Tôi nhận thấy giáo viên đọc mẫu tốt trong giờ tập đọc sẽ kích thích tính tò mò của học sinh, các em sẽ hứng thú đọc bài hơn.. 2.2.2 Luyện phát âm - Muốn học sinh đọc đúng, đọc ngắt giọng
Trang 11 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài.
Nh chúng ta đã biết bậc tiểu học đợc coi là “ Bậc học nền tảng của hệ thống
giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa ( Luật phổ cập
giáo dục tiểu học) Điều đó cho thấy rằng, những gì đợc hình thành ở bậc Tiểu học
sẽ theo suốt cuộc đời của một một con ngời và rất khó thay đổi, khó hình thành lại Vì thế những gì trẻ em không đạt đợc ở bậc học này khó có thể bù đắp đợc ở bậc học sau
Tiếng Việt ở trờng Tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng, nó hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh, năng lực hoạt động ngôn ngữ đợc thể hiện trong
4 hoạt động tơng ứng với chúng ta với 4 kĩ năng : nghe - nói - đọc - viết
Đọc là một phân môn trong chơng trình Tiếng Việt bậc Tiểu học Đây là một phân môn có vị trí đặc biệt trong chơng trình vì nó đảm bảo nhiệm vụ và việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng đọc, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc đầu tiên trong trờng phổ thông
Việc đọc cú ý nghĩa cơ bản đầu tiờn của người học sinh đi học Học đọc rồi mới đọc để hiểu, đọc để chiếm lĩnh ngụn ngữ trong giao tiếp và học tập, đồng thời đọc cũng là cụng cụ để học tốt mụn khỏc, cú tỏc dụng tớch cực đến trỡnh độ ngụn ngữ, trỡnh độ tư duy của học sinh Do đú rốn kĩ năng đọc cho học sinh cú tầm quan trọng đặc biệt Xuất phỏt từ nhiệm vụ của dạy đọc ở tiểu học: “ Tập đọc là một phõn mụn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nú là hỡnh thành năng lực đọc cho học sinh.” Năng lực đọc được tạo nờn từ bốn kỹ năng cũng là bốn yờu cầu về chất lượng của “đọc” là đọc đỳng, đọc nhanh (đọc lưu loỏt, trụi chảy) đọc cú ý thức (hiểu được nội dung những điều mỡnh đọc hay cũn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Bốn kỹ năng này được hỡnh thành trong hai hỡnh thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm Chỳng được rốn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ cú tỏc động tớch cực đến những kỹ năng khỏc
Ở lớp 2 núi riờng, kĩ năng đọc cú ý nghĩa rất sõu sắc , đọc để nắm được ý chớnh của đoạn văn, biết đặt đầu đề cho đoạn văn, biết nhận xột về một số hỡnh ảnh, nhõn
Trang 2vật hoặc chi tiết trong bài học Với vai trò như vậy, đọc là khả năng không thể thiếu của con người trong thời đại văn minh Biết đọc sẽ giúp các em hiểu biết nhiều hơn, hướng các em tới cái thiện, cái đẹp, dạy cho học sinh biết cách suy nghĩ lô gíc,
tư duy có hình ảnh
Chính vì vậy, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy líp 2 nªn tôi đã chọn nghiên
cứu đề tài “ Biện pháp rèn kĩ năng đọc trong phân môn tập đọc cho học sinh lớp
2” Với mong muốn nâng cao trình độ nghiệp vụ nhằm giúp học sinh biết đọc đúng,
đọc hay, có khả năng kể chuyện, giao tiếp tốt, viết đúng chính tả, viết được những bài văn có đủ ý, trọn câu và ngày càng yêu thích hứng thú đọc sách
1.2 Phạm vi áp dụng đề tài
- Đề tài được nghiên cứu thực nghiệm tại lớp 2 B Trường Tiểu học nơi tôi công tác
2.PHẦN NỘI DUNG
2 1 Thực trạng dạy học Tập đọc ở các trường Tiểu học
Qua nh×n nhËn thực tế tôi thấy rằng chất lượng dạy tập đọc ở trêng t«i chưa cao là
do nhiều nguyên nhân :
Trang 3*Về phớa giỏo viờn
Qua điều tra tụi thấy rằng giỏo viờn chưa hiểu khỏi niệm “ Đọc” một cỏch đầy
đủ, khi dạy chưa bỏm sỏt vào mục đớch, yờu cầu của từng bài Do vậy họ chưa đạt được mục tiờu của một giờ tập đọc Cú người cho rằng dạy tập đọc là chủ yếu dạy cho cỏc em đọc to, rừ ràng là được Phương phỏp dạy tập đọc của giỏo viờn cú dạy theo đoạn, cú cỏc kiểu cõu hỏi khỏc nhau song hỡnh thức luyện đọc chỉ đơn thuần là đọc Việc sử dụng đồ dựng cũn hạn chế , giỏo viờn cũn dạy “chay” chưa coi những phương tiện trực quan là cần thiết trong việc luyện đọc.Vỡ thế việc đọc đỳng, đọc hay của học sinh cũn hạn chế
*Về phớa học sinh
Qua khảo sỏt, điều tra tụi thấy kĩ năng đọc đỳng, hay của học sinh cũn yếu Học sinh đọc bài một cỏch thụ động, cỏc em đọc một cỏch bắt buộc, chỉ cú những học sinh khỏ, giỏi mới cố gắng đọc cho hay song vẫn chưa đạt yờu cầu Khi đọc một số văn bản cỏc em khụng ngắt nghỉ hơi đỳng chỗ nờn cỏc em khụng nắm được điều gỡ
là cốt yếu trong văn bản Điều này sẽ gõy khú khăn trong việc hỡnh thành kĩ năng giao tiếp
Năm học 2013 - 2014, tụi đó được Nhà trường và chuyờn mụn phõn cụng chủ nhiệm và giảng dạy lớp 2B Ngay từ đầu năm, tụi đó tiến hành khảo sỏt chất lượng phõn mụn Tập đọc đối với 31 học sinh lớp 2B Trường TH nơi tụi cụng tỏc, qua bài kiểm tra đầu năm và thu được một số kết quả như sau:
- Số học sinh đọc rời rạc : 16 em ( 51, 6%)
- Số học sinh đọc đúng : 15 em ( 48, 4%)
- Số học sinh đọc diễn cảm : 4 em ( 12,9%)
Kết quả trắc nghiệm cho thấy số học sinh mắc lỗi phỏt õm, đọc ngắt giọng, đọc cũn sai tiếng và ớt học sinh cú giọng đọc hay
2 2 Một số giải phỏp rốn đọc cho học sinh lớp 2
2.2.1 Giỏo viờn đọc mẫu diễn cảm:
Trang 4Tôi nhận thấy giáo viên đọc mẫu tốt trong giờ tập đọc sẽ kích thích tính tò mò của học sinh, các em sẽ hứng thú đọc bài hơn Để đọc mẫu tốt, tôi luôn rèn luyện về giọng đọc, tốc độ đọc, khả năng cảm thụ văn học,… tìm hiểu kỹ bài tập đọc trước để cảm thụ sâu sắc bài văn hoặc thơ, từ đó sẽ tìm ra cách đọc thật hay
Tơi luơn chú trọng cách đọc mẫu làm thế nào cho hấp dấn - lơi cuốn được các em bắt chước cách đọc diễn cảm
Ví dụ : Bài : ''Bà cháu''.
- Đọc mẫu giọng to, rõ ràng, thong thả, phân biệt giọng đọc ở các nhân vật: + Người dẫn chuyện: Thong thả, chậm rãi
+ Giọng cơ tiên: trầm ấm, hiền từ, nhấn giọng ở các từ "Gieo hạt đào, giàu sang, sung sướng''
+ Giọng hai anh em: Cảm động, tha thiết Nhấn giọng các từ, cụm từ: ''nhớ
bà , xin bà sống lại ''
2.2.2 Luyện phát âm
- Muốn học sinh đọc đúng, đọc ngắt giọng, nhấn giọng dẫn đến đọc diễn cảm người giáo viên phải giúp các em phát âm chuẩn, đọc đúng loại câu, đúng ngữ điệu câu Giúp các em tự hiểu nội dung bài, xác định đúng loại câu, ngữ điệu, giúp các
em phải biết đặt mình vào vị trí của nhân vật, của tác giả Ngồi ra cịn phải biết cách tổ chức một giờ học nhẹ nhàng, sinh động Quy trình dạy tập đọc theo hướng đổi mới của lớp 2 như chúng ta đều nắm được gồm các bước chính sau:
+ Luyện đọc đúng
+ Tìm hiểu nội dung
+ Luyện đọc nâng cao ( rèn đọc hay, đọc diễn cảm)
Chính vì vậy khi dạy Tập đọc chúng ta phải chú ý quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh trong lớp mình và khi dạy học chúng ta phải phụ thuộc vào trình độ của học sinh, phải hướng dẫn cho các em đọc đúng, phát âm chuẩn Nếu học sinh
Trang 5đọc chưa tốt, đọc còn ngọng, sai và ấp úng thì giáo viên phải dừng lại ở bước 1 là luyện đọc đúng Nếu học sinh đọc đúng, đọc tốt rồi thì giáo viên dành cho luyện đọc nâng cao ( bước 3) Động viên các em và giao nhiệm vụ cho cả lớp cùng giúp bạn bằng cách không trêu ghẹo, đùa mà tạo cơ hội cho bạn sửa chữa
Qua tìm hiểu tôi thấy đại đa số các em đọc ngọng là do các nguyên nhân sau:
+ Do bộ máy phát âm + Do phương ngữ Thứ nhất, việc sửa lỗi phát âm giáo viên cần phân biệt rõ 2 trường hợp:
Một là, học sinh phát âm sai do có tật ở một trong các cơ quan của bộ máy phát âm
(ngắn lưỡi, dài lưỡi, dính tăng lưỡi, sứt môi, hở hàm ếch…) Trường hợp này giáo viên mặc dù rất cần thiết sửa cho học sinh, song chúng ta cần hiểu rằng việc làm này không thể thực hiện ngày một buổi mà cần có sự kiên trì, bền bỉ, thậm chí có thể kết hợp với bài tập, phẫu thuật hoặc dùng phương tiện hỗ trợ để đạt được hiệu quả mong muốn Không nên bắt học sinh đọc đi đọc lại nhiều lần lỗi các em mắc phải trong giờ học để tránh các biểu hiện tâm lí tiêu cực cho trẻ
Hai là, học sinh phát âm sai do không cẩn thận, do lỗi phát âm địa phương hoặc
phát âm sai bất thường,… cần cố gắng giúp trẻ sửa triệt để Qua quá trình giao tiếp với trẻ, giáo viên cần nắm vững điểm mạnh, yếu của từng em để có hướng giúp đỡ phù hợp trong mỗi giờ học
Ví dụ: Các em thường hay mắc lỗi phát âm về thanh: lẫn lộn thanh ? / ~ (đẹp đẽ / đẹp đẻ, mãi mãi / mải mải… ) hay đọc các âm cuối không đúng như: trường / trườn, ăn/ ăng…
Thứ hai, đối với việc luyện đọc từ khó, cần chú ý nhiều đến đọc các từ phiên âm tiếng nước ngoài và các từ khi đọc học sinh thường mắc lỗi phát âm địa phương Giáo viên cần xác định cụ thể những lỗi phát âm của từng địa phương để làm tiêu chí chọn từ khó cho học sinh luyện đọc Chính vì vậy để sửa cho các em đọc đúng người giáo viên phải kiên trì liên tục và có hệ thống Thông thường các em rất ngại đọc vì sợ các bạn chê cười, chế nhạo cho nên người giáo viên phải giải toả tâm lí
Trang 6cho học sinh bằng lời lẽ của mình Đồng thời phải giải thích cho học sinh cùng lớp
để các em cùng giúp bạn sửa chữa
Ví dụ: Dạy bài “Voi nhà” (TV2 – Tập 2) phần luyện phát âm, tôi đã cho các
em tập phát âm các từ: khựng lại, vục xuống, ngăn lại, quặp vòi, huơ vòi, lững thững, nhúc nhích Tôi gọi một em khá đứng lên đọc, sau đó tôi gọi các em khác
nhận xét: Các từ bạn vừa đọc có phụ âm gì khó phát âm ? Theo em phải phát âm như thế nào? Nếu học sinh phát âm sai, tôi hướng dẫn tiếng cần phát âm cụ thể
* Cách sửa đọc ngọng cho học sinh:
Thống kê lỗi phát âm ở lớp mà các em hay sai, tơi qui về 3 loại sau đây:
+ Sai phụ âm đầu : ch/tr , s/x
+ Sai vần : ăn/ ăng, ân/ anh…
+ Sai dấu thanh : dấu ngã đọc thành dấu hỏi
- Vì thế muốn sửa cho học sinh trước hết giáo viên phải nắm chắc được nghĩa của các từ cĩ phụ âm hay đọc ngọng để định hình được lời nĩi và chữ viết Giáo viên cần xem lại phương thức phát âm phụ âm đầu Khi học sinh đọc lẫn các tiếng cĩ phụ âm đầu giáo viên dừng lại sửa cho các em bằng cách:
+ Khi phát âm s ( sờ ) : phải uốn lưỡi , hơi thốt ra chân răng đầu lưỡi
+ Khi phát âm x ( xờ) : hơi ra ở mặt lưỡi và chân răng
+ Phát âm tr ( trờ ) : hơi ra qua đọng tác bật đầu lưỡi với chân răng
+ Những tiếng cĩ thanh hỏi, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh phát âm trầm, hơi luyến giọng, lên cao, kéo dài hơi Những tiếng cĩ thanh ngã đọc nhấn mạnh, hơi kéo dài, luyến giọng, lên cao giọng Ví dụ : rảnh rỗi, rộn rã…
+ Sai vần ân/ anh: Giáo viên cần hướng dẫn các em khi đọc vần anh phải trề mơi, vần ân thì phải uốn lưỡi lên…
Ngồi việc sửa chữa trong mỗi tiết Tập đọc và các mơn học khác, thì cuối mỗi buổi học tơi cịn giao những bài tập đọc nhỏ để học sinh tự luyện đọc ở nhà và về nhà đọc trước bài của ngày hơm sau Hàng ngày, kiểm tra về cách đọc của học sinh
Trang 7và nhận xét Quá trình này tôi thực hiện thường xuyên và luôn khuyến khích các em
2.2.3 Luyện đọc ngắt giọng
- Qua điều tra thực tế tôi thấy ở học sinh lớp 2 nói chung chưa biết cách đọc ngắt giọng Để học sinh biết ngắt giọng trong khi đọc, trước hết phải hướng dẫn các
em đọc đúng Từ việc đọc đúng đó sẽ hướng dẫn các em đọc đúng cách ngắt giọng Muốn đạt được điều đó cần phải dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng Khi đọc tuyệt đối không được tách từ ra làm hai, không tách từ chỉ loại với danh từ nó đi kèm theo Không tách giới từ với danh từ
đi sau nó, không tách quan hệ từ là với danh từ đi sau nó.
Ví dụ: Không được đọc ngắt giọng:
Tự xa/ xưa thủa nào Trong rừng/ xanh sâu thẳm ( Gọi bạn- Tiếng Việt 2 tập 1 trang 28)
Hay:
Con ve cũng/ mệt vì hè nắng oi
Mẹ là/ ngọn gió cña con suốt đời
( Mẹ- Tiếng Việt 2 tập 1 trang 101)
Mà phải đọc:
Tự xa xưa / thuë nào Trong rừng xanh / sâu thẳm
Con ve cũng mệt / vì hè nắng oi
Mẹ là ngọn gió cña con/ suốt đời
- Khi đọc các bài văn xuôi cũng vậy, việc ngắt giọng phải phù hợp với dấu câu Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm, trùng hợp với ranh giới ngữ đoạn Trên thực tế học sinh thường mắc lỗi ngắt giọng ở những câu văn dài có cấu trúc
Trang 8phức tạp hoặc mắc lỗi ngay ở câu ngắn nhưng các em chưa nắm được quan hệ ngữ pháp giữa các từ
Ví dụ: Nhưng kìa, / con voi quặp chặt vòi vào đầu xe / và co mình lôi mạnh chiếc xe qua vũng lầy // Lôi xong , / nó huơ vòi về phía lùm cây / rồi lững thững đi theo hướng bản Tun //
(Voi nhà- TV2-Tập 2)
- Học sinh đọc văn xuơi đã khĩ, đọc văn vần lại càng khĩ hơn Khi đọc vần cần chú ý tiết tấu của đoạn văn Tiết tấu là nhịp điệu của âm nhạc, ở sách Tiếng Việt lớp 2 cĩ nhiều thể văn vần chúng ta thường gặp như: Thơ lục bát, thơ 7 chữ , thơ 5 chữ, thơ 4 chữ, thơ tự do Ở đây khơng phải thể thơ nào cũng giống nhau
mà phải thay đổi theo tiết tấu của câu, bài thơ theo thể thơ nào
- Khi đọc thơ lục bát thường đọc ngắt nhịp 2/4 (ở câu 6 chữ ) và nhịp 4/4 (ở câu 8 chữ )
Ví dụ : Bài thơ '' Mẹ ''
Lặng rồi / cả tiếng con ve
Con ve cũng mệt / vì hè nắng oi
Nhà em / vẫn tiếng ạ ơi
Kẽo cà tiếng võng / mẹ ngơi mẹ ru
Nhưng thơ lục bát cũng cĩ khi đọc theo nhịp 3/3 và 3/5
Những ngơi sao / thức ngồi kia
Chẳng bằng mẹ / đã thức vì chúng con
- Thơ 7 chữ : đọc theo nhịp 4/3 hay 3/4
Ví dụ : Bài thơ '' Giĩ ''.
Giĩ ở rất xa / rất rất xa
- Đọc thơ câu 4 chữ theo nhịp 2/2
Ví dụ : Bài thơ Bé nhìn biển'
Nghỉ hè với bố
Trang 9Bé ra biển chơi Tưởng rằng / biển nhỏ
Mà to / bằng trời
- Đọc thơ 5 chữ theo nhịp 2/3 hoặc 3/2
Ví dụ: Bài : Ngày hôm qua đâu rồi?
Em cầm tờ lịch cũ
Ngày hôm qua đâu rồi
Ra ngoài sân / hỏi bố
Xoa đầu em / bố cười
Tóm lại :
Khi hướng dẫn học sinh đọc , tôi hướng dẫn các em đọc theo nhịp kết hợp nghĩa của từ và cụm từ Vì vậy trước khi giảng một bài cụ thể giáo viên cần dự tính những chỗ học sinh hay ngắt giọng sai để xác định điểm cần luyện ngắt giọng
2.2.4 Luyện đọc nhấn giọng
- Qua việc giảng dạy và thức tế trên lớp để giúp học sinh đọc diễn cảm, đọc nhấn giọng người giáo viên cần phải thực hiện các nội dung sau:
+ Chuẩn bị kĩ cho việc dạy nhấn giọng
+ Tìm hiểu kĩ nội dung bài dạy để hiểu rõ và cảm thụ sâu sắc bài, giúp học sinh đọc có hiệu quả hơn Bài đọc trong sách giáo khoa của giáo viên cần ghi vắn tắt cách đọc, cách ngắt nhịp, cách nhấn giọng, sắc thái tình cảm đọc
Ví dụ : Bài: “Quà của Bố” ( Tiếng Việt 2- tập 1 trang 106)
Đọc chậm rãi diễn tả hình ảnh về người bố, nhấn giọng ở các từ tả về món quà của người bố
Bài: Ngôi trường mới ( Tiếng Việt 2- tập 1 )
Ở bài này giáo viên hướng dẫn học sinh đọc giọng thiết tha, trìu mến thể hiện tình cảm của các bạn học sinh Cần ghi rõ từ nhấn mạnh ( hoặc gạch chân) những đoạn câu cần ghi trọng âm, kí hiệu ngắt ( / ), nghỉ ( // ), lên giọng ( ), xuống giọng
Trang 10( ), kéo dài ( ) Trong từng bài giáo viên sẽ dự tính những lỗi học sinh sẽ mắc, giọng đọc cả bài, đoạn cần nhấn mạnh, tốc độ đọc
Ví dụ: Đoạn: Dưới mái trường mới,/ sao tiếng trống rung động kéo dài! // Tiếng cô giáo trang nghiêm mà ấm áp // Tiếng đọc bài của em / cũng vang vang đến lạ! // Em nhìn ai cũng thấy thân thương // Cả đến chiếc thước kẻ,/ chiếc bút chì / sao cũng đáng yêu đến thế!// ( Ngôi trường mới- Tiếng Việt tập 2)
.2.2.5 Luyện đọc diễn cảm
Muốn rèn cho các em đọc đọc diễn cảm thì trước hết phải rèn cho các em đọc đúng, đọc ngắt giọng và nhấn giọng đã Đọc diễn cảm là đọc văn bản sao cho giọng điệu phù hợp với tình huống miêu tả trong văn bản, thể hiện được tình cảm, thái độ, đặc điểm của nhân vật hay tình cảm, thái độ của tác giả đối với nhân vật và nội dung miêu tả trong văn bản Đọc diễn cảm có nhiều mức độ:
- Biết nhấn mạnh các từ quan trọng trong câu
Ví dụ: Trong bài Cây dừa -Tiếng Việt 2 tập 2 trang 88 có câu
Cây dừa xanh toả nhiều tàu Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng
Khi đọc giáo viên phải lưu ý học sinh đọc nhấn giọng ở các từ ngữ gợi tả, gợi cảm
như: toả, dang tay, gật đầu.
- Biết thể hiện ngữ điệu( Sự thay đổi cao độ, trường độ của giọng đọc) phù hợp với từng loại câu ( câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu khiến)
Ví dụ : Trong bài tập đọc « Tôm Càng và Cá Con » ( Tiếng Việt 2- Tập 1) có đoạn : Thấy Tôm Càng nhìn mình trân trân, con vật nói :
- Chào bạn Tôi là Cá Con
- Chào Cá Con Bạn cũng sống ở sông này sao ?
- Chúng tôi cũng sống ở dưới nước như nhà tôm các bạn Có loài cá ở sông ngòi.
Có có loài ác ở hồ ao, có loài ở biển cả.
Thấy đuôi Cá Con lượn nhẹ nhàng, Tôm Càng nắc nỏm khen Cá Con khoe :
- Đuôi tôi vừa là mái chèo, vừa là bánh lái đấy Bạn xem này !