TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐỖ MẠNH HÙNG HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI PHÁT SINH TỪ CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT TẠI KHU CÔNG NGHIỆP SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ MẠNH HÙNG
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI PHÁT SINH TỪ CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT TẠI KHU CÔNG NGHIỆP
SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ MẠNH HÙNG
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI PHÁT SINH TỪ CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT TẠI KHU CÔNG NGHIỆP
SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60.44.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Lan
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tác giả Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tác giả tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả luận văn
Đỗ Mạnh Hùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới PGS.TS Đỗ Thị Lan là giáo viên đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Ban giám hiệu, phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã dạy dỗ, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Thái Nguyên, Ban quản lý dự án các khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên, đặc biệt, xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến các doanh nghiệp mà tôi đã có điều kiện gặp gỡ, khảo sát
đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn anh em, bạn bè vì sự ủng hộ và những ý kiến đóng góp quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin cảm ơn các thành viên trong gia đình đã động viên, ủng hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn của mình
Tác giả luận văn
Đỗ Mạnh Hùng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn 4
1.1.2 Cơ sở pháp lý 5
1.2 Khái quát về chất thải nguy hại 8
1.2.1 Các định nghĩa về chất thải nguy hại 8
1.2.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại 10
1.2.3 Tác động của chất thải nguy hại đối với môi trường 11
1.3 Những kết quả nghiên cứu về quản lý chất thải nguy hại 14
1.3.1 Quản lý chất thải nguy hại trên Thế giới 14
1.3.2 Quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam 15
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
Trang 62.4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Phương pháp luận 26
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 26
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội trong khu vực thực hiện đề tài 29
3.2 Hiện trạng phát sinh chất thải nguy hại 34
3.2.1 Thành phần, khối lượng chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Sông Công 34
3.2.2 Hiện trạng thu gom, vận chuyển, quản lý và xử lý chất thải nguy hại tại khu công nghiệp Sông Công 48
3.3 Hiện trạng quản lý chất thải nguy hại 50
3.3.1 Nhận xét đánh giá công tác thực hiện quản lý chất thải nguy hại 51
3.4 Giải pháp quản lý chất thải nguy hại 55
3.4.1 Kế hoạch quản lý chất thải nguy hại cho khu công nghiệp Sông Công 55 3.4.2 Đề xuất quy trình quản lý chất thải nguy hại 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
1 Kết luận 69
2 Kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 75
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTCN : Chất thải công nghiệp CTCNNH : Chất thải công nghiệp nguy hại CTNH : Chất thải nguy hại
CTR : Chất thải rắn KCN : Khu công nghiệp KTTĐ : Kinh tế trọng điểm
NM : Nhà máy
TN & MT : Tài nguyên và Môi trường TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Chất thải công nghiệp phát sinh tại một số tỉnh, thành phố năm 2010 16Bảng 1.2 Khối lượng chất thải công nghiệp tại một số khu công nghiệp Hà
Nội năm 2009 17Bảng 1.3 Khối lượng chất thải rắn công nghiệp nguy hại từ một số ngành
công nghiệp điển hình tại các khu công nghiệp thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 18Bảng 1.4 Các công nghệ xử lý chất thải nguy hại điển hình và phổ biến hiện
nay tại Việt Nam 21Bảng 1.5 Tính tương hợp của các chất thải nguy hại 22Bảng 3.1 Phân ngành - Tỷ trọng vốn đầu tư trong khu công nghiệp Sông Công 33Bảng 3.2 Các dạng công nghiệp chính trong khu công nghiệp Sông Công 34Bảng 3.3 Thành phần, khối lượng chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động
sản xuất của các doanh nghiệp khu công nghiệp Sông Công đã đăng
ký hồ sơ quản lý chất thải nguy hại 36Bảng 3.4 Chi tiết lượng chất thải nguy hại phát sinh của từng doanh nghiệp 41Bảng 3.5 Tổng hợp lượng chất thải nguy hại của từng doanh nghiệp 43Bảng 3.6 Tỷ lệ của từng loại chất thải nguy hại phát sinh 44Bảng 3.7 Ứng dụng các biện pháp và quá trình tái sinh đối với một số chất
thải nguy hại 61Bảng 3.8 Ứng dụng các biện pháp xử lý vật lý, hóa học đối với một số chất
thải nguy hại 62Bảng 3.9 Ứng dụng biện pháp thiêu đốt đối với một số chất thải nguy hại 63
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Số lượng doanh nghiệp vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại
công nghiệp 20
Hình 1.2 Lượng chất thải nguy hại công nghiệp được xử lý hàng năm 21
Hình 3.1: Bản đồ hành chính thành phố Sông Công 30
Hình 3.2 Hình ảnh khu công nghiệp Sông Công 32
Hình 3.3 Bản đồ quy hoạch chia lô khu công nghiệp Sông Công 32
Hình 3.4 Các ngành công nghiệp trong khu công nghiệp Sông Công 35
Hình 3.5 Tỷ lệ các nhóm chất thải nguy hại 39
Hình 3.6 Tỷ lệ của từng loại chất thải nguy hại phát sinh 45
Hình 3.7 Thùng chứa chất thải nguy hại 49
Hình 3.8 Khu vực chứa chất thải nguy hại 49
Hình 3.9 Quy trình quản lý chất thải nguy hại 57
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, mối quan tâm của Thế Giới về vấn đề bảo vệ môi trường cũng được nâng cao rõ rệt Ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu mà không phải của riêng quốc gia hay vùng lãnh thổ nào Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường, trong đó ô nhiễm môi trường do chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại (CTNH) là nguyên nhân cơ bản và khó tháo gỡ nhất [16]
Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước với nhịp độ ngày càng cao, đặc biệt là sản xuất công nghiệp nhằm chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới vào năm 2020 Sự phát triển công nghiệp luôn đi kèm với áp lực về chất thải, trong đó có chất thải nguy hại (CTNH) Do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan chất thải công nghiệp (CTCN), đặc biệt là chất thải công nghiệp nguy hại (CTCNNH) là một trong những nguồn gây ô nhiễm cao, ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe con người và hệ sinh thái [13]
CTNH hiện nay là vấn đề mà các nhà môi trường học và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Do CTNH liên quan rất lớn đến sức khỏe cộng đồng và mức sống của mỗi người dân nên quản lý CTNH là một trong những vấn đề cấp thiết, nhất là tại các khu công nghiệp tập trung ở nước ta Hiện nay, vấn đề bảo vệ môi trường và quản lý CTNH ngày càng được nhà nước,
xã hội và cộng đồng quan tâm Tuy nhiên, nếu quản lý và có phương thức tái
sử dụng hợp lý CTNH cũng là nguồn nguyên liệu đầu vào rẻ, phong phú, mang lại hiệu quả kinh tế và góp phần rất lớn trong việc bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên
Sông Công là thành phố trung du của tỉnh Thái Nguyên, nằm trong vùng ảnh hưởng công nghiệp xung quanh thủ đô Hà Nội với bán kính 60km,
Trang 11là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) Bắc bộ, tham gia vào quá trình hình thành và phát triển công nghiệp vùng trọng điểm kinh tế Bắc bộ, với sự phấn đấu không ngừng, đến ngày 01 tháng 07 năm 2015 Sông Công đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 30 năm thành lập thị xã và công bố quyết định thành lâp thành phố Sông Công, thành phố Sông Công đang từng bước tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đồng thời với quá trình đô thị hóa Sông Công cũng tập trung nhiều hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội, việc tập trung đa số các ngành kinh tế đã dẫn tới các chất thải nguy hiểm ở mức độ cao làm tăng áp lực về môi trường cho thành phố Sông Công Công tác quản
lý CTNH đang trở thành vấn đề môi trường cấp bách của thành phố Hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu nào một cách đồng bộ để đánh giá hiện trạng
và các giải pháp quản lý CTNH phát sinh từ các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn KCN Sông Công cũng như trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Công tác quản lý, thu gom, phân loại, quản lý và tái sử dụng CTNH nếu được thực hiện đúng chuẩn mực, có hệ thống và công nghệ phù hợp sẽ rất
có ý nghĩa trong việc mang lại lợi ích kinh tế, bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên cho đất nước
Đề tài nghiên cứu “Hiện trạng và giải pháp quản lý chất thải nguy hại phát sinh từ các cơ sở sản xuất tại khu công nghiệp Sông Công, tỉnh Thái Nguyên” nhằm góp phần giải quyết các vấn đề khoa học và thực tiễn nói trên
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Hiện trạng phát sinh CTNH từ các cơ sở sản xuất tại KCN Sông Công tỉnh Thái Nguyên từ đó đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả CTNH cho KCN Sông Công tỉnh Thái Nguyên
Trang 122.2 Mục tiêu cụ thể
- Khảo sát và xác định những ưu thế thuận lợi về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội tác động đến sự phát triển công nghiệp của thành phố Sông Công
- Điều tra các cơ sở sản xuất tại KCN Sông Công xác định:
+ Danh sách các nguồn thải CTNH tại KCN Sông Công
+ Hiện trạng phát sinh CTNH bao gồm nguồn phát thải, lượng chất thải, thành phần chất thải
+ Hiện trạng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH của các doanh nghiệp + Những tác động của CTNH đến môi trường và sức khỏe công nhân tại các doanh nghiệp
- Hiện trạng công tác quản lý CTNH
- Đề xuất các giải pháp và quy trình quản lý CTNH phát sinh từ các cơ
sở sản xuất tại KCN Sông Công tỉnh Thái Nguyên sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn và đạt hiệu quả cao
3 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Xây dựng được quy trình quản lý CTNH hiệu quả dựa trên kết quả phân tích hoạt động quản lý CTNH hiện tại, kết hợp giữa các cơ quan quản lý, các tổ chức, đơn vị kinh doanh và các tổ chức nghiên cứu khoa học có liên quan
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTNH đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói chung và KCN Sông Công nói riêng, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, tiến tới phát triển bền vững
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn
* Cơ sở lý luận
Quản lý chất thải nguy hại (CTNH) là một vấn đề tương đối mới mẻ và đang khá bức xúc trong công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam hiện nay Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mạnh mẽ của nước ta, lượng chất thải cũng liên tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn đối với công tác bảo
vệ môi trường Theo kết quả nghiên cứu năm 2004, tổng lượng CTNH phát thải của Việt Nam trong năm 2003 vào khoảng 160 ngàn tấn và dự báo tăng lên khoảng 500 ngàn tấn vào năm 2010 Tuy nhiên, theo báo cáo của 35/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2009, số lượng CTNH phát sinh
từ các địa phương này đã vào khoảng gần 700 ngàn tấn Riêng số lượng CTNH được thu gom, vận chuyển, xử lý bởi các đơn vị hành nghề quản lý CTNH liên tỉnh do Tổng cục Môi trường cấp phép trong năm 2009 là hơn 100 tấn, chỉ đáp ứng được một phần nhỏ tổng lượng phát sinh Lượng phát thải CTNH lớn như vậy, nếu không được quản lý chặt chẽ và xử lý an toàn như những năm trước đây, là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Hơn nữa, sự phát sinh CTNH ở Việt Nam rất đa dạng về nguồn cũng như chủng loại trong khi công tác phân loại tại nguồn còn kém càng dẫn đến khó khăn cho công tác quản lý và xử lý [9]
* Cơ sở thực tiễn
Trước sự gia tăng nhanh chóng của CTNH, công tác quản lý, xử lý hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường Thực tế cho thấy, việc quản lý và xử lý chất thải không an toàn, đặc biệt là các loại CTNH, đã để lại những hậu quả nặng nề về môi trường, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe
Trang 14cộng đồng như các điểm tồn lưu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, các bãi rác không hợp vệ sinh, các bãi đổ chất thải của các nhà máy sản xuất Vì vậy, quản lý và xử lý an toàn chất thải, đặc biệt là CTNH nhằm giảm thiểu nguy cơ
ô nhiễm môi trường và hạn chế các tác động xấu tới sức khỏe con người là một trong những vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Bên cạnh đó, sau một giai đoạn phát triển kinh tế nhanh và tiêu thụ rất nhiều tài nguyên, tái chế chất thải và thu hồi tài nguyên từ chất thải đã trở thành một xu thế tất yếu Để thực hiện tái chế CTNH, cần phải có các công nghệ hợp lý [9]
Để góp phần vào công tác quản lý, xử lý CTNH, cần có cái nhìn tổng quát về hiện trạng phát sinh CTNH ở Việt Nam, đặc biệt là CTNH phát sinh
từ các khu công nghiệp, từ đó mới xây dựng được các biện pháp quản lý
CTNH hiệu quả và đồng bộ
1.1.2 Cơ sở pháp lý
Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014
Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường;
Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 của Chính phủ ban hành quy định về hoạt động quản lý CTR, quyền hạn và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan đến quản lý chất thải rắn;
Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu;
Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 quy định
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
Trang 15Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 04 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường;
Nghị định số 35/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 06 năm 2014 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 04 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường;
Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10 tháng 07 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý chất thải rắn tại các KCN và khu đô thị đến năm 2020;
Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2050;
Quyết định số 170/2012/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025;
Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành danh mục CTNH;
Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg ngày 21 tháng 06 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn tại các khu đô thị và công nghiệp;
Thông tư số 1817/1999/TT-BKHCNMT ngày 21 tháng 10 năm 1999 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường về hướng dẫn xác nhận các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư quy định tại khoản 7 danh mục I phụ lục I nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ về một số
Trang 16biện pháp khuyến khích và bảo đảm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam liên quan đến xử lý chất thải và bảo vệ môi trường;
Thông tư liên bộ số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 18 tháng
01 năm 2001 hướng dẫn các quy định về bảo vệ môi trường đối với việc chọn lựa địa điểm xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn;
Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản lý chất thải rắn;
Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 06 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý CTNH;
Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 05 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
Thông tư số 26/2015/TT-BTNMT ngày 28 tháng 05 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định đề án bảo vệ môi trường chi tiết, đề án bảo vệ môi trường đơn giản;
Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 07 tháng 08 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường về việc ban hành hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp CTNH;
Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y
tế ban hành quy chế quản lý chất thải y tế;
TCVN 6696-2009 về chất thải rắn - bãi chôn lấp hợp vệ sinh - yêu cầu chung về bảo vệ môi trường;
TCVN 6705:2009 quy định về phân loại chất thải rắn thông thường; TCVN 6706:2009 quy định về phân loại chất thải nguy hại;
TCVN 6707:2009 dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa chất thải nguy hại; TCVN 7380:2004 Lò đốt chất thải rắn y tế - Yêu cầu kỹ thuật;
Trang 17TCVN 7381:2004 Lò đốt chất thải rắn y tế - Phương pháp đánh giá và thẩm định;
TCXDVN 261:2001 Bãi chôn lấp - Tiêu chuẩn thiết kế;
TCXDVN 320:2004 Bãi chôn lấp chất thải nguy hại - Tiêu chuẩn thiết kế;
lý chất thải rắn và nhà vệ sinh công cộng;
QCVN 30:2012/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải công nghiệp;
QCVN 41:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đồng xử lý
CTNH trong lò nung xi măng
1.2 Khái quát về chất thải nguy hại
1.2.1 Các định nghĩa về chất thải nguy hại
Khái niệm về thuật ngữ “CTNH” (Hazardous Waste) lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70 của thế kỷ trước tại các nước Âu - Mỹ, sau đó mở rộng
ra nhiều quốc gia Sau một thời gian nghiên cứu phát triển, tùy thuộc vào sự phát triển khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi nước mà hiện nay trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về CTNH trong luật
và các văn bản dưới luật về môi trường Chẳng hạn như sau:
Trang 18- Định nghĩa của Philipine: CTNH là chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, hoạt tính, có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho con người và động vật
- Định nghĩa của Canada: CTNH là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người và/hoặc môi trường,
và những chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt để loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó [7]
- Định nghĩa theo UNEP 1985 (United Nations Environment Progamme): CTNH là các chất thải (không bao gồm các chất phóng xạ) có khả năng phản ứng hóa học hoặc có khả năng gây độc, gây cháy, ăn mòn, có khả năng gây nguy hại cho sức khỏe con người hay môi trường khi tồn tại riêng lẻ, hoặc khi tiếp xúc với các chất khác
- Trong đạo luật RCRA (Resource Conservation and Recovery Act - 1976: Đạo luật về thu hồi và bảo tồn tài nguyên) của Mỹ: chất thải (ở các dạng rắn, lỏng, bán rắn và các bình khí) có thể được coi là CTNH khi:
+ Nằm trong danh mục CTNH do Cục Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ EPA (United States Environmental Protection Agency) đưa ra (gồm 4 danh sách)
+ Có một trong 4 đặc tính (khi phân tích) do EPA đưa ra gồm cháy -
nổ, ăn mòn, độc tính và phản ứng Các phân tích để thử nghiệm này cũng do EPA quy định
+ Được chủ nguồn thải (hay nhà sản xuất) tự công bố là CTNH Bên cạnh đó, CTNH còn gồm các chất gây độc tính đối với con người ở liều lượng nhỏ Đối với các chất chưa có các chứng minh của nghiên cứu dịch
tễ trên con người, các thí nghiệm trên động vật cũng có thể được dùng để ước đoán tác dụng độc tính của chúng lên con người [7]
Công ước Basel không đưa ra một định nghĩa cụ thể về CTNH mà đưa
ra các phụ lục trong Công ước, trong đó xác định những chất thuộc Phụ lục I
Trang 19và có ít nhất một thuộc tính trong Phụ lục III, hoặc các chất do nước sở tại quy định trong luật pháp của nước đó, được coi là CTNH [6]
Nhìn chung, định nghĩa CTNH ở các nước tuy có khác nhau về cách diễn đạt nhưng bản chất đều nhấn mạnh đến tính chất độc hại của loại chất thải này đến môi trường và sức khỏe con người
Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm CTNH được đề cập đến một cách chính thức tại quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo quyết định số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Tại Điều 3, Mục 2 Quy chế quy định: CTNH là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây hại khác), hoặc tương tác chất với chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khoẻ con người [7]
Đến năm 2014, định nghĩa này đã được sửa đổi và hoàn thiện hơn với cách diễn đạt rất ngắn gọn và xúc tích tại Khoản 13, Điều 3 Luật Bảo
vệ môi trường 2014 Theo đó, CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác [13]
Định nghĩa về CTNH trong Luật Bảo vệ môi trường 2014 nhìn chung
là đầy đủ và rất phù hợp trong điều kiện luận án lấy bối cảnh nghiên cứu là Việt Nam Vì vậy, ta thống nhất sử dụng định nghĩa này làm định nghĩa chung cho CTNH trong luận án này Để cụ thể hóa định nghĩa này, Thông tư
số 12/2011/TT-BTNMT đã đưa ra danh mục các CTNH theo nguồn thải
1.2.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại
Các hoạt động thương mại và sinh hoạt trong cuộc sống, hay các hoạt động sản xuất công nghiệp và nông nghiệp mà CTNH có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau Việc phát thải có thể do bản chất của công nghệ, hay
do trình độ dân trí dẫn đến việc thải chất thải có thể là vô tình hay cố ý [11]
Trang 20Tùy theo cách nhìn nhận mà có thể phân thành các nguồn thải khác nhau, nhìn chung có thể chia các nguồn phát sinh CTNH thành 4 nguồn chính như sau:
Hoạt động công nghiệp (ví dụ khi sản xuất thuốc kháng sinh sử dụng dung môi methyl chloride, xi mạ sử dụng xyanua, sản xuất thốc trừ sâu sử dụng dung môi là toluen hay xylene )
Hoạt động nông nghiệp (ví dụ sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật độc hại)
Hoạt động thương mại (quá trình nhập-xuất các hàng hoá độc hại không đạt yêu cầu cho sản xuất hay hàng quá hạn sử dụng )
Sinh hoạt (ví dụ việc sử dụng pin, ắc quy )
Trong các nguồn thải nêu trên thì hoạt động công nghiệp là nguồn phát sinh CTNH lớn nhất và phụ thuộc rất nhiều vào loại ngành công nghiệp So với các nguồn phát sinh khác, đây cũng là nguồn phát sinh mang tính thường xuyên và ổn định nhất Các nguồn phát sinh từ dân dụng hay từ thương mại chủ yếu không nhiều, lượng chất thải tương đối nhỏ, mang tính sự cố hoặc do trình độ nhận thức và dân trí của người dân Các nguồn thải từ các hoạt động nông nghiệp mang tính chất phát tán dạng rộng, đây là nguồn phát sinh CTNH rất khó kiểm soát Lượng CTNH phát sinh từ các hoạt động nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nhận thức cũng như trình độ dân trí của người dân trong khu vực [7]
1.2.3 Tác động của chất thải nguy hại đối với môi trường
CTNH có thể gây tác hại nghiêm trọng đến môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng ở mức độ khó lường trước nếu không được quản lý, xử lý hợp lý Trên thế giới, có thể kể một số trường hợp điển hình về tác hại của CTNH như sau:
- Love Canal, New York được biết đến như một biểu tượng cho sự ô nhiễm môi trường do CTNH Đây là điều then chốt dẫn đến sự ra đời đạo luật Superfund vào năm 1980 ở Hoa Kỳ Vào những thập niên 1940 - 1950, đoạn
Trang 21kênh này bị phong tỏa để các công ty hóa chất dùng làm bãi thải CTNH Sau
đó, đoạn kênh này được lấp và chuyển giao cho chính quyền để xây dựng trường học và khu dân cư Vào những năm cuối của thập niên 1970, thường xuyên phát hiện có mùi hóa chất, kết quả phân tích cho thấy có sự liên quan giữa bệnh tật trẻ em ở khu vực này với nhiều dạng hóa chất (trong đó
có dioxin) [18]
- Times Beach: cũng là một sự kiện nổi tiếng tương tự Love Canal nhưng trường hợp ô nhiễm này được gây ra do dioxin.Vào những năm cuối thập niên 1960 và đầu 1970, NM gần thành phố St Louis pha lẫn dầu và nước
để phun ngăn bụi Tuy nhiên, sau đó phát hiện được nhiều sinh vật bị chết và ngay cả khi đã bóc bỏ phần đất phía trên, sinh vật vẫn tiếp tục chết Kết quả phân tích cho thấy sinh vật chết do tác động của dioxin ngấm vào đất
- Ở Minamata, Nhật Bản, thuỷ ngân vô cơ được dùng trong công nghiệp sản xuất acetaldehyde, một chất cơ bản của công nghiệp hoá chất Thuỷ ngân này theo đường nước thải chảy ra vịnh gần đó và các sinh vật đáy biển ăn phải Cá và các sinh vật biển khác dần dần bị nhiễm thuỷ ngân và cuối cùng người dân ở vùng này cũng bị nhiễm metilen thuỷ ngân
do ăn cá gây nên các bệnh tê liệt, què quặt cho hơn 20% dân số sống tại thành phố này và không thể chữa trị được, sau này được biết đến như bệnh Minamata Bệnh được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1956 nhưng thuỷ ngân thải ra biển không ngừng lại cho đến tận năm 1968 Tuy nhiên ngay cả khi việc thải thuỷ ngân ra biển đã ngừng lại, tầng nước đáy biển vẫn còn chứa một lượng lớn thuỷ ngân [25]
Qua những bài học về CTNH kể trên, ta nhận thấy CTNH có tác động đến an toàn và sức khoẻ con người:
Vấn đề an toàn:
CTNH ảnh hưởng đến vấn đề an toàn do tính chất dễ cháy nổ, hoạt tính hóa học cao, gây ăn mòn, các chất nguy hại có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của con người Ngoài ra, CTNH còn phá hủy vật liệu nhanh chóng
Do đó, chúng gián tiếp có ảnh hưởng đến an toàn và sức khỏe con người
Trang 22Những mối nguy hại tác động lên cộng đồng và môi trường:
- Nguy cơ cháy: cháy sinh ra tác động chính với con người là gây phỏng do nhiệt độ cao, gây tổn thương da, làm mất oxy gây ngạt Các tác động này có thể dẫn đến tử vong đối với con người và động vật Cháy làm phá hủy vật liệu dẫn đến phá hủy công trình Một số chất dễ cháy hay sản phẩm sinh ra từ quá trình cháy là chất độc nên gây ô nhiễm môi trường khí, nước, đất
- Nguy cơ nổ: nổ là các phản ứng hóa học xảy ra cực nhanh, giải phóng
ra một lượng khí rất lớn tạo áp suất cao cục bộ cho vùng không khí xung quanh Ngoài ra, bao bì của chất nổ cũng góp phần gây tác hại Khi nổ, vỏ bị
xé vụn và bắn ra xung quanh, có thể gây thương tích cho những đối tượng nằm trong tầm bắn của chúng
- Các phản ứng hóa học: các phản ứng hóa học ăn mòn vật liệu, làm hỏng hay sụp đổ công trình…Ăn mòn, cháy da, ảnh hưởng đến phổi và mặt Chất gây ô nhiễm không khí, nhiễm độc nước, gây ô nhiễm đất [8]
Vấn đề sức khỏe con người:
Chất nguy hại gây tổn thương cho các cơ quan trong cơ thể, kích thích,
dị ứng, gây độc cấp tính và mãn tính, có thể gây đột biến gen, lây nhiễm, rối loạn chức năng tế bào dẫn đến các tác động nghiêm trọng cho con người và động vật như gây ung thư, ảnh hưởng đến sự di truyền
Con người khi tiếp xúc với CTNH có thể biểu hiện nhiễm độc qua các triệu chứng lâm sàng và rối loạn chức năng như sau :
- Biểu hiện ở đường tiêu hóa: tăng tiết nước bọt hay khô miệng, kích thích đường tiêu hóa, nôn, tiêu chảy, chảy máu đường tiêu hóa, vàng da
- Biểu hiện ở đường hô hấp: tím tái, thở nông, ngừng thở, phù phổi
- Biểu hiện rối loạn tim mạch: mạch chậm, mạch nhanh, trụy mạch, ngừng tim
- Các rối loạn thần kinh, cảm giác và điều nhiệt: hôn mê, kích thích và vật vã, nhức đầu nặng, chóng mặt, điếc, hoa mắt, co giãn đồng tử, tăng giảm thân nhiệt
Trang 23- Rối loạn bài tiết: vô niệu,…
Bên cạnh các ảnh hưởng độc hại đối với sinh vật sống, CTNH có thể gây hư hại không khí, nước và đất Chất thải thâm nhập vào không khí có thể làm giảm chất lượng không khí một cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua việc tạo thành các chất ô nhiễm thứ cấp Các chất độc hại hòa tan, lơ lửng hay nổi trên mặt nước có thể cản trở việc sử dụng nguồn nước và ảnh hưởng đến các sinh vật nước
Đất bị ảnh hưởng bởi CTNH có thể biến đổi các tính chất vật lý, hóa học và khả năng dinh dưỡng đối với cây trồng Ví dụ đất bị ảnh hưởng của nước muối đậm đặc từ ngành hóa dầu có thể trở nên không thích hợp đối với sự phát triển của cây trồng và do vậy đất này bị cằn cỗi và dễ dàng
bị xói mòn [8]
1.3 Những kết quả nghiên cứu về quản lý chất thải nguy hại
1.3.1 Quản lý chất thải nguy hại trên Thế giới
Trên thế giới, các nước phát triển có những biện pháp quản lý CTNH rất hiệu quả:
Tại Hoa Kỳ: Hầu hết các CTNH đều phát sinh từ hoạt động công nghiệp ví dụ như các dung môi methylene chloride, đây là một loại chất gây ung thư được sử dụng trong chất tẩy sơn Trichloroethylene đây là một loại dung môi được tìm thấy trong nước ngầm tại Hoa Kỳ, uống hoặc hít phải lượng cao của Trichloroethylene có thể dẫn đến tổn thương của gan, phổi và
hệ thần kinh Trong nhiều ngành công nghiệp, lượng bùn thải còn lại sau khi
xử lý nước thải công nghiệp chiếm phần lớn các CTNH phát sinh Bùn và nước thải từ các hoạt động mạ điện thường chứa cadmium, đồng, chì và niken CTNH phát sinh từ hộ gia đình bao gồm các loại như dầu động cơ, chất làm loãng sơn và tẩy, bóng đèn huỳnh quang, các loại thuốc trừ sâu,…Các loại CTNH này có thể được vận chuyển đến địa điểm khác để được phân loại, lưu trữ hoặc xử lý, hoặc có thể được quản lý tại nơi phát sinh
Năm bang tạo ra số lượng lớn CTNH là Texas (69 triệu tấn), Tennessee (39 triệu tấn), Louisiana (17 triệu tấn ), Michigan (13 triệu tấn), và Illinois (13 triệu tấn), chiếm 70 phần trăm của tổng số quốc gia [22]
Trang 24Tại Canada: CTNH có thể phát sinh từ vô số nguồn như dư lượng từ các hoạt động công nghiệp, NM sản xuất chế biến và các bệnh viện hoặc nó
có thể là chất thải đã qua sử dụng như chất thải bôi trơn, thuốc trừ sâu,…Tại Canada, trách nhiệm quản lý và giảm thiểu chất thải được thực hiện bởi chính phủ liên bang, tỉnh và thành phố Ví dụ, chính quyền thành phố có trách nhiệm thu thập và quản lý chất thải từ các NM để tái chế, phân loại và xử lý, trong khi chính quyền tỉnh có trách nhiệm phê duyệt, cấp phép và giám sát các hoạt động quản lý chất thải [28]
Tại Hàn Quốc: Tổng lượng CTNH phát sinh năm 2005 là 3.092.597 tấn/năm trong đó bao gồm các loại CTNH chính như 24,3% axit, 22,5% dầu thải, 18,2% các chất thải dung môi hữu cơ, 13,4% tro bay, 5% bùn thải Đối với mỗi loại chất thải này tại Hàn Quốc áp dụng nhiều biện pháp quản lý riêng biệt đối với chúng Trong đó 61,1% tái chế, 17,5% chôn lấp, 16,5% thiêu đốt, 4,9% áp dụng phương pháp xử lý khác Axit thải và chất thải dung môi hữu cơ được tái chế cao, nhưng tro bay và bùn thì chủ yếu là chôn lấp 84% chất thải truyền nhiễm được tiêu hủy
1.3.2 Quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam
Theo Báo cáo môi trường quốc gia 2011 [2],
* Phát sinh chất thải công nghiệp nguy hại
CTNH chiếm khoảng 15%-20% lượng chất thải rắn (CTR) công nghiệp Đây là nguồn ô nhiễm tiềm tàng rất đáng lo ngại cho môi trường và sức khỏe của cộng đồng CTNH phát sinh từ các KCN của khu vực phía Nam khoảng 82.000 - 134.000 tấn/năm, cao hơn các khu vực khác (gấp 3 lần miền Bắc và khoảng 20 lần miền Trung) Gần một nửa số lượng CTCN phát sinh ở các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là tại Tp.Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng tàu, Bình Dương Thực tế lượng phát sinh CTNH này có thể lớn hơn do chưa được quản lý đúng cách và thống kê đầy đủ, nhiều loại CTNH được thu gom cùng rác thải sinh hoạt rồi đổ tập trung tại các bãi rác công cộng [2]
Trang 25Bảng 1.1 Chất thải công nghiệp phát sinh tại một số tỉnh, thành phố năm 2010
(Đơn vị: Tấn/ngày)
Loại đô thị Tỉnh/thành phố CTR công nghiệp
không nguy hại
CTR công nghiệp nguy hại
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2011) [2]
CTCNNH phát sinh chủ yếu tại các KCN Các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ nằm ngoài KCN cũng là nguồn phát sinh CTNH không nhỏ Nhìn chung, các
Trang 26cơ sở sản xuất này cũng nằm tập trung ở những tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương Các cơ sở sản xuất này với quy mô khác nhau, hoạt động trên các lĩnh vực sản xuất khác nhau như thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, sản xuất hóa chất, sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, sản xuất các mặt hàng điện tử, may mặc, giày da, chế biến gỗ, cơ khí đã tạo ra một lượng CTR công nghiệp nói chung và CTNH nói riêng khá lớn Việc quản lý các nguồn thải này cũng gặp nhiều khó khăn hơn so với các KCN
Bảng 1.2 Khối lượng chất thải công nghiệp tại một số khu công nghiệp Hà Nội năm 2009
(Đơn vị: Tấn/ngày)
Khu công nghiệp
Khối lượng CTR công nghiệp
Chất thải nguy hại
Chất thải không nguy hại
Tổng khối lượng
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2011) [2]
Phát sinh CTNH tăng đáng kể trong những năm gần đây Tại tỉnh Đồng Nai, ở thời điểm năm 1999, CTNH công nghiệp chỉ có 3.759 tấn/năm, năm
2000 là 5.300 tấn, năm 2001 tăng lên khoảng 6.500 tấn và đến năm 2009 là trên 20.000 tấn Tại tỉnh Quảng Ninh, xu hướng phát sinh CTNH tăng dần qua
Trang 27từng năm, đặc biệt tăng cao trong 3 năm từ 2007 đến 2009 Lượng phát sinh CTNH vào năm 2005 với 0,2 tấn/ngày và đến năm 2009 là 2,5 tấn/ngày (cao hơn 12 lần so với năm 2005) CTNH phát sinh lớn nhất là dầu thải, 2 đơn vị phát sinh dầu thải lớn nhất là Công ty cổ phần Than Núi Béo và Xí nghiệp Than Khe Sim thuộc Tổng công ty Than Đông Bắc, chiếm đến 60% lượng CTNH phát sinh năm 2005 và 70% của 9 tháng đầu năm 2009 [27]
Mức độ phát sinh CTNH công nghiệp trong các KCN tùy thuộc vào loại hình sản xuất chủ yếu Nghiên cứu năm 2009 tại vùng KTTĐ phía Nam cho thấy ngành sản xuất và dịch vụ sửa chữa phương tiện giao thông phát sinh lượng CTNH lớn nhất Trong khi đó, tại Đồng Nai, mức độ phát thải các CTNH các ngành nghề được phân bổ như sau: ngành giầy da (35%), dệt nhuộm (25%), điện
- điện tử (25%), dược phẩm (5%), và ngành nghề khác là 10%
Bảng 1.3 Khối lượng chất thải rắn công nghiệp nguy hại từ một số ngành công nghiệp điển hình tại các khu công nghiệp thuộc vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam
2 Ngành luyện kim (sản xuất thép) 5.410 - 11.840
3 Ngành sản xuất phương tiện giao thông và
dịch vụ sửa chữa
21.972 - 21.315
5 Ngành sản xuất vật liệu xây dựng 8.130 - 12.770
6 Ngành hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật 8.855 - 14.941
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2011) [2]
Việc thống kê phát thải CTNH từ các hoạt động sản xuất công nghiệp hiện nay chủ yếu dựa vào đăng ký các chủ nguồn thải Tuy nhiên, tỷ lệ các cơ
Trang 28sở đăng ký chủ nguồn thải CTNH còn thấp, đặc biệt đối với các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ và hộ gia đình, nhất là tại các làng nghề Do đó, trên thực tế tổng lượng CTNH phát sinh lớn hơn nhiều lần so với con số thống kê
* Thu gom, vận chuyển chất thải công nghiệp nguy hại
Việc thu gom CTR công nghiệp và CTNH chủ yếu do các Công ty môi trường đô thị cấp tỉnh thực hiện Lượng CTNH còn lại do các công ty/doanh nghiệp tư nhân được cấp phép đảm trách việc thu gom, vận chuyển
Trên địa bàn Tp Hà Nội cũ, tổng lượng CTR công nghiệp phát sinh tại các KCN khoảng 750 tấn/ngày, nhưng mới chỉ thu gom được khoảng 637-675 tấn/ngày Trong đó, CTNH khoảng 97-112 tấn/ngày (chiếm 13-15%), thu gom được khoảng 58-78,4 tấn/ngày (chiếm khoảng 60-70%)
Tại khu vực phía Nam, số lượng doanh nghiệp hoạt động và được cấp phép trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển CTR công nghiệp nguy hại nhiều hơn và tỷ lệ thu gom cao hơn Trong tổng số 23 công ty được Bộ TN&MT cấp phép tại Tp.HCM có 16 công ty hành nghề vận chuyển CTNH và 20 công
ty hành nghề xử lý CTNH Công ty Môi trường Đô thị Tp.HCM (CITENCO)
có trách nhiệm thu gom chất thải tại Tp.HCM và cung cấp dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải của các doanh nghiệp trong các KCN Thành phố đã ban hành Quy định về thời gian và tuyến đường vận chuyển CTNH trên địa bàn thành phố, theo đó kể từ ngày 30 tháng 6 năm 2007, CTNH phát sinh từ các
cơ sở sản xuất trong các KCN, khu chế xuất bắt buộc phải được vận chuyển trên các tuyến đường vành đai Chất thải phát sinh từ các cơ sở ngoài KCN, khu chế xuất phải được vận chuyển trên các tuyến đường xuyên tâm đến các tuyến đường vành đai
Một số KCN có cơ sở hạ tầng và công ty dịch vụ thuộc Ban quản lý các KCN phụ trách công tác thu gom chất thải Tỷ lệ thu gom CTR công nghiệp trung bình đang tăng lên cả ở trong và ngoài KCN, nhưng vẫn còn thấp ở một
số thành phố Hiện chưa có số liệu đầy đủ về tỷ lệ thu gom CTR công nghiệp
Trang 29ở từng thành phố của Việt Nam Tỷ lệ thu gom tại các KCN tương đối cao hơn so với bên ngoài KCN
* Xử lý, tiêu hủy chất thải công nghiệp nguy hại
Theo Quy hoạch các khu xử lý CTR công nghiệp liên vùng, liên tỉnh, đến năm 2020, 4 vùng KTTĐ đều sẽ xây dựng khu xử lý CTR công nghiệp và CTNH Đó là các khu xử lý Nam Sơn, Sơn Dương ở vùng KTTĐ Bắc Bộ; Hương Văn, Bình Nguyên, Cát Nhơn ở vùng KTTĐ miền Trung; Tân Thành, khu xử lý CTR công nghiệp nguy hại Tây Bắc Củ Chi ở vùng KTTĐ phía Nam; khu xử lý CTR công nghiệp và CTNH vùng liên tỉnh ở vùng KTTĐ vùng ĐBSCL Cho đến nay, các khu xử lý CTR công nghiệp liên tỉnh, liên vùng này hầu như chưa được hình thành
Số lượng các đơn vị hành nghề vận chuyển và xử lý CTNH được Bộ TN&MT cấp phép gia tăng hàng năm Tính đến tháng 6 năm 2011, Bộ TN&MT
đã cấp 80 Giấy phép hành nghề vận chuyển CTNH và 43 Giấy phép hành nghề
xử lý CTNH cho các cá nhân, tổ chức đăng ký Các doanh nghiệp này được Bộ TN&MT hoặc Sở TN&MT cấp tỉnh cấp giấy phép hoạt động Hầu hết các doanh nghiệp thu gom và xử lý CTR công nghiệp nguy hại đều tập trung ở phía Nam
Hình 1.1 Số lượng doanh nghiệp vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại
công nghiệp
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2011) [2]
Trang 30Số lượng CTNH công nghiệp được xử lý cũng tăng theo các năm Theo kết quả thống kê từ năm 2008 đến nay, dựa trên báo cáo của các chủ xử lý, lượng CTNH được xử lý tăng từ 85.264 lên đến 129.688 tấn/năm (tăng 34%)
Hình 1.2 Lượng chất thải nguy hại công nghiệp được xử lý hàng năm
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2011) [2]
Hiện nay, công nghệ xử lý CTNH đang được áp dụng phổ biến ở Việt Nam, bao gồm lò đốt tĩnh hai cấp (trên 50%), hoá rắn (bê tông hoá), chôn lấp
Bảng 1.4 Các công nghệ xử lý chất thải nguy hại điển hình
và phổ biến hiện nay tại Việt Nam
5 Xử lý, tái chế dầu thải 20 20 3 - 20 tấn/ngày
8 Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải 9 9 0,5 - 200 tấn/ngày
12 Tận thu kim loại (xử lý xỉ
kẽm, tận thu muối kim loại) 4 10 0,1 - 1 tấn/h
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2011) [2]
Trang 31Xử lý CTNH cũng cần phải chú ý đến tính tương hợp của chất thải: Tính tương hợp của chất thải với các chất thải khác cũng như vật liệu của thùng chứa là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình lưu chứa, vận chuyển và xử lý CTNH Hình sau đây trình bày tóm tắt những phản ứng có thể xảy ra khi các chất phản ứng tiếp xúc với nhau và có thể gây cháy, nổ, nguy hiểm:
Bảng 1.5 Tính tương hợp của các chất thải nguy hại
1 Các axit vô cơ có tính
F: Cháy GF: Khí có khả năng bốc cháy GT: Khí độc hại
H: Phát nhiệt S: Hòa tan chất độc hại
Trang 32Đánh giá hiệu quả xử lý và môi trường của các công nghệ đã được cấp phép, theo báo cáo quản lý CTNH định kỳ, báo cáo giám sát môi trường của các cơ sở xử lý CTNH do Bộ TN&MT cấp phép cũng như kết quả thanh tra, kiểm tra những năm vừa qua cho thấy hầu hết các công nghệ xử lý CTNH đã được cấp phép đều đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành, đảm bảo hiệu quả xử lý cam kết khi đăng ký hành nghề, phát thải đạt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
Nhìn chung, các công nghệ hiện có của Việt Nam còn chưa hiện đại, sử dụng các công nghệ đa dụng cho nhiều loại CTNH và thường ở quy mô nhỏ, nhưng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu xử lý CTNH Tuy nhiên, để thực sự đảm bảo công tác quản lý CTNH đạt yêu cầu, cần phát triển công nghệ xử lý CTNH tại Việt Nam cả về chất lượng và số lượng Ngoài ra, cần nghiên cứu chuyên biệt hoá các công nghệ để xử lý các loại CTNH đặc thù Bên cạnh đó cần phải tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra để đảm bảo các công nghệ đã được cấp phép hoạt động tuân thủ đúng quy định, đạt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
* Quản lý chất thải nguy hại tại Thái Nguyên
Trong những năm vừa qua, công tác bảo vệ môi trường ở Thái Nguyên
đã có tiến triển tốt, công tác quản lý chất thải đặc biệt là CTNH cũng được quan tâm, giải quyết Đối với CTCN, một phần CTCN đã được phân loại để tận thu, tái chế, xử lý, còn phần lớn vẫn được đổ thải trong các bãi thải của
NM, nhưng hầu hết các bãi thải không được xây dựng, quản lý đảm bảo vệ sinh đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước xung quanh khu vực, hoặc đổ thải bừa bãi hoặc được tận dụng để san lấp mặt bằng Chất thải xây dựng chưa được thu gom và quản lý, một phần được tận dụng để san lấp mặt bằng, một phần đang đổ thừa bừa bãi
Trang 33Đối với CTNH bước đầu đã được các chủ nguồn thải thu gom, phân loại
và quản lý theo quy định, nhưng chưa triệt để, vẫn còn tình trạng đổ thải và bán CTNH không theo quy định
Về chất thải y tế nguy hại chủ yếu phát sinh tại các bệnh viện bao gồm bệnh viện Đa Khoa Trung ương Thái Nguyên, 9 bệnh viện cấp tỉnh và 9 bệnh viện cấp huyện với số liệu thống kê năm 2006 của toàn thành phố là 9.846 kg/ngày đêm Phần lớn các bệnh viện đều được trang bị thùng rác để phân loại chất thải Hầu hết lượng rác thải y tế trên thành phố Thái Nguyên đều được thu gom bởi công ty môi trường đô thị Chất thải bệnh viện sau khi được thu gom tới khu tập trung sẽ được Công ty môi trường đô thị thu gom tiếp trong khoảng thời gian từ 1 - 2 ngày một lần và được vận chuyển đến bãi rác của thành phố để xử lý thiêu đốt [12]
Qua nghiên cứu cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý, các nghiên cứu trong
và ngoài nước về CTNH tác giả nhận thấy đối với môi trường của Việt Nam nói chung và thành phố Sông Công nói riêng, CTNH là vấn đề cấp thiết cần phải nghiên cứu Tác giả khẳng định đề tài này chưa có một ai làm tại địa bàn nghiên cứu cũng như nhận học vị sau đại học về lĩnh vực này Chính vì vậy, tác giả đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu và tiến hành thực hiện đề tài này
Trang 34Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiện trạng và công tác quản lý CTNH phát sinh tại một số cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn KCN Sông Công
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là CTNH phát sinh tại một số doanh nghiệp đang hoạt động thuộc KCN Sông Công - tỉnh Thái Nguyên
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Tại một số cơ sở sản xuất công nghiệp hoạt động trên địa bàn KCN Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 07/2014 đến 07/2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, các nội dung nghiên cứu của luận văn bao gồm:
- Những ưu thế, thuận lợi về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội tác động đến sự phát triển công nghiệp của thành phố Sông Công:
+ Vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, địa hình, giao thông, kinh tế, thủy văn + Cơ sở hạ tầng, cơ cấu dân số, đặc điểm lao động, việc làm và các nguồn tài nguyên
- Hiện trạng phát sinh CTNH và khả năng tác động đến môi trường + Lập danh sách các nguồn thải CTNH tại KCN Sông Công
+ Xác định hiện trạng phát sinh CTNH bao gồm nguồn phát thải, lượng chất thải, thành phần chất thải
+ Hiện trạng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH của các doanh nghiệp + Tác động của CTNH đến môi trường và sức khỏe công nhân tại các doanh nghiệp
Trang 35- Hiện trạng công tác quản lý CTNH tại KCN Sông Công
- Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất giải pháp và quy trình quản lý CTNH hiệu quả tại KCN Sông Công
2.4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp luận
CTNH có tính độc hại cao đối với môi trường, do đó cần được quản lý một cách nghiêm ngặt Đã có các quy định từ Trung ương đến địa phương đối với công tác này nhưng hiệu quả chưa cao Do đó, trên cơ sở phân tích đánh giá những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý CTNH, đưa ra các giải pháp khắc phục để nhằm xây dựng quy trình quản lý hiệu quả hơn
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu
2.4.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và tổng hợp các tài liệu
Mục tiêu của phương pháp này nhằm thu thập các số liệu, tài liệu liên quan đến đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu; các văn bản pháp quy về quản lý CTNH; các tài liệu; kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới cũng như ở Việt Nam có liên quan đến CTNH Nguồn sưu tầm từ các tài liệu đã công bố, từ các kinh nghiệm được đào tạo hay qua các chuyến tham quan, học hỏi, từ internet
2.4.2.2 Phương pháp khảo sát hiện trạng
Phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập thông tin tổng quan về các cơ sở có phát sinh CTNH trong KCN, nắm bắt được thực trạng và những tồn tại của công tác quản lý CTNH trong KCN Dưới sự giúp đỡ của các cơ quan chuyên môn, học viên có điều kiện tiếp xúc với các doanh nghiệp, trao đổi và lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp Tiến hành khảo sát, ghi nhận thực
tế tại các doanh nghiệp KCN Sông Công về hiện trạng quản lý CTNH làm cơ
sở tư liệu cho đề tài
2.4.2.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Lập phiếu điều tra phỏng vấn với những nội dung sau:
+ Thông tin về doanh nghiệp
+ Thông tin về chất thải
Trang 36+ Phân loại chất thải
+ Đóng gói chất thải
+ Thiết bị lưu chứa
+ Khu vực lưu giữ tạm thời
+ Hình thức phỏng vấn là phỏng vấn trực tiếp, phát phiếu điều tra
Tiến hành phỏng vấn điều tra 71 doanh nghiệp đồng thời có sự cân đối
về trình độ học vấn, lứa tuổi, nghề nghiệp, chức vụ, trong đó có sự ưu tiên chọn đối tượng phỏng vấn là cán bộ phụ trách về môi trường, an toàn vệ sinh lao động của công ty
+ Đối tượng được phỏng vấn: Cán bộ, công nhân viên làm việc trong các doanh nghiệp trong KCN Sông Công, những cán bộ chuyên môn ham hiểu về lĩnh vực môi trường
2.4.2.4 Phương pháp tham vấn chuyên gia
Để đưa ra những phương pháp phù hợp với nội dung nghiên cứu, đề tài
đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia là chuyên viên của các cơ quan chuyên môn thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên, Chi cục Bảo
Trang 37vệ Môi trường Thái Nguyên, cán bộ quản lý, cán bộ trực tiếp quản lý về môi trường và thầy cô về các vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn
2.4.2.5 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Với phương pháp này, từ kết quả điều tra thu được, đề tài sử dụng phần mềm Excel để thống kê các nguồn phát thải, lượng CTNH phát sinh từ các doanh nghiệp trong KCN Sông Công Trên cơ sở đó, xác định hệ số phát thải CTNH
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội trong khu vực thực
hiện đề tài
* Khu công nghiệp Sông Công
KCN Sông Công thuộc thành phố Sông Công, Thành phố Sông Công là một đơn vị hành chính được thành lập theo Quyết định số 113/QĐ-HĐBT ngày 11/4/1985 của Chính phủ (mới thành lập là thị xã) Thành phố Sông Công có vị trí khá thuận lợi, cách thành phố Thái Nguyên 20km về phía Nam, cách hồ Núi Cốc 17km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 45km, cách Hà Nội 60km về phía Bắc, nằm trong vùng ảnh hưởng công nghiệp xung quanh thủ
đô Hà Nội Thành phố Sông Công nằm ở vùng trung du Bắc bộ, tiếp giáp giữa vùng rừng núi và đồng bằng Bắc bộ, có nhiều đường giao thông thủy bộ ngang dọc, có Quốc lộ 3, đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên và tuyến đường sắt Hà Nội - Quan Triều chạy qua Sau 25 năm xây dựng và phát triển, tháng 10/2010 thị xã Sông Công được công nhận là đô thị loại III theo Quyết định số 925/2010/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng
Trang 39Hình 3.1: Bản đồ hành chính thành phố Sông Công
Sông Công là thành phố công nghiệp, trung tâm kinh tế, hành chính, văn hóa - xã hội phía Nam của tỉnh Thái Nguyên; là đầu mối giao thông, giao lưu phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của vùng Đông Bắc Bắc
Bộ Với vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du, Sông Công có các tuyến giao thông quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua nối với Thủ đô Hà Nội ở phía Nam và thành phố Thái Nguyên ở phía Bắc, là điều kiện rất thuận lợi để đẩy mạnh giao thương với các vùng kinh tế Bắc Thủ đô Hà Nội, phía Nam vùng Trung du miền núi phía Bắc mà Trung tâm là thành phố Thái Nguyên và các vùng kinh tế Tam Đảo - Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang
Trang 40Với lợi thế đặc biệt, Sông Công từ lâu đã được xác định là trung tâm công nghiệp lớn và là đô thị bản lề, trung chuyển kinh tế giữa các vùng trong
và ngoài tỉnh Thái Nguyên
Cùng với phát triển kinh tế, thành phố đã triển khai có hiệu quả các quy hoạch ngành, lĩnh vực được cấp có thẩm quyền phê duyệt: Định hướng đến năm 2015 thành phố trở thành thành phố thuộc tỉnh, đến năm 2020 thành phố
là đô thị được xác định để đầu tư cho cơ sở hạ tầng phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ nằm trong trục phát triển công nghiệp và đô thị phía Nam của tỉnh Thái Nguyên Trong chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2012 -
2020, thành phố Sông Công nằm trong danh mục đô thị được nâng cấp lên đô thị loại II Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên, định hướng phát triển đến năm 2020 đã khẳng định hệ thống đô thị Thái Nguyên phát triển theo hướng lấy công nghiệp và dịch vụ làm nền tảng và hệ thống đô thị hiện tại làm hạt nhân, trong đó Sông Công là 01 trong 04 đô thị trung tâm cấp tỉnh
KCN Sông Công thuộc thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên KCN Sông Công là một trong những công trình trọng điểm Dự án khả thi xây dựng
và kinh doanh kết cấu hạ tầng, KCN Sông Công được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt số: 181 ngày 01/9/1999 Diện tích theo quy hoạch tổng thể: 320 ha; diện tích giai đoạn I: 70 ha
Hiện tại, trên địa bàn thành phố Sông Công đã và đang thu hút nhiều dự án đầu tư về đô thị như: Khu đô thị Kosy 40ha, khu dân cư đường Thống Nhất 20ha, khu đô thị 2 đầu cầu cứng Sông Công, sẽ góp phần tăng tỉ lệ đô thị hóa trên địa bàn thành phố, đưa thành phố sớm đạt được như kế hoạch đã đề ra