1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai

167 762 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Loại hình du lịch cộng đồng đã được triển khai tại một số địa phương và bước đầu thu được kết quả khả quan như bản Lác Mai Châu - Hòa Bình của người Thái; Suối Voi, xã Lộc Tiên Phú Lộc -

Trang 1

Đào Ngọc Anh

B¶O TåN Vµ PH¸T HUY DI S¶N V¡N HãA NG¦êI H ’M¤NG TH¤NG QUA DU LÞCH CéNG §åNG ë B¶N SÝN CH¶I,

HUYÖN SA PA, TØNH LµO CAI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HOÁ HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Đào Ngọc Anh

B¶O TåN Vµ PH¸T HUY DI S¶N V¡N HãA NG¦êI H ’M¤NG TH¤NG QUA DU LÞCH CéNG §åNG ë B¶N SÝN CH¶I,

HUYÖN SA PA, TØNH LµO CAI

Chuyên ngành: Văn hoá học

Mã số: 62 31 06 40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HOÁ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LƯƠNG HỒNG QUANG

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận án Tiến sĩ: “Bảo tồn và phát huy di sản văn

hóa người H’Mông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sa

Pa, tỉnh Lào Cai” là do tôi viết

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận án

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 4

Chương 1: BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI DỰA VÀO DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 18

1.1 Khái niệm bảo tồn và phát huy 18

1.2 Khái niệm văn hóa tộc người 22

1.3 Khái niệm giá trị và giá trị văn hóa 24

1.4 Di sản văn hóa tộc người và giá trị di sản văn hóa tộc người 26

1.5 Bảo tồn, phát huy văn hóa tộc người dựa vào du lịch cộng đồng 30

Tiểu kết chương 1 44

Chương 2: PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG DỰA VÀO TIỀM NĂNG VĂN HÓA TỘC NGƯỜI 45

2.1 Phát triển du lịch cộng đồng ở Sa Pa 45

2.2 Khái quát chung về Sín Chải 54

2.3 Sín Chải trong bối cảnh du lịch cộng đồng ở Sa Pa 72

2.4 Bài học kinh nghiệm chung từ Sín Chải và Sa Pa 92

Tiểu kết chương 2 98

Chương 3: CÁC LUẬN GIẢI VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH 99

3.1 Du lịch cộng đồng là phương pháp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tộc người 99

3.2 Từ trường hợp Sín Chải, đề xuất các lý luận 116

3.3 Một số kiến nghị 121

Tiểu kết chương 3 130

KẾT LUẬN 132

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 135

TÀI LIỆU THAM KHẢO 136

PHỤ LỤC 150

Trang 5

ICOMOS : Hội đồng quốc tế các di tích và di chỉ

ITDR : Viện Nghiên cứu phát triển du lịch

IUCN : Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế

KOICA : Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc

NCKH : Nghiên cứu khoa học

Nxb : Nhà xuất bản

SNV : Tổ chức phát triển du lịch Hà Lan

TP : Thành phố

Tr : Trang

UBND : Ủy ban nhân dân

UNESCO : Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc USD : Đồng đô la Mỹ

VGGS : Chiến lược tăng trưởng xanh

VIRI : Viện nghiên cứu phát triển nghề nông thôn

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bảo tồn di sản và phát triển du lịch là hai lĩnh vực dường như mâu thuẫn với nhau Quan điểm này xuất phát từ nhận định: Sự có mặt của du lịch đã làm tan rã nhiều cộng đồng truyền thống

và làm biến mất những phong tục cổ truyền của nhiều tộc người bản địa Không những thế, xu hướng thương mại hoá do ảnh hưởng của phát triển du lịch đã khiến nỗ lực bảo tồn di sản văn hoá của các cộng đồng, đặc biệt các cộng đồng tộc người thiểu số, của ngành Văn hoá trở thành “dã tràng xe cát”

Tuy nhiên, nhiều học giả, tiêu biểu là Getz và MacCannell phản bác ý kiến trên Họ cho rằng, phát triển du lịch và bảo tồn di sản có thể hỗ trợ nhau cùng tồn tại, hay nói cách khác, đó là quan hệ đôi bên cùng có lợi Như vậy, vấn đề nằm ở chỗ sử dụng cách thức khai thác du lịch cũng như cách thức khai thác di sản

Thực tế cho thấy, phát triển du lịch dựa vào tiềm năng văn hoá là một hướng đi đã được khai thác và đúc kết thành một xu hướng phát triển du lịch, trong đó văn hoá là yếu tố nội sinh của du lịch Phát triển du lịch là một phương thức để bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá truyền thống của cộng đồng, làm sống lại nền văn hoá truyền thống nhiều màu sắc của dân tộc Bên cạnh đó, xu hướng này cũng bộc lộ một số hạn chế cần nghiên cứu giải quyết

Du lịch đang phát triển nhanh, được nhiều quốc gia xác định là “con gà

đẻ trứng vàng” cho nền kinh tế, một ngành dịch vụ quan trọng hoặc mũi nhọn

để phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội Ngày nay xuất hiện nhiều loại hình du

lịch như du lịch sinh thái (ecotourism), du lịch dựa vào thiên nhiên (nature

tourism), du lịch xanh (green tourism), du lịch văn hóa (culture tourism),…

nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch của con người ngày một đa dạng

Du lịch có sự tham gia của cộng đồng (community - based tourism) tuy mới phát triển ở các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Úc vào những năm 1980

Trang 7

của thế kỷ XX, nhưng đã nhận được sự tham gia mạnh mẽ của khách du lịch các nước trên thế giới Việt Nam với nhiều điều kiện thuận lợi về cảnh quan thiên nhiên, đa dạng văn hóa, du lịch đang từng bước được khai thác và phát triển Loại hình du lịch cộng đồng đã được triển khai tại một số địa phương và bước đầu thu được kết quả khả quan như bản Lác (Mai Châu - Hòa Bình của người Thái); Suối Voi, xã Lộc Tiên (Phú Lộc - Thừa Thiên Huế); làng Pác Ngòi (người Tày) và Làng Bò Lũ (người Dao) ở vườn quốc gia Ba Bể…, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa truyền thống

Trong những năm gần đây, du lịch Lào Cai phát triển mạnh, đặc biệt là

du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Mỗi năm các điểm du lịch cộng đồng thu hút hàng vạn lượt khách du lịch trong nước và quốc tế, góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào địa phương

Sín Chải, một bản thuộc xã San Sả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, là một tuyến trong hệ thống du lịch của Sa Pa Đây là địa danh du lịch kì thú và là địa bàn cư trú chủ yếu của người H’Mông Sín Chải chứa đựng nhiều điều kiện thuận lợi cả về cảnh quan thiên nhiên và tiềm năng nhân văn để phát triển loại hình du lịch cộng đồng Trên thực tế, mô hình du lịch cộng đồng tại Sín Chải đang trong giai đoạn hình thành và phát triển bước đầu Tuy nhiên, những tác động từ du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng đang có những biểu hiện ngày một rõ hơn tới đời sống kinh tế, xã hội cũng như truyền thống văn hóa của đồng bào H’Mông tại nơi đây Bên cạnh đó, mô hình du lịch cộng đồng tại Sín Chải còn phụ thuộc vào những yếu tố bên ngoài, thiếu đi tính bền vững Điều này đặt ra những yêu cầu cấp thiết với việc nghiên cứu, đánh giá, định hướng nhằm phát triển du lịch cộng đồng đặt trong mục tiêu bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa tộc người nói chung, người H’Mông tại Sín Chải nói riêng

Nhìn chung, du lịch cộng đồng ở Việt Nam mới chỉ tập trung chủ yếu vào phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường tự nhiên, chưa

Trang 8

thật sự quan tâm đến yếu tố bảo tồn văn hóa truyền thống Trong khi đó, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc là nền tảng, nguồn lực tạo ra sản phẩm phục

vụ phát triển du lịch thì chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ các Ban, Ngành, cơ quan, chính quyền địa phương và doanh nghiệp Trên cơ sở đó, du lịch cộng đồng được xem như một giải pháp để giải quyết những bất cập này Tuy nhiên, từ lý thuyết đến sự phát triển du lịch cộng đồng trong thực tế còn gặp rất nhiều khó khăn Một loạt những câu hỏi đặt ra cần câu trả lời để phát triển du lịch cộng đồng ở một địa bàn cụ thể (như Sín Chải chẳng hạn) là: Văn hóa và du lịch có mối quan hệ với nhau như thế nào? Du lịch có thực sự góp phần bảo tồn hay phá vỡ các giá trị văn hóa của người dân địa phương? Cộng đồng địa phương có vai trò như thế nào trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của họ trước tác động của du lịch? Cộng đồng đã bảo

vệ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dưới tác động của du lịch như thế nào?

Để tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên, tác giả đã lựa chọn đề tài:

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người H„Mông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai làm đề tài luận án tiến sĩ của

mình, với hy vọng sẽ góp thêm những hiểu biết về người H’Mông cùng hoạt động du lịch, đồng thời góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị di sản văn hóa quý báu của dân tộc, quảng bá giới thiệu nét văn hóa đặc sắc đến bạn bè,

du khách trong nước và quốc tế

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Các học giả nước ngoài

Du lịch nói chung, du lịch cộng đồng nói riêng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo tồn và phát huy

di sản văn hóa Loại hình du lịch này đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà kinh tế, nhà quản lý, nhà khoa học trên thế giới Du lịch cộng đồng hình thành và phát triển ở châu Âu, châu Mỹ, châu Úc vào những năm 1980 Ở

Trang 9

châu Á, khái niệm du lịch cộng đồng thực sự phổ biến từ những năm 1990 trở lại đây Nhà nghiên cứu Jafiri đã tập hợp các nghiên cứu về du lịch có sự tham gia của cộng đồng và phân thành một số xu hướng phát triển chính Xu hướng “Tán thành” phát triển vào những năm 1960, xu hướng “Cẩn trọng” vào những năm 1970 và cuối cùng là xu hướng “Thích nghi” Ông cho rằng

du lịch có sự tham gia của cộng đồng ra đời từ xu hướng “Thích nghi” này

Nhà nghiên cứu Saariemen lại nhìn nhận du lịch cộng đồng trên cơ sở phát triển bền vững dưới hai phương diện tiếp cận Cách tiếp cận thứ nhất: bền vững về môi trường tự nhiên là động lực chính để phát triển du lịch; Cách tiếp cận thứ hai: bền vững trong các hoạt động Với cách tiếp cận này ông coi

du lịch làm trung tâm, trong đó ông nhấn mạnh tính bền vững của ngành du lịch nhằm hạn chế những tác động tiêu cực tới cộng đồng

Nhà nghiên cứu Nicole Hausler và Wolfgang Strasdas lại chú trọng đến vấn đề người dân tham gia vào các hoạt động quản lý du lịch tại địa phương

và lợi ích kinh tế có được từ du lịch mà kinh tế địa phương thu được Theo Giáo sư Hsien Hue Lee, Hiệu trưởng Trường đại học cộng đồng Hsin Hsing (Đài Loan): “Du lịch cộng đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn Đồng thời khuyến khích và tạo ra các cơ hội về tham gia của người dân địa phương trong du lịch” [108, tr.49] Còn theo Sproule (1998) và Leksakundilok (2004), cho rằng các điểm du lịch do cộng đồng quản lý, khai thác và hưởng lợi thì được gọi là du lịch cộng đồng

Năm 2000, tác giả Nicole Hausler - Wolfgang Strasdas trong công trình nghiên cứu du lịch bền vững dựa vào cộng đồng (Community based

sustainable tourist), nhấn mạnh: du lịch cộng đồng bền vững là hình thức du

lịch liên kết sự phát triển bền vững của địa điểm du lịch sinh thái và các hoạt động quản lý của cộng đồng Đặc trưng của du lịch cộng đồng bền vững là áp dụng các đặc điểm sinh thái, tự nhiên và kinh tế địa phương với các mô hình

Trang 10

kinh doanh du lịch sinh thái Điều này cho phép sự tham gia của người dân địa phương ở cấp quản lý, từ đó tạo nên sự hiểu biết sâu sắc hơn về môi trường, góp phần đảm bảo môi trường và phát triển của cộng đồng [108]

Những đóng góp của các học giả nước ngoài là những cơ sở quan trọng, giúp hiểu rõ hơn về cách thức phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam

2.2 Các học giả trong nước

Các nghiên cứu về du lịch có sự tham gia của cộng đồng mới được đề cập nhiều từ những năm 90 của Thế kỷ 20 trở lại đây Tuy nhiên, đã có một số nghiên cứu về du lịch cộng đồng, cũng như những tác động của du lịch cộng đồng đến đời sống của người dân địa phương Một trong những nhà nghiên cứu sớm về cộng đồng nói chung tại Việt Nam là công trình của hai tác giả Tô

Duy Hợp và Lương Hồng Quang về Phát triển cộng đồng, lý thuyết và vận

dụng (2000) đã đưa ra một số điểm đặc trưng của phát triển cộng đồng, tạo

tiền đề lý thuyết để vận dụng nó vào thực tiễn phát triển du lịch Trong nghiên cứu của mình, hai tác giả đã nhấn mạnh yếu tố con người là trung tâm trong phát triển cộng đồng Mục tiêu phát triển cộng đồng là góp phần mở rộng, phát triển nhận thức và hành động có tính chất hợp tác trong cộng đồng, phát

triển năng lực tự quản cộng đồng [51, tr.50]

Trong công trình nghiên cứu Du lịch và du lịch sinh thái (2003), tác giả

Thế Đạt đã đề cập đến du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương Du lịch sinh thái nhấn mạnh đề cao yếu tố giáo dục, nâng cao ý thức con người trong vấn đề bảo vệ thiên nhiên và bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa do con người đặt ra [32]

Trong cuốn Du lịch bền vững (2001), hai tác giả Nguyễn Đình Hòe và

Vũ Văn Hiếu đã đề cập đến vấn đề phát triển du lịch bền vững, giới thiệu mối quan hệ giữa du lịch với môi trường Qua đó, đưa ra các khái niệm, chính

Trang 11

sách, quy tắc phát triển du lịch bền vững Đồng thời, trong cuốn sách này, các tác giả còn đề cập đến việc khai thác phát triển du lịch theo hướng bền vững ở những vùng du lịch miền núi [49]

Nghiên cứu về xây dựng và phát triển mô hình du lịch có tác giả Lê

Thạc Cán trong cuốn Bảo vệ tài nguyên du lịch gắn với cộng đồng tại vườn

quốc gia Ba Bể, đã xây dựng mô hình du lịch cộng đồng - du lịch Ba Bể trên

cơ sở phân tích những thuận lợi và tiềm năng khu vực Tác giả đưa ra kết luận rằng: Việc phát triển du lịch tại Vườn quốc gia Ba Bể phải gắn với sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và công tác bảo tồn, luôn coi trọng tính bền vững Do

đó, các hoạt động về du lịch tại đây, đặc biệt là du lịch sinh thái cần phải đứng trên quan điểm tài nguyên và môi trường

Trong chương trình hợp tác Quỹ Á Châu phối hợp với Viện Nghiên

cứu và Phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam (VIRI) triển khai dự án Du

lịch làng nghề thủ công truyền thống ở Bắc Ninh đã tập hợp và xuất bản cuốn Tài liệu hướng dẫn phát triển du lịch cộng đồng Trong cuốn sách, tác giả đã

chia nguồn tài nguyên du lịch thành 2 nhóm là nguồn tài nguyên liên quan đến yếu tố văn hóa và nguồn tài nguyên tự nhiên làm nền tảng [110]

Nghiên cứu về du lịch cộng đồng còn nhiều công trình khác như: Phát

triển du lịch cộng đồng tại Tây Nam Bộ của Đặng Văn Hữu, Nghiên cứu điều kiện phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang của

Nguyễn Đức Khoa, Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại khu

du lịch Tràng An - Bái Đính tỉnh Ninh Bình của Dương Thị Thủy; Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng của hai tác giả Trần Thị Lan và Phạm

Trung Lương… Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích những tiềm năng

và lợi thế khai thác du lịch của từng vùng, xây dựng mô hình phát triển phù hợp với từng khu vực, dựa trên cơ sở lý thuyết chung về du lịch cộng đồng

Ngoài ra, ở nước ta đã có một số hội thảo bàn về du lịch cộng đồng

như: Hội thảo Chia sẻ kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam

Trang 12

năm 2003; Tổng cục Du lịch và Trường Trung học nghiệp vụ du lịch Huế tổ

chức (3/2008), Hội thảo Xin ý kiến về kế hoạch phát triển du lịch cộng đồng

tại các tỉnh Điện Biên, Hà Giang, Lào Cai năm 2012 Nội dung các hội thảo

phần lớn đều phân tích những điều kiện, nguồn lực và hiện trạng hoạt động du lịch tại các khu vực, qua đó nêu lên định hướng và giải pháp phát triển du lịch cộng đồng trong tương lai

Liên quan đến các công trình nghiên cứu trực tiếp về du lịch cộng đồng

ở Sa Pa, phải kể đến công trình Du lịch đối với dân tộc thiểu số ở huyện Sa

Pa, tỉnh Lào Cai (2000) của hai tác giả Phạm Thị Mộng Hoa và Lâm Thị Mai

Lan, tiếp cận vấn đề du lịch gắn với đồng bào các dân tộc tiểu số ở Sa Pa Trong đó, các tác giả đã phân tích nêu bật những tiềm năng về môi trường tự nhiên, văn hóa của các dân tộc để tạo ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn có thể đáp ứng được nhu cầu của du khách [48]

Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định về sự đa dạng và phong phú của các tài nguyên du lịch của Sa Pa có thể đáp ứng những nhu cầu thể chất, văn hóa tinh thần đa dạng của du khách Bên cạnh đó, nghiên cứu đã chỉ ra Sa Pa còn gợi mở cho du khách khám phá thêm nhiều điều mới lạ về sự hấp dẫn kì thú của nó, nhiều hơn so với những gì mà trước khi tới, người khách đã đặt mục đích cho mình hay kì vọng cho chuyến đi [48]

Gần đây, trong luận án tiến sĩ kinh tế của Phạm Ngọc Thắng (2010),

Phát triển du lịch gắn với xoá đói giảm nghèo ở Lào Cai, tác giả đã đưa ra

một mô hình phát triển liên kết du lịch mới, coi đó là một giải pháp cho việc góp phần xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Lào Cai [126]

Nghiên cứu về du lịch dưới góc độ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người H’Mông ở Sa Pa có tác giả Trần Hữu Sơn với

công trình Tác động của du lịch đến các “giao” của người H‟Mông ở Sa Pa

Công trình phân tích một cách hệ thống những tác động tích cực và hạn chế của du lịch đối với người H’Mông ở Sa Pa Đồng thời, đưa ra những giải pháp

Trang 13

nhằm phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người H’Mông gắn với phát triển du lịch, giảm thiểu những tác động tiêu cực đến người H’Mông ở

hạ tầng như đường sá, điện, nước, xử lý rác thải, nước thải, nhà vệ sinh Lịch trình du lịch cũng như địa điểm du lịch còn yếu kém và cần cải thiện chất lượng các sản phẩm đồ lưu niệm du lịch Ở Lào Cai, nhiều dân tộc thiểu số đang sinh sống nên có nhiều tiềm năng du lịch và đa dạng Những tiềm năng này vẫn chưa được khai thác một cách hiệu quả [70, tr.4]

Mục đích của dự án: nhằm hỗ trợ thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh (VGGS) mà Chính phủ Việt Nam đang thực hiện Thông qua thực hiện

dự án này có thể chuẩn bị luận cứ cho việc lập mô hình phát triển xanh, có thể xây dựng và thực hiện chính sách tăng trưởng xanh trong lĩnh vực du lịch ở Lào Cai Thông qua quá trình thực hiện dự án này, không chỉ nâng cao năng lực quy hoạch về phát triển du lịch bền vững ở Lào Cai mà còn nâng cao nhận thức về phát triển du lịch bền vững, tăng trưởng xanh của Lào Cai [70, tr.6]

Trong phần Kế hoạch thực hiện dự án chiến lược trọng tâm, các tác giả

đã chỉ ra việc phải “duy trì và phát triển du lịch cộng đồng” Trong đó nhấn mạnh: Sự tham gia của cộng đồng là một trong những phương thức quan trọng để đạt được phát triển du lịch bền vững; Ở khu vực nhạy cảm về văn hóa và môi trường sinh thái, cộng đồng tham gia vào du lịch sẽ góp phần phát triển du lịch bền vững như xóa đói giảm nghèo, bảo tồn văn hóa và môi trường địa phương; Thông qua dự án này, phát hiện muốn tham gia vào ngành

Trang 14

du lịch; Phát hiện cộng đồng bền vững, phát triển thành cộng đồng du lịch… [70, tr.179]

Có thể thấy, các nghiên cứu còn mang nặng tính lý thuyết Một số nghiên cứu đã có những góc nhìn khác nhau trong phương pháp tiếp cận lấy cộng đồng làm nền tảng, tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn còn nhiều những khó khăn, những ý kiến của cộng đồng địa phương chưa thực sự được quan tâm Bên cạnh đó, còn thiếu các nghiên cứu về bảo tồn và phát huy văn

hóa tộc người gắn với phát triển du lịch cộng đồng Do đó, vấn đề “Bảo tồn

và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” đến nay chưa có tác giả nào khai thác,

nghiên cứu một cách cụ thể và sâu sắc Việc tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề này là rất cần thiết

Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và quốc tế đã đặt

- Cộng đồng tại chỗ có một vai trò quan trọng, song việc làm thế nào để nâng cao năng lực quản lý của họ trong tiến trình bảo tồn và phát huy di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch vẫn là một vấn đề còn có những tranh luận

- Điều hòa các lợi ích giữa các bên tham gia tiến trình bảo tồn và phát huy di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch là một yếu tố quan trọng, song làm thế nào cân bằng các lợi ích trong những trường hợp cụ thể, lại không có

Trang 15

câu trả lời chung, cần có những nghiên cứu và phát triển các lời giải mang tính thực tiễn của từng trường hợp cụ thể

- Trong phát triển cộng đồng, nhà nước có vai trò gì trong bối cảnh của Việt Nam Có vẻ như Việt Nam là một trường hợp mang tính đặc biệt chăng khi mà năng lực của các cộng đồng còn rất hạn chế, sống quen với bao cấp từ nhà nước? Trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch, đối với văn hóa tộc người, còn nhiều thách thức và hạn chế?

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cung cấp cho tác giả luận án những cơ sở lý luận, nguyên tắc phát triển của du lịch cộng đồng Trong khi đó, các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam giúp luận án có được những kiến thức về phát triển du lịch bền vững và các nghiên cứu về xây dựng sản phẩm du lịch cũng như những kinh nghiệm thực tiễn đối với những trường hợp cụ thể ở Việt Nam Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu đã có, nghiên cứu và phát triển sâu hơn về một mảng vấn đề,

nghiên cứu sinh quyết định chọn “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người

H'Mông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” làm đề tài nghiên cứu luận án của mình, với mong muốn bổ sung những

mặt còn khuyết, mang lại một cái nhìn mới về vai trò của văn hóa tộc người với phát triển du lịch cũng như tác động của du lịch đối với đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội của các cộng đồng tộc người nói chung, người H’Mông nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án nghiên cứu quá trình bảo tồn và phát huy văn hóa tộc người dựa vào du lịch cộng đồng, thông qua trường hợp văn hóa tộc người H’Mông tại bản Sín Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Từ đó, luận án luận giải mối quan hệ giữa văn hóa tộc người và phát triển du lịch cộng đồng như là công

cụ thích hợp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tộc người trong đời sống

xã hội đương đại

Trang 16

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một cách chọn lọc những khái niệm và vấn đề lý luận để hình thành cơ sở lý luận về văn hóa tộc người và du lịch cộng đồng, cũng như mối liên hệ giữa văn hóa tộc người với phát triển du lịch cộng đồng

- Đánh giá cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch cộng đồng tại một số vùng dân tộc ít người ở Việt Nam, thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại bản Sín Chải gắn với bảo tồn văn hóa người H’Mông

- Tổng kết kinh nghiệm, những mặt thành công và hạn chế của việc phát triển du lịch cộng đồng trong việc bảo tồn, phát huy văn hóa tộc người H’Mông ở Sín Chải (Sa Pa)

- Đưa ra một số khuyến nghị phát triển du lịch cộng đồng nhằm góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa người H’Mông tại bản Sín Chải nói riêng

và văn hóa tộc người nói chung

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa du lịch cộng đồng với việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa người H’Mông ở bản Sín Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Hơn 50 dân tộc phân bố trên khắp các miền của đất nước cho thấy sự

đa dạng về tiềm năng du lịch của Việt Nam Trong khuôn khổ của một luận

án văn hóa học, nghiên cứu sinh chọn một địa bàn là tộc người H’Mông ở bản Sín Chải (Sa Pa) làm trường hợp nghiên cứu cụ thể

- Không gian: Bản Sín Chải, xã San Sả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

là cộng đồng đã có một số hoạt động phát triển du lịch cộng đồng song vì nhiều lý do đã không còn hoạt động, cần có những nghiên cứu để tiếp tục phát huy giá trị di sản tộc người phục vụ phát triển du lịch

Trang 17

- Thời gian: trong 5 năm, từ 2009 đến 2014 là khoảng thời gian nghiên

cứu sinh đang triển khai làm luận án, có so sánh đối chiếu thời gian trước đó

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp tiếp cận từ dưới lên, tác giả áp dụng lý thuyết phát triển cộng đồng và quản lý di sản có sự tham dự làm nền tảng, trong đó nhấn mạnh đến sự cân bằng các lợi ích của các bên tham gia

Dựa trên cách tiếp cận từ dưới lên, tức là từ thực tiễn của phát triển du lịch cộng đồng mà đánh giá, phân tích mô hình, vấn đề thực tiễn Do đó phương pháp chủ đạo được sử dụng trong luận án là phương pháp thực địa, điền dã dân tộc học

Để nghiên cứu về du lịch cộng đồng với bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa người H’Mông ở bản Sín Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, tác giả luận án sẽ làm rõ một câu hỏi mang tính xuyên suốt là: văn hóa tộc người, trong trường hợp của bản Sín Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, đã và sẽ được bảo tồn như thế nào trong định hướng coi du lịch là một phương tiện, một

“cứu cánh” để bảo tồn và phát huy văn hóa tộc người Nói một cách khác, mối

quan hệ giữa bảo tồn văn hóa tộc người và phát triển du lịch cộng đồng sẽ được xây dựng như thế nào nhằm đảm bảo tài nguyên tự nhiên và nhân văn

góp phần vào sự phát triển của địa phương?

Để trả lời câu hỏi trên, cần triển khai những câu hỏi nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu du lịch cộng đồng ở Sín Chải để làm gì?

- Cần sử dụng lý thuyết, quan điểm nghiên cứu nào áp dụng cho trường hợp du lịch cộng đồng ở Sín Chải?

- Tiềm năng du lịch cộng đồng ở Sín Chải là gì? Hiện nay, những tiềm năng này được khai thác thế nào?

Trang 18

- Làm thế nào để phát huy vai trò của cộng đồng trong việc phát triển

du lịch ở Sín Chải? và làm thế nào để lợi ích thu được từ du lịch có thể đem lại lợi ích cho cộng đồng người H’Mông ở Sín Chải?

- Sín Chải có thể áp dụng mô hình du lịch cộng đồng nào để có thể bảo tồn và phát huy tốt nhất tiềm năng văn hóa người H’Mông ở đây?

- Nghiên cứu du lịch cộng đồng ở Sín Chải sẽ rút ra bài học gì đối với

du lịch cộng đồng nói chung?

Luận án áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Quan sát tham dự: Tác giả luận án trực tiếp tham gia vào các hoạt

động du lịch nhằm xác định cụ thể vấn đề nghiên cứu, cảm nhận tâm tư, tình cảm của người trong cuộc khi tham gia vào hoạt động du lịch tại Sín Chải

- Phỏng vấn sâu: Tác giả tiến hành phỏng vấn 10 trường hợp, bao gồm các

chuyên gia, nhà quản lý văn hóa, du lịch, những người điều hành các tour du lịch, người dân địa phương tham gia vào hoạt động du lịch, và khách du lịch Nội dung phỏng vấn về các vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch, đánh giá về du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, các khó khăn và thuận lợi của cộng đồng địa phương trong quá trình bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch…

- Thống kê: được sử dụng để thu thập các số liệu thống kê về phát triển

kinh tế xã hội, văn hóa, các nội dung có liên quan đến hoạt động du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu

- Phân tích tổng hợp tài liệu: Tổng hợp các tài liệu, công trình nghiên

cứu đã có về du lịch, du lịch cộng đồng, quan hệ giữa du lịch và bảo tồn, phát huy giá trị di sản…

6 Đóng góp của Luận án

Đề tài đóng góp những luận cứ khoa học và có những quan điểm mang tính giải pháp, nhằm bảo tồn sự đa dạng văn hóa các tộc người trong xu thế phát triển du lịch Thông qua trường hợp người H’Mông tại bản Sín Chải, huyện Sa

Trang 19

Pa, tỉnh Lào Cai, cho thấy các tiềm năng văn hóa tộc người trong hoạt động phát triển du lịch; ngược lại, du lịch đã và sẽ là một công cụ quan trọng để bảo tồn và phát huy văn hóa tộc người, nếu chúng ta có một định hướng, nguyên tắc, lựa chọn đúng các loại hình và có các biện pháp can thiệp phù hợp

Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch phù hợp với văn hóa tộc người, ở đó, nó không lấy lợi ích kinh tế làm trọng mà có sự cân bằng hơn giữa bảo tồn và phát huy văn hóa tộc người và phát triển du lịch

Sau khi hoàn thành, luận án hy vọng sẽ đóng góp những quan điểm, những minh chứng cụ thể về thực trạng phát triển du lịch ở bản Sín Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

Tác giả mong muốn công trình sẽ góp một phần nhỏ vào việc bổ sung thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về người H’Mông ở Lào Cai, đặc biệt về mảng du lịch, một trong những yếu tố hiện nay đang tác động mạnh mẽ nhất tới đời sống của người H’Mông ở huyện Sa Pa Qua đó đóng góp những ý tưởng, những giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa người H’Mông, tạo điều kiện cho du lịch cộng đồng tại Lào Cai phát triển mạnh mẽ, bền vững Đồng thời, làm cơ sở lý luận cho việc phát triển du lịch cộng đồng tại những vùng có đồng bào dân tộc ít người sinh sống với việc bảo tồn một cách bền vững văn hóa tộc người tại Việt Nam

Trang 20

Chương 1 BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI

DỰA VÀO DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1.1 Khái niệm bảo tồn và phát huy

Bảo tồn và phát huy là hai việc khác nhau, hai công đoạn khác nhau trong lĩnh vực văn hóa nói chung, di sản văn hóa nói riêng nhưng luôn gắn kết, song hành cũng như tương tác, bổ trợ cho nhau đối với việc gìn giữ, bảo lưu, quảng bá tốt hơn những giá trị cốt lõi của các yếu tố văn hóa đặt trong mục tiêu chung của phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Bảo tồn không thể tách rời đổi mới và phát triển Bảo tồn phải song hành với phát huy, thông qua phát huy, các giá trị văn hóa được biểu hiện Qua đó, xác định những yếu tố văn hóa còn phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn, cũng như hạn chế hoặc loại bỏ những yếu tố lạc hậu

Trong Hiến chương Venice về Bảo tồn và Trùng tu Di tích và Di chỉ

(1964) (Đại hội Quốc tế lần thứ hai các Kiến trúc sư và Kỹ thuật gia về Di

tích lịch sử, diễn ra tại Venice, 1964, được ICOMOS chấp nhận năm 1965)

cho rằng:

“Việc bảo tồn một di tích bao hàm bảo tồn một khung cảnh nằm trong phạm vi liên quan tới di tích Khi hãy còn một khung cảnh truyền thống thì khung cảnh đó phải được bảo vệ Không một công trình xây dựng gì mới, một sự phá huỷ hoặc sửa sang nào

mà làm biến đổi mối tương quan giữa khối hình và màu sắc được

phép tiến hành” [60]

Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO giải thích

“Bảo vệ” là các biện pháp có mục tiêu đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm việc nhận diện, tư liệu hoá, nghiên cứu, bảo tồn, bảo vệ, phát huy, củng cố, chuyển giao, đặc biệt là thông qua hình thức giáo

Trang 21

dục chính thức hoặc phi chính thức cũng như việc phục hồi các phương diện khác nhau của loại hình di sản này [143]

Luật Di sản Văn hóa Việt Nam định nghĩa rằng Bảo quản di tích lịch sử

- văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động

nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [77]

Bảo tồn di sản chính là cách thức, biện pháp giữ gìn để di sản sống cùng cuộc sống của nhân loại Hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về bảo tồn di sản văn hóa, nhưng có ba quan điểm chính đang được nghiên cứu

và áp dụng là bảo tồn nguyên vẹn, bảo tồn kế thừa và bảo tồn phát triển

Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn: Theo Gregory J.Ashworth, quan điểm

bảo tồn nguyên vẹn phát triển vào những năm 50 của thế kỷ XIX Quan điểm này được các nhà bảo tồn, bảo tàng trong lĩnh vực di sản văn hóa ủng hộ

Họ cho rằng, những sản phẩm của quá khứ nên được bảo vệ một cách nguyên

vẹn như nó vốn có, phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại Họ cho rằng, mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa - xã hội nhất định, những giá trị văn hóa ấy luôn biến đổi theo thời gian do tác động của xã hội hiện tại và sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác không trùng với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau Vì vậy có thể làm cho các thế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị di sản đang tồn tại Chính vì như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hóa, chúng ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn [124]

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Liêm trong cuốn kỷ yếu hội thảo 60 năm đề

cương văn hoá Việt Nam (1943-2003) cho rằng: “Bảo tồn” là giữ lại, không

Trang 22

để bị mất đi, không để bị thay đổi, biến hoá hay biến thái… Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc

“phát triển” Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn [74]

Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa: Quan điểm này dựa trên tư duy

mỗi di sản có một vai trò lịch sử nhất định với một thời gian và không gian nhất định Khi hiện tại nó đang hiện hữu thì di sản ấy cần phát huy giá trị phù hợp với xã hội hiện tại và phải loại bỏ những gì không phù hợp với hiện tại

Bàn về quan điểm này, Ashworth nêu ra những đặc điểm cơ bản sau:

- Không chỉ những đồ tạo tác hay những toà nhà mà cả các bộ sưu tập

và các di sản khác cũng được bảo tồn dựa vào kế thừa;

- Các tiêu chí lựa chọn không phụ thuộc vào bản chất bên trong của di sản mà còn phụ thuộc vào những yếu tố nằm bên ngoài, không thuộc về bản chất của di sản;

- Bảo tồn trên quan điểm kế thừa quan tâm không chỉ đến hình thức mà còn quan tâm đến cả các chức năng của di sản [148]

Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong tác phẩm Đời sống mới đã nêu ra những

quan điểm rõ ràng về sự kế thừa: cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ, cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý, cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm Quan điểm đó thuộc quan điểm bảo tồn dựa trên cơ sở kế thừa này [124]

Đánh giá chung về hai quan điểm bảo tồn trên, có thể thấy cả hai đều

có những mặt mạnh và những hạn chế Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn có ưu điểm là giữ các giá trị văn hóa cần bảo vệ trong một môi trường an toàn, không bị những yếu tố bên ngoài làm ảnh hưởng Tuy nhiên, hạn chế của quan điểm bảo tồn này là làm khô cứng các sản phẩm văn hóa, rất khó xác

Trang 23

định đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu là yếu tố phát sinh vì bản chất của văn hóa

là luôn biến đổi theo những thay đổi của cuộc sống

Quan điểm bảo tồn kế thừa có mặt ưu việt hơn là những sản phẩm văn hóa có giá trị, được sàng lọc qua dòng thời gian sẽ có cơ hội tự khẳng định mình Những sản phẩm văn hóa truyền thống khi đặt trong bối cảnh mới nếu không được điều chỉnh sẽ khó có thể tồn tại lâu dài và khó khăn trong việc xác định đâu là giá trị cần phải kế thừa và phát huy, yếu tố nào cần loại bỏ

Nó tiềm ẩn sự nguy hiểm khi việc loại bỏ ấy có thể sẽ đánh mất những giá trị văn hóa mà chúng ta chưa thật sự hiểu biết về nó

Hai quan điểm trên có một nhược điểm chung là cứng nhắc, thiếu cái nhìn khoa học dưới góc nhìn của bảo tồn Cần đặt hoạt động bảo tồn trong mối quan hệ với phát huy, tức là bảo tồn di sản văn hóa phải đồng hành với việc sử dụng, phát huy giá trị của nó trong đời sống Chỉ có như vậy, hoạt động bảo tồn mới thực sự có ý nghĩa và không đi ngược lại quá trình phát triển của xã hội

Quan điểm bảo tồn phát triển: Bỏ qua những tranh cãi xung quanh

quan điểm bảo tồn nguyên vẹn hay bảo tồn trên cơ sở kế thừa, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm tiếp cận thứ ba biện chứng hơn, trong số đó

có Gregory J Ashworth

Tác giả Gregory J Ashworth cho rằng:

* Về mục đích: Có nhiều mục đích có thể xảy ra và trái ngược nhau; Di

sản là một sự lựa chọn có thể theo hoặc không theo, không có mục đích nào được xem là tối thượng, hoàn toàn đúng

* Về nguồn lực: Nhu cầu tạo ra nguồn lực và do vậy các nguồn lực

không có giới hạn: các điểm di sản có một cơ sở nguồn lực thay đổi; Nguồn lực được tạo ra bởi nhu cầu của thị trường sản phẩm

Trang 24

* Về tiêu chí lựa chọn: Tiêu chí lựa chọn phụ thuộc vào các yếu tố bên

ngoài; Sự lựa chọn được xác định bởi thị trường; Độ chân thực của di sản nằm trong trải nghiệm, vì vậy không thể xác định một cách khách quan được

* Về các sản phẩm thuyết minh cho di sản: Các di sản mang tính đa

nghĩa, nhiều mục đích và không ổn định qua thời gian

* Về chiến lược bảo tồn: Di sản là một chức năng và vì vậy là một lựa

chọn cho phát triển: chính vì thế không có một sự mâu thuẫn cố hữu giữa bảo tồn và phát triển; Kế hoạch bảo tồn di sản không tách rời các chiến lược phát triển khác; Việc tăng cầu đối với sản phẩm (di sản) phù hợp với việc tăng cung sản phẩm [124]

1.2 Khái niệm văn hóa tộc người

Văn hóa là một khái niệm rộng, đa nghĩa, đa tầng Tùy vào góc độ chuyên môn, hướng tiếp cận mà các nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa, cách hiểu khác nhau về khái niệm này Trong tuyên bố về tính đa dạng văn hóa (2001), tổ chức UNESCO cho rằng “văn hóa nên được xem như một tập hợp các đặc điểm nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội, ngoài văn học, nghệ thuật, nó còn bao gồm lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng” [19] Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người

đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [86] Ở một khía cạnh khác, nhóm tác giả trong cuốn Giá trị văn hóa Việt Nam - truyền thống và biến đổi do GS Ngô Đức Thịnh chủ biển đưa ra định nghĩa “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình” [130] Theo định nghĩa này của các tác giả, khái niệm văn hóa được hiểu là những sáng tạo của con

Trang 25

người, mang lại những giá trị cho con người, gồm cả giá trị vật chất và tinh thần Điều đó có nghĩa, không phải những gì con người tạo ra đều là văn hóa,

mà chỉ có những cái đã kết tinh thành giá trị thì mới là cốt lõi của văn hóa

Giáo sư Trần Quốc Vượng, trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam đã chỉ

ra cấu trúc của văn hóa gồm các thành tố cơ bản, như: phong tục tập quán; tín ngưỡng, tôn giáo; nghệ thuật tạo hình; lối sống; nhiếp ảnh, điện ảnh; văn chương; mass media; thông tin, tín hiệu; kiến trúc; nghệ thuật trình diễn; ngôn ngữ; nghề thủ công; sân khấu tuồng chèo, kịch; lễ hội; nghệ thuật âm thanh

Ở một hướng khác, những thành tố văn hóa được tác giả chia theo các nhóm, như: văn hóa sản xuất; văn hóa vũ trang; văn hóa sinh hoạt [146]

Văn hóa có tính chủ thể, gắn với từng cộng đồng người cụ thể theo các quy mô khác nhau và có những nét đặc trưng khác nhau, như: văn hóa dân tộc, văn hóa tộc người thiểu số, văn hóa làng xã

Văn hóa tộc người là tổng thể các thành tố văn hóa mà qua đó có thể phân biệt giữa tộc người này với tộc người khác Như GS Ngô Đức Thịnh đã định nghĩa:

“Văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và phân biệt tộc người này với tộc người khác Các yếu tố văn hóa tộc người như vậy, phải kể đầu tiên là ngôn ngữ mẹ đẻ, trang phục, nhất là trang phục phụ nữ, các tín ngưỡng và nghi lễ,

là vốn văn hóa dân gian truyền miệng, tri thức dân gian về tự nhiên và xã hội, về bản thân con người và tri thức sản xuất, khẩu

vị ăn uống, tâm lý dân tộc…” [128]

Các sắc thái văn hóa được hình thành gắn với quá trình hình thành, phát triển tộc người Bởi tộc người là một chủ thể mang tính cộng đồng, sáng tạo nên ngôn ngữ và văn hóa mang đặc trưng của tộc người đó với ý thức tự giác tộc người Nên ở một khía cạnh khác, văn hoá tộc người được hiểu theo nghĩa

Trang 26

rộng nhất là tập hợp những phương thức hoạt động riêng biệt với những kết quả cụ thể của một cá nhân cũng như của cả một cộng đồng tộc người [56]

Bên cạnh đó, cần có sự phân biệt giữa khái niệm văn hóa tộc người và

văn hóa của tộc người Nếu văn hóa tộc người nhằm chỉ những nét đặc trưng

trong văn hóa gắn với chủ thể là một cộng đồng tộc người cụ thể nhằm chỉ ra

sự khác biệt giữa các tộc người với nhau thì văn hóa của tộc người “là tổng thể

những hiện tượng văn hóa trong diện mạo hiện tại của tộc người đó, không kể các yếu tố văn hóa đó có sắc thái tộc người hay trung tính về tộc thuộc” [128] Khái niệm văn hóa của tộc người hàm chứa những thành tố thuộc văn hóa tộc người Điều này là hệ quả khách quan của quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa, một thực tế đang diễn ra phổ biến trong các xã hội hiện nay

1.3 Khái niệm giá trị và giá trị văn hóa

Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức… đều là sản phẩm của quá trình tư duy, sáng tạo, tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hóa Giá trị, giá trị văn hóa là một hình thái của ý thức, của đời sống tinh thần, tuy nhiên nó phản ánh và kết tinh những giá trị của đời sống vật

chất và đời sống tinh thần của con người [130] Năm 1951, Clyde Kluckhohn

nêu lên một định nghĩa về giá trị “là những quan niệm thầm kín hay bộc lộ về các điều ao ước riêng của cá nhân hay của nhóm Những quan niệm ấy chi phối sự lựa chọn các phương thức, phương tiện và mục tiêu của hành động” [40, tr.156]

Nhà xã hội học J.H Fichter đưa ra một định nghĩa đơn giản và chuẩn xác về giá trị “Theo cách mô tả chúng ta có thể nói rằng, tất cả những gì ích lợi, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đối với con người hoặc nhóm, đều

là có một giá trị” [62, tr.173]

Cuốn từ điển Triết học do M Rodentan và P Iudin biên soạn cũng nêu định nghĩa về giá trị là “những khẳng định xã hội đặc biệt về những đối tượng của thế giới bao quanh, biểu hiện các ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của những

Trang 27

đối tượng ấy đối với con người và xã hội (hạnh phúc, cái thiện và cái ác, cái đẹp và cái xấu, thể hiện ra trong các hiện tượng của đời sống xã hội hoặc của thiên nhiên [130]

Các nhà xã hội học Việt Nam trong quan niệm về giá trị của mình đã khẳng định rõ hơn yếu tố chủ thể thông qua nhận thức, tình cảm và hành vi của chủ thể “bất cứ sự vật nào đó cũng có thể xem là có giá trị, dù nó là vật thể hay tư tưởng, miễn là nó được người ta thưa nhận, người ta cần đến nó như một nhu cầu, hoặc cấp cho nó một vị trí quan trọng trong đời sống của họ… Trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, yếu tố tình cảm và yếu tố hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng mang giá trị, thể hiện sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể” [dẫn theo 130]

Theo nhóm nghiên cứu của GS Ngô Đức Thịnh:

“Giá trị là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về bất cứ một hiện tương tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp, nói theo cách của các nhà triết học phương Tây một thời, đó chính là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Một khi những nhận thức giá trị ấy đã hình thành và định hình thì nó chi phối cách suy

nghĩ, niềm tin, hành vi, tình cảm của con người” [130, tr.22]

Trong giá trị bao gồm giá trị cá nhân và giá trị xã hội Ở khía cạnh khác, giá trị cá nhân là sự biểu hiện của giá trị xã hội, thông qua các giá trị cá nhân, ta có thể nhận biết được các giá trị xã hội Từ đó, các tác giả đưa ra khái niệm giá trị văn hóa (cultural value) là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định Giá trị văn hóa hướng đến thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp (chân, thiện, mỹ) “Giá trị văn hóa luôn ẩn tàng trong bản sắc văn hóa, di sản văn

Trang 28

hóa, biểu tượng, chuẩn mực văn hóa Chính vì vậy mà văn hóa thông qua hệ

giá trị của nó góp phần điều tiết sự phát triển xã hội” [130, tr.23]

Khi nói bản chất của giá trị hay nói tới vai trò định hướng, chi phối, điều tiết của hệ giá trị thì về thực chất, chúng ta đang nói tới mối quan hệ đa chiều của con người Cũng như văn hóa, giá trị được sản sinh từ các mối quan

hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội Ở góc độ này, chính niềm tin của con người cũng là một giá trị, là động lực cho mọi ý chí và hành động sáng tạo của con người, là chỗ dựa cho việc thiết lập và duy trì một trật tự và kỷ cương cho một xã hội Niềm tin và chỉ niềm tin mới có thể là bệ đỡ cho giáo dục trí tuệ và nhân cách con người [130, tr.24]

Giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng/dân tộc/quốc gia bao giờ cũng tạo nên một hệ thống với ý nghĩa những giá trị ấy nảy sinh tồn tại trong sự liên

hệ, tác động hữu cơ với nhau Bên cạnh đó, khái niệm giá trị văn hóa cũng như bản chất của nó chỉ mang tính tương đối, để đánh giá nó phải đặt trong bối cảnh sống của chủ thể sáng tạo văn hóa Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có nền văn hóa truyền tống với đặc trưng riêng của mình Hệ giá trị đó chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nên bản sắc riêng của dân tộc Giá trị văn hóa truyền thống được truyền lại cho thế hệ sau và trở thành một động lực nội sinh để phát triển đất nước [136]

1.4 Di sản văn hóa tộc người và giá trị di sản văn hóa tộc người

1.4.1 Di sản văn hóa tộc người

Khái niệm di sản đã có một lịch sử phát triển khá lâu dài, có thể được coi là bắt đầu từ cuộc cách mạng tư sản Pháp nổ ra vào năm 1789 Trong thời gian cách mạng tư sản này, việc tịch thu tài sản của giai cấp quý tộc, tập hợp lại trở thành tài sản quốc gia đã làm nảy sinh khái niệm di sản

Trang 29

Như vậy, di sản lúc đó được mọi người hiểu là “ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân chứ không phải của riêng một ai, đó là ý

niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia” [75]

Từ cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789, di sản đã được mọi người hiểu là “ về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân chứ không phải của riêng ai, đó là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia” [75]

Khái niệm di sản văn hóa được hiểu một nghĩa đơn giản nhất là tài sản của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau Hay “chỉ chung cho các tài sản văn hóa như văn học dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học… mà các thế hệ trước để lại cho thế hệ sau” [5]

Luật Di sản Văn hóa của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

xác định di sản là “sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [77, tr.17]

Giờ đây khái niệm di sản không còn ý nghĩa là tài sản của quá khứ nữa,

nó là một khái niệm tiến triển, có sự thay đổi, có sự chọn lọc

Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam, di sản văn hóa là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta

Tại Điều 4 trong Luật này, di sản văn hóa bao gồm cả vật thể và phi vật

thể và được hiểu như sau:

- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực,

về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác

Trang 30

- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [77]

Từ hệ thống khái niệm đưa ra, ta có thể hiểu một cách tổng quát, di sản văn hóa tộc người là toàn bộ những sản phẩm tinh thần và vật chất gắn với một tộc người chủ thể và được gìn giữ, lưu truyền từ đời này qua đời khác Di sản văn hóa tộc người được thể hiện trên tất cả các mặt của đời sống, kinh tế, văn hóa, xã hội của tộc người đó: ăn, mặc, ở, nghề thủ công, âm nhạc… Ẩn chứa trong các yếu tố được xác định là di sản văn hóa tộc người đều chứa đựng những giá trị đối với nhận thức, niềm tin của cộng đồng tộc người đó cũng như phục vụ cho sự vận hành, phát triển của tộc người

1.4.2 Giá trị di sản văn hóa tộc người

Theo quan điểm mang tính quản lý của các ngành kinh tế, xã hội, giá trị

di sản văn hóa tộc người là nhìn nhận tính phù hợp của các thành tố văn hóa tộc người trong đời sống xã hội hiện đại và lựa chọn khai thác một số các giá trị vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có du lịch cộng đồng

Ngày nay, việc khai thác, phát huy những giá trị di sản văn hóa tộc người, đặc biệt những cộng đồng tộc người thiểu số, một mặt nhằm bảo tồn, lưu giữ tốt hơn di sản văn hóa tộc người, mặt khác, gắn văn hóa tộc người với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, đang được nhiều quốc gia, địa phương áp dụng một cách triệt để cũng như đưa đến những kết quả đáng ghi nhận

Tại Việt Nam, Nghị quyết số 33 ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về xây dựng và phát triển, văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã đề ra nhiệm vụ xử lý hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, có chính sách văn hóa đặc thù đối với đồng bào dân tộc thiểu số để xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 31

Đảng, Chính phủ Việt Nam xác định: Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc [91]

Về quan điểm và đường lối văn hóa dân tộc Việt Nam, Nghị quyết số 23-NQTW, ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng

và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới cũng nhấn mạnh: Trong thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, phấn đấu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển

và cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, văn học, nghệ thuật nước nhà đứng trước những thời cơ, vận hội lớn, đồng thời cũng đứng trước những thách thức mới gay gắt

Phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng, đồng thời với tập trung xây dựng, phát triển văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp Trên cơ sở giữ gìn, phát triển, phát huy những giá trị của văn học, nghệ thuật dân tộc, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, đồng thời kiên quyết ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn áp đặt, xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch [91]

Liên quan tới lĩnh vực văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc anh em đang sinh sống và đặc biệt là đồng bào các thiểu số trên đất nước Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa V3 cũng đã chỉ rõ:

Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hoá Việt Nam Coi trọng bảo tồn, phát huy

Trang 32

những giá trị văn hóa truyền thống, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật các dân tộc [90]

Đồng thời, quan điểm đối với việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa truyền thống cũng được thể hiện rõ qua việc coi di sản văn hoá là tài sản vô giá, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá Song song với việc giữ gìn và phát triển di sản văn hoá dân tộc, cần tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, sáng tạo nên những giá trị mới Đồng thời phải kiên quyết đấu tranh bài trừ các hủ tục, chống mọi mưu toan lợi dụng văn hoá để thực hiện “diễn biến hoà bình”

Như vậy, có thể thấy, quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với việc giữ gìn và phát triển văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số, trong đó có đồng bào H’Mông là rất rõ ràng và nhất quán: Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hoá, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số

Với quan điểm này, trong những năm qua công tác quản lý, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc được tiến hành với phương pháp “từ dưới lên” Lấy cộng đồng địa phương là chủ thể của các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời là người đưa ra các quyết định về việc lựa chọn những thành

tố văn hóa cũng như phương pháp trong việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa của cộng đồng Chính quyền địa phương chỉ đóng vai trò là người quản

Trang 33

Theo Từ điển Bách khoa, “du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của

con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch ” [50, tr.51]

Tổ chức Du lịch thế giới thuộc Liên hiệp Quốc đưa ra quan điểm du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư

Luật Du lịch đưa ra khái niệm: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến

chuyển đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời

Hiện nay, có nhiều khái niệm về du lịch cộng đồng, tuy nhiên chưa có khái niệm chính thức Khái niệm này được sử dụng khá linh hoạt thùy thuộc mục đích, địa điểm nghiên cứu của từng tác giả Theo nhà nghiên cứu Nicole Hauseler và Wolfgang Strasdas: “ Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi

ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương…” [149]

Trang 34

Giáo Hsien Huee Lee - Hiệu trưởng trường Đại học cộng đồng Hsin -

Hsing - Đài Loan đã đưa ra khái niệm: „„ Du lịch cộng đồng là nhằm bảo tồn

tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn Đồng thời khuyến khích và tạo ra các cơ hội về tham gia của người dân địa phương” [108, tr.48]

Hay John Mock, chuyên gia nghiên cứu du lịch cộng đồng nhìn nhận

du lịch cộng đồng dưới góc độ tài nguyên thiên nhiên hoang dã với hệ sinh thái đa dạng dựa trên các lý do sau:

- Môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên sẽ phải đối mặt với sự gia tăng số lượng khách du lịch tới tham quan

- Chỉ những cộng đồng có cuộc sống gắn bó mật thiết với môi trường

tự nhiên từ rất lâu đời mới có thể thể điều chỉnh, kiểm soát, bảo vệ được nguồn tài nguyên

- Chỉ có cộng đồng địa phương mới đưa ra được những công cụ, giải pháp cho việc đảm bảo chất lượng về kinh tế - xã hội của cộng đồng

- Du lịch cộng đồng góp phần nâng cao nhận thức, kiến thức về thế giới bên ngoài cho cộng đồng địa phương

- Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng góp phần thúc đẩy quyền của người dân tham gia thảo luận, bàn bạc, quyết sách các vấn đề liên quan đến cộng đồng và người dân được hưởng lợi khi tham gia vào các hoạt động du lịch tại địa phương

- Du lịch cộng đồng đã mang lại thu nhập cho người dân và cộng đồng địa phương, tạo điều kiện nâng cao mức sống cho bản thân, gia đình, xã hội

- Du lịch cộng đồng đóng góp cho ngân sách địa phương và quỹ cộng đồng góp phần thay đổi cơ sở hạ tầng và bộ mặt địa phương

Viện nghiên cứu Phát triển Miền Núi (Mountain Institute) đưa ra khái niệm về du lịch cộng đồng như sau: “Du lịch cộng đồng là nhằm bảo tồn tài

Trang 35

nguyên du lịch tại các điểm du lịch đón khách vì sự phát triển của du lịch bền vững dài hạn Du lịch cộng đồng khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong du lịch và có cơ chế tạo các cơ hội cho cộng đồng” [108]

Theo Võ Quế, du lịch cộng đồng là loại hình du lịch phát triển dựa vào những giá trị tự nhiên và nhân văn của cộng đồng địa phương, có sự tham gia tích cực và chủ động của người dân nhằm đem lại lợi ích cho chính cộng đồng Du lịch cộng đồng là một quá trình tương tác giữa cộng đồng (chủ) và khách du lịch mà sự tham gia có ý nghĩa của cả hai phía mang lại các lợi ích kinh tế, bảo tồn cho cộng đồng và môi trường địa phương Hiện nay, du lịch cộng đồng có nhiều tên gọi khác nhau như: Community - Based Tourism (du lịch dựa vào cộng đồng); Community - Development in Tourism (Phát triển cộng đồng dựa vào du lịch); Community - Based Ecotourism (Phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng); Community - Participation in Tourism (Phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng); Community - Based Mountain Tourism (Phát triển du lịch núi dựa vào cộng đồng) [108, tr.51]

Ở Việt Nam, vấn đề phát triển du lịch cộng đồng được đưa ra tại một số hội thảo chia sẻ bài học kinh nghiệm vào những năm 90 của Thế kỷ 20 Các chuyên gia đã khái quát một số nội dung về phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng ở Việt Nam Phát triển du lịch cộng đồng phải đảm bảo về văn hóa, thiên nhiên bền vững; có sở hữu cộng đồng; nâng cao nhận thức cho cộng đồng về trình độ, chuyên môn nghiệp vụ về bảo vệ môi trường tự nhiên, các di sản văn hóa của địa phương trong thời hội nhập; tăng cường quyền lực cho cộng đồng

Tuy tên gọi khác nhau, nhưng các khái niệm đều có một số vấn đề cơ bản giống hoặc tương đồng về phương pháp tổ chức, địa điểm, mục tiêu, vị trí phát triển du lịch cộng đồng

Trang 36

1.5.2 Cộng đồng và phát triển cộng đồng

Khái niệm cộng đồng xuất hiện vào những năm 1940 tại các nước thuộc địa của Anh Đến năm 1950, Liên hiệp quốc công nhận khái niệm phát triển cộng đồng như một công cụ để thực hiện các chương trình dự án phát triển của quốc gia Khi các tổ chức phi chính phủ triển khai nhiều dự án phát triển kinh tế, xã hội ở các địa phương cần có sự tham gia gia đóng góp của cộng đồng địa phương thì khái niệm cộng đồng trở nên phổ biến hơn

Theo Keith và Ary 1998 thì “Cộng đồng là một nhóm người, thường sinh sống trên cùng một khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc về cùng một nhóm Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hay hôn nhân, và có thể thuộc cùng một nhóm tôn giáo, một tầng lớp chính trị” [108, tr.11] Khái niệm này nhấn mạnh đến các yếu tố con người, cùng có một số đặc điểm trong trong mối quan hệ về cư trú, địa lý, dân tộc, huyết thống, văn hóa, tôn giáo,

Cộng đồng là một trong những khái niệm xã hội học mang nhiều ý nghĩa khác nhau, được sử dụng một cách rộng rãi Theo nghĩa rộng, khái niệm này dùng để chỉ cộng đồng các quốc gia theo lãnh thổ như cộng đồng châu

Âu, châu Á Theo nghĩa hẹp, khái niệm này được dùng để chỉ một dạng xã hội, căn cứ vào những đặc điểm tương đối như sắc tộc, văn hóa, tôn giáo có các cộng đồng Hồi giáo, cộng đồng người da đen và nhỏ hơn nữa nó được dùng để chỉ những đơn vị xã hội cơ bản như làng, xã, gia đình có những đặc điểm chung về địa lý, văn hóa, lứa tuổi, nghề nghiệp

Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn khái niệm cộng đồng cần phải chỉ ra được các thành tố tạo nên cộng đồng Theo tác giả Tô Duy Hợp và Lương Hồng

Quang trong cuốn Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng (2000), đã chỉ

ra các yếu tố cấu thành nên cộng đồng bao gồm:

Trang 37

- Địa vực: Theo các tác giả, địa vực là yếu tố đầu tiên và quan trọng

bậc nhất được coi là cơ sở để ta xác định ranh giới của cộng đồng, phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác

- Yếu tố kinh tế: Yếu tố kinh tế không chỉ đơn thuần là các hoạt động

kinh tế mà nó là yếu tố quan trọng về mặt vật chất để duy trì sự tồn tại của cộng đồng Đồng thời kinh tế còn là thước đo, đòn bẩy đánh giá sự phát triển

- Yếu tố văn hóa: Đây là yếu tố rất quan trọng để nhận biết cộng đồng,

trong đó đặc biệt chú ý đến các khía cạnh truyền thống, lịch sử, tộc người, tôn giáo - tín ngưỡng, phong tục tập quán, hệ thống giá trị chuẩn mực [51]

Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng được giới thiệu trong lĩnh vực giáo dục tại các tỉnh phía Nam Từ ngành giáo dục, khái niệm phát triển cộng đồng được chuyển sang lĩnh vực công tác xã hội Từ sau năm 1980, khái niệm phát triển cộng đồng trở nên phổ biến hơn nhờ vào các chương trình, dự án tài trợ của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Các dự án này cần có sự tham gia của cộng đồng địa phương là nhân tố quyết định sự thành công của dự án Sau này, khái niệm phát triển cộng đồng trở thành một

bộ môn khoa học có mã ngành riêng

1.5.3 Mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng

Mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng là nhằm giúp xóa đói giảm nghèo, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của người dân địa phương và phải có sự tham gia ngày càng đông người dân vào hoạt động du lịch Người dân phải được bàn bạc, thảo luận cùng làm và cùng giải quyết các vấn đề liên quan đến du lịch, tại địa phương và du lịch cộng đồng phải mang đến cho khách du lịch một sản phẩm có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội

Để phát triển du lịch cộng đồng, theo Viện Nghiên cứu Phát triển Miền núi Hoa Kỳ (Mountain Institute), các nhà quản lý cần quan tâm đến một số mục tiêu căn bản sau:

Trang 38

- Du lịch cộng đồng là công cụ cho hoạt động bảo tồn; nghĩa là du lịch cộng đồng phải mang đến cho khách những sản phẩm du lịch có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hoá, bao gồm sự đa dạng sinh học, tài nguyên nước, rừng, bản sắc văn hoá

- Du lịch cộng đồng là công cụ phát triển chất lượng cuộc sống cho cộng đồng, nghĩa là du lịch cộng đồng phải đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương thông qua việc tăng doanh thu về du lịch và những lợi ích khác cho cộng đồng cũng như mang lại thu nhập cho họ

- Du lịch cộng đồng là công cụ để nâng cao nhận thức, kiến thức và sự hiểu biết cho cộng đồng, mở ra các cơ hội trao đổi kiến thức giữa cộng đồng

và du khách; khích lệ họ tham gia tích cực vào hoạt động du lịch;

- Du lịch cộng đồng là công cụ cho cộng đồng cùng tham gia, thảo luận các vấn đề, cùng làm việc và giải quyết các vấn đề mang tính cộng đồng

Như vậy, đây là những mục tiêu phù hợp nhất để chúng ta tham khảo khi nghiên cứu về phát triển cộng đồng người H’Mông ở Sín Chải

1.5.4 Tiêu chí và điều kiện phát triển du lịch cộng đồng

* Tiêu chí phát triển du lịch cộng đồng

- Khuyến khích sự tham gia và chia sẻ trách nhiệm của cộng đồng: Xác

định đúng vai trò và vị trí của cộng đồng trong quá trình tạo ra các sản phẩm

du lịch Một trong các nguyên tắc của phát triển du lịch cộng đồng là phát triển đồng bộ và từ dưới lên, cộng đồng phải là người chủ động, tích cực chứ không chỉ ngồi đón đợi các kế hoạch từ trên xuống Họ là một thành phần, một đối tác bình đẳng, tham gia tích cực trong quá trình phát triển du lịch Đây là sự chia sẻ trách nhiệm với các cơ quan hữu quan, với các công ty lữ hành Nếu nhìn từ góc độ nội bộ cộng đồng, sự chia sẻ sẽ bao hàm sự phân công trách nhiệm giữa các thể chế trong cộng đồng, từ chính quyền, các tổ chức xã hội, các gia đình và các cá nhân trong cộng đồng

Trang 39

- Tăng tính tổ chức: Xác lập những năng lực cần có để tổ chức các sản

phẩm du lịch do cộng đồng làm ra Đây không chỉ đơn thuần là một hoạt động kinh doanh mà là một hoạt động tổ chức xã hội, năng lực ở đây bao gồm việc vận dụng các bài toán kinh tế, từ vốn, nhân lực, vật lực; việc quảng bá sản phẩm, tiếp thị, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm; năng lực vận động và

tổ chức xã hội Tuy nhiên, năng lực quản lý của cộng đồng trong phát triển du lịch là yêu cầu hàng đầu trong việc phát triển du lịch cộng đồng

- Huy động nguồn lực: Đề cập tới phương hướng huy động các nguồn

lực xã hội bên ngoài và bên trong cộng đồng, không chỉ bao gồm các nguồn lực về tài chính, nhân lực, vật lực, tài nguyên thiên nhiên, tài sản văn hóa mà còn các nguồn lực về quản lý Bản chất của du lịch dựa vào cộng đồng là hoạt động mang tính đa thành phần kinh tế, đa phương thức đầu tư và quản lý, có

sự cân bằng quyền lực (theo nghĩa rộng, đó là một quá trình tương tác của các nhóm xã hội) bên trong cộng đồng, cân bằng các lợi ích của các nhóm xã hội bên trong và bên ngoài cộng đồng Đó là lý do Đảng và Nhà nước ta xác định

du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn được ưu tiên phát triển dựa trên sự hỗ trợ từ nguồn lực tổng hợp của các ngành và các thành phần kinh tế khác

- Có sự lãnh đạo: Sự lãnh đạo ở đây bao gồm cơ chế và quy trình ra

quyết định (dân chủ hay quan liêu, trực tiếp hay gián tiếp), quá trình thực hiện

và cuối cùng là quá trình giám sát Sự lãnh đạo chủ yếu sẽ là hoạt động của chính quyền, nhưng nó không đơn thuần chỉ là hoạt động của riêng tổ chức này Sự tham gia của các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư vào các quyết định đầu tư, triển khai cũng rất cần thiết

* Điều kiện phát triển du lịch cộng đồng

Điều kiện về tài nguyên tự nhiên và nhân văn: đây là điều kiện có ý

nghĩa quyết định đến phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Tài nguyên thiên nhiên và nhân văn được xem xét phong phú về số lượng, chủng loại và giá trị

về chất lượng của từng loại, được đánh giá cả về mặt quý hiếm Điều kiện tài

Trang 40

nguyên cũng nói lên mức độ hấp dẫn thu hút khách du lịch đến thăm quan hiện tại và tương lai

Điều kiện về yếu tố cộng đồng dân cư: đây được xem xét đánh giá trên

các yếu tố số lượng thành viên, bản sắc dân tộc, phong tục tập quán, trình độ học vấn và văn hóa, nhận thức trách nhiệm về tài nguyên và phát triển du lịch Xác định phạm vi cộng đồng là những dân cư sống, sinh hoạt và lao động cố định, lâu dài trong hoặc liền kề vùng có tài nguyên thiên nhiên

Điều kiện có thị trường khách: bao gồm thị trường khách trong nước và

quốc tế đến tham quan du lịch, nghiên cứu và nguồn khách trong tương lai Điều kiện về thị trường khách du lịch cũng nói lên bản chất của vấn đề phát triển du lịch và vấn đề công ăn việc làm cho cộng đồng Nơi nào thu hút được nhiều khách du lịch và với khả năng chi trả cao tức là nơi đó tạo được nhiều công ăn việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống Khi đó, du lịch đã làm đúng vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nói chung, đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội

Điều kiện về cơ chế, chính sách: Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở

các cấp cần phải có cơ chế, chính sách hợp lý, tối ưu nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển du lịch và sự tham gia của cộng đồng

Điều kiện về sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính phủ, tổ chức phi chính phủ

trong và ngoài nước bao gồm hỗ trợ về nhân lực, tài chính, kinh nghiệm phát

triển du lịch cộng đồng cũng như sự hỗ trợ của các công ty lữ hành trong

tuyên truyền, quảng bá nhằm thu hút khách du lịch đến tham quan [107]

Du lịch cộng đồng được phát triển trong điều kiện điểm đến có tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú, nguyên sơ và tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo, đặc sắc Đồng thời, cộng đồng địa phương phải sở hữu những giá trị văn hóa truyền thống đậm đà, đặc trưng tộc người và đặc biệt họ phải nhận thức trách nhiệm đúng đắn về phát triển du lịch và bảo tồn tài nguyên Bên cạnh đó, để phát triển du lịch cộng đồng, sự hỗ trợ của chính phủ, tổ chức phi

Ngày đăng: 03/03/2016, 15:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Mai Anh (2009), Phát triển du lịch và vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên tại Sa Pa và Bắc Hà, Lào Cai, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch và vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên tại Sa Pa và Bắc Hà, Lào Cai
Tác giả: Lê Mai Anh
Năm: 2009
2. Đặng Văn Bài (2013), “Quan điểm bảo tồn di sản văn hoá trong chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, (346), tr.8 - 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm bảo tồn di sản văn hoá trong chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020”, "Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2013
3. Barker, Chris (2012), Nghiên cứu văn hoá: Lý thuyết và thực hành, Đặng Tuyết Anh dịch; Nguyễn Thị Hiền, Hoàng Thị Tuyến H.đ., Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hoá: Lý thuyết và thực hành
Tác giả: Barker, Chris
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin
Năm: 2012
4. Barry Lord (1997), “Du lịch văn hóa bền vững: lịch sử thành công”, Tuyển tập báo cáo Hội nghị quốc tế Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Huế, tr.87-111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch văn hóa bền vững: lịch sử thành công”, "Tuyển tập báo cáo Hội nghị quốc tế Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Barry Lord
Năm: 1997
5. Nguyễn Chí Bền (2004), “Nghiên cứu, sưu tầm, bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể”, Tạp chí Di sản Văn hóa, (1), tr.44 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, sưu tầm, bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể”, "Tạp chí Di sản Văn hóa
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2004
6. Nguyễn Chí Bền (2006), Văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 2006
7. Nguyễn Chí Bền (Ch.b) (2010), Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc, Nxb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc
Tác giả: Nguyễn Chí Bền (Ch.b)
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2010
8. Nguyễn Chí Bền (2012), Dân ca quan họ Bắc Ninh, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca quan họ Bắc Ninh, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin
Năm: 2012
9. Nguyễn Chí Bền, Bùi Quang Thanh (2012), Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Tác giả: Nguyễn Chí Bền, Bùi Quang Thanh
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin
Năm: 2012
10. Nguyễn Chí Bền, Trương Huyền Chi (t.c) (2007), Văn hóa học những phương pháp nghiên cứu, Bùi Lưu Phi Khanh h.đ. Viện Văn hóa Thông tin xb, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học những phương pháp nghiên cứu
Tác giả: Nguyễn Chí Bền, Trương Huyền Chi (t.c)
Năm: 2007
11. Hoàng Hữu Bình (1998), Các tộc người miền núi phía Bắc Việt Nam và môi trường, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tộc người miền núi phía Bắc Việt Nam và môi trường
Tác giả: Hoàng Hữu Bình
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1998
12. Trần Văn Bính (Ch.b) (2004), Văn hoá các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính (Ch.b)
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
13. Báo cáo chuyên gia tư vấn Tây Ban Nha về dự án: Tăng cường năng lực cho ngành du lịch Việt Nam trong thực hiện Chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030 tập trung vào các chính sách có trách nhiệm với xã hội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực cho ngành du lịch Việt Nam trong thực hiện Chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030 tập trung vào các chính sách có trách nhiệm với xã hội
14. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
Năm: 2013
15. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2001), Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2001
16. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hoá học, Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin
Năm: 1997
17. Condominas G., (1997), Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, Bản dịch của Ngọc Hà, Nxb. Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian xã hội vùng Đông Nam Á
Tác giả: Condominas G
Nhà XB: Nxb. Văn hoá
Năm: 1997
20. Lê Đức Cường (2004), “Du lịch văn hoá và giảm nghèo”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, (7), tr.2 - 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch văn hoá và giảm nghèo”, "Tạp chí Du lịch Việt Nam
Tác giả: Lê Đức Cường
Năm: 2004
21. Tráng Xuân Cường (2009), “Nhân rộng mô hình du lịch cộng đồng”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, (11), tr.40 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân rộng mô hình du lịch cộng đồng”, "Tạp chí Du lịch Việt Nam
Tác giả: Tráng Xuân Cường
Năm: 2009
22. Phan Hữu Dật, Ngô Đức Thịnh, Lê Ngọc Thắng, Nguyễn Xuân Độ (Chủ nhiệm đề tài) (1998), Sắc thái văn hoá địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước, Chương trình NCKH Cấp nhà nước KX - 06, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc thái văn hoá địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước
Tác giả: Phan Hữu Dật, Ngô Đức Thịnh, Lê Ngọc Thắng, Nguyễn Xuân Độ (Chủ nhiệm đề tài)
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Lào Cai - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Lào Cai (Trang 154)
Hình 1.2. Bản đồ du lịch huyện Sa Pa - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Hình 1.2. Bản đồ du lịch huyện Sa Pa (Trang 155)
Bảng 2.1: Phân tích văn hóa tộc người trở thành sản phẩm du lịch cộng đồng - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Bảng 2.1 Phân tích văn hóa tộc người trở thành sản phẩm du lịch cộng đồng (Trang 156)
Bảng 2.3: Số lượng khách du lịch đi theo tuyến du lịch làng bản - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Bảng 2.3 Số lượng khách du lịch đi theo tuyến du lịch làng bản (Trang 156)
Bảng 2.4. Số lượng khách đi tham quan các tuyến du lịch cộng đồng - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Bảng 2.4. Số lượng khách đi tham quan các tuyến du lịch cộng đồng (Trang 157)
Bảng 2.5: Số lượng khách du lịch đi theo tuyến du lịch làng bản - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Bảng 2.5 Số lượng khách du lịch đi theo tuyến du lịch làng bản (Trang 157)
Bảng 2.6: Số lượng khách du lịch đi theo tuyến du lịch làng bản - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Bảng 2.6 Số lượng khách du lịch đi theo tuyến du lịch làng bản (Trang 158)
Hình 2.1: Mô hình cơ cấu ban quản lý du lịch cộng đồng tuyến du lịch Cát Cát -  Sín Chải năm 2002 dưới sự tư vấn hỗ trợ của SNV - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Hình 2.1 Mô hình cơ cấu ban quản lý du lịch cộng đồng tuyến du lịch Cát Cát - Sín Chải năm 2002 dưới sự tư vấn hỗ trợ của SNV (Trang 159)
Bảng 2.8 - Thu nhập của hộ gia đình tham gia vào hoạt động du lịch - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Bảng 2.8 Thu nhập của hộ gia đình tham gia vào hoạt động du lịch (Trang 159)
Bảng 2.9: Khách du lịch chi tiêu tại Sín Chải (đoàn 10 người) - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Bảng 2.9 Khách du lịch chi tiêu tại Sín Chải (đoàn 10 người) (Trang 160)
Bảng 3.1. Danh sách các hộ kinh doanh nghỉ trọ trên địa bàn SaPa - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Bảng 3.1. Danh sách các hộ kinh doanh nghỉ trọ trên địa bàn SaPa (Trang 161)
Bảng 3.2. Kết quả điều tra lý do đến Sa Pa - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Bảng 3.2. Kết quả điều tra lý do đến Sa Pa (Trang 165)
Bảng 4.1. Danh sách người dân làm dịch vụ   mang đồ cho khách du lịch bản Sín Chải 2014 - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Bảng 4.1. Danh sách người dân làm dịch vụ mang đồ cho khách du lịch bản Sín Chải 2014 (Trang 166)
Bảng 4.3. Danh sách người dân tham làm hướng dẫn - Luận án tiến sĩ Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người HMông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai
Bảng 4.3. Danh sách người dân tham làm hướng dẫn (Trang 167)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm