1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá Thực trạng đăng ký kinh doanh đối với hợp tác xã và các giải pháp, kiến nghị

19 137 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 288,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương hướng phát triển kinh tế Để đạt được mục đích kinh tế đã đề ra, Nhà nước ta chủ trương: “phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà

Trang 1

đánh giá Thực trạng đăng ký kinh doanh đối với hợp tác xã và các giải pháp, kiến nghị

I Một số nội dung về kinh tế và kinh tế hợp tác xã

1 Mục tiêu phát triển kinh tế của Nhà nước ta

Đối với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mọi chính sách và biện pháp kinh tế của Nhà nước đều nhằm phục vụ lợi ích của đa số

nhân dân lao động Ngay từ năm 1959 Hiến pháp đã xác định: “Mục đích chính sách kinh tế của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là không ngừng phát triển sức sản xuất nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân - Điều 9 Hiến pháp năm 1959”

Đến năm 1980, mục tiêu đó được xác định là: “thoả mãn ngày càng tốt hơn như cầu vật chất và văn hoá ngày càng tăng cả các xã hội - Điều 15

Hiến pháp năm 1980”

Hiến pháp năm 1992 và Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khóa X về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 trên cơ sở kế thừa những quy định của Hiến pháp trước đó, tổng kết những thành tựu và kinh nghiệm những năm đổi mới, khẳng định mục tiêu phát triển kinh tế của nhà

nước ta là: “làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân - Điều 16 Nghị quyết số

51/2001/QH10”

Mục tiêu từ nay đến năm 2010 đối với kinh tế tập thể đã được Đảng ta xác định tại Nghị quyết số 13/NQ/TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị lần thứ

5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới, phát triển

và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể là: “Đưa kinh tế tập thể thoát khỏi những yếu kém hiện nay, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, tiến tới

có tỷ trọng ngày càng lớn hơn trong GDP của nền kinh tế.”

2 Phương hướng phát triển kinh tế

Để đạt được mục đích kinh tế đã đề ra, Nhà nước ta chủ trương: “phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới - Điều 16 Nghị quyết số 51/2001/QH10” Nhà nước ta cũng khẳng định: “Các thành

Trang 2

phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế được sản xuất, kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm; cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật - Điều 16 Nghị quyết số 51/2001/QH10” và “Kinh tế nhà nước được củng cố và phát triển, nhất là trong các ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân - Điều 19 Nghị quyết số 51/2001/QH10”

Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần để tiến tới chuyên môn hoá, phân công lại lao động xã hội cho phù hợp với năng lực của người lao động, của mỗi đơn vị kinh tế; mỗi thành phần kinh tế sẽ phát huy được sức mạnh của mình trong quá trình sản xuất, phân phối, tiêu thụ; làm cho sản phẩm xã hội ngày càng tăng, giải quyết việc làm cho người lao động; tăng cường khả năng hợp tác ứng dụng khoa học và công nghệ trong các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần khác nhau Thực tế thời gian qua đã chứng minh tính đúng đắn của chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

3 Kinh tế hợp tác xã

Hợp tác xã ở nước ta được hình thành từ sau hoà bình lập lại ở Miền Bắc Ngày 30/12/1955, Chính phủ đã ban hành bản Quy tắc tổ chức hợp tác

xã mua bán và hợp tác xã tiêu thụ kèm theo Nghị định số 649/TTg; năm

1974 ban hành Điều lệ đăng ký kinh doanh công thương nghiệp và phục vụ

áp dụng cho khu vực kinh tế tập thể và cá thể kèm theo Nghị định số 76/CP ngày 8/4/1974, đó là trong số những văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên làm cơ sở hình thành kinh tế tập thể ở nước ta

Sau ngày đất nước thống nhất, để giúp nhà nước tiếp tục nắm được đầy

đủ mọi hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế tập thể và cá thể, Chính phủ đã ban hành Điều lệ đăng ký kinh doanh công thương nghiệp và phục vụ

áp dụng cho khu vực kinh tế tập thể và cá thể kèm theo Nghị định số 119/CP ngày 9/4/1980

Để thế chế hoá chính sách đổi mới của Đảng tại Đại hội lần thứ VI năm

1986, ngày 19/3/1988 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành

Nghị định số 28/HĐBT về chính sách đối với kinh tế tập thể sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải Nghị định này đã tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế tập thể phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng, vận tải và đẩy mạnh việc phân công chuyên môn hoá, hiệp tác hoá giữa các đơn vị kinh

Trang 3

tế tập thể với các đơn vị kinh tế quốc doanh, giữa các vùng, giữa các ngành sản xuất

Cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992 và để hoàn thiện pháp luật về các tổ chức kinh tế sau khi Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam các năm 1987, 1989, 1992, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995, Quốc hội đã

ban hành Luật Hợp tác xã năm 1996 và Luật Hợp tác xã năm 2003 (thay thế Luật Hợp tác xã năm 1996)

4 Đăng ký kinh doanh đối với hợp tác xã

Để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước phải quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách; phát huy mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường Một trong những biện pháp để nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật đó là quy định đăng ký kinh doanh đối với các thành phần kinh tế, trong đó có hợp tác xã

Đăng ký kinh doanh là việc xác định địa vị pháp lý của hợp tác xã; giám sát quá trình hoạt động kinh doanh của hợp tác xã từ khi thành lập đến khi giải thể hoặc phá sản; quản lý các loại hình hợp tác xã, quy mô, trạng thái hoạt động của hợp tác xã theo từng thời kỳ, từng ngành, nghề trong nền kinh tế để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động của hợp tác xã

Trước đây, pháp luật về đăng ký kinh doanh đối với kinh tế tập thể cũng đã được ban hành, Điều 2 Điều lệ đăng ký kinh doanh công thương nghiệp và phục vụ thuộc khu vực tập thể và cá nhân ban hành kèm theo Nghị định số 76/CP ngày 8/4/1974 của Hội đồng Chính phủ đã quy định tất

cả các tổ chức kinh tế tập thể thuộc các ngành nghề đều phải xin đăng ký kinh doanh Từ đó đến nay, quy định về đăng ký kinh doanh đối với hợp tác

xã đều được duy trì, củng cố và đề cao hơn tại văn bản Luật do Quốc hội ban hành

II Thực trạng đăng ký kinh doanh đối với hợp tác xã từ năm 1996 đến năm 2003

1 Thực trạng đăng ký kinh doanh hợp tác xã

Đến 30/6/2004, trên cả nước có 15.685 hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

(bằng khoảng 10% tổng số doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp) Trong đó, số liệu hợp tác xã qua các năm từ 1996 đến 2003 là

14.485 hợp tác xã, chi tiết theo biểu trang 4 Trong tổng số hợp tác xã trên,

có 18 liên hiệp hợp tác xã, chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố sau: Hà

Trang 4

Nội 1, Thái Nguyên 1, Bắc Giang 1, Thanh Hoá 1, Quảng Trị 2, Đà Nẵng 1,

Bình Định 1, Đắc Lắc 1, Cần Thơ 2, Thành phố Hồ Chí Minh 6 và 1 Quỹ tín

dụng nhân dân Trung ương đăng ký tại Hà Nội (Nguồn: báo cáo năm 2003

của Liên minh hợp tác xã Việt Nam)

Số liệu hợp tác xã tính từ 1996 đến 2003:

T

T

Tổng số hợp tác xã 18.607 14.841 13.986 14.286 14.485

1 Nông, lâm, thuỷ sản 14.008 10.602 9.254 9.314 9.255

2 Công nghiệp, thủ C Nghiệp 1.952 1.566 1.812 1.916 2.069

(Nguồn: Kinh tế Việt nam năm 2003 – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

xuất bản tháng 4/2004)

Mức đóng góp của các hợp tác xã vào GDP năm 2003 là 7,49% Tổng

sản phẩm trong nước do các hợp tác xã tạo ra năm 2000 là 37,9 ngàn tỷ

đồng, năm 2003 là 45,377 ngàn tỷ đồng Đến 30/6/2004 theo phân loại hợp

tác xã có 40,1% hợp tác xã khá, 45% hợp tác xã trong bình và 14,9% hợp tác

xã yếu kém (Nguồn: Dự thảo báo cáo năm 2004 của Liên minh hợp tác xã

Việt Nam)

Thu nhập đầu người trung bình khu vực hợp tác xã tháng 6 năm 2003 là

642 ngàn đồng, xếp sau khu vực kinh tế khác như: đầu tư nước ngoài 927

ngàn đồng; doanh nghiệp nhà nước 955 ngàn đồng, doanh nghiệp tư nhân

756 ngàn đồng Lao động khu vực hợp tác xã tập trung chủ yếu trong lĩnh

vực nông, lâm, thuỷ sản chiếm 95,98% tổng số lao động; các lĩnh vực còn lại

chiếm tỷ lệ không đáng kể như khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm

0,07%; dịch vụ chiếm 3,96% (nguồn số liệu Bộ Lao động Thương binh và

Xã hội)

Số liệu trên cho thấy tuy có những bước phát triển qua một số năm gần

đây, nhưng kinh tế tập thể vẫn “chiếm tỷ trọng thấp trong tổng sản phẩm xã

hội, chưa đủ sức đảm nhiệm tốt vai trò cùng với kinh tế nhà nước ngày càng

trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế nhiều thành phần định hướng

Trang 5

xã hội chủ nghĩa.- Nghị quyết số 13/NQ-TW của Hội nghị lần thứ 5 Ban

chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX”

2 Đăng ký kinh doanh theo Luật hợp tác xã năm 1996

Trang 9

3 Những hạn chế của quy định đăng ký kinh doanh đối với hợp tác xã của Luật Hợp tác xã năm 1996 và các văn bản hướng dẫn thi hành

a) Thẩm quyền đăng ký kinh doanh không rõ ràng, không tập trung

Thẩm quyền đăng ký kinh doanh Luật giao cho Uỷ ban nhân dân cấp

tỉnh và cấp huyện thực hiện, nhưng văn bản hướng dẫn thi hành Luật (Nghị định, Thông tư) giao cho cơ quan Kế hoạch và Đầu tư thuộc Uỷ ban nhân

dân thực hiện Nhiều địa phương sau khi cơ quan Kế hoạch và Đầu tư nhận

và xem xét hồ sơ đăng ký kinh doanh của hợp tác xã, phải chuyển sang trình

Uỷ ban nhân dân xem xét cấp, ký và đóng dấu Trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh trên đã gây phiền hà cho hợp tác xã

b) Hồ sơ đăng ký kinh doanh gồm nhiều giấy tờ

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 15, khoản 5 Điều 16 Luật Hợp tác xã

và khoản g Điều 6 Thông tư số 04/BKH-QLKT ngày 29/3/1997 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hồ sơ đăng ký kinh doanh đối với hợp tác xã bao gồm:

• Đơn đăng ký kinh doanh kèm theo biên bản đã thông qua tại hội nghị thành lập hợp tác xã;

• Điều lệ hợp tác xã;

• Danh sách Ban quản trị gồm Chủ nhiệm và các thành viên khác, Ban kiểm soát;

• Danh sách xã viên, địa chỉ, nghề nghiệp của họ;

• Phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;

• Giấy phép hành nghề đối với một số ngành, nghề mà pháp luật quy định phải có;

• Giấy xác nhận về quyền sử dụng trụ sở của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi dự định đặt trụ sở chính của hợp tác xã;

• Giấy xác nhận của Ngân hàng về số tiền mặt gửi tại ngân hàng, biên bản trị giá tài sản góp vốn được Đại hội thông qua

- Thực tế trong số các giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kinh doanh nêu trên một số giấy tờ đối với hợp tác xã là không cần thiết, tạo thêm thủ tục hành chính đối với hợp tác xã:

• Một vấn đề đặt ra đối với hồ sơ đăng ký kinh doanh đối với hợp tác

xã là trên cơ sở gì cơ quan nhà nước lại cần xem xét “Phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ” của hợp tác xã Bởi vì các thành viên

hợp tác xã là những người hoặc tổ chức góp vốn đầu tư kinh doanh,

Trang 10

nghĩa là họ đã dám đương đầu với thử thách, rủi ro Vì vậy, các thành viên hợp tác xã là người quan tâm nhất đến phương án sản xuất kinh doanh và quyết định góp vốn đầu tư hay không, họ là người tìm hiểu để có đủ thông tin nhất để đánh giá phương án của mình Như vậy, việc quy định hồ sơ đăng ký kinh doanh phải có phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là không cần thiết Thực tế cho thấy, cán bộ xem xét hồ sơ đăng ký kinh doanh không đủ thông tin và trình độ để đánh giá tính khả thi của phương án này bằng chính các nhà đầu tư Vì vậy, quy định này đặt ra đã:

+ Gây phiền hà cho hợp tác xã khi đăng ký kinh doanh;

+ Tạo điều kiện cho cán bộ đăng ký kinh doanh có thể sách nhiễu hợp tác xã bằng cách yêu cầu sửa đổi, bổ sung các thông tin trong phương án, hoặc từ chối chấp thuận phương án do hợp tác xã lập, hoặc đề nghị hợp tác

xã sử dụng dịch vụ tư vấn của tổ chức, cá nhân mà họ có liên quan;

+ Khuyến khích hợp tác xã đưa tin không chân thật, vì rất hiếm khi hợp tác xã đưa ra phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đúng sự thật Bởi vì nếu không chính hợp tác xã sẽ làm mất bí mật kinh doanh của mình

• Vấn đề tiếp theo đối với hồ sơ đăng ký kinh doanh của hợp tác xã là giấy xác nhận về quyền sử dụng trụ sở của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi dự định đặt trụ sở chính của hợp tác xã Một hợp tác xã làm ăn chân chính sẽ không bao giờ khai sai địa chỉ trụ sở của mình, hợp tác xã luôn luôn mong muốn càng nhiều khách hàng, đối tác biết về địa chỉ trụ sở của mình thông qua các hình thức quảng cáo, tuyên truyền, Bên cạnh đó, nếu hợp tác xã có giấy tờ hợp pháp về trụ sở khi đăng ký ban đầu, thì họ vẫn có thể chuyển địa chỉ trụ sở sang địa điểm mới Do vậy, vấn đề đặt ra ở đây không phải là việc xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp địa chỉ trụ sở của hợp tác xã, mà đó là việc kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước, của công dân, của các khách hàng, đối với địa chỉ trụ sở của hợp tác xã

và việc quy định xử lý nghiêm minh đối với các hành vi khai man,

vi phạm pháp luật Như vậy, việc quy định về trụ sở hợp tác xã phải

có giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã là làm tăng thêm chi phí, thủ tục và kéo dài thời gian đăng ký thành lập hợp tác xã

• Vấn đề khác đối với hồ sơ đăng ký kinh doanh của hợp tác xã là giấy xác nhận của Ngân hàng về số tiền mặt gửi tại ngân hàng Để

có được giấy xác nhận này, có thể có không ít trường hợp hợp tác xã mượn, vay tiền của cá nhân, tổ chức khác gửi vào tài khoản ở ngân hàng để có giấy xác nhận Sau khi có được giấy xác nhận để nộp

Trang 11

trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, họ rút tiền ra để trả cho người cho vay Như vậy, nhà nước không thể biết được được chủ sở hữu đích thực của số tiền đã gửi ở ngân hàng Vì vậy, quy định về giấy xác nhận của Ngân hàng về số tiền mặt của hợp tác xã gửi tại ngân hàng

là không cần thiết, tạo thêm thủ tục giấy tờ đối với hợp tác xã Thực

tế cho thấy, từ 1/1/2000 giấy xác nhận của ngân hàng này đã không còn cần thiết nữa đối với hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân và công ty sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực

• Về quy định trong hồ sơ đăng ký kinh doanh của hợp tác xã phải có giấy phép hành nghề đối với một số ngành, nghề mà pháp luật quy định phải có giấy phép này Vấn đề đặt ra ở đây là đăng ký kinh doanh cần có trước hay giấy phép hành nghề phải có trước, vì không

ít trường hợp hợp tác xã phải có đăng ký kinh doanh trước khi có giấy phép hành nghề đó, như kinh doanh khách sạn, hợp tác xã cần phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và có đăng ký ngành, nghề kinh doanh khách sạn trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh này Có như vậy hợp tác xã mới có tư cách pháp nhân, ký kết các hợp đồng, giấy tờ liên quan đến đất đai, về xây dựng khách sạn, Sau khi xây xong khách sạn các giấy phép liên quan khác như phòng cháy, chữa cháy, chứng nhận tiêu chuẩn sao, sẽ được các cơ quan có thẩm quyền khác thẩm định cấp hay không cấp Thực tế cho thấy, cùng với 3 đợt huỷ bỏ hơn 150 giấy phép hành nghề do Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ quyết định và quy định của Luật Doanh nghiệp về doanh nghiệp chỉ được kinh doanh sau khi có đủ

điều kiện do pháp luật (giấy phép hành nghề cấp sau đăng ký kinh doanh) quy định đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong

khâu đăng ký thành lập doanh nghiệp

c) Trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh các ngành, nghề phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép phức tạp, chồng chéo

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 16/CP ngày 21/2/1997 của Chính phủ về chuyển đổi, đăng ký Hợp tác xã và tổ chức hoạt động của Liên hiệp Hợp tác xã, hợp tác xã kinh doanh các ngành, nghề sau phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép:

• Thuốc nổ, thuốc độc, hoá chất độc, chất phóng xạ;

• Khai thác vàng và đá quý;

• Sản xuất các phương tiện phát sóng, truyền tin, truyền thanh, truyền hình, xuất bản;

Ngày đăng: 06/03/2016, 00:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w