Chúng ta có thể điểm qua vài cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ lớn trong thời gian qua như: Khủng khoảng tiền tệ gắn liền với cuộc đại suy thoái kinh tế Thế giới 1929-1933; khủng hoảng
Trang 1LỜI GIỚI THIỆU
Mọi sự vật trong thế giới của chúng ta luôn luôn thay đổi, vận động và phát triển không ngừng Nền kinh tế cũng như vậy, nó luôn luôn biến đổi có những lúc phát triển hưng thịnh nhưng có những lúc khủng hoảng nghiêm trọng Nhắc đến khủng hoảng kinh tế thì không thể không nắc đến khủng hoảng tài chính tiền tệ.
Lịch sử tài chính tiền tệ của Thế giới trong thế kỷ XX đã phải chứng kiến nhiều đợt khủng hoảng, làm rung động toàn bộ hệ thống kinh tế tài chính của các nước trong khu vực, thậm chí có những cuộc khủng hoảng còn gây tác động mạnh mẽ trên phạm vi toàn Thế Giới Chúng ta có thể điểm qua vài cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ lớn trong thời gian qua như: Khủng khoảng tiền tệ gắn liền với cuộc đại suy thoái kinh tế Thế giới 1929-1933; khủng hoảng tài chính tiền tệ Quốc tế năm 1967 với sự phá giá đồng Bảng Anh; khủng hoảng tài chính tiền tệ Mexico với sự ảnh hưởng rộng lớn và rất nghiêm trọng đến các nước Châu Mỹ La tinh cuối năm 1994; khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm
1997 – 1998 và gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm
2008-2009 Sự lan rộng của cuộc khủng hoảng này cùng với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế thì chắc chắn sẽ có những tác động đáng kể đến hệ thống tài chính ngân hàng, chính sách vĩ mô của Việt Nam đồng thời cũng đem đến những bài học kinh nghiệm ý nghĩa.
Những phân tích cụ thể và chi tiết hơn cuộc khủng hoảng tài chính
1997-1998 cùng những bài học kinh nghiệm sẽ được nhóm nghiên cứu trình bày trong những phần kế tiếp sau đây.
Trang 2I Diễn biến của khủng hoảng kinh tế - tài chính 1997-1999 ở một số nước Châu Á
Hình ảnh của khủng hoảng kinh tế - tài chính 1997 – 1999 ở một số nước Châu Á Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính ở Châu Á nổ ra năm 1997 trước hết xuất phát từ Thái lan Ngày 2/7/1997, Ngân hàng trung ương Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Baht, chấm dứt một thời kỳ dài duy trì chế dộ tỷ giá hối đoái gần như cố định so với đồng USD Tỷ giá hối đoái Baht/USD: năm 1991 là 25,28 năm 1992: 25,32 năm 1993: 25,54 năm 1994: 25,09 năm 1995: 25,19 năm 1996: 25,61
Ngay khi đồng Baht bị tuyên bố thả nổi, nó mất giá 20% Tháng 1/1998 tỷ giá hối đoái đạt mức 53 Baht/usd
Ngày 11/7/1997, Philippiné tuyên bố thả nổi đồng Peso
Ngày 11/8/1997, Malaysia tuyên bố không can thiệp và thị trường hối đoái (thực chất
là thả nổi đồng Ringgit)
Ngày 14/8/1997, Indonesia tuyên bố thả nổi đồng Rupiah
Năm 1996, tỷ giá bình quân đồng Won của Hàn Quốc là 844,2 Won/usd thì ngày 30/09/1997 là 914,8 Won/usd, ngày 14/12/1997 đồng Won được thả nổi Ngày 23/12/1997 đạt kỷ lục 200 Won/usd
Có thể nói sự mất giá nhanh với qui mô chua từng có của những đồng tiền Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia và Hàn Quốc là biểu hiện bên ngoài dễ nhận thấy nhất của sự bùng nổ khủng hoảng kinh tế - tài chính ở các nước này
Bảng 1
Biểu hiện bên ngoài thứ hai của tình trạng khủng hoảng kinh tế - tài chính là sự thua lỗ phá sản với tốc độ và quy mô bất thường của hệ thống ngân hàng, tài chính quốc gia Bảng 2:
Quốc gia Số ngân hàng
Số ngân hàng
bị đình chỉ hoạt động
Số ngân hàng
bị quốc hữu hóa/Chính phủ giám sát
Số ngân hàng
bị sáp nhập
Số ngân hàng
bị bán cho nước ngoài
Trang 3Indonesia 228 16 56 11
Biểu hiện bên ngoài thứ ba của tình trạng khủng hoảng kinh tế tài chính là sự thua lỗ
và phá sản với quy mô và tốc độ bất thường của các doanh nghiệp
Bảng 3:
Quốc gia Thời gian Số doanh nghiệp phá sản
Thái Lan Tháng 1/1998 3.961 doanh nghiệp ngừng hoạt động
Tháng 5/1998 trong đó 582 phá sản
Năm 1997 6.583 doanh nghiệp phá sản Indonesia Năm 1998 Khoảng 80% doanh nghiệp ngưng hoạt động
Hàn Quốc Năm 1997 14.000 doanh nghiệp phá sản
Năm 1998 53.000 doanh nghiệp phá sản
Sự phá sản của hàng loạt ngân hàng, doanh nghiệp sẽ dẫn đến hai hậu quả trực tiếp là
số người thất nghiệp tăng mà và tăng trưởng kinh tế quốc gia giảm sút
Bảng 4:
Quốc gia Tăng trưởng kinh tế (%) Tỷ lệ thất nghiệp (%)
Năm 1996, tổng thu nhập quốc gia của Hàn Quốc là 528 tỷ USD, năm 1998 giảm chỉ còn 317 tỷ USD, giảm 39%, thu nhập quốc gia đầu người giảm từ 11.380 usd xuống còn 6.823 usd
Về mặt kinh tế, khủng hoảng 1997-1999 ở bốn nước Thái lan, Malaysia, Indonesia và Hàn Quốc có đặc điểm giống nhau về xu hướng diễn biến của năm tham số:
1 Tỷ gía hối đoái tăng mạnh, ngoài tầm kiểm soát
2 Phá sản hàng loạt các ngân hàng, công ty tài chính
Trang 43 Phá sản hàng loạt các doanh nghiệp
4 Thất nghiệp tăng mạnh
5 Tăng trưởng kinh tế giảm mạnh
Tuy nhiên còn một số tham số khác như chỉ số lạm phát, dòng vốn vào thuần,
nợ nước ngoài, lãi suất cho vay, xuất nhập khẩu, diễn biến ở các nước lại có xu hướng khác nhau
II Khủng khoảng kinh tế - tài chính 1997 - 1999 phản ánh một sự lạc hậu
về lý thuyết kinh tế vĩ mô
Cuộc khủng khoảng kinh tế - tài chính ở một số nước châu Á năm 1997 - 1999 không những gây ra những chấn động về kinh tế, xã hội ở mỗi nước, ảnh hưởng đến các nước khác ở khu vực, mà còn tạo ra một chấn động về lý luận kinh tế Trước đó, giới khoa học kinh tế và hcính trị ở nhiều nước và chuyên gia kinh tế ở nhiều tổ chức quốc tế vẫn coi sự phát triển kinh tế với tốc độ cao từ 7-9%/năm, kéo dài hàng chục năm ở Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc là sự kỳ diệu của Châu Á Đến năm
1007 không có dự báo, cảnh báo điều sẽ xảy ra sau sáu tháng và kéo dài suốt hai năm, đồng Baht và Rupiah, đồng Ringgit, đồng won bị phá giá với tốc độ chưa từng có; hàng chục ngàn doanh nghiệp, hàng trăm ngân hàng, công ty tài chính bị phá sản, đình chỉ hoạt động; sáp nhập, hàng triệu lao động mới bị thất nghiệp; ở Thái Lan, Indonesia, Philippines, Hàn Quốc phải bầu Thủ tướng hay Tổng thống mới Tăng trưởng kinh tế từ 7-8%/năm trở thành âm 6-13% (bảng 4)
Một chấn động như vậy, một quả bom kinh tế nổ ra ở một loạt nước mà giới quản lý và khoa học về kinh tế đã không nhận biết và dự báo được Điều đó phản ánh một sự lạc hậu về lý thuyết kinh tế vĩ mô Câu hỏi đặt ra với người dân, nhà doanh nghiệp, người quản lý chính quyền và giới khoa học là tại sao xảy ra khủng khoảng dữ dội như vậy, và tại sao nó lại có thể xảy ra ở những nước đó mà không ở nước khác?
Có người gọi là khủng hoảng tiền tệ, có người gọi đó là khủng hoảng kinh tế Người ta muốn tìm ra nguyên nhân, muốn tìm ra các lý do A, B, C để dẫn kết cục D (khủng hoảng) Trên cơ sở nghiên cứu diễn biến của nền kinh tế các nước trước và trong khủng hoảng, chúng tôi đã chọn một cách tiếp cận khác để lý giải cuộc khủng hoảng này Chúng tôi không tìm lý do của khủng hoảng theo kiểu lôgic "nếu A thì B",
mà coi khủng hoảng là kết quả của một quá trình tích luỹ các tiền đề có thể gây khủng hoảng từ mức thấp tới cao, là một quá trình chuyển biến đổi lượng thành chất Tức là quá trình khủng hoảng có thể được khởi động từ rất lâu bởi các thay đổi có quy mô nhỏ hàng năm, có vẻ rất không nguy hiểm, song được tích luỹ dần dần và tiến tới bùng
nổ do sự chín muồi bên trong nền kinh tế hoặc trước một số tác động bên ngoài
Theo hướng đó, chúng tôi đã xây dựng mô hình "các nguy cơ khủng hoảng và
cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh tế - tài chính" qua đó chỉ rõ bốn yếu tố tiền đề của nguy cơ khủng hoảng kinh tế - tài chính trước khi xảy ra khủng hoảng và bốn vòng xoáy khủng hoảng khi nổ ra khủng hoảng kinh tế - tài chính Việc xây dựng các mô hình này dựa trên sự phân tích các quan hệ kinh tế vĩ mô và vĩ mô, đồng thời vận dụng phương pháp sơ đồ khối, mô phỏng của điều khiển học Việc kết hợp này không làm cho việc lý giải quá trình khủng hoảng phức tạp hơn, mà lại đơn giản và rõ ràng hơn là chỉ dùng chữ và công thức, bảng số liệu, đồ thị
Trên cơ sở phương pháp tiếp cận này, chúng tôi đã phân tích cụ thể quá trình hình thành các nguy cơ khủng hoảng và diễn biến của khủng hoảng kinh tế - tài chính
Trang 5ở bốn nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Hàn Quốc, qua đó chỉ rõ ở ba nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Hàn Quốc đã xuất hiện, tích luỹ cả bốn nguy cơ khủng hoảng vào đầu và giữa năm 1997, còn ở Malaysia chỉ có một nguy cơ khủng hoảng được tích luỹ
III Mô hình "Các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh tế - tài chính".
Trên cơ sở nghiên cứu, xây dựng mô hình các yếu tố nguy cơ dẫn đến khủng hoảng và phân tích thực tiễn diễn biến khủng hoảng ở các nước Thái Lan, Hàn Quốc chúng tôi đã xây dựng mô hình "Các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh tế - tài chính" theo sơ đồ 3.1
Qua đó ta thấy, khủng hoảng chỉ có thể nổ ra khi bên trong nền kinh tế quốc gia
đã tích luỹ bốn nguy cơ khủng hoảng là :
-Sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp;
-Sự kém hiệu quả các các ngân hàng, công ty tài chính;
-Sự lên giá của đồng nội tệ;
-Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán
Và khi bên ngoài có một tác động quyết định là sự rút vốn tài chính của các nhà đầu tư nước ngoài
Tích luỹ nguy cơ khủng hoảng
Sự kém hiệu quả các DN
Sự kém hiệu quả các Ngân hàng
Đồng nội tệ bị lên giá
Nguy cơ QG mất
khả năng thanh toán
Nội tệ mất giá nhanh, ( Tỷ giá hối đoái tăng)
Khủng hoảng
DN phá sản hàng loạt
Ngân hàng phá sản hàng loạt
Người dân rút tiền tiết kiệm, mua ngoại tệ, vàng
Các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn
Các nước bị khủng hoảng
Phá giá nội tệ
Ảnh hưởng do các nhà đầu tư nước ngoài và các nước khủng hoảng gây ra
Trang 6Khi đồng nội tệ bị lên giá do quốc gia duy trì tỷ giá hối đoái gần như cố định quá lâu, yếu kém về xuất khẩu, giữ lãi suất cho vay trong nước cao hơn lãi suất các đồng tiền mạnh ở nước ngoài thì trước sau nguy cơ mất khả năng thanh toán sẽ ngày càng lớn, khả năng giữ tỷ giá hối đoái cố định sẽ ngày càng suy yếu và việc phải thả nổi đồng tiền nội địa, tức tăng tỷ giá hối đoái chỉ còn là vấn đề thời gian
Khi một số nhà đầu tư nước ngoài tiên đoán Chính phủ nước sở tại sắp hết dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái cố định thì họ sẽ bán tài sản họ đã đầu tư, đổi lấy ngoại tệ mang ra nước ngoài Lúc đầu, Chính phủ các nước thường bán dự trữ ngoại tệ
để duy trì tỷ giá cũ, song đến một lúc nào đó, không còn khả năng bán nữa thì sẽ thả nổi tỷ giá hối đoái Lúc này các nhà đầu tư nước ngoài chưa bán tài sản (cổ phần, trái phiếu, tín phiếu) thì sẽ tìm cách bán thật nhanh và đổi sang ngoại tệ mạnh để tối thiểu hoá thiệt hại của mình Áp lực này càng làm cho tỷ giá hối đoái tăng vọt Đó là vòng xoáy khủng hoảng thứ 1, tác động rất nhanh tới tỷ giá hối đoái ( Sơ đồ 3.1)
Khi tỷ giá hối đoái tăng vọt thì nợ nước ngoài của các ngân hàng, công ty tài chính tính bằng đồng tiền nội địa sẽ tăng vọt theo, trong khi đó người dân lại đổ xô đi rút tiền tiết kiệm ra khỏi ngân hàng Các ngân hàng, vốn làm ăn đã kém hiệu quả sẽ nhanh chóng mất khả năng chi trả, phá sản (Sơ đồ 3.1)
Và việc chỉ vài ngân hàng phá sản, sẽ gây tâm trạng lo âu cho các người dân gửi tiền tiết kiệm ở ngân hàng khác, họ sẽ lại chạy đi rút tiền tiết kiệm ra khỏi ngân hàng, dẫn đến cả các ngân hàng làm ăn hiệu quả cũng có thể lâm và tình trạng mất khả năng chi trả, phá sản Đó là vòng xoáy khủng hoảng thứ 3, tác động nhanh ( Sơ đồ 3.1)
Khi tỷ giá hối đoái tăng mạnh, nợ ngoại tệ của các doanh nghiệp tính bằng tiền nội địa sẽ tăng vọt, cùng với việc các ngân hàng, công ty tài chính phá sản sẽ không có khả năng cung ứng tín dụng cho các doanh nghiệp hoạt độn nữa Các doanh nghiệp nào hoạt động vốn đã kém hiệu quả thì giờ đây sẽ không có đủ vốn để kinh doanh, càng sớm bị đẩy tới thua lỗ và phá sản Khi doanh nghiệp thua lỗ thì các ngân hàng, công ty tài chính lại không đòi được nợ, sẽ càng phá sản nhanh hơn Đó là vòng xoáy khủng hoảng thứ 4, tác động chậm hơn các vòng trước ( Sơ đồ 3.1)
Khi một nước bị khủng hoảng dẫn tới hậu quả là tỷ giá hối đoái của nước đó tăng mạnh, thì tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu từ nước đó tăng, làm cho xuất khẩu của cán nước có tỷ giá hối đoái ổn định bị ảnh hưởng xấu Điều này làm cho cán cân thương mại của nước này bị thâm hụt, khả năng thanh toán của quốc gia càng suy yếu Đây là áp lực buộc các nước này phải phá giá đồng nội tệ để đẩy mạnh xuất khẩu, phòng ngừa mất khả năng thanh toán ( Sơ đồ 3.1) Có thể gọi đây là tác động dây chuyền của việc phá giá nội tệ của một nước tới các nước khác
Tóm lại, từ mô hình “Các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh
tế tài chính”, chúng ta nhận thấy khủng hoảng kinh tế tài chính” kiểu châu á 1997-1999” đã nổ ra với các điều kiện bên trong là sự tích luỹ 4 nguy cơ khủng hoảng, với
sự xuất hiện và tác động lẫn nhau của 4 vòng xoáy khủng hoảng và dưới tác động dây truyền của phá giá nội tệ
Trình tự xuất hiện của vòng xoáy khủng hoảng ở mỗi nước, tiến trình khủng hoảng ở mỗi nước có khác nhau, tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể ( Mức độ tích luỹ các nguy cơ khủng hoảng) và chính sách đối phó của mỗi nước
Chúng ta sử dụng thuật ngữ khủng hoảng kinh tế tài chính, vì:
Trang 7-Nó liên quan đến yếu tố nền tảng của nền kinh tế mỗi quốc gia là hoạt của các
doanh nghiệp, ngân hàng và hiệu quả kinh tế của chúng ( Khía cạnh kinh tế)
- Nó liên quan đến chính sách tỷ giá hối hoái, đến khả năng thanh toán của quốc
gia và sự đầu tư tài chính của nước ngoài ( khía cạnh tài chính)
- Sự tác động lẫn nhau giữa các yếu tố trên trong quá trình khủng hoảng ( kinh
tế - tài chính)
IV Khủng hoảng kinh tế - tài chính ở Thái Lan
4.1 Tình hình kinh tế Thái Lan trước khủng hoảng.
- GDP tăng cao, lien tục xuất khẩu phát triển: Thái Lan bắt đầu thời kỳ công nghiệp
hoá đât nước từ 1961, khi bắt đầu kế hoạch phát triển năm lần thứ nhất Tốc độ tăng
trưởng GDP trong thập niên 60 khoảng 8%/năm, trong thập niên 70 khoảng 7%/năm
và trong thập niên 80 khoảng 8%/năm Tổng sản phẩm nội địa theo đầu người tăng từ
mức 440USD năm 1955 lên 3.012USD năm 1996
Nông nghiệp chiếm tỷ trọng 39% trong nền kinh tế năm 1961 giảm xuống còn
26,7% năm 1976 và chỉ còn 10,4% năm 1996
Thái Lan đã thực thi một chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu từ thập niên
80 Năm 1986 đến 1990 tốc độ tăng trưởng bình quân là 28%/năm Năm 1992 và 1993
khoảng 13%/năm Năm 1994-1995 khoảng 20%/năm Năm 1996 tăng trưởng xuất
khẩu hàng hoá và dịch vụ chỉ còn 3,4 % so với năm 1995
Giá trị xuất khẩu theo đầu người đạt 63USD/ người năm 1991, đã tăng lên
1.177USD/ người năm 1996
Như vậy, nhìn vào mức độ tăng trưởng GDP của Thái Lan suốt hơn 3 thập kỷ từ
1961 đến 1996 ta thấy rất đáng yên tâm, vì tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm luôn
từ 7% đến 8% Tuy nhiên, chỉ tiêu GDP mới phản ánh đầu ra của nền kinh tế mà chưa
đề cập đến đầu vào Đầu vào chính là đầu tư
Bảng 4.1:
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Tăng trưởng(%)
GDP (a) 7,00 7,10 8,20 8,60 8,70 6,70 0,40 8,30 1,00
Tỷ giá hối đoái
Baht/USD 25,28 25,32 25,54 25,00 25,19 25,61 47,25 41,37 37,11 Lạm phát (%) 3,70 4,10 4,60 5,10 5,80 4,80 5,60 8,10 5,02 Xuất khẩu (Tỉ USD) 28,23 32,30 36,40 44,47 55,40 54,60 56,70 52,90
Nhập khẩu (Tỉ USD) (34,22) (35,26) (40,09) (48,20) (63,40) (63,90) (55,10) (40,60)
Cán cân thương mại
(Tỉ USD) (5,90) (4,16) (4,30) (3,70) (7,70) (9,50) 1,50 12,30 36,26 Cán cân tài khoản
vãng lai (Tỉ USD) (7,59) (6,30) (6,36) (8,08) (11,55) (14,69) (3,02) 14,30 7,20 Cán cân tài khoản
vốn (Tỉ USD) 11,76 9,47 11,50 12,17 21,90 19,50 (15,80) (9,50) 85,29 Đầu tư trực tiếp
thuần ( Tỉ USD) 1,85 1,57 1,57 0,87 1,13 1,41 3,34 8,84 Đầu tư tài chính
thuần (Trái phiếu, cổ
phiểu, Tỉ USD) (0,08) 0,92 5,45 2,48 4,18 3,54 4,36 16,40 Đầu tư khác thuần
(Tỉ USD) 9,99 6,58 3,47 8,81 16,64 14,54 (23,51) 60,04
Nợ nước ngoài (Tỉ
USD) 35,99 39,61 45,84 50,99 65,00 89,00 97,00
Trang 8Nợ ngắn hạn (Tỉ
Dự trữ ngoại tệ (Tỉ
USD) 18,40 21,20 25,40 30,30 32,20 38,20 27,00 29,50
Đầu tư cố định tính
bằng % GĐP (b) 38,00 3,50 39,90 40,10 42,80 39,80 39,10 40,00 ICOR (b/a) 5,40 5,56 4,86 4,65 4,92 5,94 5,20
Trong thời kỳ 1991 – 1996, đầu tư của Thái Lan rất cao, hàng năm chiếm bình
quân 40% GDP ( Bảng 4.1) Tăng trưởng cao, mà chi phí tăng trưởng thấp thì mới bền
vững Tăng trưởng cao dựa trên hiệu quả kinh tế cao của sản xuất kinh doanh mới lâu
bền Bình quân từ 1991 tới 1996, hệ số ICOR của kinh tế Thái Lan là 5,22 (Bảng 4.1)
Tức là phải đầu tư 5,22 Baht thì GDP mới tăng 1 Baht
Các doanh nghiệp kinh doanh ngày càng kém hiệu quả.
Tăng trưởng GDP ở mức cao, kéo dài nhiều thập kỷ, cộng với lãi suất tiết kiệm
trong nước cao (bình quân 16,3% năm, trong khi ở Mỹ là 7,6), và tỷ giá hối đoái gần
như cố định đã tạo nên một môi trường kinh doanh rất hấp dẫn các nhà đầu tư nước
ngoài, đặc biết là đầu tư tài chính, cho vay ngắn hạn và tín dụng thương mại Như vậy,
các doanh nghiệp trong nước, nếu vay vốn trực tiếp từ các ngân hàng, công ty nước
ngoài như Mỹ thì chỉ chịu lãi suất khoảng ½ lãi suất cho vay trong nước Nếu các
doanh nghiệp tận dụng khả năng sử dụng vốn bên ngoài này không quan tâm thực sự
đến hiệu quả sử dụng vốn vay thì hiệu quả kinh tế sẽ giảm, dù tổng giá trị sản lượngcó
thể tăng
Một điểm đặc biệt ở Thái Lan là trong giai đoạn 1991 – 1996, đầu tư trực tiếp
của nước ngoài vào Thái Lan chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với đầu tư tài chính (gián tiếp)
và sử dụng vốn vay ngắn hạn của nước ngoài (Bảng 4.1)
Tổng đầu tư trực tiếp thời kỳ này là 11,701 tỷ USD, tổng đầu tư trực tiếp của
Thái Lan ra nước ngoài là 2,857 tỷ USD, do vậy tổng đầu tư trực tiếp thuần là 8,844 tỷ
USD (Bảng 4.1)
Trong khi đó, tổng đầu tư tài chính thuần (cổ phần, trái phiếu) là 16,4 tỷ USD,
và tổng vay ngắn hạn thuần là 60,04 tỷ USD Như vậy, trong tổng số vốn nước ngoài
thuần đã đổ vào Thái Lan thời kỳ 1991 – 1996 là 85, 293 tỷ USD thì đầu tư trực tiếp
chỉ chiếm 10,36% (8,844 tỷ USD), đầu tư gián tiếp 19,23% (16,404 tỷ USD) và tín
dụng, vay ngắn hạn tới 70,4% (60,045 tỷ USD) (Bảng 4.1)
Việc sử dụng đến gần 90% nguồn vốn nước ngoài ở dạng đầu tư tài chính và tín
dụng ngắn hạn sẽ tạo áp lực tài chính rất lớn lên các công ty, vì phải trả lãi thường
xuyên bằng ngoại tệ (với tín dụng ngắn hạn) Hậu quả, là nếu quản lý kinh doanh
không tốt thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của các công ty sẽ thấp
Năm 1991, tổng đầu tư tài chính thuần và tín dụng ngắn hạn là 9,913 tỷ USD,
gấp 5,36 lần tổng đầu tư trực tiếp (1,847 tỷ USD), đến năm 1996, là 18,079 tỷ USD,
gấp 12 lần tổng đầu tư trực tiếp thuần (1,405 tỷ USD)
Thế nhưng, tỷ suất thu hồi hay tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) bình quân
của các doanh nghiệp đã giảm từ 8%/năm vào năm 1991 xuống chỉ còng 1%/năm vào
năm 1996[7] Trong một nền kinh tế mà lãi suất cho vay là 16,3%/năm, còn hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp là 1%/năm thì rõ ràng là đã đang tích lũy nguy cơ khủng
hoảng “phá sản doanh nghiệp” (Sơ đồ 3.1)
Trang 9 Ngân hàng kinh doanh ngày càng kém hiệu quả
Trước nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và do có phần buông lơi vai trò giám sát hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp đi vay nên các ngân hàng và công ty tài chính Thái Lan đã rất tích cực vay nợ từ nước ngoài để tài trợ cho doanh nghiệp trong nước
Tổng số nợ nước ngoài của hệ thống ngân hàng Thái Lan so với cung tiền M2
đã tăng từ 2,8% năm 1991 lên 28,69% năm 1996 Tổng số nợ nước ngoài so với tổng số tài sản nước ngoài mà hệ thống ngân hàng có đã tăng từ 171% năm 1991 lên 694% năm 1996 [5, tr.706] Trong cùng thời gian này, tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản (ROA) của hệ thống ngân hàng Thái Lan đã giảm chỉ còn 0,99% năm [7] Rõ ràng, Thái Lan đang tích lũy nguy cơ khủng hoảng "phá sản các ngân hàng" (Sơ đò 3.1)
Quốc gia tiến đến bờ vực mất khả năng thanh toán
Trong suốt các năm 1991 - 1996, cán cân thương mại của Thái Lan luôn bị thâm hụt, tổng cộng là 35,26 tỷ USD (Bảng 4.1) Thâm hụt tài khoản vãng lai năm
1996 tới 14,7 tỷ USD Một lý do của tình trạng này là do xuất khẩu bì kềm hãm, nhập khẩu được khuyễn khích khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa gần như cố định (25 Baht/USD), lạm phát trong nước cao hơn so với Mỹ (5% so với 3%), làm cho đồng Baht bị lên giá so với đồng USD Năm 1996, sự lên giá của đồng Baht tới 25% Để
bù đắp khoản thâm hụt thương mại 35,26 tỷ USD và để có vốn đầu tư với mức bình quân 40% GDP mỗi năm, thì con đường không tránh khỏi là phải vay tiền nước ngoài (từ các ngân hàng, doanh nghiệp, nhà đầu tư tài chính, chính phủ của các nước, ) Vì vậy, nợ nước ngoài của Thái Lan không ngừng tăng, từ 35,99 tỷ USD năm 1991 lên 89 tỷ USD năm 1996, gấp 2,47 lần trong vòng 5 năm và bằng 54% GDP Mặc dù số nợ này còn được dùng cả để tăng dự trữ quốc gia, từ 18,4 tỷ USD năm 1991 lên 38,7 tỷ USD năm 1996, song do đầu tư tài chính và tín dụng ngắn hạn chiếm 90% tổng vốn đầu tư từ nước ngoài hàng năm, nên số nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng tới 67% tổng số nợ nước ngoài năm 1995 và 51% năm 1996, và nợ ngắn hạn năm 1995 và năm 1996 gấp gần 1,18 lần dự trữ ngoại tệ của quốc gia Tức là Thái Lan thực tế đã mất khả năng thanh toán nợ nước ngoài từ 1995 Nếu các nhà đầu tư Thái Lan cũng phải thả nổi đồng nội địa Baht, thì chính họ sẽ bán cổ phiếu, trái phiếu, đòi nợ ngắn hạn, đổi từ tiền Baht ra USD, làm tăng cầu ngoại tệ đột ngột Kết quả là tỷ giá hối đoái sẽ tăng, dự trữ ngoại tệ cạn kiệt, nguy cơ mất khả năng thanh toán của quốc gia sẽ ngày càng cao Đến tháng 6, 1997, trước khi
nổ ra khủng hoảng, nợ nước ngoài ngắn hạn đã bằng 1,5 lần dự trữ ngoại tệ của Thái Lan
Tóm lại, cuối năm 1996 và đầu 1997, ở Thái Lan đã xuất hiện đầy đủ 4 nguy
cơ khủng hoảng ở mức cao (Sơ đồ 4.1 và Bảng 4.1)
4.2 Diễn biến khủng hoảng kinh tế - tài chính ở Thái Lan
Khi đã xuất hiện 4 nguy cơ khủng hoảng, những người có đủ thông tin về các nguy cơ này tất sẽ lo lắng Lo sợ các ngân hàng và tổ chức tài chính phá sản sẽ thúc đẩy họ rút tiền ra khỏi các tổ chức này Lo sợ tỷ giá hối đoái tăng, đồng tiền Baht mất giá sẽ khiến họ đổ xô đi mua USD, làm cầu USD tăng
Thực tế ở Thái Lan, từ đầu năm 1997 đến tháng 3.1997, người dân và các nhà đầu tư bắt đầu rút vốn của mình ở dạng tiền mặt ra khỏi các ngân hàng và công ty
Trang 10tài chính, buộc chính phủ phải đóng cửa thị trường chứng khoán một ngày 3.3.1997
và yêu cầu mọi tổ chức tài chính phải tăng thêm dự trữ tiền mặt, và công bố 10 công ty tài chính đang ở trạng thái không bình thường (Unico Housing Co.Ltd; Thai - Fuji; Royal International; Sri Dhana; Eastern Finance; Country )
Ngày 4 và 5.3.1997, hơn 21,4 tỷ Baht (820 triệu USD) đã được rút khỏi các ngân hàng và công ty tài chính
Sau đó một tháng, ngày 9.4.1997, tỷ giá hối đoái tăng lên 26,08 Baht/USD, mức cao nhất từ 1991
Ngày 25.6.1997, chính phủ đa ra lệnh đóng cửa 16 công ty tài chính, nâng tổng số công ty tài chính bị đóng cửa lên 58/91 (64%) toàn quốc Để giữ tỷ giá hối đoái trong điều kiện số lượng ngoại tệ được đặt mua tăng vọt, chính phủ đã phải bán ngoại tệ, làm dự trữ ngoại tệ giảm mạnh từ 38,78 tỷ USD tháng 6.1996 còn 37,7 tỷ vào tháng 12.1996 và còn 31,4 tỷ USD vào 30.6.1997
Nếu mức độ giảm sút dự trữ quốc gia của quý 2.1997 kéo dài thêm 2-3 quý nữa thì lúc đó dự trữ ngoại tệ quốc gia chỉ còn 10 tỷ USD, bằng 1/3 mức dự trữ ngoại tệ năm 1996, và chính phủ sẽ buộc phải thả nổi tỷ giá hối đoái vì hoàn toàn không còn khả năng bán ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái
Có lẽ thấy trước nguy cơ này, ngày 2.7.1997, chính phủ Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Baht, kết quả là tỷ giá tăng từ 25 Baht/USD vào tháng 6.1997 lên 53 Baht/USD vào tháng 1.1998 tức là tăng 112% trong vòng 6 tháng (Hình 4.1)
Như vậy, cuộc khủng hoảng ở Thái Lan bùng nổ do sự hoạt động trước hết của vòng xoáy khủng hoảng số 3 (Sơ đồ 4.1), khi người dân và các nhà đầu tư rút vốn khỏi các ngân hàng và các công ty tài chính, kế đó là tác động của vòng xoáy khủng hoảng số 2 và 1 (Sơ đồ 4.1), khi họ đổi đồng Baht lấy ngoại tệ USD, làm tỷ giá hối đoái tăng vọt Chỉ trong năm 1997, hơn 22 tỷ USD cho vay ngắn hạn đã được thu hồi và rút khỏi Thái Lan [6, tr.710] Sự phá sản của các ngân hàng, công
ty tài chính và sự tăng vọt của tỷ giá hối đoái sẽ làm cho các doanh nghiệp vốn đã kém hiệu quả bị thua lỗ, phá sản (Sơ đồ 3.5) Trong năm tháng đầu 1998, gần 4000 doanh nghiệp ở Thái Lan bị phá sản (Bảng 1.3), tạo nên vòng xoáy khủng hoảng số
4 (Sơ đồ 4.1)
Sự phá sản của các doanh nghiệp, tuy tác động chậm hơn, song sẽ lại thúc đẩy quả trì páh sản các ngân hàng công ty tài chính, vòng xoáy khủng hoảng số 4 (sơ
đồ 4.1)
Trong tổ số 108 ngân hàng, công ty tài chính của Thái Lan, từ tháng 4/1997 đến thang 3/1998, 64 ngân hàng, công ty tài chính có vấn đề (chiếm 59%), trong đó
56 bị đình chỉ hoạt động, 4 bị quốc hữu hóa hoặc chính phỉ giám sát và bị bán cho công ty nước ngoài
Như vậy, tiế trình bùng nổ khủng hoảng kinh tế tài chính ở Thái Lan có thể được mô tả như sơ đồ 4.1 Việc ghi muức thừi gian chỉ có tính tương đối, vì các quá trình đan xen và nhau và việc bắt đầu mỗi vòng xoáy khủng hoảng đều diễn ra
ở quy mô nhỏ từ trước các mốc thời gian
Dưới tác động của vòng xoáy khủng hoảng số 2 và 1, tỷ giá hối đoái đã tăng vọt từ khoảng 25 Bath/usd và tháng 6/1997 lên 53 Baht/usd vào 31/12/1997, sau đó
ty có giảm song vẫn ở mức trên 38 Baht/usd vào 30/0401998