1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chất lượng và hiệu quả thực hiện Luật người khuyết tật ở tỉnh Hòa Bình qua tham vấn ý kến của người dân và đề xuất giải pháp

79 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến hệ quả này là do nhận thức chưa đầy đủ vể hoạt động hỗ trợ cho NKT cũng như việc thực thi Luật Người khuyết tật vào cuộc sống chưa được chú

Trang 1

Liên Hiệp Các Hội Khoa Học & Kỹ Thuật

Tỉnh Hòa Bình

TÊN DỰ ÁN

Đánh giá chất lượng và hiệu quả thực hiện Luật người khuyết tật ở tỉnh Hòa Bình qua tham vấn ý kến của người dân và đề xuất giải pháp

BÁO CÁO KỸ THUẬT

Hòa Bình, tháng 2 năm 2015

Trang 2

PARAFF là Quỹ tài trợ các dự án và hỗ trợ nâng cao năng lực cho tổ chức phi chính phủ, do Cơ quan Hợp tác và phát triển Đan Mạch-Danida và Cơ quan Phát triển Quốc tế Anh Quốc-DFID đồng tài trợ, và được Văn phòng Quốc hội quản lý

Nội dung của báo cáo này do Liên hiệp các hội Khoa học & Kỹ thuật tỉnh Hòa Bình hoàn toàn chịu trách nhiệm và không phản ánh quan điểm của Văn phòng Quốc hội, Danida hay DFID

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TT TVPL Trung tâm tư vấn pháp luật

LĐ-TB & XH Lao động – Thương binh và Xã hội

Trang 4

MỤC LỤC

II TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU 9

4.1 P HƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN THỨ CẤP ( NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU ) 23

5.3 Đ ÁNH GIÁ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ L UẬT NKT VÀ CÁC CHÍNH SÁCH HIỆN HÀNH

5.4 T HỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT 38

II BẢNG HỎI NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI 66

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Từ khi Luật Người khuyết tật ra đời cho đến nay, điều kiện sống của người khuyết tật đã được cải thiện rất nhiều, các quy định được thể chế hóa trong Luật đã trở thành tiền đề để triển khai các chính sách hỗ trợ cho nhóm đối tượng này Có thể kể đến các chính sách tiêu biểu như: chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, các chính sách ưu tiên, hỗ trợ chi phí cho người khuyết tật khi tham gia giao thông, giáo dục và đào tạo, các dịch vụ văn hóa, thể dục – thể thao, tổ chức dạy nghề và đào tạo việc làm,… Các quy định này đã từng bước góp phần nâng cao đời sống và giúp người khuyết tật hòa nhập cộng đồng

Tuy nhiên bên cạnh đó, việc triển khai Luật Người khuyết tật trên thực tế gặp phải nhiều vướng mắc, ảnh hưởng đến quyền của người khuyết tật Đặc biệt là việc đảm bảo cho người khuyết tật được tiếp cận với các dịch vụ xã hội; vấn đề công khai thông tin của người dân với hệ thống chính sách vẫn chưa được quan tâm đúng mức Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến hệ quả này là do nhận thức chưa đầy đủ vể hoạt động hỗ trợ cho NKT cũng như việc thực thi Luật Người khuyết tật vào cuộc sống chưa được chú ý xem xét đến các yếu tố đặc thù về văn hóa, dân tộc, điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội của từng địa phương

Báo cáo nghiên cứu“Đánh giá chất lượng và hiệu quả thực hiện Luật Người khuyết tật ở tỉnh Hòa Bình qua tham vấn ý kiến của người dân và đề xuất giải pháp” được thực hiện trong khuôn khổ Dự án C2 – 005 Dự án do Hội Liên hiệp các

Hội khoa học tỉnh Hòa Bình thực hiện trên địa bàn 2 huyện (Mai Châu và Đà Bắc) và

01 thành phố (Thành phố Hòa Bình), nhằm mục tiêu nghiên cứu, đánh giá nhận thức của người dân đối với công tác thực hiện Luật Người khuyết tật; những thành tựu và hạn chế trong công tác thực thi Luật trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, cũng như những rào cản trong việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của NKT Từ đó, đưa ra những khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực thi luật; tăng cường trách nhiệm của chính quyền, và các đoàn thể địa phương trong việc thực thi luật Trong đó,

Trang 6

dự án chú trọng tìm ra các giải pháp nhằm thúc đẩy và cải thiện các dịch vụ tư vấn, trợ giúp pháp lý cho nhóm đối tượng này

I TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO

1.1 Thông tin chung về dự án

Dự án tập trung vào 2 lĩnh vực chính: i) Nghiên cứu và ii) Phản hồi ý kiến của

người dân tại hai huyện Đà Bắc, Mai Châu và thành phố Hòa Bình – tỉnh Hoà Bình về việc thực thi các chính sách liên quan đến NKT, huy động người dân tham gia vào trong quá trình nghiên cứu vàtạo ra không gian thân thiện để người dân, đặc biệt là phụ nữ các dân tộc thiểu số có thể trao đổi, chia sẻ ý kiến Quađó, nâng cao nhận thức

về quyền của NKT và trách nhiệm chung của xã hội đối với nhóm đối tượng yếu thế này

Mục đích:

Mục đích của dự án là: Nâng cao hiệu năng Luật NKT tại các địa bàn thuộc tỉnh Hòa Bình để đưa Luật NKT đi vào cuộc sống, đảm bảo các quyền và lợi ích cơ bảncủa NKT, vốn được xác định là một trong những nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội

Để đạt được mục đích mà dự án đề ra, một loạt các hoạt động đã được triển khai:

o Đánh giá hiệu quả triển khai Luật NKT tại cộng đồng: Tiến hành đánh giá tại 6 bản, trong đó có 4 bản vùng nông thôn và 2 phường thuộc vùng đô thị

Trang 7

o Tìm hiểu yếu tố đặc thù theo từng nhóm dân tộc, đặc biệt là phụ nữ về văn hóa, tập tục, nhận thức, thái độ, hành vi v.v có liên quan đến việc thực hiện Luật NKT Tiếp cận việc ra quyết định chính sách dựa trên các chứng cứ có sự tham gia của người dân vào hoạt động của cơ quan trợ giúp pháp lý

Lý do thực hiện dự án:

Từ năm 2011 đến nay, Luật Người khuyết tật đã được triển khai ở các khu vực thành thị và nông thôn miền núi,dân tộc của Hòa Bình qua hệ thống chính sách an sinh xã hội từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở Đây là một bước tiến quan trọng nhằm tạo môi trường pháp lý vàđiều kiện để bảo đảm quyền và cơ hội hòa nhập bình đẳng cho NKT Tuy nhiên, cho đến nay vấn đề khuyết tật và NKT vẫn chưa có nhận thức đầy đủ vàtoàn diện, việc thực thi Luật trên thực tế chưa đạt được những hiệu quả như mong đợi.,có sự khác biệt giữa địa bàn nông thôn và thành thị về hệ thống cung cấp dịch vụ công, đặc biệt là dịch vụ pháp lý cho đối tượng là người dân tộc thiểu số Điều này xuất phát từ việc thiếu thông tin công khai, thiếu sự tham gia của người dân với các chính sách liên quan, cũng như mức độ nhạy bén và theo dõi các vấn đề của chính quyền địa phương trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội cho người khuyết tật Vì vậy, điều tra nghiên cứu góp phần đưa Luật NKT vào cuộc sống, đảm bảo sự phù hợp của chính sách với đặc thù văn hóa tộc người, điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội của từng địa phương là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn mang tính nhân văn cao Bởi vì, chỉ có dựa trên sự tham gia của người dân và nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bên có liên quan trong hệ thống chính quyền thì mới có thể thúc đẩy các dịch vụ xã hội nói chung và trợ giúp pháp lý nói riêng cho người khuyết tật

Thời gian thực hiện dự án:

Trang 8

1.2 Mục tiêu của Báo cáo nghiên cứu

(i) Tìm hiểu, đánh giá mức độ tham gia và những thay đổi trong nhận thức, thái độ

và hành vi của người dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình (03 huyện/ thành phố thuộc địa bàn dự án) đối với Luật NKT;

(ii) Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân (bao gồm các nguyên nhân trực tiếp,

gián tiếp) ảnh hưởng đến quá trình thực hiện Luật NKT và nhu cầu trợ giúp pháp lý ở cộng đồng;

(iii) Đưa ra những kiến nghị và giải pháp về thực trạng thực hiện Luật NKT ở vùng

miền núi và dân tộc tỉnh Hòa Bình, đặc biệt nhấn mạnh đến việc thúc đẩy các dịch vụ trợ giúp pháp lý

Trang 9

II TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA

NGHIÊN CỨU

Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc một hay nhiều chức năng nào đó của bộ phận cơ thể bị suy giảm Do khuyết tật nên họ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt, học tập, lao động và tham gia hoạt động xã hội Chính vì vậy, việc đảm bảo sự bình đẳng trong việc thực hiện các quyền

và nghĩa vụ về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đối với người khuyết tật là nghĩa vụ chung của gia đình, xã hội và nhà nước; hướng đến mục tiêu đảm bảo quyền con người

2.1 Khái niệm về người khuyết tật

Khái niệm người khuyết tật là cơ sở pháp lý để công nhận ai là người khuyết tật và từ đó được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật liên quan, phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà luật hoặc chính sách cụ thể theo đuổi của từng nước Hiện nay đa số các định nghĩa về người khuyết tật là sự kết hợp giữa sự khiếm khuyết và các yếu tố môi trường và tiếp cận dưới góc độ quyền của người khuyết tật Sau đây là một số định nghĩa người khuyết tật được sử dụng phổ biến:

 Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của

người khuyết tật (năm 1983), khoản 1, Điều 1 quy định: “Người khuyết tật

dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận”

 Công ước về Quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc (năm 2006), Điều

1 quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất,

thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”

Trang 10

Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA - Americans with

Disabilities Act of 1990) định nghĩa “người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống” Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật

bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng)

Ở nước ta, ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua luật Người khuyết tật, có hiệu lực từ 01/01/2011, chính thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “người tàn tật”, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 của Luật

này thì “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một ho c nhiều bộ phận cơ thể

ho c bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập g p khó khăn.”

Theo cách hiểu này thì người khuyết tật bao gồm cả những người bị khuyết tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết do tai nạn, thương binh, bệnh binh, Khái niệm được đưa ra trong luật Người khuyết tật Việt Nam đã tương đối phù hợp với quan điểm tiến bộ chung của thế giới, tuy nhiên vẫn còn chung chung so với khái niệm trong Công ước về quyền của người khuyết tật

Định nghĩa về người khuyết tật, dù tiếp cận dưới bất cứ góc độ nào, nhất thiết phải phản ánh một thực tế là người khuyết tật có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội

Và họ phải được đảm bảo rằng, họ có quyền và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ công dân nào với tư cách là các quyền của con người Với cách tiếp cận đó, có thể khái niệm người khuyết tật như sau:

Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một ho c nhiều bộ phận cơ thể ho c bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác

Trang 11

Đây là khái niệm được nhóm tác giả sử dụng trong phạm vi Báo cáo Nghiên cứu

2.2 Đặc điểm của người khuyết tật

Khuyết tật được định nghĩa là sự thiếu hụt về thể chất và tinh thần khiến cho người đó không có khả năng thực hiện công việc và trở thành người tàn tật trong giai đoạn ngắn hoặc dài Điều đó có thể gây ra ốm, do những suy giảm như ung thư, đái tháo đường, hen suyễn, rối loạn thần kinh, mù điếc, chứng liệt, AIDS…

Sự phục hồi y học, các dụng cụ hỗ trợ, sự giúp đỡ của cộng đồng có thể làm giảm những hạn chế về mặt chức năng của người khuyết tật, tăng khả năng lao động của họ, các chính sách về môi trường – xã hội làm thay đổi điều kiện sống của người khuyết tật, do đó làm tăng sự tiếp cận kinh tế XH của họ Sự phân loại đó như sau:

- Khuyết tật (impairment): Xét ở mức độ cơ quan là sự mất hoặc bất thường về

cấu trúc cơ thể hoặc chức năng tâm lý hay sinh lí (mất chi hay mất khả năng nhìn…) Nguyên nhân khuyết tật có thể do bệnh tật hoặc do tai nạn, yếu tố bẩm sinh hoặc do các tác nhân môi trường

- Tàn tật (disability): Xét ở mức độ cơ thể là sự giảm hoặc mất khả năng thực

hiện hoạt động trong sinh hoạt, trong công việc do hậu quả của khuyết tật Sự hạn chế hoặc vắng mặt một chức năng nào đó (vận động, nghe hoặc giao tiếp…) so với giới hạn của người bình thường

- Tật nguyền (handicap): Xét ở mức độ XH là những bất lợi, hạn chế hoặc ngăn cản sự hoàn thành vai trò bình thường cho một cá nhân Đó là kết quả của sự tác động giữa khuyết tật, người tàn tật và các rảo cản xã hội, môi trường vật lý, văn hoá đến nỗi mà người đó không tham gia được vào các hoạt động trong cộng đồng XH như những người bình thường tuỳ thuộc vào tuổi, giới tính, các nhân tố XH và môi trường

2.3 Thực trạng NKT tại Việt Nam

Khuyết tật là một thách thức lớn về mặt xã hội ở Việt Nam Tỷ lệ dân số khuyết tật là rất đáng kể: tỷ lệ khuyết tật của dân số từ 5 tuổi trở lên chiếm 15,3% trong tổng dân số - theo Cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam năm 2006; hơn một

Trang 12

phần ba dân số từ 15 tuổi trở lên gặp phải những khó khăn về nhìn, nghe, đi lại, nhận thức, tự chăm sóc bản thân và giao tiếp; Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm

2009 cho thấy, tỷ lệ người khuyết tật ở độ tuổi từ 5 tuổi trở lên chiếm 7,8% dân số tương đương với 6,7 triệu người, trong đó có khoảng 5,8% là nữ giới và khoảng75% tập trung ở khu vực nông thôn Tình trạng đa khuyết tật trong nhóm khuyết tật là phổ biến (58% người khuyết tật có ít nhất 2 khuyết tật trở lên)

Khác biệt về tỷ lệ khuyết tật nông thôn - thành thị là đáng chú ý, theo đó ở khu vực nông thôn tỷ lệ này là 39,8%, trong khi ở khu vực thành phố, tỷ lệ này là 33,7% Khoảng 75 % hộ gia đình có người khuyết tật sinh sống ở khu vực nông thôn

và 32,5% thuộc diện nghèo (cao gấp hai lần so với tỷ lệ nghèo chung cùng thời điểm)

Do điều kiện khó khăn, hầu hết các hộ gia đình có người khuyết tật chri đảm bảo đáp ứng được những nhu cầu căn bản về ăn, ở, và mặc cho người khuyết tật, còn lại các nhu cầu khác cuả người khuyết tật thì khả năng được đáp ứng rất hạn chế Cụ thể:

- Người khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong việc lập gia đình Đối với những

người khuyết tật đã lập gia đình thì khả năng đổ vỡ trong hôn nhân (ly dị/ly thân) cũng cao hơn so với người không khuyết tật

- Về chăm sóc y tế: Tình trạng sức khỏe tự đánh giá của người khuyết tật trầm

trọng hơn rất nhiều so với người không khuyết tật, với chừng 42% người khuyết tật đánh giá sức khỏe của bản thân là kém, so với 8,5% nhóm người không khuyết tật Tuy vậy, có đến một phần tư những người khuyết tật không

có bảo hiểm y tế do không có đủ tiền để mua bảo hiểm hay vì bản thân họ không tin tưởng vào hệ thống bảo hiểm nên đã không mua Do sức khỏe kém

và do khuyết tật, người khuyết tật phải trả nhiều tiền cho các chi phí y tế Các chi phí này là một gánh nặng về mặt tài chính cho người khuyết tật và gia đình của họ

- Người khuyết tật cũng gặp nhiều bất lợi trong giáo dục Tỷ lệ đi học giảm dần

theo mức độ gia tăng của khuyết tật trong nhóm trong độ tuổi đi học ở tất cả các cấp

- Về việc làm: tỷ lệ khuyết tật trong độ tuổi lao động (18 đến 60 tuổi) không làm việc tương đối lớn Lý do chính khiến người khuyết tật không làm việc là do

Trang 13

sức khỏe kém vì lý do khuyết tật Người khuyết tật thường làm việc trong khu vực nông nghiệp hay làm kinh tế gia đình nhiều hơn so với người không khuyết tật; người không khuyết tật thường làm việc trong khu vực kinh tế công và tư nhân Tỷ lệ người khuyết tật có thu nhập, bao gồm lương, trợ cấp, phúc lợi ngoài lương, thấp hơn rất nhiều so với người không khuyết tật Người khuyết tật làm làm việc trong các cơ sở lao động thường nhận mức lương thấp hơn so với người không khuyết tật làm cùng một loại công việc Ở cấp độ gia đình, thu nhập hộ có quan hệ tỷ lệ nghịch với mức độ khuyết tật Người khuyết tật thường thuộc những hộ nghèo hơn so với người không khuyết tật

=> Thực trạng người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay cho thấy vấn đề về người khuyết tật và đảm bảo quyền cho người khuyết tật là phổ biến ở nước ta Đây thực sự là vấn

đề cần quan tâm đúng mức trong quá trình phát triển của quốc gia nhất là trong bối

cảnh hiện nay, số lượng người khuyết tật có xu hướng gia tăng do tai nạn giao thông,

tai nạn lao động, ô nhiễm môi trường xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa trong nước

2.4 Thái độ và nhận thức về người khuyết tật tại Việt Nam

Thái độ và nhận thức về người khuyết tật có ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo đảm quyền của người khuyết tật

Nhận thức về người khuyết tật hiện nay chưa đồng đều trong toàn xã hội mà tập trung chủ yếu vào tầng lớp cán bộ, viên chức và nhân việc làm việc trong các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội,… và hộ gia đình có người khuyết tật, một bộ phận những người khuyết tật đang được hưởng chế độ chính sách trợ giúp xã hội Số đông người dân và người khuyết tật nhận thức về vấn đề người khuyết tật và quyền của người khuyết tật còn hạn chế và diễn ra chậm Mặt khác, nhận thức về vấn đề này chưa thực sự đầy đủ, đa phần chỉ biết về các chính sách hỗ trợ bằng vật chất trực tiếp chứ chưa quan tâm đến các chính sách, quy định khác có liên quan, đặc biệt là các chính sách giúp người khuyết tật tham gia, có tiếng nói bình đẳng trong các quyết định Trong bối cảnh hiện nay một trong những yêu cầu cấp thiết là cần thay đổi vị thế, thay đổi hành vi của người khuyết tật từ ‘cam phận’ chuyển sang ‘sống tích cực’ thông qua các cuộc vận động thay đổi chính sách và cơ chế quản trị điều hành theo

Trang 14

hướng dân chủ và hội nhập ở các cấp thì mới có thể đảm bảo được quyền và lợi ích của NKT cũng như các nhóm thiệt thòi nói chung một cách bền vững

Một trong những rào cản lớn nhất để người khuyết tật hoà nhập xã hội tại Việt

Nam là thái độ và cách tiếp cận xem nhẹ khả năng hoà nhập xã hội của người khuyết tật Phần lớn thái độ của mọi người đối với người khuyết tật tại Việt Nam là

“cần chăm sóc và bảo vệ”, chính điều này đã đặt NKT vào thế đơn thuần là người tiếp nhận thụ động các chăm sóc, NKT vì thế không được nhìn nhận như một thành viên bình đẳng trong xã hội dưới con mắt của cộng đồng cũng như chính những NKT Điều này được phản ánh rõ qua tên gọi ngày Người khuyết tật tại Việt Nam hay còn gọi là Ngày bảo vệ và hỗ trợ người tàn tật Việt Nam Cũng chính từ đó mà người khuyết tật tại Việt Nam có khuynh hướng nhận sự chăm sóc, hỗ trợ lương thực thực phẩm và nơi nương tựa, song lại không được tham gia vào bất kỳ hoạt động nào khác của xã hội vì mọi người cho rằng không đủ khả năng Có nhiều trường hợp, thậm chí người có khuyết tật nhẹ cũng bị cho là không đủ khả năng và không được đến trường học, không được tạo điều kiện làm việc tại các gia đình, các công việc đồng áng, không được kết hôn và không tìm được việc làm

Nhận thức này tác động rất lớn tới việc người khuyết tật Việt Nam không được tham gia một cách hiệu quả vào mọi mặt đời sống, giáo dục, đào tạo và việc làm, cũng như cuộc sống gia đình, đồng thời ảnh hưởng rất lớn tới sự tham gia của họ vào việc

ra các quyết định, thậm chí tại các cấp thấp nhất

2.5 Tổng quan các chính sách liên quan tới NKT và tình hình thực hiện tại

Việt Nam

Chính sách hỗ trợ người khuyết tật được xem là mắt xích quan trọng trong

chính sách an sinh xã hội Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội (6-1991) đã chỉ rõ: "Chính sách XH bảo đảm và không ngừng nâng cao đời

sống vật chất của mọi thành viên trong XH về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh … Chăm lo đời sống những người già cả neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi" Hiến pháp Việt Nam qua các năm 1946, 1959, 1980, 1992, và 2013 đều khẳng định người khuyết tật tật là công dân - thành viên của xã hội, được hưởng đầy

đủ các quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, được chung hưởng thành quả xã hội

Trang 15

Người khuyết tật có quyền được xã hội trợ giúp để thực hiện được quyền bình đẳng và tham gia tích cực vào các hoạt động của xã hội, đồng thời vì tàn tật, họ được miễn trừ một số nghĩa vụ công dân Điều 59 Hiến pháp sửa đổi 2013 khẳng định: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an

sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và

người có hoàn cảnh khó khăn khác”

a Các công ước về Người khuyết tật

Nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Công ước về quyền của người Khuyết tật đã được thông qua vào ngày 13/03/2007 tại Đại hội đồng Liên hợp quốc Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật là một trong những điều ước quốc tế quan trọng của Liên hợp quốc về nhân quyền Công ước đề cập đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật cũng như nghĩa vụ của quốc gia thành viên trong việc bảo vệ và thúc đẩy thực hiện các quyền này

“Mục đích của Công ước này là thúc đẩy, bảo vệ và đảm bảo người Khuyết tật

được hưởng đầy đủ và bình đẳng tất cả quyền con người và quyền tự do cơ bản và thúc đẩy sự tôn trọng phẩm giá vốn có của họ Người Khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy

đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác.” – Điều 1 của Công ước về Quyền của người Khuyết tật

Hiện nay, Việt Nam đã tiến hành phê chuẩn công ước này Việc phê chuẩn Công ước là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng khẳng định cam kết bảo vệ

và thực thi quyền của người khuyết tật tại Việt Nam, thể hiện tư tưởng về tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khuyết tật đã được quy định trong Hiến pháp và nhiều văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội ban hành như Luật người khuyết tật, Bộ luật lao động, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật giáo dục

Về tính hợp hiến và mức độ tương thích của Công ước với các văn bản quy phạm pháp luật, các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy các quy định của Công ước Quyền của người khuyết tật về cơ bản phù hợp với quy định của pháp

Trang 16

luật Việt Nam Ngày 28/11/2014 Quốc hội Viêt Nam đã ra Nghị quyết số 84/2014/QH13 về việc phê chuẩn công ước của Liên hợp quốc về quyền của người Khuyết tật

Nội dung nguyên tắc này được hiểu là khi ban hành hoặc phê chuẩn văn bản pháp luật, chính sách về người khuyết tật các nhà lập pháp, xây dựng chính sách cần tham vấn rộng rãi mọi cá nhân hoặc tổ chức, đặc biệt là người khuyết tật và các tổ chức đại diện cho họ, các tổ chức XH liên quan (ví dụ: công đoàn và tổ chức đại diện của người sử dụng lao động), các tổ chức cung cấp dịch vụ cho người khuyết tật, các chuyên gia tư vấn độc lập… Mỗi tổ chức, cá nhân này dưới góc nhìn và kinh nghiệm của họ đưa đến những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề cần giải quyết Tổng hợp lại

sẽ cho người làm luật, hoạch định chính sách có cái nhìn tổng quát để giải quyết vấn

đề trên cơ sở sự hài hòa giữa quyền của người khuyết tật với lợi ích chung của cộng đồng, XH phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, XH cụ thể Tuy nhiên, phương pháp, cách thức tổ chức tham vấn, vị trí cũng như giá trị tham vấn của tổ chức, cá nhân là khác nhau tùy thuộc vào mô hình tổ chức của mỗi quốc gia

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là một cơ quan chuyên trách của Liên Hiệp Quốc có nhiệm vụ đảm bảo các điều kiện lao động bình đẳng và phù hợp trên toàn thế giới ILO thực hiện sứ mệnh của mình thông qua việc soạn thảo các tiêu chuẩn để các quốc gia phê chuẩn dưới hình thức Công ước và Khuyến nghị về lao động quốc tế Việc tăng cường các cơ hội cho người khuyết tật là một mục tiêu chính của ILO kể từ những năm trước khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc (Xem “Bản tuyên bố của Philadelphia” được thông qua tại Hội nghị ILO tổ chức năm 1944)

b Luật Người khuyết tật

Luật Người khuyết tật “quy định về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật,

trách nhiệm của nhà nước, gia đình và xã hội đối với người khuyết tật” Luật Người

khuyết tật bao gồm 10 chương 53 điều bao gồm những nội dung cơ bản như: Những quy định chung; xác nhận khuyết tật; chăm sóc sức khỏe; giáo dục; dạy nghề và việc làm; văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch; nhà chung cư, công trình công cộng, giao thông, công nghệ thông tin và truyền thông; bảo trợ xã hội; trách nhiệm của cơ quan nhà nước về công tác người khuyết tật; điều khoản thi hành

Trang 17

Luật Người khuyết tật được Quốc hội thông qua năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010; Luật đã được các Bộ, ngành, các địa phương, cơ quan hữu quan nghiêm túc triển khai thực hiện, tuy nhiên tiến độ triển khai còn chậm, hoặc vướng mắc trong quá trình triển khai như việc tổ chức giám định mức độ khuyết tật; đảm bảo tiếp cận của người khuyết tật,

Để tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, môi trường pháp lý toàn diện, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan liên quan và người khuyết tật thực hiện Luật Người khuyết tật, Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020 và các chính sách trợ giúp người khuyết tật, năm 2013 công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực người khuyết tật được các cơ quan tiếp tục triển khai thực hiện

Ngoài luật Người khuyết tật còn có các văn bản luật khác là nguồn của luật người khuyết tật:

- Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007, 2012)

- Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi 2009, 2012)

- Luật Hôn nhân gia đình 2000 (sửa đổi 2014)

- Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004

- Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi 2010)

- Luật Đường sắt 2005

- Bộ Luật Dân sự 2005

- Luật Hàng không dân dụng 2006 (sửa đổi 2014)

- Luật Bảo hiểm xã hội 2006 (sửa đổi 2014)

- Luật Dạy nghề 2006 (sửa đổi thành Luật giáo dục nghề nghiệp 2014)

- Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006

- Luật Thể dục, thể thao năm 2006

- Luật Công nghệ thông tin năm 2006

- Luật Giao thông đường bộ năm 2008

Trang 18

- Luật Xây dựng 2010 (sửa đổi 2014)

Các văn bản luật nói trên là những văn bản quy định trong từng lĩnh vực cụ thể liên quan đến quyền của người khuyết tật Các quy phạm pháp luật trong những văn bản này là cơ sở pháp lý nhằm tạo ra cơ hội, khả năng tiếp cận, điều kiện cho người khuyết tật thực hiện các quyền của mình trong mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội

Trợ giúp pháp lý cho NKT:Người khuyết tật hiện nay được quy định là một

trong số các nhóm đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí theo Điều 3 của Luật Trợ giúp pháp lý

Để kịp thời triển khai thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật theo Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 05/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án trợ giúp cho người khuyết tật giai đoạn 2012-2020 nói riêng (Đề án1019),

Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch năm 2013 triển khai thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật (kèm theo Quyết định số 3888/QĐ-BTP ngày 18/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) và có Công văn số 2705/BTP-TGPL ngày 09/4/2013 về việc hướng dẫn triển khai thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật năm 2013 Trên cơ sở Kế hoạch của Bộ Tư pháp, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hoà Bình đã ban hành kế hoạch thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật tại địa phương

Việc tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý đối với NKT hiện g p phải rất nhiều khó khăn, cụ thể như:

- Việc đi lại, nghe nói, tiếp xúc, trao đổi của NKT rất hạn chế Họ không thể

đến các địa điểm trợ giúp pháp lý lưu động, trung tâm hay chi nhánh để yêu cầu trợ giúp pháp lý

- Với trường hợp bị các dạng tật phức tạp (như câm, điếc) thì việc tiếp cận, trợ giúp pháp lý lại càng vô cùng khó khăn Bởi với họ, chỉ có cách chuyển tải bằng cử chỉ, hình ảnh nhưng cách làm này cũng có rất nhiều hạn chế do số lượng người thực hiện trợ giúp pháp lý có kiến thức và kỹ năng chuyên biệt về trợ giúp pháp lý cho NKT chưa nhiều Thậm chí, ngay đối với người được học ngôn ngữ của người khiếm thính cũng không thể chuyển tải hết nội dung muốn nói do kho ký hiệu giao tiếp cho đối tượng này còn hạn chế

Trang 19

- Số lượng nguời thực hiện trợ giúp pháp lý chưa nhiều lại thiếu kiến thức

và kỹ năng chuyên biệt về trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật nên chưa đáp ứng

nhu cầu của người khuyết tật Ví dụ như với người câm điếc, chỉ có cách chuyển tải bằng cử chỉ, hình ảnh nhưng cách làm này cũng có rất nhiều hạn chế, cản trở khả năng tiếp thu những thông tin, kiến thức pháp luật Vì vậy, có không ít những trường hợp, ngay cả giáo viên của người khiếm thính lâu năm cũng mất rất nhiều thời gian và công sức: Ngồi cả buổi, sử dụng đủ mọi cách, từ cử chỉ tay, chân, miệng đến viết, vẽ nhưng thông tin thu về cũng không đầy đủ và chính xác

- Người khuyết tật và công tác trợ giúp pháp lý chưa tới gần được với nhau còn

do hiện nay, nhiều địa phương chưa hình thành được đội ngũ cộng tác viên là cán

bộ, thành viên của các cơ quan, tổ chức chuyên về người khuyết tật hoặc bản thân họ là người khuyết tật Các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý chưa có sự phối

hợp chặt chẽ với các tổ chức của người khuyết tật như hội người khiếm thị, hội người khiếm thính, hội người khuyết tật, các hiệp hội, cơ sở sản xuất kinh doanh của người khuyết tật trong việc tìm hiểu nhu cầu và trợ giúp pháp lý cho họ khi cần thiết

* Về chăm sóc sức khỏe: Ở Việt Nam, nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho người khuyết tật được Chính phủ giao cho Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành khác xây dựng và thực hiện các chương trình y tế cho người khuyết tật Hiện nay, khung chính sách chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật tương đối đầy đủ cả về phát triển

hạ tầng cơ sở y tế XH cho đến những ưu tiên trợ giúp chăm sóc y tế đối với người khuyết tật Một số chính sách quan trọng như: Chiến lược phục hồi chức năng tại cộng đồng; Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 và luật sửa đổi số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014; Luật Khám bệnh, chữa bệnh 40/2009/QH12 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2011, đã cơ bản đảm bảo cơ sở pháp lý để thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ cho người khuyết tật

Hoạt động hỗ trợ y tế và chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật trong những năm qua vẫn tiếp tục tập trung vào các hoạt động cấp thẻ bảo hiểm y tế, phát hiện sớm, can thiệp sớm, phẫu thuật chỉnh hình, các hoạt động phục hồi chức năng, hỗ trợ dụng cụ trợ giúp (xe lăn, xe lắc, chân tay giả, máy trợ thính, nạng ) Người khuyết tật được cấp thẻ Bảo hiểm y tế theo quy định của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP, tạo điều

Trang 20

kiện thuận lợi cho người khuyết tật khám chưa bệnh, chăm sóc sức khoẻ

* Về trợ cấp xã hội: Thực hiện Nghị định số 67/2007/NĐ-CP, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP, Nghị định số 06/2010/NĐ-CP, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP, Bộ LĐ-TB & XH đã đôn đốc các địa phương thực hiện trợ cấp XH hàng tháng cho đối tượng bảo trợ XH tại cộng đồng, tại các cơ sở bảo trợ xã hội

THÁCH THỨC:

Quá trình thực hiện pháp luật về người khuyết tật nảy sinh nhiều vấn đề bất cập Hệ thống văn bản pháp luật về người khuyết tật không đồng bộ, thiếu tính thống nhất và sự chồng chéo giữa các văn bản luật đã gây khó khăn cho quá trình tổ chức thực hiện Có những quy phạm sau hơn mười năm vẫn không thể thực hiện như quy định lập Quỹ việc làm dành cho người khuyết tật; Quy định bắt buộc một số loại hình doanh nghiệp phải nhận từ 2% đến 3% lao động là người khuyết tật vào làm việc nhưng trên thực tế không khả thi,… Việc bảo đảm cho người khuyết tật tiếp cận các dịch vụ y tế, học văn hoá, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông công

cộng thực tế còn gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại

Đất nước ta đang trong tiến trình tạo lập nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ XH và công bằng XH chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tạo điều kiện khơi dậy mọi nguồn lực, nhân lực để tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu Dân giàu, nước mạnh XH công bằng, dân chủ, văn minh Hơn lúc nào hết cần phải tổ chức tốt hoạt động thực hiện pháp luật

về người khuyết tật với hệ thống pháp luật đồng bộ, không rào cản đối với người khuyết tật nói riêng và hoạt động thực hiện hệ thống pháp luật nói chung Như đã trình bày ở trên, bên cạnh sự quan tâm của chính quyền, đoàn thể và toàn xã hội nói chung, những chính sách và luật pháp giành cho NKT chỉ có thể được thực hiện có hiệu quả nếu có cách tiếp cận tích cực trong đó NKT có tiếng nói trong các quyết định ở các cấp cả về chính sách và các quy định về quyền và lợi ích giành cho họ

Trang 21

III ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

* Tỉnh Hòa Bình

Hoà Bình là tỉnh miền núi, tiếp giáp với vùng đồng bằng Sông Hồng, có nhiều tuyến đường bộ, đường thuỷ nối liền với các tỉnh Phú Thọ, Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, là cửa ngõ của vùng núi Tây Bắc, cách Thủ đô Hà Nội 76 km về phía Tây Nam Phía Bắc tỉnh Hoà Bình giáp Phú Thọ và Hà Nội, phía Nam giáp hai tỉnh Ninh Bình

và Thanh Hoá, phía Đông giáp Hà Nội và Hà Nam, phía Tây giáp tỉnh Sơn La

Tỉnh có 10 huyện, thị xã: Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc, Lạc Sơn, Kim Bôi, ơng Sơn, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Kỳ Sơn và thị xã Hoà Bình với 214 xã, phường, thị trấn

Lư-Tính đến tháng 12/2013, tổng số NKT toàn tỉnh Hòa Bình là 13.500 người (không tính hơn 3000 thương bệnh binh, tai nạn giao thông, tai nạn lao động), trong

đó, 63% NKT là dân tộc Mường, Kinh 25% còn lại là các dân tộc Dao, Tày, Hmông: 12%) Các dạng khuyết tật bao gồm: Vận động: chiếm 33,44%, nghe: 0,91%, nhìn:

11,13%, thần kinh: 16,57%, trí tuệ: 11,24% và các loại khác: 18,61% (Hội Bảo trợ

người khuyết tật và trẻ mồ côi tỉnh Hòa Bình, 2013)

3.1 Thành phố Hoà Bình

Thị xã Hoà Bình (nay là Thành phố Hòa Bình) được lập 05/09/1896 khi Sở Lỵ tỉnh Mường ở chợ Bờ bị nghiã quân Đốc Ngữ tập kích và chuyển về xóm Đúng thuộc

xã Hòa Bình và mang tên là Thị xã Hòa Bình

Trên bản đồ hành chính hiện nay, Sông Đà chia thành phố thành hai phần: bên

bờ phải và bên bờ trái Hiện nay thành phố Hòa Bình gồm 15 đơn vị hành chính 8 phường, 7 xã Thành phố Hòa Bình có địa hình núi chiếm ưu thế (chiếm 75% diện tích

tự nhiên), phân bố bao quanh và ôm trọn khu vực trung tâm

Xã Yên Mông được chọn để khảo sát nằm ở ven Sông Đà Một xã nằm cách

xa trung tâm thành phố 15km về phía Bắc Xã có 9 thôn Vốn là 1 xã thuộc huyện Kỳ Sơn, mới được sát nhập vào thành phố 10/1991 Đến thời điểm nghiên cứu, Yên

Trang 22

Mông có diện tích tự nhiên xấp xỉ 2.500 ha Dân số toàn xã là 822 hộ, 3521 người, phân bố ở 9 xóm Người Mường chiếm 85% còn lại là người Kinh, Thái, Dao và Tày (15%) Tổng số NKT của toàn xã là 167 người (Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Yên Mông)

Thôn Yên Hòa chủ yếu là người Mường tại chỗ chiếm 85%, còn lại 15% là hộ Kinh, Dao di dân tự do đến gần đây và về làm dâu Yên Hòa có 114 hộ (634 khẩu) Thu nhập chính của các hộ gia đình trong thôn là trồng trọt và chăn nuôi Yên Hòa thuộc diện kinh tế khá của xã Yên Mông Số người khuyết tật trong thôn đều là người

Mường trong đó, trẻ em là 10/14 trường hợp, nhưng chỉ có 2 trường hợp đặc biệt

nặng

3.2 Huyện Đà Bắc

Đà Bắc là một huyện vùng cao nên điều kiện tự nhiên tương đối đặc thù, có địa hình đồi, núi, sông, suối xen kẽ tạo thành nhiều dải hẹp bị chia cắt mạnh nên đất có độ dốc lớn (bình quân 350

) Diện tích tự nhiên là 77.796 ha; Dân số: 53.204 người gồm 4 dân tộc anh em cùng sinh sống: Mường, Tày, Dao và Kinh, trong đó người Mường chiếm tỷ lệ hơn 75% Theo điều tra dân số tháng 4/2009, huyện có dân số 53.128 người Sau khi chia tách xã Tân Dân về huyện Mai Châu vào tháng 7/2009, dân số của huyện là 52.381 người

Xã Tu Lý được chọn khảo sát có diện tích tự nhiên 45,22 km², dân số 5.087

người gồm các dân tộc Dao, Mường, Kinh và Tày Hai cộng đồng người Dao được chọn khảo sát là Dao quần Chẹt và Đeo Tiền ở xóm Mít và Mạ Tổng số NKT trong toàn xã là 231 người Xã chưa có được danh sách phân loại mức độ khuyết tật của các đối tượng này (Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Tu Lý)

Xóm Mạ có 103 hộ, 476 khẩu trong đó Dao 93 hộ 444 khẩu, còn lại Mường 5

hộ (27 khẩu), Kinh và Tày 5 khẩu (con rể và dâu) Năm 2014, tình hình đời sống cư dân xóm Mạ thuộc diện nghèo: 46 hộ nghèo, 36 hộ cận nghèo Thu nhập của các hộ

dựa vào trồng trọt, chăn nuôi và làm thuê Xóm có 18 người thuộc diện khuyết tật, trong đó NKT nặng và đặc biệt nặng là 10

Trang 23

Xóm Mít có 96 hộ, trong đó Dao 94 hộ (425 khẩu), chỉ có 2 hộ Mường (8 khẩu) Xóm Mít tuy không thuộc diện đặc biệt khó khăn, nhưng mức sống của hộ gia đình thuộc diện trung bình Đặc biệt ở số hộ có con, vợ hoặc chồng là người khuyết tật đều thuộc diện nghèo, không đủ ăn Số người khuyết tật của xóm đều là người Dao

Số phải vào trung tâm công tác xã hội chăm sóc đặc biệt của tỉnh có 2 trường hợp (Thần kinh 1 và bại liệt bẩm sinh 1)

3.3 Huyện Mai Châu

Huyện Mai Châu có 1 thị trấn huyện lỵ (Mai Châu) và 22 xã: Cun Pheo, Bao

La, Piềng Vế, Xăm Khòe, Mai Hịch, Vạn Mai, Mai Hạ, Chiềng Châu, Nà Phòn, Nà Mèo, Tòng Đậu, Đồng Bảng, Phúc Sạn, Tân Sơn, Tân Mai, Ba Khan, Thung Khe, Noong Luông, Pù Bin, Hang Kia, Pà Cò, Tân Dân Mai Châu có diện tích tự nhiên 564,54 km², dân số 55.663 người gồm 4 dân tộc sinh sống: Thái, Mường, và Hm ông

Hai thôn người Thái được chọn khảo sát là thôn Tòng và thôn Đậu thuộc

xã Tòng Đậu Thôn Tòng có 130 hộ (552 khẩu) Trong đó, người Mường có 3 hộ (18

khẩu), Kinh 4 người về làm dâu, còn lại là người Thái Kinh tế của các hộ gia đình trong thôn đều dựa vào làm ruộng 2 vụ và trồng rừng Bên cạnh đó, chăn nuôi là ngành bổ trợ và theo cung cách và kỹ thuật truyền thống Sản phẩm nông nghiệp (chăn nuôi và trồng trọt) ít được đem bán, chủ yếu là tự cung, tự cấp Số hộ thuộc diện nghèo và cận nghèo trong thôn tuy chiếm tỷ lệ rất ít (28/130 hộ), nhưng nhìn chung Thôn Tòng vẫn chưa phải là một cộng đồng thuộc diện khá về kinh tế của xã Tòng Đậu Tổng số NKT của hai thôn là 27 người, cũng như những địa bàn khác, số người thuộc diện khuyết tật trừ 3 trường hợp là thương binh, còn lại đều là hộ nghèo Số người này đều đang được bố mẹ hoặc anh em trong gia đình nuôi dưỡng và trợ giúp

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin thứ cấp (nghiên cứu tài liệu)

Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp liên quan tới việc sử dụng những dữ liệu sẵn có được thu thập từ các cuộc nghiên cứu đánh giá trước để tìm hiểu về những khía cạnh liên quan tới những vấn đề đã đặt ra Bao gồm việc thu thập và nghiên cứu

Trang 24

tài liệu liên quan từ năm 2011 đến nay để có cái nhìn tổng quan về quá trình thực hiện Luật Người khuyết tật (bao gồm các báo cáo của các bên có liên quan như Hội Luật gia tỉnh, Trung tâm trợ giúp pháp lý Hòa Bình, Hội Bảo trợ Người khuyết tật, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Hòa Bình…) Đặc biệt là các thông tin/bài học kinh nghiệm được rút ra từ những nghiên cứu trước đó hoặc/và những báo cáo thường niên của các cơ quan hữu quan về việc bảo trợ người khuyết tật

Thu thập những số liệu thống kê, chính sách ở các cấp ban ngành tỉnh Hòa Bình, hai huyện Mai Châu, Đà Bắc và thành phố Hòa Bình liên quan đến nghiên cứu, hay việc thực thi Luật Người khuyết tật tại địa bàn tỉnh Hòa Bình Phân tích các văn bản chính sách cấp nhà nước liên quan tới người khuyết tật Mục tiêu của thông tin này cho thấy vai trò quản lý, điều phối của các chính sách đáp ứng nhu cầu thay đổi của XH nói chung cũng như đời sống của người khuyết tật nói riêng

4.2 Phương pháp thực địa

Việc áp dụng phương pháp thực địa và nghiên cứu trường hợp đặc biệt thích hợp với việc đánh giá một chương trình, một quyết định hay một chính sách nào đó Nghiên cứu sử dụng phương pháp này để tiền hành nghiên cứu ở các địa bàn khác nhau cùng áp dụng một chính sách nhằm làm cơ sở cho việc áp dụng các văn bản Luật, một chương trình bảo trợ hay áp dụng triển khai nhân rộng khi thấy mô hình hiệu quả

Việc tham gia thực địa sẽ cho thấy hiệu quả của các kiến thức, các hoạt động bảo trợ của chương trình, các Luật và văn bản dưới Luật có hiệu quả hay tác động của chương trình có bền vững hay không, có khó khăn trở ngại để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm Có cần điều chỉnh bổ sung vào chiến lược phát triển của văn bản Luật, chương trình bảo trợ cho phù hợp với từng địa phương, vùng miền mà trước đó chưa nhận diện được

4.3 Phương pháp thu thập thông tin định lượng

Nghiên cứu đánh giá sử dụng bảng hỏi để điều tra đánh giá trên diện rộng và

thu thập được nhiều thông tin theo chủ ý của người thiết kế bảng hỏi về tình hình triển

Trang 25

khai Luật người khuyết tật tại cộng đồng, hiểu biết của họ về lĩnh vực thực thi chính sách của nhà nước nói chung và chính sách dành riêng cho người khuyết tật Mục tiêu của bảng hỏi nhằm thu thập thông tin định lượng và trả lời các câu hỏi về việc thực hiện Luật Người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Hòa Bình nhằm tìm ra các rào cản trong việc đảm bảo những quyền và lợi ích cơ bản của người khuyết tật, cũng như tăng cường trách nhiệm của chính quyền, đoàn thể và toàn XH đối với người khuyết tật

4.4 Phương pháp thu thập thông tin định tính

Là việc áp dụng một hoặc một chuỗi câu hỏi mở nhằm tìm hiểu xem các ban ngành các cấp tại địa bàn nghiên cứu đã và đang vận hành, áp dụng những chính sách của Nhà nước vào thực tế tại địa phương như thế nào Bên cạnh đó, tìm hiểu người dân đặc biệt là người khuyết tật đang suy nghĩ gì và làm như thế nào về những thay đổi sau khi Luật Người khuyết tật và các văn bản hướng dẫn thi hành được thực thi tại

địa phương Phỏng vấn sâu thường giúp phát hiện ra những điều mà quan sát không

thể thấy được như ý nghĩ, dự định, kinh nghiệm… của người được hỏi trước, trong và sau khi áp dụng văn bản luật diễn ra Ngoài ra, phỏng vấn sâu cho phép người đánh giá nắm bắt được quản điểm của người được phỏng vấn về văn bản Luật trong khuôn khổ văn hóa/ngôn ngữ của họ

4.5 Mẫu và chọn mẫu nghiên cứu

Nghiên cứ bao gồm cả người khuyết tật và người không khuyết tật Do trên thực tế không có danh sách người khuyết tật và không khuyết tật phân theo Khung phân loại Quốc tế về Chức năng, khuyết tật và sức khỏe tại các địa bàn dự án hay danh sách lưu trữ tại Sở LĐ-TB & XH tỉnh Hòa Bình, nghiên cứu này đã xây dựng và

sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giải, với tỷ lệ từ 10 – 15% cộng đồng làm mục tiêu nghiên cứu

Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản là cách chọn mẫu mà ở đó mỗi đối tượng nghiên cứu đều có cơ hội như nhau và độc lập để được chọn Theo đó, dựa trên bảng

kê khai hộ khẩu hộ tịch được lưu giữ tại địa phương của các hộ gia đình làm đối tượng

để hỏi Tại mỗi huyện/thành phố sẽ chọn ra một xã, mỗi xã chọn ngẫu nhiên ra 2

Trang 26

thôn/bản Tại mỗi thôn/bản danh sách hộ gia đình được liệt kê ngẫu nhiên chọn 15% trên tổng danh sách

4.6 Cỡ mẫu nghiên cứu

- Nghiên cứu định lượng: Dự kiến mỗi thôn/bản có khoảng 100 người được chọn tham gia vào nghiên cứu, có 6 thôn/bản của 3 xã thuộc 2 huyện và 1 thành phố

- Nghiên cứu định tính: dự kiến sẽ có 120 cuộc phỏng vấn sâu chia đều cho các thôn/bản và dân tộc khác nhau trên địa bàn nghiên cứu

Các nhóm thông tin chính cần thu thập bao gồm:

- Ai là những người được hưởng lợi từ Luật Người khuyết tật được thực hiện ở cộng đồng?

- Sự tham gia của người dân và cộng đồng như thế nào?

- Những thuận lợi và rào cản đối với quá trình thực hiện tham gia đối với Luật Người khuyết tật là gì?

- Những nguyên nhân chính nào và tại sao lại như vậy?

- Những vấn đề gì đang đặt ra và các giải pháp hữu hiệu nào có thể thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quá trình thực hiện Luật Người khuyết tật ở cấp cộng đồng?

- Vai trò của chính quyền, đoàn thể và cộng đồng trong lĩnh vực này là gì?

4.7 Xử lý số liệu và phân tích

Số liệu thu thập được nhập vào máy tính bằng phần mềm SPSS 16.0 Nghiên cứu này sử dụng quy trình nhập phiếu 1 lần, ngay sau khi hoàn thành việc nhập số liệu, quá trình làm sạch được tiến hành Giá trị hợp lệ và tính thống nhất của số liệu được kiểm tra lại một lần nữa, ngoài ra các bước kiểm tra phúc tạp hơn như kiểm tra chéo, kiểm tra tính thống nhất giữa các phần của bảng hỏi cũng được áp dụng

Trang 27

V KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Số liệu của đợt khảo sát được phân tích trên 622 mẫu trên địa bàn được lựa chọn theo chủ định là 2 huyện và 1 phường đại diện cho khu vực nông thôn đô thị Cụ thể các mẫu được phân bố như sau: 198 mẫu tại huyện Mai Châu, 222 mẫu tại huyện

Đà Bắc và 202 mẫu đại diện cho thành phố Hoà Bình Đối tượng tham gia khảo sát thuộc các nhóm dân tộc như sau: Nhóm dân tộc Thái chiếm 31,5%; dân tộc Mường chiếm hơn 48,2%; nhóm dân tộc Dao chiếm 16,1% và hơn 4% là các nhóm dân tộc khác Đa số người tham gia đợt khảo sát là nông dân (78,1%) và có tới 74,2% người được hỏi cho biết đã từng nghe nói tới Luật NKT

Trang 28

Trong số mẫu khảo sát thì có tới 13,5% là người khuyết tật, trong đó nữ chiếm 64% và còn lại 36% là nam giới Có tới 42% người khuyết tật trong mẫu khảo sát thuộc nhóm tuổi từ 61 trở lên và khả năng mắc đa khuyết tật cũng gia tăng theo độ tuổi, tiếp đến là nhóm tuổi từ 47-60 chiếm 28,5% Trong nhóm khuyết tật từ độ tuổi từ 47-60, có tới 1/3 số người gặp phải những khó khăn về nghe, nhìn, đi lại, nhận thức,

tự chăm sóc bản thân và giao tiếp Một số người khuyết tật có ít nhất 2 khuyết tật trở lên Già hóa là nguyên nhân chính của khuyết tật (45,9% người khuyết tật) Bệnh tật là nguyên nhân phổ biến thứ 2 (41%) và nguyên nhân thứ 3 là do tai nạn (9,2%)

5.2 Đánh giá hiệu quả triển khai Luật NKT

5.2.1 Về chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

- Chủ thể thực hiện chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

Hiện nay, việc chăm sóc sức khỏe NKT được thực hiện dựa vào: (i) các chế độ chăm sóc sức khỏe do Nhà nước thực hiện, bao gồm các cơ sở y tế nhà nước, các cơ

sở y tế tự nhân và các cơ sở y tế khác; (ii) chế độ chăm sóc do các tổ chức khác thực hiện bao gồm các tổ chức nhân đạo, các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực trợ giúp cho NKT,… (iii) Chế độ chăm sóc sức khỏe do gia đình và bản thân NKT thực hiện

Thực tế khảo sát cho thấy, trên địa bàn 3 huyện Mai Châu, Đà Bắc và Thành phố Hòa Bình, việc chăm sóc sức khỏe cho NKT vẫn chủ yếu là do gia đình và bản thân người khuyết tật thực hiện, cùng với đó là các chế độ chăm sóc sức khỏe cơ bản

do Nhà nước quy định Chỉ có 20% người khuyết tật được phỏng vấn biết đến các hoạt động chăm sóc sức khỏe từ bên ngoài Lãnh đạo chính quyền địa phương cho biết cũng đã có những quan tâm, nhưng do những khó khăn kinh phí eo hẹp, nhu cầu lại quá lớn nên chưa thể có được sự quan tâm chăm sóc cho các đối tượng thuộc diện NKT

Gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe NKT, đặc biệt trong việc phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thương tích và các nguy cơ khác dẫn đến khuyết tật; bản thân NKT cũng cần phải có hiểu biết

về sức khỏe, các biện pháp phòng ngừa bệnh tật, tự chăm sóc bản thân Tuy nhiên,

Trang 29

thực tế là cả người khuyết tật cũng như các đối tượng khác đều rất ít có cơ hội được tiếp cận với các hoạt động nâng cao năng lực về vấn đề này Chính quyền và đoàn

thể địa phương đã thực hiện một số đợt tuyên truyền, phổ biến về Luật NKT và các quy định khác về quyền và lợi ích của người khuyết tật Tuy nhiên, những hoạt động này chưa thể thay đổi và cải thiện được điều kiến sống của người khuyết tật và vì vậy, các gia đình có người khuyết tật vẫn là chỗ dựa chủ yếu của các đối tượng khuyết tật ở các địa bàn nghiên cứu

- Nội dung các hoạt động chăm sóc sức khỏe NKT

Chế độ phòng bệnh để ngăn ngừa khuyết tật xảy ra hay làm giảm nguy cơ gây nên khuyết tật chưa được chú trọng Người dân chủ yếu chỉ quan tâm đến chế độ khám, chữa bệnh và các chế độ chỉnh hình, phục hồi chức năng

VẤN ĐỀ: Nguyên nhân của tình trạng này là do hiện nay nhận thức về vấn đề sức khỏe của người khuyết tật chủ yếu dừng lại ở các hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe trực tiếp Bản thân người khuyết tật cũng không có tiếng nói cần thiết để tự bảo vệ cho những quyền và lợi ích của chính bản thân họ, Nghĩa là họ hoàn toàn thụ động và nhìn nhận chính bản thân như những đối tượng cần được xã hôi giúp đỡ Phần đông người khuyết tật chỉ khi có vấn đề về sức khỏe mới tìm kiếm các dịch vụ hỗ trợ y tế Đặc biệt là ở khu vực miền núi và dân tộc thiểu số, nhận thức này có xu hướng rõ rệt hơn

GIẢI PHÁP:

- Cần có những hỗ trợ trong việc hình thành các nhóm dưới dạng câu lạc bộ ở cấp thôn bản để NKT có thể gặp gỡ, trao đổi, dẫn đến các xuy nghĩ tích cực hơn đối với người khuyết tật Chính quyền và đoàn thể địa phương có thể tổ chức các câu lạc bộ này vì không cần nhiều kinh phí

- Đa dạng hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật, cần thực hiện đồng bộ các hoạt động chăm sóc y tế và chăm sóc ngoài y tế

- Tăng cường hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người khuyết tật: tăng cường kiến thức và hiểu biết của NKT về việc tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng Đặc biệt đối với vùng miền núi và dân tộc

Trang 30

thiểu số cấn loại bỏ dẫn những lối sống, thói quen và phong tục tập quán có hại cho sức khỏe, các hủ tục lạc hậu

- Bổ sung nhân lực, kinh phí khám chữa bệnh cho NKT: thông qua việc mở rộng

và đa dạng hóa các tổ chức hỗ trợ cho NKT, huy động nguồn lực từ các tổ chức

xã hội – đoàn thể của địa phương Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, kinh phí chủ yếu vẫn do ngành Y tế cấp Hệ thống mạng lưới phục hồi chức năng mỏng, thiếu cán bộ; mô hình tổ chức các cơ sở phục hồi chức năng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển hết các cơ sở y tế cấp xã thiếu người có chuyên môn, kinh nghiệm về khám, chữa bệnh cho NKT

5.2.2 Về giáo dục, dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật

cơ sở giáo dục bán hòa nhập (phương thức giáo dục kết hợp giữa giáo dục hòa nhập

và giáo dục chuyên biệt cho người khuyết tật trong cơ sở giáo dục) Đối với giáo dục chuyên biệt, là phương thức giáo dục dành riêng cho người khuyết tật trong cơ sở giáo dục, cũng rất hạn chế Cụ thể: người khuyết tật theo học ngôn ngữ ký hiệu (khuyết tật khiếm thính), và ngôn ngữ Braille chữ nổi (khuyết tật khiếm thị) rất hạn chế

Đặc biệt, đối với khuyết tật trí tuệ, do nhận thức chưa đầy đủ về vấn đề này, các khuyết tật về trí tuệ chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến việc hỗ trợ về giáo dục cho nhóm đối tượng này rất kém

- Dạy nghề và việc làm

Thông qua các cuộc thảo luận nhóm, đại bộ phận người khuyết tật cho biết họ chủ yếu làm các công việc thủ công truyền thống nhu: đan lát mây tre, bện thừng, làm chổi, dệt đay,… và các công việc gia đình khác như: trồng rau, chăn nuôi gia súc, gia

Trang 31

cầm Tỷ lệ người tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ rất thấp Nếu tham gia, chủ yếu là do người khuyết tật tự thành lập hoặc được thành lập bởi gia đình Việc tiếp cận với việc làm của doanh nghiệp hầu như không đáng kể Trên thực

tế, số lượng các doanh nghiệp trên địa bàn Quận Mai Châu và Đà Bắc là không nhiểu,

vì vậy cơ hội để người khuyết tật tiếp cận với các hoạt động này rất hạn chế

VẤN ĐỀ:

Đối với NKT ít có cơ hội, hoặc không được tiếp cận với giáo dục, dạy nghề thì hầu hết họ tự tạo công việc cho mình, làm những công việc về nông nghiệp hoặc ở trong tình trạng thất nghiệp, sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình Mạng lưới các cơ sở dạy nghề rất mỏng, không có nhiều lựa chọn, đặc biệt là đối với các vùng miền núi xa Hơn nữa, theo đánh giá của người dân, với chương trình hỗ trợ phổ biến hiện nay là

03 tháng và kinh phí hỗ trợ hạn chế chỉ đủ cho người khuyết tật tạm biết việc chứ không đủ để NKT sống được bằng nghề đào tạo

GIẢI PHÁP:

- Kết hợp với các nhóm hoặc câu lạc bộ như đã trình bày ở phần Nội dung các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho NKT để tổ chức dạy và học nghề phù hợp với NKT

- Chính quyền, các đoàn thể địa phương, các tổ chức xã hội, và cộng đồng cần có

hỗ trợ dưới nhiều hình thức để kết nối các nhóm này với thị trường nhằm tiêu thụ sản phẩm Kinh phí ban đầu cho các nhóm này có thể đươc huy động từ nhiều nguồn, bao gồm cả các nguồn từ nhà nước, các tổ chức địa phương, các

tổ chức xã hội và của cộng đồng

- Các nhóm này có thể liên kết với các nhóm khác để tổ chức sản xuất và đa dạng hóa các loại sản phẩm và tổ chức các dịch vụ phù hợp với khả năng như sản xuất mây tre đan, tăm tre, vật lý trị liệu, v.v Thành viên của các nhóm sản xuất này là các đối tượng NKT và sẽ được chi trả các khoản phụ cấp dựa trên khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của nhóm đó

Trang 32

5.3 Đánh giá nhận thức của người dân về Luật NKT và các chính sách hiện

hành liên quan tới người NKT

5.3.1 Tiếp cận thông tin

Với câu hỏi “Ông bà có biết đến Luật người khuyết tật không?” thì có tới 90%

trên tổng số mẫu nghiên cứu đều cho biết “Có nghe nói” hoặc “Đã biết” về Luật NKT

Cụ thể như có tới 92,8% người được hỏi tại huyện Đà Bắc cho biết là có nghe nói tới hoặc đã biết về Luật NKT (Mai Châu 84% và TP.Hoà Bình là 91%)

Kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng tỷ lệ người dân tại 3 địa bàn nghiên cứu cho

rằng “Chính quyền địa phương có phổ biến chính sách, pháp luật về NKT” khá cao

Cụ thể là có tới 83,7% người được hỏi tại huyện Đà Bắc và 77,7% người được hỏi tại huyện Mai Châu cho biết là Chính quyền có phổ biến chính sách và pháp luật về NKT (Trong khi đó thành phố Hoà Bình có 67,3% trả lời có)

Mặc dù tỷ lệ người biết đến Luật NKT khá cao nhưng qua các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm thì cho thấy hầu hết người dân chưa nêu ra được những nội dung cơ bản của Luật NKT, như: quyền của người khuyết tật theo các nhóm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa; trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc chăm sóc, tôn trọng và bảo đảm quyền của người khuyết tật.v.v

Biểu đồ 1: Tỷ lệ % người dân trên từng địa bàn nghiên cứu biết về Luật NKT

0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100

Mai Châu (n=198) (n=222) Đà Bắc TP Hòa Bình(n=202)

Trang 33

Kênh thông tin chính để người dân tại hai vùng nông thôn và đô thị biết tới

Luật NKT chủ yếu qua kênh “Thông tin từ đài, tivi và báo chí…” (Nông thôn

46,1% và đô thị 61,2%) Ngoài ra việc tiếp cận thông tin “Qua phổ biến ở họp tổ dân

phố/thôn/bản” dược đánh giá là kênh cung cấp thông tin quan trọng đứng thứ 2 cho

người dân tại 2 vùng nông thôn (37,1%) và đô thị (30,2%) Tỷ lệ tiếp cận thông tin qua người khác nghe nói và con đường thông tin khác không đáng kể (chi tiết tại bảng 2)

Bảng 1: Bảng tương quan tỷ lệ người dân tại các khu vực được tiếp cận thông

tin qua các kênh các nhau

Khu vực

Kênh thông tin (%)

ua phổ biến

ở họp tổ dân phố thôn bản

ua hội họp ở phường xã

Do nghiệp

vụ, chuyên môn liên quan

Qua thông tin đài, ti

vi, báo chí v.v

Nghe người khác nói

Con đường thông tin khác

Trong thời gian vừa qua với sự phối hợp của các kênh thông tin và truyền thông trong và ngoài tỉnh Hoà Bình luôn được chú trọng Nội dung tuyên truyền gồm Luật Người khuyết tật, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về người khuyết tật, kỹ năng tư vấn cho người khuyết tật, gia đình có người khuyết tật cũng như những tấm gương nghị lực của người khuyết tật đã vượt khó vươn lên

Tuy nhiên, kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng hầu hết người dân khi được hỏi

“Những điều mà ông bà biết đã nêu trong Luật NKT là gì?” thì có đến 80% người dân

được hỏi cho biết đó là Quyền lợi về vật chất như trợ cấp tiền hay quà biếu… Và chỉ

có tới 23% người dân đề cập tới quyền được giúp đỡ khuyến khích trong học tập và được hỗ trợ, ưu tiên giúp đỡ trong tuyển dụng hay tham gia hoạt động xã hội Bên

Trang 34

cạnh đó có tới 36,3% người được hỏi đề cập tới quyền ưu tiên khám chữa bệnh trong Luật NKT và 20,5% người nhắc tới quyền được ưu tiên khi đi lại trên các phương tiện giao thông công cộng trong Luật NKT Vấn đề là ở chỗ không có ai trong số những người được hỏi đề cập đến việc cần tổ chức và tạo quyền năng để NKT có thể chủ động tự tin và chủ động tham gia vào các hoạt động xã hội và về lâu dài vào quá trình

ra quyết định

Người khuyết tật luôn gặp nhiều thiệt thòi trong cuộc sống Vì vậy, việc được tiếp cận pháp luật bình đẳng như mọi người bình thường cũng là cách giúp NKT dễ dàng hòa nhập với xã hội Do đó, hoạt động truyền thông về pháp luật và trợ giúp pháp lý cho nhóm đối tượng này cầnđược tỉnh Hoà Bình đẩy mạnh, để giúp họ dễ dàng biết quyền được trợ giúp pháp lý của mình và tiếp cận với hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí Những phát hiện của nghiên cứu cho thấy tỉnh Hòa Bình cần có nhiều nỗ lực hơn nữa để thay đổi nhận thức và cách tiếp cận theo hướng tạo quyền năng cho NKT thì mới thực sự thay đổi lâu dài về đảm bảo chính sách đối với NKT và

và các nhóm thiệt thòi nói chung

Trong thời gian vừa qua tỉnh Hoà Bình đã triển khai kịp thời và có hiệu quả các hoạt động như: Xây dựng nội dung trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật trong các chuyên trang, chuyên mục chung về trợ giúp pháp lý trên Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, in ấn, cấp phát tờ rơi, tờ gấp và sách pháp luật để cấp phát miễn phí cho người khuyết tật; thực hiện các hoạt động trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật thông qua các hình thức: Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng; tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động và hướng dẫn sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý tại các

xã, thị trấn, các Hội người khuyết tật, cơ sở bảo trợ xã hội, trường học, cơ sở kinh doanh, các tổ chức khác của người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Hoà Bình

Khi đề cập đến câu hỏi “Chính quyền có phổ biến chính sách, pháp luật về

NKT không?” tại tại huyện Đà Bắc thì có tới 83,7% cho rằng chính quyền địa phương

có phổ biến pháp luật về NKT Cũng với câu hỏi đó tại huyện Mai Châu thì có 77,7% người được hỏi cho rằng Chính quyền có phổ biến pháp luật và chỉ có 67,3% người được hỏi tại thành phố Hoà Bình cho rằng là “Có” Tuy nhiên để có thể chuyển từ ‘có biết’ đến hành động cụ thể để tự bảo vệ quyền của mình vẫn còn là quãng đường dài

Trang 35

Nói cách khác, truyên truyền và phổ biến mới chỉ là bắt đầu cho sự thay đổi nhận thức

và như thế là chưa đủ tạo ra sự thay đổi

Bảng 2: Tỷ lệ % người dân biết về Luật NKT qua các kênh thông tin

Kết quả khảo sát cho thấy người dân biết tới Luật NKT chủ yếu được tiếp cận thong tin về Luật NKT qua kênh thông tin đại chúng là cao nhất (66,24% tiếp cận qua tivi, đài và báo chí) Hoạt động tiếp cận các thông tin về luật và chính sách cho NKT thông qua các cuộc họp tại thôn bản được đánh giá được đánh giá là nguồn cung cấp tin chính thứ 2 cho người dân tại Hoà Bình (Chiếm 45,3% trong số người được hỏi)

5.3.2 Thực thi chính sách tại địa phương

Không xem nhẹ người khuyết tật và không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ về vật chất, người khuyết tật cần được trợ giúp về mọi mặt để phát triển như một công dân bình thường, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ như mọi người Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi, giúp người khuyết tật có được cuộc sống

ổn định cả về vật chất và tinh thần Tuy nhiên, tại mỗi địa phương, việc áp dụng các chính sách vào cuộc sống đang có nhiều rào cản cần phải gỡ bỏ:

+Y tế:

Chính sách khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng để NKT sống độc lập và hòa nhập cộng đồng đã được quy định khá đầy đủ, cụ thể trong các văn bản pháp luật Tuy nhiên, hiện nay vấn đề này mới chỉ được dừng lại ở chủ trương, chính sách, mà chưa có quy định cụ thể để NKT có thể tiếp cận dịch vụ hỗ trợ tại nhà, khu vực sinh sống cũng như cộng đồng

Trang 36

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hòa Bình việc triển khai công tác này hiện đang rất thiếu nhân lực và không có kinh phí hoạt động vì kinh phí chủ yếu vẫn do ngành Y tế cấp Bên cạnh đó, hệ thống mạng lưới phục hồi chức năng mỏng, thiếu cán bộ Bên cạnh đó, mô hình tổ chức các cơ sở phục hồi chức năng còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển

Cũng theo kết quả khảo sát, hầu hết các cơ sở y tế cấp xã thiếu người có chuyên môn, kinh nghiệm về khám, chữa bệnh cho NKT Rất ít trạm y tế xã thực hiện việc lập hồ sơ quản lý đối tượng, theo dõi tình hình sức khỏe của NKT theo quy định của Luật NKT Đây là thiệt thòi lớn đối với NKT

+ Giáo dục

Người khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với quy định chung là 3 tuổi Cũng giống như học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú và học sinh là người dân tộc, người khuyết tật được tuyển thẳng vào trường mà không phải tham dự kỳ thi Khi được hỏi có biết những chính sách miễm giảm học phí đối với những người khuyết tật không? Câu trả lời có tới 67% cho rằng có nhưng để được hưởng chế độ thì người khuyết tật hay người thân của người khuyết tật phải “vất vả lắm” mới hoàn thành thủ tục hành chính để được xét và số tiền được xét, miễn không làm giảm bớt đi gánh nặng chi tiêu trong gia đình

+ Trợ cấp xã hội

Năm 2013, UBND tỉnh Hòa Bình ban hành Đề án trợ giúp người khuyết tật tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2013-2020, trong đó nhấn mạnh mục tiêu: Hỗ trợ người khuyết tật phát huy khả năng của mình để đáp ứng nhu cầu bản thân, từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội trên tất cả các lĩnh vực Trong giai đoạn 2013-2015, Hòa Bình phấn đấu mỗi năm đạt 80% số người khuyết tật được tiếp cận các dịch vụ y tế, 70% trẻ em khuyết tật có khả năng học tập, được tham gia học tập và miễn giảm học phí theo quy định Ít nhất 50% người khuyết tật có nhu cầu tham gia giao thông được sử dụng phương tiện giao thông

và công trình công cộng, 100% người khuyết tật được hỗ trợ pháp lý khi có nhu cầu Tỉnh cũng giao cho Sở Lao động-Thương Binh và Xã hội là đơn vị chủ trì xây dựng

Kế hoạch và triển khai các giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất giúp người khuyết

Trang 37

tật tiếp cận các chương trình an sinh xã hội và các biện pháp giảm nghèo, đồng thời

hỗ trợ đẩy mạnh về xây dựng cơ sở vật chất, giúp họ có cơ họi tiếp cận việc làm, bảo đảm cuộc sống và hòa nhập cộng đồng

Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát, người được hưởng chế độ trợ cấp xã hội là người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng (3.8%) với mức hỗ trợ là 270.000 đồng/tháng và người cao tuổi cùng với khuyết tật đặc biệt nặng là 360.000đồng/tháng

Ngoài ra, những người bị khuyết tật về chức năng nghe, nhìn, đi lại, giao tiếp… thì hầu như không có chỉ được sự chăm sóc từ gia đình và chính bản thân họ

5.3.3 Nhận thức và thái độ cộng đồng đối với NKT và các chính sách cho NKT

Rào cản lớn không phải là những định kiến xã hội hay sự cản ngăn quyết liệt của gia đình, mà chính là bản thân không vượt qua được mặc cảm bản thân Với câu

hỏi “Theo ông bà người khuyết tật có bị m c cảm với những người khác không?” thì

có tới 53,7% người được hỏi đều cho rằng NKT có mặc cảm với những người khác trong xã hội

Kết quả khảo sát về những lý do mà NKT thường mặc cảm với xã hội chủ yếu tập trung ở việc giao tiếp với cộng đồng (33,4%), có tới 3,8% người dân khi được hỏi cho biết là người khuyết tật sẽ mặc cảm với cộng đồng trong quá trình sinh hoạt và hoà nhập với cộng đồng và có 2,8% cho rằng người tật sẽ gặp mặc cảm trong quá trình học tập Tiếp đến là có 1,2% người dân được hỏi cho rằng NKT sẽ mặc cảm trong các trường hợp sau: i) cảm thấy thiệt thòi về mọi mặt; ii) ngoại hình; iii) không bằng người bình thường

Không thể phủ nhận rằng, những người khuyết tật nhìn chung đều là những người có sức khỏe kém hơn, có mức độ giáo dục thấp hơn và có tỷ lệ nghèo cao hơn

so với người không khuyết tật Điều này bắt nguồn từ việc thiếu vắng các dịch vụ hỗ trợ song lại tồn tại quá nhiều trở ngại mà họ gặp phải trong cuộc sống hàng ngày Những trở ngại rất nhiều và đa dạng, một số có liên quan đến môi trường thể chất của

Trang 38

con người, và một số phát sinh từ hệ thống chính sách pháp luật, và một số khác bắt nguồn từ những thói quen và thái độ của cộng đồng và các vấn đề phân biệt đối xử

Người khuyết tật có điểm số kỳ thị cao hơn và có nguy cơ bị kỳ thị ở mức độ cao nhiều hơn so với người không khuyết tật Kết quả này vẫn đúng khi phân tích riêng biệt cho từng dạng khuyết tật Người khuyết tật có xu hướng trải nghiệm kỳ thị

ở mức độ cao gấp 1,8 lần so với người không khuyết tật Khi so sánh với người khuyết tật, tỷ suất chênh của việc trải nghiệm mức độ kỳ thị cao trong nhóm người không khuyết tật lớn hơn từ 1,5 đến 11,7 lần tùy thuộc vào dạng khuyết tật và mức độ khó khăn

Những người có khó khăn về ghi nhớ, giao tiếp và tự chăm sóc bản thân có tỷ

lệ bị kỳ thị cao hơn những người có khó khăn khác Người trẻ tuổi bị kỳ thị ở mức độ cao hơn và có điểm số kỳ thị cao hơn so với nhóm tuổi lớn hơn Điều này có thể được giải thích bằng cách giả định rằng nhìn chung cộng đồng thường kỳ vọng người trẻ tuổi hơn sẽ ít gặp khó khăn hơn về vận động, giao tiếp và ghi nhớ khi so sánh với một người lớn tuổi hơn Người có trình độ học vấn cao hơn có xu hướng trải nghiệm sự kỳ thị ở mức độ thấp hơn, nếu không tính đến dạng khuyết tật Điều này có thể được giải thích rằng những người có học vấn cao hơn thường tự tin hơn và có điều kiện xã hội tốt hơn so với người có trình độ học vấn thấp hơn Ngoài ra, kỳ thị đối với người khuyết tật sống ở thành thị có điểm số kỳ thị cao hơn so với người khuyết tật sống ở khu vực nông thôn Điều này có thể là do sự khác biệt văn hóa giữa thành thị và nông thôn về tương tác trong gia đình và ngoài xã hội ở nước ta Sự kỳ thị này có xu hướng sâu sắc và phổ biến hơn trong nhóm đối tượng nghèo

5.4 Thực trạng và nhu cầu trợ giúp pháp lý của người khuyết tật

Từ năm 2013 tới nay, tỉnh Hoà Bình đã trợ giúp được khá nhiều trường hợp người khuyết tật trên địa bàn tỉnh với các hình thức như: tư vấn pháp luật, cử luật sư cộng tác viên và trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước các cơ quan tố tụng, đại diện ngoài tố tụng Bên cạnh đó người khuyết tật còn được phổ biến, cung cấp thông tin trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý về cơ sở, đặc biệt tại các địa bàn vùng

Trang 39

sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Hoà Bình được lồng ghép các nội dung về quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật, góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của người dân nói chung và người khuyết tật nói riêng

Sau khi có quyết định số 3888/QD-BTP ngày 18 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch năm 2013 thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật Hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật được kết hợp thực hiện thông qua các cuộc trợ giúp pháp lý hướng về cơ sở, tập trung chủ yếu giới thiệu về Luật Người khuyết tật, diện người khuyết tật được hưởng chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí, chế độ bảo trợ của tỉnh đối với diện người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng…

Tuy nhiên, Công tác trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật gặp không ít khó khăn như: điều kiện kinh tế xã hội ở một số vùng trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn; nhiều người khuyết tật chưa biết đến quyền được trợ giúp pháp lý hoặc biết nhưng không có điều kiện tiếp xúc với dịch vụ này do điều kiện khách quan mang lại; đối với những người bị các dạng tật như câm, điếc, mù… họ chỉ sinh hoạt ở môi trường hạn hẹp, giao tiếp ở mức tối thiểu với người xung quan nên khó khăn trong giao tiếp… Bên cạnh đó, người thực hiện trợ giúp pháp lý chưa được tập huấn các kỹ năng, nghiệp vụ chuyên sâu trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật Đa phần người khuyết tật đều có thái độ mặc cảm, thiếu tự tin trước đám đông, không thể tự mình chủ động tiếp cận với các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khi có nhu cầu hoặc khi đã tiếp cận thì không thể tự mình trình bày mà cần phải có người khác giúp đỡ, do vậy phần nào đã ảnh hưởng đến việc nắm bắt thông tin, tâm tư nguyện vọng của người yêu cầu trợ giúp pháp lý

Kết quả nghiên cứu liên quan đến vấn đề trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật tập trung vào các điểm chính sau:

Ngày đăng: 06/03/2016, 00:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1:    Bảng tương quan tỷ lệ người dân tại các khu vực được tiếp cận thông - Đánh giá chất lượng và hiệu quả thực hiện Luật người khuyết tật ở tỉnh Hòa Bình qua tham vấn ý kến của người dân và đề xuất giải pháp
ng 1: Bảng tương quan tỷ lệ người dân tại các khu vực được tiếp cận thông (Trang 33)
Bảng  2:    Tỷ lệ % người dân biết về Luật NKT qua các kênh thông tin - Đánh giá chất lượng và hiệu quả thực hiện Luật người khuyết tật ở tỉnh Hòa Bình qua tham vấn ý kến của người dân và đề xuất giải pháp
ng 2: Tỷ lệ % người dân biết về Luật NKT qua các kênh thông tin (Trang 35)
Bảng thống kê dưới đây cho thấy những vấn đề pháp luật mà người khuyết  tật hay gặp phải - Đánh giá chất lượng và hiệu quả thực hiện Luật người khuyết tật ở tỉnh Hòa Bình qua tham vấn ý kến của người dân và đề xuất giải pháp
Bảng th ống kê dưới đây cho thấy những vấn đề pháp luật mà người khuyết tật hay gặp phải (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w