1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế toán dự phòng các khoản phải thu trong doanh nghiệp việt nam hiện nay

44 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 263 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm chung về dự phòng Theo chuẩn mực kế toán Quốc tế IAS 37: “ Một khoản dự phòng là một khoản nợ phải trả có giá trị và thời gian không chắc chắn” Trong đó, một khoản nợ phải tr

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Thông tin kế toán càng ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong nền kinh

tế thị trường Đối tượng quan tâm của thông tin kế toán không chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp, đối tác, nhà đầu tư, khách hàng trong và ngoài nước mà ngay cả các cơ quan nhà nước và hệ thống ngân hàng Chính vì vậy, thông tin

kế toán luôn không ngừng được nghiên cứu và hoàn thiện

Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, cơ chế thị trường với những ảnh hưởng của nhiều yếu tố như quy luật thị trường, quy luật giá cả, các yếu tố lạm phát, khủng hoảng kinh tế trong khu vực và trên thế giới, sự cạnh tranh gay gắt tạo ra những cơ hội thách thức và cả những khó khăn mới cho doanh nghiệp Do đó, giỏ giá tị tài sản của doanh nghiệp luôn luôn thay đổi tại các thời điểm khác nhau và có thể gây ra nhiều tổn thất, rủi roc ho doanh nghieeoj Không ít doanh nghiệp đó phá sản chỉ sau một đêm Chính vì vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để có thể phản ánh trung thực hơn, chính xác hơn giá trị tài sản của doanh nghiệp trên cáo báo cáo kế toán đồng thời có thể bù đắp được những thiệt hại, tổn thất có thể xảy ra Xuất phát từ những yêu cầu trên, đồng thời xuất phát từ nguyên tắc thận trọng, nguyên tắc giá phí mà đòi hỏi các doanh nghiệp thực hiện lập dự phòng

Theo quy định của chế độ hiện nay, doanh nghiệp phải tiến hành lập dự phòng giảm giá tài sản theo 3 loại: dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính Vì dự phòng là một nội dung có nhiều điểm mới giữa chế độ kế toán tài chính hiện nay so với

kế toán trước đây đồng thời cũng tồn tại nhiều vướng mắc và bất cập đòi hỏi

sự thay đổi điều chỉnh cho phù hợp Với lí do đó, và nhờ vào sự hướng dẫn

của ThS Trần Quý Long Điều đó là cơ sở giúp tôi thực hiện đề án “Kế toán

Trang 2

dự phòng các khoản phải thu trong doanh nghiệp Việt Nam hiện nay”

Đề án chia làm 3 phần:

- Phần 1: Cơ sở lý luận của kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi

- Phần 2: Chế độ hiện hành về kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi

- Phần 3: Một số ý kiến nhận xét và biện pháp hoàn thiện kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi

Trang 3

PHẦN I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA KẾ TOÁN DỰ PHÒNG NỢ PHẢI THU

KHÓ ĐÒI

1 Bản chất dự phòng nợ phải thu khó đòi

1.1 Khái niệm chung về dự phòng

Theo chuẩn mực kế toán Quốc tế (IAS 37):

“ Một khoản dự phòng là một khoản nợ phải trả có giá trị và thời gian không chắc chắn”

Trong đó, một khoản nợ phải trả là một nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ những sự kiện trong quá khứ, việc thanh toán các nghĩa vụ này được dự tính là sẽ làm giảm các nguồn lợi kinh tế của doanh nghiệp gắn liện với các lợi ích kinh tế

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 18- Các khoản dự phòng, tài sản và

nợ tiềm tàng (ban hành ngày 28/12/2005) thì:

“ Một khoản dự phòng là khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian”

Các khoản này đã được ghi nhận là một khoản nợ phải trả (giả định đưa ra một số ước tính đáng tin cậy) vì nó là các nghĩa vụ phải trả hiện tại và chắc chắn sẽ làm giảm sút các lợi ích kinh tế để thanh toán các nghĩa vụ về khoản

nợ phải trả đó

Tóm lại, có thể định nghĩa về dự phòng như sau:

Dự phòng thực chất là việc ghi nhận trước một khoản chi phí thực tế chưa thực chi vào chi phí kinh doanh, chi phí đầu tư tài chính của niên độ báo cáo

để có nguồn tài chính cần thiết bù đắp những thiệt hại có thể xảy ra trong niên

Trang 4

độ sau Dự phòng làm tăng tổng chi phí, do vậy nó đồng nghĩa với sự tạm thời giảm thu nhập ròng của niên độ báo cáo- niên độ lập dự phòng.

1.2 Bản chất của dự phòng nợ phải thu khó đòi

Trong nền kinh tế thị trường, tính cạnh tranh cũng như khả năng xảy ra các rủi ro trong kinh doanh là rất lớn Vì vậy các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của mình thường cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro

có thể có cũng như việc dự tính các rủi ro đó Và cũng do tính cạnh tranh gay gắt trên thị trường nên các odanh nghiệp thường đưa ra các chiến lược bán hàng hấp dẫn trong đó có chính sách bán hàng trả chậm Thực tế cho thấy trong các doanh nghiệp số nợ phải thu của khách hàng thường chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng tài sản của doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm

Hiện nay, do tính cạnh tranh cao, chiến lược bán hàng với chính sách trả chậm một mặt tạo nên sức hút cho khách hàng; mặt khác gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp, đòi hỏi sự kiện toàn trong việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi

Theo thông tư 13/TT-BTC ngày 27/2/2006 (thông tư hiện hành về việc hướng dẫn thực hiện kế toán dự phòng phải thu khó đòi) thì dự phòng nợ phải thu khó đòi là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạn nhưng có thế không đòi được do khách hàng không có khả năng thánh toán

Nói cách khác, dự phòng phải thu khó đòi chính là khoản dự tính trước vào chi phí sản xuất kinhd oanh phần giá trị bị giảm thấp xuống hơn so với giá gốc đã ghi sổ kế toán của khoản nợ phải thu khó đòi nhằm phản ánh đúng giá trị thuần có thể thực hiện được của tài sản doanh nghiệp

Trang 5

1.2.2 Mục đích của việc lập dự phòng nợ phải thu khó đòi

1.2.3 Vai trò của việc lập dự phòng nợ phải thu khó đòi

1.2.3.1 Trên phương diện kinh tế

Nhờ các khoản dự phòng giảm giá nói chung trong đó đặc biệt là dự phòng nợ phải thu khó đòi mà bảng cân đối kế toán phản ánh chính xác hơn giá trị thực

tế tài sản của doanh nghiệp

Giá trị thực tế của tài sản doanh nghiệp = Giá trị ghi sổ của tài sản- Dự phòng giảm giá tài sản đã lập

1.2.3.2 Trên phương diện tài chính

Do việc lập dự phòng giúp làm giảm lợi nhuận kì kế toán nên doanh nghiệp sẽ

có một khoản tích lũy mà đáng lẽ được phân chia cho các cổ đông, chủ sở hữu… Khoản trích này được sử dụng để bù đắp các khoản nợ phải thu khó đòi thực sự phát sinh và tài trợ cho các khoản chi phí hay lỗ đã được dự phòng khi các chi phí này phát sinh ở niên độ kế toán sau Thực chất dự phòng nợ phải thu khó đòi nói riêng và các khoản dự phòng nói chung là một nguồn tài chính của doanh nghiệp

1.2.3.3 Trên phương diện thuế

Trang 6

Dự phòng nợ phải thu khó đòi được ghi nhận như một khoản chi phí hợp lí trước thuế, làm giảm lợi nhuận phát sinh để tính ra số lợi nhuận thực tế Vì vậy, việc lập dự phòng sẽ làm cho thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của đơn vị giảm xuống một lượng đáng kể.

Đây là nguồn tài chính có được nhờ việc lập dự phòng, trì hoãn việc nộp thuế, không mất chi phí huy động, doanh nghiệp có thể đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh để sinh lời

Việc lập dự phòng phải thu khó đòi có ý nghĩa rất lớn: Nhờ có dự phòng phải thu khó đòi làm cho bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp phản ánh chính xác hơn giá trị thực tài sản của doanh nghiệp Và qua đó tạo được một quỹ đáng lẽ đã phân chia để có thể bù đắp các khoản giảm giá trị tài sản thực sự phát sinh ở niên độ sau

2 Dự phòng phải thu khó đòi được thực hiện theo nguyên tắc kế toán

2.1 Nguyên tắc thận trọng

Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính

kế toán trong các điều kiện không chắc chắn

Nguyên tắc này đảm bảo hai yêu cầu: Việc ghi tăng vốn chủ sở hữu chỉ thực hiện khi có chứng cớ chắc chắn, và việc ghi giảm vốn chủ sở hữu chỉ được ghi nhận ngay khi có chứng cứ có thể (chưa chắc chắn) Do vậy các khoản nợ phải thu khi được xác định là khoản nợ khó đòi sẽ được doanh nghiệp lập dự phòng (trích trước một khoản chi phí vào chi phí sản xuất kinh doanh để khi xảy ra sẽ có một khoản bù đắp và giúp công tác kế toán chủ động hơn Ngoài

ra, khoản dự phòng phải thu khó đòi giúp người sử dụng đánh giá đúng giá trị thực tài sản của doanh nghiệp để đưa ra quyết định phù hợp đặc biệt là các nhà quản trị doanh nghiệp

Trang 7

Bên cạnh đó nguyên tắc thận trọng đòi hỏi phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn bởi như vậy sẽ gây ra vi phạm về chính nguyên tắc thận trong Bởi nếu dự phòng phải thu khó đòi được lập quá lớn tức là chi phí được hạch toán trong kì sẽ tăng lên nhiều từ đó dẫn đến ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh trong kì (lợi nhuận giảm) từ đó phản ánh không đúng sự thật, cung cấp thông tin không chính xác cho những người quan tâm đến doanh nghiệp và có thể sẽ dẫn đến các quyết định sai của nhà quản lý Khi đó mục đích lập dự phòng để nhằm áp dụng nguyên tắc thận trong sẽ không còn ý nghĩa

2.2 Nguyên tắc phù hợp

Theo nguyên tắc này, tất cả các giá phí phải gánh chịu trong việc tạo ra doanh thu, bất kể xuất hiện ở kì nào phải phù hợp với kỳ mà trong đó doanh thu được ghi nhân Điều này có nghĩa là khoản thiệt hại nợ khó đòi phải được báo cáo cùng kỳ kế toán với doanh thu Nhưng doanh nghiệp không thể biết vào lúc nào trong thời gian bán chịu sẽ không thu được nợ do đó khoản thiệt hại cũng không thể xác định cho tới cuối kỳ kế toán Vì vậy để cho khoản thiệt hại do nợ khó đòi được ghi nhận đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc tương xứng giữa chi phí và doanh thu cần thiết phải ước tính khoản thiệt hại này vào chi phí trong niên độ Khoản chi phí này được ghi nhận trên báo cáo tài chính là một khoản chi phí hoạt động Cũng theo nguyên tắc này các số liệu của dự phòng phải thu khó đòi phải được tính toán hợp lý và phù hợp với thực tế.2.3 Nguyên tắc khác

Ngoài các nguyên tắc chủ yếu trên, kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi còn liên quan đến một số nguyên tắc như:

Trang 8

Nguyên tắc khách quan thể hiện hở việc phải căn cứ vào điều kiện cũng như tình hình khách quan để lập dự phòng Việc tính toán quy mô dự phòng phải được xác định một cách đáng tin cậy nhất.

Nguyên tắc nhất quán: trong quá trình kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi tất cả các khái niệm, nguyên tắc, tính toán phải được thực hiện trên cơ sở nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác Điều này tạo thuận lợi cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được sự thay đổi về tình hình báo cáo tài chính

PHẦN II: CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN VỀ DỰ PHÒNG NỢ PHẢI THU KHÓ ĐÒI

1 Chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam về dự phòng nợ phải thu khó đòi.1.1 Chuẩn mực kế toán quốc tế

1.1.1 Những quy định chung

Chuẩn mực kế toán quốc tế là một hệ thống các nguyên tắc kế toán trình bày BCTC, các quy định về kế toán được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới do IASB ban hành và thường xuyên nghiên cứu cập nhật bổ sung

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 37: Một khoản dự phòng chỉ được ghi nhận khi thỏa mãn các điều kiện:

Thứ nhất, DN có nghĩa vụ nợ ( trách nhiệm pháp lý hoặc trách nhiệm liên đới)

do kết quả từ một sự kiện đã xảy ra, dẫn tới sự giảm sút lợi ích kinh tế có thể xảy ra, giá trị của nghĩa vụ nợ đó có thể được ước tính một cách đáng tin cậy.Thứ hai, giá trị ghi nhận một khoản dự phòng phải là giá trị được ước tính hợp lý về khoản tiền sẽ phải chi để thanh toán nghĩa vụ nợ hiện tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm

Trang 9

Thứ ba, các khoản dự phòng phải được xem xét và điều chỉnh tại mỗi thời điểm kết thúc kỳ kế toán năm để phản ánh ước tính chính xác nhất tại thời điểm hiện tại

Chú ý: IAS 37 quy định rõ không được ghi nhận các khoản dự phòng cho lỗ hoạt động trong tương lai

1.1.2 So sánh việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi ở một số nước trên thế giới với Việt Nam

1.1.2.1 Hạch toán dự phòng nợ phải thu khó đòi ở các nước Tây Âu

Theo một số nước Tây Âu thì doanh nghiệp trích lập dự phòng giảm giá khoản phải thu khách hàng vào cuối niên độ kế toán, Theo đó phương pháp lập và hoàn nhập dự phòng được tiền hành như sau:

Kế toán tiến hành kiểm kê các khoản khách hàng đang nợ tiền của doanh nghiệp và phân loại thành 2 nhóm:

+ Khách hàng tin cậy là khách hàng thanh toán tốt

+ Khách hàng nghi ngờ là khách hàng lâm vào tình trạng phá sản, khó khăn

về tài chính,…

Tiếp đến kế toán lập dự phòng cho các khách hàng nghi ngờ trên cơ sở đánh giá khả năng mất ( không đòi được) và số tiền nợ khách hàng nợ ngoài thuế giá trị gia tăng theo công thức:

Số dự phòng nợ phải thu khó đòi = Số nợ ngoài thuế của khách hàng nghi ngờ

* số % có khả năng mất nợ

Số dự phòng đã lập cho nợ phải thu khó đòi nếu không xảy ra thì được hoàn nhập làm tăng thu nhập của doanh nghiệp

Trang 10

1.1.2.2 Hạch toán dự phòng nợ phải thu khó đòi ở Mỹ:

Hạch toán nợ khó đòi phải tuân thủ theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu

và chi phí Theo đó, chi phí nợ khó đòi phải được phản ánh trên báo cáo thu nhập cùng kỳ kế toán với doanh thu được ghi nhận Do vậy, DN phải ước tính

nợ khó đòi như sau:

a Phương pháp ước tính nợ khó đòi đưa vào thu nhập

Phương pháp này dựa trên quan điểm cho rằng trong kỳ sẽ có một tỷ lệ nhất định doanh thu bán chịu không thu được tiền và số nợ khó đòi được ước tính dựa trên tỷ lệ nợ khó đòi trên doanh thu bán chịu của kỳ trước

Chi phí nợ khó đòi ước tính= Doanh thu bán chịu* Tỷ lệ nợ khó đòi

Tỷ lệ nợ khó đòi được ước tính là số bình quân tỷ lệ thiệt hại của các năm trước đó

b Phương pháo ước tính nợ khó đòi dựa vào Bảng CĐKT

Phương pháp này dựa trên quan điểm cho rằng một phần của khoản phải thu

và ngày lập BCĐKT sẽ trở thành nợ khó đòi

+ Phương pháp giản đơn:

Với phương pháp này, doanh nghiệp ước tính có một tỷ lệ nhất định các khoản phải thu hiện có vào thời điểm cuối kỳ sẽ trở thành nợ khó đòi Tỷ lệ ước tính này dựa trên kinh nghiệm của các doanh nghiệp hoạt động trong cùng lĩnh vực Chi phí nợ khó đòi ước tính cuối kỳ được xác định như sau: Chi phí nợ khó đòi= Số dư khoản phải thu cuối kỳ * Tỷ lệ nợ khó đòi ước tính

+ Phương pháp theo thời gian nợ của từng khách nợ

Trang 11

Phương pháp này theo dõi chi tiết thời gian nợ của từng khách hàng qua đó xây dựng tỷ lệ nợ khó đòi cho từng khoảng thời gian cụ thể Nguyên tắc chung của phương pháp này là thời gian nợ quá hạn càng lớn thì tỷ lệ nợ khó đòi càng cao

Khi một khoản nợ khó đòi đã được lập dự phòng chắc chắn không thể thu hồi được, kế toán tiến hành xóa sổ khoản nợ này như sau:

Nợ TK “Dự phòng nợ khó đòi”

Có TK “ Các khoản phải thu”

Nếu sau khi doanh nghiệp đã xóa sổ một khoản nợ khó đòi đã lập dự phòng

mà khách hàng thanh toán nợ, nếu cùng niên độ kế toán ghi:

+ Bút toán 1: Hoàn nhập khoản phải thu khách hàng đã xóa sổ

1.1.3 So sánh với kế toán Việt Nam

Trang 12

Tại Việt Nam, hệ thống chuẩn mực kế toán hiện hàng do Bộ Tài Chính ban hành được Hiệp hội kế toán và kiểm toán Việt Nam đánh giá là đã tuân thủ khoảng 95% chuẩn mực kế toán quốc tế Tuy nhiên, với mỗi nước có đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa khác nhau nên việc hạch toán kế toán cũng có

sự khác nhau cơ bản Ở Việt Nam, sự đặc thù về tình hình kinh tế, hiệu quả quản lí thuế cũng như việc thích ứng phù hợp với môi trường toàn cầu của một quốc gia đang phát triển cũng góp phần làm nên một vài điểm khác biệt với việc kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi so với các quốc gia khác trên thế giới Làm phép so sánh về kế toán Việt Nam với kế toán Pháp và Mĩ như sau:

1.1.3.1 So sánh kế toán Việt Nam với kế toán Pháp về kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi

Có thể nói kế toán dự phòng ở Việt Nam đi theo xu hướng giống kế toán Pháp, cụ thể là về điều kiện trích lập, cách xử lý dự phòng, trích lập thêm Ví

dụ, việc hoàn nhập dự phòng của Pháp được ghi tăng thu nhập và Việt Nam cũng vậy (tăng thu nhập liên quan) Tuy nhiên, việc hạch toán của Pháp rất chi tiết ( thể hiện trên hệ thống tài khoản)

Như vậy, có thể nói dựa trên chuẩn mực kế toán quốc tế nói chung, ở mỗi quốc gia khác nhau lại áp dựng phương pháp hạch toán khác nhau tùy theo đặc điểm và trình độ chung của đất nước

Với dự phòng nợ phải thu khó đòi nói chung việc lập dự phòng của 2 nước tương đối giống nhau về mục đích, thời điểm lập nhưng cụ thể thì có điểm khác biệt

Với kế toán Pháp cũng như Việt nam, MDF nợ khó đòi được tính như sau:MDF phải thu khó đòi= số nợ phải thu khó đòi * số % có khả năng mất

Trang 13

Tuy nhiên, Pháp tính trên cơ sở số nợ phải thu ngoài thuế vì họ quan niệm rằng: Thuế của hàng mua bán chỉ là thuế trả hộ, thu hộ nhà nước Vì thế, phần thuế của khoản phải thu khó đòi bị mất sẽ do nhà nước chịu Còn Việt Nam lại tính trên số có thuế, tức là DN phải chịu thêm % trên số thuế bị mất.

Điều này rõ ràng thiệt cho DN Nhưng sao vẫn để như thế? Mọi người đều chung ý kiến rằng trong điều kiện hiện nay, việc kiểm soát thuế VAT phải nộp còn nhiều hạn chế, tốt nhất là chưa nên sửa đổi như với kế toán Pháp, nếu không sẽ phải đối mặt với nguy cơ thất thu thuế, chưa kể tới những gian lận thuế có rất nhiều khả năng xảy ra Nghĩa là nếu như có sự thay đổi thì điều đó đòi hỏi sự đồng bộ từ khâu quản lí quá trình thu nộp thuế của các doanh nghiệp và cá nhân, ý thức cộng đồng

Ngoài ra, khi lập dự phòng, Việt Nam và Pháp đều ghi tăng chi phí Nhưng lúc hoàn nhập thì theo chuẩn mực và thông tư trước đây đều hướng dẫn trực tiếp ghi giảm chi phí với bút toán ngược lại, còn từ thông tư mới nhất hiện nay thì việc hoàn nhập được ghi vào thu nhập liên quan giống Pháp

Ngoài ra, việc Việt Nam ghi nhận các khoản dự phòng nợ phải thu thiếu tính chi tiết là một lỗi cần khắc phục Việc chi tiết các đối tượng sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu được rủi ro và gia tăng hiệu quả quản lí với các đối tác tiềm năng hoặc tiềm ẩn rủi ro

1.1.3.2 So sánh kế toán Việt Nam với kế toán Mỹ

Kế toán Mỹ hướng dẫn và khuyến khích các DN trích lập dự phòng theo phương pháp ước tính Còn ở Việt nam khi các khoản nợ đã quá hạn hay xác định là không thể thu hồi được mới lập dự phòng, điều này vi phạm nguyên tắc phù hợp, làm cho DN không tự chủ được về mặt tài chính, tuy nhiên lại là phương pháp cực kỳ đơn giản phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam

Trang 14

Theo kế toán Mỹ việc ghi nhận một khoản khách hàng trả nợ cho khoản nợ đã xóa sổ được ghi nhận khác biệt giữa cùng niên độ kế toán và khác niên độ kế toán:

+ Nếu cùng niên độ kế toán thì ghi đảo bút toán xóa sổ sau đó ghi nhận việc thu tiền của khách hàng như bình thường

+ Nếu khác niên độ kế toán thì ghi nhận khoản tiền thu như thu nhập khác

1.2 Chuẩn mực kế toán Việt Nam

1.2.1 Khái quát về các văn bản

1.2.1.1 Khái quát chung về hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện kế toán dự phòng phải thu khó đòi ở Việt Nam

Kế toán dự phòng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và nền kinh tế biến động không ngừng Chính vì vậy, Bộ Tài chính đã không ngừng đưa ra các thông tư hướng dẫn việc thực hiện kế toán dự phòng trong đó có dự phòng phải thu khó đòi Mỗi thông tư mới ra đời không ngừng được hoàn thiện hơn để phù hợp với tình hình thực tế và điều kiện của các doanh nghiệp

Thông tư 64/TC/TCDN ngày 15/9/1997 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc trích lập và sử dụng các quỹ dự phòng trong doanh nghiệp

Thông tư 17/2001/TT-BTC ra ngày 31/12/2001 thay thế cho thông tư 64/TC/TCDN về hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng trong các doanh nghiệp cùng với thông tư 55/2002/TT/BTC ngày 26/6/2002

về hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam áp dụng cho doanh

Trang 15

nghiệp, các tổ chức có vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Tiếp đó là thông tư 13/2006/TT- BTC ra ngày 27/2/2006 hướng dẫn kế toán dự phòng phải thu khó đòi đối với các doanh nghiệp thay cho 2 thông tư cũ Gần đây nhất là thông tư 228/2009/TT-BTC được hoàn thiện và thống nhất với Chuẩn mực kế toán.

1.2.2 Giới thiệu về thông tư 228/2009/TT-BTC được sửa đổi bởi thông tư 34/2011/TT-BTC

1.2.2.1 Đối tượng và điều kiện

Khoản nợ phải đảm bảo có các điều kiện sau:

- Khoản nợ phải có chứng từ gốc, có đối chiếu xác nhận của khách nợ về số tiền còn nợ, bao gồm: hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng, cam kết nợ, đối chiếu công nợ và các chứng từ khác

Các khoản không đủ căn cứ xác định là nợ phải thu theo quy định này phải xử

lý như một khoản tổn thật

Có đủ căn cứ xác định là khoản nợ phải thu khó đòi:

+ Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ hoặc các cam kết nợ khác

+ Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế( các công

ty, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng…) đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang

bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã chết

1.2.2.2 Phương pháp lập dự phòng

Trang 16

Doanh nghiệp phải dự kiến mức tổn thất có thể xảy ra hoặc tuổi nợ quá hạn của các khoản nợ và tiến hành lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi, kèm theo các chứng cứ chứng minh các khoản nợ khó đòi nói trên Trong đó:

- Đối với nợ phải thu quá hạn thanh toán, mức trích lập dự phòng như sau:

+ 30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ trên 6 tháng đến dưới 1 năm

+ 50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm.+ 70% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm.+ 100% giá trị đối với khoản nợ phải thu từ 3 năm trở lên

- Đối với nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi hành án hoặc đã chết… thì doanh nghiệp dự kiến mức tổn thất không thu hồi được để trích lập dự phòng

- Sau khi lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi, doanh nghiệp tổng hợp toàn bộ khoản dự phòng các khoản nợ vào bảng kê chi tiết để làm căn cứ hạch toán vào chi phí quản lý của doanh nghiệp

1.2.3 Xử lí khoản dự phòng:

- Khi các khoản nợ phải thu được xác định khó đòi, doanh nghiệp phải trích lập dự phòng theo các quy định tại điểm 2 Điều này; nếu số dự phòng phải

Trang 17

trích lập bằng số dư dự phòng nợ phải thu khó, thì doanh nghiệp không phải trích lập;

- Nếu số dự phòng phải trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, thì doanh nghiệp phải trích thêm vào chi phí quản lý doanh nghiệp phần chênh lệch;

Nếu số dự phòng phải trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, thì doanh nghiệp phải hoàn nhập phần chênh lệch ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp

1.2.4 Xử lí tài chính các khoản nợ không có khả năng thu hồi

1.2.4.1 Các trường hợp được coi là nợ không có khả năng thu hồi

- Đối với tổ chức kinh tế:

+ Khách nợ đã giải thể, phá sản: Quyết định của Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo Luật phá sản hoặc quyết định của người có thẩm quyền về giải thể đối với doanh nghiệp nợ, trường hợp tự giải thể thì có thông báo của đơn vị hoặc xác nhận của cơ quan quyết định thành lập đơn vị, tổ chức

+ Khách nợ đã ngừng hoạt động và không có khả năng chi trả: Xác nhận của

cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp hoặc tổ chức đăng ký kinh doanh

về việc doanh nghiệp, tổ chức đã ngừng hoạt động không có khả năng thanh toán

- Đối với cá nhân phải có một trong các tài liệu sau:

Trang 18

+ Giấy chứng từ (bản sao) hoặc xác nhận của chính quyền địa phương đối với người nợ đã chết nhưng không có tài sản thừa kế để trả nợ.

+ Giấy xác nhận của chính quyền địa phương đối với người nợ còn sống hoặc

đã mất tích nhưng không có khả năng trả nợ

+ Lệnh truy nã hoặc xác nhận của cơ quan pháp luật đối với người nợ đã bỏ trốn hoặc đang bị truy tố, đang thi hành án hoặc xác nhận của chính quyền địa phương về việc khách nợ hoặc người thừa kế không có khả năng chi trả

Giá trị tổn thất thực tế của khoản nợ không có khả năng thu hồi, doanh nghiệp

sử dụng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi, quỹ dự phòng tài chính (nếu có)

để bù đắp, phần chênh lệch thiếu hạch toán vào chi phí quản lý của doanh nghiệp

Các khoản nợ phải thu sau khi đã có quyết định xử lý, doanh nghiệp vẫn phải theo dõi riêng trên sổ kế toán và được phản ánh ở ngoài bảng cân đối kế toán trong thời hạn tối thiểu là 10 năm, tối đa là 15 năm kể từ ngày thực hiện xử lý

và tiếp tục có các biện pháp để thu hồi nợ Nếu thu hồi được nợ thì số tiền thu hồi sau khi trừ các chi phí có liên quan đến việc thu hồi nợ, doanh nghiệp hạch toán vào thu nhập khác

Trang 19

1.2.4.2 Hồ sơ xử lí xóa sổ nợ

- Biên bản của Hội đồng xử lý nợ của doanh nghiệp Trong đó ghi rõ giá trị của từng khoản nợ phải thu, giá trị nợ đã thu hồi được, giá trị thiệt hại thực tế (sau khi đã trừ đi các khoản thu hồi được)

- Bảng kê chi tiết các khoản nợ phải thu đã xóa để làm căn cứ hạch toán, biên bản đối chiếu nợ được chủ nợ và khách nợ xác nhận hoặc Bản thanh lý hợp đồng kinh tế hoặc xác nhận của cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp,

tổ chức hoặc các tài liệu khách quan khác chứng minh được số nợ tồn đọng và các giấy tờ tài liệu liên quan

- Sổ kế toán, chứng từ, tài liệu chứng minh khoản nợ chưa thu hồi được, đến thời điểm xử lý nợ doanh nghiệp đang hạch toán nợ phải thu trên sổ kế toán của doanh nghiệp

1.2.4.3 Thẩm quyền xử lí nợ

Hội đồng quản trị (đối với doanh nghiệp có Hội đồng quản trị) hoặc Hội đồng thành viên (đối với doanh nghiệp có Hội đồng thành viên); Tổng giám đốc, Giám đốc (đối với doanh nghiệp không có Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên) hoặc chủ doanh nghiệp căn cứ vào Biên bản của Hội đồng xử lý, các bằng chứng liên quan đến các khoản nợ để quyết định xử lý những khoản

nợ phải thu không thu hồi được và chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước pháp luật, đồng thời thực hiện các biện pháp xử lý trách nhiệm theo chế

độ hiện hành

2.1 Quy định về phương pháp, tài khoản và hạch toán dự phòng phải thu khó đòi

2.1.1 Tài khoản sử dụng

Trang 20

TK 139 “ Dự phòng nợ phải thu khó đòi”

Đây là loại tài khoản điều chỉnh nên kết cấu của nó mang kết cấu của tài khoản phản ánh nguồn Cụ thể:

- Bên nợ:

+ Hòan nhập dự phòng phải thu khó đòi

+ Xử lý nợ phải thu khó đòi

- Bên có:

Lập dự phòng phải thu khó đòi ghi vào chi phí quản lí doanh nghiệp

Số dư có: Dự phòng các khoản phải thu khó đòi cuối kỳ

2.1.2 Phương pháp lập dự phòng

Đã nêu ở ý trên

2.1.3 Quy định về hạch toán dự phòng nợ phải thu khó đòi

- Cuối niên độ kế toán căn cứ vào mức lập dự phòng phải thu khó đòi được tính ghi:

Nợ Tk 642: Chi phí quản lí doanh nghiệp

Có Tk 139: Dự phòng phải thu khó đòi

- Cuối niên độ kế toán sau (N+1) tính mức dự phòng phải thu khó đòi cần lập, nếu:

+ Mức dự phòng phải trích lập bằng số dư dự phòng nợ phải thu khó đòi thì doanh nghiệp không phải trích lập

+ Mức dự phòng phải thu khó đòi cuối niên độ sau thấp hơn mức dự phòng phải thu khó đòi đã trích lập năm trước

Nợ Tk 642: Chi phí quản lí doanh nghiệp

Có Tk 139: Dự phòng phải thu khó đòi

+ Mức dự phòng phải thu khó đòi cuối niên độ sau thấp hơn mức dự phòng phải thu khó đòi đã trích lập năm trước

Nợ Tk 139: Dự phòng phải thu khó đòi

Có Tk 642: Chi phí quản lí doanh nghiệp

Khi xóa nợ phải thu khó đòi, kế toán ghi:

Nợ Tk 139: Dự phòng phải thu khó đòi

Nợ Tk 642: Chi phí quản lí doanh nghiệp

Có Tk 131: Phải thu khách hàng

Trang 21

Đồng thời ghi vào bên nợ Tk 004: Nợ khó đòi đã xử lí ( theo dõi ít nhất 5 năm tiếp theo và tiếp tục có biện pháp thu hồi)

+ Nếu khoản nợ phải thu khó đòi đã xóa, sau đó lại thu hồi được, kế toán ghi:

Nợ Tk 111,112…

Có Tk 711: Thu nhập khác

Đồng thời ghi Có Tk 004: Nợ khó đòi đã xử lý

Sơ đồ: Hạch toán dự phòng nợ phải thu khó đòi

Trừ vào quỹ dự phòng tài chính

2.1.4 Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị các khoản dự phòng

2.1.4.1 Rủi ro và các yếu tố không chắc chắn

Trang 22

Rủi ro và các yếu tố không chắc chắn tồn tại xung quanh các sự kiện và các trường hợp phải được xem xét khi xác định giá trị ước tính hợp lý nhất cho một khoản dự phòng Việc điều chỉnh các rủi ro có thể làm gia tăn giá trị các khoản nợ đã được ghi nhận Doanh nghiệp cần thận trong khi đưa ra những đánh giá trong điều kiện không chắc chắn để không làm sai lệch thu nhập hay tài sản và cũng không làm giảm chi phí và các khoản nợ Doanh nghiệp cần chú ý đến việc tránh những đánh giá trùng lặp đối với rủi ro và không chắc chắn làm tăng các khoản dự phòng

2.1.4.2 Giá trị hiện tại

Nếu ảnh hưởng về giá trị thời gian của tiền là trọng yếu thì giá trị của khoản

dự phòng cần phải được xác định là giá trị hiện tại của khoản chi phí dự tính

để thanh toán nghĩa vụ nợ

Phụ thuộc vào giá trị thời gian của tiền, các khoản dự phòng liên quan đến các luồng tiền ra phát sinh ngay sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm có giá trị thực cao hơn các khoản dự phòng có cùng giá trị liên quan đến các luồng tiền ra phát sinh muộn hơn Do đó các khoản dự phòng đều phải được chiết khấu khi giá trị thời gian của tiền có ảnh hưởng trọng yếu

Tỷ lệ chiết khấu là tỷ lệ trước thuế và phản ánh rõ những ước tính trên thị trường hiện tại về giá trị tương lai của tiền và rủi ro cụ thể của khoản nợ đó

Tỷ lệ chiết khấu không được phản ánh rủi ro đã tính đến của giá trị ước tính luồng tiền trong tương lai

2.1.4.3 Các sự kiện xảy ra trong tương lai

Những sự kiện xảy ra trong tương lai có thể ảnh hưởng đến giá trị ước tính để thanh toán nghĩa vụ nợ thì phải được phản ánh vào giá trị của khoản dự phòng khi có đủ dấu hiệu cho thấy các sự kiện đó sẽ xảy ra

Ngày đăng: 02/03/2016, 12:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w