1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu phông lưu trữ quốc hội (giai đoạn 1976 1992) nguồn sử liệu giá trị cần được công bố, giới thiệu phục vụ nghiên cứu lịch sử

123 528 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi quyết định chọn vấn đề “TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ QUỐC HỘI GIAI ĐOẠN 1976-1992 – NGUỒN SỬ LIỆU GIÁ TRỊ CẦN ĐƯỢC CÔNG BỐ, GIỚI THIỆU PHỤC VỤ NGH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀO ĐỨC THUẬN

TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ QUỐC HỘI (GIAI ĐOẠN

1976 – 1992) NGUỒN SỬ LIỆU GIÁ TRỊ CẦN ĐƯỢC CÔNG BỐ, GIỚI THIỆU PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1 11

QUỐC HỘI VÀ GIÁ TRỊ CỦA TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ QUỐC HỘI (GIAI ĐOẠN 1976 - 1992) 11

1.1 Tài liệu phông lưu trữ Quốc hội – một nguồn sử liệu có giá trị 11

1.1.1 Quốc hội và chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội 11

1.1.2 Thành phần, nội dung, đặc điểm tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992). 14

1.1.3 Giá trị của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) 21

1.2 Nguyên tắc, phương pháp và các hình thức công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ 23

CHƯƠNG 2 35

TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ QUỐC HỘI (GIAI ĐOẠN 1976 - 1992) 35 - NGUỒN SỬ LIỆU QUAN TRỌNG PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ 35

2.1 Tình hình công bố, giới thiệu tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992) tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội 35

2.1.1 Những kết quả đạt được trong hoạt động công bố, giới thiệu tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) 35

2.3.2 Những hạn chế trong hoạt động công bố, giới thiệu tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) 36

2.2 Giá trị sử liệu của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992) 37

2.2.1 Phục vụ nghiên cứu lịch sử lập hiến Việt Nam (sự ra đời của Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992) 38

2.2.2 Phục vụ nghiên cứu lịch sử lập pháp Việt Nam 53

2.2.3 Phục vụ nghiên cứu lịch sử tổ chức và hoạt động Quốc hội 72

2.2.4 Phục vụ nghiên cứu lịch sử tổ chức bộ máy Nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương 77

Trang 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH CÔNG BỐ, GIỚI THIỆU 83 TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ QUỐC HỘI (GIAI ĐOẠN 1976 -1992)

3.1 Quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm công bố, giới thiệu tài liệu phông lưu trữ Quốc hội 84 3.2 Xây dựng những nguyên tắc, phương pháp và các hình thức công bố, giới thiệu tài liệu 89 3.3 Nghiên cứu vấn đề giải mật trong công tác công bố, giới thiệu tài liệu phông lưu trữ Quốc hội 93 3.4 Hoàn thiện vấn đề tổ chức khoa học tài liệu phông lưu trữ Quốc hội 97 3.5 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức làm công tác công bố, giới thiệu tài liệu 100

KẾT LUẬN 104 TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC 1 116

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tài liệu lưu trữ là di sản văn hoá đặc biệt của dân tộc Chính vì vậy, tài liệu lưu trữ ở Việt Nam đã và đang được nghiên cứu để phục vụ đắc lực cho việc ban hành các quyết định quản lý, giúp cho các cơ quan, tổ chức có thể điều hành có hiệu quả các công việc của cơ quan, đơn vị mình Chúng ta đều công nhận, cùng với công tác bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ thì công tác tổ chức, sử dụng tài liệu có hiệu quả (mà công bố, giới thiệu tài liệu là một hình thức tổ chức sử dụng đặc biệt) là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác lưu trữ Bởi suy cho cùng thì thì việc chúng ta thu thập, bổ sung, tổ chức khoa học và bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ cũng chỉ nhằm mục đích tối quan trọng là đưa ra phục vụ xã hội, phục vụ công chúng một cách hiệu quả nhất

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước ta là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, qua từng thời kỳ hoạt động đã sản sinh ra rất nhiều tài liệu có giá trị quý báu Nếu như khối tài liệu này được đem ra nghiên cứu, sử dụng phục vụ các nhu cầu khác nhau của xã hội một cách nhanh chóng và hợp lý thì sẽ tạo điều kiện phát huy được tối đa tác dụng của tài liệu lưu trữ đối với đời sống xã hội

Tài liệu hình thành trong qúa trình hoạt động của Quốc hội thời kỳ 1976-1992 thể hiện quan điểm, chủ trương, đường lối và những kết quả đạt được của cơ quan có vai trò đặc biệt quan trọng này trong việc hoạch định các

chính sách phát triển đất nước Đây là giai đoạn mà dân tộc ta thống nhất đất nước về mặt nhà nước (năm 1976) sau hơn hai mươi năm bị chia cắt Quốc hội

nước ta trong giai đoạn này có nhiều sự thay đổi tích cực, thể hiện đường lối cách mạng đúng đắn của dân tộc ta qua từng thời kỳ Giai đoạn 1976-1992

Trang 5

đánh dấu thêm nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, chủ trương “Đổi mới” của

Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo năm 1986 bắt đầu thu được một số kết quả ban đầu Năm 1992, Quốc hội nước ta lại thông qua Hiến pháp mới, thể hiện

tư tưởng đổi mới tích cực để phù hợp với tình hình đất nước trong tình hình mới

Khối tài liệu quý báu này hiện đang được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội, tuy nhiên mức độ được đưa ra công bố, giới thiệu còn hạn chế, chưa xứng với tiềm năng Do đó việc đi sâu tìm hiểu, giới thiệu những tài liệu lưu trữ hiện đang được Nhà nước bảo quản (tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội) với tư cách là nguồn sử liệu chân thực và tin cậy phục vụ cho nghiên cứu lịch sử là một nhiệm vụ cấp thiết hiện nay Xuất phát

từ những lý do trên đây, chúng tôi quyết định chọn vấn đề “TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ QUỐC HỘI (GIAI ĐOẠN 1976-1992) – NGUỒN SỬ LIỆU GIÁ TRỊ CẦN ĐƯỢC CÔNG

BỐ, GIỚI THIỆU PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ”

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm hướng tới một số mục đích chủ yếu sau đây:

- Nhìn nhận thực trạng tài liệu thuộc phông lưu trữ Quốc hội hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội (về tổ chức khoa học tài liệu, thành phần, nội dung, đặc điểm của tài liệu )

- Giới thiệu những thông tin có giá trị về tài liệu thuộc phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) như một nguồn sử liệu quý để các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền và những người nghiên cứu (các nhà nghiên cứu lịch sử, các nhà lưu trữ học, các nhà khoa học, nhà quản lý, các cá nhân… có thể nghiên cứu để công bố, giới thiệu phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử (lịch sử Quốc hội, lịch sử lập hiến, lập pháp, lịch sử tổ chức bộ máy nhà nước ) giai đoạn 1976-1992

2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 6

Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi xác định chủ yếu một số đối tượng nghiên cứu chính là vấn đề giới thiệu tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội Việc xác định đối tượng và mục đích nghiên cứu trên đây đặt ra cho người nghiên cứu vấn đề phải giải quyết những nhiệm vụ chính

sau: Thứ nhất là tìm hiểu và giới thiệu, phân tích một số tài liệu thuộc phông

lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992) về thành phần, nội dung, đặc điểm của các tài liệu đó kèm theo những phân tích, đánh giá về giá trị của chúng Kết quả của việc tìm hiểu, phân tích này sẽ giúp cho việc đánh giá một cách chính xác giá trị của tài liệu thuộc phông lưu trữ Quốc hội như một nguồn sử liệu chân thực, có độ tin cậy cao, cần được công bố phục vụ cho việc nghiên cứu

lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử Quốc hội nói riêng Thứ hai, trên cơ sở

tìm hiểu thực trạng kể trên, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác công bố, giới thiệu tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992) phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử dân tộc

3 Phạm vi và nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu về vấn đề công bố học nói chung và nghiên cứu về phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992) nói riêng là một vấn đề hết sức phức tạp và còn khá mới mẻ đối với bản thân tác giả luận văn Với khả năng và thời

gian hạn chế nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu và giới thiệu tài liệu lưu trữ hành chính hình thành trong qúa trình hoạt động của Quốc hội giai đoạn

1976 -1992 hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà

Nội Các loại hình tài liệu khác phông, thuộc giai đoạn lịch sử trước và sau giai đoạn 1976-1992 không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài Thêm vào

đó chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu và giới thiệu các tài liệu thuộc phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992) dưới góc độ những tài liệu lưu

Trang 7

trữ đó là một trong các nguồn sử liệu tin cậy cần được công bố, giới thiệu

phục vụ các nhu cầu khác nhau của đời sống xã hội Đề tài sẽ không tập trung giải quyết một cách sâu sắc và triệt để toàn bộ vấn đề dưới góc độ phê phán sử liệu học

Nguồn tư liệu tham khảo chính của đề tài là các sách giáo khoa dùng

trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn học Công bố tài liệu văn kiện, Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam…, các văn bản quan trọng như các

văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác của Nhà nước quy định về công tác công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ Ngoài ra, trong khả năng tiếp cận cho phép, chúng tôi sẽ sử dụng các hồ sơ lưu trữ và một số tư liệu bổ trợ khác hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội như nguồn tư liệu tham khảo chính phục vụ cho việc giải quyết nhiệm vụ đặt ra của đề tài Các nguồn tư liệu tham khảo khác như các đề tài nghiên cứu các cấp có liên quan của các nhà lưu trữ học, các nhà quản lý, các sách chuyên luận của nước ngoài và của Việt Nam viết về vấn đề công bố học Thêm vào

đó đề tài sẽ tham khảo, sử dụng thêm một số kết quả nghiên cứu trong các khoá luận tốt nghiệp của sinh viên, luận văn tốt nghiệp của học viên sau đại học ngành Lưu trữ học và Tư liệu học, Lịch sử Việt Nam

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Một số kết quả tìm hiểu ban đầu cho thấy, hầu như chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống về công bố, giới thiệu tài liệu thuộc phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992) Một số bài viết được công bố trên tạp chí Lưu trữ Việt Nam và khoá luận tốt nghiệp cử nhân của

sinh viên đã bước đầu tìm hiểu về vấn đề này Chẳng hạn như bài viết “Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III nguồn sử liệu để nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại” của Phạm Bích Hải, Tạp chí Lưu trữ Việt Nam số

Trang 8

4 2000 Bài viết đã giới thiệu một cách khái quát toàn bộ tài liệu lưu trữ hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội, trong đó có một phần nhỏ giới thiệu về phông lưu trữ Quốc hội cùng những đánh giá bước đầu về giá trị sử liệu của chúng đối với việc nghiên cứu lịch sử Việt

Nam hiện đại Bài viết “Tài liệu lưu trữ ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III với tiềm năng phục vụ các nhu cầu của xã hội” của tác giả Hà Quảng trên Tạp chí

Lưu trữ Việt Nam số 3.2001, trong đó tác giả cũng đã sơ lược giới thiệu thành phần nội dung tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội cũng như tiềm năng của chúng đối với việc phục vụ các nhu cầu của xã hội Một số công trình khoa học của sinh viên thể hiện qua các khoá luận tốt nghiệp cử nhân ngành Lưu trữ học và Quản trị văn phòng như của sinh viên Đào Thị Thu Hiền với đề tài

“Tìm hiểu về tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ phông Quốc hội tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III”, sinh viên Vũ Thị Ngọc Thuý với đề tài “Chỉnh lý tài liệu lưu trữ Phông Quốc hội giai đoạn 1946 – 1992 ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (thuộc đề án nâng cấp)” Một vài bài báo công bố giới thiệu tài liệu của phông Quốc hội như “Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam” trên Tạp

chí Lưu trữ Việt Nam số 1.2001 nhân dịp kỷ niệm 55 năm ngày Quốc hội Việt Nam Tuy nhiên ở cả hai khoá luận tốt nghiệp này, sinh viên cũng mới chỉ bước đầu đưa ra những nhận xét về giá trị sử liệu của phông lưu trữ Quốc hội

mà chưa đi sâu vào việc giới thiệu, phân tích về giá trị của những tài liệu ấy để

có thể công bố, giới thiệu phục vụ cho các mục đích khác nhau Nhìn chung, trong số các bài viết, công trình khoa học nói trên, các tác giả vẫn chỉ gián tiếp

đề cập đến vấn đề cần phải công bố, giới thiệu những tài liệu đó phục vụ cho các nhu cầu của xã hội mà chưa có sự nghiên cứu có hệ thống về vấn đề công

bố, giới thiệu những tài liệu này

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Phương pháp nghiên cứu là vấn đề mà chúng tôi luôn coi trọng trong khi thực hiện đề tài này, cụ thể, luận văn sử dụng các phương pháp kinh điển của lý luận nhận thức Mác - xít là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như kim chỉ nam cho toàn bộ lý luận nhận thức khoa học trong qúa trình hoàn thành luận văn Từ đó chúng tôi vận dụng các phương pháp cụ thể là phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, phương pháp

mô tả, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp

sử liệu học Bổ trợ cho các phương pháp cụ thể kể trên, tác giả có thể sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn đối với một số nhà lưu trữ học, sử học, nhà quản lý, cán bộ lưu trữ và người dân để thu thập thêm các thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi hy vọng luận văn sẽ

là một công trình:

- Giới thiệu một cách có hệ thống thành phần, nội dung và đặc điểm của tài liệu thuộc phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992) kèm theo những phân tích đánh giá ban đầu nhằm giúp cho các nhà nghiên cứu, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin để có thể phục vụ cho các mục đích sử dụng khác nhau, đặ biệt cho các nhà nghiên cứu lịch sử

- Là sản phẩm khoa học góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu và học tập của cán bộ và sinh viên ngành Lưu trữ học và Quản trị văn phòng về công bố học

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương với bố cục

cụ thể như sau:

Chương 1: Quốc hội và giá trị của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai

đoạn 1976 - 1992)

Trang 10

Trong chương này, chúng tôi trình bày đôi nét về chức năng, nhiệm vụ

và quyền hạn của Quốc hội với vai trò là cơ quan duy nhất ở Việt Nam đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân Tiếp đó, chúng tôi đưa ra những kết quả khảo sát, đánh giá ban đầu về thành phần, nội dung và đặc điểm của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) Trên cơ sở đó, tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) cũng được đánh giá về giá trị sử liệu phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử trên một số vấn đề như: nghiên cứu lịch sử lập hiến, lập pháp, tổ chức và hoạt động của Quốc hội và nghiên cứu về lịch sử của các ngành và các địa phương Một số vấn đề về nguyên tắc, phương pháp và hình thức công bố, giới thiệu tài liệu cũng được trình bày Những kết quả nghiên cứu này sẽ giúp chúng tôi có cơ sở để đề xuất những giải pháp chủ yếu ở chương 3 của luận văn

Chương 2: Tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) - Nguồn

sử liệu quan trọng phục vụ nghiên cứu lịch sử

Là chương chính của luận văn, chúng tôi tập trung phân tích những giá trị

về mặt sử liệu của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội Đặc biệt, chúng tôi đi sâu vào giới thiệu những kết quả khảo sát và kèm theo một số phân tích giá trị tiềm năng của phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) trong việc phục vụ nghiên cứu lịch sử trên các khía cạnh như nghiên cứu lịch sử lập hiến và lập pháp Việt Nam (giai đoạn 1976 - 1992) và nghiên cứu về lịch sử tổ chức và hoạt động của Quốc hội, nghiên cứu lịch sử của các ngành và các địa phương Đóng góp chính của chương này là giới thiệu được cho những người nghiên cứu lịch sử những thông tin giá trị về một bộ phận tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội Với giá trị to lớn này, nếu được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu để công bố, giới thiệu kịp thời sẽ phát huy được giá trị đặc biệt của tài liệu phông lưu trữ này

Trang 11

Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công bố, giới thiệu tài liệu phông

lưu trữ Quốc hội giai đoạn 1976 -1992

Ở chương này, chúng tôi đề xuất một số giải pháp, trong đó có những giải pháp trước mắt và lâu dài để có thể đẩy mạnh hơn nữa hoạt động công bố, giới thiệu tài liệu ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu về thông tin tài liệu lưu trữ cho các nhà nghiên cứu lịch sử và cho hoạt động của chính Quốc hội Kết quả của hoạt động công bố, giới thiệu tài liệu sẽ có nhiều tác động tích cực tới hoạt động nghiên cứu lịch sử của những người quan tâm đến khối tài liệu này cũng như để nâng cao hơn chất lượng hoạt động của Quốc hội để Quốc hội xứng đáng với vị trí là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân cả nước

Cuối cùng, cho phép tác giả được gửi lời biết ơn và cảm tạ sâu sắc tới những người đã giúp đỡ để chúng tôi có thể hoàn thành luận văn này, đặc biệt

là PGS Nguyễn Văn Hàm Chúng tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn vì sự giúp đỡ quý báu, tận tình của lãnh đạo và các cán bộ hiện đang công tác tại Phòng Tổ chức sử dụng thuộc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội, Thư viện Quốc hội đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để chúng tôi có thể tiếp cận được nguồn tư liệu, các thầy cô giáo trong Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng, bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã động viên, đóng góp nhiều ý kiến

bổ ích để chúng tôi có thể hoàn thành luận văn này

Hà Nội, tháng 8 năm 2004

Trang 12

CHƯƠNG 1 QUỐC HỘI VÀ GIÁ TRỊ CỦA TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ QUỐC HỘI

(GIAI ĐOẠN 1976 - 1992)

1.1 Tài liệu phông lưu trữ Quốc hội – một nguồn sử liệu có giá trị

1.1.1 Quốc hội và chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội

Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, được thừa nhận trong Hiến pháp của nước Việt Nam Trong cả 4 bản Hiến pháp (Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992) đã được ban hành kể từ khi nhà nước Việt Nam độc lập (năm 1945) đều xác lập vị trí này của Quốc hội Kể từ khi xuất hiện lần đầu tiên trong Hiến pháp 1946 với tên gọi là Nghị viện nhân dân cho đến

Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001), Quốc hội là cơ quan quyền lực duy nhất

ở Vịêt Nam có quyền lập hiến và lập pháp Dù có sự thay đổi về tên gọi và

một số chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn thể hiện qua các bản Hiến pháp, song tập trung lại, theo Hiến pháp 1992 được Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 thông qua và theo Luật

Tổ chức Quốc hội được Quốc hội thông qua năm 2001 thì Quốc hội có một số chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn sau đây

1.1.1.1 Chức năng của Quốc hội

Trang 13

- Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp

- Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội

và hoạt động của công dân

- Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước

1.1.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội

Quốc hội có một số nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu sau đây

- Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chung chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

- Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

- Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế

- Quyết định chính sách dân tộc của Nhà nước

- Quy định tổ chức hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương

- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh chủ chốt của Nhà nước

Trang 14

- Quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và tương đương, thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh và tương đương…

- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội

- Quy định và quyết định một số vấn đề khác như hàm cấp trong lực lượng vũ trang, ngoại giao…, đại xá, chiến tranh và hoà bình, những chính sách cơ bản về đối ngoại, trưng cầu dân ý… [20; 9]

Như vậy, với vị trí đã được xác lập trong Hiến pháp, có thể nói vị trí của Quốc hội là đặc biệt quan trọng Điều này một lần nữa được thể hiện trong

Luật Tổ chức Quốc hội, cụ thể là Điều 1 của Luật này được Quốc hội thông

qua ngày 25.12.2001 và được Lệnh của Chủ tịch nước công bố ngày 07.01.2002 đã khẳng định một cách vắn tắt chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn

của Quốc hội như “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước”[20; 7] Chính vì vị trí và tầm quan trọng hết sức đặc biệt

như vậy, toàn bộ tài liệu hình thành trong qúa trình hoạt động của Quốc hội đã được lập thành phông lưu trữ Hiện nay theo quy định hiện hành, toàn bộ tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội có thời gian từ 1946 đến 1992 hiện đang được bảo quản thống nhất tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội

Trang 15

1.1.2 Thành phần, nội dung, đặc điểm tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992)

Theo Quyết định số 54/QĐ - TCCB ngày 26.6.1995 của Cục Lưu trữ Nhà nước (nay là Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước) thì Trung tâm Lưu trữ

Quốc gia III Hà Nội với chức năng chủ yếu là “thu thập, bổ sung, bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ có ý nghĩa toàn quốc từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay” Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III

Hà Nội là một trung tâm lưu trữ “mở”, tức là hàng năm trung tâm đều tổ chức tiếp nhận tài liệu đã đến hạn nộp lưu theo quy định Nguồn tài liệu nộp lưu là các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương đóng trên địa bàn lãnh thổ từ Quảng Bình trở ra phía Bắc Tài liệu lưu trữ hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội có giá trị đặc biệt, có tầm ảnh hưởng

sâu rộng trên phạm vi cả nước Trong số gần 6000 mét giá tài liệu hiện đang

được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội với nhiều loại hình khác nhau thì một trong những khối tài liệu quan trọng nhất là phông lưu trữ Quốc hội

Như Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam Toàn bộ phông lưu trữ Quốc hội (tính từ Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946), từ những hồ sơ tài liệu gốc về cuộc tổng tuyển cử đầu tiên ngày 06.01.1946 đến các hồ sơ về các kỳ họp Quốc hội sau này cùng nhiều tài liệu khác đều có giá trị đặc biệt trong việc công bố, giới thiệu phục

vụ các nhu cầu khác nhau của đời sống xã hội, đặc biệt là phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử Do đó, phông lưu trữ Quốc hội có vị trí đặc biệt trong thành phần Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam, hay cụ thể hơn là có vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ các khối tài liệu hiện đang được bảo quản tại

Trang 16

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội Tài liệu lưu trữ thuộc phông Quốc hội (giai đoạn 1976-1992) có một số đặc điểm sau

Toàn bộ tài liệu thuộc phông lưu trữ Quốc hội từ 1946 đến 1992 đã được giao nộp và bổ sung vào Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước Tính đến nay, toàn bộ tài liệu phông Quốc hội đã được giao nộp vào Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội sau 6 đợt tiến hành bổ sung Cụ thể là:

- Đợt 1: Ngày 01.11.1975 gồm 27 cặp bao gồm tài liệu của các khoá Quốc hội I, II, III có thời gian từ năm 1946 – 1965

- Đợt 2: Ngày 10.8.1978 gồm 104 cặp bao gồm tài liệu của các khoá Quốc hội I, II, III có thời gian từ năm 1946 - 1965

- Đợt 3: Ngày 26.3.1981 gồm 108 cặp bao gồm tài liệu của các khoá Quốc hội III, IV, V có thời gian từ 1956 – 1974

- Đợt 4: Ngày 25.8.1983 gồm 53 cặp bao gồm 50 cặp về Dự thảo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 và 03 tập công văn lưu năm 1978

- Đợt 5: Tháng 7.1991 gồm 212 cặp bao gồm tài liệu từ khoá I đến khoá

VI và 41 cặp tài liệu trong tình trạng bó gói

- Đợt 6: Ngày 06.8.1997 gồm 289 hộp tài liệu của Quốc hội khoá VI đến Khoá VIII có thời gian từ 1976 – 1992

Hầu hết tài liệu thu được về Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội ban đầu đều trong tình trạng bó gói, chưa được chỉnh lý hoặc mới chỉ được sắp

xếp ở mức sơ bộ Tính đến thời điểm hiện nay, toàn bộ tài liệu của phông Quốc hội đã được chỉnh lý làm 3 đợt vào các năm 1980, 1982, 1991 với tổng

số hồ sơ được lập là 6842 hồ sơ, hầu hết các hồ sơ đều có giá trị bảo quản vĩnh

viễn, một số ít hồ sơ có thời hạn bảo quản lâu dài và tạm thời Kết quả khảo

Trang 17

sát ban đầu cho thấy toàn bộ khối lượng tài liệu này phản ánh quá trình hoạt động của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ Quốc hội khoá I (1946) đến Quốc hội khoá VIII (từ 6.1987 đến 1992), bao gồm nhiều loại hình tài liệu khác nhau như tài liệu hành chính (chiếm đa số), phim ảnh ghi âm… Trong đó nhìn chung thành phần và nội dung của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 – 1992) đã phản ánh khá đầy đủ hoạt động của Quốc hội trên tất cả các mặt công tác Cụ thể là toàn bộ tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội giai đoạn (1976 - 1992) được chia thành các khoá VI, VII, VIII Trong mỗi khoá đó, căn cứ vào những nét tương đồng của nội dung tài liệu, có thể tập trung thành một số nhóm như:

- Tài liệu bầu cử đại biểu Quốc hội: Tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc

hội chiếm số lượng khá lớn trong giai đoạn 1976 – 1992, phản ánh đầy đủ quá trình bầu cử Quốc hội các khoá VI, VII, VIII Các tài liệu đó phản ánh quá trình bầu cử trên phạm vi toàn quốc từ giai đoạn chuẩn bị đến khi kết thúc bao gồm: các văn bản chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, của Ban chỉ đạo hội đồng bầu cử Do khoá VI là khoá Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất nên trong khối tài liệu bầu

cử đại biểu Quốc hội khoá VI còn xuất hiện tài liệu về chỉ đạo bầu cử ở miền Bắc của Phủ Thủ tướng, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử miền Bắc, tài liệu về chỉ đạo bầu cử ở miền Nam của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phủ Chủ tịch, Ban chỉ đạo bầu cử ở miền Nam, Hội đồng bầu cử miền Nam, Ban An ninh miền Nam… Ngoài ra còn có một số tài liệu khác như báo cáo, biên bản về kết quả bầu cử của các tỉnh trong cả nước, biên bản bầu bổ sung (nếu có)

- Tài liệu, hồ sơ về các kỳ họp của Quốc hội: Quốc hội của nước ta thực

hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình thông qua chế độ làm

Trang 18

việc là các cuộc họp, một năm thường họp hai lần, trừ khi được triệu tập đột xuất, có một số năm do nhiều lý do khác nhau nên chỉ họp một lần như các năm 1976, 1978… Có thể nói tài liệu phản ánh các kỳ họp của Quốc hội chiếm số lượng đồ sộ và có giá trị nhất trong toàn bộ tài liệu của Phông Quốc hội, đặc biệt là giai đoạn 1976 – 1992, giai đoạn thống nhất về mặt nhà nước

và pháp luật Do Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định các vấn đề mang tính chất quốc kế dân sinh, những chiến lược về mặt đối nội và đối ngoại… nên các kỳ họp của Quốc hội đã được phản ánh rất đầy đủ thông qua nhiều tài liệu như chương trình kỳ họp, biên bản tóm tắt các

kỳ họp, danh sách Đoàn chủ tịch và danh sách đại biểu dự, đại biểu vắng mặt, tham luận của các đại biểu, công văn, tài liệu của các Bộ, ngành trả lời chất vấn của đại biểu, báo cáo công tác của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban chuyên môn của Quốc hội, các tài liệu phản ánh kết quả tiếp xúc cử tri của đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh…

- Tài liệu về hoạt động của các đại biểu Quốc hội: Đại biểu Quốc hội

do nhân dân cả nước bầu ra, đại diện cho nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân lao động Một trong những hoạt động quan trọng nhất của đại biểu Quốc hội là tham gia vào các kỳ họp của Quốc hội, thảo luận trong các tổ trong các

kỳ họp của Quốc hội theo các nhiệm vụ của người đại biểu Quốc hội, chuẩn bị các tham luận trình bày tại các kỳ họp Nhóm tài liệu về hoạt động của các đại biểu Quốc hội còn có tài liệu phản ánh về các kiến nghị của các đại biểu Quốc hội, tài liệu ghi lại kết quả làm việc, tiếp xúc cử tri của các đoàn đại biểu Quốc hội với các cơ quan, các địa phương, tài liệu phản ánh kết quả làm việc trong các chuyến viếng thăm của đoàn đại biểu Quốc hội nước ta tới các nước…

- Tài liệu về hoạt động của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (Hội đồng Nhà nước) và Văn phòng Quốc hội: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội theo Luật Tổ

Trang 19

chức Quốc hội, là cơ quan làm việc thường xuyên nhất của Quốc hội, được Quốc hội giao cho một số quyền hạn nhất định giữa hai kỳ họp của Quốc hội, được quyền ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật Văn phòng Quốc hội như chúng ta biết là cơ quan giúp việc thường xuyên cho tất cả các hoạt động của Quốc hội Do vậy, tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của hai cơ quan này đề cập đến rất nhiều vấn đề quan trọng và chiếm số lượng khá lớn trong toàn bộ tài liệu trong phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 – 1992) Tài liệu của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Văn phòng Quốc hội cho thấy rất nhiều nội dung có giá trị như kế hoạch, báo cáo công tác của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Văn phòng Quốc hội, hồ sơ về các phiên họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (Hội đồng Nhà nước), tài liệu đề cập đến vấn đề ân giảm án, đặc xá cho phạm nhân

- Tài liệu về hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban thường trực của Quốc hội (chủ yếu của Uỷ ban pháp luật và Uỷ ban đối ngoại): Hội

đồng dân tộc và các Uỷ ban chuyên môn là các cơ quan giúp việc của Quốc hội theo lĩnh vực hoặc nhóm lĩnh vực được giao Kết quả khảo sát, nghiên cứu cho thấy là tài liệu hình thành trong qúa trình hoạt động của các cơ quan này phản ánh khá rõ nét chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chúng Tài liệu hình thành bao gồm các văn bản chỉ đạo, chương trình và báo cáo kết quả hoạt động của Hội đồng và các Uỷ ban Khi tiếp cận khối tài liệu này, chúng tôi nhận thấy tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan này trong giai đoạn 1976 – 1992 chủ yếu là tài liệu của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban đối ngoại và Uỷ ban pháp luật Điều này có thể dễ lý giải là sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, nước Việt Nam thống nhất đã được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận và chính thức đặt quan hệ ngoại giao, nước ta cũng chủ trương mở rộng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa anh

Trang 20

em và các quốc gia yêu chuộng hoà bình trên thế giới để hợp tác trên tất cả các lĩnh vực nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế – xã hội Bên cạnh vấn đề thống nhất về mặt nhà nước thì vấn đề thống nhất về mặt pháp luật cũng được đặt ra như một yêu cầu hết sức cần thiết Do vậy, thời kỳ này

Uỷ ban pháp luật của Quốc hội đã cho thấy quá trình và những thành tựu của công cuộc lập hiến và lập pháp của nước ta trong suốt một quá trình 16 năm từ Quốc hội khoá VI đến Quốc hội khoá VIII

- Tài liệu của các Bộ, ngành, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố gửi tới báo cáo công tác: Quốc hội là cơ quan quyền lực

nhà nước cao nhất, có quan hệ công tác với tất cả các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương Do vậy, trong phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn

1976 – 1992), chúng tôi nhận thấy còn có nhiều tài liệu của các cơ quan Bộ ngành ở trung ương, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các tỉnh trao đổi qua lại, chủ yếu là để báo cáo công tác, xin ý kiến chỉ đạo, trả lời ý kiến chất vấn của các đại biểu Quốc hội trong và sau các kỳ họp của Quốc hội… Những tài liệu này cho chúng ta thấy mối quan hệ nhiều chiều giữa Quốc hội với các

cơ quan trung ương và địa phương trong quá trình công tác để thực hiện chức năng và các nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Tuy không phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài, song bên cạnh khối tài liệu hành chính có dịp tiếp cận được, chúng tôi nhận thấy qua một số tài liệu tham khảo còn có một số lượng không nhỏ tài liệu phim ảnh (bao gồm khoảng gần 2000 tấm ảnh ghi lại các hoạt động quan trọng của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội…), tài liệu ghi âm ghi lại các bài phát biểu, bài nói của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Quốc hội trong các kỳ họp của Quốc hội Nhóm tài liệu này cùng với tài liệu hành chính, nếu được công bố,

Trang 21

giới thiệu có hiệu quả sẽ là nguồn sử liệu quan trọng giúp cho việc nghiên cứu khoa học và nghiên cứu lịch sử

Về đặc điểm của tài liệu: Tài liệu phông lưu trữ Quốc hội sau khi được giao nộp vào Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội đều được tổ chức khoa học và có chế độ bảo quản an toàn Tất cả tài liệu hành chính của Phông Quốc

hội được hệ thống hoá theo phương án Thời gian (Khoá) – Cơ cấu tổ chức,

một phương án áp dụng rất hợp lý khi hệ thống hóa tài liệu của phông lưu trữ này Có thể nói hầu hết tài liệu của phông Quốc hội nói chung (giai đoạn 1976 – 1992) nói riêng đều là bản chính, bản gốc, có giá trị pháp lý nên có độ tin cậy cao

Nội dung của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội có một vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ thành phần Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam Xét dưới góc độ là nguồn sử liệu chữ viết thì tài liệu lưu trữ của phông Quốc hội là những chứng cứ lịch sử phản ánh sự ra đời, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và hoạt động của Quốc hội như một cơ quan đại diện cho nhân dân, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp cũng như quyền quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và về các quan hệ xã hội và hoạt động của công dân Do tầm quan trọng đặc biệt của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội nên trong những năm gần đây, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội đã tiến hành chỉnh lý hoàn chỉnh khối tài liệu lưu trữ của phông này trong chương trình thực hiện

“Đề án chống nguy cơ huỷ hoại, bảo quản an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ của Quốc gia” đã được Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức Cán bộ

Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) phê duyệt năm 1998 Toàn bộ tài liệu đã được lập hồ sơ đầy đủ và có công cụ tra cứu khoa học, thuận tiện cho công tác tra

Trang 22

cứu, sử dụng tài liệu lưu trữ Về tình trạng vật lý của tài liệu, có thể nhận thấy tài liệu nếu như so với toàn bộ tài liệu của phông Quốc hội nói chung từ những năm 1946 là bị ố vàng, mờ chữ, ròn và rách thì tài liệu của phông Quốc hội (giai đoạn 1976 – 1992) có tình trạng vật lý khá hơn, đa số tài liệu được làm trên giấy có chất lượng tốt, lại được sản sinh trong những năm gần đây nên có điều kiện được bảo quản tốt hơn Song do nhiều yếu tố trong đó có yếu

tố môi trường thiên nhiên của nước ta rất khắc nghiệt nên nếu như không có những phương pháp bảo quản và phòng chống huỷ hoại tốt thì tài liệu vẫn luôn nằm trong nguy cơ tiềm ẩn bị huỷ hoại cao

Về thể thức và mức độ hoàn chỉnh của tài liệu trong phông: So sánh với thể thức của tài liệu trong phông ở các giai đoạn trước đó, có thể thấy rằng, thể thức văn bản đã đầy đủ hơn về các yếu tố thông tin, chất lượng giấy tương đối tốt Các hồ sơ được lập và biên mục khá hoàn chỉnh, việc sắp xếp tài liệu bên trong hồ sơ, đánh số tờ, viết mục lục văn kiện, chứng từ kết thúc, giới thiệu tiêu đề bên ngoài hồ sơ… được thực hiện khá tốt Qua nhiều lần được khai thác sử dụng nhưng chưa thấy có sự mất mát, thất lạc nhiều về tài liệu trong

hồ sơ Toàn bộ gần 7000 hồ sơ của phông lưu trữ Quốc hội nói chung đã được lập thành danh mục với 3 quyển mục lục hồ sơ dày hàng ngàn trang Điều này

là một thuận lợi cơ bản cho công tác tra tìm và sử dụng tài liệu

1.1.3 Giá trị của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992)

Về tính xác thực và độ tin cậy đặc biệt của tài liệu lưu trữ so với các nguồn tài liệu khác, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với tác giả Lâm Bá Nam – Vũ

Thị Phụng trong bài viết “Sử dụng tài liệu lưu trữ trong việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương” trên tạp chí Lưu trữ Việt Nam số 3.1991 khi

khẳng định về tính chân thật, không thể thay thế của tài liệu lưu trữ trong việc

phục vụ nghiên cứu lịch sử địa phương Đó là “có thể coi tài liệu lưu trữ là

Trang 23

những nhân chứng lịch sử, bởi lẽ nó được sản sinh ra gần như đồng thời với các sự kiện, hiện tượng lịch sử và do nhu cầu khách quan của mọi hoạt động trong quá khứ… giúp chúng ta tiếp cận với sự thật lịch sử” [ 28; 4]

Quả đúng vậy, với những đặc điểm đặc biệt của tài liệu lưu trữ so với những nguồn sử liệu, tư liệu khác, tài liệu lưu trữ hoàn toàn là những chứng cứ quan trọng nhất giúp cho việc nghiên cứu lịch sử trên tất cả các lĩnh vực kinh

tế, chính trị, văn hoá, xã hội

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sẽ xem xét giá trị của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội phục vụ cho nghiên cứu lịch sử trên cơ sở phân tích thành phần, nội dung của tài liệu theo lịch sử từng khoá Quốc hội, từ khóa VI (6.1976 đến 6.1981), khoá VII (6.1981 đến 6.1987), khoá VIII (6.1987 đến 1992) Từ kết quả phân tích đó, chúng tôi sẽ có sự so sánh, khái quát giá trị của tài liệu lưu trữ phông Quốc hội (giai đoạn 1976 – 1992) phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử

Qua một thời gian nghiên cứu tư liệu và khảo sát tài liệu trực tiếp trên một số tài liệu lưu trữ của phông Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992), chúng tôi nhận thấy giá trị tài liệu của phông lưu trữ này có thể phục vụ cho nhiều khía cạnh của nghiên cứu lịch sử Chẳng hạn như có thể khái quát về giá trị sử liệu của những tài liệu này theo một số vấn đề sau:

- Tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội giúp cho việc nghiên cứu lịch sử lập hiến Việt Nam giai đoạn 1976 – 1992

- Tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội giúp cho việc nghiên cứu lịch sử lập pháp Việt Nam (giai đoạn 1976 - 1992)

- Tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội giúp cho việc nghiên cứu lịch sử

tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam (giai đoạn 1976 - 1992)

Trang 24

- Tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội giúp cho việc nghiên cứu kiện toàn bộ máy Nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương

- Tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội giúp cho việc nghiên cứu nhiều vấn đề về chính trị, kịnh tế, xã hội… quan trọng khác trong một giai đoạn lịch

sử nhất định (giai đoạn 1976 - 1992) như về hoạt động giám sát của Quốc hội, vấn đề quyết định những vấn đề lớn của đất nước và về hoạt động đối nội, đối ngoại của đất nước

Tuy nhiên, với điều kiện và khả năng nghiên cứu cho phép, tác giả luận văn sẽ cố gắng giới thiệu những tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn

1976 - 1992) phản ánh về bốn vấn đề đầu tiên (được đề cập kỹ hơn ở chương

2 của luận văn)

1.2 Nguyên tắc, phương pháp và các hình thức công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ

Từ những nhận định, phân tích trên về thành phần, nội dung, đặc điểm

và giá trị của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) trong việc phục vụ nghiên cứu lịch sử, chúng tôi cho rằng để có thể công bố để sử dụng có hiệu quả theo những mục đích khác nhau thì phải tuân thủ theo một

số nội dung có tính nguyên tắc sau

Theo tiếng Hy Lạp cổ thì nguồn gốc của thuật ngữ “công bố học” bắt đầu từ chữ “Archaios” có nghĩa là cổ xưa, xa xưa, lâu đời và “grapho” nghĩa

là viết, ghi chép và mô tả các bản thảo cổ Với nguồn gốc xuất phát kể trên thì các nội hàm của thuật ngữ “công bố học” là chưa thực sự rõ ràng, hầu như nó mới chỉ phản ánh được một phần của công bố học theo cách hiểu của chúng ta ngày nay

Theo các nhà công bố học Liên Xô trước đây và Liên bang Nga hiện

nay thì “công bố học là một môn khoa học bổ trợ cho khoa học lịch sử, nghiên

Trang 25

cứu lý luận và phương pháp công bố các sử liệu chữ viết (văn tự)” [21; 10]

Theo cách hiểu này thì định nghĩa này có hai phần tách biệt, thể hiện hai sự

khẳng định Một là “công bố học là một môn khoa học bổ trợ cho khoa học lịch sử” Khoa học về công bố chưa phải là một khoa học độc lập, nó nằm

trong hệ thống các khoa học bổ trợ cho khoa học lịch sử khác như lưu trữ học,

bảo tàng học Hai là “ nghiên cứu lý luận và phương pháp công bố các sử liệu chữ viết (văn tự)” Cách khẳng định này cho thấy khoa học công bố đã

được xác định tương đối rõ ràng hơn về đối tượng nghiên cứu Đó là giới hạn nghiên cứu lý luận và phương pháp công bố các sử liệu chữ viết

Với các nhà lưu trữ học Việt Nam, kết hợp các kết quả nghiên cứu của các nhà lưu trữ học thế giới, đặc biệt là các nhà lưu trữ học Xô Viết và các nước xã hội chủ nghĩa với thực tiễn Việt Nam đã đưa ra cách định nghĩa hoàn

chỉnh hơn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam hơn Đó là “Công bố học là môn khoa học nghiên cứu các vấn đề về công bố các tài liệu thành văn trong quá khứ” Còn theo Từ điển Lưu trữ Việt Nam thì: Công bố tài liệu là dựa trên các nguyên tắc và phương pháp của hoạt động công bố học để truyền đạt lại tài liệu dưới các hình thức khác nhau nhằm phục vụ cho các đối tượng độc giả khác nhau [3] Chúng tôi cho rằng tuy cách định nghĩa này chưa hẳn đã phản

ánh đầy đủ các nội hàm cần thể hiện song nó đã khái quát hoá được các vấn

đề, góc cạnh cần nghiên cứu của công bố học

Nhìn chung, về công bố học từ trước đến nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng đều tập trung vào các vấn đề như khoa học công bố không thể tách rời khoa học lịch sử, làm nhiệm vụ nghiên cứu lịch sử công bố các tài liệu văn kiện và những vấn đề về lý luận và phương pháp công bố chúng trên

cơ sở khái quát thực tiễn Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như ý chủ

biên, NXB Văn hoá - Thông tin, H.1998, tr.454 thì khái niệm “công bố” nghĩa

Trang 26

là “thông báo cho mọi người đều biết” Theo cách hiểu phổ thông này thì

“công bố” được hiểu theo nghĩa rộng Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm “công bố” theo nghĩa rộng này và hoạt động công bố không chỉ giới hạn là dưới hình thức là các xuất bản phẩm mà còn có thể ở một số hình thức khác

Mục đích của hoạt động công bố

Hoạt động nào của con người cũng cần có mục đích, hoạt động nghiên cứu khoa học càng cần có mục đích rõ ràng để xác định như là đích đạt được của nhà nghiên cứu Theo các kết quả nghiên cứu, tham khảo của chúng tôi qua các tài liệu khoa học thì có thể bước đầu xác định được các mục đích chính của hoạt động công bố như sau:

Trước tiên, công bố những tài liệu văn kiện của đảng, nhà nước Việt Nam để thể hiện rõ những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin đã

được vận dụng linh hoạt và sáng tạo vào điều kiện cụ thể của tình hình đất nước ta Từ những quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta được trình bày qua tài liệu lưu trữ, chúng ta cũng nêu bật được đường lối chiến lược, các chủ trương của Đảng và Nhà nước ta qua từng thời kỳ lịch

Trang 27

nhiều sự kiện lịch sử có liên quan đến quan hệ với các quốc gia láng giềng, đặc biệt là quan hệ về biên giới

Mục đích thứ ba của công tác công bố tài liệu là tạo cầu nối giữa các

kho, các trung tâm lưu trữ với các giới nghiên cứu, đặc biệt là với các nhà nghiên cứu lịch sử Mục đích cuối cùng của công tác lưu trữ là tài liệu lưu trữ phải được đem ra để phục vụ cho các mục đích của xã hội, của nhà nước, các yêu cầu chính đáng của công dân Đối với giới khoa học, dù là khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội và nhân văn thì tài liệu lưu trữ có thể được coi là nguồn tư liệu qúy giá nhất, tin cậy và phục vụ đắc lực nhất cho hoạt động nghiên cứu Công bố tài liệu là một hình thức sử dụng tài liệu lưu trữ đặc biệt, cho nên các tài liệu được đem ra công bố công khai không chỉ phục vụ tích cực cho các nhà khoa học mà còn có thể đem lại nhiều lợi ích khác cho đông đảo nhân dân Thực tế cho thấy chỉ khi nào tài liệu lưu trữ được công bố, sử dụng có hiệu quả thì lúc đó mới thực sự là “thước đo” cho giá trị của tài liệu

Chúng tôi đánh giá cao vai trò của cầu nối này vì có như vậy thì tài liệu lưu

trữ và công tác lưu trữ mới được giới thiệu một cách rộng rãi độc giả để người dân nhận thức được rõ hơn vài trò của tài liệu lưu trữ và công tác lưu trữ đối với đời sống xã hội Từ việc nhận thức này mọi người có thể dành sự quan tâm, đầu tư thích đáng hơn đến việc bảo quản an toàn và sử dụng một cách có hiệu quả nhất tài liệu lưu trữ của quốc gia

Các nguyên tắc công bố

Mỗi môn khoa học đều có những nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu riêng Về các nguyên tắc của công bố tài liệu lưu trữ đã được các nhà nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam xây dựng nên trên cơ sở khái quát thực tiễn hoạt động công bố trong những năm vừa qua Phạm vi nghiên cứu của

Trang 28

tiểu luận này sẽ chỉ dừng lại ở việc trình bày và phân tích một số nguyên tắc của công bố học Cụ thể

Công bố tài liệu phải đảm bảo độ chính xác cao

Chúng ta đều biết tài liệu lưu trữ là di sản văn hoá đặc biệt, chứa đựng nhiều thông tin liên quan đến các sự kiện, hiện tượng tự nhiên, xã hội được hình thành trình quá trình diễn biến của các sự kiện, hiện tượng, hoạt động của các cơ quan, cá nhân Nguyên tắc đảm bảo độ chính xác cao ở đây khi công

bố tài liệu được hiểu là phải đảm bảo độ chính xác cao của thông tin được đưa

ra công bố Khi công bố bất kỳ một tài liệu nào thì đều có nghĩa là đưa ra thông tin về một đối tượng đã được xác định Điều này đều đòi hỏi nhà công

bố phải có thái độ cẩn trọng, thật kỹ lưỡng về cách xem xét độ chính xác của thông tin có trong tài liệu lưu trữ bằng cách vận dụng các kiến thức khác của

sử học như phê phán sử liệu học, ngôn ngữ học lịch sử, cổ tự học Những kiến thức bổ trợ cho công bố học này sẽ là những công cụ hết sức cần thiết đối với những nhà công bố học Tuy nhiên trong khi đảm bảo nguyên tắc này khi công bố tài liệu, kiến thức về sử liệu học giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo độ chính xác cao của thông tin chứa đựng trong tài liệu lưu trữ Thái độ cần thiết ở đây trong khi vận dụng các nguyên tắc và tiêu chuẩn đánh giá giá trị tài liệu là có sự khách quan, khoa học

Độ chính xác cao cần phải bảo đảm khi thực hiện công bố tài liệu lưu trữ đòi hỏi chủ thể công bố phải thực hiện như một yêu cầu tiên quyết là phải

sử dụng bản chính, bản gốc của tài liệu Chủ thể công bố khi vận dụng nguyên tắc này phải coi đây là một nguyên tắc có tính quyết định bởi vì nó quyết định tới hiệu quả của hoạt động công bố Nếu như nói nguyên tắc này là nguyên tắc

có tính kim chỉ nam cho mọi hoạt động của công bố cũng hoàn toàn có lý Điều này thể hiện ở chỗ nó là cơ sở để xây dựng các phương pháp cụ thể phục

Trang 29

vụ cho hoạt động công bố Đó là các phương pháp như sưu tầm, phát hiện tài liệu phục vụ cho chủ đề công bố, mô tả các tài liệu sưu tầm được lên tấm thẻ hoặc sổ tay

Tài liệu lưu trữ đưa ra công bố phải phục vụ lợi ích của dân tộc

Trong các quy định của Đảng và Nhà nước ta trước nay đã từng nhiều lần nhấn mạnh rằng tài liệu lưu trữ là di sản văn hoá của dân tộc, có giá trị đặc biệt trên phương diện kiến thiết quốc gia Như vậy khối lượng tài liệu lưu trữ

ấy thuộc về sở hữu toàn dân và khi đem ra khai thác, sử dụng, công bố phải

đem lại lợi ích chung cho toàn dân tộc, trong đó có mỗi người dân Những người làm công tác lưu trữ nói chung và những người làm nhiệm vụ công bố tài liệu nói riêng phải thấu hiểu được, nhận biết và quán triệt một cách triệt để nguyên tắc này Mục đích của công tác công bố tài liệu lưu trữ là nhằm làm sáng tỏ hơn các sự kiện, các diễn biến của lịch sử đất nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động qua các thời kỳ lịch sử khác nhau và vì các mục đích cụ thể khác nhau Các tài liệu lưu trữ được đem ra công bố phải nhằm mục đích bảo

vệ chế độ, bảo vệ Đảng và bảo vệ nhà nước và những quyền lợi hợp pháp khác của nhân dân Bảo vệ Đảng và bảo vệ nhà nước xã hội chủ nghĩa chính là bảo

vệ sự an toàn và các lợi ích chính đáng khác của công dân Có thể hiểu rõ hơn nguyên tắc này khi chúng ta đặt vấn đề đối với công tác công bố tài liệu lưu

trữ là “lấy xây để chống” Đối với những người làm công tác lưu trữ và thực

hiện các nhiệm vụ công bố tài liệu thì vấn đề được đặc biệt nhấn mạnh hơn vì

họ là người nắm các bí mật của Đảng và Nhà nước, chất lượng hay hậu quả của công tác công bố phụ thuộc rất nhiều vào ý thức và phương pháp công bố của các chủ thể công bố đó Tài liệu lưu trữ đem ra công bố phải phù hợp với lợi ích và nguyện vọng chung của toàn dân tộc

Công bố tài liệu phải dựa trên hệ thống pháp luật của quốc gia

Trang 30

Chúng ta đều biết, bất kỳ một ngành hoạt động nào của nhà nước đều phải dựa trên những quy định chung của Hiến pháp, pháp luật và của từng ngành đó Pháp luật là một hành lang pháp lý quan trọng để mỗi ngành có thể hoạt động trong phạm vi hành lang đó Công tác lưu trữ và công tác công bố học không phải là một ngành hoạt động ngoại lệ Hoạt động công bố không chỉ tuân thủ theo những quy định chung cuả ngành lưu trữ mà còn phải bảo đảm việc thực hiện nghiêm chỉnh các quy định khác của nhà nước như các quy định của Luật Di sản văn hoá, Pháp lệnh thư viện, Luật xuất bản Những quy định được thể hiện trong các văn bản luật và dưới luật này là hành lang pháp

lý quan trọng để các cán bộ làm nhiệm vụ công bố có căn cứ để thực thi nhiệm

vụ của mình một cách đúng luật và hiệu quả nhất

Nguyên tắc này không tách rời mà thậm chí thực chất hỗ trợ đắc lực cho nguyên tắc công bố tài liệu lưu trữ phục vụ lợi ích của dân tộc Khi và chỉ khi hoạt động công bố tài liệu lưu trữ tuân thủ chặt chẽ theo những quy định hiện hành của nhà nước thì quyền lợi của nhân dân, của dân tộc mới được bảo đảm bởi pháp luật do nhà nước đặt ra cũng chỉ là để bảo vệ chế độ và những quyền lợi chính đáng khác của công dân Tài liệu lưu trữ là tài sản chung của toàn dân tộc nên mọi công dân nếu có nhu cầu chính đáng đều được yêu cầu tiếp nhận thông tin từ tài liệu lưu trữ để phục vụ cho các lợi ích chính đáng, được

pháp luật cho phép Nội dung của Pháp lệnh lưu trữ quốc gia được Uỷ ban

Thường vụ Quốc hội thông qua tháng 4 năm 2001 cũng đã chỉ rõ là tài liệu lưu trữ phải được đem ra phục vụ nhân dân và theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Nếu như nói tài liệu lưu trữ là di sản văn hoá của dân tộc, và những di sản văn hoá ấy cần phải được đem ra nghiên cứu, sử dụng phục vụ cho lợi ích của toàn dân tộc thì vấn đề phải đặt ra những quy định chặt chẽ đối với việc

Trang 31

công bố, sử dụng tài liệu lưu trữ là một trong những nhiệm vụ hết sức cấp bách của các nhà quản lý về công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ Đặt vấn đề quản lý nhà nước (bằng luật pháp) về công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ, trong

đó có công tác công bố, giới thiệu tài liệu là để đảm bảo rằng tài liệu lưu trữ phải được đem ra sử dụng đúng mục đích, tức là hiệu quả, tác dụng của tài liệu lưu trữ phải được đảm bảo công bằng cho tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân có mục đích chính đáng trong việc nghiên cứu, sử dụng tài liệu lưu trữ

Nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành luật pháp về lưu trữ trong đó vấn đề công bố tài liệu (hiểu theo nghĩa rộng) luôn được quan tâm Chẳng hạn như Luật pháp của Cộng hoà Pháp, Canada hay CHND Trung Hoa trong các văn bản có giá trị pháp lý cao nhất như Luật lưu trữ, Sắc lệnh… về công bố tài

liệu lưu trữ có quy định về thời gian tự do công bố tài liệu chủ yếu là sau 30 năm kể từ ngày hình thành tài liệu và đều có quy định riêng về thời hạn được

tự do tiếp cận tiếp cận tài liệu đối với những tài liệu liên quan đến an ninh, ngoại giao, quốc phòng hay đời tư cá nhân Về thẩm quyền công bố tài liệu lưu trữ thì các quốc gia cũng có sự quy định khác nhau Thẩm quyền cho phép công bố, sử dụng tài liệu lưu trữ được luật pháp lưu trữ Cộng hoà Pháp qưy

định khá rõ ràng trong Sắc lệnh số 79 - 1037 ngày 03.12.1979 về thẩm quyền của các cơ quan lưu trữ công và về sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý để thu thập, bảo quản và công bố tài liệu lưu trữ công Điều 2 của Sắc lệnh này

ghi rõ: Ban Giám đốc lưu trữ Pháp quản lý các lưu trữ Quốc gia và lưu trữ tỉnh, kiểm tra các lưu trữ công khác kể cả lưu trữ ngoại giao và quốc phòng [18] Luật pháp Canada chưa có một quy định nào thật rõ ràng về thời gian công bố tài liệu, chỉ quy định mức thời gian chung được công bố tài liệu công

là 30 năm Về vấn đề thẩm quyền công bố tài liệu lưu trữ, Điều 22 của Luật

pháp lưu trữ nước CHND Trung Hoa chỉ rất rõ ràng “Tài liệu lưu trữ thuộc sở

Trang 32

hữu nhà nước thì do Viện lưu trữ được nhà nước giao quyền hoặc là cơ quan hữu quan công bố; khi chưa được sự đồng ý của Viện lưu trữ hoặc cơ quan hữu quan thì không tổ chức và cá nhân nào được quyền công bố” [18]

Đối với Việt Nam, xây dựng luật pháp về lưu trữ là một nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước Việt Nam quan tâm trong nhiều năm nay Kể từ khi thành lập ngành lưu trữ Việt Nam (từ 1962) đến nay, đã hơn 40 năm trôi qua và quãng thời gian ấy đã ghi nhận một số thành tựu nhất định của nhà nước ta trong việc xây dựng và thường xuyên bổ sung những quy định mới về luật pháp lưu trữ

Văn bản đầu tiên mà chúng ta ghi nhận là bản Điều lệ về công tác công văn, giấy tờ và công tác lưu trữ ban hành kèm theo Nghị định 142/CP ngày

28.9.1963 của Hội đồng Chính phủ Bản Điều lệ có 46 điều với nhiều quy định điều chỉnh các hoạt động khác nhau của công tác văn thư lưu trữ, trong

đó rất tiếc không có một quy định nào về công tác sử dụng, công bố tài liệu lưu trữ Có thể nói đây là một hạn chế đáng kể của bản Điều lệ trên Có lẽ do nhiều lý do khác nhau, mãi đến gần 20 năm sau, tại một văn bản là Quyết định

số 168/HĐBT ngày 26.12.1981 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập Phông lưu trữ Quốc gia nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vấn đề công bố, giới thiệu tài liệu mới được đề cập, dù chỉ bước đầu là hết sức sơ

lược Đó là tại Điều 5: “Các tài liệu của Phông lưu trữ Quốc gia cần được công bố, giới thiệu cho các cơ quan, cán bộ và nhân dân khai thác, nghiên cứu, sử dụng, trừ các tài liệu bí mật có chế độ khai thác riêng… Chỉ có Cục Lưu trữ mới được công bố các hồ sơ, tài liệu của Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam” Như vậy, theo nội dung của Quyết định này, lần đầu tiên, vấn đề công

bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ được đề cập đến ở hai khía cạnh Thứ nhất là các tài liệu của Phông lưu trữ Quốc gia cần được công bố, giới thiệu cho các cơ

Trang 33

quan, cán bộ và nhân dân khai thác, nghiên cứu, sử dụng… Thứ hai là quy định thẩm quyền công bố tài liệu lưu trữ Đó là chỉ có Cục Lưu trữ Nhà nước mới được công bố các hồ sơ, tài liệu của Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam

Một văn bản nữa của Nhà nước ta điều chỉnh về công tác lưu trữ là

Pháp lệnh bảo vệ tài liệu lưu trữ Quốc gia được ban hành bởi Lệnh số

08-CT/HĐNN 7 ngày 11.12.1982 của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam Tại Chương II Điều 12 có quy định: “Việc sử dụng và công bố tài liệu lưu trữ quốc gia phải phục vụ đường lối, chính sách và đảm bảo bí mật của Đảng và Nhà nước Chế độ sử dụng và công bố tài liệu lưu trữ quốc gia

do Hội đồng Bộ trưởng quy định” Pháp lệnh này nhấn mạnh vào mục đích

của công bố giới thiệu tài liệu nhiều hơn là có các quy định cụ thể về công bố tài liệu

Trong văn bản quy phạm pháp luật mới nhất và cao nhất của nhà nước

ta về công tác lưu trữ là Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia do Uỷ ban Thường vụ

Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước ký lệnh công bố tháng 4.2001, tại Điều

18 có nhận định chung “tài liệu lưu trữ tại lưu trữ lịch sử được khai thác, sử dụng rộng rãi cho yêu cầu nghiên cứu của toàn xã hội, trừ tài liệu lưu trữ thuộc danh mục bí mật nhà nước, tài liệu lưu trữ đặc biệt quý hiếm Người đứng đầu lưu trữ lịch sử phải thông báo, giới thiệu danh mục tài liệu lưu trữ

để phục vụ việc khai thác, sử dụng”[27] Và tại Điều 23 có quy định về thẩm quyền công bố là “Cơ quan có thẩm quyền của Đảng quy định việc công bố tài liệu thuộc Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam Chính phủ quy định việc công bố tài liệu thuộc Phông Lưu trữ Nhà nước Việt Nam” [27]

Mặc dù theo nhận định của Báo Nhân dân số ra ngày Thứ Hai,

07.5.2001 là “…Đồng thời Pháp lệnh tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng khả năng khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ quốc gia phục vụ đắc lực hơn cho việc

Trang 34

thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước và mọi nhu cầu chính đáng của công dân”, song cho đến nay, để Pháp lệnh đó thực

sự phát huy hết các gía trị thì vẫn còn là một vấn đề cần giải quyết tiếp theo Bởi vì cho đến nay các văn bản của Nhà nước ta như đã phân tích trên đây đều chưa quy định các vấn đề cụ thể của công tác công bố tài liệu Nếu như tại Quyết định 168/HĐBT năm 1981 giao cho Cục Lưu trữ Nhà nước thẩm quyền công bố tài liệu thì những năm sau đó, cả hai Pháp lệnh kể trên đều giao cho Hội đồng Chính phủ hay Chính phủ thẩm quyền cho phép công bố tài liệu nhưng từ đó đến nay, Chính phủ vẫn chưa xây dựng và ban hành Nghị định hay một văn bản nào hướng dẫn về quy định hay chế độ về công bố tài liệu Hơn nữa, cũng chưa có bất kỳ một văn bản nào của Nhà nước quy định cụ thể

về các nguyên tắc và các chế độ công bố tài liệu Một phần quy định khá quan trọng nữa hầu như vẫn còn bỏ ngỏ là thời gian tiếp cận, công bố tài liệu lưu trữ Vẫn chưa thấy một văn bản nào của Nhà nước ta quy định về vấn đề này Nếu như mức độ và chất lượng công bố của chúng ta còn chưa cao thì một phần lớn là do chúng ta chưa có được những văn bản quy phạm pháp luật đủ mạnh để làm hành lang vững chắc cho việc công bố tài liệu lưu trữ

Các phương pháp và hình thức công bố

Xét trên góc độ của công bố học thì phương pháp công bố bao gồm những nội dung như: chọn đề tài chuẩn bị công bố; sưu tầm và lựa chọn tài liệu để công bố; truyền đạt bản văn của văn kiện; trình bày và hệ thống hoá các tài liệu công bố; xây dựng công cụ tra cứu của xuất bản phẩm văn kiện

Về các hình thức công bố xét trên góc độ công bố hiểu theo nghĩa rộng thì có nhiều hình thức khác nhau Đó là có thể dưới dạng các xuất bản phẩm văn kiện (theo phông, theo các chuyên đề, theo từng thể loại văn kiện…), dưới dạng thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, tạp chí, truyền

Trang 35

hình, truyền thanh), tổ chức triển lãm, trưng bày… Đó là một trong các hình thức tổ chức sử dụng tài liệu mang tính chủ động cao

Tiểu kết chương 1

Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở Việt Nam và là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Trong quá trình hoạt động hơn

50 năm qua trải qua nhiều nhiệm kỳ đã hình thành nên khối lượng lớn tài liệu

có giá trị Giai đoạn 1976 – 1992 tuy là một giai đoạn không dài trong suốt chiều dài hoạt động của Quốc hội song lại là giai đoạn rất quan trọng Tài liệu lưu trữ của Quốc hội giai đoạn này phản ánh hoạt động của Quốc hội trong tình hình thống nhất đất nước về mặt nhà nước và pháp luật, chứa đựng nhiều thông tin giá trị, song những giá trị ấy vẫn còn ở dạng tiềm năng Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội với trách nhiệm bảo quản an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội trong những năm qua vẫn chưa

có điều kiện tổ chức nghiên cứu để công bố, giới thiệu những tài liệu ấy phục

vụ cho nhiều mục đích khác nhau của thực tiễn xã hội trong đó nhu cầu sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ cho hoạt động nghiên cứu lịch sử Việc nghiên cứu những vấn đề về lý luận và luật pháp của Việt Nam về công bố tài liệu lưu trữ đã và đang là một trong những nhiệm vụ quan trọng trực tiếp quyết định tới hiệu quả của công tác công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động nghiên cứu lịch sử

CHƯƠNG 2

TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ QUỐC HỘI (GIAI ĐOẠN 1976 - 1992)

- NGUỒN SỬ LIỆU QUAN TRỌNG PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ

Trang 36

2.1 Tình hình công bố, giới thiệu tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992) tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội

2.1.1 Những kết quả đạt được trong hoạt động công bố, giới thiệu tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992)

Trong những năm qua, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội đã có nhiều thành tựu trong công tác tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ, nhất là đã tiến hành công bố, giới thiệu nhiều tài liệu có giá trị với các hình thức công bố như: Viết bài công bố trên các tạp chí, báo chí định kỳ, trưng bày, triển lãm,

làm cuốn phim tài liệu “Giữ trọn niềm tin” nhân kỷ niệm 50 năm ngày

Thương binh liệt sỹ, cung cấp tư liệu cho Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng

bộ phim tài liệu “50 năm phong trào thi đua ái quốc” hoặc cho Đài Phát thanh Truyền hình Hà Nội xây dựng bộ phim truyện “Người dưng” đã đạt Giải Bông

sen, nhân dịp kỷ niệm 55 năm Quốc hội Việt Nam, Trung tâm Lưu trữ Quốc

gia III Hà Nội đã cho công bố, giới thiệu bản “Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam” trên Tạp chí Lưu trữ Việt Nam số 01.2001 … Riêng đối với tài liệu

phông lưu trữ Quốc hội thì đáng ghi nhận và trân trọng nhất là đã cung cấp tư liệu quý để Ban nghiên cứu lịch sử Quốc hội biên soạn các cuốn Lịch sử Quốc hội, và cuốn Lịch sử Quốc hội tập I (1946 - 1960) đã ra mắt bạn đọc năm

2002, cuốn Lịch sử Quốc hội tập II (1960 - 1976) ra mắt bạn đọc năm 2003 Hiện nay tài liệu lưu trữ của phông Quốc hội vẫn đang được các nhà nghiên cứu lịch sử quan tâm tìm hiểu để nghiên cứu các tập sách tiếp theo của Lịch

sử Quốc hội Việt Nam… Tuy nhiên xét một cách toàn diện thì tài liệu lưu trữ thuộc phông Quốc hội chưa được công bố, giới thiệu rộng rãi để phục vụ các nhu cầu khác nhau của công tác sử dụng tài liệu, chủ yếu vẫn ở dạng “tiềm năng”

Trang 37

2.3.2 Những hạn chế trong hoạt động công bố, giới thiệu tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992)

Những kết quả trên đây của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội trong công tác công bố, giới thiệu tài liệu nói chung và tài liệu của phông Quốc hội nói riêng cho thấy nếu như so với tiềm năng cực kỳ to lớn của tài liệu hiện đang được bảo quản tại đây Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm những hình thức công bố, giới thiệu tài liệu song có thể nhận thấy là tài liệu của Phông Quốc hội được công bố, giới thiệu quá ít, một vài bài giới thiệu trên Tạp chí Lưu trữ Việt Nam mang tính chất lẻ tẻ, cung cấp thông tin

về tài liệu nhiều hơn là mang những đặc điểm của công tác công bố, giới thiệu tài liệu Có thể nói tài liệu của phông Quốc hội trong thời gian qua chưa được

sử dụng triệt để, ngoại trừ được sử dụng để Ban biên soạn Lịch sử Quốc hội

đã biên tập và xuất bản được cuốn Lịch sử Quốc hội tập I, tập II được dư luận

đánh giá rất cao về mặt giá trị của các sử liệu được sử dụng trong công trình nghiên cứu đó

Qua tìm hiểu tình hình thực tế về cán bộ lưu trữ của Trung tâm, chúng tôi được biết Trung tâm chưa có cán bộ chuyên trách thực hiện các nhiệm vụ của công bố, giới thiệu tài liệu Điều này ảnh hưởng khá lớn đến số lượng và chất lượng công bố, giới thiệu tài liệu của Trung tâm Cũng phải thừa nhận một hiện thực khách quan là sau một thời gian ổn định về mặt tổ chức kể từ khi được chia tách từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội, Trung tâm đã phải thực hiện nhiều nhiệm vụ mới như vấn đề thu thập, bổ sung, chỉnh lý tài liệu, lo xây dựng kho tàng bảo quản tài liệu v.v… nên nhiệm vụ tổ chức sử dụng tài liệu, trong đó có vấn đề công bố, giới thiệu tài liệu có lúc chưa được quan tâm như mong muốn Cho đến nay, khi phần lớn các công việc của Trung tâm đã bước đầu đi vào ổn định thì nhiệm vụ tổ chức, sử dụng tài liệu

Trang 38

càng được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết để có thể phát huy tối đa ảnh hưởng của tài liệu lưu trữ đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội Dưới góc

độ là một người nghiên cứu về lưu trữ học, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu để giới thiệu về phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) như một nguồn sử liệu quan trọng cần được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu công bố, giới thiệu, đồng thời cũng giúp cho những người nghiên cứu lịch sử những thông tin về khối tài liệu này Đó cũng là nội dung chính mà chương 2 của luận văn sẽ phải giải quyết

2.2 Giá trị sử liệu của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1992)

1976-Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được quy định trong Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội, dựa trên kết quả khảo sát, phân tích tình hình thực tế tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (giai đoạn 1976 – 1992), trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi tạm khái quát về giá trị của nguồn sử liệu này phục vụ nghiên cứu lịch sử cụ thể là phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử lập hiến; Lịch sử lập pháp giai đoạn nói trên; Lịch sử tổ chức và hoạt động của Quốc hội, nghiên cứu lịch sử tổ chức bộ máy Nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương Những vấn đề khác chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn này

2.2.1 Phục vụ nghiên cứu lịch sử lập hiến Việt Nam (sự ra đời của Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992)

Chúng ta đều biết, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Hồ Chí Minh đã thay mặt cho Chính phủ lâm thời cho nhân dân Việt Nam đọc Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02.9.1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, nhà nước công nông

Trang 39

đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á Chỉ một ngày sau khi tuyên bố ra đời nhà nước Việt Nam mới, ngày 03.9.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị chính phủ thực hiện hai việc quan trọng là tổ chức tổng tuyển cử và ban hành Hiến pháp Theo tinh thần đó, ngày 06.01.1946, nhân dân cả nước đã nô nức

đi bỏ phiếu bầu ra Quốc hội mới với 333 đại biểu đại diện cho các giai cấp, tầng lớp nhân dân ở Việt Nam Tới tháng 11.1946, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của đất nước độc lập

“Đó không chỉ là cái mốc đánh dấu sự phát triển của pháp luật Việt Nam, mà còn là cái mốc đánh dấu sự phát triển mới của tổ chức bộ máy Nhà nước ở Việt Nam” [ 29; 221] Như vậy, ngay từ khi nước Việt Nam mới được tuyên

bố thành lập, các nhà lãnh đạo của Việt Nam lúc đó đã có nhận thức hết sức đúng đắn trong việc quyết tâm xây dựng một hệ thống pháp luật mới mà nền tảng là hiến pháp, bộ luật cơ bản của nhà nước để quản lý đất nước Hiến pháp

1946 ra đời cũng là sự khẳng định trước quốc dân đồng bào và nhân dân thế giới nền độc lập, chủ quyền thật sự của nhà nước Việt Nam mới

Từ đó đến nay, nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà và nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xây dựng và ban hành bốn bản Hiến pháp trong các năm 1959, 1980 và 1992 (được Quốc hội sửa đổi, bổ sung năm 2001) Các bản Hiến pháp ra đời trong các giai đoạn khác nhau là để điều chỉnh các quan hệ cơ bản của nhà nước trong mỗi một giai đoạn lịch sử nhất định

Mười sáu năm của giai đoạn đặc biệt 1976 – 1992, nhà nước ta đã cho

ra đời hai bản Hiến pháp là Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 Nói đó là giai đoạn đặc biệt vì:

- Đất nước ta bắt đầu hoà bình và thống nhất đất nước sau hơn hai mươi năm bị chia rẽ hai miền Nam Bắc (1954 - 1975) Sau khi đã giải quyết xong

Trang 40

nhiệm vụ giải phóng đất nước, thống nhất Bắc Nam thì bên cạnh nhiệm vụ thống nhất về mặt nhà nước, nhiệm vụ thống nhất về mặt pháp luật để quản lý đất nước trong tình hình mới cũng được đặt ra như một yêu cầu mang tính cấp bách

- Giai đoạn 1976 – 1992 về cơ bản là hoà bình song thực tế chưa phải như vậy, nhân dân ta vẫn phải thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới tổ quốc ở

cả hai đầu đất nước là chiến tranh biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam Song song với nhiệm vụ bảo vệ biên giới của tổ quốc thì đất nước ta cũng vừa phải tiến hành khôi phục kinh tế sau chiến tranh và xây dựng nền tảng kinh tế

– xã hội tiến lên chủ nghĩa xã hội Sự nghiệp “Đổi mới” do Đảng ta khởi

xướng và lãnh đạo từ năm 1986 là một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước của chúng ta giai đoạn này

Như đã phân tích trên đây, sau khi nước nhà giành được độc lập kể từ mùa thu tháng 9.1945, vấn đề ổn định về mặt nhà nước và pháp luật đã được nhà nước ta quan tâm trên nhiều phương diện Lịch sử Việt Nam hiện đại đã chứng kiến sự chia cắt nước nhà làm hai miền Bắc Nam với thực tế tồn tại hai chế độ khác nhau Đó là nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hoà (Nguỵ quyền) ở miền Nam với hai chế độ chính trị, kinh

tế, xã hội… về cơ bản là khác nhau Chính vì vậy, khi thống nhất đất nước với

những điều kiện khác nhau đó, nhà nước ta vẫn cần có sự ổn định nhanh chóng để có thể quản lý đất nước Chính vì vậy, ngay tại kỳ họp đầu tiên của

Quốc hội khoá VI, Quốc hội nước ta đã quyết định lấy Hiến pháp 1959 làm Hiến pháp chung cho cả nước Việt Nam thống nhất trong khi chưa kịp soạn một bản Hiến pháp mới có thể phù hợp nhất với tình hình mới Cũng trong tình hình mới này, với việc hoàn thành nhiệm vụ thống nhất nước nhà, Hiến pháp 1959 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà cũng sẽ hoàn thành nhiệm

Ngày đăng: 02/03/2016, 18:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Xuân Chúc - Nguyễn Văn Hàm - Vương Đình Quyền - Nguyễn Văn Thâm. Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ . NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp. H.1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ
Nhà XB: NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp. H.1990
2. Các quy tắc xuất bản văn kiện lịch sử ở Liên Xô. M. 1969. Bản dịch tiếng Việt. Tư liệu Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy tắc xuất bản văn kiện lịch sử ở Liên Xô
3. Cục Lưu trữ Nhà nước. Công tác lưu trữ. NXB Khoa học xã hội. H.1987 4. Đào Thị Diến. Công bố tài liệu ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Lưu trữ học và Quản trị văn phòng lần thứ II. H. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác lưu trữ." NXB Khoa học xã hội. H.1987 4. Đào Thị Diến." Công bố tài liệu ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội. H.1987 4. Đào Thị Diến." Công bố tài liệu ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội". Kỷ yếu Hội thảo khoa học Lưu trữ học và Quản trị văn phòng lần thứ II. H. 2001
5. Nguyễn Cảnh Đương. Quyết định của Xô Viết tối cao Liên bang Nga về chế độ tạm thời tiếp cận và sử dụng tài liệu lưu trữ. Tạp chí Lưu trữ Việt Nam số 3 - 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Xô Viết tối cao Liên bang Nga về chế độ tạm thời tiếp cận và sử dụng tài liệu lưu trữ
6. Nguyễn Cảnh Đương (Chủ nhiệm đề tài) Báo cáo tổng thuật đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu đổi mới công tác khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ ở các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia”. Cục Lưu trữ Nhà nước. H. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đổi mới công tác khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ ở các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
7. Phạm Bích Hải. Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III - nguồn sử liệu để nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại. Tạp chí Lưu trữ Việt nam số 4 - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III - nguồn sử liệu để nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại
8. Nguyễn Văn Hàm. Công bố tài liệu văn kiện là một trong những nhiệm vụ cần thiết của các kho lưu trữ. Tạp chí Văn thư - Lưu trữ số 2 - 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bố tài liệu văn kiện là một trong những nhiệm vụ cần thiết của các kho lưu trữ
9. Nguyễn Văn Hàm. Mấy suy nghĩ về công tác công bố tài liệu văn kiện ở nước ta hiện nay. Tạp chí Văn thư - Lưu trữ số 2 - 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về công tác công bố tài liệu văn kiện ở nước ta hiện nay
10. Nguyễn Văn Hàm. Vai trò xã hội của những công bố văn kiện. Tạp chí Văn thư - Lưu trữ số 4 - 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò xã hội của những công bố văn kiện
11. Nguyễn Văn Hàm. Mấy ý kiến bước đầu về văn bản học trong công tác công bố tài liệu văn kiện. Tạp chí Văn thư - Lưu trữ số 1 - 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến bước đầu về văn bản học trong công tác công bố tài liệu văn kiện
12. Nguyễn Văn Hàm. Công bố, giới thiệu tài liệu trên tạp chí Lưu trữ Việt Nam - những đóng góp quan trọng về mặt sử liệu. Tạp chí Lưu trữ Việt Nam số 5 - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bố, giới thiệu tài liệu trên tạp chí Lưu trữ Việt Nam - những đóng góp quan trọng về mặt sử liệu
14. Nguyễn Văn Hàm. Công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ ở nước ta - thực trạng và giải pháp. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Lưu trữ học và Quản trị văn phòng lần thứ II. NXB Chính trị Quốc gia. H. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ ở nước ta - thực trạng và giải pháp
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. H. 2001
16. Lê Mậu Hãn (chủ biên). Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960. NXB Chính trị Quốc gia. H. 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. H. 2000
17. Lê Mậu Hãn (chủ biên). Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1960 - 1976. NXB Chính trị Quốc gia. H. 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1960 - 1976
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. H. 2003
18. Hội đồng lưu trữ Quốc tế. Luật lệ lưu trữ của các nước (1970 - 1980). Bản dịch tiếng Việt. H. 1982. Tư liệu Thư viện Trung tâm Nghiên cứu khoa học lưu trữ, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật lệ lưu trữ của các nước (1970 - 1980)
19. Phạm Thị Huệ. Tài liệu và tư liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II - nguồn sử liệu có giá trị nhiều mặt. Tạp chí Lưu trữ Việt Nam số 5 - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu và tư liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II - nguồn sử liệu có giá trị nhiều mặt
21. Lý luận và phương pháp của công bố học Xô Viết. M. 1974. Bản dịch tiếng Việt. Tư liệu Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp của công bố học Xô Viết
22. Thanh Mai. Tìm hiểu một số nguyên tắc và phương pháp sưu tầm, phát hiện và chọn lọc tài liệu văn kiện để công bố. Tạp chí Văn thư - Lưu trữ số 3,4 - 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số nguyên tắc và phương pháp sưu tầm, phát hiện và chọn lọc tài liệu văn kiện để công bố
23. Trần Thị Kim Ngân. Công bố tài liệu giai đoạn 1930 - 1954 tại kho lưu trữ trung ương Đảng - tình hình và giải pháp. Luận văn thạc sỹ khoa học chuyên ngành Lưu trữ học và Tư liệu học năm 2002. Tư liệu Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bố tài liệu giai đoạn 1930 - 1954 tại kho lưu trữ trung ương Đảng - tình hình và giải pháp
24. Trần Thị Kim Ngân. Những văn bản của Đảng, Nhà nước về công bố tài liệu lưu trữ và một số kiến nghị. Tạp chí Lưu trữ Việt Nam số 5 - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những văn bản của Đảng, Nhà nước về công bố tài liệu lưu trữ và một số kiến nghị

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình sự - Tài liệu phông lưu trữ quốc hội (giai đoạn 1976   1992) nguồn sử liệu giá trị cần được công bố, giới thiệu phục vụ nghiên cứu lịch sử
Hình s ự (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w