1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu rủi ro kiểm toán và mối quan hệ rủi ro kiểm toán trong quy trình kiểm toán BCTC của kiểm toán độc lập tại việt nam

30 343 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 154,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác đánh giárủi ro kiểm toán là một công việc hết sức phức tạp và quan trọng vì nó sẽ giúpkiểm toán viên có kế hoạch kiểm toán hiệu quả, từ đó xác định nội dung, lịchtrình, phạm vi

Trang 1

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang phát triển ngày càng nhanh như hiệnnay, đứng trước quá trình toàn cầu hóa, lĩnh vực kiểm toán Việt Nam còn khánon trẻ và đứng trước rất nhiều khó khăn Các công ty kiểm toán độc lâp ViệtNam cũng đang nâng cao chất lượng và số lượng dịch vụ để từng bước hội nhậphoàn toàn với quốc tế và cạnh tranh vơi các công ty kiểm toán với nước ngoài.Trong kiểm toán, kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng nhất và được thựchiện nhiều nhất trong các cuộc kiểm toán Để nâng cao chất lượng của các cuộckiểm toán báo cáo tài chính, các công ty kiểm toán hiện nay đang rất chú trọngđến các công việc được tiến hành trong một cuộc kiểm toán Công tác đánh giárủi ro kiểm toán là một công việc hết sức phức tạp và quan trọng vì nó sẽ giúpkiểm toán viên có kế hoạch kiểm toán hiệu quả, từ đó xác định nội dung, lịchtrình, phạm vi và các thủ tục kiểm toán để có thể phát hiện ra các sai phạm trọngyếu trên báo cáo tài chính.

Thấy được tầm quan trọng của công tác đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính và qua thời gian thực tập tại công ty TNHH Kiểm toán và

Định giá Việt Nam, em đã chọn đề tài: “ Tìm hiểu rủi ro kiểm toán và mối quan hệ rủi ro kiểm toán trong quy trình kiểm toán BCTC của kiểm toán độc lập tại Việt Nam.” với mong muốn tìm hiểu và góp phần hoàn thiện công tác

đánh giá rủi ro kiểm toán

Trang 2

Cũng nhân dịp này, em xin chân thành cảm ơn : ThS Tạ Thu Trang và

khoa Kế toán tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong suốt thời gian vừa qua để em hoàn thiện đề án môn học này

Trang 3

PHẦN I : Lý luận chung về rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC và mối quan hệ của rủi ro với quy trình kiểm

toán BCTC1.1 Tổng quan về rủi ro kiểm toán

* Khái niệm về rủi ro kiểm toán

Rủi ro kiểm toán (AR) là rủi ro mà KTV có thể mắc phải khi đưa ra nhữngnhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai sót nghiêmtrọng

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 ( mục 7 VAS 400 –Đánh giárủi ro va kiểm soát nội bộ ) : “ rủi ro kiểm toán là rủi ro mà KTV và công tykiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toáncòn có những sai sót trọng yếu.”

*Những nguyên nhân gây ra rủi ro kiểm toán

Rủi ro kiểm toán gắn liền với các sai sót trọng yếu trên BCTC Các nguyênnhân dẫn đến BCTC bị trình bày sai một cách trọng yếu gồm:

_kiểm toán viên thường chỉ có thể chọn mẫu kiểm tra chứ không thể kiểmtra toàn bộ tổng thể

_Bằng chứng kiểm toán viên thu thập được chỉ mang tính thuyết phục chứchưa phải là bằng chứng chứng minh tuyệt đối

_Gian lận thường khó phát hiện hơn sai sót

_Hành vi không tuân thủ pháp luật

_Sự vi phạm giả thiết hoạt động liên tục

Việc hiểu rõ các yếu tố gây sai sót trọng yếu trên BCTC là vô cùng cần thiết trong công tác đánh giá rủi ro.Điều này giúp kiểm toán viên dễ dàng theo dõi các dấu hiệu, điều kiện làm tăng rủi ro

Trang 4

*Vận dụng khái niệm rủi ro kiểm toán

Khái niệm rủi ro kiểm toán được áp dụng trong BCTC nhằm giúp kiểm toán viên kiểm soát rủi ro này trong giới hạn cho phép.Để đạt được điều này :_Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, kiểm toán viên cần đánh giá rủi ro kiểm toán, bao gồm rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát nhằm xác định mức rủi ro phát hiện phù hợp, trên cơ sở đó thiết kế các thử nghiệm cơ bản thích hợp để rủi ro phát hiện chấp nhận được là thấp,KTV cần tăng cường thử nghiệm chi tiết, mở rộng cỡ mẫu… ngược lại, đối với các khoản mục mà rủi

ro phát hiện cao, KTV có thể giảm bớt các thử nghiệm cơ bản và giảm cỡ mẫu để tăng hiệu quả kinh tế

_Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, KTV luôn cần lưu ý bổ sung hoặc điều chỉnh các đánh giá ban đầu về rủi ro.Khi hoàn thành kiểm toán, căn cứ vào kết quả của quá trình thực hiện kiểm toán, KTV cần rà soát lại xem cuối cùng rủi ro kiểm toán đã hạ xuống mức độ thấp nhất hay chưa

1.2 Các bộ phận của rủi ro kiểm toán:

1.2.1 Rủi ro tiềm tàng (IR)

b) các nhân tố ảnh hưởng

* Ở mức độ BCTC

_Cạnh tranh, biến động về kinh tế gây áp lực đối với doanh nghiệp

Trang 5

_Bản chất của ngành nghề kinh doanh

_Tính liêm chính của BGD

_Kinh nghiệm, kiến thức của hệ thống kế toán

* Ở mức độ từng CSDL

_Sai sót ở các cuộc kiểm toán trước

_Tính nhạy cảm của khoản mục đối với tham ô, trộm cắp

_Khối lượng nghiệp vụ phát sinh, nghiệp vụ bất thường

_Tính phức tạp của nghiệp vụ, các ước tính kế toán

1.2.2 Rủi ro kiểm soát (CR)

a) khái niệm

Rủi ro kiểm soát là xác suất hệ thống KSNB của đơn vị không phát hiện vàngăn chăn kịp thời các gian lận và sai sót trọng yếu trên BCTC

Theo chuẩn mực kieermtoans số 400 ( Mục 5 VAS 400 –rủi ro kiểm

toán)”Rủi ro kiểm soát là rủi ro sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong BCTC khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán

và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời.”

là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng

và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định để kiểm tra kiểm soát ngăn ngừa và phát hiện các gian lận, sai sót để lập BCTC

Trang 6

đơn vị Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống

kế toán và các thủ tục kiểm soát”

Thông thường rủi ro kiểm soát bắt nguồn từ các nhân tố sau:

_môi trường kiểm soát yếu kém

_thiếu thủ tục kiểm soát hay thủ tục kiểm soát không hữu hựu

_Các hoạt động giám sát không được thực hiện hay thực hiện không hiệu quả

b) Các nhân tố ảnh hưởng

Rủi ro phát hiện ảnh hưởng bởi các nhân tố sau:

_nội dung phạm vi và thời gian của các cuộc thử nghiệm

_Rủi ro chọn mẫu : rủi ro do mẫu được chọn không đủ đại diện cho tổng thể_Rủi ro không do chọn mẫu : rủi ro KTV đưa ra kết luận sai dựa trên những bằng chứng có sẵn

1.3 Mô hình rủi ro kiểm toán

Trang 7

Mối quan hệ giữa các loại rủi ro dùng để đánh giá rủi ro trong giai đoạnlập kế hoạch kiểm toán Để tìm hiểu mối quan hệ giữa các loại rủi ro, trước hết

ta tìm hiểu về mô hình rủi ro kiểm toán

Mô hình rủi ro kiểm toán

Ta có:

AR = IR x CR x DRTrong đó: AR: Rủi ro kiểm toán IR: Rủi ro tiềm tàng

CR: Rủi ro kiểm soát DR: Rủi ro phát hiện

Mô hình rủi ro kiểm toán được sử dụng khi lập kế hoạch kiểm toán theomột hoặc cả hai cách Cách thứ nhất là mô hình được dùng để giúp kiểm toánviên đánh giá liệu kế hoạch kiểm toán có hợp lý không Ví dụ với một cuộckiểm toán nhất định, kiểm toán viên đánh giá Rủi ro tiềm tàng IR=0,5, Rủi rokiểm soat CR=0,25, Rủi ro phát hiện DR=0,1 thì AR=0,5 x 0,25 x 0,1=0,0125.Nếu kiểm toán viên kết luận là rủi ro kiểm toán thích hợp đối với hợp đồng kiểmtoán không thấp hơn 1,25% thì kế hoạch đó được chấp nhận

Tuy nhiên để có được một kế hoạch hiệu quả hơn, kiểm toán viên thườngsử dụng mô hình kiểm toán theo cách thứ hai để xác định rủi ro phát hiện và sốlượng bằng chứng thích hợp phải thu thập Theo cách này, ban đầu khi chấpnhận hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên sẽ xác định ra một mức rủi ro kiểmtoán mong muốn chung cho cuộc kiểm toán ( ví dụ DAR=0,0125) Sau đó trongquá trình lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên sẽ đánh giá được rủi ro tiềmtàng và rủi ro kiểm soát ( ví dụ 0,5 và 0,25) Lúc này để đảm bảo cho cuộc kiểmtoán có mức độ rủi ro kiểm toán ở mức như dự kiến ban đầu, kiểm toán viên xácđịnh rủi ro phát hiện theo công thức

IR x CR

Trang 8

Do đó, rủi ro phát hiện sẽ là 0,1 Từ đó, kiểm toán viên lập chương trìnhkiểm toán thích hợp để thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp đảm bảo rủi rophát hiện ở mức 0,1 và rủi ro kiểm toán ở mức 0,0125

Rủi ro kiểm toán được xác định theo cách thứ hai này được kiểm toánviên sử dụng phổ biến hơn Theo cách này, rủi ro kiểm toán được xác định từban đầu cuộc kiểm toán và được gọi là rủi ro kiểm toán mong muốn (DesiredAudit Risk- DAR) Đây là mức độ mà kiểm toán viên sẵn sàng chấp nhận là báocáo tài chính có thể sai sót sau khi cuộc kiểm toán đã hoàn thành và đi đến ýkiến chấp nhận toàn phần Rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định một cáchchủ quan theo kinh nghiệm của kiểm toán viên Khi kiểm toán viên quyết địnhmột tỷ lệ rủi ro kiểm toán mong muốn thấp hơn có nghĩa là kiểm toán viên muốnchắc chắn hơn là các báo cáo tài chính không bị sai phạm trọng yếu Rủi ro kiểmtoán mong muốn =0 thể hiện kiểm toán viên hoàn toàn chắc chắn là báo cáo tàichính không có sai phạm trọng yếu Rủi ro kiểm toán mong muốn = 1 thể hiệnkiểm toán viên hoàn toàn không chắc chắn rằng báo cáo tài chính không có saiphạm trọng yếu Như vậy DAR có thể nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Rủi ro kiểmtoán mong muốn = 0 là điều rất hiếm xảy ra trong kiểm toán báo cáo tài chính vì

bị giới hạn về thời gian và chi phí cho cuộc kiểm toán

Mức độ rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định dựa vào hai yếu tốchủ yếu là: Mức độ mà theo đó những người sử dụng bên ngoài tin vào báo cáotài chính và khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn tài chính sau khi Báo cáokiểm toán được công bố

1.4 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro

Qua nghiên cứu các loại rủi ro và mô hình rủi ro kiểm toán, chúng ta thấyrằng rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện và rủi ro kiểm toán cómối quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soátkhác với rủi ro phát hiện và rủi ro kiểm toán ở chỗ các loại rủi ro này tồn tại độclập, khách quan với các thông tin tài chính Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát

Trang 9

nằm trong chức năng hoạt động kinh doanh và môi trường quản lý của doanhnghiệp cũng như trong bản chất của số dư tài khoản, các loại nghiệp vụ cho dù

có hay không có công việc kiểm toán Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát cómối quan hệ chặt chẽ với nhau nên kiểm toán viên thường kết hợp cùng lúc việcđánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát

Trong khi đó rủi ro phát hiện và rủi ro kiểm toán được đánh giá và xácđịnh phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của kiểm toán viên Kiểm toán viênthường xác định rủi ro kiểm toán ngay từ đầu khi chấp nhận hợp đồng kiểmtoán Còn rủi ro phát hiện được xác định cuối cùng sau khi đã xác định rủi rotiềm tàng và rủi ro kiểm soát dựa trên việc thiết kế các thủ tục kiểm toán để đảmbảo rủi ro kiểm toán ở mức mong muốn

Rủi ro phát hiện có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng và rủi

ro kiểm soát Khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá cao thìrủi ro phát hiện có thể được đánh giá ở mức độ thấp để giảm rủi ro kiểm toánở mức thấp nhất có thể chấp nhận được Ngược lại, khi rủi ro tiềm tàng và rủi

ro kiểm soát được đánh giá là thấp thì có thể chấp nhận mức độ rủi ro pháthiệncao hơn nhưng vẫn phải đảm bảo rủi ro kiểm toán xuống thấp ở mức cóthể chấp nhận được

Sự biến động của rủi ro phát hiện dựa theo đánh giá của kiểm toán viên

về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được thể hiện trong bảng sau đây:

Bảng 1.1: Dự kiến rủi ro phát hiện

Đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro kiểm

Trang 10

Trong đó:

 Mỗi loại rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát đều được chia thành bamức: cao, trung bình, thấp

 Vùng tô đậm thể hiện mức độ rủi ro phát hiện

 Rủi ro phát hiện được chia thành năm mức: cao nhất, cao, trungbình, thấp, thấp nhất

1.5 Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và mức trọng yếu trong kiểm toán BCTC

Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán là mối quan hệ tỷ lệnghịch.Nếu mức sai phạm có thể chấp nhận được tăng lên, rủi ro kiểm toán sẽgiảm xuống.Nói cách khác khi nào KTV tăng giá trị sai sót có thể bỏ qua được,khi ấy khả năng có sai lệch trọng yếu sẽ giảm xuống.Ngược lại nếu mức sai sót

có thể chấp nhận được giảm thì rủi ro kiểm toán sẽ tăng lên

Theo chuẩn mực kiểm toán số 320 – tính trọng yếu của kiểm toán:

“ Trong một cuộc kiểm toán, mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mốiquan hệ tỷ lệ nghịch với nhau: mức trọng yếu càng cao thì rủi ro khi kiểm toáncàng thấp và ngược lại.KTV phải cân nhắc đến mối quan hệ này khi xác địnhnội dung lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán một cách thíchhợp,như: khi lập kế hoạch kiểm toán, nếu KTV xác định mức trọng yếu có thểchấp nhận được là thấp thì rủi ro kiểm toán sẽ tăng lên Trường hợp này KTV cóthể :

a) Giảm mức độ rủi ro kiểm soát được bằng cách mở rộng hoặc thực

hiện thêm thử nghiệm kiểm soát, hoặc b) Giam rủi ro phát hiện bằng cách sửa đổi lại nội dung, lịch trình và

phạm vi của thủ tục kiểm tra đã dự kiến”

Trang 11

Việc nắm vững mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro còn rất hữu ích trong việcđiều chỉnh kế hoạch và chương trình làm việc Các mối quan hệ đó được trìnhbày cụ thể trong bang sau :

- Là cơ sở để phân phối trọngyếu cho các khoản mục

Phân phối mức trọng yếucho từng khoản mục củaBCTC

-Xác định những đối tượng chitiết cần kiểm tra của khoản mục -Lựa chọn các khoản mục kiểmtoán thích hợp

- Tổ chức nhân sự tham giakiểm toán

Đánh giá rủi ro kiểm toán ở

mức độ khoản mục

Căn cứ các mức rủi ro kiểm toánchấp nhận được của khoản mục,cùng với kết quả đánh giá rủi rotiềm tàng vả rủi ro kiểmsoát ,KTV phát hiện phù hợp, đểlàm cơ sở thiết kế các thủ tục kiểmtoán

Trang 12

Phần II : Thực trạng mối quan hệ rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC của các công ty kiểm toán độc lập

Việt Nam2.1 Qui trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại công ty kiểm toán Việt Nam.

2.1.1 Quy trình kiểm toán chung tại công ty kiểm toán Việt Nam

Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cũng như thu thập được đầy đủ bằng chứng có giá trị để làm căn cứ cho kết luận của KTV, khi tiến hành kiểm toán, qui trình kiểm toán BCTC chung tại công ty Kiểm toán Việt Nam gồm 3 giai đoạn cơ bản: lập kế hoạch , thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán

2.1.1.1 Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.

Nhận được lời mời của khách hàng, công ty tiến hành tìm hiểu sơ bộ vềkhách hàng (nếu là khách hàng mới) để xem xét chấp nhận lời mời kiểm toánhay không?Riêng đối với khách hàng cũ KTV chỉ cần xem lại hồ sơ thường trực

để nắm bắt thông tin về khách hàng

Trong quá trình tìm hiểu về khách hàng mới, KTV sẽ tiến hành tìm hiểu cácthông tin liên quan đến con người, sản phẩm,thị trường, kết quả kinh doanh, tàichính, tài sản công nợ,xem sét hệ thống kế toán, chính sách kế toán,chính sáchthuế và các nhân tố khác có liên quan đến khách hàng

Đồng thời KTV tiến hành phân tích sơ bộ hệ thống kiểm soát nội bộ củakhách hàng nhằm đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát của doanh nghiệp, KTV xemxét các chu kỳ nghiệp vụ phát sinh chủ yếu như : TSCĐ, mua hàng và doanhthu.Trên cơ sở những tìm hiểu sơ bộ đó, công ty tiến hành gửi thư chào hàngbáo giá và tiến đến ký hợp đồng kiểm toán với khách hàng Ban giám đốc công

ty sẽ lựa chọn đội ngũ nhân viên phù hợp.Thông thương 1 nhóm kiểm toán bao

Trang 13

gôm 3-4 thành viên, đối với khách hàng có quy mô lớn thì số KTV sẽ nhiều hơn

để phù hợp với khối lượng công việc

Trên cơ sở những trao đổi, tìm hiểu đánh giá, hệ thống kiểm soát nội bộ, KTVtiến hành lập kế hoạch kiểm toán.Kế hoạch kiểm toán thể hiện rõ trong biên bảnghi nhớ kế hoạch kiểm toán do KTV lập, bao gồm các nội dung chủ yếu sau: _Tìm hiểu khách hàng

_Hợp đồng kiểm toán

_Cuộc họp để lập kế hoạch kiểm toán

_xem xét các sự kiện năm trước

_Các thủ tục kiểm toán theo kế hoạch

Tùy vào loại hình doanh nghiệp sẽ có những chu trình và nghiệp vụ đặctrưng, KTV sẽ xác định nhưng điểm đáng lưu ý trong quá trình kiểm toán, vàtiến hành phân công công việc cho các thành viên trong đoàn, mỗi thành viên sẽchịu trách nhiệm kiểm toán những khoản mục trên cơ sở chương trình kiểm toánchi tiết.Để phục vụ cho quá trình kiểm toán được thuận lợi, công ty phải xâydựng sẵn các chương trình kiểm toán chi tiết cho từng khoản mục

2.1.1.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán.

Trang 14

Trên cơ sở những phân công công việc ban dầu do trưởng đoàn phân công,các thành viên trong đoàn tiến hành kiểm toán các khoản mục cụ thể dựa trennhững mục tiêu kiểm toán đã đặt ra và những thủ tục đã xây dựng sẵn.Đối vớinhững nghiệp vụ mà chu trình xảy ra nhiều,kiểm toán viên sẽ tiến hành chọnmẫu để tiến hành thủ tục kiểm toán rồi suy rộng ra tổng thể cần kiểm toán.Đốivới chu trình mà theo kinh nghiệm đánh giá là rủi ro cao hoặc số lượng nghiệp

vụ xảy ra ít thì kiểm toán viên có thể tiến hành kiểm toán toàn diện KTV kếthợp các phương pháp nghiệp vụ như điều tra, đối chiếu, so sánh và phân tích…

để thực hiện các thử nghiệm kiểm soát, thủ tục phân tích va thử nghiệm kiểmsoát.Qua đó KTV sẽ đưa ra ý kiến của mình về về các khoản mục dựa trênnhững bằng chứng thu thập được.Toàn bộ quá trình làm việc và kết luận củaKTV và trọ lý kế toán liên quan đến từng khoản mục được thể hiện rõ trên giấy

và được lưu lại trong hồ sơ làm việc

2.1.1.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán

Tại giai đoạn này, KTV xem sét các vấn đề liên quan đến các khoản nợ tiềmtàng, khái niệm hoạt động liên tục và nhũng sự kiện sau ngày kết thúc niênđộ.Trưởng đoàn sẽ thu thập các giấy tờ làm việc, duyệt và tổng hợp những ýkiến và kết luận về các khoản mục trên BCTC Từ đó lập biên bản trao đổi nêu

ra các vấn đề cần điều chỉnh đối với từng khoản mục cụ thể.Trên cơ sở nhữngtrao đổi và điều chỉnh này trưởng đoàn lập bản thảo Báo cáo kiểm toán ban soátxét phê duyệt.Tùy thuộc vào khách hàng có đồng ý điều chỉnh hay không thìKTV sẽ đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần hay từng phần trên Báo cáo kiểmtoán…

Sau khi trình lên ban soat xét và ban giám đốc phê duyệt, trưởng đoàn tiếnhành gửi bản thảo Báo cáo kiểm toán đến khách hàng.khách hàng sẽ xem xét vàđưa ra ý kiến về bản thảo đó,nếu khách hàng đồng ý sẽ đưa ra Báo cáo kiểmtoán chính thức

Trang 15

2.1.2 Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC.

Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toánBCTC :

_KTV thiết lập mức rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được cho từng hợpđồng kiểm toán.Mức rủi ro này sẽ được áp dụng cho toàn bộ dẫn liệu của các số

dư hoặc loại nghiệp vụ quan trọng

_Rủi ro tiềm tàng sẽ được đánh giá cho tổng thể BCTC, cho các số dư hoặcloại nghiệp vụ quan trọng đến từng cơ sở dẫn liệu

_KTV phải thực hiện đánh giá rủi ro kiểm soát cho cơ sở dẫn liệu của các số

dư hoặc loại nghiệp vụ quan trọng

_Dựa vào rủi ro kiểm toán, rủi ro tiềm tàng,và rủi ro kiểm soát đã được đánhgiá để xác định rủi ro phát hiện chấp nhận được căn cứ rủi ro phát hiện chấpnhận để xác định nội dung, lịch trình và pham vi thử nghiệm căn bản

2.2 Đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán.

Trước khi chấp nhận hợp đồng kiểm toán với khách hàng mới hoặc tiếp tụcký hợp đồng với khách hàng truyền tống công ty kiểm toán cân nhắc khả năngliệu có nên ký hợp đồng kiểm toán này hay không Việc cân nhắc này phụ thuộcrất nhiều kinh nghiệm và khả năng phán đoán của KTV do đó nó thường đượcgiao cho KTV cao cấp thực hiện

Công việc đầu tiên của KTV là phải thu thập thông tin cơ bản về khách hàng

để đánh giá rủi ro sơ bộ của khách hàng đó Việc đánh giá rủi ro như thế có ýnghĩa quan trọng vì nó không chỉ ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận kháchhàng mà còn ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch kiểm toán nếu hợp đồng đó đượcchấp nhận Ngoài ra thì nó còn giúp xác định quy mô và tính chât phức tạp củacông việc để xác định mức phí và nhân sự thực hiện kiểm toán

Ngày đăng: 02/03/2016, 13:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Dự kiến rủi ro phát hiện - Tìm hiểu rủi ro kiểm toán và mối quan hệ rủi ro kiểm toán trong quy trình kiểm toán BCTC của kiểm toán độc lập tại việt nam
Bảng 1.1 Dự kiến rủi ro phát hiện (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w