1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÁC ĐỊNH CÁC HỌC PHẦN CHUNG NHÓM NGÀNH CƠ KHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

47 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 541 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số kinh nghiệm về xây dựng chương trình đào tạo ngành Kỹ thuật Chế tạo theo hướng tiếp cập CDIO tại Trường Đại học Bách khoa Thành phố 9.. MỘT SỐ NHƯỢC ĐIỂM TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

KHOA CƠ KHÍ

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC

XÁC ĐỊNH CÁC HỌC PHẦN CHUNG

NHÓM NGÀNH CƠ KHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Khánh Hòa, tháng 12 năm 2011

Trang 2

MỤC LỤC

TRANG

1 Một số nhược điểm trong các chương trình đào tạo nhóm ngành cơ khí

Trường Đại học Nha Trang

Nguyễn Văn Tường

4 Một số đề xuất xây dựng chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ cho

ngành CNKT Nhiệt lạnh và một số ngành khác của Khoa Cơ khí

Trần Đại Tiến

12

5 Một số kinh nghiệm về xây dựng chương trình đào tạo ngành Kỹ thuật

Chế tạo theo hướng tiếp cập CDIO tại Trường Đại học Bách khoa Thành phố

9 Đánh giá học phần “Thiết kế dụng cụ cắt” trong kết cấu chương trình của

chuyên ngành Chế tạo máy và khả năng áp dụng cho khối ngành không

11 Một vài suy nghĩ về nội dung các học phần thuộc nhóm Thiết kế máy

Nguyễn Minh Quân

44

Trang 3

MỘT SỐ NHƯỢC ĐIỂM TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NHÓM NGÀNH

CƠ KHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Nguyễn Văn Tường

Bộ môn Chế tạo máy Bài viết trình bày một số nhược điểm trong các chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ nhóm ngành cơ khí Trường Đại học Nha Trang Trên cơ sở phân tích những nhược điểm đó, tác giả đã đưa ra một số hướng giải quyết để hoàn thiện các chương trình

2 Một số nhược điểm của các chương trình và hướng khắc phục

a Chưa đầu tư sâu trong việc xây dựng chương trình

Một số chương trình được thiết kế bằng các hình thức cắt giảm cơ học thời lượng các môn học, tích hợp một số môn học từ chương trình đào tạo theo niên chế để đạt tổng số tín chỉ cho chương trình theo yêu cầu chung Hơn nữa, một số hội đồng xây dựng chương trình chưa có sự tính toán kỹ lưỡng và lý giải thấu đáo tại sao trong chương trình cần có những học phần này và tại sao phải yêu cầu thời lượng như thế Hậu quả của những việc này là thời lượng của nhiều học phần không đảm bảo, nhiều mảng kiến thức bị cắt vụn và bị trùng lắp Ví dụ ở ngành Chế tạo máy như sau:

- So sánh giữa chương trình cũ và mới thì gần như không thấy có sự khác biệt đáng kể nào ngoài việc tích hợp các học phần và thay đổi thời lượng

- Kiến thức về thiết kế chi tiết máy được giảng dạy ở hai học phần là Nguyên lý –Chi tiết máy và Cơ sở thiết kế máy Kiểm tra chương trình chi tiết thì thấy có 6 vấn đề (trong 14 vấn đề) trùng nhau

- Trong chương trình cũ, mảng kiến thức về CAD/CAM/CNC có 6 đơn vị học trình (2 môn học) Trong chương trình mới mảng kiến thức này được dạy trong học phần CAD/CAM/CNC và Rô bốt với thời lượng là 2 tín chỉ Thời lượng như thế là quá ít đối với môn học quan trọng bậc nhất này của ngành

Đề xuất: Thực hiện đúng các hướng dẫn của tổ chuyên gia và những đề nghị của Hiệu

trưởng trong quá trình xây dựng chuẩn đầu ra và xây dựng chương trình đào tạo

b.Thời lượng mỗi học phần bé và quá nhiều học phần

Ở tất cả các chương trình, các học phần bị chia nhỏ, đa số là 2 tín chỉ, gây nên việc cắt vụn kiến thức và số học phần quá nhiều Để tích lũy đủ số tín chỉ, không kể các môn giáo dục thể chất, đồ án tốt nghiệp/thi tốt nghiệp, thì sinh viên các ngành phải học [1]:

- Chế tạo máy: 56 học phần,

- Cơ điện tử : 56 học phần,

Trang 4

2 tuần học xong 1 học phần) Số lượng các môn mà sinh viên phải học trong mỗi học kỳ như vậy

là cao, gây khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức của sinh viên

Tình trạng nêu trên cũng xảy ra đối với đa số các trường đại học ở Việt Nam Trong khi

đó, ở các trường ở nước ngoài thì số tín chỉ của mỗi học phần cao hơn và vì thế số học phần của chương trình sẽ giảm đi Một số ví dụ về thời lượng của các học phần của một số trường trên thế giới như sau:

- Ngành Mechanical and Materials Engineering, Portland State University, Mỹ [2]: Đa số các học phần có thời lượng là 4 TC, một số ít có thời lượng là 2 tín chỉ

- Ngành Mechanical Engineering, British Columbia Institute of Technology, Canada [3]:

Đa số là 4 và 5 tín chỉ, một số ít 3; 6 và 7 tín chỉ

- Ngành Mechanical Engineering, NUST School of Mechanical and Manufacturing Engineering, Pakistan [4]: 5 môn có thời lượng 2 tín chỉ, số còn lại có thời lượng là 3 tín chỉ

- Ngành Mechanical Engineering, MIT: đa số các học phần có thời lượng 3-5 tín chỉ

Đề xuất: tích hợp một số học phần có nội dung gần nhau thành học phần lớn hơn

c Ít học phần tự chọn

Một số ngành có ít học phần tự chọn, ví dụ:

- Ngành Kỹ thuật ô tô: sinh viên sẽ chọn 6 học phần trong số 17 học phần tự chọn,

- Ngành Chế tạo máy: sinh viên sẽ chọn 8 học phần trong số 18 học phần tự chọn

- Ngành Thiết bị năng lượng: sinh viên sẽ chọn 7 học phần trong số 19 học phần tự chọn Ngoài ra, việc bố trí các học phần tự chọn chưa hợp lý Có ngành chỉ cho phép sinh viên chọn học phần tự chọn ở 3 học kỳ trong suốt quá trình học

Đề xuất: đưa vào nhiều học phần tự chọn cho tất cả các học kỳ

d Mất cân đối giữa các giờ học lý thuyết và giờ học thực hành

Đa số các chương trình có số giờ học thực hành, thí nghiệm rất ít Ngoài thực hành Hóa đại cương và Vật lý đại cương, các chuyên ngành chỉ có vài học phần thực hành riêng Hầu như không có giờ thực hành, thí nghiệm lồng chung với các học phần Một trong những nguyên nhân

là do điều kiện cơ sở vật chất của Trường chưa đáp ứng

Đề xuất: tăng các học phần thực hành, thí nghiệm riêng hoặc lồng nội dung thí nghiệm,

thực hành vào một số học phần Yêu cầu Trường tăng cường đầu tư cơ sở vật chất phục vụ thí nghiệm, thực hành

e Thiếu nhất quán về bài tập lớn

Trang 5

Một số chương trình có thiết kế bài tập lớn kèm theo học phần nhưng một số chương trình lại không có học phần nào kèm theo bài tập lớn Số lượng các học phần có tài tập lớn của các ngành như sau:

- Chế tạo máy: 01

- Đóng tàu: 01

- Thiết bị năng lượng: 4

Theo chương trình theo hệ thống tín chỉ của các trường trên thế giới thì đối với những học phần lý thuyết, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 45 giờ chuẩn bị cá nhân

Để đạt được tỷ lệ này thì giảng viên cần yêu cầu sinh viên thực hiện các loại hình bài tập khác nhau như bài tập cá nhân, bài tập nhóm, bài tập lớn, đồ án, tiểu luận… (gọi chung là bài tập về nhà) Bài tập về nhà là bắt buộc cho tất cả các học phần Trong chương trình đào tạo người ta không ghi chú theo dạng Tên môn học (+ Bài tập lớn) như một số chương trình nói trên Các trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ,… cũng không ghi chú như thế trong các chương trình của họ

Đề xuất: Không thiết kế học phần với kèm bài tập lớn kèm theo Yêu cầu khi triển khai

giảng dạy, tất cả các giảng viên phải xây dựng hệ thống bài tập về nhà theo đúng tinh thần của hệ thống tín chỉ

f Thiết kế tiết dạy lý thuyết cho các học phần sử dụng phần mềm

Các học phần như Đồ họa vi tính (thực chất là AutoCAD), Vẽ kỹ thuật trên máy tính,… thực chất là hướng dẫn sử dụng phần mềm CAD Hiện tại, một số chương trình thiết kế một lượng thời gian khá lớn dạy thuần túy lý thuyết cho các học phần này Việc dạy lý thuyết trên lớp các học phần này mang lại hiệu quả rất thấp Những học phần này chỉ nên được thiết kế theo dạng học phần thực hành, không có tiết lý thuyết

Đề xuất: Chỉ thiết kế dạy thực hành các học phần về sử dụng phần mềm

3 Kết luận

Một trong những việc cần làm để thực hiện đào tạo thành công theo hệ thống tín chỉ là cần phải xây dựng các chương trình đào tạo đảm bảo chất lượng Chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ nhóm ngành cơ khí bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục Bài viết này khái quát hóa một số nhược điểm đúng cho số đông các ngành thuộc nhóm ngành cơ khí Khắc phục được các nhược điểm đó theo các đề xuất trong bài viết này có thể sẽ giúp nâng cao chất lượng chương trình đào tạo

Tài liệu tham khảo

http://ntu.edu.vn/phongban/daotao/default.aspx?file=privateres/phongban/daotao/file/chuongtrinh.htm.aspx (truy cập ngày 10/12/2011)

2 http://www.me.pdx.edu/crs/index.php?action=51&dept=ME (truy cập ngày 8/12/2011)

3 http://smme.nust.edu.pk/showpage.php?NodeID=345 (truy cập ngày 8/12/2011)

4 http://student.mit.edu/catalog/m2a.html (truy cập ngày 8/12/2011)

Trang 6

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ HỌC PHẦN CHUNG CỦA NGÀNH CƠ KHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC

NHA TRANG

Nguyễn Văn Tường

Bộ môn Chế tạo máy Bài viết đề xuất một số học phần chung cho nhóm ngành cơ khí trường Đại học Nha Trang trên cơ sở phân tích các chuẩn đầu ra của các ngành, tham khảo chương trình của các trường bạn và một số vấn đề khác có liên quan

1 Đặt vấn đề

Trường Đại học Nha Trang hiện đào tạo một số chuyên ngành thuộc nhóm ngành Cơ khí như: Đóng tàu thủy, Thiết kế tàu thủy, Chế tạo máy, Công nghệ Kỹ thuật ô tô, Cơ điện tử và Công nghệ Kỹ thuật Nhiệt lạnh Theo các chuẩn đầu ra sơ bộ đã được các hội đồng của các ngành soạn thảo thì các chuyên ngành này có cùng chung một số kiến thức chuyên môn nhất định Nhằm tạo điều kiện cho việc tổ chức và quản lý giảng dạy, nhất thiết phải có một sự thống nhất ở chừng mực nào đó về các kiến thức chung này Bài viết này đề xuất một số học phần chung thuộc lĩnh vực cơ khí cho các ngành nói trên

2 Một số kiến thức chung về cơ khí của các chuyên ngành

Theo các chuẩn đầu ra sơ bộ của các chuyên ngành thuộc ngành cơ khí (được Tổ Chuyên gia chấp nhận và Hiệu trưởng duyệt sơ bộ ngày 2/12/2011) thì một số kiến thức chung về cơ khí của các chuyên ngành này là:

- Vật liệu kỹ thuật

- Cơ học

- Thiết kế máy móc và thiết bị

- Kỹ thuật chế tạo (trừ ngành Kỹ thuật Nhiệt lạnh)

Những mảng kiến thức này cần có các học phần (tối thiểu) sau:

1 Vật liệu kỹ thuật, Thí nghiệm vật liệu học: phục vụ cho mảng kiến thức về Vật liệu kỹ thuật

2 Cơ lý thuyết, Sức bền vật liệu: phục vụ cho mảng kiến thức về cơ học

3 Vẽ kỹ thuật, CAD, Nguyên lý máy, Chi tiết máy, Kỹ thuật thủy khí, Kỹ thuật nhiệt: phục vụ cho mảng kiến thức về thiết kế máy

4 Dung sai – Đo lường, Công nghệ chế tạo máy, Thực tập cơ khí: phục vụ cho mảng kiến thức về kỹ thuật chế tạo

Các học phần đã được liệt kê trên cũng là những học chung trong chương trình đào tạo các ngành thuộc nhóm ngành cơ khí của nhiều trường đại học trong nước Bảng 1 trình bày một

số học phần chung của nhóm ngành cơ khí của một số trường đại học trong nước hiện nay như Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ, Đại học Đà Nẵng, Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Nha Trang Do tổng số tín chỉ của các chương trình có

sự khác biệt đáng kể nên việc phân bổ thời lượng cho các học phần chung cũng có sự khác biệt giữa các trường

Trang 7

Bảng 1 Một số học phần chung của một số ngành của một số trường trong nước [1,2,3,4,5]

CĐT

ĐH Nông Lâm (139)

Cơ khí Nông lâm (138)

Chế tạo máy,

ĐH

Đà Nẵng (179)

Chế tạo máy,

Cơ điện

tử, BK

TP HCM (156)

Ô tô Bach khoa

TP HCM (157)

Tàu thủy

BK

Tp HCM (157)

Các ngành

cơ khí,

BK Hà Nội (179.5)

Cơ khí

ĐH Cần Thơ (138)

Nhiệt lạnh,

ĐH Nha Trang (130)

Chế tạo máy,

ĐH Nha Trang (130)

Ô tô

ĐH Nha Trang (130)

Cơ điện tử,

ĐH Nha Trang (130)

TB năng lượng tàu, Đóng tàu ĐH Nha Trang (130)

Trang 8

Bảng 2 trình bày một số học phần chung (tương đương) của ngành Kỹ thuật cơ khí của một số trường đại học trên thế giới

Bảng 2: Một số học phần chung của một số ngành của một số trường trên thế giới [6,7,8]

TUL, Cộng hòa Séc

Portland State University,

Mỹ

Yeungam University, Hàn Quốc

3 Đề xuất các học phần chung

Trên cơ sở tham khảo các chuẩn đầu ra (sơ bộ) của các chuyên ngành thuộc ngành cơ khí của Trường, chương trình của một số trường trong và ngoài nước, và tình hình thực tế của Trường, các học phần chung của các chuyên ngành cơ khí có thể như trong bảng 3 Ngành Kỹ thuật Nhiệt lạnh có thể không có một số học phần trong danh sách này

máy

Trang 9

4 Kết luận

Các chuyên ngành thuộc nhóm ngành Cơ khí có thể dùng chung một số học phần thuộc khối kiến thức nền tảng của ngành cơ khí khí Cơ học, vật liệu, thiết kế máy và thiết bị và kỹ thuật chế tạo Bài viết đã cụ thể hóa một sô học phần chung cho nhóm ngành cơ khí trên cơ sở tham khảo một số chương trình của một số trường trong và ngoài nước

Tài liệu tham khảo

1 http://www.aao.hcmut.edu.vn/ (truy cập ngày 08/12/2011)

2 http://ntu.edu.vn/phongban/daotao/default.aspx (truy cập ngày 08/12/2011)

3 http://www.ctu.edu.vn/colleges/tech/index.php?option=com_wrapper&Itemid=122

(truy cập ngày 13/12/2011)

5 daotao.dut.edu.vn/modules/Files/pub_dir/101_1_CTM.pd (truy cập ngày 13/12/2011)

6 http://www.yu.ac.kr/_english/academic/index.php?c=academic_01_c_02

(truy cập ngày 13/12/2011)

7 http://www.me.pdx.edu/crs/index.php?action=51&dept=ME (truy cập ngày 13/12/2011)

8 www.fs.tul.cz/ (truy cập ngày 13/12/2011)

Trang 10

CÁCH BỐ TRÍ KIẾN THỨC TRONG CÁC HỌC PHẦN CƠ HỌC

TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

CÁC NGÀNH KỸ THUẬT CƠ KHÍ

PGS.TS Nguyễn Văn Ba

Bộ môn Cơ học vật liệu

1 Mục đích của báo cáo

Bản báo cáo này nhằm mục đích đưa ra quan điểm của Tác giả về việc bố trí kiến thức, cách truyền đạt các học phần cơ học trong chương trình giáo dục đại học khối ngành kỹ thuật cơ khí của trường Đại học Nha Trang nhằm hoàn thiện chương trình giáo dục đại học của khối này theo tinh thần chỉ đạo của Hiệu trưởng trường Đại học Nha Trang

2.Nội dung báo cáo

2.1 Đặt vấn đề

Hiện nay chúng ta đang tiến hành rà soát, đánh giá và hoàn chỉnh chương trình giáo dục đại học nhằm xây dựng được một chương trình giáo dục tiến tiến đáp ứng đòi hỏi của xã hội, tiếp cận với khu vực và thế giới đồng thời phù hợp với hoàn cảnh thực tế của Trường Hội thảo này là một trong những hoạt động hướng tới mục đích đó Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự việc, với kinh nghiệm của người cán bộ giảng dạy nhiều năm gắn bó với việc truyền đạt kiến thức trong khối cơ sở của các ngành kỹ thuật cơ khí và cũng tham gia hướng dẫn nhiều sinh viên các ngành làm luận văn tốt nghiệp trong hai khoa Cơ khí và Kỹ thuật tàu thủy Tôi xin trao đổi với Hội thảo những suy nghĩ của mình về vai trò của các học phần kiến thức cơ học đối với chương trình giáo dục đại học và cách bố trí, sắp xếp nội dung trong các học phần này một cách hợp lý

- Làm quen với các hiện tượng về cơ học xẩy ra hàng ngày trong tự nhiên;

- Phân tích, đánh giá hoạt động của máy móc và thiết bị dùng trong đời sống và công nghệ;

- Biết phương pháp tính toán, thiết kế các cơ cấu và thiết bị;

- Có kiến thức để tiếp thu các học phần chuyên môn của ngành đào tạo;

- Có tầm nhìn toàn diện và khả năng đề xuất, phát triển các ý tưởng sáng tạo trong lĩnh vực cơ khí

2.2.2 Những kiến thức cần được cung cấp từ các học phần cơ học

Nhằm thực hiện được vai trò của mình, các học phần cơ học cần cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản sau:

- Những khái niệm cơ bản về: vật liệu kỹ thuật, vật thể, cơ cấu, các quy luật chuyển động, các tác động khác nhau lên cơ hệ…

- Các phương pháp tính toán trong cơ học: động học, động lực học, bài toán bền, biến dạng, ổn định…

- Các phương pháp và phương tiện hiện đại được sử dụng trong tính toán, phân tích cơ học nhằm giảm nhẹ cộng việc tính toán và đạt độ chính xác cao

2.2.3 Đặc điểm của việc dạy và học các học phần cơ học hiện nay ở các trường đại học Việt Nam và trường Đại học Nha Trang

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, sự đổi mới của giáo dục đại học, đòi hỏi của thực tế sản xuất và đặc biệt là sức ép về thời gian; trong những năm qua, việc dạy và học các

Trang 11

học phần cơ học của các trường đại học cả nước nói chung và của trường Đại học Nha Trang nói riêng đã có sự thay đổi rất lớn tạo nên một bức tranh khá sinh động như sau:

- Thời gian dành cho các học phần cơ học bị giảm khá nhiều so với thời gian toàn khóa học;

- Sự quan tâm của sinh viên đến các học phần cơ học cũng như các học phần cơ bản, cơ

sở khác có chiều hướng giảm đi rõ rệt;

- Với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kiến thức mới trong lĩnh vực cơ học được công bố liên tục hàng ngày rất lớn, nhưng kiến thức bổ sung vào bài giảng, giáo trình chưa theo kịp do nhiều lý do khác nhau;

- Các phương pháp tính toán, các phương tiện phục vụ cho tính toán và giải quyết các bài toán cơ học phát triển rất nhanh và đem lại hiệu quả cao

- Cách tiếp cận khoa học của các môn học chuyên môn trong ngành thay đổi rất nhiều Trước đây, thường người ta nghiên cứu những vấn đề trong chuyên môn theo hướng kinh điển, nêu vấn đề, chứng minh, ứng dụng Hiện nay lối tư duy này đã thay đổi nhiều, thường là nêu vấn

đề, chứng minh hoặc chấp nhận qua thực tế, học cách ứng dụng vào thực tế Chính vì vậy, vai trò của các học phần cơ bản, cơ sở đã khác đi

- Phương tiện dùng trong học tập, giảng dạy và nghiên cứu phát triển rất nhanh và đem lại hiệu quả cao cho công việc

Với những đặc điểm trên, đòi hỏi người thầy phải cải tiến cách tiếp cận, cách truyền đạt mới đảm bảo được yêu cầu của đào tạo trước sức ép về nhiều phía

Để thấy được bức tranh chung cho các học phần này, làm cơ sở cho việc bố trí các học phần trog chương trình giáo dục đại học cho nhóm ngành cơ khí của trường Đại học Nha Trang, chúng ta cúng tham khảo hai bảng số liệu sau:

1 Thời lượng dành cho các học phần có học đối với nhóm ngành cơ khí ở một số trường Việt Nam

THỜI LƯỢNG CHO NHÓM NGHÀNH CƠ KHÍ

TP HCM

NÔNG NGHIỆP HN

KHÓA 15 ĐHTS

KHÓA 52 ĐHNT

2.3 Những kiến nghị trong việc xây dựng chương trình giáo dục và giảng dạy đối với các môn cơ học

Trang 12

Để các học phần cơ học thực hiện tốt vai trò của mình và phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, chúng ta cần phải thống nhất quan điểm chỉ đạo: Dù trong hoàn cảnh nào các học phần này cũng phải đảm bảo đầy đủ tính cơ bản, hiện đại, thiết thực và đáp ứng tính liên thông trong đào tạo Trong tình hình hiện nay, trước sức ép về thời gian, yêu cầu đối với khối kiên thức này, chúng tôi cho rằng chúng ta có thể thực hiện theo một trong hai phương án sau:

Phương án thứ nhất: giữ như hiện nay nhưng bổ sung thêm học phần thí nghiệm cơ học

và thay đổi học phần Phương pháp phần tử hữu hạn bằng học phần Phương pháp số trong cơ học; Với ngành chế tạo máy cần thêm học phần Thiết kế máy Nội dung những học phần này có thể bao gồm:

1 Học phần thí nghiệm cơ học: cho sinh viên tiến hành thưc hiện các bài thí nghiệm về cơ học trên nhiều thiết bị đã có và sắp nhập về

2 Học phần Phương pháp số trong cơ học: cung cấp cho sinh viên những phương pháp số dùng trong tính toán cơ học (phương pháp phần tử hữu hạn, phương pháp sai phân…) và các phần mềm chuyên dụng trong tính toán cơ học (cần sử dụng tương đối thành thạo một vài phần mềm hay dùng nhất)

3 Học phần Thiết kế máy: cung cấp cho sinh viên những cơ sở, các bước và phương pháp

để thiết kế các thiết bị thường gặp trong thực tế Cũng có thể đưa nội dung này thêm vào học phần máy công nghiệp

Theo phương án này có ưu điểm sau:

- Quen thuộc với mọi người và phù hợp với hiện tại ở Việt Nam;

- Kiến thức được phân khúc rõ ràng theo đối tượng nghiên cứu (vật rắn tuyệt đối và vật rắn biến dạng)

Tuy nhiên cũng có nhược điểm là:

- Kiến thức hay bị lặp lại hoặc bỏ sót, tốn nhiều thời gian diễn giải cho các khái niệm;

- Nội dung kiến thức, các bài toán không sát thực tế, nên ít gây hứng thú cho người học

và khó vận dụng trong công việc của sinh viên

Phương án thứ hai: phân bổ nội dung kiến thức theo các học phần:

1 Học phần Cơ học I (Tĩnh học): cung cấp các kiến thức về: cơ hệ, vật thể, liên kết của vật thể với môi trường, ngoại và nội lưc, phương pháp tính toán lực trong hệ cân bằng, liên quan giữa nội lực và ngoại lực trong cơ hệ và vật thể chịu lực…

2 Học phần Cơ học II (Động học và động lực học): cung cấp các kiến thức về chuyển động của vật thể, cơ hệ, các cơ cấu, phương pháp tạo ra chuyển động theo yêu cầu của các cơ cấu, lực tác dụng trong cơ cấu khi chuyển động…

3 Học phần Cơ học III (Sức bền của các cơ cấu máy): cung cấp kiến thức về tính toán độ bền, độ cứng, ổn định và mỏi đối với các vật thể chịu lực và các cơ cấu máy cụ thể

4 Học phần thí nghiệm cơ học: (như phương án I)

5 Học phần phương pháp số trong cơ học (như phương án I)

Phương án này có các ưu điểm sau:

- Tránh được sự trùng lặp kiến thức;

- Gắn với đối tượng thực tế nhiều hơn (thông qua các đối tượng nghiên cứu là các cơ cấu thực và dùng trong thực tế)

Tuy nhiên nó có nhược điểm sau:

- Không quen và chưa phù hợp với các trường hiện nay;

- Phải đầu tư để xây dựng chương trình, bài giảng mới;

- Đòi hỏi người thầy phải am hiểu thực tế, mới đưa ra được những đối tượng nghiên cứu cụ thể và phù hợp

Trên đây là một vài suy nghĩ ban đầu, Tôi xin mạnh dạn trao đổi cùng hội thảo, tất nhiên, muốn thay đổi nó cần phải được bộ môn Cơ học bàn luận và đầu tư nhiều công sức mới có thể kết luận được

Trang 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chương trình giáo dục các ngành Cơ khí chế tạo, Kỹ thuật Tàu thủy, Kỹ thuật Ô tô, Cơ điện tử trình độ đại học của trường Đại học Nha Trang – website trường Đại học Nha Trang;

2 Chương trình giáo dục các ngành cơ khí của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – website trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội;

3 Chương trình giáo dục các ngành cơ khí của trường Đại học– website trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh;

4 Giới thiệu của trường Đại học Yeungnam Hàn Quốc;

5 Các tiêu chuẩn kiểm định của tổ chức ABET, AUN, CDIO

Trang 14

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CHO NGÀNH CNKT NHIỆT LẠNH VÀ MỘT SỐ NGÀNH KHÁC CỦA KHOA CƠ KHÍ

II MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NHIỆT LẠNH

Qua thực tế giảng dạy, quản lý và xây dựng chương trình đào tạo theo niên chế và học chế tín chỉ bản thân có một số suy nghĩ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chương trình đào tạo cho ngành Công nghệ kỹ thuật Nhiệt lạnh và một số các ngành khác của khoa Cơ khí như sau

1 Khi xây dựng chương trình đào tạo chúng ta cần tham khảo chương trình đào tạo của một số trường có uy tín như Đại học Bách Khoa Hà Nội, Bách Khoa TP HCM…để xác định được số tín chỉ và các học phần cho phù hợp Qua tham khảo một số trường như sau:

- Đại học Bách Khoa Hà nội: đào tạo 5 năm : số tín chỉ là 180 TC

- Đại học Bcahs Khoa TP HCM đào tạo 4,5 năm: số tín chỉ là 157 TC

- Đại Nông lâm TP HCM đào tạo 4 năm: 139 TC

- ĐHCN TP HCM đào tạo 4 năn: 150 TC…

Do đó để Trường ta hoà nhập với các Trường trong cả nước thì số tín chỉ đối với các ngành kỹ thuật tăng lên từ 135 đến 140 TC

2 Các học phần đại cương (Cơ bản) tỷ lệ nên phân bổ từ 30 đến 35% là vừa thay cho

35 đến 40% đã ban hành Qua tham khảo như như ĐHBK Hà nội là 31%; ĐHBK

TP HCM chuyên sâu về nghiên cứu cũng chỉ 36%

3 Cần có tỷ lệ học phần về thực tập trong kiến thức cơ sở và chuyên ngành

4 Khi chuyển qua đào tạo theo tín chỉ một số môn học được rút xuống theo cơ học nên rất nhiều môn chỉ còn lại 2 TC hoặc thậm chí chỉ 1 TC Do đó nên cần ghép tên một số học phần và có tên gọi cho phù hợp Ví dụ cho ngành CNKTNL: ghép 2

Trang 15

học phần là: Kỹ thuật cháy, lò công nghiệp thành kỹ thuật cháy và lò công nghiệp

và một số học phần khác …

5 Tách học phần hoạ hình và vẽ kỹ thuật thành hai học phần là hoạ hình, vẽ kỹ thuật Riêng học phần vẽ kỹ thuật nên tập trung vào vẽ kỹ thuật trên máy vi tính Đưa học phần hoạ hình vào kiến thức đại cương (cơ bản)

6 Gần như các ngành kỹ thuật đều có Anh văn chuyên ngành, tin học chuyên ngành, phương pháp luận nghiên cứu khoa học đề nghị các học phần này đưa qua đưa qua kiến thức đại cương

7 Một học phần có nhiều chuyên đề hay chương và để chất lượng được tốt thì sau này phân công nhiều CBGD cho một phần được giảng dạy trên một lớp

8 Sinh viên các ngành kỹ thuật sau khi hoàn thành các tín chỉ nên được giao làm đồ

án tốt nghiệp thay cho thi tốt nghiệp vì có làm đồ án tốt nghiệp thì SV mới có cơ hội tìm và tổng hợp tài liệu, biết viết và trình bày báo cáo chuyên môn trước mọi người…Qua thực tế cho thấy những SV được làm đồ án tốt nghiệp ra trường làm việc đều có uy tín cũng như đào tạo tiếp sau đại học… Còn đối với SV phải thi tốt

nghiệp phần lớn là bị các doanh nghiệp than phiền

III KẾT LUẬN

Trên đây là một số ý kiến đề xuất của bản thân nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho ngành các ngành cơ khí nói chung và ngành CN kỹ thuật Nhiệt lạnh nói riêng theo học chế tín chỉ Kính mong nhận được sự góp ý của Quí thầy cô

Tài liệu tham khảo

1 Chương trình đào tạo ngành công nghệ Nhiệt lạnh Đại học Bách Khoa Hà Nôi

2 Chương trình đào tạo ngành công nghệ Nhiệt lạnh Đại học Bách Khoa TP HCM

3 Chương trình đào tạo ngành công nghệ Nhiệt lạnh Đại học Nông Lâm TP HCM

Trang 16

MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH KỸ THUẬT CHẾ TẠO THEO HƯỚNG TIẾP CẬN CDIO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH

KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ths Nguyễn Hữu Thật

Bộ môn Chế tạo máy

I Mục tiêu báo cáo

Báo cáo “Một số kinh nghiệm về xây dựng chương trình đào tạo ngành Kỹ thuật chế tạo theo

hướng tiếp cận CDIO tại trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh ” cung cấp quy

trình cơ bản nhất để tham khảo và xây dựng chương trình đào tạo dựa trên chuẩn đầu ra của ngành Công nghệ Chế tạo máy tại Trường Đại học Nha Trang

II Nội dung

về tiêu chuẩn này và kết hợp với việc vừa qua tôi được tham gia hội thảo “Xây dựng và triển khai

chương đào tạo theo CDIO tại khoa Cơ khí, trường Đại học Bách khoa, Thành phố Hồ Chí Minh” Qua hội thảo tôi học hỏi một số kinh nghiệm trong việc xây dựng chương trình đào tạo,

nay xin trình bày trước hội thảo về quy trình xây dựng chương trình đào tạo ngành kỹ thuật chế tạo theo hướng tiếp cận CDIO như sau:

II.2 Giới thiệu CDIO [2]:

- CDIO được phát triển cho khối kỹ thuật, bao gồm: Hình thành Ý tưởng - Thiết kế - Triển khai - Vận hành (Conceiving – Designing – Implementing – Operating – CDIO)

- CDIO bắt nguồn từ viện công nghệ MIT (Mỹ) và 3 trường Đại học Thụy Điển

- Bản chất là tập trung giải quyết 2 câu hỏi lớn:

+ Sinh viên ra trường cần phải đạt được tri thức, kỹ năng và thái độ gì (Dạy cái gì)? + Cần phải làm như thế nào để sinh viên ra trường có thể đạt được các tri thức, kỹ năng và thái độ đó (Dạy như thế nào)?

Dạy cái gì phải xuất phát từ việc điều tra các nhóm đối tượng liên quan đến chương trình đào tạo (stakeholders), từ đó xác định ra các mục tiêu của chương trình đào tạo và trên cơ sở đó

Trang 17

thiết kế chuẩn đầu ra CDIO (CDIO Syllabus – hay còn gọi là dự kiến kết quả đầu ra) và khung chương trình với các môn học tương ứng với các cấp mục tiêu của chuẩn đầu ra CDIO

Dạy như thế nào phải xuất phát từ 12 tiêu chuẩn của CDIO, từ đó thiết kế từng môn học với phương pháp dạy và học phù hợp:

Bảng 1 Các tiêu chuẩn CDIO

II.3 Xây dựng chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận CDIO:

(integrated curiculum) theo phương pháp tiếp cận CDIO [1]

Quy trình xây dựng CTĐT tích hợp là cách gọi chung cho quy trình xây dựng CTĐT mới hoặc hoàn thiện một CTĐT hiện hữu để có CTĐT tích hợp Quy trình xây dựng CTĐT tích hợp

này của Đại học Bách khoa được xây dựng như sau:

Trang 18

Hình 1 Mô hình quá trình thiết kế chương trình đào tạo tích hợp [3]

Khi xây dựng CTĐT theo CDIO cần các bước chuẩn bị:

- Chuyển đổi tầm nhìn CDIO thành các mục tiêu đào tạo của chương trình

- Xem xét các điều kiện hiện hữu liên quan đến CTĐT (tiêu chuẩn kiểm định, quy định của nhà trường, truyền thống của chương trình, mục tiêu và độ dài của chương trình, chương trình khung, cấu trúc cơ bản…)

Quy trình thiết kế này dựa trên các dữ liệu và điều kiện tiên quyết sau đây:[1]

A Chuẩn đầu ra ngành đào tạo theo hướng tiếp cận CDIO:

hợp với ý kiến các bên liên quan bao gồm giảng viên, sinh viên, cựu sinh viên và doanh nghiệp

Vì vậy, họ triển khai thực hiện việc điều tra bốn bên liên quan nêu trên để khảo sát ý kiến và sau

đó cùng với nhóm chuyên gia để đề xuất các mức độ đạt được của từng tiêu chí chuẩn đầu ra của

kỹ sư tốt nghiệp ngành Cơ khí, chương trình Kỹ thuật Chế tạo Theo đó, chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo đến mức độ 4 theo đề cương CDIO sẽ được xây dựng dựa theo bảng Bloom

B Thiết lập mức độ năng lực mong muốn đối với sinh viện tốt nghiệp:

“Mức độ mong muốn” đối với các chủ đề chuẩn đầu ra theo hướng tiếp cận CDIO, qua phân tích,

trong giai đoạn xây dựng CTĐT tích hợp lần đầu tiên này, họ quyết định chọn “Mức độ mong

muốn cấp 3” làm mức đo trình độ cần thiết đối với sinh viên tốt nghiệp

C Chương trình đào tạo hiện tại của Khoa, Ngành

Trang 19

Hiện nay, Khoa đã hoàn tất việc chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ và công bố, đó chính là chương trình đào tạo hiện tại của Khoa, Ngành

chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận CDIO của Khoa Cơ khí Trường Đại học Bách khoa triển khai theo các bước sau đây:

Bước 1 Chuyển đổi tầm nhìn của CDIO thành các mục tiêu của CTĐT tích hợp [3]

Bước đầu tiên để xây dựng chương trình đào tạo mới là chuyển đổi tầm nhìn CDIO thành mục tiêu đào tạo Trong quá trình cải cách lại chương trình đào tạo ta cần xem xét lại mục tiêu đào tạo Sinh viên tốt nghiệp từ chương trình có sự giáo dục khoa học và nghề nghiệp cho phép

họ có thể thành công ở công việc của người kỹ sư nói chung và nhất là trong chuyên ngành Kỹ thuật chế tạo Đặc biệt, họ có thể:

a Thể hiện chức năng của mình trong môi trường công nghiệp, hành chính chính phủ, xây dựng và ứng dụng liên quan kiến thức khoa học mang tính học thuật, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng giao tiếp

b Có hiểu biết về các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin; Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam; Tư tưởng Hồ Chí Minh; có các kiến thức cơ bản trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn phù hợp với chuyên ngành được đào tạo; có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc

c Có kiến thức cơ bản về toán học, khoa học tự nhiên, đáp ứng cho việc tiếp thu các kiến thức giáo dục chuyên nghiệp và khả năng học tập ở trình độ cao hơn

d Có các kiến thức cơ sở kỹ thuật và ngành về: các quá trình vật lý của kỹ thuật chế tạo,

hệ thống sản xuất và bảo trì, thiết kế và phát triển sản phẩm, kinh tế, kinh doanh và khởi nghiệp

Trang 20

Hình 2 Quy trình xây dựng nội dung CTĐT theo CDIO [1]

Bước 2 Đối sánh CTĐT với chuẩn đầu ra theo CDIO:

giá ITU như sau: Mỗi giảng viên làm bài đánh giá này đối với môn học mà mình trực tiếp giảng

dạy, cung cấp thông tin về các đề mục về kiến thức, kỹ năng đã được mình giới thiệu (I :

introduce), dạy (T : teach) & sử dụng (U : utilize) như thế nào.[3]

Bước 3 Khảo sát để đánh giá sự liên hệ và sự phối hợp giữa các môn học

- Khảo sát để đánh giá sự liên hệ của môn mình dạy với các môn học khác trong CTĐT hiện có

- Khảo sát các môn học thông qua bảng hộp đen “Black Box”, trong đó các môn học đều được

khảo sát bởi kiến thức đầu vào và đầu ra, phục vụ cho việc xác định trình tự giảng dạy và những mong muốn thỏa thuận giữa các môn học khi trao đổi giữa các đồng nghiệp.[3]

Trang 21

Hình 3 Hộp đen

Bước 4 Điều chỉnh CĐR và dự thảo khung chương trình đào tạo theo phương pháp tiếp cận CDIO (Khung CTĐT tích hợp)

Bước 5: Thiết kế Chương trình đào tạo tích hợp.[1]

thì các khía cạnh then chốt của việc thiết kế CTĐT tích hợp tiếp theo là Thiết kế cấu trúc chương

trình đào tạo (lựa chọn nguyên tắc tổ chức, kế hoạch tổng thể, cấu trúc khối môn học); Thiết kế trình tự nội dung giảng dạy; và Đối ứng trình tự đó vào cấu trúc (đối ứng chuẩn đầu ra vào các

môn học; tích hợp các kỹ năng, thái độ vào các môn học của chương trình đào tạo)

II.4 Kết luận

Trong bài báo cáo này trình bày quy trình thiết kế chương trình đào tạo ngành Kỹ thuật chế tạo, khoa Cơ khí hiện có theo hướng tiếp cận CDIO của Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh Quy trình được thể hiện cụ thể qua các bước và được minh họa bởi các hình ảnh và sơ đồ cụ thể Trên cơ sở đó, chúng ta có thể tham khảo xây dựng chương trình cho ngành Công nghệ Chế tạo máy phù hợp với chuẩn đầu ra đã ban hành tại Trường Đại học Nha Trang

Tài liệu tham khảo:

“Xây dựng chương trình đào tạo tích hợp cho chương trình Kỹ thuật chế tạo theo mô hình CDIO

Thái Thị Thu Hà, Trần Thiên Phúc, Nguyễn Hữu Lộc, ”

Trang 22

ĐỀ XUẤT NỘI DUNG HỌC PHẦN “NGUYÊN LÝ – CHI TIẾT MÁY”

Trần Ngọc Nhuần

Bộ môn Chế tạo máy

Bài viết đề xuất nội dung chính của học phần “Nguyên lý – Chi tiết máy” trong chương trình đào tạo của nhóm ngành Kỹ thuật Cơ khí

1) Đặt vấn đề:

Theo chuẩn đầu ra của các ngành trong khoa cơ khí: Cơ điện tử, Kỹ thuật Nhiệt lạnh, Chế tạo máy và bên Kỹ thuật giao thông đều có môn học “ Nguyên lý – Chi tiết máy” Mục đích cần đạt được của môn học này là rất khác nhau tùy theo yêu cầu của từng chuyên ngành, do vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào có được cái chung nhất để liên thông qua lại, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên khi học môn này Trong báo cáo này tôi xin trình bày quan điểm và nội dung của môn học

để thống nhất chung cho từng chuyên ngành

2) Nội dung:

2.1) Nhận xét sơ bộ về chương trình đã soạn, và tổ chức giảng dạy:

Nội dung chương trình đã được soạn dành cho khóa 52 có tính chất chắp vá và chưa phù hợp với thực tế, chưa thống nhất được tính chất liên thông chung nhất Nội dung môn học bao gồm tất cả nội dung của hai môn: Nguyên lý máy, Chi tiết máy Mặt khác nội dung lại được tùy ý soạn, chưa được sự thống nhất trong tổ môn học và số tín chỉ thì chưa được thống nhất (ngành Kỹ thuật Nhiệt lạnh, thời lượng dành cho là 2 tín chỉ, các ngành khác là 3 tín chỉ.) Vấn đề cần bàn ở đây là mục đích đạt được của các ngành là khác nhau, các ngành không đi sâu vào tính toán thiết

kế nhưng nội dung học lại đi sâu vào tính toán thiết kế, hơn nữa ngành Nhiệt lạnh lại thêm phần vật liệu và mạ kim loại Nhìn chung nội dung môn học bao gồm:

Nguyên lý máy: 14 chương bao gồm các lĩnh vực:

- Cấu trúc cơ cấu, Động học cơ cấu, Lực học cơ cấu, Lực ma sát, Cơ cấu cam; cơ cấu toàn khớp loại thấp,Cơ cấu bánh răng phẳng, Cơ cấu bánh răng không gian, Hệ bánh răng, Chuyển động thực của máy, Hiệu suất, Điều chỉnh tự động chuyển động máy, Cân bằng máy

Chi tiết máy: 19 chương bao gồm:

- Những vấn đề cơ bản trong tính toán thiết kế máy, chi tiết máy, Các tiết máy ghép (độ dôi; then, then hoa – trục định hình; ren; hàn; đinh tán), Truyền động bánh răng, Truyền động ma sát, Truyền động đai, Truyền động bánh vít trục vít, Truyền động xích, Truyền động vít me – đai ốc)

Vật liệu và mạ kim loại (ngành Nhiệt lạnh)

Thực chất yêu cầu mức độ và mục tiêu đào tạo của các ngành là khác nhau, do vậy việc giảng dạy truyền đạt kiến thức chung cho vấn đề liên thông gặp khó khăn và nhất là trong hệ thống đào tạo tính chỉ, sinh viên sẽ gặp khó khăn trong vấn đề đăng ký học theo lớp đăng ký môn học

Qua nghiên cứu lại mục đích và yêu cầu của từng ngành, tôi nhận thấy nội dung chương trình môn học cần phải được sửa đổi cho phù hợp, chẳng hạn các phần trong truyền động chỉ cần giới thiệu bộ truyền, đặc điểm làm việc, những thông số cơ bản quan trọng khi sử dụng và phạm

vi ứng dụng cùng tiêu chí đánh giá của bộ truyền là đủ, không cần phải đi sâu vào tính toán, lựa chọn vật liệu…; tôi đã dạy môn này được 24 năm, và học kỳ 1 năm học 2011 – 2012, tôi đang

Trang 23

dạy cho lớp cao đẳng và đại học Nhiệt lạnh với thời lượng là 2 tín chỉ Thực tế khi phụ trách 2 lớp này, tôi đã áp dụng cách dạy đặt vấn đề, thực hiện bài tập lớn (bài tập lớn phải được bảo vệ trước lớp và thầy giáo) để cho sinh viên tư duy, ứng dụng kiến thức đã học vào giải quyết một vấn đề cụ thể, thậm chí tôi còn cho sinh viên sau mỗi vấn đề đều phải hệ thống lại theo dạng sơ

đồ và nêu những câu hỏi cần mở rộng, tuy nhiên hiệu quả không được tốt cho lắm Chắc chắn là

có nhiều lý do để lý giải vấn đề này ví dụ: do trình độ đầu vào thấp, sinh viên không tích cực trong việc học, thời gian học tại lớp quá ít dẫn đến thầy giáo không thể hướng dẫn cụ thể, hơn nữa môn học này bao gồm bài tập thiên về tính toán và vẽ để xác định kết quả và quỹ đạo chuyển động, xác định được biên dạng của các chi tiết, kiểm tra sau khi chọn vật liệu thì kết cấu có đủ bền không? Một điều chắc chắn rằng với thời lượng như vậy, bản thân tôi cũng không thể nào truyền đạt một cách sâu sắc hết nội dung chương trình cho sinh viên được huống chi là giáo viên trẻ mới nhận nhiệm vụ giảng dạy, cụ thể là với thời lượng là 2 tín chỉ dành cho ngành Nhiệt lạnh thì không thể nào truyền đạt hay hướng dẫn hết được nội dung trong chương trình đã biên soạn Hơn nữa đối với ngành Kỹ thuật Ô tô sau khi học xong môn này với 3 tín chỉ, sinh viên phải thiết

kế được hệ truyền động cơ khí, lựa chọn được sơ đồ, phân tích được ưu nhược điểm cả về yêu cầu kỹ thuật, kinh tế, vật liệu, hình dạng kết cấu hợp lý … Rõ ràng điều này là bất khả thi

2.2) Kiến nghị

Từ thực tế đó tôi mạn phép kiến nghị việc giảng dạy môn học này với mục đích để liên thông cho tất cả sinh viên các ngành có nhu cầu đều có điều kiện và thời gian để đăng ký học Nội dung truyền đạt chỉ dừng lại phần giới thiệu, đặc điểm yêu cầu, tiêu chí đánh giá và sơ bộ một vài thông số cần thiết chủ yếu về kết cấu cùng với bài toán động học và lực học Thời lượng dành cho môn học này 3 tín chỉ Nội dung cụ thể như sau:

1) Những vấn đề cơ bản trong tính toán thiết kế máy, chi tiết máy

2) Động học cơ cấu phẳng ( chuyển vị, vận tốc, gia tốc, bài tập)

3) Lực học cơ cấu phẳng (phản lực khớp động, lực quán tính, Lực ma sát, bài tập)

4) Các cơ cấu cơ bản (cấu trúc, đặc điểm, nguyên lý làm việc, ứng dụng): Cơ cấu cam,

Cơ cấu toàn khớp loại, Cơ cấu Man, Khớp Các đăng, cơ cấu Rô bốt

5) Bài tập lớn

6) Cơ cấu bánh răng phẳng, không gian (phân loại, đặc điểm, biên dạng, các thông số cơ bản)

7) Hệ bánh răng (Công dụng, tỷ số truyền, bài tập)

8) Làm đều chuyển động máy: (Phương trình chuyển động, Xác định bánh đà với J = const, Hiệu suất, bài tập)

9) Các tiết máy ghép (đặc điểm, ưu nhược điểm, phạm vi ứng dụng, tiêu chí đánh giá và lựa chọn mối ghép): Mối ghép bằng đinh tán, Mối ghép bằng hàn, Mối ghép bằng ren, Mối ghép bằng độ dôi, Mối ghép bằng then - then hoa - trục định hình

10) Các bộ truyền động (giới thiệu, ưu nhược điểm, đặc điểm, nguyên lý làm việc,các thông số cơ bản của bộ truyền):

11) Bài tập lớn

12) Các chi tiết : Trục, ổ đỡ, khớp nối (đặc điểm, kết cấu, nguyên lý làm việc, tiêu chí đánh giá)

Ngày đăng: 04/03/2016, 05:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Ngô Doãn Đãi, Kiểm định chương trình đào tạo ở Việt Nam, Hội thảo “Kiểm định, đánh giá và quản lí chất lượng đào tạo đại học”, Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQGHN, ngày 16/8/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định, đánh giá và quản lí chất lượng đào tạo đại học
[2] Nguyễn Văn Nhận, Một số vấn đề cấp bách triển trai đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tham luận tại Đại hội Đảng bộ Trường ĐH Nha Trang lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2010-2015 Khác
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, QUYẾT ĐỊNH số: 65 /2007/QĐ-BGDĐT Ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học, Hà nội, 11/2007 Khác
[4] Trường Đại học Nha Trang, Thông báo Số: 661 /TB-ĐHNT Hướng dẫn hoàn thiện Chương trình giáo dục trình độ đại học hệ chính qui của Trường Đại học Nha Trang, 2/1011 Khác
[5] ASEAN University Network (AUN), Guide to AUN Actual Quality Assessment at Programme Level, June/2011 Khác
[6] Cao Hoàng Trụ, ABET: Mục tiêu và Động lực của việc Đổi mới các Chương trình Đào tạo về Kỹ thuật và Công nghệ, ww.cse.hcmut.edu.vn/~tru/ABET/towardsABET-CHT-BKHCM.pdf Khác
[8] Chương trình đào tạo ngành Chế tạo máy, Đại học Northern Illinois [9] Chương trình đào tạo ngành Chế tạo máy, Đại học Istabul Khác
[14] Chương trình đào tạo ngành Chế tạo máy, Đại học Đà Nẵng [15] Chương trình đào tạo ngành Chế tạo máy, Đại học Cần Thơ [16] Chương trình đào tạo ngành Chế tạo máy, Đại học Thái Nguyên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 Một số học phần chung của một số ngành của một số trường trong nước [1,2,3,4,5] - XÁC ĐỊNH CÁC HỌC PHẦN CHUNG NHÓM NGÀNH CƠ KHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Bảng 1 Một số học phần chung của một số ngành của một số trường trong nước [1,2,3,4,5] (Trang 7)
Bảng 3: Các học phần chung - XÁC ĐỊNH CÁC HỌC PHẦN CHUNG NHÓM NGÀNH CƠ KHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Bảng 3 Các học phần chung (Trang 8)
Bảng 2: Một số học phần chung của một số ngành của một số trường trên thế giới [6,7,8] - XÁC ĐỊNH CÁC HỌC PHẦN CHUNG NHÓM NGÀNH CƠ KHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Bảng 2 Một số học phần chung của một số ngành của một số trường trên thế giới [6,7,8] (Trang 8)
Bảng 2 trình bày một số học phần chung (tương đương) của ngành Kỹ  thuật cơ khí của  một số trường đại học trên thế giới - XÁC ĐỊNH CÁC HỌC PHẦN CHUNG NHÓM NGÀNH CƠ KHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Bảng 2 trình bày một số học phần chung (tương đương) của ngành Kỹ thuật cơ khí của một số trường đại học trên thế giới (Trang 8)
Bảng 1. Các tiêu chuẩn CDIO - XÁC ĐỊNH CÁC HỌC PHẦN CHUNG NHÓM NGÀNH CƠ KHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Bảng 1. Các tiêu chuẩn CDIO (Trang 17)
Hình 1. Mô hình quá trình thiết kế chương trình đào tạo tích hợp [3] - XÁC ĐỊNH CÁC HỌC PHẦN CHUNG NHÓM NGÀNH CƠ KHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Hình 1. Mô hình quá trình thiết kế chương trình đào tạo tích hợp [3] (Trang 18)
Hình 3. Hộp đen - XÁC ĐỊNH CÁC HỌC PHẦN CHUNG NHÓM NGÀNH CƠ KHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Hình 3. Hộp đen (Trang 21)
Bảng 1 : Đánh giá chương trình đào tạo ngành Chế tạo máy dựa trên quan điểm cá nhân - XÁC ĐỊNH CÁC HỌC PHẦN CHUNG NHÓM NGÀNH CƠ KHÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Bảng 1 Đánh giá chương trình đào tạo ngành Chế tạo máy dựa trên quan điểm cá nhân (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w