Nội dung thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay của NHTMMục tiêu của thẩm định tín dụng là cung cấp thông tin để quyết định cho vay và giảm khả năng xảy ra sai lầm dựa trên cơ sở đán
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN GIA ĐỊNH CHI NHÁNH HÀ NỘI
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hoàng Ngọc
Chuyên ngành: Tài chính doanh nghiệp tiếng Pháp
Khóa: 48
Mã sinh viên: CQ482017
Giáo viên hướng dẫn: TS Phan Hữu Nghị
HÀ NỘI - 2010
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần NHNN: Ngân hàng Nhà nước
Trang 3Mục lục
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NHTMCP GIA ĐỊNH CHI NHÁNH HÀ NỘI 27
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của NHTMCP Gia Định chi nhánh Hà
2.2 Thực trạng công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại
2.2.1 Cơ sở pháp lý của thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay của
2.2.2 Quy trình công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại
2.2.2.3 Thẩm định khả năng thu hồi nợ vay thông qua thông tin có được 33
2.2.2.5 Kết luận, lập tờ trình báo cáo thẩm định và đề xuất cấp tín dụng 362.2.3 Ví dụ minh họa công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại
2.2.4 Đánh giá công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay của
3.1.2 Biện pháp tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra 52
Trang 53.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho
3.2.1 Hoàn thiện quy trình nghiệp vụ tín dụng trong hoạt động cho vay 53
3.2.4 Hoàn thiện thẩm định phương án sản xuất kinh doanh và dự án vay vốn của
3.2.7 Giải pháp về tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát 58
3.3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các bộ ngành có liên quan 59
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
NHTM là tổ chức tài chính trung gian có vai trò quan trọng nhất của nền kinh tế với các hoạt động rất đa dạng Ngân hàng vừa là tổ chức thu hút tiền tiết kiệm lớn nhất của nền kinh tế; vừa là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với Nhà nước; vừa đóng vai trò tư vấn khi khách hàng cần thông tin tài chính hay muốn lập kế hoạch tài chính
Trong các hoạt động của ngân hàng, tín dụng là hoạt động quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất nhưng đồng thời cũng là hoạt động có rủi ro cao nhất Các rủi ro này, một khi xảy ra, sẽ gây tổn thất làm giảm thu nhập của ngân hàng, trường hợp xấu nhất có thể đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản Do vậy, thẩm định tín dụng là một vấn đề rất phức tạp
và hết sức cần thiết trước khi ngân hàng đồng ý cho khách hàng vay vốn Hiện nay, nhìn chung, các NHTM Việt Nam đều có tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn ở mức cao một phần là do công tác thẩm định còn chưa thực sự được đảm bảo Điều này gây ảnh hưởng xấu đến thu nhập và khả năng hoạt động an toàn của ngân hàng
Qua quá trình thực tập tại Ngân hàng Gia Định Chi nhánh Hà Nội, tôi nhận thấy nhu cầu tín dụng ở chi nhánh là rất cao, bởi đây là giai đoạn phục hồi của nền kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới vừa qua, với rất nhiều dự án đầu tư thuộc mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề của nền kinh tế Đứng trước thực tế này, vấn
đề thẩm định tín dụng là một vấn đề rất cấp thiết và cần được đặc biệt quan tâm
Vì lý do đó, tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Gia Định Chi nhánh Hà Nội” cho chuyên đề thực tập của mình.
Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1 Khái quát về thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay của NHTM
Chương 2 Thực trạng công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại NHTMCP Gia Định Chi nhánh Hà Nội
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại NHTMCP Gia Định Chi nhánh Hà Nội
Trang 7CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT
ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM
1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1 Khái niệm
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng sang cho khách hàng (có thể là các doanh nghiệp, hay các thể nhân khác trong nền kinh tế) trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định Nó là nguồn cung chủ yếu cho phần lớn nhu cầu tín dụng của toàn bộ nền kinh tế Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, nhu cầu vốn để đầu tư phát triển là ngày càng gia tăng, từ đó, với vai trò của mình, tín dụng ngân hàng đã trở thành một hình thức tín dụng không thể thiếu
Là một loại hình tín dụng, tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, nó chứa đựng ba nội dung:
- Có sự nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng (cụ thể ở đây là từ ngân hàng sang khách hàng)
- Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí
NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức đó là: cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN Trong các hoạt động cấp tín dụng đó, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất Trong phạm vi chuyên đề này, chúng ta sẽ chỉ xét tín dụng ngân hàng dưới hình thức cho vay
- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp
- Cho vay tiêu dùng cá nhân
- Cho vay bất động sản
Trang 8- Cho vay nông nghiệp.
- Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu
Dựa vào thời hạn tín dụng, có thể phân chia tín dụng ngân hàng thành các loại sau:
- Cho vay ngắn hạn: là loại hình cho vay có thời hạn dưới một năm Mục đích của loại vay này thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư và tài sản lưu động của doanh nghiệp
- Cho vay trung hạn: là loại hình cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp
- Cho vay dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn trên 5 năm Mục đích của loại vay này thường là nhằm tài trợ vốn cho các dự án đầu tư
Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, tín dụng có thể được phân chia
ra thành các loại sau:
- Cho vay không có đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay (cho vay tín chấp) Loại hình này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài
và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng
- Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay này như là tài sản cầm cố, thế chấp, hay một khoản bảo lãnh của một bên thư ba nào khác
Dựa vào phương thức cho vay, tín dụng có thể được phân chia ra thành các loại sau:
- Cho vay theo món vay: là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng sẽ thực hiện các thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng – mức dư nợ vay tối đa duy trì trong một thời hạn nhất định Khác với loại vay thông thường, ngân hàng sẽ không xác định kỳ hạn nợ cho từng món vay mà chỉ khống chế theo hạn mức tín dụng, cũng có nghĩa là, vào một thời điểm nào đó, nếu
dư nợ của khách hàng lên đến mức tối đa cho phép, thì khi đó, ngân hàng sẽ không phát tiền vay cho khách hàng
Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay, tín dụng ngân hàng được phân chia thành các loại sau:
Trang 9- Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn.
- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp
- Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng tài chính của mình, người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào
1.2 THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM
1.2.1 Khái niệm, mục đích, tầm quan trọng của thẩm định tín dụng
Thẩm định tín dụng là sử dụng các công cụ và kỹ thuật phần tích nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một phương án hoặc dự án mà khách hàng đã đề xuất nhằm mục đích phục vụ cho việc đưa ra quyết định tín dụng Khác với lập dự án đầu tư, thẩm định tín dụng cố gắng phân tích và hiểu được tính chất khả thi thực sự của dự án về mặt kinh tế, và đứng trên góc độ của ngân hàng Khi lập dự án, khách hàng, do mong muốn được vay vốn, có thể đã thổ phồng và dẫn đến ước lượng quá lạc quan về hiệu quả kinh tế của dự án Do vậy, thẩm định tín dụng cần phải xem xét đánh giá đúng thực chất của dự án Tuy nhiên, không phải vì thế mà thẩm định tín dụng ước lượng dự án một cách quá khắt khe, dẫn đến bi quan khiến cho hiệu quả của dự án bị giảm sút quá mức
Mục đích của thẩm định tín dụng là đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng trả nợ của khách hàng để làm căn cứ quyết định cho vay Thẩm định tín dụng là một trong những khâu rất quan trọng, không thể thiếu trong toàn
bộ quy trình tín dụng
Tầm quan trọng của nó được thể hiện ở những điểm sau:
Trước tiên, thẩm định tín dụng giúp đánh giá được mức độ tin cậy của phương án sản xuất hoặc dự án đầu tư mà khách hàng đã lập và nộp vào ngân hàng khi làm thủ tục vay vốn
Ngoài ra, nhờ thẩm định tín dụng, ngân hàng sẽ phân tích và đánh giá được mức độ rủi ro của dự án khi quyết định cho vay
Và trên hết, thẩm định tín dụng giúp cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng
có thể mạnh dạn ra quyết định cho vay và giảm được sự cố xảy ra hai loại sai lầm trong quyết định cho vay, đó là: cho vay vốn đối với một dự án tồi; và từ chối cho vay với một dự án tốt
Do tính chất quan trọng như vậy, thẩm định tín dụng cần phải được xem xét
và chi tiết hóa thành một quy trình riêng, gồm các nội dung cụ thể và phải được tiến hành một cách kỹ lưỡng, cẩn trọng
Trang 10
1.2.2 Nội dung thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay của NHTM
Mục tiêu của thẩm định tín dụng là cung cấp thông tin để quyết định cho vay và giảm khả năng xảy ra sai lầm dựa trên cơ sở đánh giá đúng thực chất của phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư và ước lượng hay kiểm soát các rủi ro ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ khi cho vay Khả năng thu hồi nợ vay phụ thuộc vào các yếu tố sau: tư cách của khách hàng vay vốn, tình hình tài chính của khách hàng, tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư của khách hàng, tài sản đảm bảo nợ vay và khả năng đáp ứng thời hạn vay và nhu cầu vay vồn của khách hàng
Do đó, để đảm bảo được mục tiêu thu hồi nợ, thẩm định tín dụng cần tập trung vào các nội dung chính sau đây:
1.2.2.1 Thẩm định tư cách của khách hàng vay vốn
Mục đích của thẩm định tư cách của khách hàng vay vốn là đánh giá tư cách pháp nhân, tính chất hợp pháp và mức độ tin cậy đối với những thủ tục vay
mà khách hàng phải tuân thủ Chẳng hạn như thẩm định xem khách hàng có thỏa mãn các điều kiện vay vốn hoặc thẩm định xem hồ sơ vay vốn của khách hàng có đầy đủ và hợp pháp hay không
Thẩm định điều kiện vay vốn:
Theo quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng, khách hàng muốn vay vốn ngân hàng phải thỏa mãn các điều kiện vay vốn bao gồm:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật
- Có mục đích vay vốn hợp pháp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
- Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư khả thi và
có hiệu quả
- Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ
và hướng dẫn của ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Thẩm định điều kiện vay vốn, nói tóm lại, đơn giản chỉ là xem xét kỹ lại nhằm phát hiện xem khách hàng có thỏa mãn những điều kiện vay vốn như đã được chỉ ra trong quy chế tín dụng hay không Trong các điều kiện vay vốn trên đây, thẩm định mục đích sử dụng vốn vay, thẩm định khả năng tài chính và đảm bảo nợ vay, và thẩm định tính khả thi và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư là quan trọng nhất Các nội dung này sẽ được xem xét kỹ trong các phẩn dưới đây
Thẩm định mức độ tin cậy của hồ sơ vay vốn:
Trang 11Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho tổ chức tín dụng giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cẩn thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho tổ chức tín dụng Tổ chức tín dụng hướng dẫn các loại tài liệu khách hàng cần gửi cho tổ chức tín dụng phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng loại khách hàng, loại cho vay và khoản vay Thông thường, bộ hồ sơ vay vốn gồm có:
- Giấy đề nghị vay vốn
- Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, chẳng hạn như giấy phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt động
- Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, hoặc dự án đầu tư
- Báo các tài chính các thời kỳ gần nhất (Thường là ít nhất ba năm gần nhất)
- Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay
- Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết
Thẩm định hồ sơ vay là xem xét tính chân thực và mức độ tin cậy của những tài liệu khách hàng cung cấp cho ngân hàng khi làm hồ sơ vay vốn Ở khía cạnh này, nhân viên tín dụng cần chú ý thẩm định xem các tài liệu quy định trong
hồ sơ vay có đầy đủ và hợp pháp hay không, còn việc đi sâu vào nội dung chi tiết các tài liệu quan trọng như báo các tài chính và phương án kinh doanh hay dự án đầu tư sẽ thẩm định sau
Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan cũng như chủ quan, bản thân khách hàng cũng không thể đánh giá chính xác được khả năng tài chính của chính mình
Do vậy, thẩm định khả năng tài chính của khách hàng là rất cần thiết Để đảm bảo điều này, khi làm các thủ tục vay, ngân hàng yêu cầu khách hàng cung cấp báo cáo tài chính của các kỳ gần nhất Dựa vào những báo cáo tài chính này, nhân viên tín dụng sẽ tiến hành phân tích nhằm thẩm định lại khả năng tài chính của khách hàng
Trang 12Thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp cần tập trung vào hai nội dung cơ bản: thẩm định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính ; và phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
a Thẩm định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính:
Các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là một bộ phận bao gồm bốn loại báo cáo: báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bảng thuyết minh báo cáo tài chính Trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng cũng đủ năng lực để lập đầy đủ các loại báo cáo này, do đó, khi vay vốn, ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp ít nhất phải cung cấp báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán các thời kỳ gần nhất, cùng với bảng thuyết minh báo cáo tài chính
Đứng trên góc độ doanh nghiệp, khi cung cấp các báo cáo tài chính cho ngân hàng, bộ phận kế toán tài chính sẽ cung cấp các bản báo cáo tài chính được soạn thảo nhằm cung cấp thông tin cho bên ngoài, hơn nữa lại nhằm mục đích vay vốn Vì vậy, mục tiêu soản thảo sẽ khách với mục tiêu soạn thảo các báo cáo tài chính phục vụ cho nội bộ doanh nghiệp Điều này làm cho thông tin, số liệu trong các báo cáo này chưa được đảm bảo, và cần phải được thẩm định về mức độ tin cậy
Đối với những khoản vay có giá trị lớn, vì tính chất quan trọng của khoản vay, ngân hàng có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các báo cáo tài chính đã qua kiểm toán Trong trường hợp này, cơ quan kiểm toán sẽ giúp ngân hàng đánh giá
và chịu trách nhiệm về mức độ tin cậy của số liệu trong các báo cáo tài chính
Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng đại đa số các trường hợp vay vốn khách hàng đều không thể cung cấp các báo tài chính đã qua kiểm toán, và ngay cả khi các báo cáo này đã được kiểm toán, công tác thẩm định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính vẫn là công việc thường xuyên và không thể thiếu của các nhân viên tín dụng Các bước tiến hành như sau:
- Nghiên cứu kỹ số liệu của các báo cáo tài chính
- Sử dụng kiến thức kế toán tài chính và kỹ năng phân tích để phát hiện những điểm đáng nghi ngờ hay những bất hợp lý trong các báo cáo tài chính
- Xem xét bảng thuyết minh để hiểu rõ hơn về những điểm đáng ghi ngờ trong báo cáo tài chính
- Mời khách hàng đến thảo luận, phỏng vấn và yêu cầu giải thích về những điểm đáng nghi ngờ phát hiện được
- Viếng thăm doanh nghiệp để quan sát và nếu cần tận mắt xem lại tài liện
kế toán và chứng từ gốc làm căn cứ lập các báo cáo tài chính
Trang 13- Kết luận sau cùng về mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính do doanh nghiệp cung cấp.
Để có thể tiến hành tốt những bước trên đây, nhân viên tín dụng cần được trang bị kiến thức kế toán tài chính và kỹ năng phân tích Ngoài ra, kinh nghiệm thực tiễn và sự dày dạn trong công việc đóng vai trò quyết định đối với sự thành công hay thất bại của công tác thẩm định
b Phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp:
Sau khi thẩm định và đánh giá mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính, bước tiếp theo là phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính ở đây là để thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp, do đó, không nhất thiếta phải tiến hành tất cả các kỹ thuật phân tích như thường thấy trong phân tích báo cáo tài chính mà chỉ cần sử dụng các kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính để thẩm định lại xem tình hình tài chính của doanh nghiệp có lành mạnh hay không Thông thường, có 5 nhóm các tỷ số tài chính cần
phân tích, đó là: các tỷ số thanh khoản, các tỷ số đòn bẩy tài chính, tỷ số khả năng hoàn trả lãi vay, các tỷ số hiệu quả hoạt động và các tỷ số khả năng sinh lời.
(i) Phân tích các tỷ số thanh khoản:
Tỷ số thanh khoản là tỷ số đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty Loại tỷ số này gồm có: tỷ sô thanh khoản hiện thời và tỷ số thanh khoản nhanh, và cả hai loại tỷ số này đều được xác định từ dữ liệu của bảng cân đối kế toán Hai tỷ số này là rất quan trọng trong việc đánh giá được khả năng thanh toán
nợ của doanh nghiệp
Tỷ số thanh toán ngắn hạn được xác định bằng cách lấy giá trị tài sản lưu
động chia cho giá trị của nợ ngắn hạn phải trả:
Tỷ số thanh toán
Giá trị tài sản lưu độngGiá trị nợ ngắn hạnNếu tỷ số thanh toán ngắn hạn nhỏ hơn 1 thì kết luận khả năng thanh toán của doanh nghiệp là thấp, tài sản của doanh nghiệp không đủ để đảm bảo nợ vay; còn trong trường hợp ngược lại, tỷ số này lớn hơn 1 thì doanh nghiệp đủ khả năng thanh toán
Tuy nhiên, do đặc điểm của từng ngành sản xuất sẽ ảnh hưởng đến việc duy trì tỷ số thanh toán ngắn hạn nên ngoài việc so sánh nó với 1, còn phải lưu ý so sánh với tỷ số thanh khoản bình quân của ngành để hiểu kỹ hơn về khả năng thanh toán hiện thời của doanh nghiệp
Trang 14Khi xác định tỷ số thanh toán ngắn hạn, ta có tính cả hàng tồn kho trong giá trị tài sản lưu động đảm bảo cho nợ ngắn hạn Tuy nhiên, trên thực tế, hàng tốn kho kém thanh khoản hơn, do vậy, để tránh nhược điểm này, nên sử dụng tỷ số thanh khoản nhanh.
Tỷ số thanh toán nhanh được xác định bằng công thức:
Tỷ số thanh toán
Giá trị tài sản lưu động – Giá trị hàng tốn kho
Giá trị nợ ngắn hạnTrong thực tiễn, giá trị tài sản lưu động còn bao gồm cả những tài sản còn kém thanh toán hơn cả hàng tồn kho Do vậy, khi tính toán tỷ số thanh toán nhanh, trên tử số, thay vì lấy giá trị tài sản lưu động trừ đi giá trị hàng tồn kho, có thể cộng dồn giá trị các loại tài sản lưu động có tính thanh khoản cao hơn hàng tồn kho như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán ngắn hạn, v.v
(ii) Phân tích các tỷ số đòn bẩy tài chính:
Tỷ số đòn bẩy tài chính, còn được gọi là tỷ số nợ, là tỷ số đo lường mức độ
sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động của công ty, gồm có: tỷ số nợ so với vốn chủ
sở hữu, tỷ số nợ so với tổng tài sản và tỷ số nợ dài hạn
Tỷ số nợ so với vốn chủ sở hữu đánh giá mức độ sử dụng nợ cũng như khả
năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp Công thức xác định như sau:
Tỷ số so với vốn
Tổng giá trị nợGiá trị vốn chủ sở hữu
Tỷ số này chỉ nên biến động từ 0 đến dưới 1 Nếu tỷ số này bằng hoặc lớn hơn 1, chứng tỏ doanh nghiệp đã quá lệ thuộc vào vốn vay và như vậy, rủi ro của doanh nghiệp dồn sang ngân hàng là rất lớn
Tỷ số nợ so với tổng tài sản đánh giá mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho toàn
bộ tài sản của doanh nghiệp Công thức xác định như sau:
Tỷ số nợ so với
tổng tài sản =
Tổng giá trị nợTổng tài sảnNếu tỷ số này lớn hơn hoặc bằng 1 có nghĩa là toàn bộ tài sản doanh nghiệp không đủ để trả nợ và doanh nghiệp sẽ ngay lập tức phá sản nếu toàn bộ các chủ
nợ đòi nợ cùng lúc Nhìn chung ,tỷ số này chỉ nên biến động từ 0 đến dưới 1
Tỷ số nợ dài hạn xác định bằng cách lấy nợ dài hạn chia cho tổng giá trị
vốn dài hạn của doanh nghiệp, bao gồm nợ dài hạn cộng với vốn chủ sở hữu:
Trang 15Tỷ số nợ dài hạn = Giá trị nợ dài hạn
Giá trị nợ dài hạn + Giá trị vốn chủ sở hữu
Tỷ số này thể hiện tỷ trọng của nợ dài hạn trong nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp
Tóm lại, khi cho vay, ngân hàng sẽ không thích cho vay các doanh nghiệp
có tỷ số nợ quá lớn, vì như vậy, khả năng hoàn trả nợ vay sẽ giảm rất nhiều
(iii) Phân tích tỷ số khả năng hoàn trả lãi vay:
Tỷ số khả năng hoàn trả lãi vay là loại tỷ số xác định từ bảng báo cáo kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp Loại tỷ số này cũng được gọi là tỷ số trang trải chi phí tài chính, nó phản ánh mối quan hệ giữa khả năng trang trải chi phí và chi phí tài chính mà doanh nghiệp phải gánh chịu Tỷ số khả năng hoàn trả lãi vay là
tỷ số đo lường khả năng sủ dụng lợi nhuận của công ty để thanh toán lãi vay Công thức xác định như sau:
Tỷ số khả năng
hoàn trả lãi vay =
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Chi phí lãi vay
(iv) Phân tích các tỷ số hiệu quả hoạt động:
Đứng trên góc độ ngân hàng khi phân tích tài chính doanh nghiệp, ta thường quan tâm nhiều nhất đến các tỷ số thanh khoản, tỷ số nợ và tỷ số khả năng hoàn trả lãi vay vì các tỷ số này trực tiếp đo lường khả năng thanh toán của nợ và lãi vay khách hàng Tuy nhiên, để có thể đánh giá một cách chính xác và đầy đủ nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp, cần phải phân tích thêm nhóm tỷ số hiệu quả hoạt động
Tỷ số hoạt động khoản phải thu – tỷ số này cung cấp cái nhìn sâu vào chất
lượng của khoản phải thu và hiệu quả thu hồi nợ của doanh nghiệp, nó thường
được biểu hiện dước dạng vòng quay khoản phải thu Công thức xác định như sau:
Vòng quay khoản
Doanh thu bán chịu ròngBình quân giá trị khoản phải thu
Từ số liệu vòng quay khoản phải thu, chúng ta có thể xác định được kỳ thu
tiền bình quân tính theo ngày:
Kỳ thu tiền bình
Số ngày trong năm
Trang 16Số vòng quay khoản phải thu
Tỷ số hoạt động khoản phải trả - tỷ số này đo lường uy tín của doanh
nghiệp trong việc trả nợ đúng hạn Tương tự tỷ số hoạt động khoản phải thu, tỷ số
hoạt động khoản phải trả cũng có thể xác định bằng chỉ tiêu vòng quay khoản phải trả và kỳ trả tiền bình quân:
Số ngày trong năm
Số vòng quay khoản phải thu
Tỷ số hoạt động tồn kho – tỷ số để đánh giá hiệu quả quản lý tồn kho của
doanh nghiệp Tỷ số này có thể được đo lường bằng chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho trong một năm hoặc số ngày tồn kho:
Vòng quay hàng
Giá vốn hàng bánBình quân giá trị hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho
Tỷ số hoạt động tổng tài sản – tỷ số này sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt
động của tổng tài sản của doanh nghiệp nói chung Hiệu quả hoạt động của tổng tài sản được đo bằng chỉ tiêu vòng quay tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết bình quân mỗi đồng giá trị tài sản của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
Vòng quay tổng
Doanh thu thuầnBình quân giá trị tổng tài sản
(v) Phân tích các tỷ số khả năng sinh lời:
Khả năng sinh lời của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả
nợ và lãi vay Do vậy, khi cho vay, cán bộ tín dụng cần quan tâm đến phân tích
Trang 17khả năng sinh lời của doanh nghiệp Tùy theo mục tiêu phân tích, có thể sử dụng các tỷ số sau đây:
Khả năng sinh lời so với doanh thu – tỷ số này đo lường khả năng sinh lời
so với doanh thu Tỷ số này có thể sủ dụng lãi gộp hoặc lợi nhuận ròng để tính toán
Tỷ số lãi gộp trên
Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán
Doanh thu thuần
Tỷ số lợi nhuận
ròng trên doanh
thu
Doanh thu thuần
Khả năng sinh lời so với tài sản – tỷ số này đo lường khả năng sinh lời so
với tài sản, hay, nó cho biết mỗi đồng giá trị tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Khả năng sinh lời so với vốn chủ sở hữu – tỷ số này đo lường khả năng
sinh lời so với vốn chủ sở hữu bỏ ra, hay, nó cho biết cứ mỗi đồng vốn chủ sở hữu
bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Việc tính toán và phân tích các tỷ số tài chính như đã trình bày trên đây chưa phải là mục tiêu sau cùng của công tác thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp Sau khi tính toán và phân tích, phải đưa ra đánh giá hay kết luận chung về tình hình tài chính của doanh nghiệp Muốn làm được như vậy, cần phải
so sánh các tỷ số tài chính xác định trên đây với một số căn cứ để có thể rút ra kết luận Các căn cứ này có thể là các tỷ số của những thời kỳ trước, của các doanh nghiệp khác có hoàn cảnh tương tự hay so với các tỷ số bình quân của ngành
Trang 181.2.2.3 Thẩm định phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư
a Thẩm định phương án sản xuất kinh doanh
Khi vay vốn ngắn hạn, khách hàng phải lập và nộp cho ngân hàng phương
án sản xuất kinh doanh, trong đó chỉ rõ: tình hình thị trường, dự báo doanh thu, ước lượng chi phí, ước lượng lợi nhuận, đánh giá khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi Mục đích của việc này là để ngân hàng đánh giá khả năng hoản trả vốn vay của khách hàng Do vậy, khi lập phương án kinh doanh, doanh nghiệp có xu hướng thổi phồng doanh thu và giảm chi phí sao cho mới nhìn vào thì phương án sản xuất kinh doanh là rất khả thi và hiệu quả Chính vì thế, cán bộ tín dụng phải phân tích
và thẩm định lại phương án sản xuất kinh doanh xem mức độ tin cậy như thế nào
Có hai vấn đề cơ bản cần lưu ý khi xem xét một phương án sản xuất kinh doanh:
(1) Thẩm định thị trường và dự báo doanh thu
Yếu tố quyết định trước tiên khi thẩm định một phương án sản xuất kinh doanh là phân tích thị trường và qua đó, dự báo doanh thu Để phân tích tốt tình hình thị trường, cán bộ tín dụng phải am hiểu về tình hình thị trường của sản phẩm hoặc ngành sản xuất kinh doanh mà khách hàng đang hoạt động Đó là sự am hiểu
về nhu cầu thị trường, về giá cả và về thị phần của khách hàng mình xem xét cấp tín dụng Nếu cần, có thể tham khảo thêm thông tin về nghiên cứu thị trường hoặc thông tin về ngành sản xuất kinh doanh Ngoài ra, ngân hàng nên phân công thêm những cán bộ tín dụng chuyên trách theo ngành sản xuất kinh doanh để có thể nắm bắt đầy đủ, kịp thời đặc điểm, tình hình thị trường của ngành sản xuất kinh doanh đó
Qua phân tích và dựa và kinh nghiệm cũng như sự hiểu biết về tình hình thị trường của ngành sản xuất kinh doanh mình đang xem xét, cán bộ tín dụng có thể đưa ra đánh giá kết luận về mức độ tin cậy của phương án sản xuất kinh doanh mà khách hàng đã lập Từ đó, đánh giá chung về tính chất khả thi và hiệu quả của phương án đó
Phân tích tình hình thị trường và dự báo doanh thu mới chỉ thể hiện một mặt khi đánh giá tính khả thi của một phương án sản xuất kinh doanh Chỉ khi tiến hành phân tích và đánh giá cả các khoản mục chi phí, mới có thể đưa ra được đánh giá toàn diện và chính xác nhất
(2) Thẩm định dự báo các khoản mục chi phí
Để phân tích và đánh giá mức độ tin cậy của các khoản mục chi phí đòi hỏi cán bộ tín dụng phải am hiểu về kế toán quản trị, kế toán chi phí và cách tính giá thành sản phẩm Từ đó, có thể đưa ra phán quyết khoản mục chi phí nào là hợp lý, khoản mục chi phí nào là không hợp lý
Ngoài kinh nghiệm và sự am hiểu về ngành, cán bộ tín dụng nên thu thập thêm thông tin về chi phí của những doanh nghiệp khác trong cùng ngành có quy
Trang 19mô tương tự để làm cơ sở so sánh Từ đó, đưa ra kết luận về mức độ tin cậy của các khoản mục chi phí mà khách hàng đã xây dựng trong phương án sản xuất kinh doanh.
Một điều rất đáng lưu ý khi thẩm định các khoản mục chi phí, đó là thực tế cho thấy rằng, theo các phương pháp kế toán khác nhau sẽ có các kết luận khác nhau đối với một số khoản mục chi phí Thường xảy ra kết luận khác nhau ở những khoản mục chi phí sau:
- Chi phí khấu hao: sự khác biệt ở đây đến từ các phương pháp khấu hao
khác nhau Để chứng tỏ cho nhân viên tín dụng biết phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao, doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp tính khấu hao nào giúp tiết kiệm chi phí khấu hao nhiều nhất Ví dụ như kéo dài thời gian khấu hao hay hạ tỷ lệ khấu hao
- Chi phí hàng tồn kho: sự khác biệt về chi phí hàng tồn kho thường xảy ra
do sử dụng các phương pháp xác định tồn kho khác nhau Ví dụ như phương pháp LIFO tất nhiên sẽ đưa ra những kết luận rất khác về chi phí tồn kho so với phương pháp FIFO
Từ việc thẩm định dự báo doanh thu và chi phí, nhân viên tín dụng sẽ đưa
ra được dự báo về kết quả kinh doanh của phương án, qua đó, rút ra kết luận chính xác và đầy đủ nhất về tính khả thi và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng
b Thẩm định dự án đầu tư
Đối với các khoản tín dụng trung và dài hạn, đại đa số nhằm mục đích tài trợ cho các dự án đầu tư Do đó, dự án đầu tư là cơ sở quan trọng để ngân hàng xem xét và quyết định có cho doanh nghiệp vay vốn hay không Thẩm tín dụng lúc này, thực chất không gì khác hơn là thẩm định dự án đầu tư Nhiệm vụ của công tác thẩm định là rà soát, phát hiện những điểm sai sót, những điểm đáng nghi ngờ, chư rõ ràng của dự án, và cùng với khách hàng thảo luận, từ đó đưa ra kết luận chính xác nhất về hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án
Mục tiêu của thẩm định khi cho vay tài trợ dự án đầu tư là đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng sinh lời của dự án, qua đó, xác định được khả năng thu hồi nợ khi ngân hàng cho vay để đầu tư vào dự án đó Để đánh giá khả năng sinh lời của dự án, cần dựa vào các chỉ tiêu NPV, IRR và PP Thế nhưng việc xác định các chỉ tiêu này tùy thuộc vào mức độ chính xác của ước lượng dòng tiền và lãi suất chiết khấu ; mà độ chính xác của các ước lượng này lại phụ thuộc vào các thông số dự báo thị trường và doanh cũng như các thông số xác định chi phí
Do vậy, công tác thẩm định sẽ bao gồm những nội dung sau:
(1) Thẩm định các thông số dự báo thị trường và doanh thu
Trang 20Các thông số dự báo thị trường là những thông số dùng làm căn cứ để dự báo thị trường và thị phần của doanh nghiệp, qua đó, có thể ước lượng được doanh thu của dự án Do vậy, mức độ chính xác của doanh thu ước lượng phụ thuộc rất lớn vào những thông số này Các thông số thường gặp bao gồm:
- Dự báo tăng trưởng kinh tế
- Dự báo tỷ lệ lạm phát
- Dự báo tỷ giá
- Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu
- Dự báo tốc độ tăng giá
- Dự báo nhu cầu thị trường
- Ước lượng thị phần của doanh nghiệp
- Ngoài ra tùy theo từng dự án, sẽ có nhiều loại thông số dự báo khác nhau
(2) Thẩm định các thông số xác định chi phí
Tương tự như dự báo thị trường và doanh thu, việc dự báo chi phí hoạt động của dự án cũng có các thông số dùng làm cơ sở Các thông số này rất đa dạng và thay đổi tùy theo đặc điểm công nghệ sử dụng trong từng loại dự án Thông thường, các thông số này do các chuyên gia kỹ thuật và chuyên gia kế toán ước lượng và đưa ra Các thông số thường thấy bao gồm:
- Công suất máy móc thiết bị
- Định mức tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu, sử dụng lao động…
- Đơn giá các loại chi phí như lao động, nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng…
- Phương pháp, tỷ lệ tính khấu hao
- Ngoài ra, tùy theo từng dự án, còn có nhiều loại thông số dự báo khác
(3) Thẩm định dòng tiền của dự án
Dòng tiền của dự án là dự toán thu chi trong suốt thời gian tuổi thọ của dự
án, nó bao gồm những khoản thực thu (dòng tiền vào), thực chi (dòng tiền ra) của
dự án tính theo từng năm
Thẩm định cách thức xử lý các loại chi phí khi ước lượng dòng tiền:
• Chi phí cơ hội: là những khoản thu nhập mà doanh nghiệp bỏ lỡ do phải
sử dụng nguồn lực vào dự án Chi phí này không phải là một khoản thực
Trang 21chi nhưng vẫn được tính vào dòng tiền vì đó là một khoản thu nhập mà doanh nghiệp mất đi khi thực hiện dự án.
• Chi phí chìm: là những chi phí phát sinh trước khi có quyết định thực hiện
dự án Đó là các chi phí đã xảy ra bất chấp việc dự án có được thực hiện hay không, do vậy, các chi phí này không được tính vào dòng tiền của dự
án Các loại chi phí này có thể kể ra như chi phí nghiên cứu phát triển sản phẩm, chi phí thuê chuyên gia lập dự án…
• Chi phí lịch sử: là chi phí cho những tài sản sẵn có của doanh nghiệp,
được sử dụng cho dự án Chi phí này thực chất là chi phí cơ hội của các tài sản đó
• Nhu cầu vốn lưu động: là nhu cầu vốn dự án cần phải chi để tài trợ cho
nhu cầu tồn quỹ tiền mặt, các khoản phải thu, tồn kho sau khi trừ đi các khoản bù đắp các khoản phải trả Cần lưu ý rằng chỉ có phần thay đổi vốn lưu động chứ không phải toàn bộ nhu cầu vốn lưu động mới được tính vào dòng tiền của dự án
Nhu cầu vốn lưu động = Tồn quỹ tiền mặt + Khoản phải thu +
+ Tồn kho – Khoản phải trảKhi nhu cầu vốn lưu động tăng thì dự án cần một khoản chi tăng thêm, ngược lại, khi nhu cầu vốn lưu động giảm, dự án sẽ có một khoản thu về:
∆ Nhu cầu vốn lưu động = ∆ Tiền mặt + ∆ Khoản phải thu +
+ ∆ Tồn kho – ∆ Khoản phải trả
• Thuế thu nhập doanh nghiệp: là một dòng tiền ra của dự án, được xác
định dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh của dự án Thuế thu nhập chịu ảnh hưởng bởi phương pháp khấu hao và cơ cấu vốn của dự án
• Các chi phí gián tiếp: khi dự án được thực hiện có thể làm tăng chi phí
gián tiếp của công ty, do đó, chi phí tăng thêm này cần phải được tính vào dòng tiền của dự án
Thẩm định cách xử lý lạm phát:
Khi ước lượng dòng tiền của dự án cần ước lượng tỉ lệ lạm phát kỳ vọng, vì lạm phát cao có thể làm cho lợi ích mà dự án mang lại trong tương lai không đủ để
bù đắp khoản đầu tư vào thời điểm hiện tại Thông thường khách hàng hoặc là loại
bỏ yếu tố lạm phát, hoặc là xử lý lạm phát như là yếu tố làm tăng giá bán, qua đó, làm tăng doanh thu mà bỏ qua yếu tố lạm phát làm tăng cả chi phí Do đó, cần xem xét kỹ lưỡng cách xử lý lạm phát của doanh nghiệp khi lập dự án đầu tư
Hai phương pháp xác định dòng tiền
Dòng tiền của dự án có thể đến từ ba nguồn: dòng tiền hoạt động, dòng tiền đầu tư và dòng tiền tài trợ, khi thẩm định dòng tiền, dưới góc độ của ngân hàng,
Trang 22cần loại bỏ ảnh hưởng từ nguồn tài trợ nên không kể đến dòng tiền tài trợ (điều ngân hàng quan tâm là dự án có hiệu quả hay không từ bản thân quan hệ giữa chi phí và lợi ích của dự án, chứ không phải từ tác động của đòn bẩy tài chính) Để ước lượng dòng tiền có hai cách: trực tiếp hoặc gián tiếp.
• Phương pháp trực tiếp: theo phương pháp này, dòng tiền hoạt động bao
gồm dòng tiền vào từ các hoạt động của dự án và dòng tiền ra chi cho hoạt động của dự án
• Phương pháp gián tiếp: theo phương pháp này, dòng tiền hoạt động bao
gồm lợi nhuận sau thuế công khấu hao, trừ chi tiếp tục cho đầu tư (nếu có)
và cộng (hoặc trừ) thay đổi nhu cầu vốn lưu động
(4) Thẩm định chi phí sử dụng vốn
Chi phí sử dụng vốn chung của một doanh nghiệp chính là suất sinh lời yêu cầu trên tài sản của doanh nghiệp Nếu một doanh nghiệp có vay nợ, cơ cấu vốn của doanh nghiệp bao gồm một phần là nợ và một phần là vốn chủ sở hữu, thì chi phí sử dụng vốn bình quân sẽ được xác định theo công thức sau:
WACC =
V
D (1 – Tc) R D + R E
V
E
Trong đó: E là giá thị trường của vốn chủ sở hữu
D là giá trị trường của nợ
Tc là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
RD là chi phí sử dụng nợ
RE là chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu
Để có thể tiến hành thẩm định một cách chính xác chi phí sử dụng vốn của
dự án, nhân viên thẩm định cần phải có kinh nghiệm và am hiểu tình hình cụ thể của ngành sản xuất kinh doanh để ước lượng hợp lý về rủi ro của dự án Ngoài ra, trình độ và sự am hiểu về thị trường vốn cũng rất cần thiết trong việc ước lượng lợi nhuận đòi hỏi, từ đó, ước lượng được chi phí sử dụng vốn của dự án
Khi thẩm định chi phí sử dụng vốn của dự án, cần chú ý những sai sót sau:
- Ước lượng chi phí sử dụng vốn mà bỏ qua quan hệ giữa lợi nhuận và rủi
ro, chỉ đơn giản lấy lãi suất vay ngân hàng làm suất chiết khấu
- Ước lượng chi phí sử dụng vốn không xuất phát dựa trên cơ sở lợi nhuận phi rủi ro (lợi nhuận khi đầu tư vào tín phiếu Kho bạc)
- Ước lượng chi phí sử dụng vốn không dựa trên cơ sở tính trung bình giữa các bộ phận vốn được sử dụng
Trang 23(5) Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá dự án
Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV)
Chỉ tiêu này thể hiện giá trị tăng thêm mà dự án đem lại cho doanh nghiệp
Nó được tính theo công thức sau:
NCF NPV
)1(Trong đó: NCFt là dòng tiền ròng năm t
r là tỷ suất chiết khấu của dự án
n là tuổi thọ của dự án
Ý nghĩa:
- NPV > 0 có nghĩa là dự án có suất sinh lời cao hơn chi phí cơ hội của vốn
- NPV = 0 có nghĩa là dự án có suất sinh lời bằng chi phí cơ hội của vốn
- NPV < 0 có nghĩa là dự án có suất sinh lời thấp hơn chi phí cơ hội của vốn
Dự án chỉ đáng đầu tư nếu NPV của nó lớn hơn hoặc bằng 0 vì chỉ khi đó, doanh thu từ dự án mới đủ để bù đắp chi phí và mang lại lợi nhuận tăng thêm cho nhà đầu tư
Chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR)
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là tỷ suất chiết khấu để NPV của dự án bằng 0 Để tính tỷ suất hoàn vốn nội bộ, ta lập phương trình sau:
NCF NPV
)1(Sau đó, giải phương trình và tính IRR
Một dự án chỉ được chấp nhận khi tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) lớn hơn hoặc bằng tỷ suất sinh lời yêu cầu (tỷ suất chiết khấu) Suât sinh lời yêu cầu ở đây chính là WACC của dự án
Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn (PP)
Thời gian hoàn vốn là thời gian để dòng tiền tạo ra từ dự án đủ để bù đắp chi phí đầu tư ban đầu Cơ sở để chấp nhận dự án dựa trên cơ sở thời gian hoàn vốn là thời gian hoàn vốn (PP) phải thấp hơn hoặc bằng thời gian hoàn vốn yêu cầu
t NCF
NCF n
PP
Trang 24Trong đó, n là số năm để dòng tiền tích lũy của dự án vẫn nhỏ hơn 0.
Chỉ số lợi nhuận (PI)
Chỉ tiêu lợi nhuận là tỷ số giữa tổng giá trị hiện tại ròng của lợi nhuận với tổng giá trị hiện tại ròng của chi phí đầu tư cho dự án Công thức như sau:
Chỉ số lợi nhuận
∑ PV (Chi phí đầu tư ròng)Nếu NPV là chỉ tiêu đánh giá số đo tuyệt đối của lợi nhuận, thì PI là số đo tương đối, thể hiện lợi nhuận tạo ra từ mỗi đồng chi phí đầu tư vào dự án
(6) Phân tích và kiểm soát rủi ro của dự án
Các bước trên đều được tiến hành trước khi phê duyệt khoản vay, trong khi việc thu hồi nợ được tiến hành sau khi cho vay nên không ai biết được điều gì sẽ xảy ra trong suốt quá trình sử dụng vốn vay Do đó, công tác quản lý và kiểm soát rủi ro của dự án là hết sức cần thiết
Muốn tiến hành tốt công tác này, cần nắm được các kỹ thuật phân tích rủi
ro Dưới đây là các kỹ thuật phân tích thường được sử dụng, từ đơn giản đến phức tạp: phân tích độ nhạy, phân tích tình huống và phân tích mô phỏng
Phân tích độ nhạy:
Đây là kỹ thuật phân tích nhằm thấy được sự ảnh hưởng của các biến độc lập lên biến phụ thuộc Ở đây, biến phụ thuộc cần phân tích là NPV và IRR Các biến độc lập tác động lên hai chỉ tiêu này là các thông số khi ước lượng chi phí và dòng tiền, bao gồm:
- Tỷ lệ lạm phát
- Tý giá hối đoái
- Thị phần của doanh nghiệp
- Công suất máy móc, thiết bị
- Sản lượng tiêu thụ
- Đơn giá bán
- Tốc độ tăng giá bán
- Định mức tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu, sử dụng lao động
- Đơn giá các loại chi phí như lao động, nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng
- Tốc độ tăng chi phí
Trang 25- Tình huống kỳ vọng: đây là tình huống bình thường mà ta kỳ vọng sẽ xảy
ra trong tương lai
- Tình huống xấu: đây là tình huống có tác động tiêu cực lên NPV và IRR,
khi tình huống này xảy ra, hai chỉ tiêu này sẽ giảm đi
- Tình huống tốt: đây là tình huống có tác động tích cực lên NPV và IRR,
khi tình huống này xảy ra, hai chỉ tiêu này sẽ tăng lên
Kỹ thuật này bổ sung nhược điểm của phân tích độ nhạy ở chỗ nó xem xét đồng thời tác động của nhiều yếu tố, tuy nhiên nó có nhược điểm là vẫn chưa chỉ
ra được xác suất xảy ra các tình huống, và thực tê, kỹ thuật này chỉ có thể xem xét các tình huống rất hạn chế
Phân tích mô phỏng:
Kỹ thuật phân tích mô phỏng là kỹ thuật hiện đại và phức tạp nhắt, nó khắc phục được những hạn chế của phân tích độ nhạy và phân tích tình huống Phân tích mô phỏng cho phép chúng ta phân tích sự tác động của nhiều yếu tố lên NPV
và IRR qua hàng trăm, hàng nghìn tình huống, qua đó, có thể xác định xác suất để NPV>0 hay IRR>WACC là bao nhiêu
1.2.2.4 Thẩm định tài sản đảm bảo
Tài sản đảm bảo là tài sản của người vay để bảo đảm với người cho vay khi người vay không trả được nợ Do đó, mục tiêu của thẩm định tài sản đảm bảo là đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng thanh lý của tài sản bảo đảm
nợ vay khi cần thiết Khả năng thanh lý tài sản nói chung phụ thuộc tính chất pháp
lý và giá trị thị trường của nó Chính vì vậy, nội dung của thẩm định tài sản đảm bảo nợ vay tập trung vào khía cạnh pháp lý của tài sản và khả năng thanh lý của tài sản theo giá trị thị trường
a Thẩm định giá trị pháp lý của tài sản đảm bảo
Khi thẩm định giá trị pháp lý của tài sản đảm bảo, cần chia tài sản đảm bảo
có hai loại: tài sản có đăng ký quyền sở hữu (bất động sản, phương tiện vận tải…)
và tài sản không có đăng ký quyền sở hữu (hàng hóa, vàng bạc, ngoại tê…) Ngoài
Trang 26ra, còn có các loại tài sản đặc biệt có thể có chứng nhận quyền sở hữu, có thể không như trái phiếu, cổ phiếu…
Đối với các tài sản có đăng ký quyền sở hữu, khi thẩm định, chỉ cần xem xét tính chân thực của giấy chứng nhận đăng ký sở hữu
Đối với các tài sản không có đăng ký quyền sở hữu, quá trình thẩm định sẽ phức tạp hơn Nhân viên tín dụng cần xem xét những tài liệu liên quan đến tài sản như hóa đớn mua hàng, chứng nhận lưu kho, thuê kho, ký gửi hàng hóa… để đánh giá tính chất sở hữu hợp pháp đối với tài sản này
b Thẩm định giá trị thị trường của tài sản đảm bảo
Để thẩm định giá trị thị trường của tài sản đảm bảo, trước tiên, cần chia tài sản ra thành hai loại: tài sản hữu hình và tài sản vô hình hay tài sản tài chính Sau
đó, sử dụng mô hình chiết khấu dòng tiền để tính toán giá trị thị trường của tài sản đảm bảo Nguyên tắc chung khi sử dụng mô hình này là:
- Ước lượng dòng tiền kỳ vọng tạo ra từ tài sản
- Ước lượng mức độ rủi ro, dựa vào đó để quyết định tỷ suất chiết khấu cho phừ hợp
- Xác định giá trị hiện tại của tài sản trên cơ sở dòng tiền kỳ vọng và tỷ suất chiết khấu vừa ước lượng
Khi định giá tài sản đảm bảo, nhân viên tín dụng tính toán thu được giá trị
lý thuyết hay giá trị kỳ vọng, đó là giá trị chưa xảy ra Trong khi đó, khi cần thanh
lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ vay, ngân hàng thanh lý tài sản theo giá thị trường Do đó, rủi ro thanh lý tài sản phụ thuộc nhiều vào độ chênh lệch này
1.2.2.5 Thẩm định khả năng đáp ứng thời hạn vay và nhu cầu của khách
hàng
Trước khi ra quyết định có cho vay hay không, một vấn đề mà ngân hàng cần quan tâm, đó là, xác định nhu cầu vay của khách hàng, thời hạn và phương thức trả nợ phù hợp
•Cho vay từng lần (cho vay ngắn hạn)
Mức cho vay được xác định trên cơ sở nhu cầu vay vốn của từng phương
án, khả năng huy động vốn của ngân hàng, giá trị bảo đảm tín dụng
Xác định nhu cầu vay:
Trang 27Số vốn cho vay = Nhu cầu vốn cho sản xuất
kinh doanh –
Vốn chủ sở hữu – Các nguồn vốn khác Trong đó:
Nhu cầu vốn cho
Số vốn cho vay = Giá trị tài sản đảm
Hạn mức tín dụng là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng – mức dư nợ vay tối đa duy trì trong một thời hạn nhất định Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh và nhu cầu vay vốn của khách hàng ngân hàng ước lượng hạn mức tín dụng đối với các doanh nghiệp như sau (không kể các công ty tài chính, các tổ chức tín dụng):
Bước1: Xác đinh dự trữ hợp lý cao nhất trong kỳ trước (hoặc cuối kỳ) Dựa trên dự trữ thực tế cao nhất kỳ trước, loại trừ các dự trữ bất hợp lý
Dự trữ cao nhất
hợp lý kỳ trước = thế cao nhấtDự trữ thực –
Hàng kém chất lượng, chậm luân chuyển, hàng không thuộc đối tượng cho vay của ngân hàngBước 2: Xác định dự trữ cao nhất hợp lý kỳ này
Dự trữ cao
nhất hợp lý
Dự trữ cao nhất hợp lý
kỳ trước +
Tăng (giảm)
dự trữ do giá tăng (giảm) –
Tăng (giảm) dự trữ do
kế hoạch tăng (giảm) sản lượng tiêu thụBước 3: Xác định hạn mức tín dụng cao nhất trong kỳ
Trang 28Hạn mức tín dụng
cao nhất trong kỳ =
Dự trữ cao nhất hợp lý
Vốn chủ sở hữu tham gia dự trữ –
Các nguồn khác tham gia
dự trữ
•Cho vay trung và dài hạn
Nhu cầu vốn vay = Tổng mức vốn đầu tư thực hiện dự án – vốn khác tham gia dự ánVốn tự có và các nguồn
Thời hạn cho vay = Thời gian thi công thực hiện dự án – Thời hạn trả nợ
Thời hạn trả nợ = Số tiền ngân hàng cho vay
Số tiền trả nợ ngân hàng bình quân hàng nămNguồn trả nợ bao gồm: khấu hao tài sản cố định được hình thành bằng vốn vay ngân hàng, lợi nhuận tạo ra từ dự án có thể dùng để trả nợ và các nguồn trả nợ khác
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM
Công tác thẩm định tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố Việc nghiên cứu kỹ các nhân tố này sẽ góp phần làm cho công tác thẩm định có hiệu quả cao hơn, mang lại các kết quả chính xác hơn; từ đó, giúp cho ngân hàng đưa ra các quyết định tín dụng đúng đắn nhất Các nhân tố này được chia ra thành hai nhóm, đó là nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan
1.3.1 Nhóm nhân tố khách quan
Đây là những nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng, ngân hàng chỉ có thể cố gắng khắc phục và thích nghi
1.3.1.1 Các nhân tố từ phía doanh nghiệp đi vay
Hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp là cơ sở quan trọng để ngân hàng tiến hành thẩm định, do đó, trình độ lập các hồ sơ vay vốn, phương án sản xuất kinh doanh hay dự án đầu tư của doanh nghiệp yếu kém sẽ ảnh hưởng xấu đến chất
Trang 29lượng thẩm định của ngân hàng Lúc này, ngân hàng sẽ phải kéo dài thêm thời gian thu thập, tính toán, phân tích các thông tin của doanh nghiệp.
Mặc khác, dù trình độ cán bộ thẩm định có tốt đến đâu cũng khó có thể đi sâu và nắm vững được tình hình nội bộ của doanh nghiệp Do vậy, tính xác thực của các thông tin mà doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng về tình hình tài chính, tình hình hoạt động, phương án kinh doanh hay dự án đầu tư cũng là một vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng của công tác thẩm định Như vậy, để công tác thẩm định mang lại kết quả chính xác nhất, việc cung cấp thông tin đúng, đầy đủ, chính xác của doanh nghiệp là rất cần thiết
Tóm lại, sự hợp tác và năng lực thực sự của doanh nghiệp là một sự đảm bảo tốt cho ngân hàng trong công tác thẩm định tín dụng
1.3.1.2 Môi trường kinh tế - xã hội
Mức độ phát triển của kinh tế, xã hội của một quốc gia quy định kinh nghiệm năng lực, trình độ phổ biến của các chủ thể của nền kinh tế, từ đó quyết định tính minh bạch và độ tin cậy của các thông tin, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định Với nền kinh tế chưa phát triển, cơ chế kinh tế thiếu đồng bộ cùng với sự bất ổn của các điều kiện kinh tế vĩ mô như ở nước ta hiện nay, việc cung cấp những thông tin xác thực phản ánh đúng diễn biến, mối quan hệ thị trường, những thông tin về dự báo tình hình của nền kinh tế gặp rất nhiều hạn chế Đồng thời, việc các định hướng, chính sách phát triển kinh tế, xã hội theo vùng, ngành chưa được xây dựng một cách đồng bộ và ổn định cũng là một yếu tố rủi ro trong công tác phân tích, đánh giá của ngân hàng
Ngoài ra, môi trường kinh tế liên tục biến động làm cho công tác nhận định,
dự báo rủi ro của ngân hàng trở nên khó khăn hơn Một khi nhận định của ngân hàng bị sai lệch, các rủi ro tiềm ẩn trở thành hiện thực, nếu không có các biện pháp chống đỡ, dự phòng từ trước thì ngân hàng có thể gặp phải rủi ro rất lớn
1.3.1.3 Môi trường pháp lý
Các chính sách, cơ chế quản lý đóng vai trò điều chỉnh, định hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế Những khiếm khuyết trong tính hợp lý, đồng bộ và hiệu lực của các văn bản pháp lý của Nhà nước đều tác động xấu đến chất lượng công tác thẩm định của ngân hàng Sự mâu thuẫn, chồng chéo của các văn bản luật, dưới luật về các lĩnh vực, sự thay đổi liên tục những văn bản về quy chế quản lý tài chính, tính không hiệu lực của pháp lệnh kế toán thống kê gây khó khăn cho ngân hàng trong việc đánh giá, dự báo rủi ro, hạn chế trong việc thu thập các thông tin chính xác phục vụ cho công tác thẩm định (như doanh nghiệp có nhiều loại báo cáo khác nhau cho các mục đích khác nhau)
1.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan
Trang 30Đây là những nhân tố bên trong, thuộc về nội bộ mà ngân hàng có thể chủ động kiểm soát, điều chỉnh được.
1.3.2.1 Nhân tố con người
Đây là nhân tố được xem là cơ bản và quan trọng nhất Trong công tác thẩm định tín dụng, cán bộ ngân hàng là người trực tiếp thực hiện Do đó, chất lượng thẩm định có tốt hay không, mục tiêu thẩm định có đạt được hay không phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của cán bộ tín dụng Có thể hiểu đây là sự am hiểu về quy trình, nắm chắc nội dung, kỹ thuật thẩm định của cán bộ tín dụng Bên cạnh
đó, để cho các phân tích được xác thực, yêu cầu đặt ra cho các cán bộ là phải có
sự hiểu biết sâu rộng với các lĩnh vực khác ngoài ngân hàng Đó là những kiến thức về kinh tế, chính trị, pháp luật Ngoài ra, đối với cán bộ tín dụng, vấn đề đạo đức nghề nghiệp cũng là một vấn đề cần coi trọng
1.3.2.2 Công tác tổ chức điều hành
Do thẩm định tín dụng được tiến hành theo nhiều giai đoạn có liên quan chặt chẽ với nhau nên tổ chức công tác thẩm định có ảnh hưởng không nhỏ tới sự thành bại của công việc thẩm định Nếu công tác này được tổ chức một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, có kiểm tra, giám sát chặt chẽ, kết quả thẩm định tín dụng sẽ cao
Mặt khác, phương thức điều hành hợp lý của ban lãnh đạo sẽ là cơ sở để phát huy năng lực của các cán bộ thẩm định Việc phân định quyền hạn và trách nhiệm cho từng bộ phận sẽ giúp cho việc thẩm định được chính xác, khách quan
và dễ dàng hơn
1.3.2.3 Quy trình, phương pháp thẩm định
Quy trình và phương pháp thẩm định hợp lý, khoa học sẽ giúp cán bộ tín dụng phân tích, đánh giá hồ sơ vay vốn một cách nhanh chóng, tin cậy, chính xác, tiết kiệm thời gian và chi phí, giúp cho việc ra quyết định cho vay đúng đắn Ngược lại, quy trình và phương pháp thẩm định không khoa học, nhiều thủ tục phức tap, rườm rà, gây mất thời gian, tiền bạc và thậm chí còn làm mất cơ hội đầu
tư của khách hàng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng và giảm khả năng cạnh tranh, uy tín của ngân hàng
1.3.2.4 Vấn đề thông tin và xử lý thông tin
Thực chất thẩm định là xử lý thông tin để đưa ra những nhận xét, đánh giá
về dự án; hay thông tin chính là nguyên liệu cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định Do đó, số lượng cũng như chất lượng và tính kịp thời của thông tin tác động rất lớn đến chất lượng thẩm định.Việc thông thu thập thông tin đúng, đủ,
Trang 31chính xác sẽ tạo điều kiện cho cán bộ thẩm định đưa ra những nhận xét đánh giá đúng đắn chọn lọc được khách hàng, dự án đầu tư khả thi, đảm bảo an toàn cho hoạt động tài trợ của ngân hàng
Trong môi trường kinh doanh năng động và tính cạnh tranh cao như hiện nay, sự chậm trễ trong việc thu thập, xử lý các thông tin cần thiết sẽ tác động đến chất lượng thẩm định, quan hệ ngân hàng – khách hàng và có thể gây mất cơ hội tài trợ dự án tốt
1.3.2.5 Trang thiết bị, công nghệ
Vai trò của thông tin rõ ràng là rất quan trọng, song để có thể thu thập, xử
lý, lưu trữ thông tin một cách có hiệu quả, phải kể đến nhân tố thiết bị, kỹ thuật
Hiện nay, công nghệ thông tin được ứng dụng vào ngân hàng đã làm tăng khả năng thu thập, xử lý và lưu trữ thông tin Đồng thời hệ thống mạng cũng giúp ngân hàng thuận lợi trong việc khai thác và thu thập thông tin Như vậy, các thông tin đầu vào, đầu ra của việc thẩm định sẽ được cung cấp đầy đủ và kịp thời Nhờ
đó, công tác thẩm định được tiến hành dễ dàng hơn, giảm thiểu rủi ro do sai sót trong tính toán, tiết kiệm thời gian tạo hiệu quả cao trong thẩm định
Trang 32CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NHTMCP GIA ĐỊNH CHI
NHÁNH HÀ NỘI
2.1 VÀI NÉT VỀ NHTMCP GIA ĐỊNH CHI NHÁNH HÀ NỘI
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của NHTMCP Gia Định chi
nhánh Hà Nội
NHTMCP Gia Định được thành lập và hoạt động theo giấy phép số 0025/NH-GP ngày 22/8/1992 do thống đốc NHNN cấp; giấy phép số 576/GP-UB ngày 8/10/1992 do Ủy ban nhân dân TP.HCM cấp Với xuất phát điểm là một ngân hàng nhỏ trong bối cảnh nước ta đang tiến hành đổi mới nền kinh tế, qua hơn
15 năm hình thành và phát triển, mạng lưới hoạt động của NHTMCP Gia Định đã ngày càng mở rộng từ Nam ra Bắc, uy tín của Ngân hàng ngày càng được nâng cao, tạo được thương hiệu lớn mạnh trong toàn hệ thống Ngân hàng, thể hiện một sức sống tiềm năng, phát triển mạnh và ổn định của Ngân hàng trên thị trường hôm nay
Những năm gần đây, NHTMCP Gia Định được biết đến là một trong những NHTM phát triển ổn định, bền vững, chất lượng tín dụng tốt Hiện nay với sự hỗ trợ cổ đông chiến lược là Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) chiếm 30% vốn điều lệ, Ngân hàng Gia Định tiếp tục đẩy mạnh quy mô hoạt động cũng như phát triển sản phẩm mới có thể sánh ngang và cùng cạnh tranh với các NHTMCP khác, đồng thời trở thành một trong những NHTM hàng đầu trong cả nước không ngừng đóng góp cho sự phát triển kinh tế của xã hội, cộng đồng
Với lợi thế có các cổ đông pháp nhân là các NHTM, đặc biệt có đối tác chiến lược là Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam cam kết hỗ trợ thiết thực lâu dài, Ngân hàng Gia Định định hướng chiến lược phát triển trở thành một NHTMCP có quy mô trung bình khá ở Việt Nam với thương hiệu mạnh trong chất lượng phục vụ khách hàng Chú trọng thu hút khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng thể nhân Cung cấp các giải pháp dịch vụ có chất lượng cao, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thông qua sự sáng tạo, linh hoạt thường xuyên và nền tảng công nghệ hiện đại Có năng lực cao trong quản trị và điều hành, xây dựng cơ chế quản trị và phương thức điều hành theo mô hình tiên tiến
Trang 33Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của NHTMCP Gia Định:
Trang 352.1.2 Những kết quả đạt được trong những năm gần đây
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu bùng phát mạnh từ cuối năm 2008 đã tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế Việt Nam trong hai năm vừa qua Trong đó, riêng lĩnh vực tài chính tiền tệ chịu ảnh hưởng rất lớn bởi những chính sách ổn định vĩ mô của Nhà nước như chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá, chương trình hỗ trợ lãi suất, v.v… Sự biến động liên tục của lãi suất, tỷ giá đã tác động trực tiếp đến thị trường tiền tệ, và đặc biệt là hoạt động của ngân hàng Trước tình hình khó khăn chung đó của nền kinh tế, Ngân hàng Gia Định đã phấn đấu và đạt được những kết quả nhất định trong năm vừa qua
Những kết quả cụ thể được thể hiện qua bảng sau đây:
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của NHTMCP Gia Định năm 2009
- Tiền gửi, vay các Tổ
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động năm 2009 NHTMCP Gia Định)
Trong năm 2009 vừa qua, hoạt động của Ngân hàng đã đạt được những kết quả tích cực
Dư nợ tín dụng tăng 82% so với năm trước Số lượng khách hàng đến giao dịch tại các đơn vị không ngừng tăng, lượng tiền gửi thanh toán cũng tăng theo
Chính sách lãi suất được thực hiện một cách linh hoạt, phù hợp diễn biến thị trường và đảm bảo quy định của NHNN Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế
và dân cư tăng 160% so với năm 2008