1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy Địa lí ở trường trung học phổ thông Thiên Hộ Dương

39 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài: Dạy học theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm được cụ thể hóa trong khoản 2, điều 28, Luật giáo dục năm 2005, cụ thể: “Phương pháp giáo dục phổ thông ph

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Dạy học theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm được cụ thể hóa trong

khoản 2, điều 28, Luật giáo dục năm 2005, cụ thể: “Phương pháp giáo dục phổ

thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng tự làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Việc

giảng dạy tăng cường tính tích cực là một hướng nghiên cứu đáp ứng những yêu cầu đặt ra

Trong điều kiện đất nước có nhiều đổi mới, từ kinh tế đến xã hội đều phát triển, đòi hỏi nền giáo dục nước nhà cũng phải thay đổi, cũng phải phát triển phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước Một trong những đổi mới của giáo dục là phải đổi mới phương pháp dạy của người thầy và phương pháp học của trò, trong đó đề cao vai trò chủ thể nhận thức của người học

Môn Địa lí trong trường phổ thông cùng với những môn học khác tạo nên nền tảng kiến thức phổ thông cho học sinh So với nhiều môn học khác thì Địa lí là môn học có nhiều mảng kiến thức thích hợp thực hiện dạy học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm

Thực tiễn giáo dục hiện nay tại các trường phổ thông chịu sự tác động của nhiều nhân tố Từ việc đổi mới chương trình sách giáo khoa, kinh tế xã hội phát triển, những dịch vụ cũng phát triển, tệ nạn xã hội, tâm lý nhận thức học sinh thay đổi đã tác động nhiều đến quá trình dạy học hiện tại

Trường THPT Thiên Hộ Dương được thành lập vào năm 2007, so với các trường khác trong Tỉnh thì Thiên Hộ Dương là trường mới thành lập, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và truyền thống của Trường đang được xây dựng Với vị trí tọa lạc tại Phường 6, Thành Phố Cao Lãnh, mặc dù thuộc địa phận thành phố nhưng về

cơ bản là một trường vùng ven, không khác gì so với một trường vùng nông thôn

Trang 2

Với ưu thế là một trường mới thành lập, cơ sở vật chất đang trên đà được đầu

tư, giáo viên trẻ, tích cực năng động và gần trường Đại học Đồng Tháp, rất thuận lợi

để tác giả thực hiện đề tài, vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy Địa lí ở trường trung học phổ thông Thiên Hộ Dương” làm đề tài nghiên cứu khoa học trong năm học 2011 – 2012

2 Mục tiêu của đề tài:

Mục tiêu của đề tài là vận dụng những phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy Địa lí ở trường phổ thông, cụ thể trường THPT Thiên Hộ Dương

3 Nhiệm vụ của đề tài

Để đạt được mục tiêu của đề tài, những nhiệm vụ cụ thể cần thực hiện:

- Tìm hiểu lí luận cơ bản về quá trình dạy học, về những phương pháp dạy học nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh trong quá trình học tập

- Tìm hiểu về thực tế việc giảng dạy địa lí tại trường trung học phổ thông Thiên Hộ Dương, trên cơ sở thực tế quá trình dạy học, tác giả kết hợp với những giáo viên tại trường nhằm vận dụng những phương pháp dạy học nhằm tăng

cường tính tích cực của học sinh vào quá trình dạy học địa lí

4 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài quá trình dạy học tích cực môn địa lí ở trường phổ thông

5 Phạm vi nghiên cứu

Trường trung học phổ thông Thiên Hộ Dương, cụ thể học sinh khối lớp 10 và lớp 12

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Trên cơ sở mục tiêu của đề tài, tác giả tìm những tài liệu phân tích quá trình dạy học địa lí ở trường phổ thông, từ đó tác giả đối chiếu, so sánh và phân tích đặc điểm quá trình dạy học ở trường THPT Thiên Hộ Dương nhằm đưa ra những nhận định cho hướng thực hiện của đề tài

Tác giả nghiên cứu hệ thống tài liệu về phương pháp dạy học, đặc biệt là hệ thống phương pháp dạy học nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh

Tác giả sưu tầm những tài liệu trình bày về những kỹ thuật thực hiện các phương pháp dạy học tích cực

Trang 3

Trên cơ sở những tài liệu thu thập, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp nhằm vận dụng vào cụ thể ở trường phổ thông

6.2 Phương pháp quan sát

Tác giả tiến hành quan sát quá trình dạy học ở trường trung học phổ thông Thiên Hộ Dương, từ đó định hướng thực hiện đề tài và đưa ra những đề xuất, giải pháp hợp lí cho việc dạy học tăng cường tính tích cực của người học, cụ thể như phương pháp phỏng vấn, phương pháp thảo luận nhóm Cụ thể:

+ Phương pháp phỏng vấn: tác giả tiến hành phỏng vấn giáo viên về thực

tiễn quá trình dạy học địa lí tại trường; tác giả tiến hành phỏng vấn học sinh tại trường về phương pháp học tập môn Địa lí của học sinh; tác giả tiến hành phỏng vấn những nhà quản lí của Trường…

+ Phương pháp thảo luận nhóm: tác giả tiến hành trao đổi với những giáo

viên giảng dạy địa lí tại trường, cùng thảo luận về việc vận dụng những phương pháp cũng như những kỹ thuật nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh trong quá trình học tập

6.3 Phương pháp thực nghiệm

Tiến hành thực nghiệm dựa trên quá trình giảng dạy thực tế của giáo viên, từ

đó rút ra những nhận xét việc vận dụng dạy học nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học Trên cơ sở thực nghiệm từng giờ dạy, đút kết kinh nghiệm và vận dụng linh hoạt các phương pháp nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh trong quá trình giảng dạy

7 Lịch sử nghiên cứu đề tài

- Quan điểm giảng dạy địa lí trong trường phổ thông theo hướng tăng cường tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học đã và đang được nghiên cứu, những kết quả nghiên cứu cụ thể như:

+ Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc, Lí luận dạy học Địa lí, NXB ĐHSP

Hà Nội, 2003 Trong tài liệu trên, nhóm tác giả đã phân tích hệ thống phương pháp dạy học nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học địa lí ở trường phổ thông Bên cạnh đó, tài liệu cũng đã đưa ra những yếu tố tác động đến dạy và học tích cực hiện nay ở trường phổ thông

Trang 4

+ Đặng Văn Đức, Lí luận dạy học địa lí đại cương, NXBĐHSP Hà Nội,

2005 Giáo trình cũng đã cung cấp đầy đủ hệ thống những phương pháp giảng dạy nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học Địa lí

+ Nguyễn Đức Vũ, Phương pháp dạy học Địa lí ở trường phổ thông, NXB Giáo dục, 2005 Tài liệu cũng chỉ ra đặc điểm của quá trình dạy học địa lí ở trường phổ thông và đưa ra hệ thống những phương pháp dạy học nhằm tăng cường tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học

- Bên cạnh những tài liệu trên, hệ thống lí luận về dạy học tích cực như: + G.S TSKH Thái Duy Tiên, Viện khoa học giáo dục với bài báo “Phát huy tính tích cực nhận thức của người học” Trong bài viết, tác giả đã phân tích rất rõ những nhân tố tác động tích cực đến quá trình dạy học địa lí hiện nay Đặc biệt, tác giả đã phân tích rất rõ những nhân tố bên ngoài (môi trường xã hội) tác động rất nhiều đến dạy học tích cực

+ Nguyễn Ngọc Quang cũng đã phân tích bản chất của quá trình dạy học nói chung và những đặc điểm của các thành tố tạo thành quá trình dạy học

- Những công trình khoa học trên là cơ sở tác giả tiến hành vận dụng những phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy ở trường phổ thông, cụ thể là trường THPT Thiên Hộ Dương

8 Giả thuyết khoa học

Đề tài phân tích rõ thực tiễn quá trình dạy học tại trường phổ thông hiện nay, từng bước vận dụng linh hoạt các phương pháp nhằm tăng cường vai trò tích cực, chủ động của học sinh vào quá trình dạy học

9 Cấu trúc của đề tài

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Vận dụng dạy học tích cực vào trường THPT Thiên Hộ Dương 2.1 Vận dụng sơ đồ nội dung môn Địa lí ở trường phổ thông vào giảng dạy 2.2 Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học

2.3 Sử dụng phương tiện, thiết bị truyền thống vào giảng dạy

2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy

2.5 Kỹ thuật khơi gợi động cơ, tạo và duy trì hứng thú của học sinh

2.6 Vận dụng dạy học tích cực vào giảng dạy tại trường THPT THD

Chương 3: Thực nghiệm

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Quá trình dạy học địa lí ở trường phổ thông

“Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển

của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, biết tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện tốt mục tiêu dạy học”[1, trang 26]

Trên cơ sở phân tích định nghĩa quá trình dạy học, những điểm cần chú ý khi tiến hành các thao tác có liên quan đến quá trình dạy học:

Hoạt động dạy: là quá trình tổ chức nhận thức cho học sinh của người giáo

viên

Bản chất của dạy học là tổ chức các tình huống học tập, các tình huống gia

cố, trong đó học sinh sẽ hoạt động tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viên nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học

Trong quá trình này, học sinh luôn luôn phải hoạt động tích cực, giáo viên luôn tăng cường cũng cố kiến thức cho học sinh, khen thưởng, xác nhận một cách kịp thời

Hoạt động học tập: là một quá trình hoạt động tự giác, tích cực của học sinh

nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển trí tuệ, thể chất và hình thành nhân cách của bản thân

Bản chất của học tập là quá trình tiếp thu, xử lí thông tin bằng các hành động trí tuệ và chân tay, dựa vào vốn sinh học và vốn kinh nghiệm đã có của cá nhân, từ

đó có được tri thức, kĩ năng, thái độ mới

Như vậy, trong học bao giờ cũng có tự học, không thể có ai học thay được Tuy nhiên chúng ta muốn nhấn mạnh tự học là nói tới sự tự giác, tích cực và độc lập cao

Có nhiều cách học: học có chủ định và không có chủ định, học bền vững (có thể phát triển lên được) và học không bền vững, học bị động theo kiểu hình thành phản xạ có điều kiện cổ điển, còn gọi là điều kiện của Pavlop, học chủ động theo

Trang 6

kiểu điều kiện hoá tác động của B F Skinner, học giáp mặt (với thầy), học từ xa Cần kết hợp nhiều cách học để có thể nâng cao chất lượng và hiệu quả

Quá trình dạy học là một hệ thống cân bằng động, gồm nhiều nhân tố tác động qua lại lẫn nhau theo những quy luật và nguyên tắc nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học, nhiệm vụ đạt chất lượng và hiệu quả dạy học

Dạy học về bản chất là một quá trình thiết kế và góp phần thi công của người giáo viên Còn học tập về bản chất là một quá trình tự thiết kế và trực tiếp thi công của người học sinh có sự hướng dẫn, hỗ trợ của giáo viên nhằm đạt chất lượng và hiệu quả dạy học

Trên cơ sở nghiên cứu những thành tố cơ bản của quá trình dạy học, để đề tài đạt kết quả như mục tiêu đề ra, tác giả phải nghiên cứu những nội dung cơ bản sau: phương pháp dạy học của giáo viên; phương tiện kỹ thuật vận dụng vào bài dạy; tâm sinh lý học sinh; hoạt động của học sinh; những hình thức kiểm tra, đánh giá cơ bản; nội dung môn địa lí ở trường phổ thông

Tính tích cực nhận thức trong học tập liên quan với động cơ học tập Động

cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh ra nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo và ngược lại

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về tính tích cực của học sinh, tuy nhiên, tất cả những quan điểm trên đều có những dấu hiệu như: hăng hái, chủ động, tự giác

Trang 7

tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trên những cái đã biết Sáng tạo vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống

Các cấp độ của tính tích cực:

+ Bắt chước: cố gắng thực hiện theo các mẫu hành động của thầy của bạn… + Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một vấn đề …

+ Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới độc đáo hữu hiệu

Trên cơ sở phân tích những nội dung cơ bản của tính tích cực, một điều quan trọng muốn học sinh học theo quan điểm này thì giáo viên phải tạo ra được một cảm giác mới, lạ, thu hút sự chú ý của học sinh trong bài dạy của mình

1.1.3 Phương tiện, thiết bị trong dạy học hiện nay

Khoa học đã chứng minh, khi ta vận dụng tất cả các giác quan của học sinh vào quá trình dạy học thì hiệu quả sẽ cao hơn những hoạt động thông thường, cụ thể:

Bảng 1 Vai trò các giác quan trong việc học [1, trang 320]

Trong việc tiếp thu tri thức (%) Trong việc lưu giữ tri thức (%)

“Phương tiện dạy học là những dụng cụ, máy móc, thiết bị, vật dụng cần

thiết cho hoạt động dạy và học đạt được các mục tiêu dạy học có hiệu quả hơn”[1,

trang 317]

Trên cơ sở phân tích định nghĩa, một vấn đề cần chú ý là khi sử dụng phương tiện, phải làm cho mục tiêu dạy học đạt hiệu quả hơn

Trang 8

Phương tiện dạy học được sử dụng trong địa lí hiện nay được phân loại thành phương tiện dạy học địa lí truyền thống và phương tiện dạy học địa lí hiện đại Những phương tiện dạy học địa lí truyền thống gồm sách giáo khoa, tranh ảnh, bản

đồ giáo khoa, Atlat Những phương tiện dạy học hiện đại gồm máy tính điện tử, máy chiếu, hệ thống phần mềm hỗ trợ học tập…

1.1.4 Phương pháp dạy học

Trong quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm, hệ thống các phương pháp sau thường xuyên được sử dụng trong tiết dạy địa lí tại trường phổ thông

- Phương pháp giảng giải

- Phương pháp đàm thoại tái hiện

- Phương pháp đàm thoại tìm tòi

- Phương pháp thảo luận

- Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ giáo khoa

- Phương pháp động não

- Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề

1.2 Tổng quan về trường THPT Thiên Hộ Dương

Trường THPT Thiên Hộ Dương tọa lạc tại khóm 05, phường 06, TP Cao Lãnh, Đồng Tháp, được thành lập vào năm 2007 theo quyết định số 188/QĐ-TL-UBND, ngày 17.11.2006 của UBND tỉnh Đồng Tháp Từ năm học 2007 – 2008 đến năm học 2008 - 2009, trường phải mượn tạm cơ sở vật chất của trường Tiểu học Thực hành Sư phạm nên gặp rất nhiều khó khăn, đến năm học 2009 – 2010 trường

đã chuyển về cơ sở mới với những thách thức mới, cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, bóng cây xanh chưa cho bóng mát, phòng thực hành thí nghiệm vẫn chưa xây dựng xong nhưng với 100% đội ngũ giáo viên đạt chuẩn đào tạo và 2 thạc sĩ cùng với tinh thần quyết tâm nâng cao chất lượng giáo dục so với năm học 2008 – 2009 nên trong năm học 2009-2010 trường đạt khá nhiều thành tích: 1 giải A, 2 giải B, 1 giải C, 1 giải KK thi đồ dùng dạy học cấp tỉnh; 4 giải thi học sinh giỏi cấp tỉnh; 6 giải phong trào; 13 huy chương trong cuộc thi HKPĐ cấp tỉnh Và năm học 2009 – 2010, trường có khối lớp 12 đầu tiên, kết quả đạt được khá cao: tỉ lệ tốt nghiệp đạt 87,7% đứng 13/39 trường trong toàn tỉnh, tỉ lệ đỗ ĐH-CĐ 2010 nguyện vọng 1 đạt 66% đứng thứ 6/39 trường trong toàn tỉnh Đây là động lực để thầy và trò của trường thi đua đạt nhiều thành tích trong năm học 2010 – 2011: 5 giáo viên đạt danh hiệu giáo

Trang 9

viên dạy giỏi cấp tỉnh, 9 giáo viên được bằng khen của tỉnh, 27 giáo viên đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, 7 tổ nhận được giấy khen của Sở khen tặng tập thể lao động tiên tiến, 2 giải KK thi đồ dùng dạy học và 1 giải sáng tạo kỹ thuật cấp tỉnh dành cho giáo viên; về phía học sinh số giải tăng lên cả về chất và lượng: 7 giải thi học sinh giỏi cấp tỉnh, 14 giải phong trào, 5 giải thi TNTH, 1 bằng khen UBND tỉnh khen tặng thành tích học tập của học sinh, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THPT đạt cao hơn năm trước 97,76%

Bên cạnh những thành tựu đó, trường THPT Thiên Hộ Dương hiện nay còn một số vấn đề cơ bản sau:

1.2.1 Về phía Trường

Trường THPT Thiên Hộ Dương thành lập tính đến năm học 2012-2013 được

6 năm Với 6 năm hình thành và phát triển cho thấy Nhà trường còn không ít khó khăn về cơ sở vật chất cũng như đội ngũ giáo viên

Qua phỏng vấn học sinh và nghiên cứu hồ sơ học sinh, đa số học sinh trong trường có hộ khẩu tại Phường 6, Xã Tân Thuận Đông, Xã Tịnh Thới, Xã Tân Thuận Tây, một số học sinh còn lại của các phường khác trong thành phố Về kinh tế, những xã, phường trên chủ yếu là nông nghiệp Chính vì vậy thu nhập của người dân so với các phường khác trong tỉnh chưa cao Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình đầu tư vào học tập của con em họ

Do là trường mới thành lập nên phương tiện dạy học đáp ứng những yêu cầu

cơ bản của giáo viên và học sinh

1.2.2 Về phía giáo viên

Trường THPT Thiên Hộ Dương hiện nay có 65 giáo viên và cán bộ Trong

số đó, có khoảng 7 giáo viên có tuổi đời từ 50 tuổi trở lên, còn lại có tuổi đời trung

bình khoảng 30 tuổi, giáo viên trẻ tuổi nhất là 26 tuổi (nguồn: Website Trường) Đối

với môn địa lí, trường có hai giáo viên nữ, tuổi đời trung bình 29 tuổi Bên cạnh hai giáo viên, Hiệu trường nhà trường cũng có chuyên môn Địa lí Mặc dù có dạy ít tiết

để đủ chuẩn, nhưng Hiệu trưởng không thuộc biên chế chuyên môn Địa lí

Qua những số liệu trên, một vấn đề quan trọng đầu tiêu của giáo viên trường Thiên Hộ Dương hiện nay là đa số tuổi đời giáo viên là trẻ Chính yếu tố trẻ này tạo nên một nguồn nhân lực dồi dào cho Trường, giáo viên năng động, tích cực trong

Trang 10

giảng dạy, nhưng kinh nghiệm chuyên môn chưa nhiều Chính đều này gây không ít khó khăn cho quá trình phát triển của nhà Trường

Nhà trường đã trang bị hệ thống phương tiện thiết bị vào dạy học Về cơ bản, những phương tiện đó đáp ứng được yêu cầu Để nâng cao trình độ của học sinh cũng như tạo được một môi trường mới trong học tập của học sinh, giáo viên nên tạo thêm nhiều phương tiện dạy học khác Chính việc tạo thêm phương tiện dạy học

và sử dụng chúng vào quá trình dạy học mới tạo được sự tò mò, gây hứng thú cho học sinh, từ hứng thú mới tạo động cơ, từ động cơ mới sinh ra tính tích cực Trên cơ

sở tò mò, hứng thú dần dần hình thành cho học sinh tính tự giác trong học tập và nghiên cứu

Việc sưu tầm những vật thật hay tái tạo vật thật thành mô hình dạy học ít được giáo viên sử dụng Thông qua việc khảo sát thì sách giáo khoa, bản đồ giáo khoa treo tường, atlat địa lí là những phương tiện giáo viên thường sử dụng, còn những phương tiện khác như mô hình, vật thật, bản đồ giáo khoa tự làm, tranh ảnh

tự tìm, mô hình tự làm thì giáo viên ít sử dụng Chính việc sử dụng những phương tiện truyền thống đã làm giảm khả năng tập trung cũng như chưa khuyến khích hứng thú của học sinh trong quá trình học tập

Tổng thể cả quá trình dạy học giáo viên chưa khai thác hết khả năng của học sinh Cụ thể qua khảo sát những hình thức học tập mà học sinh thích nhất đó là môi trường tự nhiên, khu di tích lịch sử, khu du lịch, sân trường; những hình thức kiểm tra, đánh giá học sinh thích là tìm tài liệu học tập, phát biểu ý kiến tại lớp, viết bài thu hoạch; những phương tiện dạy học của giáo viên mà học sinh thích là vật thật, sách giáo khoa, tranh ảnh có sẵn ở trường, tranh ảnh tự tìm, mô hình từ làm, video giáo khoa… nhưng giáo viên chỉ thực hiện được một số thao tác sau: giảng dạy trên lớp; đánh giá qua phát biểu trên lớp, đầu giờ, 15 phút, một tiết; sử dụng những phương tiện quen thuộc như sách giáo khoa, bản đồ treo tường, atlat địa lí

1.2.3 Đặc điểm học sinh

Học sinh các lớp được chia theo nguyên tắc điểm Những học sinh có điểm cao được xếp vào các lớp đầu Những học sinh có điểm thấp được xếp vào các lớp cuối Việc phân chia này có những đặc điểm nổi bậc là phân loại được trình độ để đào tạo cho tốt, nhưng chính phân chia này dẫn đến hệ quả là những lớp đầu học tập

Trang 11

tốt, còn những lớp sau lại là những lớp học trung bình, hoặc yếu, rất khó “kéo” học sinh lên

Việc sử dụng thời gian trong ngày của học sinh hiện nay nhiều nhất là học tại trường, trung bình 8 giờ, ngủ 8 giờ, chuẩn bị bài 2 giờ, xem lại bài 1 giờ, xem tivi 2 giờ, đi chơi với bạn 1 giờ, thời gian còn lại trong ngày thì thực hiện các công việc khác Trong các khoảng thời gian hoạt động trong ngày, thời gian chú ý học tập tại nhà ít Trong khảo sát, thời gian chuẩn bị bài học tại nhà của học sinh cao nhất là 3 giờ/ngày, thấp nhất là 20 phút/ngày Tương tự, thời gian xem lại bài đã học nhiều nhất là 4 giờ, ít nhất là 15 phút, đa số trả lời là 1 giờ

Qua việc khảo sát, tất cả học sinh đều rất quan tâm đến Internet, đều biết Internet và sử dụng Internet thành thạo Tuy nhiên, sau khi phỏng vấn từng học sinh

về việc sử dụng những gì trên Internet thì trên 90% là chơi game, số còn lại là chat, mail, đọc báo… Khi được hỏi có giáo viên nào hướng dẫn cách ứng dụng Internet vào học tập chưa hoặc có hình thức nào khuyến khích học tập thông qua Internet thì học sinh trả lời rất ít Việc biết sử dụng Internet là một nội dung tốt, cần phát huy Tuy nhiên, do thiếu định hướng sử dụng Internet trong học tập đã dẫn đến việc học sinh phí thời gian trên những phương tiện hiện đại

Bên cạnh việc một số học sinh không có thời gian phụ giúp gia đình thì vẫn còn đại đa số học sinh có khoảng thời gian phụ giúp gia đình Thời gian phụ giúp gia đình nhiều, từ 1 đến 5 giờ/ngày, đa số là 2 giờ/ngày Chính việc thời gian phụ giúp gia đình nhiều đã ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của học sinh

Thông qua việc phát phiếu khảo sát và dự giờ chuyên môn của hai giáo viên, tác giả đề tài đã rút ra những kết luận về hiện trạng giảng dạy địa lí tại trường THPT Thiên Hộ Dương Trên cơ sở hiện trạng, tác giả tiến hành vận dụng lí luận cụ thể để nâng cao tính tích cực của học sinh trong quá trình học tập địa lí

Trang 12

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO TRƯỜNG THPT THIÊN HỘ DƯƠNG

2.1 Vận dụng sơ đồ nội dung môn Địa lí ở trường phổ thông vào giảng dạy

Một đặc điểm quan trọng trong việc dạy học địa lí ở trường phổ thông hiện nay không chỉ riêng giáo viên địa lí tại trường Thiên Hộ Dương mà còn một số trường khác trong tỉnh là chưa chú ý nhiều đến sơ đồ nội dung môn địa lí ở trường phổ thông Việc này dẫn đến việc giảng dạy nội dung theo trình tự Sách giáo khoa,

ở mức độ Biết (theo thang phân loại nhận thức của Bloom), rất khó để giúp học sinh hiểu toàn bài, phân tích từng nội dung, vận dụng vào thực tiễn,… Từ đó, học sinh chỉ học thuộc lòng, học biểu hiện bên ngoài của kiến thức, chưa đi sâu vào vấn đề

Bảng 2: Sơ đồ nội dung môn địa lí ở trường phổ thông

Qua sơ đồ này, khi tiến hành giảng dạy, giáo viên cần phải phân tích được nội dung có trong bài đang dạy thuộc mảng nào, kiến thức hay kỹ năng, trong kiến

NỘI DUNG MÔN ĐỊA LÍ

thuyết

Thực tiễn

Bản đồ

Sd dụng cụ

NC ĐL

Làm việc tài liệu ĐL

Mô hình sáng tạo…

Trang 13

thức là kiến thức gì, mối liên hệ giữa các kiến thức; đối với kỹ năng là kỹ năng gì, hướng dẫn học sinh thực hiện từng kỹ năng đó như thế nào

Bên cạnh việc chú ý đến sơ đồ trên, giáo viên cần chú ý đến các mức độ nhận thức của Bloom có trong bài học (được quy định trong chuẩn kiến thức) Việc xác định đúng mức độ và dạy học theo các mức độ của thang phân loại nhận thức Bloom giúp học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, tích cực hơn

2.2 Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học

Trong thực tế dạy học, giáo viên thường chọn các phương pháp dạy học nhưng chưa chú ý đến bản chất của phương pháp, quy trình thực hiện

Bảng 3: Một số phương pháp giảng dạy thường sử dụng trong môn Địa lí Phương

pháp

Định nghĩa Bản chất Quy trình Nội dung môn

địa lí có thể vận dụng

Giảng giải Là phương pháp

người giáo viên khéo léo dùng lời nói để giảng

và giải thích

Những kiến thức mang tính logic cao

Giáo viên giảng và giải thích, học sinh nghe

Khái niệm, quy luật

Giáo viên hỏi Học sinh suy nghĩ trong khoảng thời gian ngắn (10 đến 30 giây) Học sinh trả lời

Giáo viên nhận xét

Những dấu hiệu của khái niệm, quy luật, Sự kiện, Số liệu

Thảo luận Là phương pháp

người giáo viên đặt ra những chủ đề để học

Chủ đề không

có đáp án sẵn

có, chủ đề không phải chỉ

Chuẩn bị thảo luận

Tiến hành thảo luân (nêu

Mối quan hệ nhân quả

Học thuyết Quan điểm, tư

Trang 14

sinh giải quyết một hướng giải

quyết

chủ đề chung, chia nhóm, nêu yêu cầu cụ thể nhóm, các nhóm làm việc, GV quan sát, các nhóm báo cáo)

từ những bản đồ giáo khoa

Phải có bản đồ giáo khoa

3 mức độ đọc bản đồ giáo khoa: liệt kê, giải thích và liên hệ

Quy trình đọc bản đồ giáo khoa: tên bản

đồ, tỉ lệ bản

đồ, bảng chú giải, các đối tượng có trên bản đồ

Trang 15

2.3 Sử dụng phương tiện, thiết bị vào giảng dạy

Phương tiện, thiết bị có vai trò to lớn trong việc tạo hứng thú, khơi gợi động cơ để hình thành tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học hiện nay

Những phương tiện dạy học truyền thống của Địa lí như bản đồ giáo khoa (Atlat, Bản đồ giáo khoa treo tường, Bản đồ giáo khoa trong sách giáo khoa), tranh ảnh, mô hình… về cơ bản được trang bị đầy đủ tại trường nhưng chưa đủ để thực hiện dạy học tích cực Người giáo viên cần phải đầu tư nhiều hơn nữa để bài dạy sinh động, hiệu quả hơn

Những phương tiện người giáo viên cần chuẩn bị gồm:

+ Sơ đồ tóm lượt những nội dung cơ bản của bài;

+ Những số liệu liên quan đến bài và những bài liền kề để học sinh liên hệ, phân tích, so sánh;

+ Tranh ảnh để học sinh tìm tri thức Tranh ảnh là nguồn tài liệu cơ bản nhất người giáo viên sử dụng Tranh ảnh tạo biểu tượng nhằm hình thành những khái niệm trừu tượng cho học sinh Việc sử dụng tranh ảnh đòi hỏi người giáo viên phải khéo léo, linh hoạt Nếu sử dụng tranh ảnh không đúng cách, hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa cho kiến thức, không phải là nguồn tri thức, vì thế giờ dạy chỉ mang tính thụ động, trình chiếu là chính, không phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh;

+ Bản đồ là nguồn tư liệu vô cùng quan trọng, là đặc thù của môn Địa lí Bản

đồ có nhiều nguồn, từ sách giáo khoa, Atlat, bản đồ treo tường Những bản đồ hiện tại đã được biên soạn từ trước, một số bản đồ không phù hợp với nội dung mới của sách giáo khoa Một yêu cầu thiết yếu trong dạy học địa lí là người giáo viên phải tạo ra được những bản đồ trống, từ những bản đồ trống thiết lập những phiếu học tập, trên cơ sở phiếu học tập, người giáo viên tổ chức các hoạt động của lớp theo hướng tăng cường tính tích cực của học sinh

Để sử dụng phương tiện thiết bị mang hiệu quả cao, giáo viên cần chú ý lựa chọn những phương tiện phù hợp với nội dung bài dạy, thời gian treo phương tiện lên, kết hợp phương tiện với phương pháp dạy học

Trang 16

2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy

Để ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, giáo viên cần phải chú ý những vấn đề sau:

- Sử dụng hệ thống phần mềm và Internet để cập nhật thông tin, kiến thức giảng dạy Một vấn đề khi ứng dụng công nghệ thông tin mà giáo viên thường “bỏ quên” là ứng dụng công nghệ thông tin để thu thập kiến thức, dữ liệu mới, hình ảnh, phim giáo khoa… trên cơ sở đó, giáo viên mới hệ thống hóa lại kiến thức giảng dạy của mình, phần nào là kiến thức địa lí cơ bản, phần nào cần giảng giải thêm để mở rộng, phần nào hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phần nào yêu cầu báo cáo…Có thực hiện công đoạn này, giáo viên mới có sức thu hút của học sinh, tạo nên hứng thú học tập

- Thiết kế giáo án: trên cơ sở những dữ liệu đã có, giáo viên phải thiết kế giáo án Giáo án có sử dụng công nghệ thông tin sẽ khác hẵn so với giáo án không ứng dụng công nghệ thông tin Đối với giáo án có ứng dụng công nghệ thông tin, những hoạt động sẽ nhanh hơn, nhiều hơn và khoa học hơn Học sinh sẽ xem nhiều hiệu ứng hơn, hoạt động nhiều hơn và phải ghi bài ít hơn Để học sinh có được những kiến thức cơ bản của bài, giáo viên cần chuẩn bị cho học sinh những phiếu học tập có sẵn để học sinh dễ theo dõi

- Thiết kế giáo án điện tử: thiết kế giáo án điện tử là công đoạn cuối cùng, công đoạn chuyển những hoạt động giản đơn trên lớp lên máy tính điện tử Một vài điểm chú ý khi thiết kế giáo án điện tử là chọn màu nền không quá chói, tránh thiết

kế những hiệu ứng không cần thiết Cần khai thác tốt các hiệu ứng để giải thích những quy luật, những hiện tượng, mối quan hệ…

Ứng dụng công nghệ thông tin là một xu hướng tất yếu ở các trường phổ thông hiện nay Nếu giáo viên biết cách thiết kế và khai thác hợp lý thì hiệu quả dạy học được cải thiện đáng kể, nếu không, hiệu quả chẳng những không cải thiện mà quá trình dạy học trở thành quá trình “chụp – chiếu”

2.5 Kỹ thuật khơi gợi động cơ, tạo và duy trì hứng thú của học sinh

Do thành lập các lớp học dựa trên nguyên tắc là điểm số nên những lớp đầu,

có điểm số cao, học sinh học rất tốt, tác phong học nghiêm túc, còn những lớp cuối của từng khối thì ngược lại, học sinh thụ động, kết quả học tập không cao

Đối với trường hợp này, người giáo viên cần chú ý một số kỹ thuật sau:

Trang 17

+ Đối với lớp giỏi: cần nâng mức độ nhận thức trong bài học Cụ thể, hạn chế mức độ biết, tăng cường mức độ hiểu, vận dụng Đối với phương pháp dạy học, giáo viên hạn chế sử dụng phương pháp giảng giải và đàm thoại tái hiện, tăng cường sử dụng đàm thoại tìm tòi, thảo luận, nêu vấn đề, báo cáo

+ Đối với những lớp trung bình và yếu: đối với những lớp này, học sinh thụ động, ít phát biểu

- Nguyên nhân cơ bản:

* Nguyên nhân cơ bản là học sinh chưa hiểu hết những kiến thức những môn

cơ bản trên lớp giáo viên dạy, như toán, lý, hóa, anh văn, văn…từ đó có những mặc cảm, không chủ động trong đóng góp ý kiến của bài học Nguyên nhân này có yếu

tố khách quan và chủ quan Khách quan là do lớp đông, giáo viên đặt mục tiêu dạy theo mức trung bình chung của lớp, chính vì vậy những học sinh chậm về mặt nhận thức sẽ có những hiểu biết chậm hơn những học sinh khác Vì lớp đông, giáo viên ít chú tâm vào những học sinh này nên những kiến thức hỏng ngày càng nhiều, dẫn đến học sinh ngán học, ham chơi Còn chủ quan là do học sinh không chịu học

* Hoàn cảnh gia đình: bên cạnh việc có một số gia đình học sinh có kinh tế khá, có rất nhiều gia đình học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn Điều này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của học sinh Không phải tất cả những học sinh

có hoàn cảnh gia đình khó khăn đều học không tốt, thậm chí một số học sinh đã vượt lên hoàn cảnh để có kết quả học tập tốt Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên thời gian học sinh phụ giúp gia đình nhiều, thời gian tập trung học thêm, học bài, xem bài trước khi đi học ít Bên cạnh việc gia đình khó khăn, thì một số học sinh lại rơi vào trường hợp bố mẹ ly dị, ly thân, gia đình không hạnh phúc, mồ côi… Những trường hợp trên cũng tác động không nhỏ đến quá trình học tập của học sinh trong quá trình học tập

* Do sức khỏe: một số học sinh vì sinh lý cá biệt nên e dè, nhút nhác

* Học sinh bị môi trường bên ngoài tác động nên thời gian tập trung cho bài học tại lớp và tại nhà ít Với sự phát triển của kinh tế xã hội ngày nay thì học sinh rất dễ bị môi trường cám dỗ

- Một số kỹ thuật cơ bản khuyến khích học sinh phát biểu trong giờ học Đối với những lớp học có học sinh thụ động trong quá trình học tập, đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư nhiều hơn cho bài dạy của mình Ngoài việc đầu tư nội

Trang 18

dung giảng dạy, phương tiện dạy học mới, hình thức tổ chức thì người giáo viên cần chú ý những kỹ thuật sau:

+ Động viên: muốn động viên học sinh đòi hỏi người giáo viên phải hiểu tâm

tư, nguyện vọng cũng như hoàn cảnh của từng học sinh Để làm được việc này đòi hỏi người giáo viên phải trò chuyện bên ngoài lớp với học sinh nhiều hơn, hoặc trao đổi với giáo viên chủ nhiệm lớp để biết tình hình từng em trong lớp của mình

Trên cơ sở biết được hoàn cảnh của từng học sinh, giáo viên từng bước giáo dục tư tưởng học sinh, chú ý vào học tập của bản thân Điều quan trọng là từng bước giáo viên tìm cách lấp “lỗ trống” về mặc kiến thức cho học sinh

+ Biết tên học sinh: hiện nay, do dạy nhiều lớp nên rất nhiều giáo viên không biết tên học sinh trong lớp hoặc biết không hết tên của học sinh Việc này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc tích cực, chủ động của học sinh Nếu giáo viên gọi đích danh học sinh A, B hay C trả lời câu hỏi thì cảm giác của học sinh sẽ vui hơn, thích hơn là gọi em “đầu bàn 3”, tổ trưởng, lớp trưởng

Để biết và nhớ tên học sinh, giáo viên cần phải làm quen và hỏi tên học sinh ngay từ buổi đầu, định vị chỗ ngồi và lập lại nhiều lần Giáo viên nên nhớ tên ban cán sự trước, gồm lớp trưởng, các lớp phó, tổ trưởng, sau đó nhớ tên các thành viên trong lớp Việc ghi nhớ này phải từ từ, không nóng vội Ngoài ra, giáo viên cần phải chuẩn bị một số cái tên thông thường, dễ nhớ như Cúc, Thanh, Tuấn, Minh… để gọi học sinh trong lớp một cách ngẫu nhiên, từ đó định vị chỗ ngồi, nhớ gương mặt

+ Đánh giá học sinh lúc phát biểu ý kiến

Đánh giá là khâu rất quan trọng trong quá trình học tập Mục tiêu cơ bản của đánh giá là xác nhận mức độ của học sinh để học sinh biết được năng lực bản thân ở đâu trong hệ thống chuẩn kiến thức cần lĩnh hội mà tự học, tự nâng cao trình độ theo yêu cầu chung

Đánh giá có nhiều khâu, nhiều hình thức, từ đánh giá đầu vào, đánh giá quy trình, đánh giá kết quả, với nhiều hình thức như tự đánh giá, kiểm tra, tìm thông tin,…

Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh hiện nay chưa thể hiện được mục tiêu của đánh giá, mà trái lại, đánh giá làm cho học sinh “ngán ngẫm” việc học tập của mình

Trang 19

Trong dạy học theo quan điểm tăng cường tính tích cực của học sinh trong quá trình học tập, yếu tố học sinh tích cực đóng góp bài là một khâu then chốt Để học sinh tích cực phát biểu, giáo viên nên đánh giá học sinh Tùy theo bản chất câu hỏi là tái hiện hay tìm tòi, nếu tái hiện, giáo viên không nên đánh giá điểm tối đa, còn câu hỏi tìm tòi, giáo viên nên đánh giá điểm tối đa Nếu kỹ thuật này thực hiện thường xuyên, liên tục thì chỉ cần giáo viên đặt câu hỏi, không cần biết giáo viên có cho điểm hay không, học sinh có biết hết nội dung hay không thì tự nhiên học sinh

sẽ xung phong phát biểu ý kiến của mình, vì bản thân học sinh luôn luôn mong muốn được đánh giá những ý kiến của mình

Bên cạnh thực hiện kỹ thuật này, giáo viên phải duy trì và kết hợp với những hình thức đánh giá truyền thống là kiểm tra đầu giờ, kiểm tra 15 phút, vì nếu không thực hiện, học sinh sẽ chủ quan, không học bài mà chỉ chú tâm vào tìm hiểu kiến thức mới

+ Hướng dẫn học sinh học tập

Trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy, phải chú ý đến khâu đổi mới phương pháp học tập Vì không đổi mới phương pháp học tập của học sinh thì mục tiêu đổi mới giáo dục không đạt, vì chỉ giáo viên đổi mới, còn học sinh thì không

Giúp học sinh học tập trong điều kiện hiện nay giáo viên cần nhiều thời gian hơn trong khâu cũng cố, dặn dò của tiết học Trong khâu này, giáo viên cần định hướng cho học sinh tiết sau học sinh cần chuẩn bị những nội dung nào, phương tiện

gì, thông tin gì, tranh ảnh gì… Nên nhớ một điều ra yêu cầu học sinh chuẩn bị là phải kiểm tra vào tiết sau, xem học sinh có chuẩn bị không, chuẩn bị đến đâu Nếu học sinh nào chuẩn bị tốt, khen ngợi hoặc đánh giá, còn học sinh nào không chuẩn

bị phải nhắc nhở, thậm chí phạt học sinh Có như thế mới hình thành và duy trì được cách học của học sinh

Cụ thể, giáo viên yêu cầu học sinh đọc bài trong SGK trước ở nhà, chuẩn bị những câu hỏi để học sinh tự trả lời

Hướng dẫn những sách, báo, tài liệu, địa chỉ website học sinh có thể tìm tài liệu để trả lời những phần giáo viên đã hỏi

+ Hướng dẫn học sinh tìm thông tin bài học thông quan Internet

Ngày đăng: 02/03/2016, 06:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Vai trò các giác quan trong việc học [1, trang 320] - Vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy Địa lí ở trường trung học phổ thông Thiên Hộ Dương
Bảng 1. Vai trò các giác quan trong việc học [1, trang 320] (Trang 7)
Bảng 2: Sơ đồ nội dung môn địa lí ở trường phổ thông - Vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy Địa lí ở trường trung học phổ thông Thiên Hộ Dương
Bảng 2 Sơ đồ nội dung môn địa lí ở trường phổ thông (Trang 12)
Bảng 3: Một số phương pháp giảng dạy thường sử dụng trong môn Địa lí - Vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy Địa lí ở trường trung học phổ thông Thiên Hộ Dương
Bảng 3 Một số phương pháp giảng dạy thường sử dụng trong môn Địa lí (Trang 13)
Hình 1: Bài 12, SGK Địa lí 10, Cơ bản - Vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy Địa lí ở trường trung học phổ thông Thiên Hộ Dương
Hình 1 Bài 12, SGK Địa lí 10, Cơ bản (Trang 21)
Bảng trả lời. - Vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy Địa lí ở trường trung học phổ thông Thiên Hộ Dương
Bảng tr ả lời (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w