1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU, TUYỂN CHỌNXÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA, LỊCH SỬ TRÊN ĐỊA BÀN ĐƯA VÀO GIẢNG DẠY TRONG CÁC TRƯỜNG HỌC TỈNH ĐỒNG NAI

206 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, thực hiện quy định của Bộ Giáo dục- Đào tạo; sởGiáo dục- Đào tạo Đồng Nai đã soạn thảo một số nội dung kiến thức văn hóa lịch sử của địa phương đưa vào chương trình

Trang 1

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY ĐỒNG NAI

*********

ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU, TUYỂN CHỌN

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA, LỊCH SỬ TRÊN ĐỊA BÀN ĐƯA VÀO GIẢNG DẠY TRONG

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Mục lục……… 2

Chú giải bảng chữ viết tắt……… 3

Danh mục tài liệu tham khảo……… 4

Phần thứ nhất: Những vấn đề chung……… 7

Phần thứ hai: Nội dung nghiên cứu……… 12

Chương 1: Các văn bản chỉ đạo nội dung giáo dục địa phương……… 12

Những qui định của Bộ GDĐT về giáo dục địa phương……… 14

Thực trạng giảng dạy nội dung giáo dục địa phương ở Đồng Nai……… 17

Thuận lợi, khó khăn, kết quả dạy học nội dung giáo dục địa phương… 22

Chương 2: Vùng đất, văn hóa, con người Đồng Nai……… 25

Tổng quan về thiên nhiên, đất nước, con người Đồng Nai ……… 25

Lịch sử địa phương Đồng Nai……… 38

Địa lí địa phương Đồng Nai……… 59

Văn hóa xã hội vùng đất Đồng Nai……… 77

Tín ngưỡng và tôn giáo tỉnh Đồng Nai……… 92

Tập quán, tín ngưỡng……… 92

Tôn giáo……… 101

Văn học nghệ thuật địa phương tỉnh Đồng Nai……… 119

Văn học dân gian……… 120

Văn học viết……… 126

Nghệ thuật……… 139

Đồng Nai trong thời kì hội nhập KTQT……… 140

Định hướng qui hoạch phát triển tỉnh Đồng Nai ……… 155

Chương 3: Các phụ lục………. 171

Những ngày kỷ niệm, những mốc lịch sử trong nước, trong tỉnh……… 171

Danh nhân tiêu biểu đất Đồng Nai……… ……… 179

Di tích cách mạng tiêu biểu ở tỉnh Đồng Nai……… 183

Đồng Nai qua các kì đại hội Đảng ……… 191

Phần thứ ba: Kết luận và kiến nghị……… 198

Trang 3

BẢNG CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT

1 AHLĐ Anh hùng lao động

2 BTV: Ban Thường vụ

3 BMVNAH Bà mẹ Việt Nam anh hùng

4 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

5 CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

23 WTO Tổ chức Thương mại thế giới

24 VCCI Phòng Thương mại công nghiệp VN

25 UBND: Ủy ban nhân dân

26 XHCN: Xã hội chủ nghĩa

27 XHHT: Xã hội học tập

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢ O

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng tòan quốc lần thứ IX NXB Chính trị Quốc gia 2001.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X NXB

Chính trị Quốc gia 2006.

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Trung ương 2 (Khóa VIII) “Phát

triển Giáo dục Đào tạo , Khoa học Công nghệ”.

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Kết luận 14 KL/TW Hội nghị Trung ương 6

(khóa IX) “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (Khóa VIII) vế Phát

triển Giáo dục đào tạo, Khoa học công nghệ”.

5 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam: Luật Giáo dục, 2005.

6 Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 73/2008/QĐ -TTg, ngày 4/6/2008 phê

duyệt “Qui hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh Đồng Nai đến 2020”.

7 Chương trình KX.07: “Con người Việt Nam, mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế xã hội”.

8 Ban Tư tưởng- Văn hóa Trung ương, Chuyên đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau” , Tài liệu nghiên cứu Tư

tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, 2003

9 Tỉnh ủy Đồng Nai: “Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VII”,

NXB Đồng Nai 2001

10.Tỉnh ủy Đồng Nai: “Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII”,

NXB Đồng Nai 2006

11.Tỉnh ủy Đồng Nai: Nghị quyết 12-NQ/TU, Nghị quyết 13-NQ/TU của Ban

Thường vụ tỉnh ủy ngày 7/5/1997 về “Ban hành Chương trình hành động

thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 về GDĐT, KHCN”.

12.Tỉnh ủy Đồng Nai: Chỉ thị số 10-CT/TU ngày 20/2/2002 của Ban Thường

vụ Tỉnh ủy Đồng Nai “về nâng cao chất lượng GDĐT và KHCN”.

13.Tỉnh ủy Đồng Nai: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Nai, tập 1,2,3 NXB Đồng

Nai

14.Tỉnh ủy Đồng Nai, Bác Hồ với Đồng Nai, Đồng Nai với Bác Hồ, tái bản,

NXB Đồng Nai, 2002

15 Hội đồng Nhân dân tỉnh Đồng Nai: Quyết định số 51/QĐ-HĐND ngày

21/7/2005 phê duyệt Đề án “Phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai

Trang 5

19 Lịch sử Đảng bộ các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và lịch sử

Đảng bộ các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh

20 Địa chí Đồng Nai, 5 tập, NXB Đồng Nai, 2001.

21 Xứ người Mạ, lãnh thổ của thần linh của J Boulbed, bản dịch của Đỗ Văn

Anh, NXB Đồng Nai 1999

22 Lyrique Des cau Maa’ (Tam Pot Maa’) của J Boulbed, Dialogue

23 Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm vùng đất Biên Hòa Đồng Nai: Biên Hòa Đồng Nai

300 năm hình thành và phát triển, NXB Đồng Nai, 1998.

24 Bộ Tư lệnh Quân khu VII, Tỉnh ủy Sông Bé, Tỉnh ủy Đồng Nai, Lịch sử chiến khu D, NXB Đồng Nai, 1997.

25 Đồng Nai quê hương em, 2 tập, Trường Trung học sư phạm Đồng Nai,

30 “Phát triển Giáo dục và đào tạo nhân tài ”, Nghiêm Đình Vỳ, Nguyễn Đắc

Hưng: NXB Chính trị Quốc gia, 2002

31.“Giáo dục Việt nam hướng tới tương lai, vấn đề và giải pháp”, Đặng Quốc

Bảo, Nguyễn Đắc Hưng NXB Chính trị Quốc gia, 2004

32.Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc khai sáng miền Nam nước

Việt cuối thế kỷ thứ XVII, Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền, bản in lần thứ 4,

NXB Văn học, Hà Nội, 2002

33.Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức, bản dịch và hiệu đính của

Huỳnh Văn Tới và Lý Việt Dũng, NXB Đồng Nai, 2005

34 Phủ Biên tạp lục, Lê Quý Đôn , nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội,

1977

35 Đại Nam nhất thống chí tỉnh Biên Hòa, Quốc sử quán triều Nguyễn, Sài

Gòn, 1973

36 Biên Hòa sử lược toàn Biên , Quyển I: Trấn Biên cổ kính; Quyển II: Biên

Hùng oai dũng.Luơng Văn Lựu, Tác giả xuất bản 1972, 1973.

37 Kể chuyện đất nước và con người Đồng Nai , Nguyễn Yên Tri, NXB Đồng

Trang 6

40 Các dân tộc ít người ở Việt Nam (phía Nam), Nhiều tác giả, NXB KHXH

Hà Nội, 1984

41.Văn hóa khảo cổ thời đại kim khí vùng ngập mặn Đồng Nai, NXB Đồng

Nai, 2006

42 Cư dân bản địa vùng Đồng Nai , Sở Văn hóa- Thông tin Đồng Nai, Kỷ yếu

hội thảo 300 năm Biên Hòa- Đồng Nai, 1998

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Đồng Nai, một vùng đất giàu tiềm năng với hơn 300 năm lịch sử, những thế

hệ người Đồng Nai đã tạo dựng và để lại dấu ấn khá đặc sắc về văn hóa, nghệthuật, truyền thống lịch sử đấu tranh kiên cường chống ngoại xâm và phát triểnkinh tế Trong những năm qua, thực hiện quy định của Bộ Giáo dục- Đào tạo; sởGiáo dục- Đào tạo Đồng Nai đã soạn thảo một số nội dung kiến thức văn hóa lịch

sử của địa phương đưa vào chương trình giảng dạy ở các cấp học và đã thu đượckết quả bước đầu Thông qua các bài học, các cuộc thi do tỉnh tổ chức, các cuộc dãngoại về nguồn đã góp phần nâng cao kiến thức của học sinh về truyền thống vănhóa, lịch sử của quê hương Đồng Nai hiện nay là tỉnh nằm trong vùng trọng điểmkinh tế phía Nam, việc phát triển kinh tế đã làm thay đổi diện mạo của cả vùng đất.Kinh tế phát triển tạo nên các nguồn lực mới đầu tư cho giáo dục Việc tổ chức dạyhọc ở Đồng Nai những năm qua có bước phát triển, xuất hiện nhiều cách làm mới

Tuy nhiên, nội dung giảng dạy các giá trị truyền thống văn hóa về Đồng Naichưa đầy đủ, chưa có sự thống nhất, thực hiện chưa đều, thiếu kiểm tra, đôn đốcnên hiệu quả chưa cao Qua thực tế cho thấy học sinh hiện nay có biểu hiện họclệch Nhiều học sinh rất giỏi các môn khoa học tự nhiên, song kiến thức khoa học

xã hội lại rất hạn chế Tư tưởng thực dụng đã xuất hiện trong một bộ phận họcsinh: coi trọng các môn khoa học tự nhiên, xem nhẹ các môn khoa học xã hội.Những hiểu biết về địa phương còn hạn chế Mặc dù được sinh ra và lớn lên tạiĐồng Nai nhưng một bộ phận học sinh ít hiểu biết về quê hương, đất nước, conngười Đồng Nai Thực trạng này khiến cho chất lượng giáo dục toàn diện bị hạnchế, nhất là chất lượng giáo dục đạo đức Không chỉ học sinh mà ngay trong độingũ cán bộ công chức những hiểu biết về vấn đề trên cũng còn hạn chế, ảnh hưởngkhông nhỏ đến chất lượng và hiệu quả trong công tác

Mục tiêu giáo dục theo quan điểm của Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh làgiáo dục toàn diện cho người học để đào tạo lớp người có đạo đức, tri thức, sức

khỏe, thẩm mỹ, “Vừa hồng, vừa chuyên” Nghị quyết Trung ương V khóa VIII và

các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và X tiếp tục khẳng định: Văn hóa là nềntảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát tri ểnkinh tế, xã hội Vì vậy trong những năm qua, vấn đề giáo dục toàn diện luôn đượcTỉnh ủy quan tâm; tuy nhiên vì nhiều lý do khách quan, mục tiêu giáo dục toàndiện chưa đạt kết quả như mong muốn Đặc biệt là các nội dung giáo dục vềtruyền thống văn hóa, lịch sử của địa phương chưa được quan tâm đúng mức

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng,

tôn tạo các công trình văn hóa, đi đôi với phát huy tốt hiệu quả giáo dục truyền thống Coi trọng việc nghiên cứu, bảo tồn và ph át huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của vùng đất và con người Đồng Nai” Nghị quyết Đại hội Đảng bộ

tỉnh lần thứ VIII tiếp tục khẳng định: “Coi trọng việc nghiên cứu, bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất và con người Đồng Nai, văn hóa các

Trang 8

dân tộc thiểu số, đặc biệt là những truyền thống lịch sử cách mạng, văn hóa các dân tộc bản địa”.

Để thực hiện mục tiêu giáo dục, một nội dung cần triển khai là giáo dục cácgiá trị truyền thống văn hóa của địa phương Khi có hiểu bi ết sâu sắc về truyềnthống văn hóa, lịch sử của cha ông, của vùng đất sẽ tạo nên nơi mỗi người lòng tựhào và nâng cao tình yêu quê hương, đất nước, góp phần hoàn thiện nhân cách conngười Việt Nam Nhằm thực hiện mục tiêu trên, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì

đăng ký triển khai nghiên cứu đề tài: “Xây dựng, tuyển chọn các giá trị truyền

thống văn hóa, lịch sử địa phương đưa vào giảng dạy trong hệ thống các trường học tỉnh Đồng Nai”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu, tuyển chọn, xây dựng hệ thống các giá trị văn hóa- lịch sử củavùng đất con người Đồng Nai sắp xếp một cách có hệ thống phù hợp với việc đưavào giảng dạy trong hệ thống giáo dục và đào tạo bồi dưỡng cán bộ của tỉnh nhằm:

- Làm cho người học hiểu biết hơn về đất nước, con người Đồng Nai, nângcao lòng tự hào và bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước góp phần giáo dục đạođức, hoàn thiện nhân cách học sinh

- Tạo phong trào nghiên cứu, học tập, nhằm tôn vinh các giá trị văn hóatruyền thống của địa phương; khuyến khích việc tìm hiểu, học tập, góp phần giữgìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

- Phát huy ý thức bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống của quê hương,qua đó giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam theo quan điểm, đường lối

của Đảng và Nhà nước ta đó là “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”.

- Tài liệu tham khảo cho các cán bộ nghiên cứu và những n gười muốn tìm

hiểu về Đồng Nai

3 Nội dung nghiên cứu

- Các văn bản chỉ đạo và tình hình giảng dạy nội dung kiến thức văn hóa,lịch sử trong các trường phổ thông tỉnh Đồng Nai

- Tổng quan về vùng đất, con người Đồng nai

- Địa lí địa phương tỉnh Đồng Nai

- Lịch sử địa phương tỉnh Đồng Nai

- Văn hóa, xã hội vùng đất Đồng Nai

- Văn học nghệ thuật địa phương Đồng Nai

- Tín ngưỡng, tôn giáo ở tỉnh Đồng Nai

- Đồng Nai trong thời kì hội nhập

- Định hướng qui hoạch xây dựng tỉnh Đồng Nai hướng đến mục tiêu

“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

- Văn bản giáo khoa, hướng dẫn giảng dạy, thực hành các tiết dạy ở các cấphọc về nội dung kiến thức giáo dục địa phương Ghi hình các tiết dạy mẫu theophương pháp dạy học tích cực

4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước :

Trang 9

Đồng Nai là vùng đất có nét văn hóa riêng, đặc sắc, là nơi sinh sống củanhiều cộng đồng dân tộc khá lâu đời, vì vậy đã có nhiều công trình trong và ngoàinước nghiên cứu về đất nước và con người Đồng Nai Mỗi công trình có cách tiếpcận và nghiên cứu khác nhau; có công trình đi sâu vào lĩnh vực cụ thể; có nhữngcông trình mang tính khái quát cao Có một số công trình nghiên cứu đi vào mô tả

toàn diện về vùng đất và con người Đồng Nai của các tác giả nước ngoài như: Xứ

người Mạ, lãnh thổ của thần linh của J Boulbed, Lyrique Des cau Maa’ (Tam Pot

Maa’) của J Boulbed, Dialogue

Về các tác giả trong nước có một số tác phẩm tiêu biểu: Gia Định thành

thông chí của Trịnh Hoài Đức; Biên Hòa sử lược toàn biên của Lương Văn Lựu , Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Biên Hòa sử lược toàn biên của lương Văn

Lựu Sau năm 1975 có một số tác phẩm, công trình như: Địa chí Đồng Nai, 5 tập, NXB Đồng Nai, Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc khai sáng miền

Nam nước Việt cuối thế kỷ thứ XVII của Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền, Biên Hòa Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, NXB Đồng Nai, 1998, Lịch sử Đảng

bộ tỉnh Đồng Nai, NXB Đồng Nai, Những ngày kỷ niệm lịch sử, NXB Đồng Nai,

để có thể phổ biến dễ dàng, sâu rộng cho mọi người đặc biệt là đối tượng học sinh,sinh viên về những giá trị truyền thống văn hóa, lịch sử của vùng đất Đồng Nai

5 Sản phẩm của đề tài:

- Báo cáo tổng kết khoa học đề tài nghiên cứu

- Tài liệu văn bản giáo khoa nội dung giáo dục địa phương tỉnh Đồng Nai

- Tài liệu hướng dẫn giảng dạy nội dung giáo dục địa phương

- Đĩa DVD ghi hình 15 tiết dạy minh họa (Đã được Hội đồng chuyên mônngành GDĐT Đồng Nai đánh giá và nghiệm thu)

6 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp chung: Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác- Lê nin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt quan điểm của Đảng về văn hóa, giáo dục, nhất

là theo quan điểm của Nghị quyết TW 2 (khóa VIII) về giáo dục, đào tạo; nghịquyết TW 5 (khóa VIII) “Về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bảnsắc dân tộc”; về mục tiêu quan điểm giáo dục con người mới của Đảng Việcnghiên cứu đề tài sử dụng phương pháp lịch sử và logic

Phương pháp cụ thể: Phân tích, tổng hợp, so sánh, Thống kê, Chuyên

gia Thực hành

7 Khả năng và địa chỉ áp dụng.

Hệ thống các trường học trên địa bàn tỉnh Đ ồng Nai Sở GDĐT, Trường Đạihọc Đồng Nai cam kết tiếp nhận sản phẩm nghiên cứu sau khi được nghiệm thu

Trang 10

Các trường và cơ sở đào tạo nghề thuộc sở LĐTBXH, trường Chính trị tỉnh, cácTrung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện.

8 Những người tham gia thực hiện

01 Huỳnh Văn Tới

Tiến sĩ

Trưởng ban Tuyêngiáo TU Đồng Nai Cán bộ nghiên cứuChủ nhiệm đề tài

02 Phan Sĩ Anh

Thạc sĩ Phó ban Tuyên giáoTU Đồng Nai P.Chủ nhiệm đề tàiCán bộ nghiên cứu

03 Lê Huy Nhuận

Cử nhân Trưởng phòng, BanTuyên giáo TU Cán bộ nghiên cứu

04 Vũ Trung Kiên

Cử nhân Ban Tuyên giáo TUPhó Văn phòng, Cán bộ nghiên cứuThư kí đề tài

03 Nguyễn Yên Tri

Cán bộ nghiên cứu

05 Phan Đình Dũng

Thạc sĩ

Trưởng phòng,trường VHNT ĐN Cán bộ nghiên cứu

06 Dương Thị Kim Liên

Cử nhân GD TrH, Sở GD&ĐTChuyên viên Phòng Cán bộ nghiên cứu

Cán bộ nghiên cứu

9 Lại Thị Nguyên Phương

Cử nhân

Giáo viên THPTVăn Hiến, Đồng Nai

Cán bộ nghiên cứuGiáo viên thực hành

11 Nguyễn Thị Huệ

Cử nhân

Chuyên viên, PhòngGDTrH, Sở GD&ĐT Cán bộ nghiên cứu

12 Bùi Văn Phượng

Cử nhân

Chuyên viên PhòngGDĐT Biên Hòa Cán bộ nghiên cứu

13 Nguyễn Minh Kiếm

Cử nhân Phó.phòng GD Tiểuhọc Sở GDĐT Cán bộ nghiên cứu

14 Lê Minh Thông

Cử nhân GD Tiểu học, sở GDChuyên viên Phòng Cán bộ nghiên cứu

Trang 11

15 Nguyễn Thị Kim Lan

Cử nhân G/v Trường TH HòaBình, Long Khánh Giáo viên thực hành

18 Nguyễn Thị Hồng

Cử nhân

G/V THCS NguyễnBỉnh Khiêm- BH Giáo viên thực hành

19 Ngô Thị Mỹ Hạnh

Cử nhân

GV THCS NguyễnBỉnh Khiêm- BH Giáo viên thực hành

Cử nhân GV Trường TH KimĐồng- Long Khánh Giáo viên thực hành

23 Trương Thanh Tuấn

Cử nhân

GV Trường Tiểu họcLong Khánh 1 Giáo viên thực hành

24 Lê Minh Sử

Cử nhân

GV Trường TH KimĐồng- Long Khánh Giáo viên thực hành

25 Nguyễn Trang Mỹ Dung

Cử nhân

Trường THCS NgôQuyền, Cẩm Mỹ Giáo viên thực hành

26 Văn Bá Quý

Cử nhân

GV THCS NgôQuyền, Cẩm Mỹ Giáo viên thực hành

27 Nguyễn Thị Tuyết Trinh

Cử nhân Hoàng Diệu,Biên HòaGV THCS Giáo viên thực hành

28 Nguyễn Thị Trung

Cử nhân GV THCS Lê Lợi,Biên Hòa Giáo viên thực hành

29 Đoàn Châu Hưng

Cử nhân

GV THCS NguyễnBỉnh Khiêm, BH Giáo viên thực hành

30 Văn Thị Phương Thảo Ban Tuyên giáo TU Kế toán

31 Lê Bá Thành Ban Tuyên giáo TU Thủ quĩ

32 Vũ Thị Hồng Thịnh Ban Tuyên giáo TU Văn thư, đánh máy

Trang 12

9 Cơ quan phối hợp nghiên cứu

- Sở Giáo dục - Đào tạo Đồng Nai

- Phòng giáo dục- Đào tạo thành phố Biên Hòa

- Phòng giáo dục- Đào tạo thị xã Long Khánh

- Phòng giáo dục- Đào tạo huyện Cẩm Mỹ

- Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh

- Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, Biên Hòa

- Trường THCS Hoàng Diệu, Biên Hòa

- Trường THCS Lê Lợi, Biên Hòa

- Trường THPT Văn Hiến, thị xã Long Khánh

- Trường Tiểu học Long Khánh, thị xã Long Khánh

10 Thời gian, kinh phí:

Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 8/2008 đến hết tháng 11/2010 theo Hợp

đồng số 1077/HĐ-KHCN ngày 22/8/2008 của sổ Khoa học Công nghệ và BanTuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai và văn bản số 546/ SKHCN-QLK ngày 13/4/2010

của sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai “Đồng ý thời gian tổng kết đề tài vào tháng

11/2010”

Kinh phí thực hiện: 462.600.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi hai triệu, sáu

trăm ngàn đồng), nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ

Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

thông qua năm 2005 xác định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam

phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" "Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục

xã hội".

Mục tiêu giáo dục theo quan điểm của Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh làgiáo dục toàn diện cho người học để đào tạo lớp người có đạo đức, tri thức, sức

Trang 13

khỏe, thẩm mỹ,“vừa hồng, vừa chuyên” Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) và

các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và X tiếp tục khẳng định: “Văn hóa là nền

tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội”.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ VII chỉ rõ: “Tiếp tục xây

dựng, tôn tạo các công trình văn hóa, đi đôi với phát huy tốt hiệu quả giáo dục truyền thống Coi trọng việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của vùng đất và con người Đồng Nai” Nghị quyết Đại hội

Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII tiếp tục khẳng định:“Coi trọng việc nghiên cứu, bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất và con người Đồng Nai, văn hóa các dân tộc thiểu số, đặc biệt là những truyền thống lịch sử cách mạng, văn hóa các dân tộc bản địa”.

Để thực hiện mục tiêu giáo dục, một nội dung cần triển khai là giáo dục cácgiá trị truyền thống, văn hóa, lịch sử của địa phương Khi có hiểu biết sâu sắc vềtruyền thống văn hóa, lịch sử của cha ông, của vùng đất đang sinh sống sẽ tạo nên

ở mỗi người lòng tự hào và nâng cao tình yêu quê hương, đất nước, góp phần hoànthiện nhân cách con người Việt Nam Cách đây hơn 20 năm, Bộ Giáo dục (nay là

Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã có chủ trương đưa các nội dung giáo dục địa phươngnhư Lịch sử, Địa lý, Ngữ văn vào giảng dạy trong các nhà trường phổ thông cáccấp Việc đưa nội dung kiến thức giáo dục địa phương vào giảng dạy nhằm giúphọc sinh hiểu về địa phương và hiểu sâu hơn về kiến thức chung

Phân phối chương trình môn học, Bộ GD - ĐT quy định dành một số tiết đểgiảng dạy nội dung giáo dục địa phương, nội dung này phải có giáo án ở dạng giáotrình hoặc tài liệu biên soạn của giáo viên, việc học của học sinh phải được tổ chứcnghiêm túc và có đánh giá

Tuy nhiên, việc tổ chức dạy học các kiến thức giáo dục địa phương nhìnchung thực hiện chưa tốt: Nội dung dạy học chưa được biên soạn một cách hệthống, nhất quán, các điều kiện để thực hiện tiết dạy còn gặp khó khăn, giáo viênchưa được tập huấn, bồi dưỡng, chưa thực hiện việc kiểm tra đánh giá

Để tổ chức tốt hơn việc dạy học kiến thức giáo dục địa phương, ngày05/5/2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐTqui định về nội dung, hình thức tổ chức giảng dạy, thời lượng cho từng phân môn ởcác khối lớp về kiến thức giáo dục địa phương Để thực hiện quyết định này, ngày07/7/2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công văn hướng dẫn số

5977/BGDĐT-GDTrH “Hướng dẫn thực hiện nội dung giáo dục địa phương ở cấp

THCS và cấp THPT từ năm học 2008 -2009”.

Về nội dung kiến thức giáo dục địa phương các sở GD-ĐT chủ động trìnhUBND các tỉnh, thành phố kế hoạch thực hiện giáo dục địa phương, chủ trì bi ênsoạn, thẩm định và ban hành tài liệu giảng dạy giáo dục địa phương Căn cứ vào tàiliệu, giáo viên có thể dạy lồng ghép vào các môn học (lịch sử, địa lý, giáo dục côngdân, ngữ văn) hoặc tổ chức tham quan ngoại khóa, sưu tầm tài liệu, tổ chức thảoluận nhằm tạo hứng thú cho học sinh Khi triển khai thực hiện nội dung giáo dụcđịa phương, các sở GD-ĐT phải báo cáo Bộ GD-ĐT để chuẩn y trước khi thựchiện Bộ GD-ĐT có thể hỗ trợ về mặt chuyên môn nếu các địa phương gặp khó

Trang 14

khăn Ngoài ra, các sở GD-ĐT có thể chỉ đạo các trường tổ chức các buổi nóichuyện chuyên đề, mời các chuyên gia, các nhà sử học, nhà văn hóa nói chuyện vềcác đề tài khác nhau, những vấn đề thiết thực khác của từng địa phương vào cáctiết học ở bậc THCS và THPT.

Nội dung chỉ đạo cụ thể:

+ Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ GD-ĐT ban hành đã quy định

một số nội dung giáo dục địa phương ở một số môn học Để thực hiện nội dung đó,các sở GD-ĐT phải chuẩn bị tài liệu, hướng dẫn tổ chức dạy học, kiểm tra, đánhgiá, sử dụng kết quả đánh giá để xếp loại học sinh cuối học kỳ và cuối năm học

- Nội dung giáo dục địa phương phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học,gắn lý luận với thực tiễn Khi giảng dạy, ngoài việc liên hệ với thực tiễn hoạt độngkinh tế - xã hội, văn hoá, lịch sử địa phương trong các bài dạy còn phải thực hiệnnội dung giáo dục địa phương ở các phần sau đây:

a) Giảng dạy các tiết học (bài, môđun, chủ đề ) đã quy định dành cho giáodục địa phương;

b) Đưa nội dung giáo dục địa phương thành một phần của tiết học (bài,môđun, chủ đề ) được Bộ GD-ĐT hướng dẫn dành cho giáo dục địa phương

+ Về tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương

- Chuẩn bị tài liệu dạy học: Sở GD-ĐT trình UBND tỉnh, thành phố kế

hoạch thực hiện nội dung giáo dục địa phương; chủ trì phối hợp với các cơ quan,ban, ngành liên quan tổ chức biên soạn, thẩm định để ban hành tài liệu Cần tậphợp các chuyên gia, cán bộ khoa học công nghệ, các nhà hoạt động văn hoá, nghệ

sỹ và nghệ nhân tiêu biểu am hiểu về địa phương tham gia biên soạn, thẩm định tàiliệu giáo dục địa phương thuộc các môn học

- Về tổ chức dạy học: Hướng dẫn giáo viên căn cứ tài liệu đã được phê duyệt

để soạn giáo án và tiến hành giảng dạy

- Về phương pháp giảng dạy: Kết hợp dạy học trên lớp với tổ chức tham

quan thực tế, sưu tầm tư liệu, ngoại khoá nhằm tạo hứng thú học tập, nâng cao hiểubiết về văn hoá, lịch sử, kinh tế - xã hội địa phương cho học sinh

- Về kiểm tra, đánh giá: Thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá như các phần

khác trong chương trình bộ môn và sử dụng kết quả để đánh giá, xếp loại học sinhtừng học kì và cuối năm học Hằng năm, các Sở GDĐT tổ chức rút kinh nghiệm

về thực hiện nội dung giáo dục địa phương, tổ chức biên soạn bổ sung, cập nhậttài liệu và báo cáo về tình hình thực hiện nội dung giáo dục địa phương với BộGDĐT để theo dõi, chỉ đạo Nếu chưa chuẩn bị được các điều kiện để thực hiện nộidung giáo dục địa phương, thời lượng dành cho phần này được dùng để ôn tập,củng cố môn học đó

1.2 Qui định của Bộ Giáo dục- Đào tạo về giảng dạy kiến thức giáo dục địa phương cho các bậc học:

1.2.1 Bậc Tiểu học: Tổng cộng có 28 tiết.

- Môn Đạo đức: 14 tiết

Lớp Số tiết Thời gian (tiết/ tuần) Ghi chú

Trang 15

- Môn Nghệ thuật (7 tiết):

- Môn Tự nhiên và xã hội (2 tiết): Lớp 3, 2 tiết vào tuần 14, và 1 bài thực

hành thăm thiên nhiên vào tuần 29

- Môn Lịch sử và Địa lý(4 tiết): Lớp 5, 4 tiết vào tuần 31, 32, mỗi môn 2 tiết

- Môn Tiếng Việt (1 tiết): Lớp 3, tuần 16 (Tiết luyện tập)

1.2.2 Bậc THCS và THPT:

+ Các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân.

- Đối với các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý: Thời lượng được quy định tại

Chương trình môn học;

Thời lượng dạy học nội dung giáo dục địa phương:

- Đối với môn Giáo dục công dân: Có bài thực hành, ngoại khoá với nội

dung phù hợp với thực tiễn địa phương: cấp THCS mỗi lớp có 3 tiết/năm học vàcấp THPT mỗi lớp có 2 tiết/năm học

Ngoài tài liệu giáo dục địa phương, cần tham khảo các tài liệu sau:

- Môn Ngữ văn: Cần tham khảo các tài liệu về văn hoá, ngôn ngữ, tác phẩmvăn học sáng tác về đề tài địa phương hoặc tác giả người địa phương;

- Môn Lịch sử: Cần tham khảo tài liệu Lịch sử Đảng bộ địa phương;

- Môn Địa lí: Cần tham khảo tài liệu địa chí địa phương (nếu có);

- Môn Giáo dục công dân: Cần tham khảo các tài liệu thuộc chủ đề giáo dục

ý thức công dân của địa phương

+ Các môn Mĩ thuật, Âm nhạc, Thể dục, Công nghệ

Trang 16

định cho giáo viên chọn, cần lựa chọn những chủ đề gần gũi cuộc sống, mô tả cácdanh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá của địa phương.

Ngoài những bài nói trên, giáo viên cần giới thiệu các di tích lịch sử, vănhoá, tác phẩm mĩ thuật địa phương (đình chùa, tranh tượng, sứ mỹ nghệ ) phù hợpvới chủ đề bài học và vừa sức tiếp thu của học sinh

- Môn Âm nhạc (THCS)

Trong chương trình sách giáo khoa đã quy định một số tiết giới thiệu về âmnhạc địa phương Sở GDĐT hướng dẫn các trường dựa vào chủ đề bài học để thựchiện nội dung giáo dục địa phương Cần chọn lọc, giới thiệu vốn âm nhạc truyềnthống, một số làn điệu dân ca đặc trưng của địa phương (dân ca quan họ, hát chèo,

ví dặm, cải lương, bài chòi, dân ca dân tộc thiểu số ), giới thiệu một số nhạc cụdân tộc và hướng dẫn học sinh sưu tầm vốn âm nhạc dân gian địa phương

- Môn Thể dục (THCS, THPT)

Chương trình và sách giáo viên môn Thể dục của mỗi lớp đều quy định có 1

chương (Chương: Môn thể thao tự chọn) do địa phương tự chọn nội dung dạy học.

Ngoài các môn đã biên soạn tài liệu trong sách giáo viên, Sở GDĐT có thể biênsoạn tài liệu về các môn thể thao phổ biến, có thế mạnh ở địa phương và hướng

dẫn thực hiện chương này (có thể lồng ghép giới thiệu về các môn thể thao truyền

thống ở địa phương như: võ, vật, đua thuyền, chơi đu, ném còn nhưng phải vừa sức tiếp thu và không yêu cầu học sinh thực hành nếu không phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi và khó bảo đảm an toàn).

Đối với vùng đô thị, có thể chuẩn bị tài liệu để dạy học về nuôi trồng, chămsóc cây cảnh, vật cảnh, thuỷ canh rau sạch, các giải pháp sinh học bảo vệ môitrường thay thế một số bài của các phần Trồng trọt, Chăn nuôi, một số bài hoặctoàn bộ phần Lâm nghiệp, Thủy sản; thời lượng còn lại dùng để ôn tập, củng cốmôn Công nghệ (không dùng cho môn khác)

- Lớp 8: Thực hiện như quy định của Chương trình

- Lớp 9: Chọn 1 trong 18 môđun của Chương trình (35 tiết/môđun)

Bộ GDĐT đó biên soạn tài liệu 5 môđun Có thể lựa chọn 1 trong 5 môđunhoặc biên soạn tài liệu các môđun khác phù hợp với thực tế của địa phương (ví dụ:trồng, chăm sóc bảo vệ các loại hoa, cây cảnh trang trí, cải tạo môi trường sống;nuôi cá tra, cá ba sa; nuôi ong lấy mật; nụi cỏ hồi vựng lạnh )

*Bậc THPT:

- Lớp 10:

Trang 17

+ Phần 1: Nông, Lâm, Ngư nghiệp.

Tùy theo điều kiện của địa phương, có thể chọn các lĩnh vực để dạy học chophù hợp Cú thể lựa chọn 1 trong 2 chương: Chương 1 hoặc chương 2 Ở chương 3,bài 40 dạy bắt buộc, còn các bài từ 41 đến 48 có thể chọn lĩnh vực phù hợp vớichương 1 hoặc chương 2 trước đó; hoặc thay thế bằng tài liệu tự biên soạn phù hợpvới điều kiện giống cây trồng, vật nuôi của địa phương

+ Phần 2: Tạo lập doanh nghiệp.

Sở GDĐT tham khảo sách giáo viên giáo dục hướng nghiệp để hướng dẫn việc

tích hợp giới thiệu nhu cầu thị trường lao động của địa phương (do giáo viên mônCông nghệ giảng dạy)

Đối với vùng ven sông, ven biển, có thể chọn dạy các bài 33, 35, 37 (động

cơ đốt trong dùng cho ôtô, tàu thuỷ, máy phát điện)

- Lớp 12: Thực hiện theo Chương trình

1.3 Thực trạng giảng dạy nội dung giáo dục địa phương ở các trường học của tỉnh Đồng Nai.

1.3.1 Bậc học Tiểu học :

Qua công tác nắm tình hình tổ chức giáo dục địa phương ở các trường Tiểuhọc trong những lần thanh tra, kiểm tra chuyên môn thường kì; kết hợp phân tích,tổng hợp kết quả khảo sát ý kiến của 377 cán bộ, giáo viên tiểu học thuộc 75 trườngđại diện các khu vực trên địa bàn tỉnh trong tháng 5/2009, kết quả cụ thể như sau:

Nhận thức về nội dung giáo dục địa phương: 92,8 % cán bộ quản lí và giáo

viên Tiểu học cho là rất cần thiết phải giảng dạy cho học sinh kiến thức truyềnthống văn hóa, lịch sử địa phương

Tự đánh giá về mức độ tự tin về sự hiểu biết của bản thân về kiến thức

truyền thống văn hóa, lịch sử địa phương thì chỉ có 39,7% cán bộ quản lí và giáoviên Tiểu học cho là đủ và khá đủ; 53,3% cho là tạm ổn; 6,4% không ổn lắm và0,9% tự cho là rất không ổn Đồng thời, tự đánh giá về chất lượng dạy và học, cán

bộ quản lí và giáo viên Tiểu học đã phản ánh như sau : Rất tốt 0,5% ; Tốt 9,8% ;Khá tốt 28,4% ; chấp nhận được 36,6%, còn nhiều bất cập 21,8% ; thấp 1,6% và rấtthấp 0,2%

Về mức độ tiếp cận với các nguồn cung cấp kiến thức và số lượng đầu sách,

tài liệu liên quan được cán bộ quản lí và giáo viên Tiểu học:

Những nguồn thông tin tiếp cận để thu thập: Truyền hình, radio: 65,8%; thưviện: 23,6%; báo chí: 18,6%; internet: 14,3%; truyền thống và sinh hoạt gia đình:10.9%; lễ hội địa phương: 6,4% và sinh hoạt đình làng: 3,4%

- Mức độ thường xuyên: Thường xuyên: 36,9%; khá thường xuyên: 50.9%;

ít khi: 11,9% và rất ít: 1,3%

Trang 18

- 38 đầu sách, tài liệu được kê khai có sử dụng; trong đó phổ biến nhất là:Biên Hòa 300 năm hình thành và phát triển (42,7%); Truyện kể về Đồng Nai đất nước, con người (31,3%).

- Tỉ lệ cán bộ quản lí và giáo viên Tiểu học không nêu (hoặc chỉ nêu đượcmột) được tài liệu nào đã sử dụng cũng khá cao: 35,3%

Về các môn học được thường xuyên lồng ghép/tích hợp giảng dạy:

- Lịch sử là môn học có tỉ lệ cao nhất: 84,4%; Địa lí 43,8%; Tiếng Việt40,9%; Đạo đức 24,4%, Âm nhạc 1,9% ; Kĩ thuật 1,1% và cuối cùng là Mĩ thuật0,8%

- Trong các môn học này, cán bộ quản lí và giáo viên Tiểu học cho là thuậnlợi nhất khi lồng ghép vào môn: Lịch sử (68,4%), Tiếng Việt (19,1%), Địa lí(11,9%) Đạo đức (13,3%); Âm nhạc (0,8%); Mĩ thuật (0,2%) và Kĩ thuật (0 %).Những nguyên nhân cơ bản tạo sự thuận lợi được ghi nhận như sau: Có tài liệuhướng dẫn cụ thể: 57,0%); GV nắm vững yêu cầu và phương pháp: 54,6%; Có nộidung thiết thực/hấp dẫn: 47,2% ; và Có thời gian phù hợp: 22,5 %

- Môn học mà cán bộ quản lí và giáo viên Tiểu học cho là khó khăn nhất khilồng ghép/tích hợp với giảng dạy: Kĩ thuật (Thủ công): 65,8%; Âm nhạc: 17,0%;

Mĩ thuật 7,7%; Tiếng Việt: 6,6%; Địa lí 1,9% và Đạo đức 1,3% Những nguyênnhân cơ bản gây sự khó khăn là: Không có tài liệu hướng dẫn cụ thể: 83,3%; Nộidung không thiết thực: 39,3%; Không có thời gian phù hợp: 29,2%; và GV chưa nắm vững yêu cầu và phương pháp: 26,3%

Về thời điểm giảng dạy:

Thông thường, việc giảng dạy được thực hiện vào những thời điểm như sau:Lồng ghép trong các tiết có nội dung phù hợp trong chương trình chính khóa :60,2% ; Trong tiết riêng, xếp vào cuối học kì 2 : 26,0% ; Trong tiết riêng, xếp xen

kẽ giữa các tiết có cùng mạch kiến thức : 11,4% ; và Trong tiết riêng, xếp vào cuốihọc kì 1 : 6,4%

Cán bộ quản lí và giáo viên Tiểu học cho rằng thời điểm thích hợp nhất đểgiảng dạy là: Lồng ghép trong các tiết có nội dung phù hợp trong chương trìnhchính khóa: 63,1% ; Trong tiết riêng, xếp xen kẽ giữa các tiết có cùng mạch kiếnthức: 17,8%; Trong tiết riêng, xếp vào cuối học kì 2: 15,4% ; Trong tiết riêng, xếpvào cuối học kì 1: 5,0% ; và Ý kiến khác: Kết hợp việc lồng ghép với bố trí tiếtriêng, phù hợp với những sự kiện, ngày lễ lớn ở địa phương :2,1%

Cán bộ quản lí và giáo viên Tiểu học cho rằng hình thức tổ chức dạy học

có hiệu quả nhất là: Tổ chức hoạt động giáo dục/hoạt động ngoại khóa/hoạt độngdạy học ngoài khuôn viên nhà trường: 60,2%.; Tổ chức hoạt động dạy học trong

Trang 19

phòng học: 15,6% ; Tổ chức hoạt động giáo dục, hoạt động ngoại khóa, hoạt độngdạy học trong khuôn viên nhà trường: 14,6%; Giảng giải trong phòng học: 3,7% ;

và Ý kiến khác: Kết hợp linh hoạt, đa dạng nhiều hình thức khác nhau tùy nội dung

và phù hợp với điều kiện của nhà trường: 6,7%

1.3.2 Bậc THCS, THPT :

Môn Ngữ văn :

Từ năm 1996 đến năm 2002: Trước đây, quan niệm dạy học môn

Ngữ văn ở cấp THCS chủ yếu là giảng văn, cho nên người soạn sách xem nhẹ phầndạy tiếng và làm văn Tương ứng với chương trình sách giáo khoa của Bộ GD-ĐT,các tác giả biên soạn tài liệu giảng dạy văn học địa phương năm 1996 chủ yếu soạnphần văn bản văn học, không có bài riêng biệt rèn luyện phần tiếng và phần làmvăn Chủ đề biên soạn trong sách giáo khoa của Bộ GD-ĐT và tài liệu giảng dạyvăn học địa phương thường rơi vào mảng chủ đề quen thuộc như ca ngợiquê hương đất nước, con người, truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm

Từ năm 2003 đến 2008: Từ khi Bộ GD-ĐT thực hiện đổi mới chương trình,

nội dung sách giao khoa, chương trình văn học địa phương đưa vào giảng

dạy đã được dành một thời thời lượng tương đối hợp lý (5 đến 6 tiết/lớp) Quan

niệm dạy môn Ngữ văn ở cấp THCS hiện nay có chú trọng hơn đến phần dạyTiếng Việt, Tập Làm Văn; người soạn sách giáo khoa đưa vào chương trình mới hệthống bài dạy bao gồm cả 03 phân môn Tiếng Việt địa phương, Tập Làm văn vớicái nhìn tích hợp Phần văn bản được chọn lựa đưa vào nhà trường có chủ đềphong phú hơn trước phù hợp với nhịp sống thời đại, có nhiều văn bản mang tínhnhân văn, tính nhật dụng liên quan đến nhiều vấn đề trong cuộc sống

Phần văn học địa phương trong sách giáo khoa mới có đề tài, nội dung,thể loại phong phú hơn, mở rộng ra nhiều hơn Ngoài những nội dung đã có từtrước như sưu tầm tục ngữ, ca dao địa phương, văn thơ địa phương, ta còn thấy cóyêu cầu sưu tầm các văn bản nghị luận, văn bản nhật dụng viết về tình hình địaphương … Về mặt rèn kỹ năng học sinh còn có thêm phần viết bài thuyết minh,nghị luận về tình hình địa phương; sửa lỗi dùng từ địa phương, xưng hô hội thoạiđịa phương …, cụ thể:

Tình hình thực hiện chương trình giảng dạy Ngữ văn địa phương (theo sáchgiáo khoa do Bộ GD-ĐT ban hành):

Ngữ văn địa phương:

Khối lớp 6:

+ Bài 16: Phần Tiếng Việt địa phương (rèn chính tả)

+ Bài 17: Phần Văn, Tập Làm Văn địa phương (tìm hiểu văn học dân gian,giới thiệu trò chơi dân gian: chọi gà, chọi trâu, chơi đu, đấu vật, hội thi bánh giày

+ Bài 21: Phần Tiếng Việt địa phương (rèn chính tả)

+ Bài 33: Phần Văn, Tập Làm Văn địa phương (tìm hiểu danh lam thắngcảnh, di tích lịch sử, vấn đề môi trường)

Khối lớp 7:

+ Bài 17: Phần Tiếng Việt địa phương (rèn chính tả)

Trang 20

+ Bài 18; Sưu tầm tục ngữ, ca dao địa phương; đọc diễn cảm các văn bảnnghị luận.

+ Bài 33; Sưu tầm tục ngữ, ca dao địa phương; đọc diễn cảm các văn bảnnghị luận

+ Bài 34: Phần Tiếng Việt địa phương (rèn chính tả)

Khối lớp 8:

+ Bài 1: Phần Tiếng Việt địa phương (tìm từ ngữ chỉ quan hệ ruột thịt)

+ Bài 14: Giới thiệu các nhà văn, nhà thơ tỉnh, thành phố

Sưu tầm văn thơ có nội dung nói về thiên nhiên, sinh hoạt văn hoá truyềnthống lịch sử quê em

+ Bài 30: Phần Văn, Tập Làm Văn địa phương

Tìm hiểu các văn bản nhật dụng; tìm hiểu những vấn đề của địa phương.+ Bài 33: Phần Tiếng Việt địa phương (phần xưng hô, hội thoại địa phương)

Những khó khăn khi thực hiện phần văn học địa phương:

Như đã nói ở trên, vì tài liệu giảng dạy địa phương Ngữ văn Đồng Nai (xuấtbản 1996) không đáp ứng được những yêu cầu về nội dung bài dạy của sách giáokhoa mới đề ra (bao gồm cả 03 phân môn Tiếng Việt, Làm văn và văn học), chonên phần văn học địa phương gần như bỏ ngỏ

Trong những năm đầu thay sách giáo khoa lớp 6,7, giáo viên bám sát vào tàiliệu văn học địa phương Đồng Nai (xuất bản 1996) để giảng dạy các tiết Văn học

và Làm văn Riêng phần Tiếng Việt địa phương chủ yếu là phần sửa lỗi chính tả,giáo viên căn cứ tình hình thực tế địa phương để chửa lỗi chính tả cho các em

Đến năm thay sách giáo khoa lớp 8,9, do yêu cầu về nội dung bài dạy hoàntoàn mới, tài liệu văn học địa phương Đồng Nai (xuất bản 1996) không thể đápứng nên việc giảng dạy văn học địa phương giáo viên phải tự tìm tư liệu phục vụgiảng dạy như tìm những văn bản nhật dụng liên quan đến An toàn giao thông, môitrường, giới thiệu các danh lam thắng cảnh ở Đồng Nai (phục vụ cho việc làm bàivăn thuyết minh hoặc nghị luận về vấn đề địa phương) Phần Tiếng Việt địaphương 8,9 liên quan đến vốn từ địa phương và hội thoại ở địa phương, giáo viêncăn cứ tình hình thực tế để giảng dạy

Trong quá trình thực hiện, các Phòng Giáo dục và Đào tạo đều gặp lúng túng việc chỉ đạo thực hiện giảng dạy văn học địa phương vì tài liệu biên soạn năm học

1996 không đáp ứng được quan điểm dạy học thể hiện trong sách giáo khoa năm

Trang 21

2002 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Trước tình hình đó, thành phố Biên Hòa thốngnhất những bài dạy phần văn học ở lớp 6,7 và bài 14 ở lớp 8 thực hiện theo tài liệuvăn học Đồng Nai biên soạn năm 1996 Những phần còn lại (đặc biệt là phầnTiếng Việt và Làm văn) tổ bộ môn thống nhất nội dung bài dạy sao cho phù hợpvới tình hình ngữ âm địa phương và nội dung tích hợp làm văn phù hợp với kiểubài làm văn đang học.

Môn Lịch sử :

Qua khảo sát đã có nhiều trường phổ thông trong toàn tỉnh đã tiến hànhgiảng dạy lịch sử địa phương Tuy nhiên kết quả thu được cũng rất khác nhau giữacác trường, kết quả này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố:

Tâm huyết và khả năng của giáo viên

Tài liệu phục vụ giảng dạy của giáo viên và tài liệu cho học sinh

Sự quan tâm và chỉ đạo của lãnh đạo nhà trườ ng

Trong đó yếu tố khách quan làm cho kết quả việc giảng dạy lịch sử địaphương đạt kết quả chưa cao, là do thầy cô giáo và các em học sinh thiếu tài liệuchính thống để sử dụng, thiếu tài liệu tham khảo Nhiều ý kiến giáo viên cho rằng

họ đang tự bơi, tự mày mò kiếm được cái gì thì dạy cái đó Rất ít trường tiến hànhbiên soạn được tài liệu chung để sử dụng, một số trường lên được kế hoạch sơ lượcmang tính chất định hướng để giáo viên tự sưu tầm để giảng dạy Bên cạnh đócũng có nhiều đơn vị trường học tổ chức giảng dạy lịch sử địa phương đạt hiệu quảcao như:

Trường THCS Hùng Vương Thành phố Biên Hoà, ngoài các tiết dạy lịch sửđịa phương chính khoá theo phân phối chương trình, giáo viên còn tiến hành đanxen lồng ghép lịch sử địa phương vào các tiết học lịch sử dân tộc ở các phần liên

hệ thực tế cho từng bài cụ thể với những nội dung phù hợp

Lịch sử lớp 6 : Bài 8: Thời nguyên thuỷ trên đất nước ta Giáo viên liên hệ

với vùng đất Đồng Nai cũng là nơi tìm thấy dấu tích tích của người tối cổ trên đấtnước ta

Lịch sử lớp 7 : Bài 22: Sự suy yếu của nhà nước phong kiến tập quyền (Thế

kỷ XVI – XVIII), trong phần chiến tranh Nam- Bắc triều và Trịnh Nguyễn phântranh, giáo viên kết hợp ở phần này để giới thiệu “Khai quốc công thần”- NguyễnHữu Cảnh, người có công đầu trong việc sáng lập vùng đất Đồng Nai

Bài 28: - Sự phát triển của văn hoá dân tộc cuối thế kỷ XVIII, giáo viên giới thiệu

về Văn miếu Trấn Biên

Lịch sử lớp 8: Bài 24: Cuộc kháng chiến từ năm 1858 đến năm1873 Giáo

viên liên hệ với phong trào chống Pháp của nhân dân Biên Hoà và một số văn thânyêu nước

Lịch sử lớp 9: Bài 24: Nhân dân Nam bộ kháng chiên chống thực dân Pháp

trở lại xâm lược Giới thiệu về Chiến khu D

Trước thực trạng trên, việc biên soạn một tài liệu chính thống cho việc dạy

và học lịch sử địa phương là việc làm hết sức cân thiết, mang lại hiệu quả thiếtthực Trong quá trình giảng dạy lịch sử địa phương giáo viên đã áp dụng nhiều

Trang 22

biện pháp phong phú: như giảng dạy trên lớp, giảng dạy tại thực địa, đi tham quannhững di tích lịch sử Vào những ngày lễ lớn trong năm của dân tộc nhiều đơn vịtrường học đã tổ chức cho học sinh nghe các đồng chí lão thành cách mạng nóichuyện về truyền thống lịch sử của địa phương.

Môn Địa lí :

Giảng dạy địa lý địa phương nhằm giới thiệu đến các em học sinh kiến thứcđịa lý về tự nhiên, xã hội, kinh tế của địa phương nơi mà các em đang sinh sống.Qua đó giúp cho các em có thêm sự hiểu biết về địa lý địa phương và địa lý ViệtNam Đồng thời góp phần giúp cho các em có định hướng tốt hơn về nghề nghiệp,nhất là đối với các em học sinh chuẩn bị ra trường

Tuy nhiên việc thực hiện giảng dạy địa lý địa phương ở các trường phổ thônghiện nay bị hạn chế bởi một số khó khăn cụ thể:

- Việc giảng dạy học tập địa lí địa phương trong nhà trường phổ thông chưađược coi trọng đúng mức

- Tài liệu và sách tham khảo về địa lí địa phương còn thiếu vì vậy giáo viên

sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình soạn bài và lên lớp

- Chưa thống nhất các nguồn tài liệu vì vậy có sự chênh lệch về các số liệu

- Thời gian giành cho giảng dạy địa lí địa phương quá ít (04 tiết ở bậc THCS

và 03 tiết ở bậc THPT)

Những khó khăn như đã nêu trên đã hạn chế việc thực hiện giảng dạy nộidung “Địa lí địa phương” Đó cũng là nguyên nhân làm cho việc giảng dạy “Địa líđịa phương” ở các trường phổ thông chỉ mang tính hình thức, đối phó, không manglại hiệu quả cao Vì thế nên chăng cần có một số biện pháp hỗ trợ giúp cho việcthực hiện giảng dạy “Địa lí địa phương”ở các trường phổ thông trở nên thiết thực

1.3.3 Đối với các trường Đại học, Cao đẳng, trường Chính trị tỉnh:

Chương trình đào tạo bậc Đại học, Cao đẳng của các trường Sư phạm có nộidung giáo dục địa phương: Đào tạo Sư phạm Địa lí qui định 15 tiết (10 tiết líthuyết, 5 tiết thực hành) Chương trình sư phạm Lịch sử có 28 tiết (15 tiết lí thuyết,

13 tiết thực hành), Chương trình sư phạm Ngữ văn, có 3 đơn vị học trình 45 tiết, cảvăn học dân gian và văn học viết địa phương

Trường Chính trị tỉnh: Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia qui định

Chương trình Lí luận chính trị trung cấp có 45 tiết các kiến thức về địa phương(lịch sử, địa lí, văn hóa, tôn giáo, dân tộc, tín ngưỡng )

1.4 Những thuận lợi và khó khăn trong việc tổ chức dạy học kiến thức giáo dục địa phương.

1.4.1 Thuận lợi:

Vùng đất Đồng Nai đã có lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển,trong đó ẩn chứa nhiều giá trị về văn hoá và lịch sử, nơi có truyền thống đấu tranhcách mạng kiên cường anh dũng Đồng Nai là một trong những tỉnh phía Nam cónhiều di tích lịch sử văn hoá được nhà nước xếp hạng Truyền thống văn hoá lịch

sử của Đồng Nai rất đa dạng và phong phú gắn liền với đời sống kinh tế - xã hội vàcon người Đồng Nai trong suốt quá trình hình thành và phát triển Đây là một

Trang 23

nguồn tư liệu quý giá để truyền đạt cho thế hệ trẻ niềm tự hào về quê hương mình,

từ đó các em càng thấy yêu quê hương, gắn bó với quê hương

Đội ngũ giáo viên đa số được đào tạo chính quy, rất tâm huyết, nhiệt tình và

có ý thức tốt trong việc tự nghiên cứu tìm hiểu các nguồn tài liệu về truyền thốngvăn hoá - lịch sử địa phương để chuyển tải các nội dung đáp ứng nhu cầu cho việcgiảng dạy Học sinh có nhu cầu muốn biết, muốn tìm hiểu về quê hương mình Vìvậy khi được học về truyền thống văn hoá lịch sử địa phương học sinh rất chú ý vàtích cực tìm hiểu tư liệu liên quan đến bài học

Nguồn tài liệu khá phong phú, các ban ngành của tỉnh Đồng Nai đã biênsoạn nhiều cuốn sách rất có giá trị: Lịch sử Đảng bộ Đồng Nai tập I, II, III; BiênHoà - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển; Địa chí Đồng Nai tập I,II, III,

IV, V; Đồng Nai đất nước con người; …đó là những tư liệu quý giá để giáo viên cóthể tham khảo phục vụ cho bài giảng

Sự phát triển của công nghệ thông tin là phương tiện giúp đỡ hiệu quả trongviệc truy cập các tài liệu, kiến thức có liên quan đến bài học đồng thời cũng chuyểntải những kiến thức về lịch sử, văn hoá của địa phương một cách sinh động nhấtđến với các em học sinh

Ở nhiều trường, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng chưa có điều kiện truy cậpinternet nguồn tài liệu về địa phương rất thiếu nên giáo viên gặp nhiều khó khăntrong việc soạn giảng những kiến thức văn hóa, lịch sử địa phương Vì vậy có giáoviên đã bỏ qua những tiết giảng dạy Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí địa phương hoặc cógiảng dạy nhưng hiệu quả thấp Các buổi học thực địa, ngoại khoá rất khó thựchiện vì thiếu nguồn kinh phí, trong khi đó việc học ngoại khoá và học thực địamang lại hiệu quả rất khả quan

1.4.3 Kết quả:

Thực hiên sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ năm học 2008 -2009,giáo dục địa phương là phần học bắt buộc, các trường học phổ thông trên địa bàntỉnh Đồng Nai đã triển khai thực hiện giảng dạy truyền thống văn hoá lịch sử ở cácmôn học Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí… đã đạt được kết quả ban đầu tương đối khảquan Giáo viên tìm tòi, nghiên cứu tài liệu để giảng dạy và tổ chức cho học sinhtham quan học tập ngoại khoá các công trình văn hoá lịch sử của địa phương Họcsinh phấn khởi thích thú với bài học, yêu quê hương và gắn bó với địa phương hơ n.Đặc biệt trong năm học 2008- 2009, thực hiện mục tiêu “Xây dựng trường học t hânthiện, học sinh tích cực”, đã có nhiều đơn vị trường học đăng kí nhận chăm sóc các

di tích lịch sử, tổ chức cho học sinh tìm hiểu về văn hoá truyền thống, các trò chơidân gian, lễ hội truyền thống văn hoá của Đồng Nai và các vùng miền

Trang 24

Tuy nhiên việc thực hiện giảng dạy truyền thống văn hoá lịch sử giữacác đơn vị trường học phổ thông trên địa bàn toàn tỉnh chưa thật đều, có nơi làmtương đối tốt, có nơi làm mang tính chất đối phó, thậm chí có trường bỏ trắnggiảng dạy phần kiến thức này Một số trường lấy tiết học giáo dục địa phương đểgiảng dạy các nội dung khác của bộ môn.

Hiện tại các trường trong tỉnh Đồng Nai đang thực hiện giảng dạy kiếnthức địa phương theo những nội dung cụ thể sau đây

Lớp 8: Bài 9: Đồng Nai trong kháng chiến chống Thực dân Pháp

Lớp 9: Bài 10: Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân Đồng

Bài 13: Di tích kiến trúc nghệ thuật Đồng Nai

Lớp 11: Bài 14: Danh nhân Đồng Nai Bài 15: Anh hùng đất Đồng Nai Lớp 12: Bài 16: Chiến thắng Xuân Lộc trong Tổng tiến công và nổi dậy

Môn Địa lí:

Lớp 9: Bài 1: Tự nhiên và hành chính tỉnh Đồng Nai

Bài 2: Dân cư và nguồn lao động Bài 3: Kinh tếBài 4: Thực hành: Phân tích mối quan hệ giữa các thành phần tựnhiên và kinh tế xã hội Vẽ và phân tích biểu đồ cơ cấu kinh tế địa phương

Lớp 12: Bài 1: Địa lí tự nhiên Đồng Nai Bài 2: Địa lí dân cư Đồng Nai

Bài 3: Địa lí kinh tế Đồng Nai

Trang 25

Chương 2:

VÙNG ĐẤT, VĂN HÓA, CON NGƯỜI ĐỒNG NAI VÀ

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP

Nai, Đồng Hươu, Rạch Nai, Bàu Nai, Mũi Nai ) Cũng có ý kiến cho rằng Đồng

trong Đồng Nai là cách gọi biến âm từ chữ Đờng trong Đạ Đờng (Sông Cái) của

người Mạ

TS Lê Trung Hoa cho rằng địa danh Đồng Nai xuất hiện lần đầu tiên bằng

chữ quốc ngữ năm 1747 trong một báo cáo về giáo dân Nam bộ của Launay gởi cho giáo hội Công giáo; lúc đó âm “Ông” được ký hiệu là “ou” hoặc “oũ”.

Theo tài liệu của Trương Bá Cần, trong một bản tường trình của thừa saiGouge viết năm 1701, thân sinh của linh mục Laurent cùng với một số người tronggia đình đã đến vùng Dou -Nai (Đồng Nai) khai phá, cày cấy từ 29 năm trước

Thư của giám mục phó Labbé gởi Ban giám đốc Chủng viện Truyền giáo nước ngoài đề ngày 24.7 1710, có đoạn: “Có một miền gọi là Dou-Nai (Đồng Nai)

ở giữa Cao Miên và Chiêm Thành đây là một vùng đồng bằng, đất tốt, khá rộng và dài, rừng rậm, cây to, nơi mà người Đàng Trong đến lập nghiệp từ 35 hay 40 năm nay”(3).

Vậy, địa danh Đồng Nai và người Việt – Đàng Trong ắt đã xuất hiện ở địaphương trước năm 1679

Về sau, địa danh Đồng Nai được khẳng định vừa bằng chữ Nôm, vừa bằng chữ quốc ngữ trong tự điển Ditionarium Anamitico - Latium (Tự điển An Nam - La

tinh) của Pigneau de Béhaine ấn hành năm 1772 Tên gọi Đồng Nai trong tác phẩm

của các tác giả Lê Quí Đôn (Phủ biên tạp lục, 1776) Trịnh Hoài Đức (Gia Định

thành thông chí, 1820); Huỳnh Tịnh Của (Đại Nam Quốc âm tự vị, 1895 - 1896)

được ký hiệu bằng chữ Nôm hoặc Hán làm xuất hiện nhiều tên gọi khác : Lộc Dã,

Lộc Động, Nông Nại Lộc Dã (cánh đồng có nhiều Nai) là cách phiên nghĩa sang

chữ Hán

Trong dân gian, không rõ tự bao giờ tên gọi Đồng Nai đã được dùng để chỉ

vùng đất khai phá trù phú, rộng lớn, không phân định rõ địa giới, gắn liền với consông cùng tên gọi ở phương Nam Khi nói về sản vật, Trịnh Hoài Đức đã sử dụng

phương ngôn dân gian trong Gia Định Thành thông chí: Cơm Nai Rịa; Cá Rí Rang

(cơm gạo thì ở Đồng Nai, Bà Rịa; cá ngon thì ở Phan Rí, Phan Rang) Người địa

phương tự hào: Gạo Cần Đước nước Đồng Nai; Nhất Đồng Nai nhì hai Huyện.

2.1.2 Địa thế

Trang 26

Diện tích: 5.903,94 km2 Trung tâm của trung tâm vùng kinh tế trọng điểmphía Nam Tiếp giáp 6 tỉnh, thành phố (Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận PhíaĐông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và BìnhPhước Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Phía Tây giáp Thành phố Hồ ChíMinh), có quốc lộ 1, 51, 20 nối kết các đô thị trong khu vực, đường sắt xuyên Việtqua địa bàn Đồng Nai dài 87,5 km với 12 ga hàng hóa, sân bay quốc tế T ân SơnNhất và sân bay quân sự Biên Hòa là cầu hàng không thường trực; bến cảng ThịVải, Phước An, Long Bình Tân đủ để giao thương với tàu vạn tấn đến từ khắp nơi.Với vị trí này, Đồng Nai như là nút giao thông, giao lưu kinh tế - văn hóa trongvùng kinh tế trọng điểm ở phía Nam, gắn kết với vùng kinh tế Tây Nguyên và NamTrung bộ.

2.1.3 Địa hình:

Địa hình Đồng Nai thuộc dạng địa hình trung du chuyển tiếp từ vùng caonguyên (Tây nguyên, Nam Trung bộ) đến đồng bằng (đồng bằng Nam bộ), khábằng phẳng, độ dốc không cao, chỉ 8% đất có độ dốc lớn hơn 150; đến 82,09% đất

- Các bậc thềm sông có độ cao từ 5 đến 10 m hoặc có nơi chỉ cao từ 2 đến 5

m dọc theo các sông và tạo thành từng dải hẹp có chiều rộng thay đổi từ vài chụcmét đến vài km Đất trên địa hình này chủ yếu là các aluvi hiện đại

- Địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển: là những vùng đất trũng trên địabàn tỉnh Đồng Nai với độ cao dao động từ 0,3 đến 2 m, có chỗ thấp hơn mực nướcbiển, thường xuyên ngập triều, mạng lưới sông rạch chằng chịt, có rừng ngập mặnbao phủ

2.2.3.2 Dạng địa hình đồi lượn sóng

- Độ cao từ 20 đến 200m Bao gồm các đồi bazan, bề mặt địa hình rất phẳng,thoải, độ dốc từ 30 đến 80 Loại địa hình này chiếm diện tích rất lớn so với cácdạng địa hình khác bao trùm hầu hết các khối bazan, phù sa cổ Đất phân bổ trênđịa hình này gồm nhóm đất đỏ vàng và đất xám

2.1.3.3 Dạng địa hình núi thấp

Bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn với độcao thay đổi từ 200 – 800m Địa hình này phân bố chủ yếu ở phía Bắc của tỉnhthuộc ranh giới giữa huyện Tân Phú với tỉnh Lâm Đồng và một vài núi sót ở huyệnĐịnh Quán, Xuân Lộc Tất cả các núi này đều có độ cao (20–300), đá mẹ lộ thiênthành cụm với các đá chủ yếu là granit, đá phiến sét

2.1.4 Đất đai

2.1.4.1 Diện tích

Tổng diện tích toàn tỉnh có: 590.394 ha Bao gồm:

+ Diện tích đất nông nghiệp: 302.845 ha

Trang 27

+ Diện tích đất lâm nghiệp: 179.807 ha.

+ Diện tích đất chuyên dùng: 68.018 ha

Đất hình thành trên đá bazan : Bao gồm đất đá bọt, đất đen, đất đỏ có chất

lượng độ phì nhiêu cao chiếm 39,1% diện tích, phân bố chủ yếu ở các huyện TânPhú, Định Quán, Long Khánh, Xuân Lộc phù hợp với nhiều loại cây trồng ngắnngày và dài ngày

Đất hình thành trên phù sa cổ và đá phiến sét: Bao gồm: Đất xám, nâu xám,

đất loang lổ có chất lượng đất kém hẳn so với đất hình thành trên đá bazan,thường chua, nghèo chất hữu cơ, thiếu lân và kali, chiếm diện tích 41,9%; phân bố

ở các huyện Xuân Lộc, Long thành, Thống Nhất, Nhơn Trạch, Biên Hòa

Đất thủy thành bao: Bao gồm: Đất phù sa, đất Gley, đất cát, đất tầng mỏng,

hình thành trên các trầm tích sông, trầm tích biển, trầm tích sông biển hoặc trầmtích biển đầm lầy, “tuổi” còn trẻ, có phần bị phèn hoặc nhiễm mặn; chất lượngnhóm đất này khá tốt, phù hợp các loại cây lương thực, hoa màu và cây ăn trái,chiếm diện tích 9,9%, phân bố chủ yếu ở Tây Nam, gồm huyện Nhơn Trạch, TâyVĩnh Cửu, Biên Hòa, Long Thành

Đồng Nai là tỉnh có quy mô đất nông nghiệp lớn nhất Đông Nam bộ, có thếmạnh trong việc phát triển các loại cây công nghiệp, cây ăn trái, cây lương thựcngắn và dài ngày, có giá trị kinh tế cao

2.1.5 Khí hậu:

Đồng Nai nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ônhòa, ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai Trong thế kỷ XX, có 3 cơn bão lớnảnh hưởng đến Đồng Nai gió cấp 8, cấp 9 diễn ra trong các năm: 1904, 1952, 1997;trong đó cơn bão lụt năm 1952 (Nhâm Thìn) gây thiệt hại nặng nề nhất

Khí hậu Đồng Nai với chế độ nắng, gió, mưa, nhiệt, ẩm ở tỉ lệ cao, ổn định

và phân bổ khá đồng đều giữa các vùng là điều kiện tốt cho sản xuất nông nghiệp,phát triển công nghiệp và sinh hoạt văn hóa, du lịch Nhiệt độ cao quanh năm làđiều kiện thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các cây côngnghiệp có giá trị xuất khẩu cao

Nhiệt độ bình quân năm 2008 là: 25,9oC Số giờ nắng trung bình trong năm

2008 là: 2.286 giờ Lượng mưa tương đối lớn và phân bố theo vùng và theo vụtương đối lớn khoảng 2.080,1mm Độ ẩm trung bình năm 2008 là 82% Mực nướcthấp nhất sông Đồng Nai năm 2008 là: 109,67m Mực nước cao nhất sông ĐồngNai năm 2008: 112.80m

Nhờ có khí hậu ôn hòa, Đồng Nai có thế mạnh trong việc phát triển các loạicây công nghiệp, cây ăn trái, cây lương thực ngắn và dài ngày, có giá trị kinh tếcao Vì thế Đồng Nai đã sớm hình thành những vùng chuyên canh cây công nghiệp

Trang 28

ngắn và dài ngày, những vùng cây ăn quả nổi tiếng Ngành du lịch cũng phát triểnthuận lợi.

2.1.6 Tài nguyên

Đồng Nai có nhiều nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú gồm tài nguyênkhoáng sản có vàng, thiếc, kẽm; nhiều mỏ đá, cao lanh, than bùn, đất sét, cát sông;tài nguyên rừng và nguồn nước Ngoài ra Đồng Nai còn nhiều tiềm năng thủy lợidựa vào hệ thống hồ đập và sông ngòi Trong đó, hồ Trị An diện tích 323km2 vàtrên 60 sông, kênh rạch, rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, thủy sản, dulịch sinh thái

2.1.6.1 Rừng

Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên độngthực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Di tích VĩnhCửu và vườn Quốc gia Cát Tiên Năm 1976, tỷ lệ che phủ của rừng chiếm 47,8%diện tích tự nhiên, năm 1981 còn 21,5%, năm 2009 khoảng 29,7%, đang thực hiệnchương trình trồng rừng, tỷ lệ che phủ (bao gồm cả cây công nghiệp dài ngày) phấnđấu đến năm 2020 đạt 45-50% Đơn vị có diện tích rừng lớn nhất là huyện VĩnhCửu với 72.790 ha

Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, đa dạng sinh vật,giàu nguồn gien, nhiều hệ sinh thái, tiêu biểu là ở Khu Bảo tồn thiên nhiên và Ditích Vĩnh Cửu và vườn Quốc gia Cát Tiên Có hệ sinh thái nguyên sinh và hệ sinhthái rừng ngập mặn (rừng sác) Riêng ở vườn quốc gia Cát Tiên có 636 loài thựcvật và 592 loài động vật Các loài động thực vật quí hiếm ở Đồng Nai chiếm tỉ lệcao trong tài sản động thực vật quí hiếm của quốc gia Trong đó, nhiều loại gỗ quí:cẩm lai, trắc, gõ đỏ, tra i, dáng hương; nhiều loại thú qui hiếm: Bò tót, voi, côngxanh, trĩ, sao, tê giác, cá sấu Không chỉ có giá trị kinh tế, tài nguyên rừng cònđem lại nguồn dược liệu quí hiếm, làm dược liệu tốt cho Đông y

Rừng Đồng Nai như một bảo tàng tự nhiên về sinh h ọc, là lá phổi thanh lọckhông khí trong lành, nguồn sinh lực dồi dào cho đất và là tài sản đem lại giá trịkinh tế cao Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, rừng Đồng Nai còn là máinhà che chở, nuôi dưỡng lực lượng cách mạng, như Chiến khu Đ, như Rừng Sácanh hùng

2.1.6.2 Nước

Đồng Nai có diện tích sông suối chiếm tỉ lệ 2,8% diện tích tự nhiên Vớikhối lượng nước đủ để tạo bầu không khí trong lành, cung cấp nước cho sản xuất,sinh hoạt và sản xuất điện

Hệ thống sông Đồng Nai với sông chính dài 610km, đoạn chảy qua ĐồngNai dài 220km, lưu vực 42.600km2 Các sông suối khác: Sông Bé, sông Sài Gòn,sông Vàm Cỏ, sông La Ngà, sông Lá Buông, sông Thao, sông Ray, suối Cả, suốiTam Bung đều đem lại nguồn tài nguyên nước cho xứ Đồng Nai

Sau khi xây dựng công trình Thủy điện Trị An, hồ Trị An thiên tạo thànhnhân tạo có diện tích 32.300 ha với dung tích khá lớn bảo đảm có thể cung cấp điệncho các tỉnh phía Nam, nước sạch cho canh tác và sinh hoạt trong lưu vực , có khảnăng điều tiết lũ, nuôi trồng thủy sản và khai thác dịch vụ du lịch Các hồ khác như

Trang 29

Sông Mây (Thống Nhất), Đa Tôn (Tân Phú), Suối Vọng (Xuân Lộc) cũng rất cógiá trị.

Nước ngầm trong lòng đất có tác dụng bổ sung cho dòng chảy sông ngòi vềmùa cạn và là nguồn tài nguyên quí cho các ngành sả n xuất Tài nguyên nướcngầm ở Đồng Nai đã được điều tra, thăm dò, phân thành 6 cấp môđun khác nhau,được đánh giá là tốt về chất lượng, giàu về số lượng

2.1.6.3 Khoáng sản

Lòng đất Đồng Nai còn tiềm ẩn nhiều khoáng sản nhưng chưa được thăm dò

và đánh giá đúng mức, chỉ mới ghi nhận qua những kết quả thăm dò ban đầu Cát

là loại khoáng sản ở lòng sông Đồng Nai, có trữ lượng cao, chất lượng tốt, đangđược khai thác sử dụng cho công nghiệp xây dựng Đã tìm thấy vàng ở Hiếu Liêm;thiếc, chì, kẽm ở núi Chứa Ch an; đá kim ở Bửu Long; quặng môlipđen quanh núiLe; các loại đá quí: Zircon, Olinvin, Opan, SiO2 ở Xuân Lộc

Các mỏ đá ở Đồng Nai tương đối lớn, dễ khai thác, đáng kể là các mỏ đáTrảng Bom 1 - Sông Trầu, Vĩnh Tân, Hóa An, Bình Hóa, Sóc Lu Ngoài ra, còn

có khoáng sản cao lanh ở Tân Phong, than bùn ở Phú Bình, đất sét ở Thiện Tân

Các loại khoáng sản ở Đồng Nai thể hiện ưu thế cho việc phát triển côngnghiệp, nhất là công nghiệp xây dựng

2.1.7 Dân số, dân cư, lao động

2.1.7.1 Dân số

Tổng dân số tỉnh Đồng Nai theo kết quả Tổng điều tra dân số 01/4/2009 là:2.483.211 người Trong đó: Nam 1.232.182 người (49,62%), nữ 1.251.029 người(50,38%); ở thành thị 825.335 người (33,23%), ở nông thôn 1.657.876 người(66,77%) Tỷ lệ tăng tự nhiên trong năm 2010 là: 1,12%

2.1.7.2 Nguồn gốc dân cư

Năm 1620, cuộc hôn nhân công chúa Ngọc Vạn và vua Cheychetta II làmxuất hiện lớp cư dân Việt chung sống với cư dân bản địa, phát triển về buôn bánnên Chúa Nguyễn được lập trạm thu thuế ở Bến Nghé Năm 1679, nhóm cư dânngười Hoa gốc Quảng Đông, Phúc Kiến đến cư trú, lập Nông Nại Đại phố

Từ 1698, sau khi Nguyễn Hữu Cảnh ổn định hành chính, lập dinh Trấn Biên,Chúa Nguyễn chủ trương chiêu tập nhiều lớp cư dân Ngũ Quảng vào lập nghiệp ở

xứ Đồng Nai, cư trú chủ yếu ở đồng bằng ven các sông lớn

Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp lập nhiều đồn điền cao su ở Đồng Nai, chiêu

mộ người lao động từ các tỉnh Bắc bộ Bắc – Trung bộ vào các đồn điền làmcontract xuất hiện tầng lớp công nhân cao su cư trú tại các vùng có đồn điền cao suhoặc nhà máy 1954, chính quyền Mỹ - Diệm chủ trương đưa dân di cư theo đạoCông giáo, hình thành các xứ đạo dọc quốc lộ I, quốc lộ 51 và vành đai Sài Gòn

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước; nhiều cán

bộ tập kết trở về mang theo gia đình, nhiều lớp cán bộ từ miền Bắc, miền Trungđược tăng cường cho để khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và phát triển.Đến nay, cộng đồng cư dân ở Đồng Nai đa dân tộc, hợp cư giữa cư dân bản địa và

cư dân có nguồn gốc từ nhiều vùng miền trong cả nước Đặc điểm của cộng đồng

Trang 30

cư dân ở Đồng Nai: Hội nhập, thích ứng cái mới, không xa cội quên nguồn Làng

Việt rộng mở, dung nạp nhiều dòng mạch văn hóa.

2.1.7.3 Lao động

Năm 2010, người trong độ tuổi lao động: 1.377.000 người Trong đó: Ngànhnông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm khoảng 35%; công nghiệp – xây dựng khoảng vàdịch vụ khoảng 65%; Tổng số học sinh toàn tỉnh đang theo học tại các cấp phổthông: 443.000 học sinh Tổng số học viên, sinh viên đang theo học các trường đạihọc là: 12.152 người; cao đẳng là: 23.890 người; trung cấp chuyên nghiệp là:18.936 người Hằng năm, hơn 80.000 người được tạo nghề, giải quyết việc làm

2.1.8 Văn hóa xã hội.

Đồng Nai là vùng đất mà con người đến lập nghiệp khá sớm Từ thế kỷ I đếnthế kỷ X, Đồng Nai nằm trong lãnh thổ rộng lớn của nước Phù Nam, sau đó làChân Lạp Đây là những quốc gia cổ ở vùng Đông Nam Châu Á Nước Phù Nam

là một trong những quốc gia cổ được thành lập khá sớm, tồn tại từ thế kỷ I đến thế

kỷ VII Nước Chân Lạp là một thuộc quốc của Phù Nam, vào thế kỷ thứ VII đãthôn tính nước Phù Nam Địa bàn Đồng Nai xưa thuộc vùng Thủy Chân Lạp - tứcvùng đất ở gần biển để phân biệt với vùng đất Lục Chân Lạp (tức Campuchia ngàynay) Vùng đất Đồng Nai với rừng núi bạt ngàn, chỉ có những nhóm cư dân sinhsống rải rác như Stiêng, Mạ, Chơro, Cơho, Mơnông, Khơme…

Cuộc khai khẩn vùng đất phương Nam càng rầm rộ từ sau năm 1698, khiNguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu vào khai khẩn miền đất này,

do vây, Đồng Nai cũng là vùng đất có bề dày văn hóa Do lịch sử hình thành vàphát triển trên cơ sở hội nhập từ nhiều nguồn cư dân cư nên giá trị văn hóa truyềnthống ở Đồng Nai có đặc điểm đa nguồn, đa giá trị, trên nền tảng văn hóa ViệtNam, thể hiện sắc thái của vùng đất mới, có những nét rất riêng Quá trình pháttriển đó, bản sắc văn hóa Đồng Nai không những không bị mai một mà ngày càngdung nạp, hội tụ văn hóa nhiều vùng miền của đât nước, thâm chí cả những nét vănhóa nước ngoài cũng được chọn lọc, tiếp thu

Về văn hóa vật thể có rất nhiều công trình kiến trúc đình, chùa, đền thờ,miếu mạo, nhà thờ được xây dựng, trong đó nhiều công trình đã được xếp hạng ditích cấp quốc gia Về văn hóa phi vật thể nếp ăn, mặc, ở, đi lại, các tục thờ cúng cónhững nét đặc trưng, có nhiều truyện kể về lịch sử, các bài hát, múa của các dântộc Nhìn chung văn hóa vùng đất Đồng Nai là sự giao thoa văn hóa của các vùngmiền

2.1.9 Dân tộc, tôn giáo

2.1.9.1 Dân tộc: Đồng Nai là tỉnh đa dân tộc, theo thống kê hiện tại trên địa

bàn tỉnh có 34/54 dân tộc của cả nước đang sinh sống, họ đến đây từ nhiều thời kì,

từ nhiều nơi, người Kinh chiếm đông nhất Các dân tộc thiểu số sinh sống lâu đờitại Đồng Nai gồm Chơro, Mạ, Stiêng, trong đó đồng bào Chơro đông nhất Cộngđồng người Hoa tại Đồng Nai có hơn 100.000 người Đồng bào các dân tộc ở ĐồngNai sống với nhau hòa thuận, trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ vàtrong công cuộc xây dựng đất nước thời kì đổi mới, đồng bào các dân tộc có nhiềuđóng góp lớn, nhiều gương điển hình

Trang 31

2.1.9.2 Tôn giáo: Đồng Nai cũng là tình có nhiều tôn giáo Toàn tỉnh có 6

tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Cao đài, Tin lành, Hồi giáo, Hòa hảo Số người

có đạo chiếm khoảng 47% dân số của tỉnh, đồng nhất là Phật giáo, Công giáo.Đồng bào có đạo ở Đồng Nai là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân, cónhiều đóng góp trong kháng chiến và xây dựng đất nước, làm tròn nghĩa vụ củacông dân

2.1.10 Lược sử

2.1.10.1 Giai đoạn trước năm 1930

Năm Mậu Dần 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng mệnh Chúa Nguyễn vào ổnđịnh hành chính ở phương Nam, lập Dinh Trấn Biên và Phiên Trấn 17 năm sau,năm Ất Mùi 1715, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho xây dựng Văn miếu Trấn Biên ởthôn Bình Thành để mở mang giáo hóa

Trước đó, từ năm 1620, sau cuộc hôn nhân giữa công chúa Ngọc Vạn và vuaCheychetta II, lưu dân Việt đã đến cư trú, giao thương vớ i người bản địa Năm

1679, nhóm người Hoa “phản Thanh phục Minh” do Trần Thượng Xuyên thốnglãnh không chịu thuần phục Thanh triều, đến Đàng Trong xin tị nạn, được ChúaNguyễn cho vào khai phá ở phương Nam, xây dựng, phát triển thương cảng CùLao Phố Từ đó, nhiều lớp cư dân ở Ngũ Quảng được chúa Nguyễn khuyến khíchchuyển cư đến, xây dựng, phát triển Đồng Nai thành xứ phồn thịnh “Nhất ĐồngNai, nhì hai huyện”

Trong cuộc chiến giữa Tây Sơn và quan quân phò trợ Nguyễn Ánh, NguyễnHuệ đã 3 lần vào Trấn Biên (1775, 1777, 1785) Chiến tranh gây tàn hại cho địaphương, nhóm người Hoa ở Cù Lao Phố chạy về Đề Ngạn xây dựng thành ChợLớn sau này

Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, lập triều Nguyễn theo thể chếphong kiến tập quyền, xứ Đồng Nai được khôi phục, hưởng nhiều đặc ân của triềuđình, lập địa bạ, ổn định hành chính, phát triển kinh tế - xã hội hưng thịnh suốt 57năm Năm 1831 – 1833, do bất bình việc đối xử của triều đình đối với Tổng trấn LêVăn Duyệt, con nuôi của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi khởi loạ n, đánh chiếmthành Gia Định, thành Biên Hòa, triều đình đem quân đánh dẹp, hai năm mới yên

Ngày 10/02/1859, thực dân Pháp bắt đầu tấn công vào hệ thống phòng thủVũng Tàu Ngày 17/2/1859 tiến đánh Gia Định, quân triều định tổ chức phản công,tháng 10.1861, đồn Chí Hòa thất thủ, Kinh lược đại thần Nguyễn Tri Phương bịtrọng thương, rút quân về Biên Hòa Quân dân Biên Hòa tiếp tục chiến đấu, đến18/12/1861 quân Pháp chiếm được Biên Hòa; đầu năm 1862, đánh chiếm Bà Rịa.Lãnh binh Nguyễn Đức Ứng hy sinh, được nhân dân Long Phước (Long Thành)lập mộ, thờ cúng cùng 27 nghĩa binh Quan quân triều đình rút về Bình Thuận.Nghĩa quân Biên Hòa tiếp tục kháng chiến

Triều đình Huế ký hòa ước Nhâm Tuất 05/06/ 1862, giao 3 tỉnh Biên Hòa,Gia Định, Định Tường cho Pháp Nhân dân Biên Hòa hướng theo cờ nghĩa TrươngĐịnh, tổ chức kháng chiến

Ngày 20/8/1964, Trương Định hy sinh, nghĩa quân bị đàn áp, tổn thất Hoạtđộng chống Pháp dần đi vào hội kín Đoàn Văn Cự tổ chức hội kín dấy binh đánh

Trang 32

Pháp, bị tập kích, lẫm liệt hy sinh cùng 16 nghĩa sĩ ngày 11/5/1905, dân làng lập

mộ và đền thờ tại thôn Vĩnh Cửu (nay thuộc phường Tam Hiệp, TP Biên Hòa) Sau

đó, hội kín Trại Lâm Trung gây nhiều tiếng vang, rồi cũng bị đàn áp, 9 người bị xửbắn ở Dốc sỏi năm 1916, dân lập đền thờ gọi là miếu Cô Hồn (nay thuộc phườngquang Vinh, TP Biên Hòa)

Đầu thế kỷ XX đến 1929: Năm 1901, chính quyền thuộc địa Pháp thay đổichế độ quản lý, đổi tiểu khu thành đơn vị tỉnh Biên Hòa thành đơn vị cấp tỉnh, códiện tích tự nhiên 5.600km2, tỉnh lỵ là Bình Trước Năm 1902, xây dựng cầu BìnhLợi qua sông Sài Gòn nối liền Sài Gòn với Biên Hòa; người dân Biên Hòa bắt đầulập thẻ thuế thân Năm 1903, khởi công xây cầu Gành và cầu Rạch Cát , thành lập

Trường Mỹ nghệ Thực hành Biên Hòa ở Bình Trước với tên gọi: “ École d’art applique de Bien Hoa” Năm 1904, Đoạn đường sắt Sài Gòn - Xuân Lộc hoàn

thành và đưa vào sử dụng Năm 1906, thành lập đồn điền Suzannah tại Dầu Giây;

thành lập Công ty Cao su Đông Dương (Société Indochinoise des Plantations

d'Hévéas) gọi tắt là S.I.P.H, công ty cao su đầu tiên ở Nam kỳ, khai thác trồng cao

su ở Biên Hòa, Long Khánh với các đồn điền trực thuộc như: Bình Lộc, An Lộc,Suzannah, Long Thành, Heléna, Ông Quế, Bình Ba, Bến Củi Năm 1912, Khánhthành Nhà máy Cưa BIF ở Tân Mai với tổng số công nhân khoảng 300 người; khaithác tuyến đường sắt Sài Gòn – Nha Trang đi qua Biên Hòa dài 408km Năm 1915,khởi công xây dựng Nhà thương điên Biên Hòa trên diện tích 22 hecta, cơ sở điềutrị bệnh tâm thần duy nhất ở Đông Dương thuộc địa (khánh thành 16.02.1916) Từnhững năm 1925 - 1926 trở đi, tỉnh Biên Hòa cũng như nhiều địa phương khác ởNam kỳ bắt đầu xuất hiện phong trào yêu nước cách mạng với các cuộc đấu tranhvới lực lượng công nhân đóng vai trò quan trọng Năm 1927, Phát hiện và khaiquật di chỉ mộ Hàng Gòn; công nhân đồn điền cao su Phú Riềng đấu tranh đòi thựchiện quyền lợi kinh tế và nổi dậy giết tên xếp Tây Monterlo Tháng 10.1928, Chi

bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội ở Phú Riềng được thành lập

gồm 5 đồng chí do Nguyễn Xuân Cừ làm Bí thư Ngày 28.10:.1929, Chi bộ Đông

Dương Cộng sản đảng Phú Riềng được thành lập gồm 6 đảng viên do NguyễnXuân Cừ làm Bí thư

2.1.10.2 Giai đoạn từ 1930 đến năm 1945

Ngày 03/02/1930: Hợp nhất 3 tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng, AnNam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn thành Đảng Cộng sản ViệtNam Công nhân Biên Hòa rải truyền đơn, khẩu hiệu chào mừng ngày thành lậpĐảng Cộng sản Việt Nam, ngày Quốc tế Lao động

Năm 1935: Liên Tỉnh ủy miền Đông cử đồng chí Hoàng Minh Châu (tức

Nguyễn Thành Vỹ) về Biên Hòa hoạt động Tháng 2, Chi bộ Bình Phước – Tân

Triều được thành lập do đồng chí Hoàng Minh Châu làm Bí thư

Tháng 2 năm 1937: Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Biên Hòa được thành lập tại xã

Tân Triều do đồng chí Trương Văn Bang làm Bí thư, Huỳnh Văn Phan làm Phó bíthư Nhiều tổ chức quần chúng được thành lập trong tỉnh Chi bộ Đảng Cộng sản ởXuân Lộc thành lập do Nguyễn Văn Lắm (tức Ba Nghệ) làm Bí thư

Năm 1940, Tỉnh ủy lâm thời Biên Hòa rút vào hoạt động bí mật ở rừng TânUyên Đội vũ trang 35 người được thành lập do đồng chí Huỳnh Liễng (Tỉnh ủy

Trang 33

viên) phụ trách, Trần Văn Quỳ chỉ huy để chuẩn bị khởi nghĩa Đây là tổ chức tiềnthân của lực lượng vũ trang cách mạng Biên Hòa Công tác chuẩn bị khởi nghĩa ởBiên Hòa được tiến hành khẩn trương ở q uận Tân Uyên, Châu Thành Kế hoạchkhởi nghĩa ở Nam kỳ bị lộ, thực dân tổ chức càn quét vào khu vực rừng Tân Uyên.Một số đồng chí trong Tỉnh ủy Biên Hòa như Lê Văn Tôn, Nguyễn Hồng Kỳ bịđịch bắt đày đi Côn Đảo, một số khác bị bắt giam ở Bà Rá, Tà Lài Đồ ng chíHuỳnh Liễng hi sinh ở Lạc An.

Năm 1941: Phong trào đấu tranh của công nhân đồn điền cao su phát triển

mạnh mẽ Tháng 2, 3: Nổ ra 15 cuộc đấu tranh của công nhân các đồn điền, nhà

máy toàn tỉnh Biên Hòa Thực dân Pháp ra sức đàn áp Công nhân nổi dậy giết hai

tên xếp Tây De Bazé ở Hàng Gòn và De Lasein ở sở 97 Ngày 27-3: Mười một

chiến sĩ cách mạng (trong đó có Trần Văn Giàu, Dương Quang Đông, Tô Ký…)

vượt ngục Tà Lài trở về lãnh đạo phong trào cách mạng ở Nam bộ Ngày 28-7:

Quân Nhật đổ bộ lên Nam kỳ xây dựng hệ thống đồn bót, sân bay quân sự TânPhong, bắt dân làm đường, mua vét lương thực, bắt nông dân nhổ lúa trồng đay gây

nên cảnh khổ cực, đói kém Ngày 9-9: 500 công nhân Đồn điền Cao su Courtenay đình công Tháng 11: 600 công nhân đồn điền cao su Bình Lộc phản đối chế độ hà

khắc đối với công nhân Thực dân Pháp bắt giam 30 người

Năm 1942: Quân Nhật chiếm căn cứ không quân, Thành Kèn, kho đạnThành Tuy Hạ đồng chí Trịnh Văn Dục được cử về Long Thành hoạt động, xâydựng tổ chức Quận bộ Việt Minh và Quận ủy Long Thành đầu tiên ở Biên Hòa

Năm 1945: Một năm có nhiều sự kiện trọng đại Ngày 10/3: Nhật đảo chánh Pháp Tháng 5: Tổ chức Thanh niên Tiền phong Biên Hòa được thành lập do thầy giáo Huỳnh Thiện Nghệ làm thủ lĩnh Tháng 7: Đồng chí Hà Huy Giáp đại diện Xứ

ủy Nam kỳ (Tiền phong) họp với cán bộ Đảng ở Biên Hòa tại chùa Tân Mai, phổbiến chủ trương xây dựng lực lượng chuẩn bị phát động quần chúng giành chính

quyền Ngày 2.8: Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Biên Hòa được thành lập tại nhà số 2 phố Sáu Sử (Quốc lộ I) Ngày 25/8: Khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở quận

Long Thành; Ủy ban Khởi nghĩa tổ chức 500 quần chúng theo xe lửa về tham gia

cướp chính quyền ở Sài Gòn Ngày 26/8: Đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa huy động

hàng trăm quần chúng bao vây và cắm cờ đỏ sao vàng trên dinh tỉnh trưởng BiênHòa.; 11 giờ cùng ngày, tỉnh trưởng Nguyễn Văn Quý bàn giao toàn bộ chính

quyền cho cách mạng Ngày 2.-8: Hơn 1 vạn nhân dân toàn tỉnh mít tinh tại Quảng

trường Sông Phố mừng cách mạng thành công, ra mắt Ủy ban nhân dân cách mạng

lâm thời tỉnh Biên Hòa do Hoàng Minh Châu làm Chủ tịch Ngày 23.9: Biên Hòa

cùng với toàn Nam bộ đứng lên kháng chiến chống Pháp; đồng chí Hà Huy Giápchủ trì hội nghị Bình Trước, thành lập Tỉnh ủy lâm thời Biên Hòa gồm 11 đồng chí

do Trần Công Khanh làm Bí thư, Hoàng Minh Châu làm Phó bí thư Thực dân

Pháp tái chiến toàn Nam bộ Ngày 17/12: Cơ quan Khu bộ do đồng chí Nguyễn

Bình (1906–1951) làm khu trưởng về đóng ở Lạc An, xây dựng căn cứ khángchiến, tiền thân của chiến khu Đ

2.1.10.3 Giai đoạn từ 1946 đến năm 1954

Năm 1946: Ngày 2.1, Vệ quốc đoàn Biên Hòa phối hợp cùng các lực lượng

vũ trang lần đầu tiên tấn công vào quân Pháp trong tỉnh lỵ Biên Hòa Ngày 6 1:

Trang 34

Nhân dân Biên Hòa bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên, ba đại biểu trúng cử là DươngBạch Mai, Hoàng Minh Châu, Điểu Xiễn Từ 24.1, quân Pháp tập trung lực lượng,đánh chiếm Tân Uyên, Long Thành, Xuân Lộc, huy động 8.000 quân tấn công vào

chiến khu Đ Tháng 6: Chi đội 10 Biên Hòa được thành lập do Huỳnh Văn Nghệ

chi đội trưởng, Phan Đình Công chính trị viên, chi đội có 3 đại đội, quân số 1.100chiến sĩ và thành lập các quận quân sự

Năm 1947: Nhân dân Biên Hòa cùng với cả nước đẩy mạnh cuộc khángchiến chống thực dân Pháp xâm lược Thành lập Liên đoàn Cao su tỉnh Biên Hòa

tổ chức công đoàn cao su đầu tiên của miền Đông Nam bộ Hình thành chiến khuPhước An ở Long Thành Lập các chiến công diệt đồn Cây Gáo, Vĩnh Cửu, BìnhĐa; thắng lớn trong các trận đánh giao thông Bảo Chánh, Trảng Táo, Gia Huynh,Bàu Cá, Đồng Xoài, chống càn ở chiến k hu Phước An Đón đồng chí Lê Duẩn từTrung ương vào chỉ đạo cuộc kháng chiến ở Nam bộ

Năm 1948: Quân Pháp tăng cường đánh phá Quân dân Biên Hòa ra sức

kháng chiến, tạo thêm nhiều chiến công vang đội Ngày 1 3: Trận đánh giao thông

La Ngà trên Quốc lộ 20 Ngày 19 3: Du kích Tân Uyên do Trần Công An chỉ huy

đánh tháp canh cầu Bà Kiên, mở ra cách đánh mới sau gọi là cách đánh đặc công.Chi đội 10 Biên Hòa phát triển thành Trung đoàn 310

Năm 1950 - 1954: Tình hình chiến trường Biên Hòa cam go Tháng 5:

Thành lập tỉnh Thủ Biên trên cơ sở nhập hai tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một.Thành lập Tiểu đoàn chủ lực tỉnh Thủ Biên phiên hiệu 303 Mở rộng căn cứ, pháttriển chiến khu Đ thành căn cứ lớn ở Nam bộ Thành lập huyện căn cứ Đồng Naitrên cơ sở hai huyện Tân Uyên và Phú Giáo Tháng 10.1952, bão lụt Nhâm Thìn.Nhiều trận thắng lớn, đánh bại cuộc càn quét của quân Pháp vào chiến khu Đ(tháng 1 năm 1953) Hiệp định Giơnevơ chấm dứt giao tranh Ngày 13.8.1954, míttinh lớn tại Bà Đã, chiến khu Đ mừng kháng chiến th ắng lợi và thực hiện chuyểnquân tập kết ra Bắc

2.1.10.4 Giai đoạn năm từ năm 1954 đến năm 1975

Miền Bắc được giải phóng, khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng xãhội chủ nghĩa, Miền Nam tiến hành kháng chiến chống Mỹ - ngụy, tiếp tục sựnghiệp đấu tranh giải phong dân tộc

- Từ năm 1954 – 1960: Quân dân Đồng Nai vừa đấu tranh chính trị và từng

bước đấu tranh vũ trang chống sự đàn áp của chính quyền Sài Gòn, nổi bật lênphong trào đấu tranh của đội ngũ công nhân Đồng Nai (các đồn điền cao su, nhàmáy, xí nghiệp) với các hình thức đa dạng Từ đấu tranh dân sinh, lực lượng côngnhân đấu tranh dân chủ, đấu tranh chính trị, đòi chính quyền địch thi hành Hiệpđịnh Giơ ne vơ Một số sự kiện tiêu biểu trong đấu tranh chính trị, vũ trang:

- Năm 1955 nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của công nhân cao su Biên Hòa tạicác đồn điền An Lộc, Bình Sơn….như đình công, mít tinh, đưa yêu sách đòi cảithiện dân sinh dân chủ, đòi chính quyền thi hành hiệp định Giơ ne vơ, phản đối đàn

áp phong trào cách mạng 600 công nhân nhà máy BIF và nhân dân Biên Hòa biểutình, đòi chính quyền địch thực hiện Hiệp thương để thống nhất đất nước

Trang 35

+ Ngày 2/12/1956 nổ ra cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp của đảng viên,chiến sĩ cách mạng, người yêu nước tại Nhà lao Tân Hiệp Kết quả có 462 cán bộ,đảng viên về với cách mạng, trong đó có nhiều nhân sĩ yêu nước đã vượt ra khỏingục tù quân thù Lực lượng phá khám thu được hơn 40 khẩu súng các loại và đây

là nguồn vũ khí quí báu bổ sung cho phong trào cách mạng Đây là cuộc nổi dậyphá khám quy mô và giành được thắng lợi trong thời kỳ phong trào cách mạngmiền Nam nói chung, Biên Hòa nói riêng bị địch khủng bố nghiêm trọng

+ Ngày 7/7/1959 diễn ra trận đầu diệt Mỹ ở Biên Hòa: Liên Tỉnh ủy miềnĐông quyết định tổ chức mặt trận tập kích vào Đoàn cố vấn Mỹ đóng tại Biên Hòa(MAAG) Phân đội đặc công gồm 6 đồng chí Hoa, Huề, Phú, Bé, Sắc, Hưng dođồng chí Nguyễn Văn Hoa (Năm Hoa)- đại đội phó đại đội C250 chỉ huy Kết quả :diệt hai cố vấn Mỹ là thiếu tá Bael Buis và trung sĩ Chester Ovmand tại chỗ, bắn bịthương đại úy Howard B Boston Đây là trận tấn công đầu tiên vào quân đội Mỹtrên chiến trường miền Nam Việt Nam, gây tiếng vang trong và ngoài nước Cố

vấn Mỹ Buis và Ovmand là hai người lính Mỹ “đầu tiên chết trong kỷ nguyên Việt

Nam“ (Từ dùng của nhà báo Staley Karnod đăng trên tạp chí Tribune

Internationale Hevald ngày 11/7/1983)

- Từ năm 1961 – 1968: Quân dân Đồng Nai đẩy mạnh đấu tranh vũ trang,

góp phần làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” của

Mỹ - ngụy và Tổng tiến công nổi dậy xuân Mậu Thân Đặc biệt, từ năm 1965 trở

đi, quân dân Đồng Nai tấn công trực tiếp vào quân Mỹ và chư hầu (Thái Lan, Úc)khi chúng tham chiến trên chiến trường Đồng Nai Các cuộc đấu tranh chính trị củacông nhân, quần chúng được tổ chức Quân dân Đồng Nai tiến hành các cuộc tấncông hỗ trợ cho quần chúng phá ấp chiến lược, bung ra sản xuất Trên vùng căn cứ,lực lượng vũ trang được xây dựng, phát triển và tổ chức những trận chống địchcàn, bảo vệ chiến khu, tấn công táo bạo vào quân địch Một số sự kiện tiêu biểu:

+ Ngày 10/10/1961, Thành lập Trung ương Cục Miền Nam tại Mã Đà(Chiến khu Đ).Trung ương Cục miền Nam là một bộ phận của Ban chấp hànhTrung ương Đảng, được Ban chấp hành Trung ương ủy nhiệm chỉ đạo toàn

bộ công tác của Đảng ở miền Nam Hội nghị lần thứ I Trung ương Cục chínhthức thành lập Trung ương Cục miền Nam được tổ chức tại Mã Đà căn cứ địaChiến khu Đ

+ Cuối năm 1964 đến đầu năm 1965: Quân dân Đồng Nai tham gia, phối hợptích cực trong chiến dịch Bình Giã, giải phóng nhiều ấp chiến lược

+ Ngày 31/10/1964, đoàn pháo binh Miền phối hợp với lực lượng cách mạngBiên Hòa tập kích sân bay Biên Hòa Kết quả : Địch bị thiệt hại nặng với 59 máybay bị phá hủy (trong đó có 21 máy bay B57, 11 máy bay AD6, 1 máy bay do thámU2), 2 kho đạn lớn, 1 kho xăng, 1 đài quan sát, 18 căn trại lính bị phá hủy, tổngcộng có 253 tên địch bị thương và chết Giới chức lãnh đạo Mỹ cay đắng, tức tốitrước thảm hoạ sân bay Biên Hòa bị quân Việt Cộng tấn công Chủ tịch Hồ ChíMinh với bút danh Chiến sĩ đã viết bài ca ngợi trên Báo Nhân Dân số 3878 (ngày

12/11/1964) Trong đó, có bốn câu thơ sau: “Uy danh lừng lẫy khắp năm châu.

Đạn cối tuôn cho Mỹ bể đầu Thành đồng trống thắng lay Lầu trắng Điện Biên,

Trang 36

Mỹ chẳng phải chờ lâu”.

+ Ngày 16 tháng 6 năm 1966, nổ ra cuộc đấu tranh của khoảng 700công nhân nhà máy Cogido đưa kiến nghị đòi giới chủ nhà máy thực hiệnviệc lập “Thỏa ước lao động” và một số yêu sách cải thiện dân sinh, dân chủ Giới chủ nhà máy Cogido đã nhờ chính quyền ngụy ở Biên Hòa can thiệp,đưa cảnh sát đến đe dọa đàn áp nhưng công nhân kiên quyết đấu tranh Saubảy ngày chiếm xưởng, Thông qua Ty Lao động Biên Hòa, các yêu sách củacông nhân nhà máy Cogido được giới chủ giải quyết Cuộc đấu tranh này đãgây được tiếng vang Hưởng ứng và noi gương cuộc đấu tranh của công nhânnhà máy Cogido, hơn 10 nghiệp đoàn các nhà máy trong Khu kỹ nghệ tiếnhành đấu tranh đòi cải thiện đời sống, chế độ làm việc cho công nhân vàgiành được thắng lợi

+ Năm 1968 (Xuân Mậu Thân) : Căn cứ vào Nghị quyết của Bộ Ch ính trị,Trung ương Cục miền Nam đã đề ra kế họach tổng công kích - tổng khởi nghĩa ởmiền Nam Cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa gồm nhiều đợt, trong đó đợtxuân Mậu Thân là đợt chủ yếu, điểm là Sài Gòn và miền Đông Nam bộ Mục tiêu

là đánh chiếm các thành phố, thị xã; làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, đánh đổngụy quyền các cấp, tiêu diệt đại bộ phận quân Mỹ, làm chuyển biến cục diệnchiến trường, tiến lên giành thắng lợi quyết định

Đúng 0 giờ 30 rạng sáng mùng 1 Tết (ngày 31 tháng 1 n ăm 1968), quân dânĐồng Nai đã thực hiện nổi dậy, tấn công các mục tiêu: sân bay Biên Hòa, Tổngkho Long Bình, Bộ tư lệnh 2 dã chiến Mỹ, quân đoàn 3 ngụy Đồng thời đánh sâuvào các chi khu, quận lỵ, đồn bốt địch trên khắp địa bàn Cuộc tổng tiến công đợt Itại địa phương đảm bảo yếu tố bí mật, bất ngờ Lần đầu tiên, lực lượng quân giảiphóng xuất hiện và tấn công vào tận sào huyệt địch, các căn cứ quân sự, cơ quanchỉ huy của địch trong thị xã, thị trấn, tiêu diệt một số lượng khá lớn sinh lực vàphương tiện chiến tranh của Mỹ ngụy, góp phần làm lung lay ý chí xâm lược của

đế quốc Mỹ

- Từ năm 1969 – 1975: Quân dân Đồng Nai kiện toàn lực lượng, đẩy mạnh

đấu tranh trên các mặt, góp phần với cách mạng cả nước buộc địch xuống thangchiến tranh, ký hiệp định Paris, từng bước tiến lên giải phóng quê hương Hàng loạtcác trận tấn công của cách mạng vào quân địch Trong đó, mùa khô 1974 – 1975đánh dấu những trận đánh quan trọng trong kê hoạch nổi dậy, tổng tiến công, giảiphóng quê hương Trước sức tấn công của lực lượng cách mạng, một số địa bàncủa Đồng Nai từng bước được giải phóng

- Tấn công chi khu Định Quán: Ngày 17 tháng 3, quân giải phóng tấn côngvào phân chi khu quân sự địch tại Phương Lâm, La Ngà, Núi Tràn, đồi Lăng Xi,Cao điểm 112 và chi khu Định Quán Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt trong thế giằng

co Đến cuối ngày, quân giải phóng chiếm được chi khu Từ thắng lợi bước đầunày, tiếp theo đó, quân giải phóng tấn công tiêu diệt địch ở các cụm cố thủ dochúng dựng nên Hệ thống đồn bốt địch trên địa bàn Tân Phú, Địn h Quán tiếp tục

bị bứt phá, lực lượng địch bị truy rút, bỏ chạy Địa bàn Tân Phú được hòan toàngiải phóng

Trang 37

- Chiến dịch Xuân Lộc bắt đầu từ ngày 9 tháng 4 đến 21 tháng 4 năm 1975.Cuộc chiến giữa quân cách mạng và quân lực chính quyền Sài Gòn diễn ra giằ ng

co, quyết liệt Sau 12 ngày đêm, chiên dịch Xuân Lộc đã đem lại kết quả Tuyếnphòng thủ thép của chính quyền Sài Gòn thiết lập ở hướng đông bắc bị đập tan.Quân đoàn 4 phối hợp với vũ trang địa phương tấn công, giải phóng địa bàn LongKhánh (Long Khánh lúc bấy giờ là đơn vị hành chánh cấp tỉnh)

- Ngày 29 tháng 4, sư đòan 304 Quân đòan 2 cùn g bộ đội địa phương giảiphóng hòan tòan Long Thành Ở Biên Hòa,Tỉnh ủy Biên Hòa phát động quầnchúng nổi dậy giành chính quyền ủy ban khởi nghĩa Khu kỹ nghệ phát l ệnh và lựclượng công nhân chiếm giữ 17 nhà máy đến chiếm lĩnh khu Trung tâm điều hành.Hàng loạt các địa phương ở Biên Hòa, Vĩnh Cửu dưới sự hỗ trợ của lực lượng vũtrang đã nổi dậy cướp chính quyền, phá bỏ các đồn bót, phá kho tàng của địch

- Sáng 30 tháng 4, đồng chí Trương Thị Sáu đã đột nhập và treo cờ Mặt trậndân tộc giải phóng miền Nam tại Tòa hành chánh tỉnh Biên Hòa Lực lượng quầngiải phóng và bộ đội địa phương từ các hướng tấn công, tiến vào giải phóng thị xãBiên Hòa 10 giờ ngày 30 tháng 4, toàn bộ trung tâm đầu não bộ máy của chínhquyền ngụy Sài Gòn tại Biên Hòa đều bị quân cách mạng đánh chiếm ủy ban Quânquản Biên Hòa và trung đòan 5 tiến vào tiếp quản Tòa Hành chánh Biên Hòa trong

sự đón chào, cổ vũ của hàng ngàn người dân Tỉnh Biên Hòa được Hòan toàn giảiphóng

2.1.10.5 Giai đoạn năm 1975 – 2005

Đầu tháng 1-1976, tỉnh Đồng Nai được thành lập trên cơ sở sáp nhập ba tỉnh:Biên Hòa, Bà Rịa – Long Khánh, Tân Phú Tỉnh Đồng Nai có diện tích 8.360 km2.Đồng Nai bao gồm thành phố Biên Hòa là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xãhội của tỉnh và các huyện: Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Long Thành, Long Đất, ChâuThành, Xuân Lộc, Tân Phú, Duyên Hải, thị xã Vũng Tàu Dân số toàn tỉnh là1.223.683 người gồm 19 dân tộc

Sau giải phóng nhiều lần chia tách, đến nay Đồng Nai có 11 đơn vị hànhchính gồm: Thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh và 9 huyện: Trảng Bom,Thống Nhất, Định Quán, Tân Phú, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Cẩm Mĩ, Long Thành,Nhơn Trạch, với số dân thời điểm 2005 là 2.123.582 người, là tỉnh có số dân đôngthứ 5 trong các tỉnh, thành cả nước

Thực hiện chủ trương của Đảng, sau giải phóng Đồng Nai bắt tay ngay vàoxây dựng cuộc sống mới, ổn định đời sống nhân dân, chăm lo phát triển kinh tế xãhội, đảm bảo quốc phòng, an ninh Khi có chủ trương đổi mới, Đảng bộ, chínhquyền tỉnh Đồng Nai sớm nắm bắt thời cơ, phát huy lợi thế của tỉnh là có sẵn KhuCông nghiệp Biên Hòa, giao thông thuận lợi, con người năng động nên chủ trươngphát triển công nghiệp, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhờ chủ trươ ng đúngnên sau thời gian ngắn, thu hút đầu tư hiệu quả, Đồng Nai trở thành một tỉnh trọngđiểm kinh tế phía Nam, là điểm sáng trong phát triển kinh tế xã hội Đời sống nhândân được cải thiện rõ rệt, cơ sở hạ tầng được đầu tư khá, chính trị xã hội ổn định ,

an ninh quốc phòng được giữ vững, sự đồng thuận của nhân dân ngày càng tăng

Trang 38

2.2 LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG TỈNH ĐỒNG NAI

2.2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển tỉnh Đồng Nai:

Tháng 1 năm 1976, tỉnh Đồng Nai được thành lập trên cơ sở sáp nhập cáctỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa- Long Khánh, Tân Phú Theo mốc lịch sử năm 1698,Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vâng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chukinh lược vào vùng đất phương Nam Ông đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định

gồm hai huyện: Phước Long dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình dựng dinh

Phiên Trấn Như vậy, đất Biên Hòa xưa thuộc phạm vi dinh Trấn Biên, huyệnPhước Long

Năm 1776, sau khi đánh bại chúa Nguyễn, Đông Định Vương Nguyễn Lữ

đổi dinh Trấn Biên thành Biên Trấn Năm 1808, vua Gia Long sắp đặt lại hành

chánh vùng đất Nam Bộ Theo đó, phủ Gia Định được gọi là Thành Gia Định Các

dinh trước đây đổi thành trấn trực thuộc Thành Gia Định Dinh Trấn Biên đổi thành trấn Biên Hòa Huyện Phước Long nâng lên thành phủ Năm 1832, vua

Minh Mạng sắp xếp lại đơn vị hành chánh toàn quốc, các đơn vị trấn đổi thành

tỉnh Trấn Biên Hòa đổi thành tỉnh Biên Hòa Tên gọi Biên Hòa gắn liền với một

số thiết chế hành chánh vào các thời kỳ lịch sử về sau tiểu khu, sở, địa hạt rồitỉnh… với sự phân chia địa giới hành chánh của các thể chế cai trị liên quan

Từ đó cho đến nay, tỉnh Đồng Nai nhiều lần thay đổi về địa giới hành chánh.Hiện nay, tỉnh Đồng Nai gồm 11 đơn vị hành chánh: thành phố Biên Hòa, thị xãLong Khánh và các huyện Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Long Thành,Nhơn Trạch, Thống Nhất, Trảng Bom, Vĩnh Cửu

2.2.2 Dấu tích văn hóa cổ ở Biên Hòa- Đồng Nai

Vài nét về lịch sử nghiên cứu khảo cổ học Đồng Nai

- Giai đoạn thứ nhất gắn liền với các tên tuổi của các nhà thám hiểm, du lịch,truyền giáo và thực dân Châu Âu như: V.Holbé, D Grossin, J.Chénieux,E.Cartailhac, A.Mougeot, F.Barthère, Loesh, J.Repelin và các thành viên thuộcphái bộ A.Pavie làm việc tại Việt Nam vào những năm 80 - 90 của thế kỷ XIX Đây

là giai đoạn với những phát hiện lẻ tẻ và chú ý sưu tập hiện vật tiền sử cho các việnBảo tàng ở Đông Dương và Pháp Không ít những di vật tiêu biểu thời tiền sử đượcphát hiện đầu tiên ở Đồng Nai được lưu giữ tại các bảo tàng nước Pháp

- Giai đoạn thứ hai là vào những thập niên đầu của thế kỷ XX với cuộc khaiquật trên vùng Cù lao Rùa, nằm giữa sông Đồng Nai của D.Grossin (1902) vàA.Jordin (1910) Những di vật tương tự ở vùng Cù lao Rùa còn tìm được tìm thấy

ở các nơi khác ở Đồng Nai trên nhiều địa hình khác nhau từ miền đất đỏ đến vùngđất thấp phù sa cận biển Đặc biệt trong giai đoạn này là phát hiện di chỉ mộ HàngGòn do J.Bouchot chủ trì vào năm 1927 tại vùng Xuân Lộc

- Giai đoạn thứ ba vào thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX, nghiên cứu khảo

cổ học ở Đồng Nai bắt đầu mang tính chất hệ thống và khoa học với công lao tolớn của những thành viên Hội Địa chất Đông Dương Giai đoạn này, bắt đầu có sựtham gia của các nhà nghiên cứu của Việt Nam: Nghiêm Thẩm, Hoàng Thị Thân

Trang 39

Từ đây, bắt đầu hình thành sơ khởi khái niệm về một vùng văn hoá đã phát tr iểnqua các thời đại đồ đá cũ, đá mới, đồng và sắt sớm ở Đồng Nai.

- Giai đoạn thứ tư bắt đầu sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng cho đếnnay Các nhà khảo cổ học Việt Nam tiến hành điều tra, khai quật, kiểm chứng hàngloạt các địa điểm, di chỉ trên địa bàn Đồng Nai Hàng loạt các di tích, di vật quacông tác khai quật, nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ một nền văn hoá cổ xưatừng tồn tại và phát triển trên vùng đất này

Dấu tích văn hóa thời tiền, sơ sử

Hàng loạt các địa điểm trên vùng đất Biên Hòa- Đồng Nai đã phát hiệnnhững công cụ lao động của con người cổ Đó là những công cụ thuộc thời kỳ đồ

đá cũ, thời đại đầu tiên Bằng những công cụ này, người cổ Đồng Nai đã đặt dấu ấncủa mình trong lịch sử phát triển chung của nhân loại

Người cổ Đồng Nai đã duy trì sự tồn tại của mình hàng chục vạn năm và mởđầu cho tiến trình chinh phục môi trường sống, hoàn thiện dần cộng đồng ngườinhờ vào một quá trình tích lũy nhận thức lâu dài Vượt qua bao khó khăn, các lớp

cư dân cổ Đồng Nai ngày càng phát triển Họ biết đến việc làm đồ gốm, chăn nuôi

và trồng trọt Phát minh ra trồng trọt là một yếu tố quan trọng của người cổ Bộ sưutập hiện vật đa dạng được phát hiện cho thấy người cổ Đồng Nai phát triển nôngnghiệp sớm

Từ sau văn hóa đá mới, ở lưu vực sông Đồng Nai có sự bùng nổ về dân số.Người cổ Đồng Nai đã hình thành những cộng động làng cư trú và có sự phân cônglao động Hàng loạt các di chỉ cho thấy cư dân cổ Đồng Nai đã định hình các điểmdân cư, làng cư trú Khoảng 2.500 năm cách ngày nay, cư dân cổ Đồng Nai bướcvào một truyền thống văn hoá kim khí phát triển Nền văn hóa thời kỳ đồ sắt ởĐồng Nai gắn kết hai giai đọan phát triển đồng thau và sắt sớm Thời kỳ sắt sớm ởĐồng Nai được xem là giai đọan phát triển hào hùng của cư dân cổ Đồng Nai Vớinhững công cụ từ kim khí, người cổ Đồng Nai đẩy mạnh quá trình chinh phục tựnhiên, khai phá, làm nông nghiệp ngày càng mạnh mẽ; các làng dân cư nôngnghiệp được khởi nhiều nơi

Những thành tựu tiêu biểu của cư dân dân cổ Đồng Nai

+ Qua đồng Long Giao

Địa bàn Long Giao nay thuộc xã Long Giao huyện Cẩm Mỹ Qua là một loại

vũ khí, làm từ chất liệu đồng Bộ sưu tập qua đồng được phát hiện trên sườn dốc

Trang 40

ngọn núi lửa cổ Nhóm qua đồng Long Giao có đặc điểm chung là kích thước vàtrọng lượng lớn Các nhà nghiên cứu cho biết có mối quan hệ của qua đồng LongGiao với các trung tâm văn hoá cổ khác ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa Sựphát hiện qua đồng Long Giao cho thấy người cổ Đồng Nai đã biết đến luyện kim

ở trình độ cao Niên đại của qua đồng Long Giao được xác định vào nửa

sau thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên, cách đây khoảng 2.500 năm

+ Kiến trúc cự thạch Hàng Gòn

Hàng Gòn là di chỉ thuộc địa phận xã Hàng Gòn, thị xã Long Khánh Kiếntrúc cự thạch Hàng Gòn là hầm mộ được làm bởi những tấm đá hoa cương vànhững trụ đá dài, nặng được phát hiện vào năm 1927 Mộ Hàng Gòn được đánh giá

là loại hình Dolmen (đá lớn, cự thạch) lớn nhất so với các ngôi mộ thời tiền sửkhác phát hiện ở châu Á Niên đại mộ Hàng Gòn cách đây khoảng 2.000 năm.Kiến trúc mộ Hàng Gòn được Trường Viễn Đông Bác Cổ xếp hạng vào năm 1928

và ghi vào danh mục các di tích lịch sử Đông Dương Năm 1984, Việt Nam xếphạng mộ Hàng Gòn vào danh mục di tích quốc gia và là một trong 10 di tích quantrọng ở Nam Bộ

2.2.3 Đồng Nai những thế kỷ đầu Công nguyên

Lịch sử - xã hội:

Từ thế kỷ I đến thế kỷ X, Đồng Nai nằm trong lãnh thổ rộng lớn của nướcPhù Nam, sau đó là Chân Lạp Đây là những quốc gia cổ ở vùng Đông Nam Châu

Á Nước Phù Nam là một trong những quốc gia cổ được thành lập khá sớm, tồn tại

từ thế kỷ I đến thế kỷ VII Nước Chân Lạp là một thuộc quốc của Phù Nam, vàothế kỷ thứ VII đã thôn tính nước Phù Nam Địa bàn Đồng Nai xưa thuộc vùngThủy Chân Lạp- tức vùng đất ở gần biển để phân biệt với vùng đất Lục Chân Lạp(tức campuchia ngày nay) Vùng đất Đồng Nai với rừng núi bạt ngàn, chỉ có nhữngnhóm cư dân sinh sống rải rác như stiêng, Mạ, Chơro, Cơho, Mơnông, Khơme…

Cư dân trên vùng đất Đồng Nai thời kỳ này đã hình thành tổ chức xã hộimang tính bộ tộc, trong bộ tộc có nhiều thị tộc nhỏ Hình thức quản lý trong bộ tộcđược thể hiện bằng những luật tục mang tính cộng đồng, gia đình Đứng đầu mỗi

bộ tộc là tộc trưởng Những tộc trưởng này thường làm chủ để giải quyết nhữngviệc trong nội tộc và làm chủ tế các buổi lễ hội Lối cư trú của cư dân theo kiểu nhàsàn dài Mỗi nhà dài được chia làm nhiều ô cho những gia đình nhỏ trú ngụ Chế

độ gia đình theo mẫu hệ, tức người phụ nữ được coi trọng Trang phục cư dân bảnđịa rất đơn giản, đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy, ngực để trần Trang sức khácầu kỳ như vòng tay, vòng chân, khuyên tai, vòng cổ bằng đồng, bằng bạc, hạtchuỗi, hạt cườm, mã não nhiều màu sắc Một số nhóm cư dân có tục cà răng, căngtai Đời sống kinh tế chủ yếu là nông nghiệp ruộng rẫy, dựa vào thiên nhiên làchính, mang tính tự cấp tự túc Nghề chăn nuôi ít phát triển vì gia súc, gia cầmđược nuôi chủ yếu phục vụ cho các dịp tế lễ như hiến sinh, lễ cưới, cúng thần ítdùng trong sản xuất Các hoạt động săn bắt, hái lượm vẫn còn đóng vai trò thiếtthực trong đời sống của cư dân bởi đặc điểm của vùng rừng núi Đặc biệt, việcbuôn bán phát triển với thuận lợi bằng đường thủy trên tuyến sông Đồng Nai, trong

đó vùng cảng Cần Giờ giao thương với các vùng phụ cận và Đông Nam Á Sản

Ngày đăng: 02/03/2016, 12:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w