Và trong điều kiện của các ĐH vùng, ĐH đa ngành, việc công nhận tín chỉ giữa các trường sẽ tăng khả năng lựa chọn của người học và thực sự tạo được sự liên thông trong tổ chức đào tạo..
Trang 14 Đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ ở nước ta: Quan điểm, nhận thức
và giải pháp phát triển - PGS.TS Phạm Xuân Hậu 29
5 Đào tạo liên thông – Các trường công nhận chương trình của nhau như thế nào - PGS.TS Nguyễn Kim Hồng 42
6 Đào liên thông từ cao đẳng lên đại học theo hệ thống tín chỉ - TS.Nguyễn Ngọc Hùng .46
7 Đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ từ góc nhìn bên ngoài giảng đường đại học - ThS Phạm Văn Luân 54
8 Hệ thống tích lũy và chuyển đổi tín chỉ châu Âu và phương hướng hội nhập của Việt Nam TS.Phạm Thị Ly 62
9 Một số điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo liên thông trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam - PGS.TS Lê Đức Ngọc 68
10 Đào theo hệ thống tín chỉ - Bài toán khó giải cho các trường đại học và cao đẳng địa phương - ThS.Lê Thị Hương Quê 72
11 Đào tạo liên thông là phương thức đào tạo ngắn nhất, kinh tế nhất - PGS.TS Phùng Rân 82
12 Đào tạo liên thông trong việc phân luồng học sinh hiện nay - ThS.Nguyễn Ngọc Tài 86
13 Một số vấn đề trong đào tạo liên thông tại các trường đại học, cao đẳng hiện nay - ThS Nguyễn Ngọc Tài 94
14 Đào tạo theo hệ thống tín chỉ và vấn đề liên thông của văn bằng tù tài cộng hai năm của quốc tế sang Việt Nam - Võ Minh Thái 98
15 Đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ ở bậc đại học – Lịch sử, vai trò và vận dụng các phương pháp dạy học - TS.Trần Thị Thìn-TS.Nguyễn Thị Hạnh 103
16 Đào tạo liên thông theo tín chỉ - Mấy vấn đề cần đặt ra - ThS.Hà Hồng Vân – Nguyễn Trí Thành 113
Trang 2PHẦN 2: Đào tạo liên thông tại các trường 121
17 Đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ - Nguyễn Vĩnh An 123
18 Đào tạo liên thông tại trường đại học KHXH&NV-Đại học Quốc gia Tp.HCM - TS.Lê Khắc Cường 130
19 Xây dựng chương tình đào tạo liên thông lên đại học cho bậc cao đẳng nghề - PGS.TS Đỗ Văn Dũng 134
20 Đào tạo liên thông tại trường đại học dân lập Phương Đông - TS.Nguyễn Tiến Đào-ThS.Hoàng Thị Minh Huệ 167
21 Đào tạo theo hệ thống tín chỉ mở ra cơ hội mới cho đào tạo liên thông - TS.Nguyễn Văn Hạ 172
22 Kiến nghị và đề xuất việc chuyển đổi đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học Hà Tĩnh - Bùi Văn Hạt 176
23 Đào tạo liên thông bậc đại học ngành Y, Dược-Hướng giải quyết nhu cầu nhân lực y tế đáp ứng nhu cầu xã hội - PGS.TS Lương Xuân Hiến 181
24 Đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ ngành Sư phạm mỹ thuật – Góc nhìn từ thực tiễn - Nguyễn Đình Kỳ 188
25 Đào tạo liên thông tại Học viện kỹ thuật quân sự - GS.TSKH Phạm Thế Long 195
26 Những thách thức và giải pháp trong đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học Sư phạm- Đại học Huế - PGS.TS Biền Văn Minh- TS.Phạm Quang Chinh 200
27 Những khó khăn và thách thức trong đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ tại trường cao đẳng Sư phạm Đồng Nai - Lê Quang Tân 206
28 Đào tạo liên thông – Con đường vòng để đạt trình dộ cao hơn - Nguyễn Phước Tài 211
29 Đào tạo liên thông – Bước đi còn trăn trở với các trường đại học ngoài công lập - TS.Lưu Thanh Tâm-Trần Hồng Hoàng 218
30 Đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ ở trường cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Thanh Hóa - TS.Lê Văn Tạo 221
31 Một số nhận xét về thực trạng đào tạo liên thông và giải pháp thực hiện ở trường cao đẳng sư phạm - TS.Trần Thị Thìn 225
PHỤ LỤC: Hoạt động của VUN 235
32 Báo cáo hoạt động của VUN nhiệm kỳ 2006-2008 236
33 Danh sách các trường đại học, cao đẳng thành viên VUN đến năm 2008 244
34 Danh sách các trường đại học, cao đẳng thành viên VUN gia nhập 2009
Trang 3PHẦN 1
Trang 5MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
Nguyễn Cao Đạt 1 Trường Đại học Cửu Long
Học chế tín chỉ được hình thành và mở đầu tại Viện Đại học (ĐH) Harvard, Hoa kỳ năm 1872 Mục đích của nó là quá trình đào tạo được tổ chức sao cho người học có thể lựa chọn cho mình cách học phù hợp nhất với khả năng học vấn và tài chính của mình Cơ sở đào tạo phải thích ứng dễ dàng trước nhu cầu biến động, đa dạng của đời sống xã hội Với mục đích như vậy, học chế tín chỉ được phát triển nhanh chóng ở Mỹ và lan rộng sang châu Âu
Ở Việt Nam, trước năm 1975 cũng đã triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ Sau 1975, vào năm 1980 tư tưởng đào tạo theo hệ thống tín chỉ được hình thành Trường ĐH Bách khoa Tp.HCM đi tiên phong triển khai từ năm học 1993-1994, sau đó là các trường ĐH Đà Lạt, Cần Thơ, Thủy sản Nha Trang, Khoa học tự nhiên Tp.HCM… Và cho đến nay, theo quy chế 43/2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra lộ trình để các trường ĐH Việt Nam triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Như vậy, đối với hệ thống đào tạo theo hệ thống tín chỉ quả là còn quá mới cho các trường ĐH Việt Nam Trong các hội thảo, có nhiều ý kiến thuận nhưng cũng còn ý kiến băn khoăn mặt này mặt khác
Với hệ thống đào tạo chính quy gần như đầy đủ điều kiện triển khai mà còn có những băn khoăn hay trở ngại khi triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ thì việc đào tạo liên thông không biết sẽ như thế nào Nói như vậy, không có nghĩa là dừng lại, không triển khai, chúng ta phải tìm cách nào đó để thực hiện cho tốt nhất Xuất phát điểm tại Hoa Kỳ là đáp ứng nhu cầu của người học bị hạn chế về khả năng kinh tế và có thể là học vấn Vậy, với những người hạn chế
về thời gian và tuổi tác, sức khỏe, học vấn như đối tượng của loại hình này chúng ta đào tạo có được không?
1 ThS, Quyền Hiệu trưởng
Trang 6Để có ý kiến về vấn đề này, xin được đi qua các mục sau đây:
1 Đặc điểm của hệ thống tín chỉ:
Triết lý cơ bản của hệ thống tín chỉ là tôn trọng người học, coi người học
là trung tâm, nói cách khác là hướng đến người học Người học được chủ động
đề ra kế hoạch học tập cho phù hợp với khả năng và điều kiện của mình Hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao, nên nhiều nước trên thế giới áp dụng hình thức này Có nhiều mô hình khác nhau, nhưng hệ thống này có những đặc điểm cơ bản sau:
1.1.Người học phải tích lũy kiến thức theo từng học phần
1.2.Mỗi học phần cấu tạo theo module, phân bổ theo mốc thiết kế của năm học Ngoài phần đại cương chung cho một chương trình, còn cấu tạo môn học tự chọn, chia nhánh sâu cho mỗi chuyên ngành hẹp
1.3.Quy định khối kiến thức cho mỗi văn bằng, với ĐH hệ 04 năm khối lượng kiến thức từ 120 đến 140 tín chỉ (không nhất thiết phải tối đa) 1.4.Chương trình đào tạo mềm dẻo, người học dễ dàng điều chỉnh ngành nghề khi thấy không thích hợp với sở trường sở đoản
1.5.Đánh giá thường xuyên, trong quy chế 43 quy định về đánh giá theo quy định sau:
• Điểm đánh giá bộ phận và kết thúc học phần chấm theo thang điểm
n
i
i i
n
n a
1 1
Trong đó A là điểm trung bình học kỳ hay TBC tích lũy,
Trang 71.7.Tổ chức đào tạo và quản lý đào tạo rất khác biệt với cách tổ chức theo quy chế 25/2006, như: đăng ký môn học, giờ giấc của một ngày học, đội ngũ cố vấn học tập, và lớp “tín chỉ”…
1.8.Tuyển sinh theo học kỳ, xét tốt nghiệp 02 lần/01 năm; không thi tốt nghiệp…
1.9.Chỉ có một loại văn bằng cho tất cả các loại hình (chính quy và không chính quy)
2 Đặc điểm của đào tạo liên thông:
2.1.Có hai hình thức: từ CĐ lên ĐH và từ TC lên ĐH
2.2.Đối tượng là người lớn tuổi, đã học xong một loại văn bằng nào đó, đã công tác ở một đơn vị nào đó
2.3.Chương trình đào tạo liên thông theo nguyên tắc kế thừa và tích hợp, mềm dẻo để giảm tối đa thời gian học lại kiến thức kỹ năng mà người học
đã tích lũy ở các trình độ khác
2.4.Chương trình phải được xây dựng trên cơ sở chương trình khung và thiết
kế phù hợp với các điều kiện để đảm bảo chất lượng đào tạo
2.5.Nguồn tuyển sinh đa dạng về địa bàn và trình độ, độ tuổi và kinh nghiệm nghề nghiệp, mục đích và động cơ học tập
3 Một số đề xuất để đảm bảo chất lượng:
Từ lâu nay, việc đào tạo liên thông đã đem đến cho chúng ta một dấu ấn khó xóa về chất lượng khi chúng ta thực hiện điều hành theo các quy chế cũ Trên thực tế, cũng còn có những đơn vị đào tạo chưa chú ý đến việc đảm bảo
Trang 8chất lượng Điều đó được thể hiện ở các lĩnh vực về quan điểm, nhận thức cũng như thực hiện Người học khi tham gia học cũng nhận thức chưa đầy đủ và phiến diện Vì thế ở đâu đó vẫn có hiện tượng “học giả” bằng thật?
Theo yêu cầu của đào tạo tín chỉ, việc quản lý và tự học của người học rất cao; liệu có thể đảm bảo chất lượng khi vận hành quy chế này hay không?
Ở đây trong khuôn khổ bài tham luận, xin nêu một vài ý kiến góp phần vào đảm bảo chất lượng đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ
3.1 Vấn đề xây dựng và cấu tạo chương trình đào tạo:
Để có chương trình đào tạo phù hợp với đối tượng người học và phương thức đào tạo, cần nghiên cứu và xem xét nhu cầu việc làm của ngành đào tạo Vì thế, cần coi trọng những ý kiến của các nhà quản lý doanh nghiệp Muốn vậy, từ
hệ đào tạo chính quy, nhà trường cần nắm được thực trạng đội ngũ cán bộ nhân viên mà doanh nghiệp đã có, cần đào tao lại… trên cơ sở đó chương trình được thiết kế sẽ phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của doanh nghiệp và thiết thực với người học
Chương trình xây dựng cần khai thác khả năng chuyên môn, thực tế của người học
Chương trình không thiên về lý luận, dùng lý luận để tìm những chỗ khiếm khuyết xảy ra trong thực tế và đem thực tế vào nội dung của bài giảng
3.2 Quản lý đào tạo:
Quản lý người dạy đảm bảo đúng giờ được phân bổ trên chương trình Cử cán bộ theo dõi kiểm tra việc học của người học sít sao đảm bảo thời gian tối thiểu dự lớp
Quản lý việc thực hiện trao đổi nhóm, thảo luận Có thể phân công thêm giảng viên cùng tham gia những giờ thảo luận với giảng viên đứng lớp chính của
bộ môn
Nên có suy nghĩ về việc trao đổi, trả lời của thầy bằng hình thức qua mạng Internet Vì thực tế, các thầy ít có điều kiện gặp sinh viên và ngược lại người học vì lý do công việc và địa dư khó có thể thực hiện việc trao đổi trực diện với thầy
Trang 93.3 Đánh giá:
• Cần cải tiến cách đánh giá cho điểm, trọng số của từng loại điểm
• Nên coi trọng phần thực hành, thực tế do vậy phần thảo luận, tiểu luận nên để trọng số 0.5
• Phần kiểm tra lý thuyết nên xây dựng đề thi trắc nghiệm và cho trọng số 0,5
Vấn đề chất lượng là vấn đề sống còn của một mô hình đào tạo, để đảm bảo chất lượng thì cần xem xét một mô hình tương thích
Nếu đảm bảo chất lượng thì việc đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ
sẽ khai thông cho một phương thức đào tạo tốt Nó có tác dụng thúc đẩy thực sự
sự phát triển của các đơn vị, các doanh nghiệp Trong cơ chế thị trường, nếu có tác dụng thiết thực, các doanh nghiệp sẽ đầu tư và đào tạo sẽ có nguồn và có môi trường “sạch sẽ” dụng võ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 GS Lâm Quang Thiệp, 1998, Mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học ở đại học trong thời kỳ mới
2 Bộ Giáo dục & Đào tạo, 2006, Tài liệu giới thiệu hệ thống tín chỉ, phát triển chương trình đào tạo đại học & cao đẳng
3 Quy chế 43/2007 tháng 08/2007 về đào tạo theo hệ thống tín chỉ
4 Quyết định 06/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 13/02/2008 về Quy định đào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học
5 GS Lâm Quang Thiệp, 2009 hội thảo Huế 2009, Việc áp dụng học chế tín chỉ trên thế giới và Việt Nam
6 TS Nguyễn Tiến Vờn, 2009 hội thảo Huế 2009, Đào tạo theo tín chỉ, tại sao?
7 TS.Võ Văn Thắng, 09/2008, Thông tin khoa học Đại học An Giang, Vấn
đề đào tạo theo học chế tín chỉ
Trang 108 ThS Hoàng Thị Tuyết, “Làm thế nào để đưa sinh viên quen lối học thụ động vào quỹ đạo ‘dạy tự học’?” Hội thảo “Nâng cao chất lượng đào tạo”, Đà Lạt 2001
9 TS Nguyễn Thiện Tống, “Đổi mới đồng thời phương pháp giảng dạy, phương pháp học tập & phương pháp đánh giá trong đào tạo theo học chế tín chỉ”, Hội thảo khoa học VUN lần 2, Hải phòng 09/2007
Trang 11ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ TIỀM NĂNG VÀ NHỮNG RÀO CẢN CẦN VƯỢT QUA
Tôn Thất Dụng 1 Trường Đại học Sư phạm Huế
1 Đặt vấn đề
Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo đại học (ĐH) đang là một yêu cầu đặt ra cấp thiết ở nước ta hiện nay Trong bối cảnh hội nhập và xu thế toàn cầu hoá đang ngày một diễn ra nhanh chóng, giáo dục và đào tạo phải tạo ra những động lực mới nhằm đào tạo một đội ngũ nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, tham gia giải quyết những vấn đề chung của khu vực và thế giới Ở thời đại hiện nay, những phát hiện mới, những thành tựu khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển một cách nhanh chóng và được ứng dụng rộng rãi vào trong đời sống xã hội Đối với giáo dục bậc ĐH, những thông tin này phải nhanh chóng cập nhật và giảng dạy phù hợp với mỗi chuyên ngành đào tạo Do vậy, chương trình đào tạo và phương thức tổ chức dạy học cũng cần phải điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Những mô hình đào tạo theo kiểu hàn lâm, chương trình đào tạo "đông cứng", phương thức đào tạo thiếu linh hoạt sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp làm hạn chế khả năng phát huy sức mạnh của các đơn vị tham gia tổ chức đào tạo Bộ Giáo Dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã khuyến nghị các trường ĐH và cao đẳng (CĐ) xác định lộ trình chuyển đổi phương thức đào tạo, từ phương thức đào tạo niên chế sang phương thức đào tạo theo học chế tín
chỉ và công bố Quyết định 43/2007/BGD&ĐT ban hành Quy chế đào tạo đại
học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ Bộ cũng đã cho triển khai
thí điểm chương trình đào tạo liên thông trong mấy năm qua và đã chính thức ban hành Quyết định số 06/2008/QĐ- BGD&ĐT ngày 13 tháng 02 năm 2008
Quy định đào tạo liên thông trình độ cao đẳng đại học Những chủ trương này
đã tác động đến giáo dục ĐH và tạo ra những đổi thay nhất định Tuy vậy, để những phương thức đào tạo mới phát huy được tiềm năng của nó cũng cần phải
có thời gian và phải hạn chế những rào cản nảy sinh trong quá trình triển khai
1 TS, Trưởng phòng Đào tạo
Trang 12Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ nêu mấy nhận xét về những tiềm năng
và những rào cản trong đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ (HTTC)
2 Về những tiềm năng
2.1 Tiềm năng từ hệ thống đào tạo tín chỉ
Điều ai cũng dễ dàng nhận ra là hệ thống đào tạo tín chỉ bao chứa trong
nó sự linh hoạt, mềm dẻo và đặt quyền lợi của người học vào vị trí ưu tiên Tất nhiên, để khai thác hết ưu thế này không phải là vấn đề đơn giản Muốn làm được điều này trong điều kiện nước ta hiện nay phải mất một thời gian khá dài nếu thực sự làm đúng triết lý của đào tạo tín chỉ Và để phấn đấu làm được điều
đó đòi hỏi chúng ta phải nhận diện đúng những tiềm năng vốn có của nó và những điều kiện để tiềm năng ấy chuyển thành hiện thực Trước tiên, hệ thống đào tạo tín chỉ cho phép người học chọn lựa chương trình và thời gian học Điều này đòi hỏi chương trình đào tạo của các trường phải được thiết kế chuẩn và đa dạng Trong thực tiễn hiện nay, việc triển khai xây dựng và chuyển đổi chương trình đào tạo sang học chế tín chỉ ở nước ta vẫn còn những bất cập Bất cập ngay
từ sự liên thông trong chương trình khung bắt buộc của các ngành học, nhất là các môn mang tính chất liên ngành Các môn học chung có số lượng tín chỉ khác nhau, nội dung giảng dạy có những độ vênh nhất định, và do vậy trong thực tế triển khai chương trình có khi "liên" mà không "thông" Hệ thống môn học tự chọn cũng phải được xây dựng hết sức đa dạng và đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi ngành học khi cần thiết Muốn vậy, các Hội đồng xây dựng chương trình đào tạo của các ngành học phải có khả năng bao quát những vấn đề mới đã và đang đặt ra trong thực tế đào tạo trong và ngoài nuớc Quan sát thực tế ở nước ta hiện nay có thể thấy rằng chương trình đào tạo của các ngành vẫn đang cung cấp cho người học những tri thức có sẵn của người thầy mà chưa chuẩn bị đầy đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của người học Do vậy, người học thực chất chỉ chọn các môn học có sẵn trong số tín chỉ quy định hạn hẹp của một chương trình đào tạo Cách làm này đã hạn chế tiềm năng của HTTC vốn dĩ rất linh hoạt và mềm dẻo
Cũng cần nói thêm là hệ thống đào tạo tín chỉ xây dựng các học phần thành các module và sinh viên được quyền chọn lựa thời gian để tích lũy các module này theo quy định của chương trình Trong điều kiện của các trường cùng đào tạo một ngành học, nếu có được sự thoả thuận và công nhận về các tín
Trang 13chỉ có trong chương trình chung giữa các trường thì sinh viên sẽ có điều kiện để tích luỹ tín chỉ phù hợp với nhu cầu của bản thân họ Và trong điều kiện của các
ĐH vùng, ĐH đa ngành, việc công nhận tín chỉ giữa các trường sẽ tăng khả năng lựa chọn của người học và thực sự tạo được sự liên thông trong tổ chức đào tạo Trong thực tiễn, điều này cũng chưa thực hiện đồng bộ ở các trường ĐH và CĐ, vẫn còn hiện tượng "đóng băng" trong từng trường thành viên làm hạn chế khả năng linh hoạt của HTTC Quan sát việc tổ chức đào tạo tín chỉ ở nước ngoài chúng ta dễ dàng nhận ra việc công nhận tín chỉ giữa các trường trong một quốc gia và giữa các trường ở các quốc gia Tất nhiên, để làm được việc này các trường công nhận liên thông các tín chỉ là các trường đã được kiểm định chất lượng Chúng tôi nghĩ rằng, để thực sự tạo ra sự liên thông trong đào tạo ĐH và sau ĐH chúng ta cần phải học tập kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tạo điều kiện để sinh viên hội nhập được với các nước
Trong chương trình đào tạo theo HTTC việc thiết kế để sinh viên học một lúc hai chương trình hoặc có thể thay đổi ngành học khi cần thiết mà vẫn không học lại toàn bộ chương trình của ngành học mới cũng được đặt ra Đây là một hướng đi đúng đắn nhằm giúp cho những sinh viên có năng lực có cơ hội để vượt xa hơn các bạn cùng khóa hoặc có thể chuyển sang một ngành học mà cơ hội kiếm việc làm dễ hơn Điều này thực sự góp phần vào việc thực hiện chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội của Bộ GD&ĐT Tuy nhiên, trong đào tạo tín chỉ ở nước ta hiện nay việc thực hiện điều này cũng có những khó khăn nhất định Trong chương trình đào tạo, ngoài các học phần chung bắt buộc, các học phần giao nhau giữa các ngành học không nhiều và không đồng bộ, do vậy, sinh viên cũng phải đối diện với những khó khăn khi chuyển đổi Nếu không tạo ra được sự liên thông trong quản lý thì cũng khó tạo ra sự liên thông trong chuyển đổi ngành học
2.2 Tiềm năng từ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục
Để nâng cao chất lượng giáo dục ĐH đáp ứng yêu cầu kinh tế xã hội đang đổi thay nhanh chóng, Bộ GD&ĐT đã đề xuất nhiều biện pháp cải cách giáo dục Một trong những chủ trương lớn đã được thực hiện trong thời gian qua là triển khai đánh giá chất lượng giáo dục tại các trường CĐ và ĐH Hiện nay đã
Trang 14có 20 trường tham gia đánh giá và đã được đánh giá ngoài Các trường khác
đang trong lộ trình triển khai và đang hoàn thiện dần các tiêu chuẩn trong Quy
định về chất lượng đánh giá trường đại học ban hành theo Quyết định số
65/2007/QĐ- BGD&ĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Trong số 10 tiêu chuẩn theo quy định có tiêu chuẩn 3 về chương trình giáo duc, trong đó quy định:
" 1 Chương trình giáo dục (CTGD) của trường ĐH được xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ GD&ĐT ban hành CTGD được xây dựng với sự tham gia của các giảng viên, cán bộ quản lý, đại diện của các tổ chức, hội nghề nghiệp và các nhà tuyển dụng lao động theo quy định
2 CTGD có mục tiêu rõ ràng, cụ thể, cấu trúc hợp lý, được thiết kế một cách
hệ thống, đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng của đào tạo trình độ ĐH
và đáp ứng linh hoạt nhu cầu nhân lực của thị trường lao động
3 CTGD chính quy và giáo dục thường xuyên được thiết kế theo quy định, đảm bảo chất lượng đào tạo
4 CTGD được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên cơ sở tham khảo các chương trình tiên tiến quốc tế, các ý kiến phản hồi từ các nhà tuyển dụng lao động, người tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương hoặc cả nước
5 CTGD được thiết kế theo hướng đảm bảo liên thông với các trình độ đào tạo và CTGD khác
6 CTGD được định kỳ đánh giá và thực hiện cải tiến chất lượng trên kết quả đánh giá."[ 3]
Những tiêu chuẩn trong quy định này là căn cứ để các trường tự kiểm tra mình đã đạt yêu cầu chất lượng như thế nào, đồng thời cũng là cơ sở và động lực
để các trường tăng cường các hình thức liên thông, làm cho quá trình tổ chức đào tạo thực sự linh hoạt và hiệu quả Nếu không xem đây là một trong những thước đo cần thiết về CTGD thì khả năng "đông cứng" của chương trình vẫn có thể tiếp tục diễn ra trong thực tế
Trang 152.3 Tiềm năng từ quy định đào tạo liên thông
Để thực hiện việc tổ chức đào tạo CĐ, ĐH đạt chất lượng tốt, Bộ GD&ĐT
đã cho thí điểm chương trình đào tạo liên thông trong một số trường ĐH, CĐ
Bộ cũng đã ban hành Quyết định số 49/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 05 tháng 12
năm 2002 "Quy định tạm thời về đào tạo liên thông dạy nghề, trung học chuyên
nghiệp, cao đẳng và đại học" Sau mấy năm làm thí điểm Bộ GD&ĐT đã chính
thức ban hành Quy định đào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học theo
Quyết định số 06/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 13 tháng 02 năm 2008 tạo cơ sở pháp lý để các trường triển khai đào tạo theo phương thức này Điều 2 của Quy định nêu rõ: "Đào tạo liên thông là quá trình đào tạo cho phép sử dụng kết quả học tập đã có của người học để học tiếp ở trình độ cao hơn cùng ngành nghề hoặc khi chuyển sang ngành đào tạo, hình thức giáo dục và trình độ đào tạo khác" Điều 9 quy định về chương trình đào tạo như sau:
"1 Chương trình đào tạo liên thông (CTĐTLT) phải được xây dựng theo những nguyên tắc sau:
a CTĐTLT được thiết kế theo nguyên tắc mềm dẻo, phát triển theo hướng
kế thừa và tích hợp để giảm tối đa thời gian học lại kiến thức và kỹ năng
mà người học đã tích lũy ở các trình độ khác;
b CTĐTLT phải phản ánh đúng mục tiêu đào tạo, yêu cầu học tập, nội dung phương pháp dạy và học, thời gian đào tạo, kế hoạch thực hiện và phương pháp đánh giá theo trình độ và theo ngành đào tạo tương ứng;
c CTĐTLT được xây dựng dựa trên việc so sánh giữa CTĐT trình độ CĐ cho những người có bằng tốt nghiệp trung cấp và chương trình đào tạo trình độ ĐH cho những người có bằng tốt nghiệp CĐ hoặc trung cấp Việc xây dựng CTĐTLT nói trên được thực hiện theo nguyên tắc bù đủ những khối lượng kiến thức còn thiếu và kiến thức cập nhật mới phù hợp với thực tế xã hội;
d CTĐTLT phải được xây dựng trên cơ sở chương trình khung và được thiết kế phù hợp với các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo" [2] Như vậy, có thể thấy chương trình đào tạo liên thông tạo cho người học những thuận lợi cơ bản trong việc tích luỹ kiến thức và chuyển đổi ngành đào
Trang 16tạo Điều này làm tiết kiệm đáng kể thời gian của người học và tạo ra sự linh hoạt trong tổ chức đào tạo Nếu được triển khai bằng phương thức đào tạo tín chỉ thì tiềm năng này được huy động nhiều hơn Đáng lưu ý là trong quy định này của Bộ, chương trình đào tạo liên thông được áp dụng cho cả hình thức đào tạo chính quy và hình thức vừa làm vừa học Điều này đáp ứng được nhu cầu của người học và khả năng tổ chức đào tạo của các trường Tuy vậy, những ràng buộc về quy chế tuyển sinh, quy chế đào tạo lại không tạo ra sự liên thông trong
tổ chức dạy học Điều này cần nghiên cứu thêm kinh nghiệm của các nước để một mặt đảm bảo chất lượng đào tạo, mặt khác, tạo ra được sự bình đẳng giữa các phương thức đào tạo Nên chăng nghiên cứu cùng chuẩn đầu ra cho các phương thức đào tạo này
3 Những rào cản cần vượt qua
3.1 Rào cản từ nhận thức và thiết kế chương trình đào tạo
Làm thế nào để thực hiện đào tạo liên thông một cách có hiệu quả và đảm bảo chất lượng đào tạo là một câu hỏi đang đặt ra đối với mỗi trường ĐH và CĐ
ở nước ta hiện nay Trong bối cảnh những tiềm năng để tổ chức đào tạo đã có, các văn bản quy định tạo hành lang pháp lý cũng đã được ban hành nếu không tháo gỡ những vướng mắc trong nhận thức cũng như trong triển khai thực hiện thì tiềm năng dù có lớn đến đâu vẫn chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng Cần phải nói thêm là khi triển khai đào tạo liên thông chúng ta cần phải nhận ra tính chất hệ thống của hệ thống kiến thức trong chương trình đào tạo Đây là một "hệ thống mở", có khả năng thu hút các tiểu hệ thống vào trong cấu trúc chung của mình
Có như vậy mới thực sự tạo ra sự linh hoạt và mềm dẻo trong chương trình cũng như trong tổ chức đào tạo Nếu xét liên thông theo hệ thống dọc thì việc xây dựng chương trình khung của các bậc học trung cấp và CĐ phải cùng trong một
hệ thống chung với ĐH Ở nước ta, việc này vẫn còn những bất cập vì ít quan tâm đến sự đồng bộ trong hệ thống kiến thức của các bậc học thuộc các ngành đào tạo cụ thể Hơn nữa, các Hội đồng xây dựng chương trình khung cũng chưa chú ý đúng mức đến khả năng liên thông khi triển khai chương trình đào tạo trong thực tiễn Và cũng có thể do chúng ta chưa chú ý đầy đủ về chuẩn đầu ra cho các bậc học nên tính hệ thống chưa được quan tâm một cách tối ưu Điều này làm khó khăn cho người học khi tiếp tục học liên thông giữa các bậc học và
Trang 17khó khăn cho các đơn vị quản lý khi xem xét công nhận kết quả của người học Theo Quy định 06/2008 của Bộ GD &ĐT về đào tạo liên thông thì một trong
những điều kiện để đào tạo liên thông là "đã xây dựng hoàn chỉnh chương trình
đào tạo liên thông" Điều này dễ dẫn đến chương trình đào tạo sẽ bị "đông
cứng" khi phê duyệt và sinh viên gặp nhiều trở ngại khi công nhận các học phần
đã tích lũy trước đó Trong thực tế triển khai đào tạo, các trường hầu như căn cứ vào chương trình đã được phê duyệt để xét điều kiện cho sinh viên tốt nghiệp
Đó là chưa nói ở các bậc học này trong bối cảnh hiện nay tồn tại nhiều phương thức đào tạo khác nhau với nhiều chương trình đào tạo có rất nhiều khác biệt từ các ngành học Bộ cũng đã tạo điều kiện cho các trường có thẩm quyền công
nhận kết quả học tập Điều 11 quy định: " Căn cứ quy trình đào tạo của mỗi
trường, người học có thể được công nhận kết quả học tập theo tín chỉ, học phần, chương trình môn học và kết quả toàn khoá học để được miễn trừ khi học chương trình đào tạo liên thông"[2] Điều này đem lại sự tự chủ trong tổ chức
đào tạo nhưng nếu không có những hình thức quản lý thích hợp sẽ dễ dẫn đến sự tùy tiện Nên chăng khi đã triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ thì việc công nhận kết quả phải căn cứ vào khung tín chỉ quy định cho mỗi ngành học (bao gồm cả tín chỉ bắt buộc và tự chọn) để xác định chuẩn đầu ra của một ngành học
và công nhận các tín chỉ đã học có trong chương trình đào tạo bậc học Việc này không tạo ra những khó khăn cho người học vì Bộ đã chủ trương sử dụng chương trình đào tạo hệ chính quy để áp dụng cho hệ vừa làm vừa học Đối với việc liên thông theo hệ thống ngang thì sinh viên có quyền chọn học học phần có trong chương trình đào tạo của ngành học thuộc các trường khác nhau miễn là các trường này công nhận tín chỉ của nhau Nếu có được sự liên thông của các trường có chất lượng đào tạo tốt thì sinh viên sẽ được hưởng lợi nhiều hơn Cần tạo ra khả năng hợp tác và phối hợp trong tổ chức đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo
3.2 Rào cản từ quản lý đào tạo và quản lý tài chính
Ở nước ta, việc tổ chức đào tạo theo hình thức niên chế đã tồn tại quá lâu, trở thành thói quen và ăn sâu vào nhận thức của nhiều người Để vận hành theo một phương thức mới đòi hỏi phải có thời gian thích nghi và phải có những hỗ trợ về các yếu tố khác Mặc dù mới chuyển sang đào tạo theo HTTC nhưng
Trang 18nhiều cán bộ và giảng viên đã nhận ra ưu thế của phương thức này và ít nhiều hiểu được triết lý của nó Tuy vậy, nếu không giải quyết tốt về mặt nhận thức, không tập huấn kỹ về tổ chức giảng dạy và quản lý đào tạo, thì thói quen cũ dễ dẫn chúng ta trở về với phương thức cũ và nếu có thay đổi cũng sẽ dẫn đến hiện tượng nửa vời Nhiều người sẽ dựa vào quan niệm "cách làm Việt Nam" để làm biến dạng phương thức đào tạo Chúng tôi nghĩ rằng một phương thức đào tạo linh hoạt, mềm dẻo thì đòi hỏi một phương pháp quản lý đào tạo năng động và
có khả năng xử lý kịp thời mọi tình huống Vấn đề này trong thực tế không dễ thực hiện ở nước ta vì nhiều lý do Có một phần do phương thức đào tạo mới đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của các thiết bị hiện đại mà trong thực tế kinh phí eo hẹp của mỗi trường trong một thời gian ngắn không thể đáp ứng được nên phải dùng sức lực của đội ngũ quản lý làm cho họ ngại thay đổi Một phần khác liên quan đến khả năng nắm bắt các vấn đề trong quản lý theo phương thức mới trong điều kiện chúng ta chưa được đào tạo một cách bài bản mà chủ yếu là những kinh nghiệm được truyền cho nhau một cách ngẫu hứng Và không thể không nói đến thu nhập của các thành viên trong trường Đào tạo tín chỉ đòi hỏi sự linh hoạt Đào tạo liên thông trong HTTC càng cần sự linh hoạt Công sức bỏ ra nhiều cũng đòi hỏi phải được thù lao xứng đáng đối với bán bộ và giảng viên Những hoạt động của họ nhằm đáp ứng một yêu cầu là đảm bảo chất lượng đào tạo và không ngừng nâng cao nó theo tiêu chuẩn chung của các nước tiên tiến Cần nghiên cứu để có các giải pháp thích đáng nhằm phá bỏ những rào cản trong quản lý đào tạo thì mới hy vọng "liên" và "thông"
Về quản lý tài chính không phải không có những vấn đề cần quan tâm Đối với các trường sư phạm vấn đề cũng có nhiều điểm phải nhìn lại Kinh phí đào tạo của các trường dựa vào số ngân sách được cấp khá khiêm tốn và một phần dựa vào các chỉ tiêu đào tạo không chính quy hoặc ngoài ngân sách Các trường phải cố gắng hết mình mới đủ sức đáp ứng yêu cầu tối thiểu cho hoạt động dạy và học Đối với các trường sư phạm có những khó khăn riêng Sinh viên sư phạm được miễn học phí, do vậy trường chỉ được cấp bù sư phạm Kinh phí này cố định trong khi vật giá thì biến động không ngừng Và thế là khi triển khai đào tạo tín chỉ sinh viên được bao cấp hoàn toàn Điều này dẫn đến những khó khăn nhất định khi tổ chức đào tạo Với hình thức đào tạo liên thông theo HTTC các trường sư phạm có được thu học phí của người học theo học hệ chính
Trang 19quy không? Đối với hệ vừa làm vừa học tổ chức đào tạo tại các đơn vị liên kết khi sinh viên được công nhận miễn học các học phần có trong chương trình liên thông thì kinh phí có được giảm đi không? Nếu số lượng giảm đi quá nhiều thì không đủ kinh phí để tổ chức đào tạo Rất nhiều khó khăn đặt ra và không khéo biện pháp dễ nhất là bắt người học học hết chương trình quy định đã được duyệt
để khỏi ảnh hưởng đến thu nhập của đơn vị tổ chức đào tạo Và điều này cũng rất dễ dẫn đến hiện tượng "liên" mà không "thông" Sinh viên cũng dễ cảm thấy mệt mỏi khi phải thực hiện quá nhiều thủ tục để xin miễn học các học phần theo quy định chung Đó là chưa nói cần có các chính sách đồng bộ trong quản lý đào tạo và quản lý tài chính Trên thực tế chúng ta vẫn thấy ít nhiều có độ vênh giữa hai lĩnh vực này Đào tạo đòi hỏi phải tổ chức mềm dẻo linh hoạt trong khi quản
lý tài chính có những ràng buộc riêng của nó Cần tăng thêm quyền chủ động cho các trường để họ thực sự có khả năng giải quyết những vấn đề liên quan đến
tổ chức đào tạo liên thông theo học chế tín chỉ
3.3 Rào cản về sự cạnh tranh không lành mạnh
Trong bối cảnh các trường ĐH và CĐ phát triển nhanh như hiện nay việc triển khai đào tạo liên thông đang diễn ra một sự cạnh tranh quyết liệt Thực tế này dường như ai cũng thấy rõ Chỉ cần nhìn qua báo viết cũng như báo mạng chúng ta cũng thấy không biết bao nhiêu trường đã quảng cáo về đào tạo liên thông Tất nhiên là có nhiều trường chỉ đang đào tạo theo hình thức niên chế chứ chưa thực hiện học chế tín chỉ Có nhiều trường có bề dày lâu năm Có trường chỉ mới ra đời một vài năm miễn là họ đã mở được mã ngành theo quy định của
Bộ Trong cuộc cạnh tranh này nếu trường nào cũng coi trọng chất lượng đào tạo thì thật đáng mừng Người học sẽ được hưởng lợi từ sự cạnh tranh chất lượng và học phí Nhưng có nhiều sự cạnh tranh dựa trên nhu cầu dễ dãi của người học, chỉ cần học dễ, thi dễ và học phí rẻ Miễn sao chỉ có tấm bằng để kiếm sống ở đời Và thế là cách thức tổ chức dạy và học hết sức đa dạng Rất tiếc là chúng ta ít khi kiểm định chất lượng đào tạo ở đầu ra mà chỉ cần chú trọng ràng buộc ở đầu vào Trong bối cảnh liên thông thực hiện cho các bậc học thì những học sinh các trường trung cấp chuyên nghiệp và các trường CĐ có điều kiện để thực hiện ước mơ học ĐH của mình Cũng trong bối cảnh đó các trường lại thấy đây là cơ hội để tăng thu nhập từ hoạt động đào tạo Cả hai
Trang 20nguyện vọng đều có thể chấp nhận miễn là chúng ta phải đảm bảo chất lượng đào tạo Vì vậy, cần phải có các cơ quan kiểm định chất lượng thực sự có uy tín tham gia thẩm định và giúp cho các cơ quan hữu quan có biện pháp quản lý đào tạo một cách hữu hiệu để hoạt động giáo dục và đào tạo nước ta ngày càng đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao Cần phải hạn chế cuộc cạnh tranh không lành mạnh trong công tác giáo dục và đào tạo
4 Kết luận
Mỗi phương thức đào tạo có một ưu thế riêng Đào tạo liên thông theo HTTC tích hợp cả hai ưu thế và thực sự quan tâm đến quyền lợi của người học Nếu chúng ta biết phát huy tiềm năng, hạn chế các rào cản và tiến đến phá bỏ nó thì phương thức đào tạo này sẽ góp phần đáng kể vào việc đào tạo nguồn lực cho xã hội, tạo cơ hội cho mọi người có thể học suốt đời Điều mà chúng tôi đặt
ra là phải làm thế nào để nó thực sự " liên" và "thông" Mọi sự cứng nhắc, máy móc có thể dẫn đến hiện tượng có kênh dẫn nguồn mà nước vẫn không vào ruộng được và đồng lúa phải khô hạn hoặc không điều tiết được theo ý muốn của người xây dựng nên hệ thống đó Hy vọng là chúng ta sẽ đề ra được các giải pháp khả thi để vận hành tốt phương thức đào tạo này Trên cơ sở thực tiễn đào tạo của các trường thí điểm và kinh nghiệm đào tạo tại các nước chúng ta có thể tiếp tục điều chỉnh những quy định cũng như hoàn thiện các khâu trong quá trình
tổ chức đào tạo liên thông ở nước ta hiện nay
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Giáo dục và đào tạo, Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày
15.08.2007 ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo
hệ thống tín chỉ
2 Bộ Giáo dục và đào tạo, Quyết định số 06/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày
13.02.2008 ban hành Quy định liên thông trình độ đại học, cao đẳng
3 Bộ Giáo dục và đào tạo, Quyết định số 65/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày
01.11.2007 ban hành Quy định Về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục
Trang 214 Bộ Giáo dục và đào tạo,Quyết định số 25/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày
26.06.2006 Ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy
5 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số 36/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày
28.06.2007 Ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hình thức vừa
làm vừa học
Trang 22KINH NGHIỆM Ở MỘT SỐ NƯỚC
VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG Ở VIỆT NAM
Phạm Thị Minh Hạnh 1 Trường Cao đẳng Cộng đồng Bình Thuận
Để phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống giáo dục Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, khẳng định sự lớn mạnh của cả hệ thống so với hệ thống giáo dục của các nước trong khu vực và trên thế giới, các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực trong nước cần có sự phối hợp chặt chẽ về mọi mặt nhằm đào tạo được đội ngũ nhân lực trình độ cao hiệu quả và chất lượng, có thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước
Một trong những vấn đề cần sự phối hợp giữa các cơ sở giáo dục nhằm nâng cao trình độ của nguồn nhân lực Việt Nam đó là đào tạo liên thông, đặc biệt là trong giai đoạn đào tạo nhân lực đang chuyển dần sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ, đào tạo liên thông vẫn còn gặp nhiều thực trạng nan giải và rất cần
sự thống nhất chung trên toàn lãnh thổ cho các cơ sở đào tạo nhân lực
1 Đào tạo liên thông: vai trò của nó trong sự phát triển của giáo dục Việt Nam và một số thực trạng
Trong bài “Giới thiệu phương thức đào tạo liên thông ở một số nước và
những vận dụng ở Việt Nam” trình bày tại hội thảo “Đào tạo liên thông trong
các trường Trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học Việt Nam: Thực trạng
và bài học kinh nghiệm” của Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TPHCM tổ chức vào tháng 12/2008, chúng tôi đã đề cập đến khái niệm, vai trò và một số thực trạng của hoạt động đào tạo liên thông dưới góc độ so sánh tổng quát với hệ thống giáo dục ở một số nước [1]
Ngoài những vấn đề đã nêu, với định hướng chung về học chế tín chỉ cho các cơ sở giáo dục đại học (ĐH) Việt Nam trong tương lai, hoạt động đào tạo liên thông còn những vấn đề rất đáng quan tâm, nhất là đối với các cơ sở đào tạo thuộc khối giáo dục chuyên nghiệp: tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ hiện
Trang 23nay chỉ bắt buộc đối với các cơ sở giáo dục ĐH, các trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN), dạy nghề (DN) muốn thực hiện liên thông lên cao đẳng (CĐ),
ĐH vẫn bị xem là phương thức đào tạo lạc hậu, đào tạo theo học phần - là phương thức đào tạo đã tồn tại trong suốt lịch sử giáo dục ĐH Việt Nam Chính
vì điều này là rào cản càng khiến cho qui mô đào tạo liên thông chỉ phát triển theo hướng tăng qui mô trong phạm vi từng trường: các trường ĐH mở thêm hệ
CĐ, các trường CĐ mở thêm hệ TCCN để liên thông cho bậc CĐ, ĐH của trường mình
Hiện nay, ở bậc đào tạo cao học, hoạt động này diễn ra khá thuận lợi vì rất nhiều trường dư chỉ tiêu tuyển sinh, nên đối với các ngành học gần với ngành tuyển sinh (thậm chí có những ngành thuộc hai lĩnh vực hoàn toàn khác xa nhau như Kỹ thuật và Quản trị kinh doanh) đều được thiết kế cho các học viên muốn
dự thi theo học một chương trình chuyển đổi tương thích trước khi thi và do đó
họ vẫn có nhiều cơ hội có thể học nâng cao trình độ
Vì sao liên thông ngang và liên thông dọc lên CĐ, ĐH trong hệ thống giáo dục Việt Nam lại không thực hiện dễ dàng như con đường này?
2 Kinh nghiệm đào tạo liên thông ở một số nước trên thế giới
Đối với các quốc gia có hệ thống giáo dục lâu đời, việc chuyển đổi sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ nhằm mục đích thu hút sinh viên trên toàn thế giới đến đất nước của họ, điều này mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia bởi việc truyền bá ngôn ngữ chính thống, trao đổi văn hóa và những lợi ích kinh tế kèm theo Chính vì thế, khi thiết kế nội dung chương trình theo hệ thống tín chỉ, các
cơ sở giáo dục ĐH này luôn chú trọng đến sự tương thích với các hệ thống giáo dục của nhiều nước, đặc biệt là những nước kém phát triển hơn bởi đó là nguồn tuyển sinh lâu dài, chắc chắn và ít cạnh tranh
Do đó, ngay cả một số nước có hệ thống giáo dục nổi tiếng phức tạp, lâu đời và hết sức hiệu quả vẫn chuyển sang học chế tín chỉ và hệ thống giáo dục mới, đơn giản hơn được thiết lập phù hợp với phương thức đào tạo này
Để đảm bảo hoạt động liên thông giữa các quốc gia dễ dàng thực hiện, nội dung chương trình thiết kế theo học chế này hết sức linh hoạt được áp dụng cho bất cứ sinh viên tốt nghiệp ở bất kỳ ngành nghề nào, cơ sở đào tạo nào, kể cả
Trang 24trong và ngoài nước đều có cơ hội để tiếp tục học nâng cao trình độ, nhất là đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập
Với chủ trương chung đó, đơn vị quản lý nhà nước về giáo dục cấp quốc gia có thể can thiệp vào các hoạt động cơ bản nhất của các cơ sở giáo dục ĐH nhằm đảm bảo sự thống nhất chung trên toàn lãnh thổ về đào tạo liên thông giữa các cơ sở giáo dục trong nước và giữa các quốc gia, vì thế, những sáng kiến cho
sự phát triển các định hướng đó được ưu tiên lựa chọn
Để hoạt động liên thông ngang diễn ra thuận lợi trong trường cũng như ngoài trường, các cơ sở giáo dục dù ngang cấp hay không vẫn luôn tôn trọng quá trình đào tạo của nhau, do đó những tín chỉ nào sinh viên đã học qua ở một cơ sở giáo dục khác có bậc đào tạo thấp hơn trong nước cũng như ngoài nước đều được công nhận
Nội dung chương trình đào tạo hình thành thương hiệu của mỗi cơ sở giáo dục có tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực vốn vẫn là vấn đề then chốt trong đào tạo liên thông Do đó hoạt động này được diễn ra thuận lợi ở nhiều nước là nhờ giải quyết tốt vấn đề này
Ngoài ra, ở các nước tổ chức thành công hoạt động đào tạo liên thông là những nước hết sức quan tâm đến hoạt động của sinh viên sau khi tốt nghiệp, do
đó, khi bắt đầu dự tính tuyển sinh một ngành học bất kỳ, họ luôn dự báo một cách tương đối thông tin về mong muốn của sinh viên sau khi ra trường, và vì thế, hoạt động đào tạo liên thông đã được thiết lập ngay khi tuyển sinh cho bất
Trang 25này trên toàn lãnh thổ, khi đó hệ thống giáo dục Việt Nam mới có thể thực sự đào tạo nhân lực đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Việt Nam và các nước trên thế giới
Để thực hiện được điều này, Việt Nam cần lưu ý những vấn đề sau:
- Các cơ sở giáo dục ĐH cần nhận thức rõ việc mở rộng qui mô đào tạo với nguồn tuyển sinh ổn định, lâu dài với nhiều đối tượng vẫn là hoạt động cơ bản, vì thế, việc thiết kế nội dung chương trình cần linh hoạt cho từng đối tượng tham gia dự thi: học sinh trung học phổ thông, TCCN, CĐ… khác chuyên ngành, cùng chuyên ngành, và gần chuyên ngành…
Khi đào tạo theo học chế tín chỉ, các sinh viên tham gia học tập sẽ có số lượng tín chỉ tích lũy khác nhau tuỳ theo đối tượng dự thi
- Để có sự thống nhất chung trong cả nước và nhằm thu hút học sinh ở các nước trong khu vực, Bộ GD&ĐT cần yêu cầu các sơ sở giáo dục ĐH khi chuyển sang tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ cần thiết kế chương trình học theo modun tín chỉ thực sự Bởi vì mặc dù hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều cơ sở giáo dục ĐH chuyển sang tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ, nhưng trên thực
tế đó chỉ là hình thức tổ chức đào tạo theo học chế này chứ không phải thiết kế nội dung theo học chế này Do đó, việc tương thích chương trình khi thực hiện đào tạo liên thông với qui mô rộng, yếu tố này vốn vẫn là lí do cơ bản nhất
- Khi Việt Nam chưa tổ chức phối hợp đồng bộ hoạt động đào tạo liên thông giữa các cơ sở giáo dục với qui mô cả nước, để dần dần thực hiện được yêu cầu này, quản lý đào tạo liên thông cần được quán triệt từ gốc: ngay khi đăng ký mở mã ngành, Bộ GD&ĐT cần yêu cầu các cơ sở giáo dục có tham gia đào tạo nêu rõ lộ trình liên thông cả khi dự tuyển và sau khi tốt nghiệp cho ngành học đang mở này
- Cần có sự phối hợp giữa trung ương và địa phương, giữa các bộ ngành trong việc xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, đảm bảo tất cả các trường cùng ngành, gần ngành nghề đào tạo đều có thể liên thông vì lợi ích chung cho người học và cho sự phát triển trong tương lai của đất nước
=====
Trang 26[1] Khái niệm: Đào tạo liên thông (ĐTLT) là một trong những phương
thức giúp cho người học có cơ hội thực hiện việc học tập liên tục, học tập suốt đời cho nhiều đối tượng, tầng lớp trong xã hội, nhất là những học viên gặp nhiều trở ngại trên con đường học vấn
Đối với các quốc gia có quan tâm đến nguồn nhân lực có chất lượng nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước, lộ trình ĐTLT được thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo dục quốc dân và có sự thống nhất về mọi mặt cho hoạt động này trên toàn lãnh thổ Ở Việt Nam, từ năm 2002 ĐTLT bắt đầu thực hiện thí điểm, ngày càng phát triển và là phương thức đào tạo rất được quan tâm
ở các cơ sở giáo dục đại học và nghề nghiệp trong giai đoạn hiện nay
Vai trò của đào tạo liên thông trong sự phát triển của giáo dục Việt Nam
So với các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam có một nền giáo dục khá non trẻ, suốt một thời gian dài chủ yếu là xây dựng nền tảng cho ngành giáo dục nước nhà, chỉ mới ổn định và phát triển cho đến nay khoảng gần hai thập kỷ Tuy vậy, giáo dục Việt Nam cũng thể hiện được vai trò của mình trong việc thực hiện các chức năng giáo dục trên toàn lãnh thổ Việt Nam: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và giáo dục tư tưởng chính trị
Để giáo dục Việt Nam có thể đáp ứng với sự phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế của nước nhà, đồng thời khẳng định được
sự lớn mạnh về mọi mặt của ngành giáo dục, nhất là nguồn nhân lực ở Việt Nam
đã được đào tạo trong một hệ thống giáo dục ngày càng phát triển: về mạng lưới trường lớp, các loại hình, phương thức đào tạo… một trong những phương thức quan trọng cần thiết đó là ĐTLT
Trong giai đoạn cần có đội ngũ nhân lực đảm bảo chất lượng và số lượng cho toàn xã hội, ĐTLT thể hiện rõ nhất các vai trò sau:
- Tạo điều kiện cho mọi người trong xã hội có cơ hội học tập suốt đời; học tập liên tục nhằm nâng cao trình độ phục vụ tốt nhất cho hoạt động của mỗi cá nhân ở từng vị trí của mình trong các lĩnh vực, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trang 27- Khai thác được tri thức của đội ngũ nhân lực trình độ cao tham gia vào đào tạo nhân lực để bổ sung nhân lực có chất lượng phục vụ phát triển kinh tế xã hội hiệu quả cho từng vùng và cả nước
- Mở rộng các lộ trình đào tạo cho hệ thống giáo dục Việt Nam, đặc biệt là mối liên hệ, hợp tác và sự thống nhất giữa ngành giáo dục và các ngành nghề khác trong đào tạo nhân lực cho nước nhà
- Hoàn thiện chương trình khung thống nhất trên toàn lãnh thổ, tạo niềm tin tuyệt đối cho mọi công dân trong xã hội có ước mơ học tập cho dù gặp phải bất
cứ trở ngại nào trên con đường học vấn
- Khẳng định được sự lớn mạnh và hiệu quả của Hệ thống giáo dục Việt Nam trong đào tạo nhân lực phục vụ cho đất nước trong thời kỳ hội nhập
Với các vai trò đó, ĐTLT cần được sự quan tâm đúng mức của nhiều thành phần trong xã hội: Các nhà hoạch định chính sách, nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu, các cơ sở giáo dục có liên quan đến hoạt động này
Đào tạo liên thông ở Việt Nam hiện nay:
Bộ GD&ĐT đã có Quyết định số 49/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 05 tháng
12 năm 2002 và Quyết định số 06 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 13 tháng 02 năm
2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thay thế Quyết định 49 về ĐTLT, đồng thời đã cho phép hơn sáu mươi trường CĐ, ĐH được thực hiện hoạt động này trên tổng
số các cơ sở giáo dục ĐH toàn quốc, kể cả liên thông ngang giữa các ngành và liên thông dọc từ hệ TCCN lên hệ CĐ, từ hệ CĐ lên hệ ĐH và từ hệ TCCN lên
hệ ĐH Đây là những cơ hội cho các học sinh, sinh viên muốn học lên các hệ tiếp theo và cũng là nhu cầu rất lớn của toàn xã hội cho nhiều người lao động muốn học tập nâng cao trình độ Tuy đã có hơn 6 năm hoạt động, ĐTLT vẫn còn
thể hiện bất cập về nhiều mặt, rõ nét nhất là:
- Quy mô của hoạt động ĐTLT:
Các hoạt động ĐTLT chủ yếu chỉ diễn ra bên trong từng cơ sở giáo dục, chưa có quy mô trên toàn lãnh thổ: các trường ĐH tuyển sinh thêm hệ CĐ, TCCN để có thể tổ chức liên thông lên ĐH của trường mình, các trường CĐ mở thêm hệ TC để liên thông lên bậc CĐ của trường mình, liên thông ngang giữa ngành này và ngành khác cũng chỉ diễn ra trong nội bộ của từng cơ sở giáo
Trang 28dục… Liên thông giữa các trường thực hiện được là nhờ các mối quan hệ riêng
tư, “xin cho” giữa hai trường có ngành nghề tương thích nhưng cũng chỉ thực hiện dễ dàng đối với liên thông từ hệ TCCN lên CĐ, liên thông từ TCCN và CĐ lên ĐH giữa hai trường là hoạt động diễn ra hết sức khó khăn và là nỗi thất vọng của nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý và học sinh sinh viên của các trường TCCN
và CĐ
- Về nội dung, chương trình ĐTLT:
Theo Luật Giáo dục, chương trình khung của bậc học TCCN, CĐ do Bộ GD&ĐT ban hành, trên cơ sở đó, hiệu trưởng các trường thiết kế chương trình chi tiết cho trường mình Khi thực hiện ĐTLT giữa các cơ sở đào tạo, chương trình không tương thích là một trong những lý do từ chối dễ dàng các đối tượng tuyển sinh của các trường khác có cùng ngành nghề đào tạo muốn thực hiện liên thông, đặc biệt là liên thông lên ĐH
- Quan hệ phối hợp giữa các bộ ngành:
Chương trình khung là điều kiện tối thiểu đảm bảo sự thống nhất cấp quốc gia cho các hoạt động đào tạo nhân lực nhưng cho đến nay các bộ ngành khác ngoài Bộ GD&ĐT vẫn chưa có chương trình khung thống nhất cho các ngành:
cơ khí, điện, tin học ứng dụng… do đó khó có thể thực hiện ĐTLT cho các trường có đào tạo những ngành này…
Ngoài những vấn đề cơ bản đã được nêu ra, ĐTLT vẫn còn rất nhiều vấn
đề cần phải tranh luận, vẫn rất cần có những cơ chế, chính sách hợp lý mới có thể giúp cho hoạt động này mang lại hiệu quả
Trang 29ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở NƯỚC TA QUAN ĐIỂM, NHẬN THỨC VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
Phạm Xuân Hậu 1 Trường ĐH Sư phạm Tp Hồ Chí Minh
Nước ta đang trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, hội nhập khu vực và quốc tế Trong điều kiện xuất phát điểm của nền kinh tế còn thấp, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật hạn chế chưa thể đáp ứng cho nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế và xã hội Nhưng, khi bước vào “sân chơi” khu vực và thế giới (gia nhập Tổ chức thuơng mại thế giới-WTO), chúng ta cần phải có những bước đi phù hợp để tạo dựng được vị trí vững chắc trong “sân chơi” đó
Từ nhận thức này, Đảng và Chính phủ đã đưa ra nhiều nghị quyết, chỉ thị
và giải pháp phát triển các lĩnh vực, đặc biệt chú ý đến việc đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, trong những năm qua việc đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng nhu cầu xã hội cả về số lượng và chất lượng Để tháo gỡ những bất cập này, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), các Đại học (ĐH) Quốc gia, các trường ĐH, Cao đẳng (CĐ), Trung học chuyên nghiệp (THCN), Dạy nghề (DN)… đã tìm các giải pháp, thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng, trình độ nguồn nhân lực Hình thức đào tạo liên thông (Công nhân kỹ thuật lên TC, TC lên CĐ, CĐ lên ĐH, liên thông giữa các ngành
ở một số trường khác nhau…) đã giải quyết được một phần nhu cầu của người học khi chưa có điều kiện học ở bậc cao (ĐH), giảm bớt khó khăn trong tuyển dụng nguồn nhân lực trình độ cao cho cơ sở sản xuất kinh doanh và các tổ chức quản lý hành chính, kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới
1 PGS.TS, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục
Trang 301 Quan điểm và nhận thức:
- Đào tạo liên thông (ĐTLT) là loại hình đào tạo trong hệ thống đào tạo quốc gia do Bộ GD&ĐT quản lý, với mục đích đáp ứng nhu cầu xã hội về số lượng và chất lượng phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển đất nước; thỏa mãn nguyện vọng của người lao động ở từng thời kỳ cụ thể
- ĐTLT phải hiểu là bao gồm liên thông dọc và liên thông ngang:
+ Liên thông dọc là liên thông theo chiều dọc từ thấp đến cao (DN lên
TC, TC lên CĐ, CĐ lên ĐH, TC lên ĐH ) đối với những đơn vị có cùng chuyên ngành trong trường hoặc trường khác và có đủ các điều kiện theo qui định của Bộ GD&ĐT
+ Liên thông ngang là liên thông theo chiều ngang giữa các trường khi được công nhận kết quả lẫn nhau về chương trình đào tạo, kết quả đào tạo, giúp người học có thể thay đổi ngành học từ trường này sang học ngành khác ở trường khác (công nhận các tín chỉ môn học, môn tương đương, chuyển đổi…)
- ĐTLT là cơ hội cho các trường thực hiện có hiệu quả theo hình thức đào tạo theo tín chỉ Người học được chủ động sắp xếp thời gian lựa chọn học tập, tích lũy các tín chỉ môn học mà họ thấy phù hợp và có thời gian học tập hợp lý ở các trường khác nhau Đây cũng là cơ hội cho người lao động chưa có điều kiện học ngay ở bậc học cao tiếp tục nâng cao trình độ và chọn những ngành đáp ứng nhu cầu xã hội
- Chưong trình đào tạo phải được xây dựng nghiêm túc, khoa học, hợp lý đảm bảo cho việc liên thông theo chiều dọc và cả theo chiều ngang của từng ngành, khối ngành ở cùng trường và các trường khác trong nước
- Nội dung phải vừa đảm bảo tính kế thừa vừa đảm bảo tính hệ thống
- Khối luợng kiến thức vừa đảm bảo phần cứng vừa mềm hóa cho phù hợp đối tượng học tập
- Tổ chức lớp học, phương tiện dạy học (máy móc thiết bị, tài liệu học tập, thư viện…), phương pháp giảng dạy và thời gian học tập cần tạo cho người học
có thể chủ động trong suốt quá trình học tập
Trang 31- Đa dạng hóa các loại hình đào tạo để đáp ứng nhu cầu xã hội, nhưng phải
đảm báo tính nghiêm túc trong tất cả các khâu: quản lý đào tạo, chất lượng
người dạy, công nhận kết quả đầu vào và đầu ra không tách khỏi qui chế đào tạo
của Bộ GD&ĐT
2 Thực trạng đào tạo liên thông theo hệ thông tín chỉ ở nước
ta:
- Từ năm 2002, trước nhu cầu học tập nâng cao trình độ của lực lượng lao
động trong các ngành kinh tế quốc dân, Bộ GD&ĐT đã thực hiện thí điểm
ĐTLT tại 6 trường THCN, CĐ và ĐH: Trường TC Điện tử - Điện lạnh, Viện
ĐH Mở Hà Nội, ĐH Đà Nẵng, CĐ Công ngthiệp Hà Nội (nay là ĐH Công
nghiệp Hà Nội), ĐH Kỹ thuật Hưng Yên, CĐ Công nghiệp 4 (nay là ĐH Công
nghiệp TP.HCM) Đến nay (năm 2007-2008) cả nước đã có khoảng 36 trường
ĐH, 51 trường CĐ được ĐTLT theo các chuyên ngành phù hợp với chức năng
đào tạo của trường ở các cấp độ: TC lên CĐ; CĐ lên ĐH; TC lên ĐH
Thống kê sơ bộ số ngành, trường ĐTLT có quyết định của Bộ GD&ĐT
Trang 328 ĐH Kinh doanh và Công
13 ĐH Công nghiệp Hà Nội 7 9 5
14 ĐH Sư phạm Kỹ thuật Hưng
Trang 3327 ĐH Quốc gia TP.HCM 2
28 ĐH Khoa học Xã hội &Nhân
văn – ĐH Quốc gia TP.HCM
5 CĐ Văn hóa Nghệ thuật và
Trang 3522 CĐ Tài chính - Hải Quan 3
Trang 3648 CĐ Tài nguyên&Môi trường
Trang 37- Các trường ĐH (công lập) mặc dù có điều kiện thuận lợi về đội ngũ giảng viên trình độ cao, cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ dạy và học khá tốt nhưng triển khai còn chậm
- Khối các trương ĐH (Dân lập, Tư thục) và các trường CĐ đa số còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giảng viên nhưng số trường triển khai nhiều
Phải chăng, những vấn đề trên đặt ra cho các cấp lãnh đạo nghiên cứu, xem xét chỉ đạo triển khai loại hình đào tạo này cho cân đối, phù hợp vừa đáp ứng nhu cầu xã hội về số lượng và chất lượng
+ Nhu cầu thị trường về lực lượng lao động có trình độ rất lớn, nguồn đầu vào cho các loại hình đào tạo này phong phú, đa dạng (hàng năm số học sinh THPT đuợc tuyển vào các trường ĐH khoảng 10% -15%, số còn lại học tại các trường CĐ, THCN, DN)
+ Bộ GD&ĐT có những quyết định kịp thời cho các trường thuộc các khu vực có nhu cầu đào tạo lớn mở các ngành ĐTLT và tạo cơ chế thông thoáng cho các trường ở nhiều khâu của lộ trình tuyển sinh, đào tạo nhằm đáp ứng dần nhu cầu xã hội (cuộc vận động nói không với đào tạo không đúng chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội)
+ Kế hoạch thực hiện đến năm 2010 tất cả các trường phải chuyển đổi sang hình thức đào tạo theo tín chỉ, là nền tảng để quá trình ĐTLT có thể đem lại kết quả cao
+ Các trường đã và đang được đầu tư lớn về cơ sở vật chất như: thư viện điện tử, máy móc kỹ thuật, phương tiện dạy học, đổi mới phương pháp dạy học, đội ngũ giảng viên thường xuyên được bồi dương nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có thể giúp cho quá trình dạy học đạt kết quả cao
- Lợi ích:
+ Các trường ĐH và CĐ đã khai thác được tối đa cơ sở vật chất hiện có của trường; đặc biệt là khai thác có hiệu quả lực lượng lao động trình độ cao
Trang 38không chỉ của trường mình mà ở cả các trường khác trong cả nước; mối quan hệ giữa các trường chặt chẽ, thường xuyên hơn
+ Tăng thêm nguồn thu, góp phần nâng cao đời sống cán bộ viên chức, giảng viên, bổ sung cơ sở vật chất cho trường
+ Đã giải quyết được số lượng đáng kể người lao động có nhu cầu học tập nâng cao trình độ phục vụ nhu cầu xã hội
+ Tạo thị trường rộng lớn cho các trường CĐ, THCN thực hiện nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, nơi giành cho những người lao động chưa có điều kiện học
ở bậc cao từ đầu
+ Dần tạo được sự cân đối hợp lý cơ cấu đào tạo giữa các trình độ ĐH,
CĐ, THCN và DN, giữa các ngành nghề, giữa khoa học cơ bản, khoa học kỹ thuật - công nghệ, theo tinh thần quyết định 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Qui hoạch mạng lưới các trường ĐH và
CĐ giai đoạn 2006-2020
2.2 Những khó khăn :
- Trong hệ thống các trường ĐH và CĐ (khoảng hơn 400 trường) hiện nay thì mới chỉ có khoảng 1/3 số trường tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ Đặc biệt việc xây dựng chương trình còn nặng tính “cục bộ”, chưa có sự thống nhất giữa các chuyên ngành trong các trường về thời lượng, tên môn học, giáo trình chính thống, nên việc công nhận tín chỉ các môn học giữa các trường còn rất khó
khăn
- Chưa có qui chế chuẩn mực và thống nhất trong ĐTLT; một số trường đã linh hoạt tổ chức đào tạo vì lợi ích cá nhân của trường (chỉ tuyển những học viên học ở trường mình dù chất lượng chưa cao trong khi những học viên ở trường khác có chất lượng lại không được tuyển) gây khó khăn cho các trường khác khi tuyển sinh
- Lãnh đạo một số trường chưa có nhận thức và quan điểm đúng về ĐTLT
và đào tạo theo tín chỉ, nên đã có phần coi nhẹ việc tuyển sinh và chất lượng đào tạo, đôi khi còn mềm hóa những qui định của Bộ GD&ĐT để giữ số lượng sinh viên cho trường mình Mặt khác, việc tuyển sinh liên thông hiện nay Bộ giao
Trang 39thi, quyết định điểm tuyển vào, không quản lý chặt chẽ như các kỳ thi khác nên khó có thể đảm bảo chất lượng như mong muốn
- Người học liên thông đa dạng về ngành nghề, môi trường sống và làm việc không giống nhau, trình độ tuyển vào khác nhau (ở THCN, sinh viên gồm
cả người học hết THPT, THCS, BTVH, có thi tuyển và không thi tuyển…), các ngành đào tạo trong các trường có tên gọi khác nhau, các môn học tương tự, nhưng chưa thống nhất về tiêu chuẩn chuyển đổi các môn có gần nội dung
- Các trường ĐH có khoa đào tạo TC, ngoài việc tuyển thẳng những người
có điểm thấp trong kỳ thi ĐH còn tuyển thẳng học sinh tốt nghiệp THPT, tổ chức thi tuyển những người tốt nghiệp THCS vào học chung, không dễ gì có thể tạo được sự cân đối về chất lượng cả khi học và khi ra trường
- Phương tiện giảng dạy và các cơ sở vật chất khác của nhiều trường được phép ĐTLT chưa đảm bảo cho cho quá trình học tập, thực hành, thí nghiệm, nhất là với những trường ở các tỉnh miền núi Bắc bộ, Tây nguyên, đồng bằng sông Cửu Long và cả những trường ở thành phố lớn nhưng còn phải đi thuê cơ
sở vật chất ở nhiều địa điểm khác nhau
- Quá trình thực hiện thí điểm hình thức đào tạo theo tín chỉ và ĐTLT, đến nay các cơ sở đào tạo đang triển khai mở rộng qui mô nhưng chưa có tổng kết rút kinh nghiệm để có những giải pháp tốt đảm bảo cho tiến độ hoàn thiện loại hình đào tạo này
3 Giải pháp phát triển:
3.1 Phía Bộ Giáo dục và Đào tạo:
- Hoàn chỉnh và ban hành qui chế thống nhất về loại hình đào tạo này (tuyển sinh, tổ chức đào tạo, thi - kiểm tra, thi tốt nghiệp, văn bằng chứng chỉ )
- Kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện qui chế, chất lượng đào tạo, cơ
sở vật chất, (thông qua hoạt động kiểm định) và các hoạt động liên quan đến đào tạo và quản lý đào tạo (thời gian tuyển sinh, thi và công nhận tốt nghiệp…)
- Quán triệt đến từng cán bộ quản lý các trường, đội ngũ giảng viên về quan điểm và nhận thức với loại hình đào tạo này, để họ chủ động, tích cực tham gia
có hiệu quả các hoạt động khi được phân công
Trang 40- Thống nhất và ban hành chương trình khung đào tạo cho các trường, các chuyên ngành, trên cơ sở đảm bảo phù hợp với yêu cầu của người học, của trường, của doanh nghiệp (các ngành sản xuất) từ THCN đến CĐ và ĐH
3.2 Đối với các trường và các doanh nghiệp:
- Phối hợp chặt chẽ thường xuyên giữa các doanh nghiệp với các trường THCN, DN, CĐ và ĐH trong các khâu tuyển dụng, tuyển sinh, chương trình đào tạo, tổ chức và đầu tư hỗ trợ đào tạo, khắc phục tình trang đào tạo không đáp ứng nhu cầu xã hội như hiện nay
- Chỉ tuyển những người có tham gia kỳ thi tuyển sinh vào ĐH nhưng không đủ điểm vào ĐH, những học sinh tốt nghiệp THPT học hệ TC lên CĐ Những học sinh tốt nghiệp THCS học THCN không nên tuyển vào, vì bản thân đối tượng này còn khoảng trống khá lớn về văn hóa
- Cho phép tất cả những người tốt nghiệp THCN ( trừ đối tượng tuyển vào
là học sinh THCS) không tính kết quả tốt nghiệp loại nào, không cần phải có thời gian công tác được dự thi tuyển và học ngay (nếu đủ điểm đỗ) Nhưng khi thi tuyển phải đảm bảo đúng yêu cầu về chất lượng thi tuyển sinh của các hệ tuyển sinh khác vào ĐH, CĐ
- Những sinh viên tốt nghiệp THCN loại khá trở lên được chuyển thẳng lên
CĐ cùng ngành; tốt nghiệp CĐ từ loại khá trở lên chuyển thẳng lên đào tạo ĐH cùng ngành, các đối tượng khác đều phải thi theo qui định
- Cho phép các trường chủ động thực hiện đào tạo theo hợp đồng của các doanh nghiệp cho các cán bộ, viên chức, cán bộ kỹ thuật trong nguồn sử dụng lâu dài của doanh nghiệp (tại trường hoặc tại doanh nghiệp, doanh nghiệp đầu tư toàn bộ kinh phí…) không phải tham gia thi tuyển đầu vào, có qui mô phù hợp với qui mô sử dụng lao động của doanh nghiệp trong kế hoạch được duyệt
- Đối với những trường ở khu vực có nhu cầu đào tạo lớn nhưng cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên chuyên ngành chưa đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn thì không cho mở qui mô lớn mà yêu cầu phải từng bước khắc phục các mặt yếu để đảm bảo chất lượng đào tạo