1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận về Ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng ngân hàng và cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa

17 358 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 176,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở lý luận về Ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng ngân hàng và cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa Bởi: Lê Thị Hồng Yến Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại Định nghĩa

Trang 1

Cơ sở lý luận về Ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng ngân hàng và cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và

vừa

Bởi:

Lê Thị Hồng Yến

Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại

Định nghĩa ngân hàng thương mại

Ở một số nước:

• Ở Mỹ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và

hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính ( financial – Service Industry).[3]

• Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận của

công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.[3]

• Ở Ấn Độ: NHTM là nơi nhận các khoản ký thác để cho vay, tài trợ hay đầu tư

[3]

• Ở Thổ Nhĩ Kỳ: NHTM là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích

nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ chiết khấu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác.[3]

Ở Việt Nam:

Theo quy định tại điều 20 khoản 2 và 7 Luật các tổ chức tín dụng (luật số 02/1997/ QH 10) được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban hành thì: “ NHTM

là một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” [1]

Trang 2

Như vậy, có thể phát biểu khái niệm về NHTM: NHTM là một DN kinh doanh tiền tệ,

là một TCTD thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay phát triển kinh tế, tiêu dùng cho xã hội

Chức năng của ngân hàng thương mại

Chức năng trung gian tín dụng

Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển:

• Là “cầu nối” giữa cung và cầu vốn trong xã hội, khơi nguồn vốn từ những người có thể vì lý do gì đó không dùng nó một cách sinh lợi sang những người

có ý muốn dùng nó để sinh lợi

• Đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì đã đáp ứng được nhu cầu vốn để duy trì liên tục quá trình tái sản xuất xã hội

• Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhờ tận dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi vào quá trình cho vay sinh lời

Chức năng quản lý ngân quỹ cho xã hội

Với chức năng này, NHTM nhận tiền gửi của công chúng, DN và các tổ chức khác, vừa đảm bảo an toàn tài sản, vừa đáp ứng nhu cầu rút tiền của KH Đồng thời NH cam kết chi trả một mức lãi suất nhất định cho KH tùy thuộc vào loại hình gửi tiền

Qua việc thực hiện chức năng này thì NH tạo được nguồn vốn để thực hiện chức năng tín dụng, và còn là cơ sở để Ngân hàng thực hiện chức năng thanh toán

Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán

Để thực hiện chức năng này, NH cung cấp cho KH các phương tiện thanh toán không

sử dụng tiền mặt như: thẻ thanh toán, ủy nhiệm chi, séc,…

Trên cơ sở KH mở tài khoản tiền gởi tại NH, thay mặt cho KH, NHTM trích tiền trên tài khoản trả cho người được hưởng hoặc nhận tiền vào tài khoản theo ủy nhiệm chi của KH

Hoạt động trên của NHTM mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế:

• Thúc đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì chức năng này đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn trong nền kinh tế

Trang 3

• Tiết giảm tiền mặt lưu thông dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt.

Chức năng tạo ra tiền NH trong hệ thống NH hai cấp

Quá trình tạo tiền của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thống NH, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống NHTW Với khoản tiền gửi nhận được ban đầu, hệ thống NHTM thông qua quá trình cho vay bằng chuyển khoản, kết hợp với thanh toán không dùng tiền mặt, có khả năng mở rộng tiền gửi không

kỳ hạn gấp nhiều lần, do đó tạo thêm “bút tệ” cho lưu thông

Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác

NH có thể làm tư vấn về tài chính và đầu tư cho các DN, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái khoán bảo đảm đạt hiệu quả cao và tiết kiệm chi phí Ngoài ra, NH còn cung cấp dịch

vụ lưu trữ và quản lý chứng khoán cho KH, làm dịch vụ thu lãi chứng khoán, chuyển lãi

đó vào tài khoản cho KH, hoặc có khi NHTM còn thực hiện việc mua, bán các chứng khoán cho khách hàng, thu hồi chứng khoán đến hạn…

Hơn nữa, NH còn cung cấp cho khách hàng các dịch vụ khác như:

• Dịch vụ bảo quản an toàn vật tư có giá của KH Dịch vụ bảo quản an toàn vật

có giá bao gồm: dịch vụ cho thuê két sắt, bảo quản ký thác và trực tiếp bảo quản an toàn các giấy tờ có giá

• Dịch vụ cho thuê két ngân buổi tốt (Night safe): NH lắp đặt hệ thống két đặc biệt trước cửa NH, KH thuê dịch vụ này được phép cất giữ tiền mặt hay séc để đảm bảo an toàn vào buổi tối khi NH đã đóng cửa

• Dịch vụ tín thác hoặc ủy thác Ngân hàng (Trust services)

Chức năng tài trợ ngoại thương, mở rộng nghiệp vụ NH quốc tế

Một trong những chức năng quan trọng nhất do các NH thực hiện trong việc tham gia vào nghiệp vụ NH quốc tế là tài trợ xuất nhập khẩu và nền thương mại giữa các quốc gia Giống như thương mại trong nước, hoạt động ngoại thương đòi hỏi các phương pháp tài trợ khác nhau, hoạt động ngoại thương bao gồm ứng tiền trước, tài khoản mở, ủy thác, nhờ thu và thư tín dụng, tín dụng chiết khấu hối phiếu, bảo lãnh, mua và bán séc du lịch…)

Ngoài ra, các NHTM mở rộng nghiệp vụ NH quốc tế để phục vụ cho những khách hàng nước ngoài đầu tư vào trong nước cũng như những KH nội địa muốn mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài

Trang 4

Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng ngân hàng

Lý luận chung về tín dụng

Khái niệm và bản chất của tín dụng

Khái niệm: Tín dụng là một phạm trù kinh tế, ra đời và tồn tại qua nhiều hình thái

kinh tế, xã hội Từ “tín dụng” có nguồn gốc từ tiếng Latinh có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm, dựa trên sự tin tưởng, tín nhiệm đó sẽ thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc vật chất trong một thời gian nhất định, ngay cả những giá trị vô hình như tiếng tăm, uy tín để đảm bảo, bảo lãnh cho sự vận động của một lượng giá trị nào đó

Từ đó có thể đưa ra khái niệm tổng quát về tín dụng như sau: “ Tín dụng là một phạm trù kinh tế chỉ mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó có một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia được sử dụng dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc

và lãi sau một thời gian nhất định” [4]

Mặc dù quan hệ tín dụng được biểu hiện qua các phương thức rất đa dạng và phong phú, nhưng nó vẫn mang ba đặc trưng cơ bản sau:

• Chỉ làm thay đổi quyền sử dụng, không làm thay đổi quyền sở hữu vốn

• Thời hạn tín dụng được xác định dựa trên sự thỏa thuận giũa các bên tham gia quan hệ tín dụng

• Chủ sở hữu vốn được nhận lại một phần thu nhập dưới dạng lợi tức tín dụng

Chức năng của tín dụng

a Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả

Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai quá trình cùng thống nhất trong sự vận hành của quan hệ tín dụng Chức năng này làm cho tín dụng trở thành chiếc cầu nối giữa cung – cầu vốn trong nền kinh tế

Thông qua chức năng này tín dụng đã trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ cá nhân, các đơn vị kinh tế đến bổ sung kịp thời cho những cá nhân, đơn

vị thiếu vốn, nói cách khác:

• Ở khâu tập trung: Tín dụng là phương thức giúp cho các chủ thể kinh tế thu

hút được một phần nguồn vốn của xã hội dưới các hình thái tiền tệ hoặc vật chất tạm thời nhàn rỗi

• Ở khâu phân phối: Tín dụng đã đáp ứng được các nhu cầu về vốn cho các

DN, dân cư, các tổ chức xã hội cũng như của nhà nước Thông qua chức năng phân phối nguồn vốn của tín dụng các nhà tiết kiệm đầu tư có thể tận dụng vốn

Trang 5

của mình một cách hợp lý và có hiệu quả cao nhất Vì vậy, tín dụng đã thực hiện vai trò luân chuyển vốn, kích thích mở rộng sản xuất kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

b Kiểm soát các hoạt động kinh tế

Chức năng kiểm soát hoạt động kinh tế thể hiện khi chủ thể đi vay và chủ thể cho vay thực hiện thẩm định dự án, kế hoạch kinh doanh, cũng như việc kiểm tra, kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Như vậy, thực hiện chức năng phản ánh kiểm soát các hoạt động kinh tế, tín dụng, một mặt, đảm bảo lợi ích thiết thực cho các chủ thể kinh tế tham gia; mặt khác, còn mang lại lợi ích, hiệu quả cho nền kinh

tế quốc dân và toàn xã hội Phản ánh của hệ thống tín dụng sẽ cho thấy tình trạng của nền kinh tế để từ đó Nhà nước đề ra những giải pháp điều tiết kịp thời nhằm khắc phục những khuyết điểm, mất cân đối, cũng như phát huy hơn nữa tính hợp lý và tiềm năng Điều này, cũng có nghĩa tín dụng được xem như một công cụ đòn bẩy kích thích, điều tiết kinh tế trong cơ chế thị trường

Tín dụng ngân hàng

Khái niệm: Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là NH, một bên là các TCTD khác với các nhà DN và cá nhân [4]

Trong nền kinh tế thị trường, NH đóng vai trò là một TCTC trung gian, quan hệ tín dụng

NH được thể hiện qua hai khâu:

• Khâu huy động vốn: NH là một chủ thể đi vay, NH huy động tiền gửi từ các

cá nhân, DN, vay mượn qua các hợp đồng hoặc dưới hình thức phát hành trái phiếu, kỳ phiếu NH trên thị trường

• Khâu cho vay: Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, NH cấp tín dụng lại cho

các DN và cá nhân có nhu cầu về vốn Công cụ chủ yếu cho hoạt động tín dụng

NH là kỳ phiếu NH, các loại chứng chỉ huy động vốn

Đối tượng của tín dụng ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường, đại bộ phận quỹ cho vay tập trung qua ngân hàng và từ đó đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho các DN và cá nhân Tín dụng NH không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để dự trữ vât tư hàng hóa, trang trải chi phí sản xuất và thanh toán các khoản nợ mà còn tham gia cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản như xây dựng các

xí nghiệp mới, các cơ sở kinh tế hạ tầng, cải tiến và đổi mới kỹ thuật Ngoài ra tín dụng

NH còn đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu vốn tín dụng tiêu dùng của cá nhân

Đặc điểm tín dụng ngân hàng

Trang 6

• Về hình thức biểu hiện: Hoạt động của tín dụng NH được thực hiện dưới hình thái tiền tệ gồm tiền mặt và bút tệ

• Chủ thể trong quan hệ tín dụng NH: NHTM, các TCTD đóng vai trò là chủ thể trung tâm

• Quá trình vận động và phát triển của tín dụng NH không hoàn toàn phù hợp với quy mô phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa: Xuất phát từ đặc điểm tín dụng NH được cấp dưới hình thái tiền tệ có thể đáp ứng các nhu cầu khác nhau ngoài nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hóa, giá trị của món tín dụng có thể không đồng nhất với giá trị mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển kinh tế

Các phương thức cho vay đang áp dụng [5]

Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu vốn của các chủ thể trong nền kinh tế cũng như của các doanh nghiệp, các NHTM áp dụng một số phương thức cho vay sau:

Cho vay từng lần

• Mỗi lần vay vốn, KH và NH thực hiện các thủ tục vay vốn, ký kết, giải ngân, thu nợ theo từng HĐTD

• Việc rút vốn vay có thể thực hiện một lần hay nhiều lần phù hợp với tiến độ sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng nhưng tổng số tiền của các lần rút vốn không được vượt quá số tiền cho vay ghi trong HĐTD

• Với phương thức vay này, mỗi lần vay KH phải cung ứng phương án kinh doanh cụ thể cũng như các hóa đơn, chứng từ, hợp đồng kinh tế cho NH xét duyệt cấp tín dụng

• Xác định thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ: với phương thức cho vay từng lần thì thời hạn cho vay được xác định cho mỗi lần vay cụ thể và dựa trên các yếu tố như chu kỳ ngân quỹ, dự báo lưu chuyển tiền tệ Đối với việc định kỳ hạn trả nợ và số tiền trả trên mỗi kỳ hạn chủ yếu dựa vào lưu chuyển tiền tệ của chính phương án vay vốn

Cho vay theo hạn mức tín dụng

• Áp dụng đối với KH có nhu cầu vay bổ sung vốn lưu động thường xuyên, quá trình vay vốn, trả nợ diễn ra nhiều lần trong thời hạn cho vay của hợp đồng tín dụng

• Theo phương thức cho vay này, KH được NH cấp một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định Trong thời hạn rút vốn, KH có thể rút vốn và/ hoặc trả vốn nhiều lần nhưng tổng mức dư nợ vay tại bất kỳ thời điểm nào cũng phải ≤ hạn mức tín dụng đã được cấp

• Việc xác định hạn mức sẽ được thẩm định cụ thể thông qua các số liệu báo cáo của các kỳ kinh doanh cũng như kế hoạch kinh doanh của từng khách hàng cụ

Trang 7

thể Quá trình giải ngân và thu nợ của cho vay theo hạn mức tín dụng gắn liền với diễn biến khoản chi – thu nợ trong hoạt động của DN, không phân biệt theo phương án, từng thương vụ như cho vay từng lần

Cho vay theo dự án đầu tư

• Phương thức cho vay này áp dụng đối với KH có nhu cầu vay để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống Tổng nhu cầu vốn của dự án được tài trợ cho tài sản cố định và nhu cầu vốn lưu động của dự án

• Thông thường để quyết định cấp tín dụng dưới dạng cho vay theo dự án, NH phải phân tích lưu chuyển tiền tệ của phương án, hiệu quả mang lại từ dự án, tổng chi phí của phương án, vốn đối ứng cần thiết phải có của DN…Từ đó NH sẽ đưa ra mức đầu tư và thời hạn cho vay, kỳ hạn trả nợ cụ thể

• Thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động của dự án Thời hạn cho vay bao gồm: thời hạn ân hạn ( nếu có), thời hạn trả nợ

• Trong thời hạn rút vốn được quy định trong HĐTD, KH có thể rút vốn nhiều lần phù hợp với tiến độ thực hiện dự án, nhưng tổng số tiền của các lần rút vốn không vượt quá số tiền cho vay ghi trên HĐTD

Cho vay hợp vốn

• Phương thức cho vay này áp dụng khi:

◦ Số tiền cho vay tối đa của NH đối với một KH chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu vay vốn của KH để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án phục vụ đời sống

◦ NH muốn phân tán rủi ro khi cho vay một dự án

◦ Các TCTC nhỏ, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa cao và mong muốn thông qua cho vay hợp vốn để có cơ hội tiếp cận và học hỏi nâng cao nghiệp vụ

• Nhiều NH hoặc TCTD cùng cho vay đối với một dự án hoặc phương án vay vốn của KH, trong đó có một ngân hàng hoặc một TCTD làm đầu mối dàn xếp

Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng

• Phương thức cho vay này áp dụng đối với KH cần dự phòng nguồn vốn tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đảm bảo khả năng chủ động về tài chính khi thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống

• NH và KH ký hợp đồng tín dụng dự phòng, trong đó NH cam kết đảm bảo sẵn sàng cho KH vay vốn torng phạm vi hạn mức tín dụng dự phòng trong một khoảng thời gian nhất định và KH phải trả phí cho hạn mức tín dụng dự phòng

• Trong thời hạn rút vốn được quy định trong HĐTD hạn mức dự phòng, nếu khách hàng có nhu cầu sử dụng vốn thì mỗi lần rút vốn phải ký khế ước nhận

Trang 8

nợ và gửi kèm theo các tài liệu chứng minh mục đích sử dụng vốn vay phù hợp với hợp đồng tín dụng hạn mức tín dụng dự phòng đã ký

• Tổng số tiền các lần rút vốn không vượt quá hạn mức tín dụng dự phòng ghi trong HĐTD hạn mức tín dụng dự phòng và thời hạn cho vay trong từng khế ước nhận nợ không vượt quá thời hạn cho vay quy định trong HĐTD hạn mức dự phòng

Cho vay theo hạn mức thấu chi

Là việc cho vay mà NH thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho KH chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của KH phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

Cho vay trả góp

Khi vay vốn,NH và KH thỏa thuận số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia

ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay Tài sản mua bằng vốn vay chỉ phụ thuộc sở hữu của bên vay khi trả đủ nợ gốc và lãi

Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

NH chấp thuận cho KH đựơc sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của NH Khi cho vay phát hành phải tuân theo các quy định của Chính phủ và NHNN về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

Các phương thức cho vay khác: mà pháp luật không cấm, phù hợp với pháp luật và đặc điểm của KH vay.

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng trong cho vay DN [5]

Hệ số thu nợ

***SORRY, THIS MEDIA TYPE IS NOT SUPPORTED.***

Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng thể hiện sự an toàn của đồng vốn khi cho vay Hệ số này biểu hiện mối quan hệ giữa doanh số thu nợ và doanh số cho vay Nghĩa

là trên 100 đồng vốn mà ngân hàng cho vay thì sẽ có bao nhiêu đồng được thu hồi lại.Hệ

số này càng lớn thì độ an toàn càng cao và công tác thu nợ đang có sự chuyển biến tốt, rủi ro tín dụng thấp

Vòng quay vốn tín dụng

***SORRY, THIS MEDIA TYPE IS NOT SUPPORTED.***

Trang 9

Ở bất kỳ doanh nghiệp nào khi hoạt động kinh doanh đều tính đến hiệu quả kinh tế Điều

đó được thể hiện qua vòng vay vốn tín dụng Vòng quay càng nhanh sẽ đủ chi phí bù đắp cho kỳ kinh doanh kế tiếp, do đó hiệu quả sử dụng càng cao Chỉ tiêu này được tính dựa trên tỷ lệ giữa doanh số thu nợ và tổng dư nợ Nó còn dùng để phản ánh hiệu suất

sử dụng vốn của ngân hàng

Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ

Đây là chỉ tiêu đo lường chất lượng tín dụng của ngân hàng

Hệ số này phản ánh tình trạng nợ tại NH tốt hay xấu, công tác tín dụng được quan tâm đến đâu và NH cần sử dụng những biện pháp nào để giảm thấp tỷ lệ nợ quá hạn trong

kỳ kinh doanh tiếp theo Mặt khác, hệ số này còn cho biết nguồn vốn của ngân hàng cho vay đến cá nhân, các tổ chức kinh tế có phát huy được hiệu quả không ?

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ

***SORRY, THIS MEDIA TYPE IS NOT SUPPORTED.***

Chỉ tiêu này cho biết 100 đồng đầu tư cho vay thì có bao nhiêu đồng không có khả năng thu hồi nợ (nợ có khả năng mất vốn) Theo quy định của Ngân hàng nhà nước thì tỷ lệ này không vượt quá 3%

Cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa

Khái niệm DNNVV

Ở Việt Nam, theo điều 3, Nghị định số 90/2001/NĐ - CP ngày 23/11/2001: DNNVV

“Là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình không quá 300 người” Theo điều 4 của Nghị định này, các DNNVV bao gồm các DN thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước, các hợp tác xã, các hộ sản xuất kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định 02/2000/NĐ – CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh.[2]

Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của từng ngành, địa phương mà trong quá trình phân loại sẽ áp dụng đồng thời cả hai mục tiêu vốn và lao động hoặc chỉ một trong hai chỉ tiêu Những DNNVV này được hưởng sự hỗ trợ của Chính phủ theo các chương trình hỗ trợ về vốn, công nghệ, được giảm hoặc miễn một số loại thuế

Trang 10

Phân loại DNNVV

Phân loại theo mức độ tập trung

• Các thành phần kinh doanh nhỏ lẻ: Đây các thành phần kinh doanh nhỏ lẻ,

không có trụ sở hoạt động thường xuyên, họ là những người mua bán lưu động, những người bán hàng rong Họ là những thành phần nhỏ nhất của tổ chức kinh doanh và hầu như luôn do một cá nhân điều khiển hoạt động

• Các thành phần kinh doanh vừa: Đây là các thành phần kinh doanh có quy

mô vừa, họ không có đủ tiềm lực phát triển thành DN lớn, nhưng họ có một vị trí kinh doanh cụ thể như các cửa hàng tạp hóa, các hiệu cắt tóc, các nhà thuốc

tư nhân, các cửa hàng lương thực thực phẩm…Tuy quy mô là nhỏ lẻ nhưng nó gắn liền với cuộc sống hàng ngày của người dân, nó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân, do vậy loại hình kinh doanh này cũng đóng vai trò khá quan trọng

Phân loại theo mức độ chuyên môn

• Các DN chuyên môn: là các DN kinh doanh trong một lĩnh vực chuyên môn,

do những người có trình độ chuyên môn điều hành như các văn phòng luật sư, các phòng khám nha khoa tư nhân, phòng mạch tư nhân của bác sĩ…đây cũng

là những thành phần kinh doanh quan trọng

• Các DN không chuyên: là những DN kinh doanh tổng hợp nhiều mặt hàng,

chủ yếu là hàng tiêu dùng như văn phòng phẩm, cửa hàng tạp hóa,…

Phân loại theo ngành nghề

• Các DN kinh doanh các mặt hàng truyền thống: như các DN chuyên sản

xuất và chế biến các sản phẩm mây, tre, lá, gốm…những thành phần kinh

doanh này thường được khuyến khích vì nó mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc

• Các DN kinh doanh những mặt hàng công nghệ cao: như các DN trong lĩnh

vực công nghệ thông tin, các công ty phát triển phần mềm, các DN sản xuất hàng điện tử,…Mô hình các DN này ngày càng phổ biến và lan rộng vì sự bùng phát của công nghệ thông tin hiện nay đang rất mạnh mẽ

Vai trò DNNVV

DNNVV đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, góp phần

ổn định xã hội.

Giải quyết công ăn việc làm luôn là vấn đền bức xúc với hầu hết các nước trên thế giới Thất nghiệp gây ra những thiệt hại to lớn cho xã hội Sự tồn tại và phát triển DNNVV

ở nhiều nước cho thấy, DNNVV là một phương tiện có hiệu quả để giải quyết vấn đề thất nghiệp và là nguồn chủ yếu để tạo ra việc làm Mặt khác nó thường xuyên đáp ứng

Ngày đăng: 06/03/2016, 00:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w