1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn phân tích kinh tế tìm hiểu về công ty cổ phần

15 364 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 110 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với người ngoài doanh nghiệp như những người cho vay và các nhà đầu tư… thì thông qua việc phân tích tài chính để đánh giá khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt độn

Trang 1

1 Khái quát chung về công ty cổ phần

1.1 Khái niệm

Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản

nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

1.2 Đặc điểm

- Công ty cổ phần là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập

- Cổ đông trong CTCP chịu trách nhiệm hữu hạn

- Cổ phần được tự do chuyển nhượng

- CTCP có cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt

- Quy mô CTCP dễ dàng mở rộng

- Cơ chế quản lý tập trung cao

Với những đặc điểm nổi bật, CTCP đã trở thành hình thức tổ chức doanh nghiệp mang tính thống trị nhằm giải quyết nhu cầu về vốn cho tăng trưởng

Dù vẫn còn có những hạn chế nhất định nhưng trong thời buổi cạnh tranh toàn cầu hiện nay những hạn chế của CTCP là hoàn toàn có thể được khắc phục Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, CTCP là hình thức huy động vốn trên quy mô lớn một cách hiệu quả nhất, giúp doanh nghiệp tiếp thu sự tiến bộ của khoa học nhanh chóng, tạo điều kiện cho công ty kinh doanh hiệu quả hơn và tăng thêm nguồn thu cho ngân sách

2.Khái quát chung về phân tích tài chính

2.1 Khái niệm, ý nghĩa:

* Khái niệm: Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng

để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa

ra được quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, qua

đó giúp những đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp để có quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ

* Ý nghĩa của phân tích tài chính

Trang 2

Đối với những người quản lý doanh nghiệp, việc phân tích tài chính có ý nghĩa:

- Đánh giá tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh, từ đó đó ra các dự báo và kế hoạch hóa tài chính cùng các quyết định tài chính thích hợp

- Phân tích tài chính nhằm kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp Trên

cơ sở đó đưa ra các biện pháp quản lý thích ứng để thực hiện các mục tiêu cuả doanh nghiệp

Đối với người ngoài doanh nghiệp như những người cho vay và các nhà đầu tư… thì thông qua việc phân tích tài chính để đánh giá khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

để có quyết định về cho vay, thu hồi nợ hoặc đầu tư vào doanh nghiệp

2.2 Mục đích, vai trò:

* Mục đích: Phân tích tài chính giúp nhà phân tích đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả nămg sinh lãi, tiềm năng, hiệu quả hoạt động kinh doanh, đánh giá những triển vọng cũng như những rủi ro trong tương lai của doanh nghiệp, để từ đố đưa ra quyết định cho thích hợp

* Vai trò: Việc phân tích tình hình tài chính cho phép các doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn khả năng, sức mạnh cũng như hạn chế của doanh nghiệp Phân tích tài chính còn là công cụ quan trọng trong các chức năng quản trị

có hiệu quả ở doanh nghiệp

2.3.Một số chỉ tiêu bị ảnh hưởng

2.3.1.Chỉ tiêu khả năng thanh toán

- Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Khả năng thanh toán nhanh được hiểu là khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc tài sản có thể chuyển đổi thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn Tiền ở đây có thể là tiền gửi, tiền mặt, tiền đang chuyển; tài sản là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn (cổ phiếu, trái phiếu) Nợ đến hạn và quá hạn phải trả là nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, nợ khác kể cả những khoản trong thời hạn cam kết doanh nghiệp còn được nợ Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp được tính theo công thức:

Trang 3

Khả năng thanh toán nhanh = (Tiền + Khoản đầu tư tài chính ngắn hạn) /

Nợ ngắn hạn

Rõ ràng công thức này phản ánh được chính xác hơn khả năng trả nợ ngay của một doanh nghiệp Nhìn chung hệ số này bằng 1 là lý tưởng nhất Tuy nhiên giống như hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, độ lớn của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán các món nợ trong kỳ

- Hệ số thanh toán ngắn hạn:

Hệ số thanh toán ngắn hạn dùng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp như nợ và các khoản phải trả) bằng các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho)

Hệ số thanh toán ngắn hạn =(Tổng tài sản lưu động)/(Tổng nợ ngắn hạn)

Hệ số này của từng công ty thường được so sánh với hệ số trung bình của ngành, tuy nhiên mỗi ngành sẽ có một hệ số trung bình khác nhau

Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ của mình khi tới hạn Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt được tình hình tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ bị phá sản vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn

Tỷ lệ này cho phép hình dung ra chu kì hoạt động của công ty xem có hiệu quả không, hoặc khả năng biến sản phẩm thành tiền mặt có tốt không Nếu công ty gặp phải rắc rối trong vấn đề đòi các khoản phải thu hoặc thời gian thu hồi tiền mặt kéo dài, thì công ty rất dễ gặp phải rắc rối về khả năng thanh khoản

- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:

“Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo Chỉ tiêu này cho biết: với tổng số tài sản hiện có, doanh nghiệp có bảo đảm trang trải được các khoản nợ phải trả hay không Nếu trị số chỉ tiêu "Hệ số khả năng thanh toán tổng quát" của doanh nghiệp luôn ≥ 1, doanh nghiệp bảo đảm được khả năng thanh toán tổng quát và ngược lại; trị số này < 1, doanh nghiệp không bảo

Trang 4

đảm được khả năng trang trải các khoản nợ Trị số của “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” càng nhỏ hơn 1, doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh toán

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng số tài sản/Tổng số nợ phải trả

- Hệ số khả năng chi trả:

Do các chỉ tiêu như: "Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn" và "Hệ số khả năng thanh toán nhanh" mang tính thời điểm (đầu kỳ, cuối kỳ) vì cơ sở tính toán dựa trên số liệu của Bảng cân đối kế toán nên trong nhiều trường hợp, các chỉ tiêu này phản ánh không đúng tình hình thực tế Điều này rất dễ xẩy ra vì 2 nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, do các nhà quản lý muốn ngụy tạo tình hình, tạo ra một bức tranh tài chính khả quan cho doanh nghiệp tại ngày báo cáo Chẳng hạn, muốn nâng cao trị số của các chỉ tiêu trên, các nhà quản lý tìm cách ngụy tạo sao cho các khoản tiền và tương đương tiền tăng lên, trị giá hàng tồn kho giảm xuống Công việc này thực sự không hề khó khăn với các nhà quản lý

và kế toán; chẳng hạn, những ngày cuối kỳ (cuối quí, cuối năm), mặc dầu hàng đã về, đã nhập kho nhưng kế toán tạm để ngoài sổ sách hoặc các khoản

nợ chưa thu nhưng kế toán lại ghi nhận như đã thu, nếu bị phát hiện thì coi như ghi nhầm Tương tự, kế toán có thể ghi các bút toán bù trừ giữa nợ phải thu dài hạn với nợ phải trả dài hạn

Thứ hai, do tính thời vụ của hoạt động kinh doanh mà tại thời điểm báo cáo, lượng hàng tồn kho rất lớn, lượng tiền và tương đương tiền rất nhỏ Tình hình này thường xẩy ra với các doanh nghiệp kinh doanh mang tính thời vụ Tại những doanh nghiệp này, có những thời điểm mà buộc phải dự trữ hàng tồn kho lớn (dự trữ hàng hóa phục vụ các dịp lễ, tết, khai trường, khai hội; thu mua nông sản, lâm sản, hải sản, thổ sản theo mùa…)

Để khắc phục tình hình trên, khi đánh giá khái quát tình hình tài chính, cần kết hợp với chỉ tiêu "Hệ số khả năng chi trả" Hệ số này sẽ khắc phục được nhược điểm của 2 chỉ tiêu trên vì nó được xác định cho cả kỳ kinh doanh và không phụ thuộc vào yếu tố thời vụ

Hệ số khả năng chi trả = Số tiền thuần lưu chuyển trong kỳ/ Nợ ngắn hạn

Trang 5

Chỉ tiêu này cho biết, với dòng tiền thuần tạo ra từ các hoạt động của mình trong kỳ, doanh nghiệp có đủ khả năng bảo đảm được khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không

2.3.2.Chỉ tiêu về cơ cấu tài chính

* Hệ số nợ

Hệ số nợ = (Nợ phải trả)/ (Tổng tài sản)

• Hệ số này cho biết phần trăm tổng tài sản của công ty được tài trợ bằng các khoản nợ là bao nhiêu

• Hệ số nợ thấp có thể cho thấy việc sử dụng nợ không hiệu quả, còn hệ số

nợ cao thể hiện gánh nặng về nợ lớn, như vậy 1 hệ số nợ/ tổng tài sản là hợp

lý sẽ tuỳ thuộc vào nhu cầu và khả năng tự tài trợ của công ty

* Hệ số cơ cấu nguồn vốn

Hệ số cơ cấu nguồn vốn = (Lợi nhuận sau thuế)/ Vốn chủ sở hữu)

- Hệ số này phản ánh tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn

- Để xác định mức độ phù hợp về tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của công ty sẽ phụ thuộc rất lớn vào hoạt động và chính sách của từng công

ty cũng như của từng ngành

2.3.3 Chỉ tiêu hoạt động kinh doanh

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải

có tài sản, bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Việc đảm bảo đầy đủ nhu cầu về tài sản là một vấn đề cốt yếu để đảm bảo cho quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục và có hiệu quả

Nhằm đáp ứng nhu cầu về tài sản cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải tập hợp các biện pháp tài chính cần thiết cho việc huy động, hình thành nguồn tài trợ tài sản (nguồn vốn) - được hình thành trước hết từ nguồn vốn của bản thân của chủ sở hữu, từ nguồn vốn vay, và từ chiếm dụng trong quá trình thanh toán

Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh chính là việc xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp Mối quan hệ này phản ánh cân bằng tài chính của doanh

Trang 6

nghiệp Vì vậy, khi phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh, các nhà phân tích thường xem xét tình hình đảm bảo vốn theo quan điểm luân chuyển vốn và tình hình bảo đảm vốn theo quan điểm ổn định nguồn tài trợ cùng với cân bằng tài chính của doanh nghiệp

*Phân tích tình hình bảo đảm vốn theo quan điểm luân chuyển vốn

Xét theo quan điểm luân chuyển vốn, tài sản ban đầu của doanh nghiệp được hình thành trước hết bằng nguồn vốn chủ sở hữu, nghĩa là doanh nghiệp

sử dụng số vốn chủ sở hữu của mình để tài trợ tài sản ban đầu phục vụ cho hoạt động kinh doanh Số tài sản ban đầu được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu này không bao gồm số tài sản trong thanh toán (khoản bị chiếm dụng) Mối quan hệ này thể hiện qua đẳng thức:

Vốn chủ sở hữu = Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn (1)

Vốn chủ sở hữu

I Tài sản ngắn hạn

1 Tiền và các khoản tương đương tiền

2 Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

3 Hàng tồn kho

4 Chi phí trả trước ngắn hạn

5 Tài sản ngắn hạn khác

II Tài sản dài hạn

1 Tài sản cố định

2 Bất động sản đầu tư

3 Các khoản đầu tư tài chính dài hạn

4 Chi phí trả trước dài hạn

5 Tài sản dài hạn khác

(Bảng cân đối giữa vốn chủ sở hữu với tài sản)

Cân đối (1) chỉ là cân đối mang tính lý thuyết, nghĩa là với nguồn vốn chủ

sở hữu, doanh nghiệp đủ trang trải các loại tài sản ban đầu phục vụ cho các

Trang 7

hoạt động chủ yếu mà không phải đi vay hoặc chiếm dụng Trong thực tế thương xảy ra một trong hai trường hợp:

+ Vế trái > Vế phải: đồng nghĩa với số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp lớn hơn số tài sản ban đầu Do vậy, số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

dư thừa, không sử dụng hết nên sẽ bị chiếm dụng

+ Vế trái < Vế phải: đồng nghĩa với số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhỏ hơn số tài sản ban đầu Do vậy, để có số tài sản phục vụ cho các hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải đi vay hoặc chiếm dụng từ bên ngoài

Vốn chủ sở hữu + Vốn vay hợp pháp = Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn

Vốn chủ sở hữu và vốn vay

trong hạn

Tài sản

I Vốn chủ sở hữu

II Vốn vay trong hạn

1 Vay và nợ ngắn hạn

2 Vay và nợ dài hạn

I Tài sản ngắn hạn

1 Tiền và các khoản tương đương tiền

2 Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

3 Hàng tồn kho

4 Chi phí trả trước ngắn hạn

5 Tài sản ngắn hạn khác

II Tài sản dài hạn

1 Tài sản cố định

2 Bất động sản đầu tư

3 Các khoản đầu tư tài chính dài hạn

4 Chi phí trả trước dài hạn

5 Tài sản dài hạn khác

(Bảng cân đối giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay trong hạn với tài sản)

Cân đối (2) hầu như không xảy ra mà trên thực tế, thường xảy ra một trong hai trường hợp:

Trang 8

+ Vế trái > Vế phải: đồng nghĩa với số vốn chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp hiện có của doanh nghiệp lớn hơn số tài sản ban đầu, tức là không sử dụng hết số vốn hiện có Do vậy, số dư thừa của doanh nghiệp sẽ bị chiếm dụng

+ Vế trái < Vế phải: trường hợp này, lượng tài sản ban đầu phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lớn hơn số vốn chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp Do vậy, để có đủ tài sản phục vụ cho nhu cầu kinh doanh, doanh nghiệp buộc phải đi chiếm dụng vốn trong thanh toán (chiếm dụng hợp pháp và bất hợp pháp)

Mặt khác, do tính chất cân bằng của Bảng cân đối kế toán, tổng số tài sản luôn luôn bằng tổng số nguồn vốn nên từ cân đối (2) chúng ta có cân đối (3):

Vốn chủ sở hữu + Vốn vay hợp pháp + Nguồn vốn thanh toán

=

Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn + Tài sản thanh toán (3)

Nguồn vốn thanh toán là toàn bộ số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng của đối tác trong thanh toán, bao gồm nguồn vốn thanh toán ngắn hạn và dài hạn

*Phân tích tình hình bảo đảm vốn theo tính ổn định của nguồn tài trợ

Phân tích tình hình đảm bảo vốn theo tính ổn định của nguồn tài trợ được thực hiện dựa trên cơ sở phân chia nguồn hình thành nên tài sản sử dụng trong quá trình

3 Đặc điểm của cty CP ảnh hưởng đến công tác phân tích

3.1 Những ảnh hưởng chung do thông tin đem lại

Lạm phát có thể ảnh hưởng và làm sai lệch thông tin tài chính được ghi nhận trên các báo cáo tài chính khiến cho việc tính toán và phân tích trở lên sai lệch

Chẳng hạn như lạm phát sẽ gây ảnh hưởng đến giá trị của dòng tiền, làm cho dòng tiền ở các năm khác nhau sẽ có một thời giá tiền tệ khác nhau

Trang 9

Điều này làm cho việc so sánh, phân tích số liệu giữa các năm có sự sai lệch

Các yếu tố thời vụ cũng làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của công ty và khiến cho các tỷ số tài chính có khuynh hướng thay đổi bất thường Chẳng hạn vào mùa vụ hàng tồn kho tăng lên cao hơn bình thường nên nếu sử dụng tỷ số vòng quay hàng tồn kho sẽ thấy công ty có vẻ hoạt động kém hiệu quả

Phân tích dựa trên các các tỷ số tài chính phụ thuộc lớn vào tính chính xác của các báo cáo tài chính Điều này bị ảnh hưởng lớn bởi các nguyên tắc kế toán.Tuy nhiên nguyên tắc và thực hành kế toán lại có thể khác nhau giữa các công ty, các ngành, các quốc gia và các thời kỳ khác nhau Do đó các nguyên tắc thực hành kế toán có thể làm sai lệch và làm mất đi ý nghĩa của các tỷ số tài chính

Các nhà quản lý có thể lợi dụng nguyên tắc kế toán để chủ động tạo ra các tỷ số tài chính như ý muốn của mình khiến cho việc phân tích báo cáo tài chính không còn là công cụ đánh giá khách quan

Đôi khi công ty có vài tỷ số rất tốt nhưng vài tỷ số khác lại rất xấu làm cho việc đáng giá chung tình hình tài chính của công ty trở lên khó khăn và kém ý nghĩa

Có nhiều công ty quy mô rất lớn và hoạt động đa ngành, thậm chí là những ngành nghề rất khác nhau nên khó xây dựng và ứng dụng hệ thống

tỷ số bình quân ngành có ý nghĩa tại các công ty này Do đó phân tích báo cáo tài chính thường có ý nghĩa nhất trong các công ty nhỏ và không có hoạt động đa ngành

Hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất và đồng bộ về công thức của một số chỉ tiêu trong các sách, tài liệu về phân tích báo cáo tài chính Điều này làm cho việc so sánh số liệu được phân tích giữa các nguồn khác nhau tiềm ẩn nhiều rủi ro

3.2 Ảnh hưởng từ đặc điểm công ty dến việc phân tích

Trang 10

Trong tất cả các loại hình doanh nghiệp thì chỉ có công ty cổ phần mới thể hiện rõ nét và cần quan tâm nghiên cứu ba quyết định chủ yếu là quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn và quyết định phân phối lợi nhuận Tài chính các loại hình doanh nghiệp khác nói chung cũng có ba loại quyết định này nhưng việc ra quyết định này không phức tạp bằng công ty cổ phần Vì sao lại như vây?

Chẳng hạn, một tiệm photocopy hoạt động trước cửa trường Đại học cũng

là một doanh nghiệp Nhưng vì quy mô nhỏ và hoạt động tài chính của nó quá đơn giản nên việc nghiên cứu và phân tích cũng sẽ đơn giản

Còn đối với Doanh nghiệp Nhà nước và công ty tư nhân có quy mô lớn thì sao?

Mặc dù doanh nghiệp Nhà nước và một số doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn có hoạt động tài chính phức tạp nhưng đối với loại hình doanh nghiệp này nguồn vốn do Nhà nước hoặc cá nhân bỏ ra và lợi nhuận làm ra đương nhiên thuộc người nào đó bỏ ra vốn Do đó, các quyết định nguồn vốn và phân phối lợi nhuận đối với loại hình doanh nghiệp này cũng đơn giản hơn đối với công ty cổ phần

Quyết định tài chính của công ty cổ phần tiêu biểu hơn, rộng hơn, bao quát hơn và phức tạp hơn các doanh nghiệp nói chung Vì loại hình công ty cổ phần có hình thức huy động vốn rộng rãi nhất so với tất cả các loại hình công ty khác và số người sở hữu công ty cũng thường là đông nhất Việc huy động vốn có thể từ các cổ đông sáng lập, từ lợi nhuận giữ lại, từ vay cá nhân, vay tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu, bán cổ phiếu và các loại chứng khoán khác ra bên ngoài Chính vì vậy, các quyết định tài cũng sẽ phức tạp Bởi việc lựa chọn nguồn vốn như thế nào? Cơ cấu bao nhiêu là phù hợp? Hiệu quả kinh doanh được đánh giá ra sao? Các câu hỏi đều phải thông qua phân tích tài chính để đánh giá Và việc phân tích tài chính loại công chắc chắn phải phức tạp hơn các doanh nghiệp khác

Cũng như các doanh nghiệp khác, công ty cổ phần cũng cần phân tích các chỉ tiêu như:

+ Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán như:

Ngày đăng: 04/03/2016, 00:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w