Cùng với đó các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp về việc phát hành trái phiếu nói chung và việc phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng nói riêng còn nhiều bất cập và ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THANH NGỌC
PH¸P LUËT VÒ PH¸T HµNH TR¸I PHIÕU
CñA C¤NG TY Cæ PHÇN §¹I CHóNG T¹I VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THANH NGỌC
PH¸P LUËT VÒ PH¸T HµNH TR¸I PHIÕU
CñA C¤NG TY Cæ PHÇN §¹I CHóNG T¹I VIÖT NAM
Mã số:60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi được bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Thanh Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm công ty cổ phần đại chúng 6
1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần đại chúng 6
1.1.2 Đặc điểm công ty cổ phần đại chúng 9
1.2 Khái niệm, đặc điểm phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng 11
1.2.1 Khái niệm trái phiếu công ty cổ phần đại chúng 11
1.2.2 Đặc điểm của trái phiếu công ty cổ phần đại chúng 11
1.2.3 Loại hình và hình thức trái phiếu 13
1.2.4 Kỳ hạn của trái phiếu 14
1.3 Hoạt động phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng 14
1.3.1 Vai trò của hoạt động phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng 14
1.3.2 Thực tiễn hoạt động phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới 17
1.4 Nguồn luật điều chỉnh về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam 27
Kết luận chương 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG TẠI VIỆT NAM 32
2.1 Nguyên tắc phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng 32
Trang 52.2 Điều kiện phát hành, phương án phát hành trái phiếu và thẩm
quyền phê duyệt 33
2.2.1 Đối với phát hành trái phiếu riêng lẻ 33
2.2.2 Đối với chào bán trái phiếu ra công chúng 35
2.3 Trình tự, phương thức phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng 37
2.3.1 Đăng ký phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng 37
2.3.2 Xét duyệt chào bán chứng khoán ra công chúng 39
2.3.3 Thông báo phát hành trái phiếu và công bố thông tin 40
2.3.4 Nghĩa vụ báo cáo của công ty cổ phần đại chúng 48
2.3.5 Phương thức phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng 48
2.4 Quyền lợi của người sở hữu trái phiếu và nghĩa vụ của công ty cổ phần đại chúng 50
2.4.1 Quyền lợi của người sở hữu trái phiếu 50
2.4.2 Nghĩa vụ của công ty cổ phần đại chúng 57
2.5 Xử phạt đối với hành vi vi phạm về công bố thông tin của công ty cổ phần đại chúng 58
2.6 Nguyên nhân hạn chế sự phát triển của hoạt động phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam trong thời gian qua 66
2.6.1 Khung pháp lý về hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp chưa được xây dựng hoàn thiện 66
2.6.2 Thị trường giao dịch trái phiếu chưa hoàn thiện 69
2.6.3 Chưa có quy định khuyến khích các nhà tạo lập thị trường tham gia thị trường trái phiếu 71
Kết luận chương 2 73
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG TẠI VIỆT NAM 74
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam 74
3.1.1 Bảo đảm cơ sở pháp lý huy động vốn của doanh nghiệp 74
Trang 63.1.2 Bảo đảm phát hành trái phiếu doanh nghiệp phù hợp với thông lệ
quốc tế 76
3.2 Một số đề xuất về việc hoàn thiện pháp luật về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam 78
3.2.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam 78
3.2.2 Nới lỏng điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp 80
3.2.3 Phát triển các tổ chức trung gian thị trường, các nhà đầu tư có tổ chức 82
3.2.4 Đa dạng hóa hình thức các loại trái phiếu trên thị trường 82
3.2.5 Công khai, minh bạch thông tin trong việc phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng theo tiêu chuẩn quốc tế 83
3.2.6 Bảo vệ người sở hữu trái phiếu 84
3.2.7 Kiểm soát sử dụng vốn đầu tư trái phiếu 87
Kết luận chương 3 89
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTCP: Công ty cổ phần CTĐC: Công ty cổ phần đại chúng ĐHĐCĐ: Đại hội đồng cổ đông HĐQT: Hội đồng quản trị LCK: Luật chứng khoán
NĐ 90: Nghị định 90/2011 SGDCK: Sàn giao dịch chứng khoán TNHH: Trách nhiệm hữu hạn TPDN: Trái phiếu doanh nghiệp TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán UBCKNN: Ủy ban Chứng khoán nhà nước VSD : Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Như chúng ta đã biết, hàng hóa của một thị trường chứng khoán phát triển bao gồm các loại sau: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và các sản phẩm phái sinh Nhìn lại thị trường chứng khoán Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay thì vẫn chưa đạt được cấp độ cao hay nói một cách khác là chưa được quốc tế công nhận là thị trường chứng khoán phát triển Nguyên nhân của vấn đề này bao gồm nhiều nhân tố như: độ lớn của thị trường hay mức vốn hóa của thị trường, hành lang pháp lý, tính thanh khoản của thị trường….Tuy nhiên, trong đó phải kể đến nhân tố độ lớn giao dịch của mặt hàng trái phiếu trong tổng dung lượng của thị trường Trong tổng khối lượng giao dịch hàng ngày trên thị trường chính thức hay phi chính thức thì mặt hàng cổ phiếu đang có một sức hút lớn đối với các nhà đầu tư, trong khi đó giao dịch của mặt hàng trái phiếu vẫn còn im ắng và dường như còn là khái nhiệm khá xa lạ đối với hầu hết các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư trong nước Trong khi đó, đối với các nhà đầu tư nước ngoài và các tổ chức ngân hàng thì trái phiếu là loại hàng hóa không thể
thiếu trong danh mục đầu tư và là loại hàng hóa ít rủi ro
Cho đến năm 2000 Việt Nam hầu như chưa có thị trường trái phiếu thứ cấp mặc dù trái phiếu chính phủ và trái phiếu của một số doanh nghiệp đã được phát hành trong thập kỷ 1990 Trong khoảng 5 năm trở lại đây thị trường trái phiếu Việt Nam mới bắt đầu phát triển và đang hứa hẹn là một thị trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư và định chế tài chính Trong 6 tháng đầu năm 2015, Kho bạc Nhà nước gặp khó khăn trong việc huy động vốn, khối lượng phát hành chỉ có 75.305 tỷ đồng trái phiếu, bằng 30,4% tổng khối lượng phát hành cả năm 2014 Trái lại, theo thống kê chưa đầy đủ, trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành được 19.515 tỷ đồng, gấp 1,4 lần lượng phát hành 6 tháng đầu năm 2014 và chiếm 85,1% tổng khối lượng phát hành
của cả năm ngoái
Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về “Phát hành trái phiếu doanh nghiệp” được Chính phủ ban hành ngày 14/10/2011, Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012
Trang 92
của Chính phủ “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán” là một bước ngoặt để các doanh nghiệp phần nào có cứ pháp lý vững chắc trong việc phát hành trái phiếu Thêm một thuận lợi nữa, kể từ khi Việt Nam tham gia hội nhập mở cửa
và trở thành thành viên của WTO từ 11/01/2007, nước ta đã chứng kiến sự trỗi dậy của thị trường chứng khoán, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có nhiều lựa chọn hơn trong việc huy động vốn và sử dụng đồng vốn của mình, đặc biệt là đối với các
công ty cổ phần đại chúng
Tuy nhiên việc phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng ở Việt Nam còn mới mẻ sơ khai, trái phiếu doanh nghiệp vẫn chưa phải là loại hàng hóa đáng tin cậy đối với các nhà đầu tư Cùng với đó các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp về việc phát hành trái phiếu nói chung và việc phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng nói riêng còn nhiều bất cập và chưa phù hợp với thực tế phát hành trái phiếu của doanh nghiệp, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi phát hành trái phiếu như là quy định về điều kiện phát hành quá chặt, vênh nhiều so với thực tế; thông tin phát hành trái phiếu chưa minh bạch; việc phát hành trái phiếu không có bảo đảm còn nhiều bất cập và đặc biệt là quyền lợi của người sở hữu trái phiếu vẫn chưa được quy định rõ trong Luật doanh nghiệp… Những bất cập, vướng mắc này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng, tạo môi trường pháp lý đầy đủ, an toàn và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc giúp hoạt động huy động vốn của thông qua kênh phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp diễn ra an toàn, lành
mạnh và ngày càng hiệu quả
Việc chọn đề tài "Pháp luật về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam” có ý nghĩa thiết thực cả lý thuyết lẫn thực tiễn góp phần
đóng góp vào sự hoạt động có hiệu quả đối với việc phát hành trái phiếu của công ty
cổ phần đại chúng
2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề phát hành trái phiếu của doanh nghiệp đã có nhiều bài báo, tạp chí
Trang 103
khoa học chuyên ngành nghiên cứu như, tạp chí luật học, các bài báo trên website Pháp luật Việt Nam hiện hành cũng có các quy định về phát hành trái phiếu của doanh nghiệp, trong đó có công ty cổ phần đại chúng Các nghiên cứu đã khái quát
cơ sở lý luận cũng như thực tiễn và đưa ra những hạn chế, bất cập và đề xuất những kiến nghị sửa đổi để hoàn thiện việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp Tuy nhiên,
về vấn đề pháp luật về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng, đồng thời đánh giá về thực trạng hệ thống pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động việc phát hành trái phiếu của công ty
cổ phần đại chúng, tôi mong muốn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và bản chất pháp luật
về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng, từ đó làm tiền đề cho việc
bổ sung, hoàn thiện pháp luật hoạt động phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng ở Việt Nam
3.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, luận văn đưa ra những mục tiêu cụ thể sau:
- Nghiên cứu có hệ thống những lý luận cơ bản về hoạt động phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật của công ty cổ phần đại chúng
4 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Pháp luật về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng hiện nay còn
Trang 114
nhiều bất cập và cần phải sửa đổi để phù hợp với tình hình thực tế cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế để tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán nói chung và thị trường trái phiếu doanh nghiệp nói riêng được phát triển Các công ty cổ phần đại chúng đều kỳ vọng vào một hành lang pháp lý rộng rãi sát với thực tiễn hiện nay đối với việc phát hành trái phiếu để các doanh nghiệp có cơ hội được thực hiện việc huy động vốn thông qua kênh phát hành trái phiếu, đồng thời các nhà đầu tư cũng
có cơ sở và niềm tin vào thị trường trái phiếu doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu của
đề tài sẽ góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật quốc gia về hoạt động về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng ở Việt Nam và đề xuất những giải pháp được đưa ra có tác dụng khuyến khích sự phát triển thị trường trái phiếu của các công ty cổ phần đại chúng ở Việt Nam
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lý luận về pháp luật phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ
đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về phát hành trái phiếu của các công ty cổ phần đại chúng ở Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn không đi sâu vào tìm hiểu tất cả các vấn đề về pháp lý liên quan đến công ty cổ phần đại chúng ở Việt Nam, mà chỉ tập trung nghiên cứu khía cạnh pháp lý, cơ sở lý luận, mô hình hoạt động, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng Từ đó phân tích, nhận định và đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng ở Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, diễn giải, suy diễn lô gíc trong suốt quá trình nghiên cứu và trình bày đề tài
Trang 125
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên và đề
cập một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận về pháp luật phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam
Về mặt thực tiễn: Luận văn nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống và
toàn diện những quy định của pháp luật về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam Luận văn có sự học hỏi kinh nghiệm của mốt số nước trên thế giới về phát hành trái phiếu doanh nghiệp Đồng thời luận văn đã chỉ ra những bất cập, hạn chế của pháp luật trong việc quy định về phát hành trái phiếu của công
ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam, từ đó đưa ra những phướng hướng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam nhằm thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận cơ bản về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại
chúng và pháp luật điều chỉnh
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động phát hành trái phiếu của
công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam
- Chương 3: Phương hướng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về
phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam
Trang 136
Chương 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
1.1 Khái niệm, đặc điểm công ty cổ phần đại chúng
1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần đại chúng
Số lượng cổ đông của công ty không phải là điều kiện để công ty đó có được trở thành công ty cổ phần đại chúng hay không Một công ty có thể chỉ có ba cổ đông hay một công ty có hàng nghìn cổ đông vẫn có thể trở thành công ty cổ phần đại chúng Như vậy, việc một công ty có phải là đại chúng hay không không phụ thuộc vào quy mô lớn hay nhỏ Trên thế giới các tên tuổi như Deloitte Touche Tohmatsu, Ernst and Young (E&Y), PricewaterhouseCoopers (PwC)… là những công ty xuyên quốc gia hay tại Việt Nam những tên tuổi lớn như Nguyễn Kim, Novaland vốn không phải Công ty cổ phần đại chúng Để tìm hiểu về công ty cổ phần đại chúng, thì trước hết phải hiểu về Công ty nội bộ
Mỗi quốc gia khác nhau thì có quy định về công ty nội bộ khác nhau nhưng đều có cùng chung đặc điểm, đó là: Công ty nội bộ (Private company hay Privately held corporation) thường là một dạng công ty nhỏ, được sở hữu bởi một số người, việc kêu gọi vốn hẹp và không có giao dịch chứng khoán Áp lực về giám sát và yêu cầu minh bạch theo thủ tục (về sổ sách, báo cáo) đối với Công ty nội bội không cao, khả năng bị thâu tóm gần như không có Công ty nội bộ được xem là nhỏ tuy nhiên thực tế lại không hẳn là như vậy Tùy theo đặc điểm hoạt động, ngành nghề kinh doanh và có thể do chủ trương riêng của mỗi công ty, không ít các đại công ty trên thế giới được thành lập từ rất lâu và rất phát triển nhưng hiện nay vẫn duy trì ở tình trạng công ty nội bộ Ví dụ như: Cargill, Chrysler, PricewaterhouseCoopers, Ernst
& Young, Deloitte Touche Tohmatsu, Koch Industries, Bechtel, Mars ở Mỹ hay Ikea, Bosch, Victorinox ở Châu Âu
Một công ty có thể được tổ chức với tình trạng là công ty cổ phần đại chúng ngay từ khi mới thành lập, công ty nội bộ được xem là giai đoạn để chuẩn bị để
Trang 147
bước ra sân đại chúng khi doanh nghiệp có nhu cầu phát triển rộng lớn Đây là quy định mở của pháp luật để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển theo nhu cầu của mình
Theo quy định của pháp luật Mỹ, công ty nội bộ điển hình có tình trạng pháp
lý được gọi là “S Corporation”, những công ty như này sẽ không bị đánh thuế thu nhập doanh nghiệp và toàn bộ lợi nhuận công ty cũng như cổ tức thì cổ đông sẽ có trách nhiệm khai thuế, như vậy có nghĩa là sẽ không bị đánh thuế hai lần Điều kiện
để được là S Corporation đó là công ty chỉ được phát hành một loại cổ phần duy nhất; số cổ đông không lớn hơn 100 người và các cổ đông phải là cá nhân và là công dân Mỹ
Ở Âu Mỹ, các công ty trách nhiệm hữu hạn được tổ chức theo dạng cổ phần, được phân biệt theo đặc điểm nội bộ hay đại chúng (gọi vốn hẹp hay rộng), nên
“private” hay “public” cần được hiểu là nội bộ hay đại chúng chứ không phải là tư hay công
Ở Úc, Luật Công ty 2001 quy định, cổ đông của công ty nội bộ tối đa là 50 người và phải là người ngoài, không làm việc tại công ty
Ở Anh và nhiều nước theo hệ luật của Anh, công ty nội bộ có vốn thành lập nhỏ, chỉ cần một bảng Anh vốn cổ phần ban đầu là đủ Công ty cổ phần đại chúng được gọi là Public limited company, viết tắt là Plc (đuôi Plc bắt buộc phải ghi sau tên công ty) Plc cần số vốn tối thiểu là 50.000 bảng Anh, được huy động vốn và giao dịch cổ phần rộng rãi, số cổ đông tham gia không giới hạn và có tối thiểu hai thành viên quản trị thường trực (công ty nội bộ chỉ cần một)
Ở Mỹ công ty cổ phần đại chúng là loại “C Corporation” Khác với S Corporation, C Corporation phải đóng thuế thu nhập công ty và cổ đông khi nhận cổ tức phải khai thuế thu nhập lần nữa
Dù luật lệ mỗi nước có thể khác nhau, công ty cổ phần đại chúng có nhiều điểm giống nhau như: công ty có thể phát hành nhiều loại chứng khoán để huy động vốn đại chúng trong và ngoài nước, kể cả tổ chức; nhờ yếu tố thanh khoản, doanh nghiệp và cổ đông có thể tận dụng được lợi thế của thị trường vốn, tận dụng các
Trang 15Mỹ trở lên, ra ngoài một tiểu bang và có hơn 500 cổ đông, thì phải đăng ký với SEC (Ủy ban Chứng khoán và TTCK Mỹ)
Nói đến công ty cổ phần đại chúng và thị trường chứng khoán là nói đến hoạt động IPO (Initial public offering) Luật lệ chứng khoán các nước có quy định chặt chẽ về hoạt động IPO bởi hoạt động IPO là bước ngoặt để một công ty trở thành công ty cổ phần đại chúng và thực hiện việc niêm yết trên thị trường chứng khoán
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty cổ phần đại chúng là công ty
cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau đây: (a) Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; (b) Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán; (c) Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên [19, Điều 25]
Như vậy, công ty cổ phần chỉ cần đáp ứng một trong ba điều kiện trên là có thể trở thành công ty cổ phần đại chúng
Đối với công ty cổ phần có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên, được
ít nhất 100 nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp thì đều có thể trở thành công ty cổ phần đại chúng mặc dù công ty đó chưa thực hiện hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng Tuy nhiên, trong vòng
90 ngày kể từ ngày trở thành công ty cổ phần đại chúng, công ty đó bắt buộc phải thực hiện việc đăng ký đại chúng với Ủy ban chứng khoán Nhà nước
Như vậy, ngày hoàn thành việc góp vốn đầy đủ và có số cổ đông từ 100 nhà
Trang 161.1.2 Đặc điểm công ty cổ phần đại chúng
Công ty cổ phần đại chúng là công ty cổ phần, do đó công ty cổ phần đại chúng mang những đặc điểm cơ bản của công ty cổ phần như: về tư cách pháp nhân, về chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn, về vốn điều lệ của công ty Tuy nhiên, công ty cổ phần đại chúng có những đặc thù riêng như sau:
Về cổ đông công ty:
Công ty cổ phần đại chúng là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông công ty cổ phần Số lượng cổ đông tối thiểu (ít nhất là ba), theo
đó, cá nhân, tổ chức không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 đều có quyền tham gia vào công ty cổ phần đại chúng [20, Điều 18] Quyền sở hữu cổ phần là căn cứ xác lập tư cách cổ đông của các thành viên Cổ đông của công ty cổ phần đại chúng thường rất lớn về số lượng và không quen biết nhau Là loại hình đặc trưng cho công ty đối vốn nên công ty cổ phần có sự liên kết của nhiều thành viên
Về phát hành chứng khoán:
Trong quá trình hoạt động công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn Chính vì thế công ty cổ phần đại chúng là loại hình công ty có khả năng huy động vốn rất lớn Chính cơ chế huy động linh hoạt này đã tạo điều kiện cho những cá nhân với số tiền nhỏ cũng có cơ hội đầu tư
và hưởng lợi Cơ chế huy động vốn này còn giúp cho công ty có khả năng chủ động được về nguồn huy động vốn mỗi khi cần nguồn vốn lớn tham gia các hoạt động
Trang 17Về chuyển nhượng cổ phần:
Các cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của các sáng lập viên trong ba năm đầu kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Việc chuyển nhượng cổ phần của công ty cổ phần đại chúng được thực hiện trên thị trường chứng khoán
Về tư cách pháp nhân:
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
“Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá
nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập” [18, Điều 84] Đối với công ty cổ
phần, đã thỏa mãn các điều kiện nêu trên và được, như vậy công ty cổ phần đại chúng là một công ty có tư cách pháp nhân Trong qua trình hoạt động của mình, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty với tư cách là một pháp nhân, thông quan đại diện của mình, công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân
sự trong các quan hệ của mình, và với tư cách là một pháp nhân, công ty có quyền
sở hữu tài sản riêng còn các cổ đông chỉ được sở hữu cổ phần công ty mà không có bất cứ quyền sở hữu nào đối với tài sản của công ty
Đối với công ty cổ phần có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên, được
ít nhất 100 nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp thì đều có thể trở thành công ty cổ phần đại chúng mặc dù công ty đó chưa
Trang 1811
thực hiện hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng Tuy nhiên, trong vòng
90 ngày kể từ ngày trở thành công ty cổ phần đại chúng, công ty đó bắt buộc phải thực hiện việc đăng ký đại chúng với Ủy ban chứng khoán Nhà nước
1.2 Khái niệm, đặc điểm phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng
1.2.1 Khái niệm trái phiếu công ty cổ phần đại chúng
Trái phiếu là một loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành [19, Điều 6]
Trái phiếu cũng được hiểu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể và phải hoàn trả cho vay ban đầu khi đáo hạn
Trái phiếu công ty cổ phần đại chúng là loại chứng khoán nợ do công ty cổ phần đại chúng phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả gốc, lãi và các nghĩa vụ khác (nếu có) của công ty cổ phần đại chúng đối với chủ sở hữu trái phiếu
Trái phiếu công ty cổ phần đại chúng có đặc điểm chung như trái phiếu doanh nghiệp, đó là: trái chủ được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, tuy nhiên trái chủ không được tham dự vào các quyết định của doanh nghiệp, cũng có loại trái phiếu không được trả lãi định kỳ, người mua được mua dưới mệnh giá và khi đáo hạn được nhận lại mệnh giá Khi doanh nghiệp giải thể hoặc thanh lý thì trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước các cổ phiếu
1.2.2 Đặc điểm của trái phiếu công ty cổ phần đại chúng
Trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng có những đặc điểm chung của trái
phiếu doanh nghiệp Cụ thể là:
Trái phiếu là chứng khoán nợ hay một loại giấy nợ, thể hiện các quyền lợi của chủ nợ hay trái chủ (người sở hữu trái phiếu) đối với tổ chức phát hành Trái chủ được hưởng lãi cố định và không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh
của tổ chức phát hành
Tiền lãi trả cho trái chủ (trái tức) được tính vào chi phí tài chính của tổ chức phát hành (doanh nghiệp), do đó được khấu trừ khi tính thu nhập chịu thuế của
doanh nghiệp
Trang 1912
Trái phiếu thể hiện quan hệ giữa chủ nợ - con nợ, giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư Phát hành trái phiếu là đi vay vốn và nhà đầu tư là chủ nợ của tổ chức phát hành, nhà đầu tư có quyền đòi các khoản thanh toán theo cam kết về giá trị và thời hạn, không có quyền tham gia vào những vấn đề của tổ chức phát hành Khi
công ty bị giải thể hay phá sản, nhà đầu tư được ưu tiên trả nợ trước cổ đông
Bên cạnh đó, trái phiếu doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
Mệnh giá trái phiếu: là giá trị danh nghĩa của trái phiếu được in ngay trên tờ trái
phiếu, đại diện cho số tiền trả tại thời điểm đáo hạn Trái phiếu doanh nghiệp được phát hành dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử có mệnh giá tối
thiểu là 100.000 đồng, các mệnh giá khác là bội số của 100.000 đồng [4, Điều 9]
Lãi suất danh nghĩa của trái phiếu: quy định mức lãi của nhà đầu tư được
hưởng hàng năm Thông thường có hai phương thức trả lãi: 06 (sáu) tháng/lần và 01 (một) năm/lần Doanh nghiệp phát hành trái phiếu quyết định lãi suất trái phiếu cho từng đợt phát hành Lãi suất trái phiếu phụ thuộc và sự phát triển của doanh nghiệp cũng như của thị trường, với lợi thế đặc trưng về phương thức bảo lãnh phát hành, lãi suất trái phiếu được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa tổ chức phát hành và
tổ chức bảo lãnh phát hành Lãi suất trái phiếu có thể xác định cố định cho cả kỳ hạn hoặc thả nổi trên thị trường Trường hợp phát hành trái phiếu với lãi suất thả nổi, tổ chức phát hành công bố mức lãi suất tham chiếu để làm căn cứ xác định lãi
suất phải trả cho người sở hữu trái phiếu
- Thời gian đáo hạn: là thời gian mà nhà đầu tư được nhận lại vốn gốc
(mệnh giá) Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như nhau, thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao
- Đồng tiền phát hành: đối với trái phiếu trong nước là đồng Việt Nam, đối
với trái phiếu phát hành ra thị trường quốc tế, đồng tiền phát hành là ngoại tệ tự do chuyển đổi Đồng tiền sử dụng để thanh toán gốc, lãi trái phiếu cùng loại với đồng tiền phát hành trái phiếu đó
Ngoài những đặc điểm như trái phiếu doanh nghiệp thông thường, trái phiếu
do công ty cổ phần đại chúng phát hành còn có những đặc điểm riêng như:
Trang 201.2.3 Loại hình và hình thức trái phiếu
Trái phiếu doanh nghiệp gồm: trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu không chuyển đổi và trái phiếu kèm theo chứng quyền
Trái phiếu không chuyển đổi là loại trái phiếu không có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu, nhà đầu tư chỉ có quyền nhận lại khoản vay gốc và lãi ghi trên tờ trái phiếu
Trái phiếu không chuyển đổi bao gồm trái phiếu có bảo đảm hoặc trái phiếu không có bảo đảm, trái phiếu kèm theo chứng quyền hoặc trái phiếu không kèm theo chứng quyền Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần đều được phát hành trái phiếu không chuyển đổi, tuy nhiên chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành trái phiếu chuyển đổi có kèm theo chứng quyền
Trái phiếu chuyển đổi là trái phiếu có bảo đảm hoặc trái phiếu không có bảo đảm, trái phiếu kèm theo chứng quyền hoặc trái phiếu không kèm theo chứng quyền Chỉ có công ty cổ phần mới được quyền phát hành trái phiếu chuyển đổi
Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của cùng một tổ chức phát hành theo những điều kiện đã được xác định trước Khi doanh nghiệp phát hành trái phiếu lần đầu, trái phiếu chuyển đổi cũng giống như một loại trái phiếu thông thường, mức lãi suất thường thấp do trái phiếu chuyển đổi có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu và các nhà đầu tư sẽ được hưởng lợi từ việc tăng giá của cổ phiếu được chuyển đổi Đến thời hạn chuyển đổi mà nhà đầu tư không chuyển đổi thì sẽ được hoàn trả cả gốc và lãi ghi trên trái phiếu Nếu như công ty hoạt động kém hiệu quả thì trái phiếu sẽ không có khả năng chuyển đổi, do đó các nhà đầu tư sẽ chỉ nhận được khoản lợi tức mà trái phiếu này mang lại Công ty cổ phần đại chúng phát hành trái phiếu chuyển đổi dễ dàng huy động vốn và thu hút nhiều nhà đầu tư hơn so với việc phát hành trái phiếu không chuyển đổi do tính hấp dẫn của việc có thể chuyển đổi từ trái phiếu sang cổ phiếu
Trang 211.2.4 Kỳ hạn của trái phiếu
Doanh nghiệp phát hành trái phiếu quyết định kỳ hạn trái phiếu dựa trên cơ
sở nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp mình Việc quy định về kỳ hạn trái phiếu phải được công bố tại phương án phát hành của doanh nghiệp Trái phiếu doanh
nghiệp có kỳ hạn tối thiểu là một năm
Như vậy, tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng vốn của mình tại từng thời kỳ phát hành mà doanh nghiệp quyết định kỳ hạn trái phiếu dài hay ngắn Với một số trường hợp, đặc biệt là khi lãi suất thấp, doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu kỳ hạn dài với lãi suất cố định để tận dụng nguồn vốn với chi phí thấp Trái phiếu doanh nghiệp được đánh giá có mức rủi ro cao hơn trái phiếu chính phủ, vì vậy lãi suất của trái phiếu doanh nghiệp thường cao hơn lãi suất của trái phiếu chính phủ ở cùng kỳ hạn [1]
1.3 Hoạt động phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng
1.3.1 Vai trò của hoạt động phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng
Hiện nay, nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp là rất lớn, việc phát hành trái phiếu để huy động vốn ngày càng được các doanh nghiệp lựa chọn do đó việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp ngày càng phát triển Trái phiếu doanh nghiệp là chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành để huy động vốn từ các nhà đầu tư Hay nói cách khác nhà đầu tư mua trái phiếu sẽ trở thành chủ nợ của doanh nghiệp và khoản
nợ đó là một loại chứng khoán có thể mua bán chuyển nhượng trên thị trường
Phát hành trái phiếu là một trong các kênh huy động vốn phổ biến của các công ty cổ phần đại chúng Với kỳ hạn dài và áp lực trả nợ thấp, phát hành trái phiếu giúp các doanh nghiệp nói chung và các công ty cổ phần đại chúng nói riêng
Trang 2215
có được nền vốn ổn định, vững chắc trước những biến động của thị trường Ngoài
ra, phát hành trái phiếu thành công cho các nhà đầu tư trên thị trường còn giúp uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp được nâng cao, tạo tiền đề thuận lợi cho các kế hoạch huy động vốn của doanh nghiệp trong tương lai
Với những ưu thế trên, trái phiếu đang dần trở thành một kênh huy động vốn thường xuyên được nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty cổ phần đại chúng cân nhắc lựa chọn và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn hơn trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp Việt Nam
* Đối với nền kinh tế
Phát hành trái phiếu có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Thông qua việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp, nguồn vốn của nhà đầu tư được chuyển cho doanh nghiệp, giúp cho các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo Trước đây, doanh nghiệp khi có nhu cầu về vốn thì thường đi vay ngân hàng và nguồn vốn từ bên ngoài, thì nay phát hành trái phiếu là một kênh huy động vốn hiệu quả giúp cho doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào việc vay ngân hàng hay vay vốn từ nước ngoài mà được chủ động hơn trong cách thức huy động và sử dụng nguồn vốn mà mình huy động được từ việc phát hành trái phiếu
Nếu như vay vốn bằng khoản vay ngân hàng thì các ngân hàng cũng chỉ có thể cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp trong một thời gian ngắn, do đó phát hành trái phiếu doanh nghiệp góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giúp cho các doanh nghiệp có nguồn vốn ổn định, là thị trường cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế
* Đối với công ty cổ phần đại chúng
Việc phát hành trái phiếu giúp cho công ty cổ phần đại chúng huy động được một nguồn vốn ổn định, dài hạn với lãi suất thường thấp hơn so với việc vay vốn ngắn hạn tại ngân hàng Nguồn vốn huy động từ việc phát hành trái phiếu không bị giới hạn bởi quy mô đầu tư đối với doanh nghiệp như vay vốn tại ngân hàng, chỉ cần công ty cổ phần đại chúng có phương án sử dụng vốn huy động hợp lý, có tính khả thi và đảm bảo được khả năng hoàn trả lãi và gốc cho nhà đầu tư
Trang 2316
Công ty cổ phần đại chúng phát hành trái phiếu quyết định kỳ hạn của trái phiếu tùy thuộc vào nhu cầu vốn và khả năng kinh doanh của từng đợt phát hành, tạo thế chủ động cho doanh nghiệp trong việc huy động và sử dụng vốn
Khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ
mở rộng hơn quyền sở hữu trong doanh nghiệp, đồng thời phải trả cổ tức theo hiệu quả kinh doanh cho các nhà đầu tư nên trong một số trường hợp nhất định thì doanh nghiệp đặc biệt là các công ty cổ phần đại chúng không muốn phát hành cổ phiếu, do
đó việc phát hành trái phiếu để huy động vốn là một trong những giải pháp tối ưu nhất cho các doanh nghiệp Doanh nghiệp cũng chỉ chịu trách nhiệm đối với nhà đầu
tư khi trái phiếu đáo hạn bởi phát hành trái phiếu là kênh huy động vốn có thời hạn
Trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn so với cổ phiếu, doanh nghiệp phát hành chỉ phải trả lãi cho nhà đầu tư mà không phải phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty, khi doanh nghiệp bị phá sản thì nhà đầu tư sẽ được ưu tiên thanh toán trước rồi mới đến các cổ đông Đó cũng là một trong những
ưu điểm để thu hút các nhà đầu tư tham gia vào thị trường trái phiếu
* Đối với nhà đầu tư
Thông thường, vốn của chủ sở hữu là vốn ban đầu để thực hiện mục đích kinh doanh Sử dụng vốn của chủ sở hữu có lợi thế là làm giảm chi phí kinh doanh
và tạo lợi ích cho chủ sở hữu Đối với các doanh nghiệp cần mở rộng quy mô kinh doanh thì huy động vốn nợ là cần thiết, tuy nhiên, huy động vốn nợ cũng cần tính đến việc tăng chi phí vay vốn làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp và ảnh hưởng tới lợi ích của chủ sở hữu [12, tr.41] Do đó, doanh nghiệp cũng cần phải có một
tỷ lệ vốn vay trên vốn cổ phần hợp lý để có nhiều nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời cũng tạo được niềm tin của các
nhà đầu tư
Tuy trái phiếu không mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư nhưng mức độ rủi ro ít hơn so với việc đầu tư vào cổ phiếu Thị trường trái phiếu cũng đa dạng với những kỳ hạn trái phiếu khác nhau nên nhà đầu tư có thể lựa chọn cho mình phương
án đầu tư phù hợp nhất Trái phiếu luôn có thời hạn nhất định, khi hết thời hạn ghi
Trang 2417
trên trái phiếu thì nhà đầu tư sẽ nhận được cả gốc và lãi Thu nhập của trái phiếu là tiền lãi và đây là khoản thu nhập cố định mà không phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát hành Khi doanh nghiệp bị phá sản, giải thể thì nhà đầu tư sẽ là người được ưu tiên thanh toán nợ trước các cổ đông, chính vì vậy,
hiện nay trái phiếu doanh nghiệp được rất nhiều nhà đầu tư lựa chọn
1.3.2 Thực tiễn hoạt động phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới
* Pháp luật phát hành trái phiếu doanh nghiệp ở Australian
Hoạt động phát hành trái phiếu ở Autralian được quy định bởi Luật công ty Autralian năm 2001 Trái phiếu là chứng khoán, do đó các nghĩa vụ đối với việc chào bán chứng khoán quy định trong các điều khoản gây quỹ ở Chương 6D, Luật Công ty được áp dụng đối với hoạt động phát hành trái phiếu, bao gồm yêu cầu về chuẩn bị một bản cáo bạch và bản hướng dẫn liên quan đến quảng cáo và công khai
về việc chào bán chứng khoán Chương 2L quy định riêng về trái phiếu trong đó có yêu cầu phải chỉ định một người ủy thác cho những người nắm giữ trái phiếu [31]
Cụ thể, Chương 2L yêu cầu tổ chức phát hành trái phiếu phải xác lập một chứng thư ủy thác liên quan đến trái phiếu và chỉ định một tổ chức đủ điều kiện làm người ủy thác cho những người nắm giữ trái phiếu Chứng thư ủy thác phải có những yêu cầu tối thiểu nhằm bảo vệ lợi ích của những người nắm giữ trái phiếu Ngoài ra, các nghĩa vụ liên quan đến việc thực hiện các chức năng của tổ chức phát hành cũng như của người ủy thác cũng được quy định cụ thể Chương 2L cũng quy định về các loại trái và yêu cầu người ủy thác phải cung cấp cho Ủy ban Đầu tư và Chứng khoán Úc (ASIC) bản báo cáo quý liên quan đến các loại trái phiếu này [33]
Luật Trái phiếu doanh nghiệp đơn giản và các biện pháp khác (Simple Corporate Bonds and Other Measures Act) được thông qua tháng 9 năm 2014 Một điểm quan trọng của Luật này là sự ra đời của các quy định về lãi suất lưu ký trái phiếu doanh nghiệp, theo đó một tổ chức tài chính có thể tạo ra nhuận từ việc lưu ký trái phiếu mà tổ chức đó được ủy thác nắm giữ Ngoài ra, bằng cách này, Luật đã
mở đường cho sự liên kết giữa thị trường trái phiếu doanh nghiệp niêm yết và thị
Trang 2518
trường phi tập trung (OTC), quy định này làm giảm yêu cầu đối với bản cáo bạch phát hành trái phiếu doanh nghiệp hợp pháp bằng cách đưa ra một bản cáo bạch hai phần Bản cáo bạch này cho phép những nhà phát hành quan tâm đến việc tiếp cận các nhà đầu tư nhỏ lẻ, thông qua thị trường niêm yết, đưa ra một bản cáo bạch cơ bản có giá trị trong thời hạn ba năm Các doanh nghiệp sau đó có phát hành bất kể
số lượng các công cụ nợ doanh nghiệp (trái phiếu doanh nghiệp) trong thời gian này bằng cách cung cấp một bản cáo bạch ngắn hơn cho từng giao dịch cụ thể Phương pháp này có khả năng làm tăng số lượng trái phiếu doanh nghiệp được phát hành trực tiếp vào thị trường niêm yết Ngoài ra, một số sửa đổi quan trọng khác giúp giảm rủi ro pháp lý cho các giám đốc của doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp đơn giản (Simpe Corporate Bond) bằng việc xác định những trường hợp trong đó sự phụ thuộc của họ vào thông tin mà người khác cung cấp là một biện pháp bảo vệ được chấp nhận đối với những thiệt hại do việc cung cấp thông tin sai lệch Một quy định khác nhằm đảm bảo đủ thanh khoản là mỗi đượt phát hành phải
Nhìn chung, thị trường trái phiếu vào giữa năm 2007 chiếm khoảng 84% GDP hàng năm của Australian Trong vòng bảy năm sau, vốn phát hành trên thị
Trang 2619
trường trái phiếu Australian đã tăng lên đáng kể đạt tương đương gần 100% GDP
Sự gia tăng này chủ yếu là kết quả của việc phát hành các chứng chỉ nợ của Khối thịnh vượng chung và các Chính phủ liên bang nhằm hỗ trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách của họ khi họ tìm cách hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong suốt cuộc khủng hoảng Trong vài năm gần đây, việc phát hành trái phiếu của các ngân hàng bị chậm lại do các ngân hàng Australian đã tìm cách chuyển hướng sang các kênh huy động vốn lớn hơn Tuy vậy, vốn phát hành của thị trường trái phiếu ngân hàng vẫn cao hơn đáng kể so với thời điểm ngay trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, điều này phản ánh sự tăng trưởng mạnh mẽ của việc phát hành trái phiếu ngân hàng trong năm 2008 và 2009 do hệ thống tài chính tiềm ẩn nhiều rủi ro và các hình thức huy động vốn ngoài ngân hàng chững lại Một trong những lĩnh vực mà thị trường phải chịu tác động lớn nhất từ cuộc khủng hoảng này là chứng khoán đảm bảo bằng tài sản do sự mất lòng tin của nhà đầu tư vào loại tài sản này trên toàn cầu, dẫn đến việc các loại chứng khoán này, về danh nghĩa, giảm gần một nửa và giảm gấp ba lần
so với GDP kể từ giữa năm 2007
Kể từ đầu năm 2013, việc phát hành trái phiếu ở Australian đã liên tục được cải thiện, điều này phản ánh những điều kiện thuận lợi hơn của thị trường này trên thị trường tài chính toàn cầu khi sự phục hồi kinh tế toàn cầu trở nên hiện hữu hơn
và những mối quan tâm về các khoản nợ Chính phủ Châu Âu được nới lỏng Nói chung, việc phát hành trái phiếu đã tăng đáng kể và đáp ứng mạnh mẽ nhu cầu trong
và ngoài nước
Trong năm 2013, thị trường trái phiếu Australian được chú ý nhất bởi các dấu hiệu cho thấy sự cải thiện trong tâm lý các nhà đầu tư đối với những rủi ro của trái phiếu doanh nghiệp có giá trị thấp và các bộ phận của thị trường thu nhập cố định, không công bằng mà nói, ít nhất trong trường hợp của Australian là do sự mất lòng tin của nhà đầu tư toàn cầu Việc phát hành các loại trái phiếu doanh nghiệp có giá trị thấp trong nước ở Australian chỉ bao gồm các loại trái phiếu có mức tín nhiệm cao nhất là BBB+ đến BBB- và đáng chú ý là ở các kỳ hạn dài hơn bình thường Thị trường chứng khoán hóa, đặc biệt đối với chứng khoán được đảm bảo
Trang 27còn giảm mạnh hơn
Một dấu hiệu nữa cho thấy tình hình thị trường được cải thiện là việc liên tục kéo dài thời gian đáo hạn trái phiếu trên hầu hết các phân khúc thị trường Việc kéo dài thời gian đáo hạn phản ánh chủ yếu hai xu hướng phát triển là: (i) cải thiện toàn diện tâm lý rủi ro và; (ii) tìm kiếm lợi nhuận trong một môi trường lãi suất thấp đẩy các nhà đầu tư ra khỏi đường cong lãi suất để kiếm lợi nhuận từ việc mua bán trái phiếu
Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, các doanh nghiệp Australian đã luôn tiếp cận tốt với thị trường trái phiếu trong nước và ngoài nước, nâng tổng thu từ phát hành trái phiếu mới lên 35.1 tỉ đô la kể từ đầu năm 2013 Sự phát triển chính của thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong những năm qua là nhờ vào sự tăng lên đáng
kể của việc phát hành trái phiếu mệnh giá thấp và dài hạn hơn trên thị trường trong nước Tuy các kỳ hạn của trái phiếu trong nước vẫn còn khá ngắn so với các kỳ hạn
mà các doanh nghiệp có thể áp dụng trong việc phát hành trái phiếu ở một số thị trường nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ, việc áp dụng phát hành trái phiếu này vẫn hoàn toàn được khuyến khích phát triển, điều này phản ánh kỳ hạn trái phiếu trong nước ngày càng được tăng lên Các nhà đầu tư đã cảm thấy yên tâm hơn với việc nâng kỳ hạn và giảm mệnh giá trái phiếu trên thị trường trong nước nhằm tăng tổng thu từ phát hành trái phiếu và các doanh nghiệp cũng thấy mức giá hấp dẫn hơn [35]
* Pháp luật phát hành trái phiếu doanh nghiệp ở Singapore
Việc phát hành trái phiếu chính phủ được điều chỉnh bởi Luật Chứng khoán Chính phủ (GSA) Trần nợ cho trái phiếu được xác lập bởi các Nghị quyết của
Trang 2821
Quốc hội do Tổng thống phê duyệt Trần nợ này giới hạn mức Bộ trưởng Bộ Tài chính được ủy quyền vay Tính đến cuối năm 2011, giới hạn vay ủy quyền đối với Tín phiếu kho bạc và Trái phiếu Chứng khoán Chính phủ (SGS) lần lượt là 60 tỷ và
320 tỷ đô la Singapore Theo quy định của Luật Chứng khoán Chính phủ, một Quỹ Chứng khoán Chính phủ (GSF) được thành lập Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát hành chứng khoán, bao gồm tín phiếu Kho bạc và các khoản lợi tức đầu tư có nguồn gốc từ số tiền thu được được nộp vào Quỹ Chứng khoán Chính phủ Quỹ này, theo quy định, chỉ dùng để trả lãi và trả nợ gốc Quy định này nhằm đảm bảo các khoản vay của Chính phủ không được sử dụng cho các khoản chi tiêu của Chính phủ và việc trả lãi và nợ gốc không cần phải được Quốc hội chấp thuận [38]
Thị trường trái phiếu công ty của Singapore chủ yếu bao gồm trái phiếu của các tổ chức chính phủ, trái phiếu trong nước, và trái phiếu nước ngoài dành cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Trái phiếu doanh nghiệp thường được mua và giao dịch trên thị trường chứng khoán phi tập trung (thị trường chứng khoán chưa niêm yết) [29, tr.3]
Luật Chứng Khoán và Kỳ hạn 2001 (SFA) là luật chính điều chỉnh thị trường chứng khoán bao gồm các quy định đối với các nhà đầu tư, các tổ chức phát hành và các phương thức phát hành, bảo vệ nhà đầu tư cũng như quản lý thị trường Vì vậy, luật này đóng vai trò hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực của thị trường chứng khoán [29, tr.5]
Pháp luật Singapore quy định, công ty đại chúng có thể là công ty trách nhiệm hoặc công ty cổ phần Công ty đại chúng là công ty trách nhiệm hữu hạn (LLC) có thể chào bán cổ phiếu ra công chúng Đối với công ty đại chúng là công ty
cổ phần thì phải có ít nhất 50 cổ đông và quan trọng hơn các công ty này phải đáp ứng các quy tắc và quy định nghiêm ngặt do các công ty này được quyền huy động vốn từ công chúng Các công ty Singapore được thành lập dưới dạng công ty đại chúng được phép chào bán cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng với điều kiện việc chào bán này phải đi kèm bản cáo bạch Thông thường, một công ty đại chúng được niêm yết trên thị trường chứng khoán
Trang 2922
Singapore là một trong những nước có thị trường trái phiếu phát triển nhất ở châu Á Theo Báo cáo về thị trường nợ doanh nghiệp của Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS), giá trị vốn hóa thị trường năm 2011 vào khoảng 357 tỷ Đô la Singapore, trong đó có khoảng hai phần ba là Đô la Singapore và phần còn lại chủ yếu là đồng Đô la Mỹ
Thị trường trái phiếu Đô la Singapore được hình thành từ Chứng khoán Chính phủ Singapore (SGS), trái phiếu bán chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp và các loại chứng khoán cấu trúc khác Thị trường trái phiếu Đô la Singapore tiếp cận với tất cả các tổ chức phát hành và các nhà đầu tư trên toàn cầu, không có kiểm soát vốn, hạn chế bảo hiểm rủi ro hay khấu trừ thuế
Vì vậy, hồ sơ thị trường mang bản chất quốc tế, với các tổ chức nước ngoài chiếm hơn một phần tư các nhà phát hành trái phiếu Năm 2009, các quy định được điều chỉnh cho phù hợp nhằm đáp ứng các loại chứng khoán cao cấp do các tổ chức nước ngoài phát hành như là các loại tài sản lưu động theo quy định Từ đó, các đợt phát hành của các tổ chức nước ngoài được đánh giá hạng AAA như Ngân hàng Phát triển Châu Phi, KFW Bankengruppe, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD) đã tăng lên đáng kể
Chứng khoán Chính phủ Singapore chiếm phần lớn trong thị trường trái phiếu Đô la Singapore Trong những năm qua, Chứng khoán Chính phủ Singapore
đã tăng đều đặn từ 43,2 tỷ Đô la Singapore năm 2000 lên mức 138,5 tỷ Đô la Singapore năm 2011 [40]
Gần đây, trái phiếu của Singapore được đánh giá xếp hạng AAA và điều này
đã giúp cho quốc gia này vượt qua Australia và trở thành quốc gia có trái phiếu giá trị nhất thế giới Lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Singapore vào đầu năm 2015 hiện ở mức 2,481% trong khi lãi suất trái phiếu cùng kỳ hạn của Úc là 2,479%, thấp hơn 0,002% tuy thị trường trái phiếu của Singapore chỉ bằng 60% thị trường của Úc
Lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Singapore đang ở mức 2,481% trong khi lãi suất trái phiếu cùng kỳ hạn của Australia là 2,479%, thấp hơn 0,002% Đây
là một tín hiệu đáng chú ý vì thị trường trái phiếu của Singapore chỉ bằng 60% thị trường của Australia
Trang 30dự kiến sẽ được phát hành hàng tháng, ít nhất trong 5 năm [8]
* Pháp luật phát hành trái phiếu doanh nghiệp ở Ấn Độ
Theo Luật Công ty Ấn Độ 1956, một doanh nghiệp phát hành trái phiếu, phải thực hiện một chứng thư ủy thác Sự cần thiết phải thực hiện một chứng thư ủy thác
sẽ phát sinh khi một công ty muốn phát hành một bản cáo bạch hoặc thư chào bán
ra công chúng để đảm bảo việc đăng ký trái phiếu của doanh nghiệp và phục vụ cho mục đích chỉ định một hoặc nhiều nhà ủy thác trái phiếu Chứng thư ủy thác cần nêu
rõ rằng những người ủy thác trái phiếu đã đồng ý để được bổ nhiệm đúng theo quy định của Luật Công ty Vì vậy, người ủy thác trái phiếu sẽ có một vị trí duy nhất là một thực thể độc lập không liên quan đến tổ chức phát hành và được bổ nhiệm để bảo vệ lợi ích của những người nắm giữ trái phiếu [39]
Theo Luật Công ty Ấn Độ 2013 thì trái phiếu chuyển đổi có thể được phát hành Các vấn đề liên quan đến trái phiếu chuyển đổi không còn lệ thuộc vào bất kỳ quy tắc nào hay cấp thuận của chính phủ các bang Việc phát hành trái phiếu có bảo đảm có thể buộc phải tuân thủ các điều khoản và điều kiện được quy định đối với loại trái phiếu này Đối với trái phiếu vĩnh viễn (là trái phiếu không có ngày đáo hạn), Luật Công ty 2013 không có điều khoản quy định về loại trái phiếu này như Luật Công ty 1956 Luật Công ty 2013 quy định rằng công ty phải trả lãi suất và mua lại các trái phiếu phù hợp với các điều khoản và điều kiện phát hành của trái phiếu Tuy nhiên, Luật không quy định thời hạn tối đa đối với loại trái phiếu này
Liên quan đến việc chỉ định các nhà ủy thác trái phiếu, Luật Công ty 2013 quy định công ty không được phát hành bản cáo bạch, mời chào bán ra công chúng
Trang 3124
hay quá 500 thành viên công ty khi đăng ký phát hành trái phiếu công ty, trừ khi trước khi phát hành hoặc chào bán, công ty đã chỉ định các nhà ủy thác và các điều kiện điều chỉnh việc chỉ định các nhà ủy thác này được thực hiện theo đúng quy định Luật Công ty 1956 quy định việc chỉ định như vậy chỉ được thực hiện khi bản cáo bạch đã được phát hành cho công chúng [37]
Pháp luật Ấn Độ quy định công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất 50 cổ đông được coi là công ty đại chúng Công ty trách nhiệm hữu hạn đại chúng có thể chào bán chứng khoán ra công chúng Cổ đông của một công ty công ty trách nhiệm hữu hạn đại chúng có thể chuyển nhượng các cổ phần của mình một cách tự do trên thị trường chứng khoán nơi các cổ phiếu được niêm yết
Còn đối với công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân, cổ đông là nhóm người có quan hệ gần gũi như bạn bè và người thân và phải bao gồm tối thiểu hai cổ đông Một công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân không thể thực hiện việc chào bán cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng Cổ đông của công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân không được chuyển nhượng cổ phần của mình trừ khi được các cổ đông khác đồng ý Ngoài ra, cổ phiếu của công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân không được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán và do đó không thể giao dịch như cổ phiếu của công ty trách nhiệm hữu hạn đại chúng
Trong suốt thập kỷ qua, Ấn Độ được coi là một nền kinh tế tăng trưởng chủ chốt ở châu Á, một trong những thị trường dành cho các nhà đầu tư nước ngoài và
là mục tiêu của nhiều tập đoàn quốc tế trong việc tìm kiếm dịch vụ thuê ngoài giúp
họ cạnh tranh tốt hơn trên trường quốc tế Tóm lại, Ấn Độ được biết đến như một thị trường thành công đang nổi lên Tuy nhiên, thực tế hiện nay lại có sự khác biệt đáng kể do đất nước phải vật lộn với các vấn đề cơ sở hạ tầng về kinh tế và tài chính nghiêm trọng gây cản trở đối với đầu tư nước ngoài Một chính sách được phối hợp chặt chẽ và nhất quán nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường trái phiếu Ấn Độ
vì lợi ích của đất nước và công dân của mình đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế, cũng như tạo nên một thị trường an toàn và hấp dẫn hơn đối với các tổ chức phát hành và các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài
Trang 3225
Không giống như hầu hết các nước mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ có tổng cầu vững chắc và một nền kinh tế theo định hướng tiêu dùng Ấn Độ có kim ngạch xuất khẩu khá đa dạng bao gồm phần mềm, quặng sắt, hàng hóa và phi hàng hóa như máy móc và hóa chất Sự thịnh hành của một nền kinh tế dựa vào tiêu dùng giúp Ấn Độ có lợi thế hơn so với nhiều thị trường mới nổi khác đang quá phụ thuộc vào xuất khẩu Tuy vậy, thị trường vốn Ấn Độ còn kém phát triển hơn so với các thị trường đã chín muồi, thậm chí cả Trung Quốc và gần như đứng ở vị trí cuối trong các nhóm các thị trường mới nổi ở châu Á
Chính vì vậy, Ấn Độ cần phải cải thiện các lĩnh vực cơ sở hạ tầng hiện đang thiếu các nguồn vốn và đầu tư như đường bộ và đường cao tốc hiện rất kém phát triển, đặc biệt là ở những vùng nông thôn Các quy định phức tạp cộng với một thị trường trái phiếu chưa phát triển gây cản trở đầu tư vào các lĩnh vực cơ sở
hạ tầng này
Năm 2012, thị trường trái phiếu Ấn Độ bằng khoảng 27% thị trường trái phiếu Trung Quốc và 69% thị trường trái phiếu Hàn Quốc Đến cuối năm 2012, tổng số trái phiếu đang lưu hành đã chiếm khoảng 1000 tỷ USD, tăng 24% so với năm trước bao gồm cả trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp
Các loại chứng khoán chính phủ chiếm 79% tổng số trái phiếu đang lưu hành, chiếm tỷ lệ lớn hơn so với chứng khoán chính phủ của Trung Quốc là 73% hay của Hàn Quốc chỉ chiếm 39% Năm 2013, số lượng chứng khoán chính phủ đang lưu hành đã tăng vọt với tốc độ tăng trưởng là 23% và đạt 792 tỷ USD so với mức trung bình là 18% một năm trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012 [30, tr.2]
Tỷ lệ trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành trên GDP cho thấy trái phiếu doanh nghiệp Ấn Độ chiếm một tỷ lệ nhỏ, chỉ vào khoảng 5.48% Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở các nước trong khu vực châu Á Thái Bình Dương như Malaysia, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore và Trung Quốc đều vượt xa Ấn Độ nếu
so sánh với tổng GDP Duy nhất chỉ có thị trường trái phiếu doanh nghiệp Indonesia
là yếu hơn trong khu vực Mặc dù chiếm tỷ lệ rất nhỏ trên tổng GDP, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Ấn Độ vẫn thực sự là một trong những thị trường lớn nhất ở
Trang 3326
Đông Á vượt xa hầu hết các thị trường trái phiếu mới nổi, ngoại trừ Trung Quốc và Hàn Quốc Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp phi tài chính không đại diện tích cực trên thị trường trái phiếu Ấn Độ Thực tế, các tổ chức tài chính như ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng chiếm đến 72% tổng số trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành
Tính đến cuối năm 2012, chứng khoán chính phủ và trái phiếu chính phủ chiếm tỷ lệ lớn nhất trên thị trường vào khoảng 543 tỷ USD hay 68% Ngược lại, trái phiếu chính phủ tiểu bang và trái phiếu địa phương chỉ chiếm khoản 20% tổng
số chứng khoán, tăng trung bình 22% mỗi năm từ năm 2000 đến năm 2012 Tốc độ tăng ổn định có thể được giải thích bởi nhu cầu tài trợ cũng như hỗ trợ tài chính cho một số kế hoạch cơ sở hạ tầng quy mô lớn ngày càng tăng [30, tr.4]
* Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Huy động vốn thông qua kênh phát hành trái phiếu hiện nay đang được rất nhiều các doanh nghiệp lựa chọn và đây cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển Từ việc nghiên cứu pháp luật phát hành trái phiếu của một số nước, có thể rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp như sau:
Thứ nhất: Nâng cao chất lượng công bố thông tin và tạo dựng lòng tin của nhà
đầu tư đối với thị trường trái phiếu Trái phiếu doanh nghiệp là một công cụ được chuẩn hóa để một khi doanh nghiệp phát hành thì tất cả các nhà đầu tư đều biết là doanh nghiệp đó đã đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực về báo cáo tài chính, kế toán và minh bạch thông tin Niềm tin là nền tảng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp
Thứ hai: phối hợp với Ngân hàng nhà nước trong việc điều hành thị trường
tài khóa và thị trường tiền tệ nhằm đảm bảo lãi suất phát hành trái phiếu và lãi suất tiền tệ được ổn định, ít biến động
Thứ ba: phát triển hệ thống nhà đầu tư bằng cách có những có chế khuyến
khích phát triển hệ thống nhà đầu tư dài hạn trên thị trường như Quỹ Hưu trí, các công ty bảo hiểm giảm dần sự phụ thuộc vào hệ thống các ngân hàng thương mại Tiếp tục xây dựng lộ trình thu hút nhà đầu tư nước ngoài với các giải pháp căn bản
Trang 3427
để: (i) Ổn định nền kinh tế vĩ mô; (ii) Xây dựng và phát triển các sản phẩm trái phiếu phái sinh như hợp đồng, kỳ hạn để phòng ngừa rủi ro trên thị trường trái phiếu; (iii) Tăng cường tính công khai minh bạch trên thị trường thông qua xây dựng trang thông tin điện tử chuyên biệt cho thị trường trái phiếu gồm đầy đủ dữ liệu thông tin về thị trường
Thứ tư: phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường trên cơ sở hệ thống thành
viên đấu thầu trái phiếu chính phủ với các giải pháp như: (i) Ban hành khuôn khổ pháp lý về quyền lợi và nghĩa vụ của nhà tạo lập thị trường, theo đó nâng cao trách nhiệm của các thành viên đấu thầu trên thị trường sơ cấp; (ii) Thúc đẩy nhanh quá trình đăng ký, lưu ký, niêm yết giao dịch, cung cấp thông tin giá cả nhằm hỗ trợ sự tham gia của các nhà tạo lập thị trường trên thị trường thứ cấp; (iii) Tiếp tục nghiên cứu ban hành cơ chế chính sách về cơ chế hỗ trợ thanh khoản trên thị trường để tiến tới quy định thêm nghĩa vụ đối với các nhà tạo lập thị trường trên thị trường thứ cấp
là chào giá cam kết 2 chiều; (iv) Tăng cường các cuộc đối thoại định kỳ với thành viên để nắm bắt nhu cầu và vướng mắc trong triển khai hệ thống thành viên đấu thầu
Thứ năm: Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin trên thị trường
để đảm bảo hoạt động phát hành và giao dịch trái phiếu diễn ra thông suốt; rút ngắn thời gian từ khâu phát hành đến niêm yết trái phiếu tạo thanh khoản trên thị trường
Thứ sáu: xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu của thị trường trái phiếu doanh
nghiệp để tăng cường tính công khai minh bạch, thúc đẩy sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp
1.4 Nguồn luật điều chỉnh về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam
Có thể nói, thị trường chứng khoán là một trong những tiêu chí đánh giá của một nền kinh tế có phát triển hay không So với các nước trên thế giới, thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và thị trường trái phiếu doanh nghiệp nói riêng ra đời khá muộn Sau khi ra đời thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt là trái phiếu do công ty cổ phần đại chúng phát hành đã góp phần không nhỏ đối với sự phát triển chung của thị trường chứng khoán Nhà nước ta cũng đã ban hành rất
Trang 35Nghị định 120/CP ngày 17/9/1994 kèm theo quy chế tạm thời về việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu DNNN ra thị trường được ban hành
Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về chứng khoán và TTCK hướng dẫn về việc phát hành chứng khoán ra công chúng, giao dịch chứng khoán và các dịch vụ liên quan đến chứng khoán và TTCK
Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán nhằm thay thế cho Nghị định 48/1998/NĐ-CP, trong đó điều chỉnh sâu hơn việc phát hành TPDN ra công chúng, các điều kiện niêm yết TPDN cũng như TPCP tại Trung tâm giao dịch chứng khoán
Thông tư số 75/2004/TT-BTC ngày 23/7/2004 về phát hành TPDN ra công chúng Theo đó, các doanh nghiệp khi phát hành trái phiếu ra công chúng để huy động vốn phải đăng ký với UBCKNN
Nghị định 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 về việc phát hành TPDN thay thế cho Nghị định 120/CP ngày 17/9/1994
Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 ban hành Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Thông tư số 17/2007/TT-BTC hướng dẫn hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng
Trang 36Thông tư 74/2011/TT-BTC ngày 01/06/2011 hướng dẫn về giao dịch trên thị trường chứng khoán
Nghị định 90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp thay thế Nghị định 52/2006/NĐ-CP
Thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán
Thông tư 121/2012/TT-BTC ngày 26/07/2012 thông tư quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty cổ phần đại chúng
Thông tư 211/2012/TT-BTC ngày 05/12/2012 hướng dẫn một số điều thực hiện của Nghị định số 90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Quyết định 56/QĐ-UBCK ngày 31/01/2013 về quy chế chuyển quyền sở hữu chứng khoán của công ty cổ phần đại chúng đã đăng ký tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam nhưng chưa, không niêm yết, đăng ký giao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán
Thông tư 73/2013/TT-BTC ngày 29/05/2013 hướng dẫn chi tiết một số điều
về niêm yết chứng khoán tại Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán
Trang 37tổ chức tín dụng và các quy định pháp luật có liên quan
Quyết định số 578/QĐ-UBCK ngày 04/08/2014 ban hành kèm theo Quy chế hướng dẫn công ty cổ phần đại chúng sử dụng Hệ thống công bố thông tin (IDS) của UBCKNN
Thông tư số 01/2015/TT-BTC hướng dẫn đăng ký giao dịch chứng khoán của các công ty cổ phần đại chúng chưa niêm yết
Thông tư số 05/2015/TT-BTC do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành ngày 15/1/2015 hướng dẫn hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán
Nghị định 60/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán
Như vậy, có thể thấy Việt Nam đã rất quan tâm tới việc phát triển thị trường chứng khoán nói chung và thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt là đối với việc phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng nói riêng Việc ban hành các văn bản pháp luật nhằm quy định cụ thể, chi tiết, kịp thời và phù hợp với tình hình phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và các công ty cổ phần đại chúng chủ động trong việc huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu Mặt khác cũng tạo nên một hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp yên tâm phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật, đồng thời tạo cơ sở pháp lý tăng cường quản lý, giám sát đối với việc phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp để hoạt động này an toàn, hiệu quả hơn
Trang 3831
Kết luận chương 1
Hoạt động trái phiếu là một trong những kênh huy động vốn ổn định và hiệu quả của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với công ty cổ phần đại chúng Chương 1 đã
đề cập đến các vấn đề chung liên quan đến hoạt động phát hành trái phiếu của công
ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam theo pháp luật hiện hành cũng như đề cập đến cấu trúc và quản trị công ty cổ phần đại chúng Qua đó, chúng ta có thể hình dung được tổng quan của pháp luật về phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng tại Việt Nam
Trang 3932
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG TẠI VIỆT NAM
2.1 Nguyên tắc phát hành trái phiếu của công ty cổ phần đại chúng
Công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty [20, Điều 127] Công ty cổ phần đại chúng phát hành trái phiếu theo nguyên tắc tự vay, tự trả và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn Các hoạt động phát hành trái phiếu phải đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Việc phát hành trái phiếu để cơ cấu lại nợ phải đảm bảo nguyên tắc không phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế để cơ cấu lại nợ bằng đồng Việt Nam Đối với phát hành trái phiếu để đầu tư cho các chương trình, dự án, doanh nghiệp phát hành phải đảm bảo duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu là 20% trong tổng mức đầu
tư của chương trình, dự án Đối với trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, ngoài việc tuân thủ quy định của Nghị định 90/2011/NĐ-CP còn phải tuân thủ quy định của pháp luật về vay và trả nợ nước ngoài [4, Điều 4]
Khi phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp phát hành phải xây dựng phương án phát hành trái phiếu và được trình lên cấp có thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận theo quy định Đồng thời phải làm thủ tục xác nhận và đăng ký khoản vay thương mại nước ngoài với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Đối với trái phiếu trong nước, mệnh giá tối thiểu là 100.000 đồng, các mệnh giá khác là bội số của 100.000 đồng Có hai loại hình trái phiếu doanh nghiệp đó là trái phiếu không chuyển đổi (do công ty cổ phần và công ty TNHH phát hành) và trái phiếu chuyển đổi (chỉ công ty cổ phần mới được quyền phát hành)
Doanh nghiệp sẽ không được phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế để cơ cấu lại các khoản nợ của doanh nghiệp Mục đích phát hành trái phiếu là để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư, tăng quy mô vốn hoạt động và cơ cấu lại các khoản nợ của doanh nghiệp
Trang 4033
2.2 Điều kiện phát hành, phương án phát hành trái phiếu và thẩm quyền phê duyệt
2.2.1 Đối với phát hành trái phiếu riêng lẻ
* Điều kiện phát hành trái phiếu
Trái phiếu phát hành riêng lẻ trong nước bao gồm trái phiếu không chuyển đổi, trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu kèm theo chứng quyền
Khi doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu để huy động vốn phải đáp ứng được các điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật Đối với phát hành trái phiếu riêng lẻ, doanh nghiệp phải đáp ứng đủ các điều kiện về thời gian hoạt động tối thiểu là một (01) năm kể từ ngày doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm liền kề trước năm phát hành phải có lãi theo báo cáo tài chính được kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước hoặc tổ chức kiểm toán độc lập được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam và phải là báo cáo kiểm toán nêu ý kiến chấp nhận toàn phần Trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu trước ngày 01 tháng 4 hàng năm chưa có báo cáo tài chính năm của năm liền
kề được kiểm toán thì phải có: (i) Báo cáo tài chính được kiểm toán của năm trước năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi; (ii) Báo cáo tài chính quý gần nhất với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi được kiểm toán (nếu có); (iii) Báo cáo tài chính của năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phê duyệt theo Điều lệ hoạt động của công ty Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn và các hạn chế khác về đảm bảo an toàn trong hoạt động đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại pháp luật chuyên ngành Khi phát hành trái phiếu không chuyển đổi, doanh nghiệp phải có phương án phát hành trái phiếu được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và chấp thuận
Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, còn việc phát hành cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này bởi lẽ cổ phiếu là một mặt hàng hấp dẫn và phổ biến trên thị trường chứng khoán, công ty thường phát hành rộng rãi cổ phiếu ra công chúng như một hình thức huy động vốn hiệu quả [3]