị (lao động, tiếp thị, vận chuyển, chế biến) Ngày nay Cà Mau có diện tích nuôi tôm 296,300 ha chủ yếu là các mô hình tôm quảng canh cải tiến năng suất thấp, tôm-lúa và tôm-rừng phối hợp với nuôi cua, sò, cá Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản là 234 ngàn tấn trong năm 2010,

Trang 27

Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau

trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu

Hình 1-2: Bản đồ Việt Nam và ĐBSCL

tỉnh chiếm 35% tổng diện tích nuôi tôm của các tỉnh ven biển ĐBSCL Giá trị xuất khẩu tôm đạt 4,3 triệu USD trong năm 2010 (Mackay & Russell, 2011) Cà Mau có đường bờ biển dài hơn 254 km và diện tích ngư trường khoảng 70,000 km2 Ngành ngư nghiệp có 12.000 tàu cá đăng kí, đánh được 350.000 tấn mỗi năm Đánh bắt được thực hiện bởi các loại tàu khác nhau, tàu lớn đánh bắt xa bờ, tàu nhỏ đánh bắt ven bờ, tàu rất nhỏ đánh bắt ở những vùng ngập nước hoặc sông ngòi nội địa Kết quả khảo sát của Ủy ban sông Mekong (MRC) cho rằng 250.487 lao động ở Cà mau trong đó có 28% là PN có nghề chính liên quan đến đánh bắt hải sản (MRC, 2010)

8

ở Cà Mau và tiến đến đóng góp vào việc qui hoạch phát triển KT-XH của tỉnh

1.6 Địa bàn và mẫu nghiên cứu

- Giới thiệu tỉnh Cà Mau

Cà Mau là tỉnh cực nam của Việt Nam (Hình 1-2), có một thành phố là Cà Mau, 8 huyện, và 101 đơn vị cấp xã Dân số Cà Mau hơn 1,23 triệu người với mật độ trung bình khoảng 226 người/km2, thấp hơn

so với mật độ cả nước (260 người/km2) và mật độ ĐBSCL (425 người/km2) Mức tăng dân số là 1,3% mỗi năm và tỉ lệ PN chiếm 49,6% tổng dân số của tỉnh Tỉ lệ nhập cư của Cà Mau là 0,4% và di cư là 0,7% dẫn đến tỉ lệ di cư thuần là -0,3% (Mackay & Russell, 2011)

Từ năm 2000 Cà Mau thực hiện một số biện pháp phát triển kinh tế trong đó quan trọng nhất là việc chuyển số lượng đáng kể từ đất trồng lúa sang nuôi tôm, điều này tạo việc làm cho nhiều ngành liên quan trong chuỗi giá trị (lao động, tiếp thị, vận chuyển, chế biến) Ngày nay Cà Mau có diện tích nuôi tôm 296,300 ha chủ yếu là các mô hình tôm quảng canh cải tiến năng suất thấp, tôm-lúa và tôm-rừng phối hợp với nuôi cua, sò, cá Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản là 234 ngàn tấn trong năm 2010, trong đó sản lượng tôm khoảng 125 ngàn tấn (CWPDP-WB, 2004; TCTK, 2012) Diện tích nuôi tôm của tỉnh chiếm 35% tổng diện tích nuôi tôm của các tỉnh ven biển ĐBSCL Giá trị xuất khẩu tôm đạt 4,3 triệu USD trong năm 2010 (Mackay & Russell, 2011) Cà Mau đường bờ biển dài hơn 254 km và diện tích ngư trường khoảng 70 ngàn km2 Ngành ngư nghiệp có 12.000 tàu cá đăng kí, đánh được 350.000 tấn mỗi năm Đánh bắt được thực hiện bởi các loại tàu khác nhau, tàu lớn đánh bắt xa bờ, tàu nhỏ đánh bắt ven bờ, tàu rất nhỏ đánh bắt ở những vùng ngập nước hoặc sông ngòi nội địa Kết quả khảo sát của Ủy ban sông Mekong (MRC) cho rằng 250.487 lao động ở Cà mau trong đó có 28% là PN

có nghề chính liên quan đến đánh bắt hải sản (MRC, 2010)

Nguồn: http://www.travelfish.org/map_detail_region/vietnam/mekong_delta/17

Các huyện nghiên cứu

Trần Văn Thời là một huyện nông thôn của Cà Mau, cách Cà mau 50km về phía Tây và giáp vịnh Thái Lan Sông (Ông) Đốc chảy qua huyện ra đến biển và Sông Ông Đốc được đặt tên cho cảng cá ở cửa sông Sông Đốc là cảng cá lớn nhất của Cà Mau, nơi cung cấp khoảng 100.000 tấn cá hàng năm, bằng với sản lượng của tất cả các huyện ở Cà Mau cộng lại

Đầm Dơi cách Cà Mau 45km về phía Đông Nam và Ngọc Hiển cách Cà Mau 70km về phía Nam Đây là 2 huyện nông thôn của Cà Mau nằm về hai phía Đông và Nam của tỉnh, sinh kế chính của người dân sống

ở sâu nội địa là nuôi tôm và ở ven biển là đánh bắt Ven biển có những làng cá đánh bắt nhỏ thường ở cửa sông như Mai Hoa, Hố Gùi, Rạch Gốc, Tân Ân v.v… Tuy dọc bờ biển có dãi rừng đước che phủ bảo vệ nhưng các vùng ven biển vẫn bị ngập lụt và xói mòn dữ dội do sóng, triều cường, gió mùa và bão táp Các đặc điểm chung về địa lý địa bàn nghiên cứu và thông tin về KT-XH được trình bày ở Bảng 1-4, Bảng 1-5 và bản đồ thể hiện vùng nghiên cứu ở Hình 1-3

Trang 28

Bảng 1-4: Thông tin chung về 3 huyện

Thông tin Tỉnh Huyện

Cà Mau Trần Văn Thời Đầm Dơi Ngọc Hiển

Dân số (người) 1.219.128 187.132 182.332 78.420 Mật độ dân số (người/km 2 ) 230 268 223 107

Số hộ (hộ) 290.179 45.171 41.629 19.801 Nhân khẩu bình quân trên hộ (người) 4,2 4,2 4,4 4,0 Thu nhập bình quân hộ (VND) 18.757.400 13.000.000 18.156.000 13.500.000 GDP đóng góp từ công nghiệp theo

Nguồn: Trích từ Mackay & Russell (2011) và Tổng cục thống kê (2012)

1 Chuẩn nghèo chính thức ở Việt Nam đươc xác định Tỉ lệ hộ nghèo trong nghiên cứu này dựa trên số liệu của Tổng cục thống kê

Trang 29

Mẫu nghiên cứu

Tổng cộng có 134 hộ dân ở 3 xã được phỏng vấn theo bảng hỏi, trong đó có 15 hộ phỏng vấn sâu là những hộ bị tổn thương cao Ngoài nuôi tôm và đánh bắt thủy sản là hai sinh kế chính ở địa bàn, người dân nơi đây còn làm thuê, mua bán nhỏ, trồng trọt, mò cua bắt ốc ven biển hoặc trong rừng Những dạng sinh kế phụ này giúp đỡ người dân vượt qua khó khăn hơn là tăng thêm thu nhập

Các bảng hỏi được thiết kế và gởi cho cán bộ GIZ Cà Mau nhận xét Cuộc điều tra phối hợp với các cấp chính quyền như Hội Liên hiệp PN và Ủy ban bắt đầu từ ngày 11/10/2013 Mỗi xã chọn ra 3-4 ấp dễ tổn thương nhất đối với BĐKH để điều tra Câu hỏi phỏng vấn đi kèm với bảng phỏng vấn là câu hỏi mở, bán cấu trúc, nhiều lựa chọn v.v… Có 134 mẫu trong 3 xã (Bảng 1-5) được phỏng vấn theo bảng hỏi Có 4 loại hình sinh kế nơi đây: nuôi tôm, đánh bắt thủy sản, làm thuê và mò cua bắt ốc ven biể/rừng Họ cũng có thể đa dạng sinh kế bằng mua bán, dịch vụ, trồng trọt, di cư lao động v.v… Những hoạt động này mang lại thu nhập theo mùa và có thể thay thế thu nhập chính

Bảng 1-5 và 1-6 trình bày tiến trình đi thực địa, địa bàn đã chọn, số mẫu điều tra, mô tả đặc điểm địa lý

và những yếu tố bất lợi ở vùng nghiên cứu

Hình 1-3: Bàn đồ Cà Mau và vị trí của 3 xã nghiên cứu

Trang 30

Bảng 1-5: Địa bàn và số mẫu

Bảng 1-6: Đặc điểm địa lý và yếu tố rủi ro ở 3 xã

Ngày Địa bàn Số mẫu

18.10.2013 Xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển 17

Nguồn: Trích từ Mackay & Russell (2011) và Tổng cục thống kê (2012)

Huyện Xã ấp Đặc điểm địa lý và các yếu tố rủi ro

Trần Văn Thời TT Sông Đốc Khu vực 1, 2

- Gần biển, ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan, bão Tài nguyên biển cạn kiệt

- Nhiều thuyền đánh bắt xa bờ, sản lượng giảm mạnh

- Nhiều cư dân nghèo, dân nhập cư đông, không

có đất, người làm thuê có thu nhập thấp

Khu vực 11, 12 - Nuôi tôm (quảng canh cải tiến, không rừng), ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường, tôm bệnh,

thất mùa và giá cả tôm bấp bênh

Đầm Dơi Nguyễn Huân Mai Hoa

- Sống ở khu tái định cư

- Đánh bắt gần bờ, làm thuê, mò cua bắt ốc ở ven bờ và rừng phòng hộ

- Ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan, mưa dầm và bão

Hồng Phước, Chánh Tài - Xói lở dọc bờ sông, nước ngập - Nuôi tôm quảng canh nhưng thất mùa, thu

nhập thấp Ngọc Hiển Đất Mũi Ngọc Hiển, Đất Mũi, Kinh Đào Đông, Kinh Đào Tây

- Đánh bắt ven bờ và thu nhặt cá con ở bãi bồi

- Gần bờ biển, chịu ảnh hưởng bởi lở đất, gió mạnh và ngập lụt

- Cạn kiệt tài nguyên ven biển

Bà Hương, Rạch Thọ - Nuôi tôm, mò cua bắt ốc ở rừng và ven biển, xa trung tâm xã, ít cơ hội việc làm

- Ảnh hưởng bởi ngập nước, lở đất dọc bờ sông

Trang 31

Bảng 1-7: Những điểm nóng của phân tích tổn thương và rủi ro

Dân số Nghèo Nông nghiệp & Sinh kế Công nghiệp & Năng lượng Đô thị & Giao thông

Cà Mau Ngọc Hiển U Minh Đầm Dơi Cái Nước

Trần Văn Thời Đầm Dơi Đầm Dơi Trần Văn Thời Trần Văn Thời

Trần Văn Thời Cà Mau Cà Mau

Nguồn: Mackay & Russell (2011)

- Những hộ nuôi tôm sống xa bờ biển là những hộ ở Khu vực 11 và 12 (thuộc Thị trấn Sông Đốc),

ấp Hồng Phước, Chánh tài (thuộc xã Nguyễn Huân), và ấp Bà Hương, Rạch Thọ (thuộc xã Đất Mũi)

Họ áp dụng mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến hoặc tôm rừng Trong mô hình này có sự kết hợp nuôi tôm với cua cá, sò ốc, loài nhuyễn thể và bảo về rừng Mô hình này được áp dụng cho những vùng rừng phòng hộ và vùng đệm dọc theo bờ biển huyện Năm Căn và Ngọc Hiển Nuôi quảng canh là hình thức dựa vào nguồn giống từ thiên nhiên và bổ sung thêm con giống từ trại giống và rất ít sử dụng hóa chất

- Những hộ đánh bắt thủy sản được chọn lựa để phỏng vấn ở Khu vực 1 và 2 (thuộc Thị trấn Sông Đốc), ấp Mai Hoa (thuộc xã Nguyễn Huân); ấp Kinh Đào Đông và Kinh Đào Tây (thuộc Đất Mũi) Những hộ này sống gần cửa sông hoặc bị di dời từ rừng phòng hộ về làng tái định cư theo dự án của Chính phủ, họ thường là những hộ đánh bắt ven bờ Riêng Sông Đốc có nhiều hộ đánh bắt

xa bờ Thông thường các hộ đa dạng hóa các kỹ thuật đánh bắt, ngư cụ và tàu cá Đánh bắt hoạt động theo mùa, mùa nghịch từ tháng 6 đến tháng 8 do thường có thời tiết xấu

- Những người làm thuê thường là những người nhập cư, không có đất và tư liệu sản xuất (kể cả ghe và ngư cụ) Họ theo những hộ có ghe để đánh bắt thuê, làm mướn ở địa phương, vá lưới, làm đồng áng, nội trợ v.v… Tùy thuộc vào khối lượng công việc, thời vụ, tay nghề … họ và chủ thương lượng mức tiền công lao động

1.7 Lược khảo tài liệu thứ cấp

Mackay & Russell (2011) dự đoán BĐKH sẽ xảy ra trong tương lai như sau:

- Nhiệt độ tăng từ 0,7oC trong năm 2030 đến 1,4oC trong năm 2050

- Mực nước biển dâng cao 15cm trong năm 2030 và khoảng 28-32cm trong năm 2050

- Lượng mưa dự kiến sẽ tăng 3%-4% vào cuối thế kỷ này

- Độ ẩm tương đối sẽ giảm trong các tháng mùa khô và tăng trong các tháng mùa mưa

- Vận tốc gió tăng vào mùa đông, xuân và mùa thu nhưng lại giảm vào các tháng mùa hè

BĐKH tác động rất lớn và có nhiều cách thích ứng của người dân ĐBSCL; ví dụ, Mackay & Russell (2011)

đã dùng phương pháp “đánh giá tổn thương và rủi ro” để ước tính mức độ tổn thương theo 5 hướng: dân số, nghèo đói, nông nghiệp và sinh kế, công nghiệp và năng lượng, định cư đô thị và giao thông Nghiên cứu ấy đã nhấn mạnh các “điểm nóng” là những huyện, thành ở Cà Mau có nguy cơ ảnh hưởng mạnh bởi tác động của BĐKH như sau (Bảng 1-7)

Trang 32

- Huyện Trần Văn Thời là huyện có dân số đông, nhiều dân nhập cư, có thu nhập thấp, huyện có nhiều hộ nghèo và người dân ít được tiếp cận với dịch vụ y tế so với các huyện có mức độ đô thị hóa khác Huyện có đóng góp GDP lớn từ công nghiệp và hạ tầng năng lượng; vì vậy, huyện có thể bị tổn thương cao khi ngập lụt và bão Huyện có hai thị trấn, một nằm vùng ven biển có tổn thương cao do yếu kém về cơ sở hạ tầng cũng như việc bảo vệ trung tâm thị trấn trước tình trạng ngập úng và triều cường và từ tác động của BĐKH

- Đầm Dơi là huyện dễ tổn thương cao do có nhiều hộ nghèo, người dân hạn chế trong tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục Sinh kế của người dân ở Đầm Dơi dự kiến sẽ suy giảm, nhiều công trình điện và giao thông vận tải sẽ bị ảnh hưởng bởi BĐKH

- Ngọc Hiển dễ tổn thương đối với BĐKH do huyện có nhiều hộ nghèo, người dân có thu nhập thấp và hạn chế trong tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục Dân số tăng nhanh càng làm tăng mức

độ tổn thương

Nhìn chung, tính dễ tổn thương với BĐKH ở nhiều huyện thuộc Cà Mau có mức độ từ thấp đến trung bình Tuy nhiên, trong tương lại, nhiều huyện được đánh giá ở mức độ từ trung bình đến cao Việc đánh giá xác định 3 huyện có tính dễ tổn thương cao do tác động của BĐKH vào năm 2050 đó là thành phố

Cà Mau, huyện Trần Văn Thời và huyện Đầm Dơi (Hình 1-4)

Hình 1-4: Bản đồ các huyện tổn thương vào năm 2030 và 2050

Trang 33

Nước biển dâng cao mang đến thử thách lớn cho Cà Mau bởi vì đây là vùng đồng băng thấp, có độ cao địa hình chỉ từ 0-2m so với mực nước biển Nước biển dâng cao và kết hợp với bão là 2 yếu tố khí hậu mang đến hậu quả nghiêm trọng cho các huyện ven biển, nơi tiếp xúc với lũ lụt và ngập úng tăng dần theo các năm từ 2000, 2030 và 2050 Khi ngập úng xảy ra, thủy triều lên và xuống rất nhanh nhưng sẽ gây thiệt hại cho môi trường ven biển Tổng diện tích nuôi tôm và diện tích bị ngập úng theo các năm được trình bày ở hình 1-5 Đặc biệt, diện tích nuôi tôm bị ngập úng ở Trần Văn Thời từ năm 2030 tăng nhanh chóng thậm chí có thể sẽ vượt qua tổng diện tích nuôi tôm hiện nay.

Hình 1-5: DT nuôi tôm bị ngập nước (km 2 ) của 3 huyện (tổng DT, đã ngập 2000, sẽ ngập 2030 và 2050)

Kết quả của Mackay & Russell (2011) chỉ ra rằng Trần Văn Thơi, Đầm Dơi và Ngọc Hiển có mức độ phơi nhiễm khác nhau với nguy cơ của ngập úng, nhiễm mặn và bão táp

Nguồn: Mackay & Russell (2011)

Bảng 1-8: Tính phơi nhiễm trước rủi ro của 3 huyện

Năm Ngập úng Nhiễm mặn Bão táp

Nguy hiểm: % của tổng DT Mức độ rủi ro: <5: thấp; 5-12: TB; >12: rủi ro cao

TVT: Trần Văn Thời; DD: Đầm Dơi; NH: Ngọc Hiển

Nguồn: Mackay & Russell (2011)

Diện tích nuôi thủy sản ngập nước (km 2 )

Tổng diện tích nuôi thủy sản Tổng diện tích NTTS Diện tích ngập nước năm 2000 Diện tích ngập nước năm 2030 Diện tích ngập nước năm 2050

Trang 34

- Ba huyện trên bị nhiễm mặn hoàn toàn và rủi ro liên quan đến nhiễm mặn ở mức độ trung bình.

- Trần Văn Thời diện tích ngập úng tăng đến năm 2030 và ít rủi ro do bão táp do chỉ xãy ra ở khu vực bờ biển

- Đầm Dơi có mức độ rủi ro do ngập úng hiện nay là thấp nhưng dự báo sẽ tăng đến năm 2030 Đối với bão, tương tự như Trần Văn Thời, nhờ vào sự bao bọc của bờ biển nên rủi ro do bão táp ở đây cũng thấp

- Ngọc Hiển bị ảnh hưởng bởi bão táp ở mức cao và dự báo sẽ tăng đến 90% tổng diện tích huyện vào năm 2030 Do địa hình thấp và bờ biển dài nên huyện sẽ bị ảnh hưởng nặng nề do bão táp

và có thể gây thiệt hại trên diện rộng

1.8 Cấu trúc của báo cáo

Phần một của báo cáo này xem xét những nét chính của tổn thương về giới ở Cà Mau, ai thuộc nhóm tổn thương cao, địa bàn và sự thay đổi của nhóm dễ tổn thương Phần hai trình bày các cách thích nghi và khả năng phục hồi của các nhóm dễ tổn thương trong điều kiện hiện tại và viễn cảnh của BĐKH trong tương lai Phần cuối cung cấp những kết luận và kiến nghị, các cách đo lường/phương pháp/chương trình có thể áp dụng để cải thiện khả năng phục hồi và kết hợp với kế hoạch phát triển KT-XH của tỉnh

Cà Mau

Trang 36

02 02 02 tổn thương về giới

ở Cà Mau

Trang 37

Nghiên cứu này áp dụng khung lí thuyết của Fussel (2007) và Hahn et al (2009) để xác định tính tổn thương về mặt xã hội và vật chất môi trường2 trong bối cảnh BĐKH Có 3 nhân tố chính mang đến tổn thương cho hệ thống bao gồm: (1) yếu tố nội lực về mặt KT-XH của hộ gia đình như thu nhập thấp, tài sản ít, cơ sở hạ tầng yếu kém, thị thường không ổn định, không được vay tín dụng; (2) yếu tố vật chất môi trường bên ngoài liên quan đến sự suy thoái hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên biển; và (3) tác động của BĐKH bao gồm mực nước biển dâng cao, ngập úng, xói lở và hậu quả của những cơn bão (Hình 2-1, 2-2, 2-3, 2-4) Những rủi ro và yếu tố dễ tổn thương tác động đến môi trường

tự nhiên làm con người mất đi cơ hội trong tốt cuộc sống dẫn đến đói nghèo, cơ sở hạ tầng, giáo dục, y

tế thấp kém và biến động di cư v.v Những tổn thương này càng trở nên nghiêm trọng khi bị phơi nhiễm dưới tác động của BĐKH, môi trường suy thoái và tài nguyên cạn kiệt Các nhân tố gây tổn thương có thể được phân thành 3 ba nhóm chính liên quan với nhau bao gồm KT-XH, yếu tố vật chất môi trường

và tác động của BĐKH

2 Dịch từ “Bio-physical” theo các tài liệu trên

Trang 38

2.1.1 Nghèo và đặc điểm phân biệt các nhóm nghèo

Người nghèo và sự nghèo nàn

Người nghèo là nhóm dễ tổn thương do họ rơi vào vòng hệ lụy: nợ nần, không có khả năng tiếp cận nguồn lực, không có mối quan hệ xã hội, không an toàn, ít nhận được sự giúp đỡ từ hàng xóm, người thân Nghèo liên quan đến các vấn đề về giáo dục, kiến thức, cơ hội việc làm, nhà ở, dinh dưỡng và tiếp cận mối quan hệ xã hội Nghèo dẫn đến nhiều hệ lụy: ảnh hưởng đến việc nuôi dạy, giáo dục và bảo vệ trẻ em và góp phần đưa đẩy thế hệ trẻ vào tương lai nghèo nàn Nghèo, thu nhập thấp đi đôi với sự tổn thương về mặt XH, thường sẽ bị phân biệt đối xử, khinh rẻ, thiếu thốn dịch vụ, không được tiếp cận tài nguyên, giáo dục và chăm sóc sức khỏe, nước sạch, thông tin liên lạc, điện gia dụng và thị trường Người nghèo phải sống trong điều kiện tệ, ô nhiễm và không an toàn: nhà tranh vách lá dễ dàng bị gió bão, xói

lở quét sập, tàu bè và ngư cụ cũ kỹ dễ dàng bị phá hỏng do bão táp Người nghèo phải làm những việc không ổn định với ngày công lao động ít để trang trải cho những chi tiêu hằng ngày gồm thức ăn, nhu yếu phẩm, trả nợ và không có tiết kiệm được gì cho những ngày không có việc làm

Năm 2012, tỉ lệ hộ nghèo ở Trần Văn Thời, Đầm Dơi và Ngọc Hiển tương ứng là 8,5%; 12,7% và 13,5%; tỉ lệ này cao hơn nhiều lần so với tỉ lệ chung của toàn tỉnh (8,2%) (TCTK, 2012) và tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn nhiều hơn ở thành thị (Pistor et al., 2012) Kết quả điều tra hộ dân cho thấy số năm đến trường của chủ hộ

là hộ nghèo rất ít (4,4 năm), 75% trong số họ có vấn đề về sức khỏe; đặc biệt, hầu hết những hộ có PN là chủ hộ đều nghèo (72%) Người nghèo có ít tài sản, ít đất sản xuất (diện tích trung bình khoảng 4.500 m2),

và ít giá trị công cụ sản xuất (12 triệu đồng) Người nghèo vay ít hơn so với người giàu (24,7 triệu so với

83 triệu) (Bảng 2-1) Tuy nhiên, do thiếu tài sản thế chấp nên hầu như họ chỉ có vay ngoài với lãi suất cao (trung bình khoảng 10%-15% tháng) Họ cũng có thể vay từ các khoản trợ cấp chính phủ thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội, chương trình xóa đói giảm nghèo, v.v… với khoản vay từ 10 – 20 triệu đồng có lãi suất thấp để đa dạng sinh kế Thay vì cần có tài sản thế chấp, người nghèo tiếp cận dịch vụ này thông qua sự bảo lãnh của các đoàn thể (Hội Liên hiệp PN, Hội Nông dân) hoặc UBND

Bảng 2-1: Năng lực của người nghèo, trung bình, khá

Giá trị dụng cụ sản xuất (triệu đồng) 12,2 b 56,6 b 340,8 a

Số lần đi dự tập huấn trong 5 năm

Số % đi dự tập huấn trong 5 năm (%) 20 47 26

Chữ cái (a, b) khác nhau chỉ sự khác biệt có ý nghĩa của giá trị trung bình trong hàng (p<0.05)

Trong 5 năm, chỉ một ít hộ nghèo (14 trong tổng số 68 hộ nghèo) tham dự các lớp khuyến nông/ngư để

mở rộng kiến thức Các lớp này được tổ chức nhằm giúp họ nâng cao năng suất và giảm thiểu chi phí đầu tư trong nuôi tôm và đánh bắt Nội dung khóa học cung cấp kiến thức về kỹ thuật canh tác (cách nuôi tôm, cá, sò huyết và loài giáp xác), hình thành nhận thức về việc cần phải bảo vệ môi trường chống

Trang 39

Tiếp cận nguồn tài chính Nuôi tôm (n=49) Đánh bắt (n=27) Mò cua* (n=20) Làm thuê (n=38)

Tỉ lệ hộ có cuộc sống kinh tế

*Mò cua: thu lượm, khai thác ở bãi bùn ven bờ và trong rừng đước (lâm sản ngoài gỗ)

Kết quả điều tra hộ, 2013

Điểm phân biệt giữa các nhóm nghèo, giảm nghèo và ngày càng nghèo

Nhóm nghèo dễ bị ảnh hưởng bởi BĐKH, trong đó những PN nghèo, người già, trẻ em và nhóm ngày một nghèo là dễ tổn thương nhất Những người thuộc nhóm ngày một nghèo không có nguồn thu nhập, sống lệ thuộc vào người khác hoặc sống đơn thân với bệnh tật, tật nguyền hoặc khó khăn về thể chất Ngược lại, nhóm giảm nghèo có những công việc nhưng thường không ổn định với thu nhập bấp bênh như đánh bắt thuê, làm mướn nông nghiệp và phi nông nghiệp, mò cua bắt ốc ven biển, mua bán dạo, bán lặt vặt, và thậm chí kể cả những người có đất đai nhưng nuôi tôm không thành công

không cần bất kì khóa đào tạo nào; tuy nhiên, trong thực tế nuôi tôm không dễ dàng như vậy, nhiều người liên tục thất bại (thất mùa) bởi nhiều lí do, trong đó tôm bệnh do ô nhiễm môi trường và sốc thời tiết là nhiều hơn cả

Vuông tôm của tôi khoảng một hec ta, con trai tôi đã tự sên vét vuông Nó không tham dự bất kì khóa khuyến ngư nào trong nhiều năm nay vì chẳng có gì để học; nuôi tôm quá dễ, chúng tôi thả giống và đợi

để thu hoạch; nhưng không may, tôi chẳng kiếm được con tôm nào cả năm nay

(Quách Thu Phương, Hồng Phước, Nguyễn Huân, 16/10/2013)

Những hộ nuôi tôm và đánh bắt thủy sản vay nợ nhiều và theo các chế độ vay khác nhau Ở Việt Nam, các ngân hàng nhà nước cho vay để phát triển nông nghiệp với hình thức thế chấp liên quan đến diện tích đất sở hữu, loại đất và giấy chứng nhận thu hồi vốn của nợ vay trước đó Trung bình các hộ nuôi tôm vay 38,3 triệu đồng, nếu các hộ bị thua lỗ liên tục từ nuôi tôm và không thể hoàn trả đúng hạn, họ

sẽ gặp khó khăn để được vay tiếp và nợ của họ dần dần tăng lên do tích lũy lãi suất

Nhóm đánh bắt thủy sản có số tiền vay lớn cùng với đô lệch chuẩn (SD) cao cho thấy nhóm này rủi ro cao nhất (Bảng 2-2) Trong trường hợp đánh bắt xa bờ, chi phí cố định và vận hành rất cao đã đẩy người dân đến rủi ro cao, họ phải đánh bắt triệt để hơn để bù lại chi phí đã bỏ ra Hơn nữa, người dân đánh bắt không thể dùng thuyền của họ để làm vật thế chấp ngân hàng nên nhiều người trong số họ phải vay nóng với lãi suất cao (10%-15% tháng) đẩy nguy cơ tăng gấp đôi Điều khó tin được là cả bốn nhóm đều

có tích lũy âm (với độ lệch chuẩn cao) và khoảng 60% trong tất cả các hộ trong đó 92% nhóm hộ làm thuê cho rằng cuộc sống kinh tế của họ ngày càng tồi tệ Tình hình của những hộ nghèo rơi vào chiếc bẫy của vòng lẩn quẩn nợ nần, nghèo đói, bệnh tật, ít được học hành v.v Họ thấy khó thoát ra được chiếc bẫy này và cũng không đủ mạnh mẽ để chống chịu các hiểm nguy từ BĐKH

Bảng 2-2: Nguồn lực tài chính

(giá trị TB ± độ lệch chuẩn (SD)

Trang 40

Đánh giá tổn thương về giới thu thập thông tin để phân biệt giữa những người nghèo, giảm nghèo và ngày càng nghèo Các tiêu chí để phân biệt dựa vào ý kiến từ CB cấp xã (từ hội Liên hiệp PN, UBND, CB địa phương, người già có kinh nghiệm) và từ phỏng vấn nông hộ Họ phân biệt biệt các nhóm nghèo (giảm hoặc tăng nghèo) dựa vào tiêu chí của riêng họ hoặc cảm nhận từ cộng đồng Chúng tôi phân các tiêu chí này theo điều kiện KT-XH, tự nhiên môi trường vật chất, và khả năng sinh kế của ba nhóm nghèo

để hiển thị mức độ khác nhau của sự phơi nhiễm, nhạy cảm và thích ứng của họ trong bối cảnh BĐKH

Bảng 2-3: Điểm phân biệt giữa các nhóm ngày càng nghèo, nghèo và giảm nghèo

Tiêu chí Ngày càng nghèo Nghèo Giảm nghèo

Mặt KT-XH

DT đất sở hữu Không có đất Có nền nhà Có nền nhà

Dụng cụ đánh bắt Không Không hoặc có thuyền nhỏ Có, thuyền, dụng cụ thô sơ Dụng cụ gia đình: truyền hình, điện

thoại, xe gắn máy, nồi cơm điện Không Không Có 1 ít

Tỉ lệ người lệ thuộc* Nhiều người sống phụ thuộc Không nhiều ít

Giáo dục trẻ em Không học, bỏ học Bỏ học, cấp 1 Đang hoặc bỏ học, cấp 2 Nguồn thu nhập Không ổn định Không ổn định Ít ổn định

Tích lũy Không, nợ nần Nợ nần Có thể tích lũy nhưng

vẫn nợ nần Sức khỏe Có người bệnh, tật nguyền Có hoặc không người bệnh, tật nguyền Không

Thực phẩm Không đủ ăn trong 1 ngày Đủ ăn trong 1 ngày Đủ ăn trong vài ngày Nước sử dụng Không có nước sạch

ổn định

Có nhưng đôi khi không sẳn sàng

Lúc nào cũng có nước sạch

Nhận trợ cấp từ HERP** Có Có Có hoặc không

Tài nguyên thiên nhiên nguy cơ từ

khí hậu

Thường xuyên thất bại do môi

trường suy giảm, tài nguyên cạn kiệt

Thường xuyên thất bại, không cơ hội tiếp cận tài nguyên

Thỉnh thoảng thất bại, chỉ tiếp cận được 1 nguồn tài nguyên

Thỉnh thoảng, không chỉ tiếp cận 1nguồn tài nguyên

Thường xuyên lũ lụt, bão, lở đất Nhiều lần Không nhiều Sẽ không bị

Mất mát từ thảm họa thiên nhiên Có Có, một ít Có, sẽ không bị Thích ứng sinh kế

Mức độ đa dạng sinh kế Không Có, nếu có nguồn lực Có, đa dạng sinh kế Nhận từ người di cư Không Có, ít, không ổn định Có ít, ổn định

Nhận được sự giúp đỡ Không Một vài Nhiều

* Tỉ lệ phụ thuộc = số trẻ em (<15 tuổi), người già (>60 tuổi), người bệnh, người không lao động, kể cả lao động kiếm sống hoặc làm việc nhà.

**HEPR, chương trình xóa đói giảm nghèo chính phủ với mục đích giúp những vùng khó khăn phát triển KT-XH, giáo dục,

y tế, thông tin, văn hóa v.v… và nâng cao chất lượng cuộc sống

Nguồn: Kết quả thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu, 2013.

Ngày đăng: 06/03/2016, 06:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1-1: Khung lí thuyết đánh giá tổn thương của giới - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Hình 1 1: Khung lí thuyết đánh giá tổn thương của giới (Trang 24)
Hình 1-2: Bản đồ Việt Nam và ĐBSCL - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Hình 1 2: Bản đồ Việt Nam và ĐBSCL (Trang 27)
Bảng 1-7: Những điểm nóng của phân tích tổn thương và rủi ro - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Bảng 1 7: Những điểm nóng của phân tích tổn thương và rủi ro (Trang 31)
Hình 1-4: Bản đồ các huyện tổn thương vào năm 2030 và 2050 - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Hình 1 4: Bản đồ các huyện tổn thương vào năm 2030 và 2050 (Trang 32)
Bảng 2-1: Năng lực của người nghèo, trung bình, khá - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Bảng 2 1: Năng lực của người nghèo, trung bình, khá (Trang 38)
Bảng 2-3: Điểm phân biệt giữa các nhóm ngày càng nghèo, nghèo và giảm nghèo - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Bảng 2 3: Điểm phân biệt giữa các nhóm ngày càng nghèo, nghèo và giảm nghèo (Trang 40)
Hình 2-1: Yếu tố tổn thương liên quan đến KT-XH theo 4 lọai hình sinh kế - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Hình 2 1: Yếu tố tổn thương liên quan đến KT-XH theo 4 lọai hình sinh kế (Trang 41)
Hình 2-2: Yếu tố tổn thương liên quan đến con người theo 4 loại hình sinh kế - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Hình 2 2: Yếu tố tổn thương liên quan đến con người theo 4 loại hình sinh kế (Trang 42)
Hình 2-4: Tổn thương từ yếu tố tự nhiên, môi trường vật chất ảnh hưởng đến 4 loại hình sinh kế - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Hình 2 4: Tổn thương từ yếu tố tự nhiên, môi trường vật chất ảnh hưởng đến 4 loại hình sinh kế (Trang 43)
Hình 2-6: Những khu vực xói lở thuộc địa bàn nghiên cứu - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Hình 2 6: Những khu vực xói lở thuộc địa bàn nghiên cứu (Trang 51)
Hình 3-1: Mối tương quan giữa tác động của BĐKH và khả năng đa dạng sinh kế - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Hình 3 1: Mối tương quan giữa tác động của BĐKH và khả năng đa dạng sinh kế (Trang 67)
Hình 4-1: Chia sẻ công việc nhà giữa nam và nữ trong gia đình - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Hình 4 1: Chia sẻ công việc nhà giữa nam và nữ trong gia đình (Trang 69)
Bảng 4-1: Thu nhập ròng (triệu đồng/hộ/năm) và chia sẻ lao động giữa nam và nữ - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Bảng 4 1: Thu nhập ròng (triệu đồng/hộ/năm) và chia sẻ lao động giữa nam và nữ (Trang 70)
Hình 4-2 Trình độ học vấn giữa nam và nữ ở địa bàn nghiên cứu - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Hình 4 2 Trình độ học vấn giữa nam và nữ ở địa bàn nghiên cứu (Trang 71)
Hình 4-4: Mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến đánh bắt và nuôi trồng thủy sản - Đánh giá tính tổn thương của giới ở tỉnh Cà Mau trong bối cảnh Biến đổi Khí hậu
Hình 4 4: Mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến đánh bắt và nuôi trồng thủy sản (Trang 77)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm