Mục đích nghiên cứu Đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ những thủ tục trong các giai đoạn giải quyết vụ án nói chung và đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THU HƯƠNG
THủ TụC GIảI QUYếT Vụ áN ĐốI VớI TộI
Cố ý GÂY THƯƠNG TíCH HOặC GÂY TổN HạI
CHO SứC KHỏE CủA NGƯờI KHáC (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THU HƯƠNG
THủ TụC GIảI QUYếT Vụ áN ĐốI VớI TộI
Cố ý GÂY THƯƠNG TíCH HOặC GÂY TổN HạI
CHO SứC KHỏE CủA NGƯờI KHáC (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS BẠCH THÀNH ĐỊNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thu Hương
Trang 4VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 9 1.1 Khái niệm 9 1.2 Thủ tục giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 11
1.2.1 Thủ tục giải quyết vụ án hình sự 11 1.2.2 Những thủ tục cần lưu ý khi giải quyết vụ án đối với tội cố ý
gây thương tích 22
Kết luận chương 1 38 Chương 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG
TÍCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TỪ LIÊM HÀ NỘI 40 2.1 Thực tiễn giải quyết các vụ việc cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 40
2.1.1 Những kết quả đạt được trong giải quyết các vụ án cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 40 2.1.2 Nguyên nhân của những kết quả đạt được 45
2.2 Những tồn tại, hạn chế trong thủ tục giải quyết các vụ án cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
và nguyên nhân 48
2.2.1 Những tồn tại, hạn chế 48
Trang 52.2.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 64
Kết luận chương 2 68
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN ĐỐI VỚI TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 70
3.1 Quan điểm về hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 70
3.2 Giải pháp hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 72
3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 81
3.3.1 Hoàn thiện quy định về điều tra vụ án hình sự 81
3.3.2 Hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giải quyết vụ án hình sự 86
3.3.3 Hoàn thiện một số quy định khác có liên quan đến thủ tục giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 93
3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả thủ tục giải quyết đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 97
3.4.1 Nâng cao hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra 97
3.4.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động truy tố của Viện kiểm sát 100
3.4.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án 102
Kết luận chương 3 106
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 113
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra
TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao TNHS : Trách nhiệm hình sự VKS : Viện kiểm sát
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Bảng 2.1: So sánh tình hình tội cố ý gây thương tích với tình hình
tội phạm trên địa bàn huyện Từ Liêm 113
Bảng 2.2: Một số tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm có tính phổ biến trong xã hội 113
Bảng 2.3: Tình hình khởi tố, truy tố, xét xử tội cố ý gây thương
Bảng 2.4: Tình hình xét xử tội cố ý gây thương tích trên địa bàn
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ ngày lập nước, nhà nước ta rất chú trọng bảo vệ quyền con người Các tội xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của con người được quy định sớm trong luật hình sự nước ta Trong đó tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác {Điều 104 Bộ luật hình sự (BLHS)} những năm gần đây có chiều hướng gia tăng Hậu quả gây ra rất lớn, không chỉ người bị hại bị xâm hại nghiêm trọng tới sức khỏe
do hành vi phạm tội gây ra mà còn làm mất an ninh, trật tự của xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân Đặc biệt, khi nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì mặt trái của cơ chế thị trường như xuất hiện trên mạng internet phim ảnh bạo lực, các trò chơi điện tử… tác động đến tình hình tội phạm, tội cố ý gây thương tích có xu hướng tăng và diễn biến phức tạp, người phạm tội ngày càng trẻ hóa, liều lĩnh, coi thường tính mạng con người cũng như coi thường pháp luật, sử dụng ngày một nhiều hơn các loại vũ khí nguy hiểm… Nhiều vụ cố ý gây thương tích có quy mô tổ chức lớn, nhiều người tham gia ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình
an ninh trật tự ở Thủ đô
Thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cố ý gây thương tích trong thời gian qua của nước ta tuy đã được các cấp, các ngành, các cơ quan tư pháp chú trọng nhưng do những nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan kết quả đạt được chưa thực sự như mong muốn, một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là thủ tục giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đã phát sinh một số vướng mắc ảnh hưởng đến việc áp dụng chế tài hạn chế sức răn đe, giáo dục, trừng phạt người phạm tội cũng như phòng ngừa chung
Trang 9Qua nghiên cứu thực hiện các thủ tục giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở huyện Từ Liêm (nay là hai quận Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm) là địa bàn có tốc độ
đô thị hóa nhanh, nhiều khu dân cư mới, các trường đại học, khu công nghiệp… được xây dựng và phát triển Bên cạnh đó công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự và tình hình tội phạm đặc biệt là tội cố ý gây thương tích diễn ra phức tạp; công tác giải quyết của các lực lượng chức năng còn nhiều bất cập, việc tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác và kiến nghị khởi tố về tội
cố ý gây thương tích còn chưa đáp ứng được yêu cầu Nhiều vụ cố ý gây thương tích xảy ra do mâu thuẫn cá nhân nhưng Cơ quan điều tra (CQĐT) không nắm được tình hình, trong đó rất nhiều vụ đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng khó tiến hành hoạt động điều tra Hoạt động điều tra tội cố ý gây thương tích hiện cũng còn nhiều bất cập, công tác khám nghiệm hiện trường còn chưa thực sự đạt yêu cầu, bỏ sót nhiều dấu vết hoặc vật chứng quan trọng, nhất là trong các vụ cố ý gây thương tích có nhiều đối tượng tham gia Bên cạnh đó trong tội phạm này hoạt động giám định thương tích là yêu cầu bắt buộc tuy nhiên công tác giám định trong thời gian qua còn nhiều vướng mắc
do quy định của luật cũng như trên thực tiễn áp dụng, nhiều trường hợp không khởi tố được vì đương sự không đi giám định hoặc giám định lại nhiều lần cho các kết quả khác nhau dẫn đến việc các cơ quan tiến hành tố tụng khó khăn trong giải quyết Hoạt động xét xử đối với các vụ án cố ý gây thương tích cũng còn nhiều khó khăn, chủ yếu ở trong khâu xét hỏi tại phiên tòa, nhiều trường hợp các bị cáo phản cung, khai khác với lời khai tại CQĐT, một
số vụ án cố ý gây thương tích xảy ra đông người, có đông các đối tượng côn
đồ cộm cán tham gia nên thái độ chống đối rất quyết liệt Tính chất xuyên suốt trong thủ tục giải quyết vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích cần được quan tâm và giải quyết một cách triệt để
Trang 10Vì vậy, từ lý luận và thực tiễn đấu tranh với loại tội phạm này tác giả
chọn đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ là: "Thủ tục giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội)" làm luận văn thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học, Luật gia nghiên cứu ở nhiều góc độ Trên các sách, báo chí, tạp chí cũng đã đề cập và có
nhiều quan điểm tiếp cận với loại tội này trên nhiều khía cạnh khác nhau
Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân, đó là "Quyền bất khả xâm phạm về thân thể được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm", "Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hạn cho sức khỏe của người khác" tại Điều 71 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận "người nào
có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác đều bị xử lý theo pháp luật" Có nhiều tác giả quan tâm tới trách nhiệm hình sự (TNHS) của tội phạm này như Nguyễn Ngọc Hàn, Trần Văn
Độ, tác giả Nguyễn Cường đã quan tâm đến lỗi cố ý, vấn đề khách thể trực tiếp; các tác giả Vũ Lập Thành, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Quốc Hội tiến
hành nghiên cứu những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS
Một số sách chuyên khảo đề cập đến việc áp dụng pháp luật của Tòa
án nhân dân (TAND) trong hoạt động xét xử án hình sự, trong đó có đề cập đến việc xét xử các tội phạm hình sự nói chung và tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng như:
- GS TSKH Đào Trí Úc, "Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật",
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1993 Tác giả đã đi sâu phân tích về áp
dụng pháp luật và hoạt động xét xử của TAND
Trang 11- TS Nguyễn Thị Hồi, "Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay và
một số vấn đề lý luận và thực tiễn", Nxb Tư pháp, năm 2009
- TSKH.Lê Cảm "Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật
hình sự", Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2002
- ThS Đinh Văn Quế "Tìm hiểu về tội phạm và hình phạt trong luật
hình sự Việt Nam", Nxb Phương Đông, năm 2010
- ThS Đinh Văn Quế "Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự những vấn
đề lý luận và thực tiễn", Nxb Phương Đông, năm 2010
- TS Dương Tuyết Miên "Định tội danh và quyết định hình phạt", Nxb Lao động - Xã hội, năm 2007
Ngoài ra, các tác giả như TS Phùng Thế Vắc và TS Trần Văn Luyện
có công trình bình luận khoa học BLHS năm 1999 (phần các tội phạm) do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản trong đó có đề cập đến tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác TS Phạm Văn Beo với
"Luật hình sự Việt Nam" phân tích rất rõ các dấu hiệu pháp lý và hình phạt của loại tội này Tác giả Đinh Văn Quế có công trình nghiên cứu là cuốn Bình
luận khoa học Bộ luật hình sự (bình luận chuyên sâu) phần các tội phạm, tập
1, do Nxb Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2002 đã đề cập đến tội phạm này
Về thủ tục giải quyết vụ án trong tố tụng hình sự cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu dưới các giác độ khác nhau Có thể kể đến là các giáo trình Luật tố tụng hình sự của các cơ sở đào tạo luật như Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội Về các thủ tục tố tụng đặc biệt cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Tác giả
Đỗ Thị Phượng với luận án tiến sĩ: "Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành
niên phạm tội" Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Tác giả Nguyễn Văn
Quảng với luận án tiến sĩ: "Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam",
Trang 12tại Học viện Khoa học xã hội Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu ở cấp độ bài viết khoa học nói riêng về vấn đề thủ tục giải quyết vụ án hình sự Các công trình trên là nguồn tài liệu tham khảo để tác giả nghiên cứu hoàn thành đề tài
Các công trình trên nhìn chung đã nghiên cứu tương đối cơ bản về tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới góc
độ luật hình sự hoặc nghiên cứu về thủ tục giải quyết các vụ án hình sự nói chung mà chưa có bất kỳ công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về thủ tục giải quyết vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Đặc biệt là nghiên cứu này được thực hiện dựa trên cơ sở số liệu thực tế của một đơn vị là huyện Từ Liêm Hà Nội (nay là quận Nam Từ Liêm và Bắc Từ Liêm)
Chính vì vậy, việc tác giả chọn đề tài: "Thủ tục giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội)" không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố và có ý nghĩa
quan trọng cả lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ những thủ tục trong các giai đoạn giải quyết vụ án nói chung và đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) hiện hành, trên sơ sở thực trạng thủ tục giải quyết
vụ án đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trên địa bàn huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội luận văn sẽ chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế, nguyên nhân tồn tại và những vướng mắc, đề xuất một số giải pháp chủ yếu để hoàn thiện về mặt lý luận, đồng thời góp
Trang 13phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thủ tục giải quyết vụ án cố ý gây thương tích trên địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội (nay là hai quận Nam Từ Liêm - Bắc Từ Liêm)
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, quá trình nghiên cứu, tác giả tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Làm sáng rõ những vấn đề lý luận về thủ tục giải quyết vụ án nói chung và thủ tục giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác nói riêng
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực tiễn quá trình giải quyết vụ
án tội cố ý gây thương tích trên địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2014 Chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế, nguyên nhân tồn tại và những vướng mắc trong áp dụng pháp luật về giải quyết vụ án đối với loại tội phạm này
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết vụ
án, nâng cao khả năng áp dụng pháp luật trong thủ tục giải quyết các vụ án
về tội cố ý gây thương tích nói chung và cụ thể nâng cao năng lực xử lý đối với tội cố ý gây thương tích của các cơ quan tư pháp trên địa bàn huyện Từ Liêm nói riêng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về thủ tục giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn huyện
Từ Liêm (nay là hai quận Nam Từ Liêm - Bắc Từ Liêm)
- Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là làm rõ trên phương diện lý luận các thủ tục giải quyết vụ án theo quy định của BLTTHS và BLHS hiện hành và
Trang 14kết quả nghiên cứu thực tiễn quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xảy ra từ năm 2010 đến 2014 tại địa bàn Từ Liêm, Hà Nội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quan điểm cơ bản của Đảng
và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm; lý luận về tội phạm học, Luật hình sự và tố tụng hình sự Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê thực tế số liệu xét xử, phương pháp so sánh, tổng hợp, hỏi
ý kiến chuyên gia để rút ra các kết luận khoa học của mình
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn là công trình đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện các vấn đề thủ tục giải quyết đối với
vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Những đóng góp mới của luận văn được thể hiện ở các điểm sau:
- Luận văn đã phân tích được đầy đủ các vấn đề lý luận về thủ tục giải quyết đối với vụ án hình sự nói chung và vụ án về tội cố ý gây thương tích nói riêng Ngoài ra luận văn còn nghiên cứu về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
- Luận văn đã nghiên cứu một cách toàn diện về thực trạng quá trình giải quyết vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích trên địa bàn huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội, từ đó rút ra đánh giá về những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết vụ án hình sự cũng như những hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích của các cơ quan tố tụng huyện Từ Liêm
- Từ những sự phân tích, luận văn cũng đã chỉ rõ được nguyên nhân
Trang 15của những tồn tại hạn chế đó và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích trên địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo về mặt lý luận khi giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao khả năng thực thi pháp luật và các giải pháp phòng ngừa tội cố ý gây thương tích rút ra qua quá trình áp dụng trên thực tiễn làm cơ sở cho khoa học luật hình sự
và Tố tụng hình sự nói chung và góp phần nâng cao chất lượng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội cố ý gây thương tích nói riêng
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về thủ tục giải quyết vụ án tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Chương 2: Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự về tội cố ý gây
thương tích trên địa bàn huyện Từ Liêm
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
giải quyết các vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích
Trang 16Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT
VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI
CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC
1.1 Khái niệm
Thủ tục giải quyết vụ án hình sự là trình tự, biện pháp do cơ quan có thẩm quyền áp dụng để phát hiện và xử lý tội phạm Từ khái niệm thủ tục giải
quyết vụ án hình sự có thể rút ra khái niệm: thủ tục giải quyết vụ án cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là trình tự, biện pháp do cơ quan có thẩm quyền áp dụng để phát hiện và xử lý tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Thủ tục giải quyết vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định chung trong tố tụng hình sự, theo trình tự như đối với các vụ án hình sự thông thường, và có mục đích cơ bản
là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành
vi phạm tội cố ý gây thương tích, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Xét về hình thức, tố tụng hình sự được phân chia ra các giai đoạn khác nhau, bao gồm: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Mỗi giai đoạn tố tụng có tính độc lập tương đối nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau, giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau; kết quả của giai đoạn sau là sự kiểm chứng tính đúng đắn của giai đoạn trước và các giai đoạn hợp thành một quy trình tố tụng hình sự Gắn với mỗi giai đoạn là các hoạt động tố tụng do các chủ thể khác nhau tiến hành (Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS), Tòa án) với sự tham gia của các chủ thể khác như bị can,
bị cáo, bị hại, người làm chứng, người bào chữa, giám định, các cơ quan tổ
Trang 17chức nhà nước, tổ chức xã hội… Ở mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau, các chủ thể có nhiệm vụ và thẩm quyền khác nhau nhưng đều có một mục tiêu chung là xác định sự thật khách quan của sự kiện phạm tội đã xảy ra, nhằm chứng minh hành vi và chủ thể tội phạm
Trên cơ sở sự kiện phạm tội xảy ra, cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp của tố tụng hình sự để làm rõ: có hành vi phạm tội xảy ra hay không; thời gian; địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực TNHS hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của chủ thể và những đặc điểm về nhân thân của chủ thể; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra [27, Điều 63] Đó
là những vấn đề mà cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh trong vụ án hình sự nói chung và vụ án cố ý gây thương tích nói riêng Nhà nước xác định một hệ thống các biện pháp tố tụng để chứng minh và xử lý tội phạm Hệ thống các biện pháp tố tụng, bao gồm: các biện pháp để phát hiện tội phạm (như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét, khởi tố vụ án…); các biện pháp ngăn chặn tội phạm (như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú)… các biện pháp thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm (như lấy lời khai, thu giữ vật chứng, giám định…), các biện pháp xử lý tội phạm (như truy tố, xét xử) Các biện pháp này được thực hiện bởi các chủ thể
là các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Tuy nhiên không phải các sự kiện phạm tội xảy ra đều áp dụng tất cả các biện pháp tố tụng để giải quyết mà tùy thuộc tính chất, mức độ của sự kiện phạm tội để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp tố tụng cho phù hợp, ví dụ: biện pháp ngăn chặn tạm giam chỉ đặt ra với các sự kiện phạm tội mà người thực hiện hành vi có mức nguy hại lớn, cần ngăn chặn người đó bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội mới… Ngoài ra, các biện pháp và trình tự tố tụng còn được hình
Trang 18thành trên cơ sở tính chất của chủ thể, ví dụ: đối với các chủ thể là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tinh thần thì phải có một trình tự
tố tụng đặc biệt để áp dụng đối với họ
1.2 Thủ tục giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Như đã đề cập ở trên, thủ tục giải quyết vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác phải được tiến hành theo những trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định nhằm chứng minh một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà BLHS quy định phải chịu TNHS Hay nói cách khác, để làm sáng tỏ thủ tục giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cũng là làm sáng tỏ các trình tự, biện pháp được áp dụng trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự thông thường, nhưng đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có một số những điểm cần lưu
ý theo từng giai đoạn do một số đặc điểm riêng của tội phạm này
1.2.1 Thủ tục giải quyết vụ án hình sự
1.2.1.1 Giai đoạn khởi tố
Theo Từ điển Luật học thì khởi tố vụ án hình sự là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng xác định có sự việc phạm tội để tiến hành điều tra phát hiện tội phạm Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt động điều tra Trong giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành các hoạt động để xác định dấu hiệu của tội phạm [44, tr 429]
Theo tác giả Lê Cảm thì giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn
tố tụng hình sự đầu tiên mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tiến hành việc xác định có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho
Trang 19xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố vụ
án (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó [5, tr 26]
Do vậy, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của trình tự giải quyết vụ
án, có nhiệm vụ xác định một sự việc xảy ra trong thực tế có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi
tố vụ án hình sự Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn được tiến hành trước các giai đoạn tố tụng tiếp theo như: điều tra, truy tố, xét xử Do đó, giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội, lập hồ sơ vụ án, đề nghị truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Chí, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan có thẩm quyền có nhiệm
vụ sử dụng các biện pháp của tố tụng hình sự để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm, trên cơ sở đó các cơ quan này sẽ ra một trong hai quyết định đó là: quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ
án hình sự [7, tr 64] Tương tự như thế, trong giáo trình Luật tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội có viết: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn
mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự [38, tr 231]
Các quan điểm nêu trên tuy được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng đều thể hiện sự thống nhất đó là coi khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của tố tụng hình sự, là giai đoạn khởi động quá trình tố tụng hình sự, có vai trò làm căn cứ pháp lý cho các giai đoạn tiếp theo
Trong giai đoạn khởi tố, các cơ quan tiến hành tố tụng nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, tin báo, tố giác về tội phạm để từ đó có
Trang 20khởi tố vụ án hình sự hay không Việc khởi tố hay không khởi tố phải căn cứ vào quy định tại BLTTHS Theo đó:
Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:
1 Tố giác của công dân;
2 Tin báo của cơ quan, tổ chức;
3 Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;
4 Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;
5 Người phạm tội tự thú [27, Điều 100]
Trong số các cơ quan tiến hành tố tụng, thẩm quyền khởi tố vụ án hình
sự chủ yếu quy định cho CQĐT, còn tòa án và VKS chỉ có thẩm quyền khởi
tố rất hạn chế Khi tiếp nhận tin tức về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền khởi
tố phải xác định sự tồn tại của sự việc và đánh giá xem sự việc đó có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định việc có hay không khởi tố vụ án
Tại giai đoạn này, CQĐT phải làm những thủ tục sau: tiếp nhận thông tin về tội phạm (có thể là tin báo hoặc tố giác về tội phạm), qua đơn thư, công văn kiến nghị hoặc nêu trên phương tiện thông tin đại chúng thì phải tiếp nhận
và vào sổ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Nếu cá nhân trực tiếp đến tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức trực tiếp đến báo tin về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm Nếu cá nhân tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức báo tin về tội phạm qua điện thoại, các phương tiện thông tin khác thì phải tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nếu là tin quan trọng hoặc thấy cần thiết thì có thể ghi âm, ghi hình Trường hợp người phạm tội đến tự thú thì phải lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú
Trang 21Sau khi tiếp nhận thông tin liên quan đến tội phạm, CQĐT phải tiến hành phân loại, xác minh sơ bộ ban đầu Nếu xác định thông tin đó là tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, Thủ trưởng CQĐT phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố và gửi ngay một bản đến VKS cùng cấp để kiểm sát việc giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật Đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố sau khi tiếp nhận đã
rõ về dấu hiệu tội phạm thì CQĐT ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 104 BLTTHSnăm
2003, không phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố
Khi xác minh có dấu hiệu tội phạm, để có thể khởi tố vụ án, Thủ trưởng CQĐT ký quyết định phân công phó thủ trưởng CQĐT và điều tra viên điều tra vụ án Sau đó, Phó Thủ trưởng CQĐT được phân công sẽ trực tiếp ký quyết định khởi tố vụ án.Nội dung của quyết định khởi tố vụ án hình
sự phải bao gồm thời gian, căn cứ khởi tố, điều khoản của BLHS được áp dụng và họ tên, chức vụ người ra quyết định Quyết định khởi tố vụ án hình
sự của CQĐT, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra cần phải gửi đến VKS cùng cấp trong thời hạn 24h kể từ khi ra quyết định Điều này đảm bảo tính chặt chẽ và hợp pháp của quyết định khởi tố Đảm bảo nguyên tắc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, tránh oan, sai trong khởi tố vụ án hình sự Đồng thời cũng thể hiện quan hệ phối hợp và chế ước giữa VKSND và CQĐT
Thực tế cho thấy, để soạn thảo quyết định khởi tố vụ án, cán bộ thụ lý chỉ cần khoảng thời gian rất ngắn nhưng để chứng minh có hay không hành vi phạm tội xảy ra, thời hạn phụ thuộc vào độ phức tạp của thông tin tội phạm Ở
Trang 22những vụ việc có đông đối tượng, khó xác định dấu hiệu phạm tội, CQĐT cần xác minh tại nhiều nơi, ghi lời khai của nhiều người, thời hạn có thể kéo dài hai tháng hoặc dài hơn Những việc làm này không những xác định dấu hiệu phạm tội mà còn xác định rõ điều khoản của BLHS được áp dụng, thời gian phạm tội, địa điểm phạm tội (thể hiện qua việc lấy lời khai và vẽ sơ đồ hiện trường, khám nghiệm hiện trường nếu có), dùng làm căn cứ ra Quyết định
khởi tố vụ án hình sự
Quyết định khởi tố vụ án hình sự là văn bản tố tụng đánh dấu quá trình giải quyết vụ án bắt đầu chuyển sang giai đoạn điều tra
1.2.1.2 Giai đoạn điều tra
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá trình tố tụng hình sự được BLTTHS quy định trong 6 chương, từ chương VIII đến chương XIII Giai đoạn điều tra được xác định bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ tài liệu và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi có đủ các căn cứ do pháp luật quy định thì vụ án bị đình chỉ điều tra và tất nhiên các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra đối với vụ án đó sẽ chấm dứt, nên trong trường hợp vụ án bị đình chỉ điều tra thì cũng được coi là thời điểm chấm dứt giai đoạn điều tra vụ án [5, tr.24-29]
Khoảng thời gian bắt đầu cho đến khi kết thúc của giai đoạn điều tra được Luật tố tụng hình sự quy định khá cụ thể, theo đó thời hạn điều tra (kể
cả các lần gia hạn điều tra) đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 4 tháng, đối với tội nghiêm trọng không quá 8 tháng, đối với tội rất nghiêm trọng không quá 12 tháng, đối với tội đặc biệt nghiêm trọng không quá 20 tháng kể từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình
sự Riêng đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia ngoài các thời hạn điều tra nêu trên thì Viện trưởng VKSNDTC có quyền gia hạn thêm khi thấy cần thiết,
Trang 23thời hạn gia hạn thêm không quy định cụ thể mà tùy vào tính chất phức tạp của vụ án mà Viện trưởng VKSNDTC ấn định thời gian gia hạn
Thầm quyền điều tra thuộc về CQĐT và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra được quyền tiến hành các biện pháp điều tra Trong giai đoạn này mối quan hệ giữa CQĐT và VKS thể hiện rõ nét
Trong giai đoạn điều tra vụ án, quyết định chiếm vị trí quan trọng đầu tiên là quyết định khởi tố bị can Theo quy định của Điều 126 BLTTHS thì quyết định khởi tố bị can được ban hành khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội Ở những vụ án đơn giản, Quyết định khởi
tố bị can có thể được CQĐT ra cùng thời điểm với Quyết định khởi tố vụ án
Quyết định khởi tố bị can gồm các nội dung chủ yếu về thời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình của bị can; bị can bị khởi tố về tội
gì, theo điều khoản nào của BLHS; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm… Trong thời hạn 24h kể từ khi ra quyết định khởi
tố bị can, CQĐT phải gửi quyết định này đến VKSND cùng cấp để xét việc phê chuẩn, và trong thời hạn 3 ngày VKSND cùng cấp phải ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can [27, Điều 126]
Các hoạt động của giai đoạn điều tra là hoạt động thu thập chứng cứ
để chứng minh tội phạm Theo quy định của BLTTHS trong giai đoạn điều tra, CQĐT và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra được quyền tiến hành các biện pháp điều tra quy định như: hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể Các hoạt động điều tra trên phải được tiến hành theo thủ tục được pháp luật quy
Trang 24định và đặt dưới sự kiểm sát của VKS nhằm đảm bảo quá trình thu thập chứng cứ khách quan, toàn diện, đúng quy định của pháp luật VKS đề ra các yêu cầu điều tra giúp CQĐT điều tra đúng hướng Khi cần thiết, VKS có thể
tự mình tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm chứng minh tội phạm, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Việc điều tra kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy
tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra Khi có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì CQĐT làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố Bản kết luận điều tra vụ án phải ghi rõ ngày, tháng, năm,
họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận, nội dung bản kết luận điều tra đề nghị truy tố sẽ trình bày diễn biến hành vi phạm tội, nêu rõ các chứng
cứ chứng minh tội phạm, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lý
do và căn cứ đề nghị truy tố Nội dung bản kết luận điều tra để đình chỉ điều tra vụ án nêu rõ quá trình điều tra, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra Kèm theo bản kết luận điều tra có bản kê về thời hạn điều tra, biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng có ghi rõ thời gian tạm giữ, tạm giam, vật chứng, việc kiện dân
sự, biện pháp để bảo đảm việc phạt tiền, bồi thường và tịch thu tài sản, nếu
có Trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, CQĐT phải gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho VKS cùng cấp; gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can, người bào chữa
Nếu giai đoạn điều tra vụ án kết thúc bằng việc CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, vụ án sẽ chuyển sang giai đoạn truy tố
1.2.1.3 Giai đoạn truy tố
Giai đoạn truy tố là giai đoạn tố tụng mà thẩm quyền chủ yếu thuộc về VKS, cơ quan nhà nước theo quy định của Hiến pháp có chức năng thực hành
Trang 25quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Điều này có nghĩa là VKS nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội nghi can trước Tòa án để xét xử Quyết định việc truy tố là giai đoạn thứ ba của hoạt động tố tụng hình sự, mà trong đó VKS căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm đánh giá một cách toàn diện, khách quan các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết luận điều tra và quyết định đề nghị truy tố) do CQĐT chuyển đến và trên cơ sở đó VKS ra quyết định: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng); Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc là đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự [5, tr 26]
Giai đoạn truy tố thể hiện quyền công tố nhà nước của VKS đối với người phạm tội, bằng việc VKS truy tố tội phạm ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng Trong giai đoạn truy tố Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ vụ án và Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố Ngoài ra, theo quy định của BLTTHS trong giai đoạn truy tố, để bổ sung chứng cứ, bổ sung những tài liệu khác cần thiết cho việc chứng minh tội phạm, đảm bảo việc truy tố chính xác, Kiểm sát viên có quyền tiến hành thực hiện một số hoạt động điều tra như hỏi cung, đối chất, thực nghiệm điều tra, lấy lời khai khi tiến hành các hoạt động điều tra này, Kiểm sát viên cũng phải tuân thủ các thủ tục đã được quy định trong BLTTHS
Trong thời hạn hai mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, VKS phải ra một trong những quyết định sau đây: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án VKS quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án khi có căn cứ nhất định quy định tại Điều 168, Điều 169 BLTTHS
Quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng là quyết định quan trọng
Trang 26nhất Bản cáo trạng là văn bản tố tụng do VKSND ban hành sau khi xác định được các yếu tố đủ để thực hiện việc truy tố đối với bị can Bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ TNHS; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của BLHS được áp dụng Sau khi ban hành bản cáo trạng trong thời hạn ba ngày VKSND phải gửi bản cáo trạng cho Tòa án cùng với hồ sơ vụ án Kết thúc giai đoạn truy tố, vụ án chuyển sang giai đoạn xét xử
1.2.1.4 Giai đoạn xét xử
Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn thứ tư, trung tâm và quan trọng nhất
của hoạt động tố tụng hình sự, mà trong đó cấp Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành: 1) áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử, 2) Đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên (buộc tội và bào chữa) phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo (hoặc xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm - nếu bản án hay quyết định sơ thẩm đã được tuyên và chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị hoặc kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hay quyết định đã
có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm - nếu bản án hay quyết định đó bị kháng nghị) và cuối cùng, tuyên bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhằm giải quyết vấn đề TNHS một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục
Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ
sơ vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trước Tòa án kèm theo bản cáo
Trang 27trạng) do VKS chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Trong giai đoạn xét xử, nội dung quan trọng nhất là đảm bảo việc xét
xử đúng người, đúng tội, áp dụng hình phạt chính xác đối với người phạm tội Giai đoạn xét xử là giai đoạn kết thúc của quá trình tố tụng, kết thúc của quá trình chứng minh Việc xét xử là kết quả của các hoạt động chứng minh trước
đó ở giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố Đồng thời xét xử có vị trí trung tâm nhất trong các giai đoạn tố tụng
Ở Việt Nam áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử, bao gồm xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm Nội dung của giai đoạn xét xử cần được tuân thủ chặt chẽ các quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, thành phần hội đồng xét
xử, trình tự, thủ tục của phiên tòa xét xử vụ án hình sự
Trong thời hạn ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong những quyết định sau đây: trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Điều 179 BLTTHS), đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án hình sự (Điều 180 BLTTHS), quyết định đưa vụ án ra xét xử Các quyết định tố tụng này dẫn đến các hậu quả pháp lý nhất định khác nhau Quyết định đưa vụ án ra xét xử là quyết định được ban hành khi xét thấy việc nghiên cứu hồ sơ vụ án đã đạt được điều kiện và thời gian cần thiết để đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm Quyết định đưa vụ
án ra xét xử phải ghi rõ: Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị cáo; Tội danh và điều khoản của BLHS mà VKS áp dụng đối với hành vi của bị cáo; Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa; Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải tống đạt cho bị cáo chậm nhất mười ngày trước khi mở phiên tòa Thủ tục của phiên tòa hình sự sơ thẩm bao gồm:
Trang 28- Giai đoạn bắt đầu phiên tòa: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa làm các
thủ tục cần thiết trước khi xét hỏi như: kiểm tra sự có mặt của những người tham gia tố tụng, giải thích quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng
- Giai đoạn xét hỏi: trước khi bắt đầu xét hỏi, Kiểm sát viên đọc bản
cáo trạng, sau đó Hội đồng xét xử tiến hành xét hỏi làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án, trực tiếp xem xét vật chứng, tài liệu tại phiên tòa Khi xét hỏi, Thẩm phán hỏi trước sau đó đến Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa Bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền yêu cầu xét hỏi thêm về những vấn
đề chưa được làm rõ
- Giai đoạn tranh luận: mở đầu giai đoạn tranh luận Kiểm sát viên
trình bày lời luận tội, sau đó người bào chữa (nếu có), bị cáo trình bày lời bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của họ được trình bày ý kiến để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ Kiểm sát viên phải tham gia đối đáp về những vấn đề còn mâu thuẫn giữa lời luận tội, quan điểm xử lý vụ
án của Kiểm sát viên với lời trình bày của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác Trong trường hợp qua tranh luận mà phát hiện thêm những vấn đề chưa được làm rõ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc xét hỏi, sau khi xét hỏi xong lại trở lại phần tranh luận Kết thúc phần tranh luận bị cáo được trình bày "lời nói sau cùng"
- Giai đoạn nghị án và tuyên án: khi nghị án chỉ có thành viên Hội
đồng xét xử (Thẩm phán, Hội thẩm) mới có quyền này Hội đồng xét xử phải lần lượt thảo luận và biểu quyết từng vấn đề của vụ án; các thành viên của Hội đồng xét xử đều phải trình bày ý kiến của mình về các vấn đề của vụ án, Hội thẩm phát biểu trước, Thẩm phán phát biểu sau và là người biểu quyết sau cùng Bản án, các quyết định của Hội đồng xét xử phải được đa số thành
Trang 29viên của Hội đồng xét xử biểu quyết thông qua, người có ý kiến thiểu số được bảo lưu ý kiến trong hồ sơ; việc nghị án phải được lập thành biên bản, bản án, các quyết định của Hội đồng xét xử và biên bản nghị án phải được thông qua tại phòng nghị án
Sau khi nghị án xong Thư ký Tòa án yêu cầu các bị cáo và người tham gia tố tụng vào phòng xử án, sau đó Chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét
xử đọc bản án
Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, VKS cùng cấp, người bào chữa; gửi bản án cho người bị xử vắng mặt, cơ quan Công an cùng cấp; thông báo bằng văn bản cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo cư trú
hoặc làm việc Trong thời hạn luật định (mười lăm ngày đối với kháng cáo và
kháng nghị của VKS cùng cấp, ba mươi ngày đối với kháng nghị của VKS
cáp trên) nếu bị cáo hoặc người bào chữa của bị cáo không kháng cáo, VKS
không kháng nghị thì bản án có hiệu lực pháp luật Nếu bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đưa vào thi hành cũng là lúc quá trình giải quyết vụ án kết thúc
1.2.2 Những thủ tục cần lưu ý khi giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích
Do đặc điểm của vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà những thông tin ban đầu về tội phạm phần lớn tập trung chủ yếu từ tố giác của công dân (trực tiếp là từ người bị hại hoặc cha
mẹ, người giám hộ của những người này), hoặc tin báo từ cơ quan, tổ chức Đặc điểm của vụ án cố ý gây thương tích là luôn có người bị hại, tức là người
bị hành vi gây thương tích tác động đến gây nên thương tích hoặc tổn hại cho
Trang 30sức khỏe của họ Bên cạnh đó khoản 1 Điều 104 BLHS về tội cố ý gây thương tích thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nên đơn tố giác, đơn yêu cầu khởi tố của người bị hại là người bị gây thương tích có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giải quyết vụ án, nếu hành vi phạm tội của bị can thuộc khoản 1 Điều 104 nhưng bị hại không có yêu cầu khởi tố thể hiện bằng văn bản thì các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thể khởi tố để có những bước xử lý tiếp theo Tuy nhiên, quyền yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại phát sinh từ thời điểm nào? trước hay sau khi có kết luận giám định thương tích?, đây cũng là một vấn đề cần được quy định rõ Người bị hại chỉ được yêu cầu khởi tố nếu vụ án thuộc khoản 1 Điều 104, tuy nhiên thời gian giám định kéo dài một vài tháng, mà kết quả giám định lại được dùng làm căn cứ xác định vụ án thuộc khoản nào? nếu người bị hại có yêu cầu nhưng CQĐT không khởi tố thì vi phạm Điều 13 BLTTHS về trách nhiệm khởi tố và xử lý
vụ án hình sự:
Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm, CQĐT, VKS, Tòa án trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội Như vậy, đối với bất kỳ vụ án hình sự nào, CQĐT, VKS, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình đều có trách nhiệm khởi tố vụ án và
áp dụng các biện pháp cần thiết để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội ngay khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm [27, Điều 13]
Thực tế cho thấy, khi có dấu hiệu tội phạm cố ý gây thương tích, dù đối tượng có sử dụng hung khí hay không, thương tích nặng hay nhẹ thì CQĐT tại nhiều địa phương vẫn phải chứng minh người bị hại có yêu cầu khởi tố và đồng ý đi giám định thương tích thì CQĐT mới ra quyết định khởi
tố vụ án Bởi lẽ, trước khi chưa có kết luận giám định chính thức từ Cơ quan chuyên môn về tỷ lệ tổn hại sức khỏe, khó có thể suy đoán thương tích mà
Trang 31hành vi phạm tội gây ra trên cơ thể người bị hại là bao nhiêu phần trăm Tóm lại, khởi tố theo yêu cầu của người bị hại là đặc điểm nổi bật trong hoạt động khởi tố đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Từ đặc điểm nổi bật trên, việc chứng minh người bị hại có yêu cầu khởi tố và có nguyện vọng giám định thương tích trước khi ra quyết định khởi tố vụ án là một thủ tục đầu tiên của quá trình giải quyết vụ án đối với tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Hậu quả của thương tích là đối tượng chứng minh không thể thiếu khi giải quyết vụ án về tội cố ý gây thương tích Đây là vấn đề quan trọng nhất cần phải chứng minh trong vụ án này bởi lẽ xác định tỷ lệ thương tích có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh, tức là xác định người phạm tội có phạm tội này hay không? Bên cạnh đó tỉ lệ thương tích còn có ý nghĩa quan trọng trong việc truy tố xét xử người phạm tội ở khung nào của điều luật Hay nói cách khác tỉ lệ thương tật có ý nghĩa trong việc định khung hình phạt Chính vì lẽ đó, trong vụ án cố ý gây thương tích điều quan trọng nhất là cần đưa người bị hại đi giám định thương tích Giám định là biện pháp điều tra được quy định tại Điều 155 BLTTHS, theo đó khi có những vấn đề cần được xác định theo quy định tại khoản 3 Điều này hoặc khi xét thấy cần thiết thì cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định, và nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động là vấn đề đầu tiên được liệt kê Bản kết luận giám định thương tích sẽ là nguồn chứng cứ quan trọng để chứng minh tội phạm
Điều 64 BLTTHS quy định, chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà CQĐT, VKS và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án Chứng cứ được xác định bằng: vật chứng; lời khai của
Trang 32người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; kết luận giám định; biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác Như vậy, ngoài kết luận giám định, việc thu thập chứng
cứ để chứng minh trong các vụ án hình sự về cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người có liên quan trực tiếp đến hoạt động khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, hỏi cung, lấy lời khai, đối chất
Như chúng ta đã biết, vụ án cố ý gây thương tích là vụ án mà hiện trường là một nét nổi bật, nơi xảy ra vụ án là hiện trường quan trọng nhất trong vụ án này bởi lẽ nơi đó để lại các chứng cứ vật chất rất quan trọng trong việc chứng minh tội phạm Ví dụ như công cụ, phương tiện phạm tội, dấu vết máu, lông, tóc, sợi, dấu vết cày xước khi ẩu đả lẫn nhau Điều này sẽ là chứng cứ quan trọng bậc nhất trong việc xác định thực tế xảy ra tại hiện trường như thế nào, để từ đó dựng lại hiện trường, tái hiện lại hành vi phạm tội của nghi can Việc khám nghiệm hiện trường, thu thập các tài liệu chứng
cứ trong vụ án cố ý gây thương tích là rất quan trọng Trong đó xác định được hung khi gây án có một ý nghĩa quan trọng trong định tội và định khung hình phạt Ví dụ nếu bị can gây thương tích dưới 11% nhưng dùng hung khí nguy hiểm thì sẽ bị khởi tố tại khoản 1 Điều 111 hoặc bị can gây thương tích dưới 21% nhưng dùng hung khí nguy hiểm thì bị truy tố khoản 2 Điều 111 BLHS
Hoạt động hỏi cung bị can, đây là hoạt động rất quan trọng bởi lẽ nó cung cấp thông tin một cách trực tiếp đặc biệt có ý nghĩa trong việc bị can nhận tội Bị can là người bị tình nghi trực tiếp thực hiện tội phạm chính vì vậy
họ có vai trò rất quan trọng trong vụ án, họ là người trực tiếp tham gia vào vụ việc do đó, hỏi cung bị can thành công là một nguồn chứng cứ rất quan trọng Bên cạnh đó trong vụ án cố ý gây thương tích còn có người bị hại là người bị gây thương tích và các người làm chứng (nếu có) chính vì vậy hoạt động lấy
Trang 33lời khai của các đối tượng này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình chứng minh Người bị hại tham gia trực tiếp vào vụ việc chính vì vậy họ cũng biết rất rõ các tình tiết của vụ án chính vì vậy lấy lời khai người bị hại trong vụ án
cố ý gây thương tích có một vai trò quan trọng trong việc chứng minh hành vi phạm tội của bị can
Các biên bản hoạt động điều tra như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản đối chất, nhận dạng, biên bản xác minh, biên bản hỏi cung, ghi lời khai… của CQĐT cũng là nguồn chứng
cứ được thiết lập bởi các cơ quan tiến hành tố tụng và được lưu giữ trong hồ
sơ vụ án Các biên bản trên được coi là chứng cứ khi chúng được lập theo trình tự, qui định của BLTTHS với nội dung mang tính khách quan, liên quan
và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án Ví dụ: CQĐT thu giữ tại hiện trường vụ án 01 con dao nhọn dài 10 cm (có mô tả trong biên bản khám nghiệm hiện trường và biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu) phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng về hung khí gây án, phù hợp với kết luận trong kết luận giám định về vật gây thương tích, do vậy sẽ là chứng cứ quan trọng của vụ án
Tóm lại, qua đặc điểm của tội cố ý gây thương tích, có thể rút ra một
số thủ tục cần đặc biệt lưu ý khi giải quyết vụ án bao gồm: thủ tục khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, thủ tục giám định thương tích, khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, hỏi cung, ghi lời khai, đối chất
1.2.2.1 Trong khởi tố, điều tra các vụ án cố ý gây thương tích
a Thủ tục khởi tố vụ án theo yêu cầu người bị hại
Quyền năng của người bị hại trong vụ án cố ý gây thương tích rất lớn (đặc biệt là khi chưa có đủ căn cứ chứng minh vụ án thuộc khoản nào), người
bị hại không những có quyền yêu cầu khởi tố để khởi động một quá trình tố tụng mà còn có thể chấm dứt quá trình giải quyết vụ án bất cứ lúc nào trước khi mở phiên tòa sơ thẩm nếu như họ không bị ép buộc, cưỡng bức:
Trang 34Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án Người
bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức [27, Điều 105] Như vậy, thủ tục giải quyết vụ án cố ý gây thương tích phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người bị hại, vụ án có thể đình chỉ tại các giai đoạn tố tụng khác nhau, chỉ cần người bị hại rút yêu cầu khởi tố và không bị ép buộc, cưỡng bức.Tuy họ không có quyền yêu cầu khởi tố lại nhưng vô hình chung, thủ tục khởi tố theo yêu cầu người bị hại cũng gây ra nhiều rắc rối cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác Ở nhiều vụ án, người
bị hại nhất quyết yêu cầu khởi tố nhưng lại không đi giám định thương tích hoặc kéo dài thời hạn đi giám định thương tích để xác định tỷ lệ tổn hại sức khỏe, hoặc có những hành vi phạm tội có dấu hiệu cấu thành tội phạm khoản
2 các điều luật được liệt kê tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS, mặc dù người bị hại không có quyền yêu cầu khởi tố nhưng họ lại không hợp tác trong giám định thương tích nên đã gây khó khăn cho công tác đấu tranh trong chống tội phạm Sau khi làm rõ và bắt giữ đối tượng về hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe cho người khác, không phải vụ án nào cũng xử lý nghiêm được đối tượng gây án vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân là người bị hại từ chối giám định hay giám định lại thương tích Không có kết quả giám định hoặc giám định lại thương tích của người bị hại thì việc truy tố đối tượng gây án sẽ rất khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả đấu tranh chống tội phạm
Trang 35Ví dụ 1: Vụ án "Cố ý gây thương tích" xảy ra ngày 27/8/2011 tại
khóm 5, phường 7, thành phố S, tỉnh S Do mâu thuẫn trong việc tranh giành địa bàn làm ăn với nhau, Trần Văn D (sinh năm 1985) dùng mã tấu chém người bị hại là anh Lê Văn T (sinh năm 1988) liên tiếp 04 nhát với các vết thương: 01 vết thương vành tai trái; 01 vết thương ở đầu vùng thái dương trái;
01 vết cẳng tay trái và 01 vết ở lưng phải Khi ra viện, gia đình D đã thỏa thuận bồi thường cho T số tiền 40 triệu nên T đã làm đơn xin bãi nại cho D và làm đơn từ chối giám định CQĐT đã nhiều lần mời T đến trụ sở làm việc và đưa đi giám định nhưng T vẫn không chịu hợp tác với CQĐT mà cố tình lánh mặt gây khó khăn cho quá trình điều tra vụ án
Ví dụ 2: Vụ án "Cố ý gây thương tích" xảy ra ngày ngày 27/4/2010 tại
huyện T, tỉnh P Chiều ngày 27/4/2010, Nguyễn Văn Tịnh cùng em ruột là Nguyễn Minh Vương đến sân bóng chuyền thì gặp Hồ Văn Tân Do có mâu thuẫn từ trước nên hai bên cãi vã rồi xông vào đánh nhau; Tân bỏ chạy đến nhà bạn là Trương Văn Vũ nói bị anh em Tịnh đuổi đánh nên nhờ Vũ dẫn về Khi Vũ dẫn Tân đi được khoảng 100m thì gặp anh em Tịnh và Nguyễn Văn Trung Tân chỉ tay nói có giỏi thì đánh tao nữa đi Nghe vậy, Tịnh cùng Vương, Trung chạy đến thì Tân và Vũ bỏ chạy Vũ chạy vào một nhà ở gần
đó lấy 01 con dao chạy ra Thấy Vũ cầm dao, Trung dùng ghế nhựa ném Vũ cầm dao xông vào chém Tịnh trúng mặt và tay trái Ngày 28/4/2010, Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận tỷ lệ thương tích của Tịnh là 19% nhưng cuối bản giám định có ghi thêm: "Nạn nhân đang trong thời gian còn điều trị, do đó chúng tôi chỉ đánh giá tạm thời Kính đề nghị CQĐT Công an huyện T trưng cầu giám định bổ sung sau khi đã điều trị ổn định" Ngày 01/6/2010 CQĐT đã trưng cầu giám định bổ sung đối với Nguyễn Văn Tịnh Ngày 11/6/2010, Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận tỷ lệ thương tích của Nguyễn Văn Tịnh là 13% Trên cơ sở đó, VKSND huyện T đã truy tố Vũ về tội "Cố ý gây thương
Trang 36tích" theo quy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS (dùng hung khí nguy hiểm) Ngày 13/01/2011, TAND huyện T đưa vụ án ra xét xử Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử đã quyết định trưng cầu giám định lại đối với người bị hại Kết quả giám định lại, tỷ lệ thương tích của bị hại giảm xuống còn 09% Tuy nhiên, người bị hại đã có đơn rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo trước ngày
mở phiên tòa nên Hội đồng xét xử đã căn cứ vào khoản 2 Điều 105 BLTTHS
ra quyết định đình chỉ vụ án Vì cho rằng Tòa án trưng cầu giám định không đúng quy định của BLTTHS (không triệu tập người giám định tham gia tố tụng mà căn cứ khoản 5 Điều 215 BLTTHS để ra quyết định trưng cầu giám định lại là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng) nên VKSND tỉnh P đã kháng nghị Quyết định đình chỉ vụ án của Tòa án huyện T TAND tỉnh P chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh P, hủy quyết định đình chỉ vụ án của TAND huyện T để điều tra lại Quá trình điều tra lại, do người bị hại từ chối giám định lại và sau đó bị hại đã không có mặt ở địa phương nên việc giám định chưa thể tiến hành được, đã ảnh hưởng đến việc điều tra, giải quyết vụ án
Thông thường, để khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại, cơ quan tiến hành tố tụng phải làm những thủ tục sau: tiếp nhận tố giác của công dân, xác minh yêu cầu khởi tố của người bị hại, xem xét nguyện vọng giám định thương tích của người bị hại, hướng dẫn người bị hại viết đơn yêu cầu khởi tố và đồng ý giám định thương tích; ghi lời khai người bị hại về việc yêu cầu khởi tố là tự nguyện, không bị cưỡng bức, ép buộc khi người bị hại muốn rút đơn yêu cầu khởi tố và thể hiện muốn hòa giải, cơ quan tiến hành tố tụng phải hướng dẫn người bị hại viết đơn xin rút yêu cầu khởi tố, miễn truy cứu TNHS và lại phải xác minh yêu cầu đó tự nguyện hay không, sau đó lập biên bản hòa giải bồi thường dân sự (nếu có) hoặc hướng dẫn người bị hại giải quyết theo thủ tục dân sự về yêu cầu bồi thường của mình Nếu người bị hại là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tinh thần, thể chất,
Trang 37cơ quan tiến hành tố tụng phải mời người đại diện hợp pháp ký xác nhận vào đơn yêu cầu, lời khai của người bị hại hoặc trực tiếp viết đơn, lấy lời khai trong trường hợp bị hại là người có nhược điểm về tinh thần, thể chất
Khi vụ án có dấu hiệu tại khoản 2, 3, 4 Điều 104 nhưng người bị hại nhất quyết không đi giám định thương tích, CQĐT chỉ có thể động viên thuyết phục chứ không thể cưỡng chế do luật chưa quy định nghĩa vụ của người bị hại trong những trường hợp như vậy
b Thủ tục giám định thương tích
Như đã phân tích ở trên, hậu quả thương tích gây ra cho người bị hại
là yêu cầu bắt buộc nên khi giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích, một thủ tục quan trọng, cần thiết phải tiến hành sớm là ra quyết định trưng cầu giám định thương tích Tuy nhiên, Luật không quy định thời điểm cụ thể phải ban hành quyết định trưng cầu giám định và trách nhiệm, chế tài đối với người bị hại trong trường hợp không đi giám định hoặc người tiến hành tố tụng chậm làm thủ tục giám định Khoản 3 của Điều 155 BLTTHS mới chỉ quy định tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động là trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định Do đó, thời điểm ban hành quyết định trưng cầu giám định không thống nhất mà tùy tình hình của từng địa phương, từng vụ việc Quyết định trưng cầu giám định thương tích
có thể ban hành trước khi ra quyết định khởi tố vụ án hoặc sau khi có quyết định khởi tố vụ án Theo quy định tại Điều 155 BLTTHS, Quyết định trưng cầu giám định phải nêu rõ yêu cầu giám định vấn đề gì; họ tên người được trưng cầu giám định hoặc tên cơ quan tiến hành giám định; ghi rõ quyền và nghĩa vụ của người giám định
Theo Luật giám định tư pháp hiện nay cơ quan có thẩm quyền giám định thương tích cơ quan giám định pháp y y tế [28] Tuy nhiên Luật cũng không quy định rõ thời gian phải trả lời quyết định trưng cầu giám định nên
Trang 38nhiều trường hợp cơ quan giám định chậm gửi quyết định giám định cho CQĐT từ đó làm chậm quá trình giải quyết vụ án
Trên thực tế, khi giải quyết vụ án cố ý gây thương tích, CQĐT chủ yếu
là đơn vị tiến hành thủ tục trưng cầu giám định, thường làm những thủ tục sau:
(1) Điều tra viên tiến hành xác minh thương tích ban đầu của người bị hại tại bệnh viện nơi người đó cấp cứu, khám và điều trị (biên bản xác minh thương tích ban đầu phải có dấu, chữ ký của bác sĩ trực tiếp cấp cứu, khám và điều trị cho người bị hại);
(2) Điều tra viên thu thập giấy chứng thương và hồ sơ bệnh án của người bị hại (giấy chứng thương phải có xác nhận của Lãnh đạo bệnh viện,
hồ sơ bệnh án phải thể hiện rõ tình hình thương tích và quá trình chữa trị vết thương);
(3) Điều tra viên đề nghị thủ trưởng (phó thủ trưởng) CQĐT ra quyết định trưng cầu giám định;
(4) Tùy từng đơn vị, ĐTV có thể viết phiếu cho người bị hại tự mình đến cơ quan giám định để tiến hành giám định hoặc Điều tra viên đưa người
bị hại đến cơ quan giám định
Tóm lại, việc giám định nhanh chóng hay không phụ thuộc vào trách nhiệm của Điều tra viên, sự hợp tác của bị hại và trách nhiệm của cơ quan giám định pháp y
c Hoạt động thu thập chứng cứ khác
Theo số liệu thống kê của VKS thành phố Hà Nội, trong năm 2014, CQĐT Công an thành phố Hà Nội đã khởi tố 413 vụ án cố ý gây thương tích Nhờ đề cao hoạt động khám nghiệm hiện trường, 100% số vụ đều có sự tham gia của CQĐT và VKS làm công tác khám nghiệm nên đã phát hiện, thu giữ được nhiều chứng cứ quan trọng, có ý nghĩa chứng minh tội phạm và người phạm tội Trong số 413 vụ, có trên 200 vụ cần thực nghiệm điều tra, gần 50
Trang 39vụ cần đối chất, gần 300 vụ VKS tham gia phúc cung để thu thập và củng cố chứng cứ điều đó cho thấy, không chỉ hoạt động khám nghiệm hiện trường cần được chú trọng mà hoạt động thực nghiệm điều tra và kỹ năng hỏi cung, ghi lời khai, đối chất cũng vô cùng cần thiết khi giải quyết vụ án đối với tội cố
ý gây thương tích
Cơ quan điều tra phải tiến hành khám nghiệm hiện trường thật tỉ mỉ,
cụ thể, chi tiết, không được bỏ qua bất cứ một dấu vết liên quan đến hành vi phạm tội (như vết máu, lông tóc, mảnh vỡ của hung khí ) Điều tra viên bắt buộc phải chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình, thu lượm và xem xét tại chỗ dấu vết của tội phạm, đồ vật, tài liệu có liên quan đến
vụ án; ghi rõ kết quả xem xét vào biên bản khám nghiệm hiện trường Trách nhiệm của VKS trong hoạt động này cũng cần được nêu cao Theo khoản 2 Điều 150 BLTTHS trong mọi trường hợp, trước khi tiến hành khám nghiệm, Điều tra viên phải thông báo cho VKS cùng cấp biết Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường Khi khám nghiệm, phải có người chứng kiến; có thể để cho bị can, người bị hại, người làm chứng và mời nhà chuyên môn tham dự việc khám nghiệm Việc khám nghiệm hiện trường
vụ án gây thương tích đầy đủ, cụ thể, tỉ mỉ sẽ giúp CQĐT, VKS bước đầu hình dung về cách thức thực hiện hành vi phạm tội, phương tiện phạm tội, số người tham gia, đồng thời qua đó có thể xây dựng hướng điều tra chính xác, không mất nhiều thời gian, công sức
Khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, CQĐT lập các biên bản sau đây: biên bản khám nghiệm hiện trường theo mẫu số 19, biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu (nếu có) theo mẫu số 10, ban hành kèm theo QĐ số 789/2007/QĐ-BCA ngày 12/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Công an Kèm theo việc khám nghiệm hiện trường, CQĐT phải vẽ sơ đồ hiện trường vụ án để xác định rõ địa điểm phạm tội hoặc địa điểm phát hiện tội phạm
Trang 40Thực nghiệm điều tra là hoạt động điều tra dựng lại hiện trường, diễn lại mộ hành vi, tình huống hoặc tình tiết khác của một sự việc nhất định nhàm kiểm tra và xác minh những tài liệu, những tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án
Để kiểm tra và xác minh những tài liệu, tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án trong điều kiện tương tự như lời khai của người bị tạm giữ, bị can, người bị hại, người làm chứng, CQĐT tiến hành thực nghiệm điều tra bằng cách cho dựng lại hiện trường, diễn lại một hành vi, tình huống hoặc mọi tình tiết khác của một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt động thực nghiệm cần thiết như thực nghiệm về khả năng hành động, khả năng quan sát, thụ cảm, khả năng diễn ra sự việc tại hiện trường Trước khi tiến hành thực nghiệm, điều tra viên phải lập kế hoạch thực nghiệm, trong đó xác định yêu cầu của việc thực nghiệm; nội dung, phương pháp tiến hành thực nghiệm; thời gian, địa điểm thực nghiệm, những người tham gia thực nghiệm và chuẩn bị những phương tiện cần thiết cho việc thực nghiệm Điều 53 BLTTHS quy định phải
có người chứng kiến tham gia khi tiến hành thực nghiệm, Trong trường hợp cần thiết, người bị tạm giữ, bị can, người bị hại, người làm chứng cũng có thể tham gia Khi tiến hành thực nghiệm nếu thấy cần, điều tra viên có thể đo đạc, chụp ảnh, vẽ sơ đồ để xác định hiện trường, xác định cơ chế hình thành thương tích, xác định bị can tham gia, công cụ, phương tiện Điều tra viên không được xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của những người tham gia việc thực nghiệm điều tra Việc thực nghiệm điều tra phải lập biên bản theo mẫu số 18, ban hành kèm theo Quyết định số 789/2007/QĐ-BCA ngày 12/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Công an
Để đảm bảo giải quyết vụ án đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách chính xác, nhanh chóng, cần tiến hành các hoạt động điều tra như khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, giám định thương tích, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm