Phát triển số người làm việc phi nông nghiệp: kết quả của sự thích ứng của cư dân trước những biến đổi ruộng đất và kinh tế trong vùng đang đô thị hóa nhanh .... Điểm đặc biệt trong quá
Trang 1MỤC LỤC
DẪN NHẬP 5
1 Sự tăng trưởng hệ thống đô thị Việt Nam và những vấn đề nảy sinh 5
2 Mục tiêu của đề tài 9
2.1 Mục tiêu tổng quát 9
2.2 Mục tiêu cụ thể 10
3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 10
4 Phương pháp nghiên cứu 13
4.1 Câu hỏi nghiên cứu 14
4.2 Giả thuyết nghiên cứu 14
4.3 Phương pháp cụ thể 15
CHƯƠNG MỘT 19
NÉT CHUNG VÀ NÉT ĐẶC THÙ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở TP CẦN THƠ - ĐỘNG LỰC VÀ CÁC VẤN ĐỀ NẢY SINH 19
I VỊ TRÍ CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN HIỆN ĐẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 19
II NHỮNG ĐIỂM NHẤN TRONG TIẾN TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TẠI CẦN THƠ 32
1 Đô thị hóa, dịch chuyển dân cư và sự chuyển biến cơ cấu dân cư đô thị – Các hệ quả kinh tế - xã hội 32
2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đưa đến việc chuyển đổi quy mô về mục đích sử dụng đất 36
3 Nội thành mở rộng - Thành tựu và vấn đề 38
III VÙNG ĐÔ THỊ HÓA TẠI TP CẦN THƠ 40
IV ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ VÀ CƠ CẤU DÂN CƯ VÙNG ĐÔ THỊ HÓA TẠI CẦN THƠ 45
1 Đặc điểm dân số 45
1.1 Giới tính 45
1.2 Độ tuổi 45
1.3 Trình độ học vấn 46
2 Quy mô và cơ cấu hộ gia đình 48
2.1 Quy mô hộ gia đình 48
2.2 Cơ cấu hộ gia đình 49
3 Thu nhập hộ gia đình 51
CHƯƠNG HAI 55
CÁC VẤN ĐỀ VỀ ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CƯ DÂN VÙNG ĐÔ THỊ HÓA 55
I CHUYỂN BIẾN TRONG QUI MÔ VÀ CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT VÙNG ĐANG ĐÔ THỊ HÓA VÀ SỐ PHẬN NGHỀ NÔNG, VIỆC LÀM NÔNG NGHIỆP 55
1 Chuyển biến ruộng đất vùng đang đô thị hóa 55
2 Chuyển biến về ruộng đất nhìn từ cấp độ hộ gia đình ở các điểm khảo sát 56
2.1 Tình hình biến động diện tích ruộng đất ở các hộ nông dân sau 6 năm 56
2.2 Lý do sụt giảm diện tích đất của các hộ nông dân 58
3 Đô thị hóa và vị trí của nghề nông trong hoàn cảnh mới 58
3.1 Tình trạng sút giảm của nghề nông 59
3.2 Khuynh hướng làm nông hiện đại 61
3.3 Khuynh hướng chuyển từ trồng trọt sang chăn nuôi 61
3.4 Khuynh hướng mua ruộng để tiếp tục làm nông ở vùng lân cận 62
3.5 Khuynh hướng sử dụng tiền đền bù, sang nhượng cho các hoạt động đa dạng trong bối cảnh đô thị hóa 62
II DÂN VÙNG VEN VÀ VIỆC LÀM PHI NÔNG NGHIỆP 65
Trang 21 Số liệu chung về việc làm phi nông nghiệp (chính/phụ) trong 6 năm ở Cần Thơ
(2000 - 2006) 65
1.1 Số liệu chung về sự chuyển dịch việc làm phi nông nghiệp 65
1.2 Việc làm phi nông nghiệp 67
2 Những khó khăn trong quá trình chuyển đổi việc làm 76
2.1 Những khó khăn trong chuyển đổi hiện tại 76
2.2 Những khó khăn trong chuyển đổi việc làm nhìn từ góc độ thời gian 79
3 Đội ngũ những người làm công nhân 81
3.1 Bản thân người công nhân 82
3.2 Quá trình trở thành công nhân 85
3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn việc làm công nhân 87
3.4 Xu hướng phát triển công nhân tại những vùng đang đô thị hóa 88
3.5 Công nhân xuất thân là người tại chỗ nhìn từ phía người sử dụng lao động 88
4 Về các tổ chức giúp đỡ người dân chuyển đổi việc làm 89
4.1 Trung tâm dạy nghề 89
4.2 Trung tâm giới thiệu việc làm 92
4.3 Việc đào tạo nghề của các đơn vị sử dụng lao động 93
4.4 Vai trò của chính quyền địa phương 95
4.5 Mạng lưới xã hội và cơ chế dân gian tự tạo việc làm 96
5 Vai trò của các yếu tố chủ quan trong việc chuyển đổi nghề nghiệp 98
5.1 Độ tuổi 98
5.2 Học vấn 100
5.3 Thu nhập hộ gia đình 102
6 Vai trò việc làm phi nông nghiệp nhìn từ cơ cấu thu nhập hộ gia đình 104
6.1 Việc làm phi nông nghiệp trong cơ cấu lao động 104
6.2 Tỉ trọng thu nhập phi nông nghiệp trong tổng thu của hộ gia đình/khu vực/địa bàn 106
7 Phân hóa về mức sống 107
8 Phụ nữ nông thôn đối diện với đô thị hóa 109
8.1 Hành trang của phụ nữ vùng đang đô thị hóa 109
8.2 Chuyển việc làm 112
III TÁI ĐỊNH CƯ VÀ CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ 121
1 Các lý thuyết về tái định cư 121
1.1 Vấn đề phát triển đô thị bền vững và người nghèo 121
1.2 Yêu cầu tái định cư trong quá trình phát triển đô thị 121
1.3 Các loại hình tái định cư 122
1.4 Kinh nghiệm của thế giới trong việc tái định cư 123
1.5 Khung lý thuyết về tái định cư của Ngân hàng Thế giới 125
1.6 Tình hình công tác tái định cư tại TP Cần Thơ 128
2 Nhận diện thành phần xã hội của bộ phận dân cư tái định cư 129
3 Nguyên nhân của việc theo được chương trình tái định cư 132
3.1 Cách tuyên truyền, phổ biến thông tin về chương trình tái định cư 132
3.2 Tiền đền bù thỏa đáng 134
3.3 Thủ tục dễ dàng 135
4 Những khó khăn, những lo ngại của chính người bị di dời 135
5 Vấn đề việc làm của người dân tái định cư 136
5.1 Việc làm trước và sau giải tỏa 136
5.2 Ảnh hưởng của tái định cư đến việc làm sau giải tỏa 139
5.3 Độ ổn định công việc trước và sau giải tỏa 140
6 Thực trạng môi trường vật chất người dân tái định cư 142
6.1 Điều kiện về nhà ở 142
6.2 Vệ sinh môi trường và cơ sở hạ tầng 143
Trang 37 Đời sống xã hội người dân tái định cư 146
7.1 Cơ sở văn hóa - y tế - giáo dục 146
7.2 Quan hệ cộng đồng 149
7.3 Về tính bền vững của cuộc sống người dân tái định cư 151
CHƯƠNG BA 155
NHỮNG THAY ĐỔI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA, TRONG ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ VÀ ĐỘ SẴN SÀNG ĐI SÂU VÀO TIẾN TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA, CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 155
I KHUYNH HƯỚNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 155
1 Biến đổi trong văn hóa qua cách bài trí nhà cửa 156
2 Biến đổi văn hóa qua cách thức tổ chức đám cưới, đám tang 159
3 Biến đổi văn hóa qua vai trò người chủ gia đình trong hoạt động sản xuất 161
4 Biến đổi văn hóa qua thái độ đối với văn hóa làng xã 163
5 Biến đổi lối sống trong môi trường đô thị hóa 165
5.1 Qua việc nắm thông tin 165
5.2 Qua cách giải trí, thưởng thức văn nghệ 166
5.3 Qua việc sử dụng thời gian nhàn rỗi 167
5.4 Qua việc tiếp xúc giữa các thành viên trong gia đình 167
II NHỮNG CHUYỂN ĐỔI TRONG CÁC GIÁ TRỊ 169
1 Tán thành định hướng công nghiệp hóa và đô thị hóa 169
2 Khuynh hướng mới đối với nghề nông – xa rời và đổi mới 171
3 Thân phận các ngành nghề thủ công truyền thống 172
4 Khuynh hướng làm việc công nhân 172
5 Những nguyện vọng tha thiết nhất của người trong cuộc 173
KẾT LUẬN CHUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 175
I TỔNG HỢP CÁC KHÁM PHÁ CHỦ YẾU 175
1 Những đặc điểm nhân khẩu vùng đang đô thị hóa 175
2 Thay đổi về mục đích sử dụng ruộng đất trong vùng đang đô thị hóa - Vai trò Nhà nước, các hộ gia đình và các tác nhân khác 176
3 Phát triển số người làm việc phi nông nghiệp: kết quả của sự thích ứng của cư dân trước những biến đổi ruộng đất và kinh tế trong vùng đang đô thị hóa nhanh 177
4 Tái định cư và cuộc sống người dân tái định cư 182
4.1 Việc làm - sự hội nhập bước đầu của người dân tái định cư 182
4.2 Thực trạng môi trường vật chất người dân tái định cư 183
4.3 Thực trạng đời sống xã hội người dân tái định cư 184
II NHÌN LẠI CÁC GIẢ THUYẾT CỦA CUỘC NGHIÊN CỨU 184
III MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 188
1 Khuyến nghị thứ nhất: Giảm bớt sự lan tràn của tính tự phát trong vùng đang đô thị hóa 188
2 Khuyến nghị thứ hai: Tăng cường tính bền vững cho các nghề và việc làm phi nông nghiệp tự tạo 188
3 Khuyến nghị thứ ba: Sớm xóa bỏ dạng “công nhân nhảy việc”; gây dựng thế hệ công nhân công nghiệp thực thụ, xuất thân từ các vùng đang đô thị hóa 189
4 Khuyến nghị thứ tư: Có chính sách và cơ chế nâng đỡ nông nghiệp chất lượng cao 190
5 Khuyến nghị thứ năm: Quan tâm đến tính đặc thù của ba loại hộ gia đình trong vùng đang chuyển đổi nhanh 190
6 Khuyến nghị thứ sáu: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các định chế giúp đỡ người dân trong chuyển đổi việc làm 191
Trang 47 Khuyến nghị thứ bảy: Đẩy lùi và phòng ngừa hiện tượng thất nghiệp và thất
nghiệp trá hình tăng lên 192
8 Khuyến nghị thứ tám: Quan tâm đầy đủ hơn đến tính dễ bị tổn thương của phụ
nữ trong một vùng đang chuyển đổi nhanh và có sự cạnh tranh không khoan
nhượng về việc làm 193
9 Khuyến nghị thứ chín: Tìm lối ra cho nghề thủ công 193
10 Khuyến nghị thứ mười: Giải pháp đồng bộ giữa tăng trưởng kinh tế và xóa đói
giảm nghèo 193
11 Khuyến nghị thứ mười một: Phát huy truyền thống gắn kết, tương trợ, chung tay
nhau chăm lo việc chung trong cộng đồng dân cư 194
12 Khuyến nghị thứ mười hai: Nâng cao mặt bằng dân trí 195
13 Khuyến nghị thứ mười ba: Xây dựng cơ sở vật chất cho các hoạt động văn hóa
196
14 Khuyến nghị thứ mười bốn: Những vấn đề tái định cư 197
15 Khuyến nghị thứ mười lăm: Các nhà khoa học xã hội phải đóng góp có hệ thống
hơn vào quá trình giám sát và hướng dẫn phát triển vùng đang đô thị hóa nhanh, thông qua các công trình nghiên cứu và các dạng tư vấn chính sách ở nhiều cấp bậc
200
Trang 5DẪN NHẬP
1 Sự tăng trưởng hệ thống đô thị Việt Nam và những vấn đề nảy sinh
Sau năm 1986, hệ thống đô thị của Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới và mạnh mẽ hơn so với các thời kỳ trước Tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng Vào năm 1990 tỉ lệ đô thị hóa của Việt Nam chỉ là 20,3%, nhưng đến 2008 - 2009 đã lên đến khoảng 27%
Bảng 1: Dân số đô thị và mức độ đô thị hóa của Việt Nam từ năm 1950
và dự kiến đến năm 2050
(1000 người)
Tỉ lệ dân số đô thị (%)
Trang 6Số liệu của Chương trình UNDP (United Nations Development Programme) thuộc Liên Hiệp Quốc của bảng 1 cho ta thấy chặng đường đã đi qua cũng như tương lai của quá trình đô thị hóa Việt Nam Đường biểu diễn của biểu đồ 1 thể hiện sức bật lên đáng kể của đô thị hóa Việt Nam từ năm 1990 và đồng thời cũng cho ta thấy phải đến năm 2040 thì chỉ số đô thị của Việt Nam mới đạt đến xấp xỉ 50%
Biểu đồ 1: Dân số đô thị và mức độ đô thị hóa của Việt Nam từ năm 1950
và dự kiến đến năm 2050
Nguồn: World Urbanization Prospects: The 2007 Revision Population Database
Xuất hiện các yếu tố mới trong hệ thống đô thị của cả nước Đó là:
- Quy mô dân số đô thị và diện tích đô thị ngày càng tăng lên Sự tăng dân số đô thị chủ yếu là tăng cơ học do người ở nông thôn di chuyển vào đô thị và diện tích đô thị ngày càng nới rộng ra
- Tỉ lệ dân cư sống ở đô thị ngày càng tăng lên so với nông thôn trong tổng số dân của cả nước
- Số lượng các đô thị trong mạng lưới đô thị của cả nước tăng Bên cạnh đó phải
kể đến sự xuất hiện những điểm dân cư kiểu đô thị do kết quả của quá trình công nghiệp hóa
- Sự phát triển và lan truyền ảnh hưởng của đô thị ra các vùng xung quanh, trong lối sống, quan hệ giao tiếp, kiến trúc, thị hiếu thẩm mỹ, văn hóa …
Trên thực tế, mô hình phát triển đô thị của Việt Nam không khác mấy so với các nước Đông Nam Á Điểm đặc biệt trong quá trình đô thị hóa của khu vực này là sự hình thành các vùng đại đô thị (VĐĐT), là hệ thống quần cư bằng cách đô thị hóa rải
ra trên toàn vùng rộng lớn, là một sự pha trộn, đan xen chặt chẽ giữa các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp được bố trí bên nhau, trên một mặt bằng kinh tế và xã hội duy nhất Ba nhân tố quan trọng cho việc xuất hiện VĐĐT mở rộng là:
- Việc đưa các khu công nghiệp quan trọng về vùng nông thôn, thu hút nguồn lao động nông thôn thành lao động công nghiệp
Trang 7- Xu hướng phi tập trung hóa các hoạt động đô thị như nhà ở, khu vui chơi, khu
du lịch đã kết nối các hạt nhân đô thị với các vùng chung quanh
- Các phương tiện và hoạt động giao thông được cải tạo mạnh mẽ, nối kết được các vùng chung quanh với hạt nhân đô thị, tạo hành lang phát triển nối liền các trung tâm đô thị khác nhau1
Các vùng đại đô thị đóng góp rất lớn vào nền kinh tế của quốc gia TP Hồ Chí Minh ở Việt Nam có vai trò là cửa ngõ và là điểm nối kết trong nền kinh tế ngày càng hội nhập của khu vực Đông Nam Á và của kinh tế toàn cầu, đã giữ vị trí then chốt trong hoạt động kinh tế Việt Nam, nhưng đồng thời có nhiều vấn đề về môi trường và
xã hội, cùng việc làm gia tăng sự chênh lệch trong phạm vi quốc gia Vì vậy, việc đề ra các hệ thống quản lý, điều hành, và quy hoạch đô thị hữu hiệu để có được những vùng
đô thị bền vững, duy trì hoạt động kinh tế, an sinh xã hội và điều kiện sống tốt, cần được chú ý
Là một sự biến đổi xã hội, đô thị hóa là một hiện tượng chi phối sâu sắc đến cội
rễ của cấu trúc xã hội, là một quá trình chuyển biến kinh tế xã hội phức hợp, chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại Những tác động to lớn và có tính quyết định của nó đòi
hỏi con người phải có chiến lược ứng xử chủ động mỗi khi nó xuất hiện Đó là tình thế
không đảo ngược được tại nơi mà đô thị hóa xuất hiện Một nơi nào đã có hiện tượng
đô thị hóa, thì xã hội, cảnh quan nơi ấy không thể nào trở lại được trạng thái trước đó
Đó là thách thức của sự kết hợp giữa tính liên tục và sự đứt đoạn mà đô thị hóa tạo ra
trong quá trình chuyển động của nó Nhiều mô hình và cơ chế mới xuất hiện, khác hẳn với những gì đã ngự trị trước đây, là con người bị cắt đứt với hành vi quen thuộc đã
có, phải học cách suy nghĩ mới, hành động mới Một điểm quan trọng khác của đô thị
hóa là sự tăng tốc (accélération) của nó Tốc độ đô thị hóa tăng lên hàng ngày, tăng
nhanh đến mức là có những vấn đề xuất hiện, rồi biến đổi bản chất trước khi con người kịp nắm bắt được chúng
Đô thị hóa đã đem đến cho xã hội Việt Nam nhiều kết quả tích cực Hạ tầng cơ
sở được nâng cấp dù chưa theo kịp với đà của đô thị hóa, các khu công nghiệp xuất hiện, nhiều công trình xây dựng hiện đại được tiến hành, công việc quy hoạch được thúc đẩy Các dịch vụ đô thị được phát triển phục vụ cho người đô thị Nông thôn xích lại gần hơn với thành thị Lối sống thành phố du nhập vào nông thôn rất nhanh, tác động lớn tới cuộc sống, phong tục tập quán thôn quê Việt Nam và những giá trị văn
1
Terry Mc Gee, tham luận “Revisiting the urban fringe: reassessing the challenges of the mega-urbanization
process in Southeast Asia”, trong hội thảo quốc tế Trends of Urbanization and Suburbanization in Southeast Asia, do Trung tâm Nghiên cứu Đô thị và Phát triển (CEFURDS) tổ chức vào ngày 9 - 11/12/2008 tại TP Hồ Chí Minh
Trang 8
hóa truyền thống lâu đời Trình độ học vấn được nâng cao hơn trước, trình độ tri thức đáp ứng được yêu cầu của thời đại Việt Nam dần dần gia nhập vào quá trình toàn cầu hóa
Do sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội giữa thành thị và nông thôn, các dòng nhập cư đổ về các đô thị lớn Những chênh lệch về thu nhập và cơ hội việc làm là những động lực chủ yếu dẫn đến sự di chuyển dân cư Hiện tượng di dân tự
do nông thôn - đô thị tại hai thành phố lớn ở Việt Nam đã diễn ra với tốc độ rất cao, cả
về quy mô và tính chất Một mặt, di dân tự do đã góp phần làm tăng trưởng, biến đổi mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội tại các đô thị theo hướng tích cực Mặt khác, quá trình này cũng là vấn đề xã hội tạo nên sức ép rất lớn trong việc phát triển bền vững các lĩnh vực hạ tầng, giáo dục, việc làm, môi trường tại các đô thị này Tăng dân số cơ học đột biến dẫn đến tình trạng quá tải khả năng phục vụ của các công trình hạ tầng cơ sở kỹ thuật và giảm vẻ mỹ quan đô thị Điều kiện nhà ở thiếu hụt, tình trạng tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng lan rộng Khối lượng các công trình mới xây dựng không đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị, như trường học, chợ, trạm y tế, công viên rất thiếu và phân bố không đều
Đã xuất hiện những xáo trộn về đời sống và dân cư Đấy là những vùng nông thôn mà tính đô thị có xuất phát điểm rất thấp, với hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, ngoài ra còn có những hoạt động phi nông nghiệp như các nghề thủ công, dịch
vụ, buôn bán nhỏ Do có sự đầu tư mạnh, các khu công nghiệp xuất hiện, hạ tầng cơ sở được nâng cấp, chế độ sử dụng ruộng đất thay đổi, đất nông nghiệp biến thành đất đô thị, nền kinh tế cơ bản nông nghiệp dịch chuyển sang phi nông nghiệp, nhiều cơ hội việc làm xuất hiện kéo theo sự nhập cư từ các nơi đổ về, lối sống nông thôn chuyển đổi sang lối sống đô thị, văn hóa đô thị thay thế văn hóa nông thôn Đô thị hóa tại những vùng này biểu lộ ở cường độ cao tính đứt đoạn và tính tăng tốc của nó Một xã hội mới với những cơ chế mới, những giá trị mới xuất hiện, đòi hỏi con người phải thích nghi nhanh chóng, đòi hỏi các cơ quan hữu quan phải có định hướng và có trình
độ giải quyết những vấn đề mới xuất hiện Các quan sát sơ bộ cho thấy, các đòi hỏi thích nghi nói trên được đáp ứng khá chậm chạp và khó khăn
Quá trình đô thị hóa là kết quả của công nghiệp hóa, trong đó hình thành sự tích
tụ tư bản ngày càng lớn Sự mở rộng diện tích của đô thị, sự gia tăng số lượng các đô thị, sự gia tăng thị trường địa ốc, sự phát triển cơ sở hạ tầng vật chất tạo nhiều cơ hội cho người giàu càng giàu thêm, khoảng cách giàu nghèo trong đô thị ngày càng tăng
Dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là rất ấn tượng, nhưng vẫn tồn tại một khoảng cách ngày càng gia tăng giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị, các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác và sử dụng một cách không hợp lý và không bền vững
Trang 9Bên cạnh đó, di sản kiến trúc đô thị bị đe dọa, do người dân muốn “hiện đại hóa” và do tham vọng của các nhà đầu tư trong lĩnh vực nhà đất Khu trung tâm của
TP Hồ Chí Minh đã bị xây lại gần như hoàn toàn, để dành chỗ cho các khu nhà cao tầng phục vụ quá trình phát triển dịch vụ và cao ốc văn phòng Hà Nội quyết tâm bảo
vệ trung tâm lịch sử với nhiều di sản phong phú, nhưng thiếu phương tiện để biến quyết tâm đó trở thành hiện thực
Một vấn đề quan trọng là năng lực quản lý đô thị phải theo kịp với đà phát triển của đô thị Ta biết rằng quy mô dân số và mật độ dân số là hai yếu tố cơ bản quyết định bản chất của một đô thị1
Bản chất của một đô thị triệu dân (million city) luôn luôn khác với một đô thị siêu hạng 4 triệu dân (super city), khác với đô thị cực lớn 8 triệu dân (mega city), và càng rất khác với mô hình phát triển VĐĐT như ở trên đã đề cập Sự phát triển đô thị diễn ra quá nhanh, đến mức các hệ thống quản lý và điều hành hiện hữu thường không đủ khả năng xử lý các vấn đề vì sự phân công phân nhiệm chưa đồng bộ và khả năng còn hạn chế Bộ máy quản lý đô thị không nhanh nhạy để
có thể hiểu ra bản chất của sự thay đổi để có đối sách tương thích Do phát triển như vậy, vùng đại đô thị này cũng ra những thách thức cho phát triển Theo Terry Mc Gee, các chính sách chủ yếu cần có cho VĐĐT là:
(1) Thiết lập những hệ thống quản lý và điều hành hữu hiệu cho các VĐĐT (2) Làm cho các VĐĐT phát triển bền vững trong bối cảnh môi trường đang suy thoái và cạnh tranh kinh tế toàn cầu gay gắt
(3) Mang lại cho các VĐĐT những điều kiện sống tốt về mặt công ăn việc làm, dịch vụ, cơ sở hạ tầng, và chính sách xã hội
(4) Làm sao cho người nghèo và người kém may mắn sống tốt trong các VĐĐT
để họ có công ăn việc làm và được hưởng các dịch vụ như y tế và giáo dục2
Trang 10của những con người đang sống trong vùng đô thị hóa Đề tài có mục tiêu tổng quát là làm rõ sự biến đổi trong đời sống cư dân, mà nhất là trong lĩnh vực nghề nghiệp tại vùng đô thị hóa của Cần Thơ và trên kết quả nghiên cứu, đưa ra một số định hướng nhằm góp phần vào việc xây dựng đô thị phát triển bền vững của Cần Thơ
(5) Đưa ra những khuyến nghị nhằm sử dụng tốt nguồn nhân lực này
(6) Đưa ra những giải pháp về chính sách và định chế nhằm giảm thiểu sự phân hóa giàu nghèo
(7) Đưa ra các biện pháp tăng cường năng lực tiếp cận của người dân vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, nhà ở
3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Có nhiều công trình nước ngoài đi sâu vào lý thuyết về đô thị, đô thị hóa, đô thị hóa vùng ven Ngoài những công trình mang tính chất cơ bản về Xã hội học đô thị như
cuốn The Sociology of Urban Life của Harry Gold (1973), Urban Sociology của Robert Wilson (1978), hay Urban Sociology của William G Flanagan (1990) … còn có nhiều
công trình đi sâu vào từng khía cạnh, lĩnh vực chuyên biệt, những tác động tích cực
cũng như tiêu cực của đô thị hóa như Landscapes in Towns do Jean Forbes và James Ross xuất bản tại London and Edinburgh (1976), công trình “Livre Vert” sur
l’Environnement Urbain do Cộng đồng châu Âu xuất bản tại Luxembourg (1990) viết
về tác động của đô thị hóa lên trên môi trường, hoặc cuốn Urbanisation et tradition
của Gerald Breese (Paris, 1969) viết về tình hình đô thị hóa tại các nước đang phát triển và tại Đông Nam Á
Trước sự cấp thiết của vấn đề phát triển đô thị, Nhà nước Việt Nam đã tổ chức nhiều công trình nghiên cứu, nhiều hội thảo quan trọng như Chương trình cấp Nhà
nước KC-11: Đô thị Việt Nam do GS Đàm Trung Phường làm chủ nhiệm (1991-1995) chú ý đến chiến lược phát triển đô thị, quản lý hạ tầng cơ sở, hoặc Hội thảo Đô thị
toàn quốc thứ nhất thúc đẩy sự ra đời của nhiều quy chế, văn bản nhằm tăng cường
Trang 11việc quản lý đô thị và nêu ra việc cần thiết phải có chiến lược phát triển đô thị Hội
nghị chuyên đề Tài chính đô thị tại Vinh năm 1993 giải quyết vấn đề phân cấp tài chính của đô thị Việt Nam Hội nghị Đô thị toàn quốc thứ hai (7/1995) nhấn mạnh đến định hướng phát triển các đô thị Việt Nam Hội thảo Về sự hình thành và hoàn thiện
chiến lược đô thị quốc gia (10/1995) đưa ra những chiến lược và các chương trình
hành động trước mắt nhằm bảo đảm sự phát triển đô thị bền vững
Các công trình lý luận về đô thị hóa của các tác giả trong nước cũng vô cùng
phong phú như công trình Đô thị hóa và cấu trúc đô thị Việt Nam trước và sau đổi mới (1979 – 1989 và 1989 - 1999) của Lê Thanh Sang, Hà Nội, 2008 Trong công trình
này, tác giả đưa ra bức tranh chung về cấu trúc đô thị trên cơ sở tập trung phân tích vào 3 chủ đề sau: Thứ nhất phân tích các thành tố tăng tưởng dân số đô thị Việt Nam trước và sau Đổi mới Thứ hai là phân tích các khuôn mẫu về mặt không gian và các nhân tố tác động đến nhập cư đô thị trong thời kỳ Đổi mới Cuối cùng tác giả phân tích
sự phân bố của các đô thị theo quy mô dân số, sự chuyên môn hóa các chức năng đô thị và ảnh hưởng của sự chuyên môn hóa này đối với tăng tưởng của các đô thị
Công trình Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam của Trần Ngọc Hiên, Trần Văn Chữ (đồng chủ biên), Hà Nội,
1998, hay các tập sách về đô thị hóa của Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện
Khoa học Xã hội Việt Nam như Đô thị hóa tại Việt Nam và Đông Nam Á (TP Hồ Chí Minh, 1995), Môi trường nhân văn và đô thị hóa tại Đông Nam Á và Nhật Bản (TP
Hồ Chí Minh, 1997) đưa ra toàn cảnh của hiện tượng đô thị hóa, tập sách Phát triển đô
thị bền vững - vai trò của nghiên cứu giáo dục (Tôn Nữ Quỳnh Trân và Nguyễn Thế
Nghĩa đồng chủ biên, TP Hồ Chí Minh, 2002) đề cập đến lý thuyết phát triển đô thị bền vững và những vấn đề về chiến lược phát triển đô thị Trung tâm Nghiên cứu Đô thị và Phát triển (CEFURDS) đã đưa ra một loạt nghiên cứu về vấn đề đô thị hóa và
các khía cạnh của vấn đề này Đó là các công trình Văn hóa làng xã trước sự thách
thức của đô thị hóa tại TP Hồ Chí Minh (Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên - 2001) đề cập
đến sự lan truyền của lối sống đô thị, văn hóa vào các vùng đô thị hóa của TP Hồ Chí
Minh, công trình Vấn đề phát triển đô thị bền vững tại TP Hồ Chí Minh - Đối chiếu
kinh nghiệm từ một số thành phố lớn ở Đông Nam Á (Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ nhiệm,
đề tài thuộc Sở Khoa học Công nghệ TP Hồ Chí Minh - 2003) xét đến con đường phát triển đô thị của TP Hồ Chí Minh và đưa ra những kinh nghiệm mà các thành phố
Đông Nam Á đã đạt được, công trình Thu hẹp dần khoảng cách mất cân đối giữa tốc
độ đô thị hóa với quá trình thị dân hóa của nông dân ngoại thành TP Hồ Chí Minh
(Lê Văn Năm - 2006) viết về những thách thức của nông dân TP Hồ Chí Minh trước những biến động của đô thị hóa
Trang 12Riêng về vấn đề đô thị hóa của TP Cần Thơ cũng đã có một số công trình, bài báo, bài tổng kết đề cập đến, trong đó tập trung vấn đề nghèo đô thị, di dân nông thôn
đô thị, việc làm và một số vấn đề xã hội khác Báo cáo “Chiến lược phát triển đô thị ở
TP Cần Thơ với việc giảm nghèo đô thị” của ông Nguyễn Thanh Sơn (Cần Thơ, 2004) đề cập đến những đặc điểm cơ bản của TP Cần Thơ và những bất cập trong đời sống của dân đô thị, những thiếu thốn về điều kiện cơ sở vật chất, nhất là đối với những khu dân cư tự phát, người dân từ nông thôn ra đô thị tìm việc làm Báo cáo nêu lên một số thành tựu đã đạt được trong chính sách giảm nghèo của thành phố thông qua các chương trình, dự án đồng thời nêu lên những định hướng cho chiến lược phát triển đô thị của TP Cần Thơ trong việc xóa đói giảm nghèo
Bài “Xây dựng TP Cần Thơ thành trung tâm động lực là nhu cầu bước phát
triển mới của vùng Đồng bằng sông Cửu Long” của ông Trần Văn Tư (Tạp chí Khoa
học Cần Thơ - 2006) cũng nhấn mạnh đến vai trò trung tâm của thành phố
Môi trường và việc bảo vệ môi trường đô thị Cần Thơ cũng được các dự án, các
học giả đề cập đến, điển hình là Tiểu dự án Final Environmental Impact Assessment
Can Tho City Sub – Project (Vietnam Urban Upgrading Project, 2003) Dự án có mục
tiêu đánh giá tác động của môi trường trên địa bàn Thành phố Cần Thơ
Bài viết “Vì Cần Thơ là thành phố sinh thái, có bản sắc” của KTS Nguyễn Trực Luyện, bài “Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững TP Cần Thơ” của GS
Lâm Minh Triết (Tạp chí Khoa học Cần Thơ, 2004) cũng đề cập đến vấn đề môi
trường trong quá trình phát triển của thành phố
Tác giả Trung Dân đề cập đến một số thực trạng khó khăn về cây xanh công
cộng qua bài viết “Lá phổi xanh” cho đô thị Cần Thơ” (Cần Thơ 28/07/2006) Theo
tác giả tỉ lệ cây xanh đô thị rất thấp1, quỹ đất hạn chế nên diện tích dành cho cây xanh chưa đạt tỉ lệ quy định, chưa có quy hoạch tổng thể nên cây xanh được trồng tự phát, nhiều địa phương không có kế hoạch trồng cây xanh… Tác giả cũng đã đề xuất thành phố cần có nguồn kinh phí trồng thay thế và trồng thêm nhiều cây xanh duy trì “lá phổi xanh” của đô thị Bên cạnh đó, cần có cơ chế khuyến khích mọi thành phần kinh tế, người dân tham gia chăm sóc, duy tu bảo dưỡng cây xanh
Cùng với việc bảo vệ môi trường, đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển của thành phố cũng được các tác giả lưu tâm TS Phạm Ngọc Đỉnh trong bài “Vấn đề xây dựng nguồn nhân lực cho TP Cần Thơ” của
1
Tỷ lệ cây xanh đô thị đạt gần 1,1m2/người (chỉ tính riêng quận Ninh Kiều) còn toàn thành phố thì rất thấp Tại
Hà Nội và TP Hồ Chí Minh diện tích cây xanh bình quân đầu người 1,5 – 2m2/người Trong khi đó, diện tích cây xanh bình quân của một số đô thị trên thế giới khá cao: Berlin 50m2/người, Mockba (Nga) 44m2/người, Paris 25m2/người (Thời báo Kinh tế Việt Nam)
Trang 13(Tạp chí Khoa hoc Cần Thơ, 2004) nêu ra tính cấp thiết trong việc xây dựng nguồn
nhân lực để đáp ứng cho sự phát triển của Cần Thơ
Đô thị hóa và “vấn nạn đô thị” ở thành phố Cần Thơ cũng được một số tác giả quan tâm Chiến lược giảm nghèo cũng được đề ra qua bài “Cần Thơ năm 2009 phấn
đấu giảm tỉ lệ hộ nghèo còn 6%” (Báo Cần Thơ, 09/01/2009) đưa ra những giải pháp
hỗ trợ y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, trợ cấp, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người nghèo
Vấn đề tăng giá đất ở đô thị được đề cập qua một số bài viết như “Giá đất mới
tại TP Cần Thơ” của Thanh Niên online ngày 23/02/2002; “Giá đất tăng vọt, dự án khó chen” trong Báo Điện tử Cần Thơ ngày 15/04/2004; “Cần Thơ: đất tăng giá, nhiều
người mua chờ thời” Các bài viết cho thấy sự nóng lên của giá đất tại TP Cần Thơ khi quá trình đô thị hóa ở đây diễn ra Đó là một khó khăn cho việc phát triển các dự
án cũng như việc tái định cư cho người dân sau giải tỏa
Như vậy, nhiều vấn đề khác nhau của quá trình đô thị hóa TP Cần Thơ đã được nêu ra và cũng có những giải pháp nhất định vì sự phát triển bền vững cho thành phố Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một công trình đề cập đến tác động của đô thị hóa đối với đời sống của cư dân, làm cơ sở để đưa ra những định hướng tương thích, nhằm đưa phát triển của Cần Thơ đến bền vững, giúp cho Cần Thơ tránh được cái giá phải trả hậu quả của tính tự phát trong đô thị hóa mà một số đô thị khác đã không tránh được
Những công trình, bài viết đi trước là nền tảng khoa học quý giá, cung cấp lý luận cũng như thực tiễn giúp cho nhóm tập thể tác giả đề tài “Các vấn đề về đời sống của cư dân vùng đô thị hóa tại TP Cần Thơ - Thực trạng và giải pháp tương thích” tiến hành công việc nghiên cứu của mình
4 Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu và vấn đề chính của đề tài này là những vấn đề nảy sinh trong đời sống cư dân vùng đô thị hóa ở các vùng ven TP Cần Thơ Do đó, cách tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu chủ yếu đề tài này là cách tiếp cận và phương pháp xã hội học
Bên cạnh đó cách tiếp cận lịch sử và kinh tế cũng được áp dụng để hỗ trợ nhằm cung cấp một cái nhìn theo chiều sâu lịch sử và xem xét khía cạnh kinh tế của vấn đề nghiên cứu
Chúng tôi tiếp cận các vấn đề nghiên cứu trong tiến trình chuyển động của chúng Tiến trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở những khu vực ven TP Cần Thơ
Do đó địa bàn được nghiên cứu là những vùng quá độ giữa nông thôn và đô thị, là nơi
mà tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng Nơi đây đời sống của cư dân đang chịu nhiều
Trang 14biến đổi và đang đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết mà trọng tâm của đề tài là sự chuyển đổi nghề nghiệp của người dân tại vùng đô thị hóa nhanh
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Các biến đổi trong đời sống của cư dân vùng đô thị hóa - trọng tâm của đề tài - được xem xét như là một tiến trình chuyển đổi trong khoảng thời gian từ khi quá trình
đô thị hóa diễn ra với một tốc độ tương đối nhanh cho đến nay, ước độ trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây
Các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra như sau:
- Quá trình đô thị hóa ở ngoại thành TP Cần Thơ phải chăng đang buộc các hộ gia đình cư dân tại chỗ chuyển đổi lối sống, cơ cấu nghề nghiệp, đời sống văn hóa của
họ như một sự thích nghi để sinh tồn và phát triển?
- Các nhân tố kinh tế, xã hội, chính sách chủ yếu nào đang thúc đẩy hoặc cản trở tiến trình chuyển đổi đó?
- Trong tiến trình đô thị hóa và tiến trình chuyển đổi đời sống cư dân, phải chăng sẽ có sự thay thế các giá trị? Các giá trị văn hóa truyền thống sẽ thay đổi như thế nào trước các giá trị đô thị, hiện đại?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:
(1) Tiến trình đô thị hóa đã dẫn đến những thay đổi quan trọng trong đời sống kinh tế của cư dân vùng ven Trong đó, việc mở rộng địa bàn công nghiệp và khu vực
đô thị đã đem đến việc chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất đô thị và đây là nguyên nhân chủ yếu gây xáo trộn cho cuộc mưu sinh và phát triển của cư dân ở các khu vực
đô thị hóa
(2) Sự phát triển công nghiệp, các hoạt động kinh tế đô thị, sự hình thành các khu đô thị cũng dẫn đến những thay đổi trong sinh kế của cộng đồng cư dân Sự phát triển của các nghề phi nông nghiệp mới là một cách thích ứng của cư dân với những biến đổi kinh tế trong vùng Việc này diễn ra theo những chiều hướng không đồng đều
ở các loại hình hộ gia đình và ở các cá nhân có trình độ học vấn, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính khác nhau
(3) Học vấn, lứa tuổi và quan điểm hướng nghiệp là ba nhân tố chi phối việc cư dân trong tuổi lao động đi vào các xí nghiệp, công nghiệp tọa lạc trong vùng
(4) Việc chậm phát triển các thiết chế dạy nghề và giới thiệu việc làm trong vùng đô thị hóa nhanh là trở ngại cho thanh niên phát triển một cơ cấu nghề nghiệp đa dạng, lâu bền, góp thêm phần buộc quá trình chuyển đổi phải kéo dài, thậm chí nhiều thế hệ
Trang 15- Các chính sách của nhà nước (cấp quốc gia và cấp thành phố) trong việc phát triển đô thị, phát triển kinh tế, trong việc hỗ trợ cho người dân vùng đô thị hóa về mọi mặt… có nhiều tác động đến chiều hướng phát triển của các vấn đề về đời sống của cư dân vùng đô thị hóa (những khó khăn cũng như những thuận lợi)
- Các định chế đã tạo điều kiện hỗ trợ cho cư dân trong việc chuyển đổi việc làm tuy vẫn còn nhiều mâu thuẫn trong việc cư dân nắm bắt các cơ hội mà các định chế ấy đem đến Phải chăng đầu tư đào tạo nguồn nhân lực song hành với đầu tư xây dựng các khu chế xuất, các khu công nghiệp là một tiếp cận đồng bộ khiến cư dân tại chỗ có thể được phát huy khả năng của mình một cách bền vững chứ không chỉ giải quyết tạm bợ
(5) Đã có những chuyển đổi trong các giá trị truyền thống Trước hoàn cảnh mới, các nguyện vọng trong đời sống của người dân đã chuyển sang một hướng khác với trước đây Bám lấy đất, bám lấy ruộng không còn là khuôn mẫu lý tưởng nữa mà
đã xuất hiện những khuôn mẫu mới, tương thích với bối cảnh đô thị hóa
4.3 Phương pháp cụ thể
Trong khung những giả thuyết cùng với lối tiếp cận vấn đề đã đặt ra ở trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo các cấp độ khác nhau:
(1) Cấp độ thành phố, quận huyện: Cấp độ mang tính chất tổng thể này sẽ giúp
nắm bắt tình hình đô thị hóa của thành phố Ở cấp độ này, phương pháp sưu tầm tài
liệu được áp dụng để thu thập các tư liệu, số liệu liên quan đến quá trình đô thị hóa, liên quan đến đời sống của cư dân vùng nghiên cứu Nhóm nghiên cứu đã tiến hành những cuộc khảo sát thực địa tại các vùng đô thị hóa để nắm bắt tình hình và nhận diện những thực tế xảy ra trên cơ sở khung giả thuyết đã được thiết lập
(2) Cấp độ trung gian (phường, khu vực): Với cấp độ này, một số phường được chọn đại diện để điều tra Các phường được chọn đáp ứng các yêu cầu của đề tài về một vùng đô thị hóa (đô thị hóa là tiêu chí chung) với các tiêu chí cụ thể:
- Sự chuyển dịch trong việc sử dụng đất: Diện tích đất nông nghiệp giảm trong khi diện tích sử dụng đất theo hướng phi nông nghiệp (công nghiệp, thương mại, dịch vụ…) tăng
- Sự chuyển dịch về kinh tế: Các hoạt động phi nông nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng đáng kể, trong đó chú trọng đến việc chuyển đổi nghề nghiệp của dân cư
- Vấn đề gia tăng dân số, trong đó, sự gia tăng dân số cơ học ngày càng cao
- Kết cấu hạ tầng vật chất phát triển thể hiện qua nhà ở, giao thông, hệ thống
cấp điện nước, thông tin liên lạc…
Trang 16- Về văn hóa xã hội: Hạ tầng xã hội phát triển thể hiện qua việc hình thành hoặc nâng cấp các bệnh viện, trường học, các trung tâm giải trí… Đồng thời, xuất hiện các thiết chế và giá trị văn hóa mới mang đặc tính đô thị
Về việc chọn mẫu để điều tra định lượng, chúng tôi chọn phường Phú Thứ thuộc quận Cái Răng, phường Phước Thới thuộc quận Ô Môn, phường An Bình thuộc quận Ninh Kiều và hai khu tái định cư (Phú Thứ và Phước Thới) vì 3 phường này đáp ứng được các tiêu chí ở những mức độ khác nhau
- Phường Phú Thứ chịu tác động của đô thị hóa do việc triển khai các quy hoạch của TP Cần Thơ Chúng tôi điều tra ở phường này 100 phiếu
- Phường Phước Thới có ba khu quy hoạch là Khu công nghiệp Trà Nóc 2, chợ Bến Đò Đu Đủ và Khu Thương mại Phường, trong đó đáng chú ý là Khu công nghiệp Trà Nóc 2 Khu này là phần mở rộng của khu Trà Nóc 1, có diện tích là 165ha, thu hút được nhiều dự án đầu tư Đã có một số dự án đi vào hoạt động Ngoài ra trên địa bàn phường còn có nhà máy Nhiệt điện Ô Môn, cụm công nghiệp nghiền xi măng và nhiều
cơ quan doanh nghiệp Chúng tôi điều tra ở phường này 100 phiếu
- Điểm điều tra thứ ba là phường An Bình thuộc quận Ninh Kiều, quận trung tâm của TP Cần Thơ Có thể đánh giá sơ bộ nguyên nhân của quá trình đô thị hóa diễn
ra mạnh mẽ ở đây là 1/ do vị trí nằm gần khu trung tâm của thành phố, 2/ do nằm kề trục giao thông chính (quốc lộ 1), một khuynh hướng phát triển đô thị theo các trục giao thông, 3/ do có sự chuyển dịch dân cư từ nội thành ra Chúng tôi cũng điều tra ở phường này 100 phiếu
- Điểm điều tra thứ tư là 2 khu vực tái định cư (khu tái định cư 586 phường Phú Thứ và khu tái định cư ở phường Phước Thới) có đối tượng là những hộ thuộc chương trình tái định cư (100 phiếu)
Bốn địa điểm trên thuộc 3 phường và 2 khu vực tái định cư được chọn để thực hiện cuộc điều tra sâu nhằm phân tích các tình huống của sự biến đổi đời sống của cư dân
(3) Cấp độ vi mô (thứ ba) là cấp độ hộ gia đình: Chúng tôi cố gắng nắm bắt các chiều hướng biến đổi các mặt trong hoạt động kinh tế mưu sinh, đời sống xã hội và sinh hoạt văn hóa của người dân; khảo sát ảnh hưởng của các chính sách và những định chế tới việc đáp ứng các nhu cầu của người dân Phương pháp điều tra chọn mẫu, dùng bản câu hỏi định lượng để thu thập thông tin từ các hộ gia đình (Riêng đối với dân nhập cư, chúng tôi chỉ tập trung đưa vào mẫu khảo sát những gia đình di dân đã bước đầu hội nhập với cộng đồng khoảng đầu năm 2000, chứ không phải tất cả các nhóm di dân)
Trang 17Như thế, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi áp dụng các phương pháp điều tra xã hội học như phương pháp điều tra định lượng dùng bản câu hỏi, điều tra định tính và phương pháp đồng tham gia của người dân
- Các thao tác của điều tra định lượng
(1) Khách thể điều tra là các hộ gia đình cư trú liên tục trên địa bàn từ trước năm 2000 (không khảo sát dân mới nhập cư sau 2000 và số KT2) và các hộ gia đình tái định cư Nội dung khảo sát là hiện trạng các vấn đề về đời sống của cư dân vùng đô thị hóa năm 2006 so với tình trạng của năm 2000
(2) Cách chọn mẫu
- Quy mô chọn mẫu: Có tất cả là 400 mẫu tổng hợp của 3 phường nêu trên và khu tái định cư Mỗi địa điểm có 100 mẫu tổng hợp Như vậy ta có 400 hộ Có thể thay đổi mẫu nếu các phường dự kiến trên không đáp ứng các yêu cầu
- Ở 3 phường được chọn (mà đối tượng là dân tại chỗ), nhóm nghiên cứu chọn
ra khu vực có những đặc tính dân số học và kinh tế xã hội đại diện cho đặc tính chung của phường
- Lập danh sách toàn bộ các hộ dân cư hiện sống trên địa bàn từ trước năm 2000 tại ba khu vực được chọn, có tên, tuổi của chủ hộ chính thức
Lập danh sách toàn bộ các hộ tái định cư trong phường
Dùng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống (theo bước nhảy k) để chọn ra ở mỗi khu vực 100 hộ, đưa vào danh sách mẫu chính thức Kết quả là ở mỗi phường điểm chọn được 100 hộ trong mẫu khảo sát
- Thay mẫu: Khi gặp trường hợp không thể tiếp cận phỏng vấn được do đối tượng đi làm ăn xa dài ngày, ốm đau, hoặc hộ không đáp ứng được các tiêu chí chọn mẫu (do sơ xuất trong các khâu lấy danh sách khi chọn mẫu)… thì đổi mẫu theo nguyên tắc sử dụng hộ kế tiếp sau (của hộ cần đổi) theo thứ tự trong danh sách nền để chọn mẫu Nếu hộ này cũng trục trặc thì chọn hộ có số thứ tự trước kế bên của hộ trong mẫu chính thức cần đổi
- Tất cả dữ liệu điều tra xã hội học (định lượng) được xử lý và kiểm định bằng phần mềm SPSS1
- Các thao tác của điều tra định tính
Cuộc điều tra định tính gồm hai phần là phỏng vấn sâu và phỏng vấn nhóm
1
SPSS (Statistical Package for Social Sciences) là phần mềm chuyên dụng, xử lý thống kê trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn
Trang 18Những cuộc phỏng vấn sâu đã được thực hiện dựa trên đề cương bán cấu trúc đối với các đối tượng liên quan Đó là các doanh nghiệp đang sử dụng lao động tại chỗ, người lãnh đạo các trung tâm dạy nghề, người lãnh đạo trung tâm giới thiệu việc làm, người lãnh đạo chính quyền địa phương, người còn làm nghề nông, người làm nghề thủ công, người buôn bán nhỏ, người đang làm công nhân và đã nghỉ làm công nhân ở công ty, xí nghiệp trong các khu chế xuất – công nghiệp Bên cạnh đó, phương pháp điều tra định tính còn có mục đích đối chứng khu vực nội thành và khu vực nông thôn để làm rõ tác động qua lại của hai khu vực này đối với vùng đang đô thị hóa
Các cuộc thảo luận nhóm cũng đã được tiến hành, đối tượng của những cuộc thảo luận nhóm tập trung này là người địa phương được chọn theo tiêu chí: am hiểu vấn đề, nam nữ, tuổi (lớn tuổi, trung niên, trẻ), làm nông nghiệp, thợ thủ công, làm dịch vụ, công nhân mới, công nhân đã có thâm niên trên 3 năm, người đã chuyển đổi nghề …
Hai công cụ khoa học phỏng vấn sâu và phỏng vấn nhóm tập trung nhằm đi sâu tìm hiểu các vấn đề nghiên cứu
Khi tiến hành điều tra xã hội học, chúng tôi đã kết hợp với lực lượng cộng tác viên tại địa phương, cụ thể là sinh viên Đại học Cần Thơ Họ đã được huấn luyện các
kỹ năng điều tra trước khi tiến hành cuộc điều tra
Các phương pháp phân tích các nhân tố tạo thành chỉ số HDI, phương pháp sưu tầm tài liệu, phương pháp thống kê cũng đã được áp dụng
Phương pháp “chuyên gia” cũng được áp dụng Những giả thuyết được đưa ra qua các cuộc tọa đàm, hội thảo để thâu thập ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực đô thị hóa, việc làm và biến đổi văn hóa
Cuối cùng là tổng hợp các kết quả để hình thành bản báo cáo tổng hợp và đưa
ra các giải pháp kiến nghị
Trang 194 huyện: Vĩnh Thạnh, Phong Điền, Thới Lai, Cờ Đỏ); 85 xã, phường, thị trấn
So với các địa phương khác tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), TP Cần Thơ có mức phát triển cao hơn về kinh tế, xã hội, văn hóa Tăng trưởng GDP của TP
Cần Thơ so với các đơn vị khác tại ĐBSCL có vượt trội (bảng 1.1.1 )
Bảng 1.1.1: Tốc độ tăng GDP một số địa phương tại ĐBSCL năm 2006 (%)
Nguồn: Tổng hợp từ các website của các tỉnh thành trên và từ website của
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế ĐBSCL (MDEC)
Bên cạnh tốc độ GDP cao, thu nhập bình quân đầu người của người dân TP
Cần Thơ cũng cao nhất so với VĐBSCL (biểu đồ 1.1.1)
Trang 20Bến Tre
Trà Vinh
Vĩnh Long
Đồng Tháp
An Giang
Kiên Giang
Cần Thơ
Hậu Giang
Sóc Trăng
Bạc Liêu
Cà Mau
Biểu đồ 1.1.1: Thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2006
theo giá thực tế (nghìn đồng)
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2007
Những thành tựu đó của TP Cần Thơ có chỗ dựa vững chắc là tiềm năng về địa
lý, kinh tế, xã hội của thành phố Một trong những ưu thế nổi trội nhất của Cần Thơ là
vị trí địa lý của thành phố này Nhờ vị trí này, từ TP Cần Thơ ta có thể tiếp cận dễ dàng đến các vùng khác trong ĐBSCL, ngay cả với TP Hồ Chí Minh và thậm chí đến nước Campuchia lân cận
Do nằm bên bờ sông Hậu, một bộ phận của sông Cửu Long chảy qua 6 quốc gia, đặc biệt là phần trung và hạ lưu chảy qua Lào, Thái Lan và Campuchia, ưu thế về đường thủy của Cần Thơ nổi bật Ngoài ra, còn có một mạng lưới sông rạch và kênh đào tạo nên hệ thống đường thủy rất thuận tiện nối liền TP Cần Thơ với các tỉnh thuộc VĐBSCL và với thương cảng Sài Gòn
Về đường bộ, quốc lộ 1A là tuyến giao thông huyết mạch nối TP Cần Thơ với
TP Hồ Chí Minh, các tỉnh, thành phố trong vùng và cả nước; quốc lộ 91 dài 30km nối cảng Cần Thơ, sân bay Trà Nóc, Khu công nghiệp Trà Nóc với quốc lộ 1A Cùng với
đó, thành phố cũng đang xúc tiến xây dựng cầu Cần Thơ (TP Cần Thơ với TP Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố thuộc VĐBSCL), dự kiến hoàn thành vào năm 20101
Biểu đồ 1.1.2 sau đây cho thấy sự vượt trội của TP Cần Thơ trên phương diện
vận chuyển Khối lượng khổng lồ về vận chuyển hành khách chứng tỏ Cần Thơ là điểm đi và điểm đến từ nhiều nơi, trong đó hẳn nhiên quan trọng nhất là VĐBSCL
1
Nguồn: http://tintuc.ipvnn.com/xa-hoi/cau-can-tho-se-hoan-thanh-vao-dau-nam-2010.ipvnn Theo tính toán
của các nhà thầu thi công Nhật Bản, cầu Cần Thơ sẽ được hoàn thành chậm nhất vào ngày 31/3/2010, trễ hơn kế hoạch ban đầu 1 năm 3 tháng.(tin đăng lúc 20:56 ngày 25/11/2008)
Trang 21Cần Thơ Hậu Giang Sóc Trăng Bạc Liêu Cà Mau
Năm 2000 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Biểu đồ 1.1.2: Khối lượng vận chuyển hành khách (triệu lượt người)
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2007 và 2008
Về đường hàng không, TP Cần Thơ đã có sân bay Trà Nóc từ trước năm 1975 với tên gọi là “Căn cứ không quân Bình Thủy” Sau năm 1975, sân bay này hoạt động một thời gian nhưng hiệu quả thấp nên đã tạm ngừng Đến năm 2006, sân bay được trùng tu, nâng cấp và đã đi vào hoạt động vào năm 2009 Trong tương lai, sân bay Trà Nóc sẽ mở rộng đường bay đến các nước trong khu vực ASEAN và trở thành cảng hàng không quốc tế1 Đây là tiềm năng góp phần vào việc phát triển hệ thống giao thông vận tải của TP Cần Thơ
Về giáo dục, trong quá trình phát triển, Cần Thơ đã tạo cho mình một ưu thế về giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ vượt trội đối với cả VĐBSCL
1
Ngày 4/1/2009, cảng hàng không Cần Thơ, sân bay Trà Nóc đã chính thức khai trương, Dự kiến từ quý IV năm
2010, theo sự phát triển của thị trường hàng không, Cần Thơ sẽ có đường bay trực tiếp tới các nước Đông Nam
Á như Singapore, Thái Lan, Campuchia, đi các nước và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hồng
Kong, Đài Loan
Trang 22Hình 1.1.1: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và lãnh đạo các bộ tham dự buổi lễ khánh thành
Cảng hàng không Cần Thơ vào ngày 4/1/2009 - Ảnh: Thanh Hải - Nguồn:www.mt.gov.vn
Đại học Cần Thơ, cơ sở đào tạo đại học và sau đại học trọng điểm của Nhà nước ở ĐBSCL, là trung tâm văn hóa - khoa học kỹ thuật của vùng Trường đã không ngừng hoàn thiện và phát triển, từ một số ít ngành đào tạo ban đầu, Trường đã củng
cố, phát triển thành một trường đa ngành đa lĩnh vực Trường có 76 chuyên ngành đào tạo đại học và 1 chuyên ngành cao đẳng, 28 chuyên ngành cao học và 8 chuyên ngành nghiên cứu sinh1 Hàng năm, trường còn tiếp nhận sinh viên từ các trường đại học nước ngoài (Hoa Kỳ, Bỉ, Nhật Bản ) Ngoài nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, trường còn chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật nhằm giải quyết các vấn đề về khoa học, công nghệ, kinh
tế, văn hóa và xã hội của vùng Trường đã sáng tạo ra nhiều sản phẩm, quy trình công nghệ phục vụ sản xuất, đời sống và xuất khẩu, tạo được uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế
Ngoài ra, TP Cần Thơ còn có Trường Đại học Y Dược, thành lập ngày 22/12/2002 trên cơ sở tách từ Khoa Y - Nha - Dược Trường Đại học Cần Thơ Trường
có 5 khoa và 2 bộ môn trực thuộc, 1 đơn vị trực thuộc và 1 Trung tâm Trường có quan
hệ chặt chẽ với hệ thống bệnh viện của thành phố trong đào tạo và khám chữa bệnh
Biểu đồ so sánh số giáo viên và sinh viên của các địa phương trong VĐBSCL sau đây cho thấy sự vượt trội về giáo dục đại học của Cần Thơ so với các địa phương khác tại VĐBSCL Cần Thơ đã thu hút về đây một số lượng lớn sinh viên và giáo viên bậc đại học của cả vùng Với hệ thống đại học như trên, TP Cần Thơ là trung tâm giáo dục và đào tạo của VĐBSCL Và đây cũng là điểm đặc sắc nổi bật của TP Cần Thơ
1
Số liệu của đầu năm 2009, lấy từ website của Trường Đại học Cần Thơ http://www.ctu.edu.vn
Trang 23Biểu đồ 1.1.3: Số giáo viên và sinh viên đại học, cao đẳng ĐBSCL năm 2008 (người)
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2008
Về y tế, TP Cần Thơ có bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ, là trung tâm
y tế chuyên sâu của khu vực ĐBSCL, phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh không những của nhân dân thành phố mà còn của VĐBSCL Qua nhiều năm phục vụ, bệnh viện cũ
đã quá tải và xuống cấp trầm trọng Vì vậy, bệnh viện đã được đầu tư xây dựng mới và đến tháng 9 năm 2007 bệnh viện có trụ sở mới, khang trang với 30 khoa, phòng điều trị, được trang bị các phương tiện chữa bệnh hiện đại
Trong hoạt động doanh nghiệp, TP Cần Thơ cũng có những thành tựu đáng kể Xét về số lượng, thì số lượng doanh nghiệp hoạt động tại TP Cần Thơ không phải là cao nhất VĐBSCL Số lượng doanh nghiệp hoạt động tại TP Cần Thơ là 2078 vào thời điểm năm 2007, thấp hơn so với Kiên Giang (2472 doanh nghiệp), chỉ hơn so với
Tiền Giang (2001) và Long An (1988) (biểu đồ 1.1.4)
Biểu đồ 1.1.4: Số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh
tại thời điểm 31 tháng 12 hàng năm (doanh nghiệp)
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2008
Trang 24Số lượng lao động làm việc tại các doanh nghiệp cũng thế, không cao nhất
vùng, có 68.225 người, đứng sau Long An, 93.693 người (2006) (biểu đồ 1.1.5)
Biểu đồ 1.1.5: Tổng số lao động trong các doanh nghiệp
tại thời điểm 31/12 (người)
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2007
Tuy số lượng thấp, nhưng số vốn sản xuất kinh doanh hàng năm cũng như số doanh thu của TP Cần Thơ lại vượt hơn hẳn các địa phương trên và được xếp vào một
trong những đơn vị hàng đầu của VĐBSCL (hai biểu đồ 1.1.6 và 1.1.7) Số vốn sản
xuất kinh doanh của TP Cần Thơ là 23.147 tỷ đồng, còn số doanh thu là 45.884 tỷ đồng (2007) Trong khi ấy, đơn vị đứng hàng thứ nhất về vốn sản xuất kinh doanh là Long An, 23.192 tỷ đồng Số doanh thu của TP Cần Thơ cũng vượt trội với 45.884 tỷ đồng, cao hơn hẳn đơn vị đứng thứ hai là Cà Mau (32.958 tỷ đồng), đơn vị thứ ba là Long An (32.757 tỷ đồng, năm 2006) Vốn lớn, doanh thu lớn chứng tỏ hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của TP Cần Thơ khá cao
Biểu đồ: 1.1.6: Vốn sản xuất kinh doanh hàng năm của các doanh nghiệp (tỷ đồng)
Trang 25Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2008
Biểu đồ 1.1.7: Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (tỷ đồng)
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2008
Về sản xuất công nghiệp, TP Cần Thơ có giá trị sản xuất đứng vào hàng cao nhất VĐBSCL Kể từ khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương (2003), TP Cần Thơ có điểm xuất phát của giá trị sản xuất công nghiệp là 6.834,7 tỷ đồng, thua giá trị của Cà Mau lúc bấy giờ là 8.421,1 tỷ đồng, cao hơn Long An (5.898,1 tỷ đồng) không nhiều Nhưng, qua 5 năm, từ năm 2003 đến năm 2007, giá trị sản xuất công nghiệp của
TP Cần Thơ phát triển nhanh từ năm này qua năm khác, đạt 21.839,5 tỷ đồng vào năm
2007 Trong khi đó, Cà Mau xuống hạng ba với 16.534,4 tỷ đồng, Long An lên hạng
hai với 20.280 tỉ đồng (biểu đồ 1.1.8)
Biểu đồ 1.1.8: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế (tỷ đồng)
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2008
Trang 26Một điểm đáng chú ý trong nền kinh tế của TP Cần Thơ là có sự tương đối cân bằng giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp Trong khi cố gắng vươn lên trên con đường đô thị hóa, công nghiệp hóa, TP Cần Thơ vẫn có những nỗ lực lớn trong sản xuất nông nghiệp Công nghiệp phát triển không làm vị trí của sản xuất nông
nghiệp xuống thấp Biểu đồ 1.1.9 cho thấy năng suất lúa hàng năm của TP Cần Thơ vẫn tăng đều đặn đứng thứ ba VĐBSCL
Biểu đồ 1.1.9: Năng suất lúa cả năm (tạ/ha)
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2007 và 2008
Tuy có nhiều thành tựu, nhưng thành phố vẫn còn những hạn chế, cần được khắc phục Một đồng chí lãnh đạo thành phố đã đúc kết những điểm hạn chế ấy như sau: “Tốc độ tăng trưởng kinh tế được giữ ở mức cao, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu và tương xứng với tiềm năng Chất lượng và hiệu quả tăng trưởng có nhích lên nhưng vẫn chưa rõ nét Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất là chuyển dịch cơ cấu lao động, nhìn chung còn chậm Công tác quy hoạch, quản
lý, thực hiện quy hoạch, lập lại trật tự đô thị vẫn còn nhiều mặt yếu kém, bất cập, gây bức xúc trong nhân dân, chưa tương xứng với vị trí địa lý – chính trị – kinh tế là yêu cầu phát triển tăng tốc của một thành phố trung tâm động lực của đồng bằng”1
Ở những lĩnh vực này hoặc lĩnh vực khác phát triển của Cần Thơ tỏ ra không kịp so với các địa phương khác trong VĐBSCL Dù ở vị trí địa lý trung tâm của VĐBSCL và có sức chuyển tải hành khách khổng lồ nhưng khối lượng vận tải hàng hóa của TP Cần Thơ lại không phải là đứng hàng cao nhất, chỉ có 8,268 triệu tấn, không bằng An Giang (9,509 triệu tấn) và Long An (11,537 triệu tấn), và cao hơn
không nhiều so với Tiền Giang (6,332 triệu tấn), Trà Vinh (5,589 triệu) (biểu đồ
Trang 27An Giang Kiên Giang Cần Thơ Hậu Giang Sóc Trăng Bạc Liêu Cà Mau
Năm 2000 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Biểu đồ 1.1.10: Khối lượng hàng hóa vận chuyển (nghìn tấn)
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2007
Trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), TP Cần Thơ không bằng các địa phương khác Địa phương vượt qua Cần Thơ trong lĩnh vực thu hút FDI đáng chú ý nhất là Long An Tính đến ngày 31/12/2007, trên địa bàn tỉnh Long An có 196
dự án FDI được cấp phép đầu tư, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1,931 tỷ USD Phần lớn các dự án FDI ở Long An đều hoạt động hiệu quả, đã góp phần đáng kể vào chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, chuyển hóa các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước từ vùng đất bạc màu, sản xuất nông nghiệp hiệu quả thấp, giá trị sản xuất công nghiệp không đáng kể thành vùng trọng điểm sản xuất công nghiệp của Long An
Trong khi ấy thì các dự án FDI vào TP Cần Thơ rất nhỏ giọt Khi còn là một bộ phận trong tỉnh Cần Thơ, thì thành phố đã có một dự án FDI chế biến nông sản thực phẩm, may mặc, da, lông vũ, thức ăn gia súc của liên doanh Meko Từ đó đến nay số
dự án FDI không tăng lên được bao nhiêu Mỗi năm chỉ thu hút khoảng 1 dự án với số vốn không cao Riêng năm 2008, TP Cần Thơ có 5 dự án FDI, trong đó dự án nhà máy lọc dầu có công suất 2 triệu tấn dầu thô/năm có vốn đầu tư đăng ký lớn 538 triệu USD Tính đến cuối năm 2008, TP Cần Thơ có 44 dự án FDI, với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 727 triệu USD, đứng thứ 22/63 tỉnh, thành trong cả nước, trong VĐBSCL thì đứng sau Kiên Giang, Long An
Tuy TP Cần Thơ đã có nhiều nỗ lực thu hút FDI, nhưng môi trường đầu tư của thành phố chưa thực sự hấp dẫn Vẫn còn một số khó khăn, hạn chế do kết cấu hạ tầng của thành phố phát triển chậm, chưa theo kịp yêu cầu của các nhà đầu tư và chưa đồng
bộ, chính sách phát triển nguồn nhân lực chưa được coi trọng đưa đến chất lượng lao động còn thấp, còn thiếu “đất sạch” cho các nhà đầu tư để thực hiện dự án, một số trường hợp có “đất sạch” nhưng giá cho thuê cao
Trang 28Biểu đồ 1.1.11: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2008
Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) 2009
Từ đó cũng thể hiện tính cạnh tranh của TP Cần Thơ Chỉ số PCI TP Cần Thơ năm 2007 nằm trong nhóm tốt, đạt 61,76 điểm xếp hạng 17/64 tỉnh thành, sụt 7 hạng
so với năm trước mặc dù điểm số có tăng hơn năm trước (2006: 58,33 điểm xếp thứ 10/64) Đối với VĐBSCL, chỉ số cạnh tranh của TP Cần Thơ năm 2007 đứng hạng thứ 7 sau Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang và Bến Tre TP Cần Thơ có chỉ số thành phần cao đáng chú ý là “Gia nhập thị trường”, “Đào tạo lao động”, “Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân” Những chỉ số thành phần PCI thấp của TP Cần Thơ là chỉ số “Tính năng động và tiên phong của Chính quyền Tỉnh”, “Tính minh bạch và tiếp cận thông tin”, “Ưu đãi Doanh nghiệp Nhà nước và Tiếp cận đất đai”
Qua năm 2008, chỉ số PCI của TP Cần Thơ tiếp tục đi xuống, rơi vào hạng 22
so với cả nước, trong khi đó thì Vĩnh Long, Đồng Tháp, Long An, Bến Tre, An Giang vẫn giữ vị trí cao, nằm trong tốp tốt, dẫn đầu VĐBSCL
Trang 29Trên thực tế, TP Cần Thơ có một vị trí khá quan trọng đối với VĐBSCL Những thành tựu của TP Cần Thơ là những bước thúc đẩy sự phát triển không chỉ của thành phố mà còn của cả vùng Bức tranh về kinh tế, xã hội và nhân văn của VĐBSCL
là thành tựu đan xen với thách thức Bước vào thế kỷ 21, VĐBSCL có bước phát triển kinh tế phong phú, tỉ lệ tăng GDP của vùng luôn cao hơn mức bình quân chung của cả nước Chỉ số cạnh tranh PCI luôn nằm trong nhóm cao Vùng là địa bàn chủ lực cung cấp lương thực thực phẩm cho cả nước và cho xuất khẩu Ngành thủy sản có những bước tiến đáng kể với sự phát triển của kinh tế biển Du lịch cũng bắt đầu khởi sắc với các sản phẩm mang đặc tính vùng sông nước Bên cạnh đó, những điểm yếu cũng không kém phần sắc cạnh
Một trong những điểm yếu mấu chốt là trình độ học vấn của vùng Trên vùng đất trù phú vào bậc nhất của đất nước, người dân lại có trình độ học vấn thấp nhất nước TP Cần Thơ, với sự hiện diện của hệ thống đại học cao đẳng của mình, đã cải thiện rất nhiều tình hình này Thành phố là nơi quy tụ nhiều sinh viên từ khắp nơi trong vùng, qua đó vai trò giáo dục, đào tạo của thành phố là rất lớn và có tính quyết định Hệ thống đại học của thành phố là đòn bẩy để các địa phương khác cũng xây dựng được hệ thống giáo dục của mình Những giáo viên của TP Cần Thơ cũng góp phần quan trọng trong việc xây dựng và giảng dạy tại các trường đại học mới trong vùng như Đại học An Giang (1990), Đại học Cửu Long (2000), Đại học Tiền Giang (2005), Đại học Trà Vinh (2006)…
TP Cần Thơ đã trở thành đô thị loại I So với các địa phương của VĐBSCL thì
TP Cần Thơ có chỉ số đô thị cao nhất vùng (51,92%, năm 2008) Biểu đồ 1.1.12 cho thấy điều đó Có thể cho rằng TP Cần Thơ chiếm một vị trí độc tôn trong lĩnh vực phát triển đô thị đối với vùng Đô thị theo sau TP Cần Thơ là An Giang có chỉ số rất thấp (28,61%), còn những tỉnh khác còn thấp hơn, trong đó Bến Tre không vượt qua được con số 10%
Biểu đồ 1.1.12: Mức độ đô thị hóa các tỉnh ĐBSCL năm 2008 (%)
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2008
Trang 30Mức độ đô thị hóa của TP Cần Thơ rất cao đối với VĐBSCL, nhưng so với các
đô thị trực thuộc trung ương khác thì mức độ đô thị hóa của TP Cần Thơ lại khá thấp,
chỉ nhỉnh hơn TP Hải Phòng, TP Hà Nội (biểu đồ 1.1.13)
Biểu đồ 1.1.13: Mức độ đô thị hóa các thành phố trực thuộc trung ương năm 2008 (%)
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2008
Trong các tiêu chí của một đô thị loại I thì TP Cần Thơ đã có được tiêu chí thứ nhất1 Đó là “Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước”2 Còn những chỉ tiêu khác như tỉ lệ lao động phi nông nghiệp 85% trong tổng số lao động, mật độ dân số bình quân từ 12.000 người/km2 trở lên, thì TP Cần Thơ chưa đạt được
Đẩy cao mức độ đô thị hóa là một điều không dễ dàng Đó là một sự chuyển đổi tổng thể, mang tính cách mạng, làm thay đổi hẳn tính chất của một xã hội, làm
1
Nghị định của Chính phủ số 72/2001/NĐ-CP quy định các chức năng của đô thị loại I gồm 1/Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của
cả nước; 2/Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 85% trở lên; 3/Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh; 4/Quy mô dân số từ 50 vạn người trở lên; 5/ Mật độ dân số bình quân từ 12.000 người/km2 trở lên Nghị định của Chính phủ số 42/2009/NĐ-CP (Nghị định này thay thế Nghị định số 72/2001/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02 tháng 7 năm 2009) quy định tiêu chuẩn đô thị loại I trực thuộc Trung ương gồm 1/Chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước; 2/Quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên; 3/Mật độ dân số bình quân khu vực nội thành từ 12.000 người/km2 trở lên; 4/Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng số lao động; 5/Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị khu vực nội thành được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường; Khu vực ngoại thành nhiều mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh; 6/Kiến trúc, cảnh quan đô thị
theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị Nguồn: doc&id=29555
http://www.xaydung.gov.vn/site/moc/legal?v=detail-2
Trích trong Nghị định của Chính phủ số 72/2001/NĐ-CP
Trang 31nghiêng hẳn cán cân kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, từ nghề nông sang phi nông, từ văn hóa nông thôn sang văn hóa đô thị, và nhất là, sự tăng vọt của mật độ dân số Ngoài những chính sách, chủ trương thúc đẩy được quá trình đô thị hóa, cần có nhiều nhân tố quan trọng khác như mức độ phát triển và sự đổi mới của ngành công nghiệp, dịch vụ, sức thu hút nguồn nhân lực từ nơi khác đến…
Xu hướng phát triển hiện nay của các thành phố tại khu vực Đông Nam Á là vừa phát triển công nghiệp, vừa phát triển nông nghiệp Các nước vừa có nền công nghiệp phát triển cao, trình độ đô thị hóa được thúc đẩy tăng tốc nhưng đồng thời vẫn duy trì sức sản xuất nông nghiệp
Thật sự TP Cần Thơ không nhất thiết phải trở thành một đô thị quá lớn so với VĐBSCL Một đô thị quá lớn nổi vượt lên trên một vùng rộng lớn có mức độ đô thị hóa thấp có nguy cơ dẫn đến bệnh “to đầu” (primate hay là macrocephalous) Các thành phố “to đầu” sẽ hút hết nhân tài, tiền của, tiềm lực của cả vùng để càng ngày càng mạnh về kinh tế, xã hội, cản trở sự phát triển của vùng chung quanh Những thành phố nhỏ sẽ bị thành phố lớn đè bẹp bằng dân số cũng như bằng các chức năng
đô thị của nó, bị lép vế về đủ mọi phương diện Các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và trí tuệ dường như chủ yếu diễn ra ở các thành phố “to đầu”
Vì thế, vấn đề quan trọng là TP Cần Thơ sẽ là hạt nhân liên kết của các đô thị nhỏ hơn trong vùng Những đô thị nhỏ và vừa của VĐBSCL cùng với TP Cần Thơ tạo thành một mạng lưới đô thị để cùng phát triển, cùng giải quyết những khó khăn cũng như chia sẻ những thuận lợi để tiến lên đồng bộ
Mối quan hệ giữa các tỉnh thành thuộc VĐBSCL đã được hình thành từ trước
do địa hình, do những mối quan hệ truyền thống Và hiện nay, các tỉnh thành đã được kết hợp bởi nhiều quan hệ hỗ tương Việc ra đời của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế ĐBSCL (Mekong Delta Economic Cooperation-MDEC) là một điển hình cho truyền thống hỗ tương của vùng
Chính tại TP Cần Thơ mà Diễn đàn này được ra đời vào ngày 12 tháng 4 năm
2007, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương), UBQG về HTKTQT cùng lãnh đạo UBND 13 tỉnh, thành khu vực ĐBSCL và Báo đối ngoại Viet Nam Economic News tổ chức Hội nghị tại TP Cần Thơ dưới sự chủ trì của Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ Từ đó, Diễn đàn này được hình thành và sẽ được tổ chức hàng năm
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế ĐBSCL chủ yếu hoạt động theo hướng đẩy mạnh hợp tác phát triển kinh tế và đối ngoại dựa trên nền tảng thế mạnh của từng địa phương và vùng để tạo thế và lực trong quá trình hội nhập vì sự phát triển và thịnh vượng chung Với các mục tiêu cụ thể: tăng cường hợp tác xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư và xúc tiến du lịch; tập hợp ý kiến và đề xuất cơ chế chính sách lên Chính phủ; xây dựng
Trang 32hình ảnh ĐBSCL, tăng cường công tác đối ngọai; góp phần phát triển kinh tế, xã hội của vùng và cả nước Trong tuyên bố chung của Diễn đàn kinh tế ĐBSCL năm 2007, Diễn đàn đưa ra mục tiêu là: đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư và phát triển du lịch cho VĐBSCL trong tiến trình hội nhập vào WTO, đồng thời tạo diễn đàn tiếp thu những sáng kiến, đề xuất, kiến nghị và kinh nghiệm để phát triển kinh tế của vùng Ngoài ra Diễn đàn còn chú trọng đến sự phối hợp của các tỉnh thành VĐBSCL Đó là kiến nghị Chính phủ cho thành lập một cơ quan điều phối chung, đóng vai trò nhạc trưởng trong việc: điều chỉnh các vấn đề kinh tế của vùng, tiếp thu các ý kiến đề xuất sửa đổi chính sách, theo dõi và báo cáo về những khó khăn, tồn đọng và đề xuất, kiến nghị lên Chính phủ những giải pháp Diễn đàn là một cơ hội tốt
để TP Cần Thơ thắt chặt các mối quan hệ hỗ tương với các tỉnh thành VĐBSCL Ngoài ra TP Cần Thơ cần đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nữa Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong lần làm việc với lãnh đạo TP Cần Thơ (tháng 12 năm 2007) đã phát biểu là TP Cần Thơ phải có quy hoạch tổng thể, đẩy nhanh phát triển kinh tế, chăm lo văn hóa, giáo dục, y tế, phát triển nguồn nhân lực không chỉ cho TP Cần Thơ mà cả VĐBSCL, củng cố quốc phòng, an ninh, trong đó chú trọng làm tốt công tác vận động nhân dân tham gia giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội
II NHỮNG ĐIỂM NHẤN TRONG TIẾN TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TẠI CẦN THƠ
1 Đô thị hóa, dịch chuyển dân cư và sự chuyển biến cơ cấu dân cư đô thị – Các hệ quả kinh tế - xã hội
Vào năm 2007, TP Cần Thơ có khoảng 1,150 triệu người (bảng 1.2.1) trên một
diện tích hơn 1.400km2, trong đó 17% là đất phi nông nghiệp Từ khi tách ra từ tỉnh Cần Thơ, thành phố được nhận những địa bàn đã có hiện tượng đô thị hóa như quận Ninh Kiều (mật độ 7.392người/km2) và các quận Ô Môn, Bình Thủy, Cái Răng, huyện Thốt Nốt1 (tất cả đều có mật độ trên 1000người/km2) Ba huyện còn lại là Vĩnh Thạnh,
Cờ Đỏ, Phong Điền đều có mật độ rất thấp (Vĩnh Thạnh = 376người/km2, Cờ Đỏ2 = 451người/km2, Phong Điền = 846người/km2)3
Bảng 1.2.1: Dân số của TP Cần Thơ từ 2000 đến 2008 (nghìn người)
Trang 33Mật độ dân cư toàn TP Cần Thơ không cao, chỉ có 836người/km² (năm 2008)
Tỉ lệ giữa dân số thành thị và dân số nông thôn của TP Cần Thơ được phân bố khá cân bằng Dân số đô thị của thành phố là 608.000, chiếm 51,91% trên tổng số dân toàn
thành, dân cư nông thôn có 563.000 người, chiếm 48,09% (2008) (biểu đồ 1.2.1)
Từ năm 2004, dân số TP Cần Thơ bắt đầu có hiện tượng tăng cơ học Mỗi năm thành phố tiếp nhận từ 1.500 đến 2.000 dân nhập cư Lao động công nghiệp tăng theo từng năm Theo thống kê của thành phố, số lao động công nghiệp năm 2000 là 36.327 người và tăng lên 51.163 người vào năm 20051 Như vậy, trong 5 năm, số người lao động trong thành phố tăng lên gần 15.000 người Trong số này, ngoài người tại chỗ còn có người nhập cư Sự hình thành các khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất cũng kéo theo một số lượng người nhập cư Nhiều khu đất nông nghiệp đã được thay thế bằng các khu dân cư tự phát Việc hình thành các khu dân cư tự phát là bài toán đặt ra cho TP Cần Thơ hiện nay Mặc dù số người nhập cư không diễn ra ồ ạt như ở TP Hồ Chí Minh nhưng không có dấu hiệu sẽ chấm dứt sự tự phát này
Biểu đồ 1.2.1: Mức độ đô thị hóa TP Cần Thơ năm 2004 - 2008 (%)
Nguồn: Niên giám thống kê TP Cần Thơ năm 2008
Nguồn nhập cư chủ yếu là các tỉnh ĐBSCL, cung ứng lao động cho các khu công nghiệp như Trà Nóc, Hưng Phú Ngoài ra, còn có một tỉ lệ lao động nhập cư đáng
kể từ các khu vực đô thị khác như Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang Những người nhập cư có thể chia làm hai nhánh chính Nhánh thứ nhất, là những người có trình độ học vấn tương đối khá, tìm đến TP Cần Thơ để mong có cơ hội thăng tiến nghề nghiệp Nhánh thứ hai, phần lớn là lao động tự do, là những người nghèo, trình độ học vấn thấp, sẵn sàng chấp nhận những công việc nặng nhọc, vất vả như làm công nhân
1
Số liệu thống kê của TP Cần Thơ năm 2005
Trang 34cho các xí nghiệp, các cơ sở sản xuất của tư nhân và cũng có khi làm nghề tự do như chạy xe ôm, buôn bán nhỏ…
Ngoài việc tăng dân số cơ học còn có sự dịch chuyển lớn dân cư của thành phố Theo Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ (BQL KCX-CN Cần Thơ), 5 KCN trên địa bàn TP Cần Thơ vào đầu năm 2008 thu hút thêm 5.500 lao động, nâng tổng số lao động tại các KCN lên 31.600 người, tập trung nhiều nhất tại KCN Trà Nóc 1, Trà Nóc 2 (phường Trà Nóc, quận Bình Thủy) Cụ thể là KCN Trà Nóc 1 (18.878 người); KCN Trà Nóc 2 (4.879 người); KCN Hưng Phú 1 (213 người), KCN Hưng Phú 2 (286 người), KCN Thốt Nốt (7.289 người) Đa phần lao động làm việc ở đây đến từ các vùng quê của TP Cần Thơ
Trong tương lai, bộ mặt và sự phân bố dân cư TP Cần Thơ không dừng ở đây Các chính sách tích cực tác động đến sự chuyển dịch cũng như thu hút nguồn nhân lực
sẽ làm cho cơ cấu dân cư thành phố có những bước dịch chuyển mới mà cụ thể nhất là
Quyết định 207/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Quy hoạch xây dựng
thành phố Cần Thơ đến năm 2025” có hiệu lực kể từ ngày 6/10/2006
Theo Quyết định này đến năm 2025, TP Cần Thơ có dân số từ 1,6 - 1,8 triệu người, đất dành cho xây dựng đô thị lên trên 22.000ha Khu ở hiện hữu bao gồm khu
đô thị trung tâm là 1.000 ha, dân số 250.000 người; các khu dân cư tại Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt có 450 ha, 150.000 người Bên cạnh đó là các khu phát triển mới được xây dựng theo các dự án phát triển đô thị bao gồm:
- Khu ở dọc QL 91B, khu phía Bắc cồn Cái Khế và quận Bình Thủy (1.200 -
1.300 ha; 200.000 người)
- Khu ở ven sông Cần Thơ và khu phía Nam QL 1A mới thuộc quận Cái Răng
(700 - 800 ha; 120.000 - 150.000 người)
- Khu ở thuộc khu đô thị công nghiệp nặng Ô Môn được bố trí tại phía Nam sông
Ô Môn và phía Đông Nam QL 91 (850ha; 120.000 - 150.000 người)
- Khu ở thuộc khu đô thị - công nghiệp công nghệ cao tại phía Bắc sông Ô Môn
thuộc các phường Thới An, Thới Long (400 - 500ha; 70.000 người)
- Khu ở thuộc khu đô thị sinh thái Phong Điền bố trí ven sông Cần Thơ thuộc các
xã Mỹ Khánh, Giai Xuân, Nhơn Nghĩa (350ha; 70.000 người)
- Khu ở tại khu vực Thốt Nốt - Lộ Tẻ (600ha; 100.000 - 120.000 người)
Những thay đổi, chuyển dịch trên cũng thể hiện rõ trong sự chuyển dịch lực lượng lao động Lực lượng thuộc khu vực I (nông lâm ngư nghiệp) có chiều hướng đi xuống, tuy nhẹ, nhưng lại đều đặn hàng năm Đồng thời lực lượng lao động thuộc khu vực II (công nghiệp xây dựng) có khuynh hướng đi lên, ăn khớp với chiều đi xuống của khu vực I vì khu vực III hầu như không có thay đổi nào Như vậy, ta có thể cho rằng tại TP Cần Thơ đang có xu hướng dịch chuyển nhẹ cơ cấu nghề nghiệp từ khu
vực I sang khu vực II (biểu đồ 1.2.2)
Trang 35Biểu đồ 1.2.2: Cơ cấu lao động trong các ngành KTQD phân theo khu vực (%)
Nguồn: Niên giám thống kê TP Cần Thơ năm 2007
Sự chuyển dịch không gãy khúc, nên sản xuất nông nghiệp của TP Cần Thơ
vẫn được duy trì và có vai trò lớn trong cơ cấu kinh tế của thành phố (biểu đồ 1.2.3)
Biểu đồ 1.2.3: Cơ cấu tổng sản phẩm TP Cần Thơ
Nguồn: Niên giám thống kê TP Cần Thơ 2007
Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp TP Cần Thơ tăng không ngừng theo từng năm, trong đó tỷ trọng trồng trọt luôn chiếm trên 80% Sản xuất nông nghiệp vẫn còn là một trong những hoạt động kinh tế góp phần quan trọng vào tổng sản lượng của thành phố Trong bốn năm từ 2004 đến 2006, tổng sản phẩm công nghiệp có chiều hướng gia tăng: vào năm 2004 chiếm tỉ lệ là 40.82% thì vào năm 2007 lên 43,62 Các ngành kinh tế thuộc khu vực III cũng phát triển khá nhanh theo hướng đa dạng hóa loại hình, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả và hướng tới những ngành dịch vụ
có giá trị gia tăng lớn với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế
Trang 362 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đưa đến việc chuyển đổi quy mô về mục đích sử dụng đất
Tại TP Cần Thơ đã hình thành các khu công nghiệp tập trung, gồm khu công nghiệp Trà Nóc 1 và Trà Nóc 2 thuộc quận Bình Thủy và quận Ô Môn, khu công nghiệp Hưng Phú 1 và Hưng Phú 2 thuộc quận Cái Răng, KCN Thốt Nốt 1 và KCN Ô Môn
- Khu Công nghiệp Trà Nóc 1 có diện tích 135ha, đã lấp đầy 100% diện tích đất công nghiệp Vào cuối năm 2008, KCN có 117 dự án, (99 đang hoạt động, 14 đang xây dựng, 04 chưa triển khai), vốn đăng ký 296,577 triệu USD, vốn thực hiện 225,527 triệu USD, đạt tỉ lệ 76% vốn đăng ký (trong đó có 18 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, vốn đăng ký 81,567 triệu USD, vốn thực hiện 61,0179 triệu USD, đạt tỉ lệ 75% vốn đăng ký)
- Khu công nghiệp Trà Nóc 2 có diện tích 165ha, KCN Trà Nóc 2 (165ha), đã lấp đầy 98% diện tích đất công nghiệp, có 40 dự án (14 đang hoạt động, 14 đang xây dựng, 12 chưa triển khai), vốn đăng ký 405,16 triệu USD, vốn thực hiện 102,27 triệu USD, đạt tỉ lệ 15 % vốn đăng ký (trong đó có 05 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, vốn đăng ký 26 triệu USD, vốn thực hiện 5,97 triệu USD, đạt tỉ lệ 23 % vốn đăng ký) đã xây dựng xong trục lộ chính 1.400m, đường số 9, hệ thống thoát nước, điện, cấp nước, bưu chính viễn thông đáp ứng đầy đủ yêu cầu cho các doanh nghiệp
- Khu công nghiệp Hưng Phú 1 thuộc Quận Cái Răng, có diện tích 262 ha do Cty Cổ phần KCN Sài Gòn - Cần Thơ là chủ đầu tư đã kết hợp với Hội đồng đền bù thiệt hại giải phóng mặt bằng, KCN này đã thực hiện công tác điều tra đền bù giải tỏa khoảng 35 ha, diện tích cho thuê lại đất 16,85ha, vào năm 2008 có 02 dự án, vốn đăng
ký 13,61 triệu USD, vốn thực hiện 7,557 triệu USD, đạt tỉ lệ 56 % vốn đăng ký (trong
đó có 01 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, vốn đăng ký 9,779 triệu USD, vốn thực hiện 7,057 triệu USD)
- Khu công nghiệp Hưng Phú 2 (212ha) được chia thành 2 phân khu để đầu tư
hạ tầng là 1/ KCN Hưng Phú 2A (134ha), do Công ty TNHH Xây lắp BMC (Bộ Thương Mại) làm chủ đầu tư, 2/ KCN Hưng Phú 2B (78ha) Do Cty Xây dựng Hạ tầng KCN Cần Thơ làm chủ đầu tư Vào năm 2008 có 02 dự án đang hoạt động, vốn đăng
ký 22,82 triệu USD, vốn thực hiện 19,327 triệu USD, đạt tỉ lệ 88% vốn đăng ký (trong
đó có 01 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, vốn đăng ký 8 triệu USD, vốn thực hiện 6,9147 triệu USD, đạt tỉ lệ 85% vốn đăng ký)
- KCN Thốt Nốt có diện tích quy hoạch chung khoảng 1.000 - 1.200 ha, bao gồm KCN Thốt Nốt 1, diện tích khoảng 150ha Địa điểm xây dựng tại xã Thới Thuận, huyện Thốt Nốt, đã được UBND thành phố phê duyệt quy hoạch chi tiết với tổng diện
Trang 37tích khoảng 110 ha; trong đó có 70ha đất công nghiệp Vào năm 2008 có 06 dự án đang xây dựng và hoạt động, chiếm 64% diện tích đất công nghiệp, tổng vốn đầu tư đăng ký của 6 dự án này là 95,465 triệu USD, vốn thực hiện là 31,31 triệu USD và 05
dự án đăng ký chuẩn bị triển khai thuê hết diện tích đất công nghiệp còn lại
- KCN nặng Ô Môn (800ha), diện tích cho thuê lại đất 250ha, năm 2008, có
01 dự án FDI (Nhà máy lọc dầu Cần Thơ), vốn đăng ký 538 triệu USD
Ngoài các khu công nghiệp trên, thành phố có nhiều dự án xây dựng khu dân cư nhằm mục đích xây dựng khu đô thị mới văn minh Khu Đô thị Nam Cần Thơ được qui hoạch là một trong những khu đô thị hiện đại nhất ĐBSCL với qui mô trên 2.080
ha, dân số dự kiến 120.000 người, hạ tầng kỹ thuật hiện đại,… thuộc địa bàn các phường Hưng Phú, Hưng Thạnh, Tân Phú, Phú Thứ (quận Cái Răng, TP Cần Thơ, đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/2000 tại Quyết định 90/2002/QĐ-UB (ngày 4-10-2002) và Quyết định 2207/QĐ-UB (ngày 2-7-2003) Một Ban Quản lý đã được thành lập theo quyết định số 298/2004/QĐ-UB của UBND TP Cần Thơ Đây là cơ quan thuộc UBND thành phố có nhiệm vụ làm tham mưu cho UBND thành phố trong việc thực hiện chức năng quản lý về đầu tư và xây dựng Khu đô thị Nam Cần Thơ theo đúng quy hoạch, kế hoạch và pháp luật Cụ thể Ban Quản lý Nam Cần Thơ sẽ thực hiện việc quản lý kiến trúc, quy hoạch, quản lý đầu tư xây dựng; quản lý và sử dụng đất đai; quản lý khai thác và sử dụng công trình hạ tầng; nghiên cứu các cơ chế, chính sách, giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình thực hiện đầu tư xây dựng khu đô thị Năm
2007 Khu đô thị có 26 dự án khu dân cư và tái định cư còn hiệu lực với tổng diện tích 1.063ha thuộc 20 chủ đầu tư Bộ mặt khu đô thị thay đổi nhiều so với vài năm trước Nhiều nơi ở phường Hưng Phú, Hưng Thạnh không còn nhìn thấy những đồng ruộng, vườn cây hay ao cá mà thay vào đó là những ngôi nhà cao tầng, những căn biệt thự sang trọng Khu dân cư Phú An (phường Hưng Phú, quận Cái Răng) là một trong những khu dân cư có người dân vào sinh sống đông nhất ở khu Nam Cần Thơ, đã có hơn 1.200 hộ dân vào sinh sống Hiện nay trong khu dân cư đã có chợ, trường học Tại các khu dân cư Nam Long, Agrimex, Bình An… người dân cũng vào ở ngày càng đông Những ngôi biệt thự sang trọng, cao cấp mọc lên ngày càng nhiều
Nhiều công trình tạo điểm nhấn cho khu đô thị cũng đang hình thành như bệnh viện Hoàn Mỹ - Cửu Long, khu căn hộ chung cư cao cấp Tây Nguyên Plaza cao 18 tầng đang triển khai, các siêu thị, trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê qui mô lớn trong khu dân cư Hưng Phú 1, Phú An đang gấp rút triển khai
Với sự xuất hiện các khu công nghiệp, khu chế xuất, các khu đô thị mới, với sự nâng cấp hệ thống hạ tầng cơ sở, việc sử dụng đất tại Cần Thơ đã có những bước chuyển biến Diện tích đất ở, đất giao thông, đất công nghiệp tăng, còn đất nông nghiệp giảm nhường chỗ cho sự phát triển do quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh Đây
là xu hướng phản ánh quy luật tất yếu của một thành phố đang trên đà đô thị hóa
Trang 38Bảng 1.2.2: Sự chuyển dịch sử dụng đất tại TP Cần Thơ (%)
Đất nông nghiệp 114.379 81,64% 113.680 81,14% 97.000 69,1%
Đất phi nông nghiệp 24.060 17,17% 24.706 17,63% 43.000 30,9%
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê TP Cần Thơ 2005, 2006 và căn cứ vào
“Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ thời kỳ 2006 – 2020”
Theo thống kê, đất nông nghiệp của TP Cần Thơ có sự thay đổi nhẹ trong hai năm 2005 - 2006 là từ 114.379ha xuống 113.680ha1 (mất đi ≈ 700ha) Trong khi ấy,
đất phi nông nghiệp tăng lên từ 24.070ha đến 24.706ha (thêm ≈ 630ha) Trong tương
lai, theo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ thời kỳ
2006 – 2020” do Thủ tướng ban hành vào ngày 8 tháng 2 năm 2007 thì diện tích đất
nông nghiệp của TP Cần Thơ vào năm 2020 sẽ còn khoảng 97.000ha, chiếm 69,1%; diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên khoảng 43.000ha, chiếm 30,9% tổng diện tích tự
nhiên
3 Nội thành mở rộng - Thành tựu và vấn đề
Vào năm 2003, khi được tách thành đô thị trực thuộc trung ương, TP Cần Thơ
có 4 quận nội thành và 4 huyện ngoại thành Đó là các quận Ninh Kiều, Ô Môn, Bình Thủy và Cái Răng và các huyện Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Phong Điền Tổng
diện tích của các quận nội thành, tức là những vùng được chính thức xem là đô thị, có
294km2 Sự phân bố này khá ổn định từ ngày chia tách cho đến cuối năm 2008 Hiện
tượng đô thị hóa diễn ra cũng như chủ trương đô thị hóa TP Cần Thơ của Nhà nước
đưa đến việc Chính phủ điều chỉnh lại sự phân bố hành chính cho phù hợp với tính chất đô thị Nghị định 12/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 23/12/2008 đổi huyện
Thốt Nốt thành quận Thốt Nốt, xác định thêm 1 đơn vị hành chính cấp quận của thành
phố Vùng đô thị được mở rộng một cách đáng kể qua việc Thành phố có thêm 117km2 đất đô thị Tổng số diện tích đất đô thị tính đến thời điểm thêm 1 quận mới là
441km2 Dân số đô thị vùng nội thành tăng thêm 160.000 nhân khẩu trên tổng số
680.798 nhân khẩu đô thị vào cuối năm 2008
Như vậy, chỉ trong vòng 6 năm từ 2003 đến 2008, với quá trình đô thị hóa, nội
thành thành phố nở rộng gấp 1,5 lần Sự thay đổi này biểu hiện một sự phát triển về
kinh tế xã hội của thành phố Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố
được triển khai thuận lợi, các ngành công nghiệp phát triển, có khả năng cạnh tranh, có
thị trường trong nước và xuất khẩu, việc hợp tác kinh tế với khu vực và quốc tế được
1
Theo Niêm giám thống kê Cần Thơ 2005 và 2006
Trang 39tăng cường, thu hút được đầu tư trong dân và nước ngoài, khai thác được các nguồn vốn để phát triển công nghiệp
Để thúc đẩy thành phố xứng đáng với vai trò trung tâm của VĐBSCL, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ thời kỳ 2006 – 20201 Theo đó TP Cần Thơ vào giai đoạn sau năm 2010 sẽ có quy mô 07 quận, 03 huyện Thành phố sẽ được xây dựng trở thành thành phố hiện đại và văn minh, là đô thị loại I trước năm 2010 và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020; là trung tâm kinh tế - xã hội, trung tâm giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, trung tâm y tế và văn hóa của VĐBSCL; là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của VĐBSCL và của cả nước; là một cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn VĐBSCL
Ngoài những thành tựu đầy ấn tượng, trong quá trình phát triển, thành phố cũng gặp nhiều thách thức cũng quan trọng không kém trong lĩnh vực môi trường, xã hội và ngay cả trong kinh tế, văn hóa Môi trường đô thị ngày càng ô nhiễm, hạ tầng kỹ thuật
và xã hội quá tải, xã hội còn nhiều vấn đề phải giải quyết như trật tự đô thị, giảm nghèo đô thị
Trong các vấn đề mà thành phố phải đối mặt là vấn đề chất lượng sống của người dân vùng đang đô thị hóa và sự chuyển đổi việc làm của họ Trong sự chuyển đổi của địa bàn các vùng ngoại thành, thì sự biến đổi về cơ cấu nghề nghiệp là một vấn
đề cần được chú trọng vì nó ảnh hưởng đến đời sống của một bộ phận lớn dân cư và có ảnh hưởng dây chuyền lên trên các lĩnh vực khác Nhiều thành phần dân cư phải chuyển đổi việc làm như người nông dân, người thợ thủ công, người buôn bán nhỏ, người làm dịch vụ liên quan đến nông nghiệp Người nông dân là thành phần chịu tác động mạnh mẽ nhất của sự chuyển dịch sử dụng đất, vì trong điều kiện mới họ hoàn toàn không thể làm nghề nông như cũ Họ phải đương đầu với một sự chuyển đổi về nghề nghiệp mà chưa được chuẩn bị trước Việc tìm được nghề mới tùy thuộc vào nhiều yếu tố như độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tâm lý, gia đình, chính quyền địa phương…, trong đó tuổi lớn là một yếu tố trở ngại to lớn Dường như những người trên 40 tuổi (đặc biệt là phụ nữ) hiếm có cơ may trở thành công nhân viên chức hoặc công nhân tại các khu công nghiệp Nguy cơ trở thành người nghèo đô thị là rất cao ở lứa tuổi này Trình độ học vấn là yếu tố rất quyết định giúp những người nông dân còn trẻ khả năng tìm việc làm, nhưng như ta đã biết, trình độ học vấn ở ngoại thành TP Cần Thơ vốn rất thấp Những người thợ thủ công cùng làng nghề của họ gắn liền với
1
Qưyết định số 21/2007/QĐ-TTg, ngày 08 tháng 02 năm 2007
Trang 40nông thôn và kỹ thuật thủ công truyền thống cũng bị tác động Phải chăng nhóm người
đó và làng nghề cũng phải đứng trước sự chuyển đổi nghề nghiệp vì đô thị hóa có ảnh hưởng đến các yếu tố nghề của họ Nông thôn là nơi cung cấp nguyên liệu cho nghề, là nơi tiêu thụ sản phẩm của nghề, là nơi thuận tiện về mặt bằng sản xuất Người thợ thủ công và làng nghề của họ cũng phải thay đổi để thích nghi với quá trình chuyển đổi Những người làm dịch vụ liên quan đến nông nghiệp như mua bán, chuyên chở, chế biến nông phẩm, sửa chữa nông cụ…cũng bị thách thức không kém những người trực tiếp canh tác trên đồng ruộng
Nhìn tổng thể, thì mức độ đô thị hóa của TP Cần Thơ chưa cao, gần bằng 50%1, nhưng đô thị hóa đã đem đến nhiều thành tựu và đồng thời nhiều thách thức Trong giai đoạn phấn đấu hướng tới xây dựng thành phố thành một đô thị công nghiệp trước năm 2020, TP Cần Thơ cần phải giải quyết và vượt qua những thách thức trên
III VÙNG ĐÔ THỊ HÓA TẠI TP CẦN THƠ
Trong các vùng đang diễn ra quá trình phát triển đô thị thì thể hiện rõ nhất là các quận Ninh Kiều, Cái Răng, Ô Môn Tại ba quận này đang có biến động về quyền sử dụng đất, về dân số, về lối sống, về văn hóa Các vùng kể trên là nơi mà các dự án xây dựng khu dân cư, các khu công nghiệp đã được hình thành và thu hút số lượng dân nhập cư vào làm việc Chính vì thế, bốn địa bàn thuộc ba phường trong các vùng có hiện tượng chuyển đổi về đất và dân số được chọn để khảo sát Đó là các phường Phú Thứ (quận Cái Răng), phường Phước Thới (quận Ô Môn) và phường An Bình (quận Ninh Kiều) Ba phường này được chọn để khảo sát ở cấp độ trung gian2
Hiện tượng đô thị hóa nổi rõ ở địa bàn do sự xuất hiện của các dự án phát triển
đô thị như quy hoạch tổng thể khu công nghiệp và khu đô thị mới với gần 20 dự án đầu tư (Phú Thứ), khu công nghiệp Trà Nóc 2 và khu Công nghệ cao (Phước Thới), từ
đó dẫn đến sự biến động dân số, biến động đất đai (cả ba phường đều có biến động, trong đó cao nhất là phường An Bình), hiện tượng nhập cư (trong đó cao nhất là phường An Bình cũ)3