1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ

116 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 27,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt nam là một nước nông nghiệp có điểm xuất phát thấp, với trên 70% dân số sống ở nông thôn và khoảng gần 50% lao động xã hội làm việc trong nông nghiệp, năng suất khai thác ruộng đất

Trang 1

ĐẶT VÂN ĐỀ 1- Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội cung cấp nhiều loại sản phẩm thiết yếu cho đời sống xã hội, là thị trường rộng lớn của nền kinh

tế, cung cấp nguồn nhân lực và tạo nên tích luỹ ban đầu cho phát triển đất nước

Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, nông nghiệp đóng vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế Hầu hết các nước phải dựa vào sản xuất nông nghiệp để tạo sản lượng lương thực, thực phẩm cần thiết đủ để nuôi sống dân tộc mình và tạo nền tảng cho các ngành, các hoạt động kinh tế phát triển

Việt nam là một nước nông nghiệp có điểm xuất phát thấp, với trên 70% dân số sống ở nông thôn và khoảng gần 50% lao động xã hội làm việc trong nông nghiệp, năng suất khai thác ruộng đất và năng suất lao động còn thấp….Để giải quyết những vấn đề này thì thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng với nước ta

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một bộ phận cấu thành rất quan trọng của

cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta Xây dựng cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế nước ta không những là mục tiêu, mà còn

là yêu cầu cấp thiết đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm tạo dựng một ngành nông nghiệp có cơ cấu kinh tế hợp lý, qua đó phát huy mọi tiềm năng sản xuất, phát triển nền nông nghiệp sản suất hàng hóa lớn, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho người nông dân Do đó, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương là hết sức cần thiết

Đất là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp Việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết đối với mỗi quốc gia, nhằm

Trang 2

duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho tương lai Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đúng hướng sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng đất, nhờ vậy đời sống người dân sẽ được nâng lên

Tuy nhiên, nền nông nghiệp nước ta mang tính thuần nông, công nghệ lạc hậu, sử dụng đất trong nông nghiệp chưa thực sự hiệu quả dẫn tới cơ cấu nông nghiệp còn nhiều bất cập, nhất là trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước

Vì thế trong thời gian tới, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất là nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách của mọi cấp, mọi ngành và mọi tầng lớp nhân dân

Hạ Hoà là một huyện vùng cao của Tỉnh Phú Thọ, có nhiều tiềm năng thế mạnh phát triển kinh tế nhưng chưa được khai thác hiệu quả, cho nên việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện đến năm 2020 có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng

Mặt khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Hạ hòa theo xu hướng tích cực, phù hợp với điều kiện địa phương không những tận dụng được đất đai, phát huy được các lợi thế so sánh của địa phương, mà còn góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo việc làm, tăng thu nhập và ổn định đời sống nhân dân, đưa kinh tế địa phương phát triển

Với một số lý do trên tôi đã lựa chọn luận văn tốt nghiệp là: “Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng

cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ ”

Trang 3

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU

QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT 1.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế nông nghiệp

- Khái niệm cơ cấu kinh tế:

Cơ cấu được dùng để chỉ cách tổ chức, cấu tạo, sự điều chỉnh các yếu tố tạo nên một hình thể, một vật hay một bộ phận

Sự phát triển của sản xuất dẫn đến quá trình phân công lao động xã hội Tuỳ thuộc vào tính chất sản phẩm, chuyên môn kỹ thuật mà chia thành từng ngành, lĩnh vực khác nhau Nhưng trong nền sản xuất, các ngành, lĩnh vực này không thể hoạt động một cách độc lập mà phải có sự tương tác qua lại lẫn nhau,

hỗ trợ và thúc đẩy nhau cùng phát triển Từ đó đòi hỏi nhận thức đầy đủ về mối quan hệ giữa các bộ phận Sự phân công và mối quan hệ hợp tác trong hệ thống thống nhất là tiền đề cho quá trình hình thành cơ cấu kinh tế

Theo Các Mác: “Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất”

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn đinh giữa chúng hợp thành trong một khoảng thời gian nhất định

Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan phản ánh trình độ phát triển của xã hội và các điều kiện phát triển của một quốc gia Sự tác động từ chiến lược phát triển kinh tế, hay sự quản lý của Nhà nước có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm

Trang 4

sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong một thời gian nhất định chứ không thể thay đổi hoàn toàn nó

Mặt khác, cơ cấu kinh tế lại mang tính lịch sử xã hội nhất định Cơ cấu kinh

tế được hình thành khi quan hệ giữa các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế được thiết lập một cách cân đối và sự phân công lao động diễn ra một cách hợp lý

Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất là xu hướng phổ biến ở mọi quốc gia Song mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên trong quá trình tái sản xuất mở rộng ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia lại có sự khác nhau Sự khác nhau đó bị chi phối bởi quan hệ sản xuất, đặc trưng văn hoá- xã hội và các yếu tố lịch sử của mỗi dân tộc Các nước có hình thái kinh tế- xã hội giống nhau nhưng vẫn có sự khác nhau trong việc hình thành cơ cấu kinh tế, bởi vì điều kiện kinh tế- xã hội, chiến lược phát triển của mỗi nước có sự khác nhau

Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách hợp lý khi chủ thể quản lý Nhà nước có khả năng nắm bắt các quy luật khách quan, đánh giá đúng nguồn lực trong nước và nước ngoài để tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình hình thành cơ cấu kinh tế Nhưng sự tác động này không mang tính áp đặt ý chí mà là

sự tác động mang tính định hướng

Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới các góc độ khác nhau như: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế Đây là ba bộ phận cơ bản và có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó, cơ cấu ngành kinh tế có

vị trí chủ yếu trong cơ cấu kinh tế của mọi quốc gia

- Khái niệm cơ cấu kinh tế nông nghiệp:

Trước hết, nền kinh tế được phân chia theo các lĩnh vực hoạt động và gọi

là các ngành kinh tế Ngành kinh tế là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế Toàn bộ nền kinh tế được chia ra các nhóm ngành lớn khác nhau, thường chia ra

ba cấp ngành kinh tế lớn là ngành kinh tế cấp I, cấp II và cấp III Theo cách phân chia hẹp hơn nền kinh tế chia ra ba nhóm ngành lớn là: Ngành kinh tế nông - lâm

Trang 5

- thuỷ sản, ngành kinh tế công nghiệp - xây dựng cơ bản và ngành kinh tế thương mại - dịch vụ

* Cơ cấu kinh tế ngành là một tổng thể các ngành kinh tế hợp thành với vị trí, tỷ trọng tương ứng của mỗi bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận ấy trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở một thời điểm nhất định

Ngành nông nghiệp nằm trong hệ thống phân ngành kinh tế có liên quan đến lĩnh vực hoạt động nông nghiệp Nó là một tổ hợp các ngành kinh tế sinh học cụ thể trong lĩnh vực nông - lâm - thuỷ sản

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp thực chất là cấu trúc bên trong của ngành nông nghiệp, cấu trúc này bao gồm các bộ phận hợp thành và các mối quan hệ tỷ lệ hữu

cơ giữa các bộ phận đó trong điều kiện thời gian và không gian nhất định

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cơ cấu kinh tế giữa các ngành nông – lâm – thuỷ sản và cơ cấu kinh tế nội bộ của các ngành đó

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ gồm cơ cấu kinh

tế giữa các ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ trong nông nghiệp và cơ cấu kinh tế trong nội bộ các ngành đó Và trong nội bộ mỗi ngành nhỏ lại có cơ cấu riêng, ví dụ như cơ cấu cây trồng trong cơ cấu ngành trồng trọt, cơ cấu vật nuôi trong cơ cấu chăn nuôi, cơ cấu nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản trong cơ cấu thuỷ sản, cơ cấu nuôi trồng và bảo vệ rừng trong cơ cấu ngành lâm nghiệp,…Hay, cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp là tổng thể các bộ phận hợp thành và các mối quan hệ thể hiện qua tỷ trọng sản lượng, diện tích, lao động giữa các bộ phận đó Trong đó, ngành nông nghiệp mà biểu hiện cụ thể là mối quan hệ giữa trồng trọt

- chăn nuôi; Trong trồng trọt là tỷ trọng giữa cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây lâu năm, lâm nghiệp và các loại cây khác trong trồng trọt Trong chăn nuôi như chăn nuôi gia súc, chăn nuôi gia cầm, nuôi thuỷ sản và chăn nuôi khác

Như vậy cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các mối quan hệ kinh tế bao gồm các lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, dịch vụ, lâm nghiệp, …

Trang 6

có mối quan hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ với nhau về mặt chất

1.1.1.2 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất

* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là giành một phần tài nguyên của một bộ phận kinh tế này cho một bộ phận kinh tế khác theo hướng có lợi hơn, đáp ứng nhu cầu sản phẩm xã hội và tăng thu nhập của người lao động

Lực lượng sản xuất phát triển gắn liền với phân công lao động xã hội, chi phối sự hình thành và biến đổi của cơ cấu kinh tế Khi nền kinh tế tự cấp tự túc thì lực lượng sản xuất trì trệ kém phát triển dẫn đến cơ cấu KTNN chậm chuyển biến Chuyển nền kinh tế thuần nông sang sản xuất hàng hóa thì lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội mới phát triển ở trình độ cao Mặt khác sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội là xu thế tất yếu khách quan của sự phát triển xã hội Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu KTNN cũng là một tất yếu khách quan Trong điều kiện nước ta hiện nay, điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, nguồn lao động trẻ dồi dào nhưng vẫn ở dạng tiềm năng chưa được huy động và khai thác đầy đủ, hợp lý Bởi vậy rất cần thiết để chuyển dịch cơ cấu kinh tế Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu phải dựa trên cơ sở tiềm năng sẵn có hình thành cơ cấu mới nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đó tạo

ra một tỷ suất hàng hóa lớn hơn, hiệu quả kinh tế ngày càng cao, bền vững góp phần đắc lực vào quá trình tăng trưởng kinh tế đất nước Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế thị trường đang ngày một phát triển và tác động mạnh mẽ vào mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề trên địa bàn cả nước Theo cơ chế đó mọi thành phần kinh tế, mọi khu vực sản xuất kinh doanh tiến hành sản xuất phải nắm vững và bám sát thị trường Trong nền kinh tế hàng hóa phát triển các yếu tố sản xuất như: tài nguyên, sức lao động, công nghệ, các sản phẩm dịch vụ tạo ra và ngay cả chất xám đều được

Trang 7

coi là đối tượng mua bán, là hàng hóa và cơ cấu KTNN trong cơ chế thị trường cũng phải đảm bảo và tuân thủ các mối quan hệ đó Trong nền kinh tế thị trường giá cả điều tiết hành vi của người sản xuất từ đó tạo ra một thiết chế làm nảy sinh mối quan hệ tỷ lệ nhất định trong cơ cấu kinh tế, vấn đề đặt ra là bằng nhận thực

và hành động các cơ quan hoạch định chính sách, của các nhà quản lý có giải pháp điều chỉnh thông qua hệ thống các chính sách kinh tế định hướng cho sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế hiệu quả cao nhất Trong nền kinh tế thị trường, cơ cấu kinh tế hiệu quả cao là cơ cấu kinh tế phải thoả mãn được những yêu cầu của thị trường đặt ra Vì thế, chuyển dịch cơ cấu KTNN phải xuất phát từ những căn cứ mà thị trường đòi hỏi và phải thỏa mãn tốt mọi nhu cầu thị trường

* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự thay đổi về số lượng hoặc

về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp Khi có sự thay đổi về qui mô và tốc độ phát triển của các tiểu ngành sẽ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu một cách hợp lý

Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp là sự thay đổi về qui

mô và tốc độ của các ngành trong nông nghiệp như chuyển dịch cơ cấu ngành nông - lâm - thuỷ sản, chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp thuần giữa trồng trọt - chăn nuôi và chuyển dịch cơ cấu ngay nội bộ các tiểu ngành

Hơn nữa, giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng với tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một mặt trong phát triển kinh tế Vậy, muốn kinh tế phát triển không những cần phải tăng thu nhập cho người dân, tăng phúc lợi xã hội cho con người mà còn phải tạo ra một cơ cấu kinh

tế hợp lý Khi xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý phải dựa vào những thay đổi của hoàn cảnh xung quanh để có được hướng chuyển dịch hiệu quả nhất Từ đó, đây là bàn đạp cho kinh tế phát triển nhanh, mạnh, ổn định và lâu dài

Trang 8

Với điều kiện Việt Nam là một nước nông nghiệp thì ngành nông nghiệp giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế và đời sống nhân dân Do đó, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp sẽ tạo điều kiện cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam cũng như của một vùng Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế hợp lý là một trong những vấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và của một vùng

1.1.1.3 Khái niệm về hiệu quả sử dụng đất

Hiệu quả là một phạm trù kinh tế xã hội phản ánh mặt chất của các hoạt động sản xuất kinh doanh và là đặc trưng chung cho mọi hình thái xã hội Bản chất của hiệu quả có thể được hiểu như sau: Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan, nhưng nó không chỉ là mục đích cuối cùng của sản xuất Bản chất thực sự của nó chính là thước đo duy nhất đánh giá chất lượng của một hoạt

động sản xuất kinh doanh

Hiệu quả kinh tế là quan hệ so sánh, đo lường cụ thể quá trình sử dụng các yếu tố sản xuất (đất đai, vốn, lao động, ) để tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn với chất lượng cao hơn và phải lượng hoá được cụ thể việc sử dụng các yếu tố đầu vào (chi phí) và các yếu tố đầu ra (kết quả) trong quá trình sản xuất ở từng

đơn vị, ngành, nền sản xuất xã hội trong từng thời kỳ nhất định

Hiệu quả kinh tế phải được gắn liền với kết quả của những hoạt động sản xuất

cụ thể trong các doanh nghiệp, nông hộ và nền sản xuất xã hội ở những điều kiện xác định về thời gian, hoàn cảnh kinh tế, chính trị xã hội

Hiệu quả và kết quả là hai phạm trù khác nhau nhưng có mối liên hệ khăng khít và mật thiết - mối liên hệ đó thể hiện giữa mặt chất và mặt lượng trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả là một đại lượng vật chất biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nội dung tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể Hiệu quả là đại lượng đánh giá xem kết quả đó được tạo ra như thế nào, chi phí bao nhiêu, có thể chấp nhận được không Tuy vậy, hiệu quả và kết quả phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đặc điểm ngành sản xuất, quy luật kinh tế.v.v Do vậy,

Trang 9

khi đánh giá hiệu quả cần phải cân nhắc xem xét để có kết luận phù hợp

Căn cứ vào nội dung và bản chất của hiệu quả, hiệu quả chia làm 3 loại:

- Hiệu quả kinh tế: Phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu

ích đạt được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó Nó đánh giá hoạt động sản xuất chủ yếu về mặt kinh tế

- Hiệu quả xã hội: Phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu ích

đạt được về mặt xã hội và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó Nó đánh giá chủ yếu

về mặt xã hội của hoạt động sản xuất

- Hiệu quả môi trường: Là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường do

hoạt động sản xuất gây ra như xói mòn, ô nhiễm đất

Trong ba loại hiệu quả trên, hiệu quả kinh tế đóng vai trò quyết định và nó được đánh giá đầy đủ khi được kết hợp với hiệu quả xã hội và môi trường

1.1.2 Đặc điểm của cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất

1.1.2.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính mang tính khách quan và tính lịch

sử nhất định

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính khách quan và được hình thành trên cơ

sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội chi phối

Thật vậy, ở một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội thì tất sẽ phải có một cơ cấu kinh tế cụ thể để thích ứng với nó Như vậy việc xác lập cơ cấu kinh tế nông nghiệp cần phải tôn trọng tính khách quan của nó và không thể áp đặt một cách chủ quan duy ý chí Trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội tự các mối quan hệ kinh tế đã có thể xác lập những tỷ lệ nhất định mà người ta gọi là cơ cấu

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính lịch sử và xã hội nhất định: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp như đã được nói tới nó là một tổng thể các mối quan hệ kinh

tế được xác lập theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng trong thời gian cụ thể Tại một thời điểm với những điều kiện về kinh tế, tự nhiên, xã hội, các tỷ lệ đó

Trang 10

được xác lập và hình thành tạo thành một cơ cấu kinh tế nhất định Song một khi

có những thay đổi trong các điều kiện nói trên thì lập tức các mối quan hệ này cũng thay đổi và hình thành một cơ cấu kinh tế mới hợp lý hơn

Tuỳ hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của mỗi vùng mỗi quốc gia mà xác lập được một cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhất định Không thể có một cơ cấu mẫu làm chuẩn mực trong mọi điều kiện

1.1.2.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp không ngừng vận động và phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện hợp lý và có hiệu quả hơn

Trong triết học Mac đã nói rằng: “Sự vật hiện tượng luôn luôn biến đổi và vận động không ngừng” Cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng vậy chúng luôn luôn vận động và ngày càng phát triển theo chiều hướng ngày một hợp lý hơn Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, khoa học công nghệ ngày càng hiện đại, phân công lao động ngày càng tỷ mỉ và phức tạp, tất cả những điều đó đã dẫn đến một cơ cấu nông nghiệp ngày càng phải hoàn thiện hơn Sự vận động và biến đổi không ngừng của các yếu tố, các bộ phận trong nền kinh tế quốc dân nói chung và trong khu vực kinh tế nông nghiệp nói riêng Cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng sẽ vận động biến đổi không ngừng thông qua chuyển dịch trong chính nội tại bản thân nó Cơ cấu cũ sẽ mất đi và cơ cấu mới sẽ hình thành phát triển, quá trình đó luôn vận động không ngừng của sự vật hiện tượng Khi cơ cấu mới trở thành lỗi thời không còn phù hợp với điều kiện thực tế thì nó lại được thay thế bằng một cơ cấu mới tiến bộ và hoàn thiện hơn Sự vận động và biến đổi

là tất yếu, phản ánh sự phát triển không ngừng của văn minh nhân loại

1.1.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một quá trình và cũng không thể có một cơ cấu hoàn thiện bất biến

Chuyến dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một quá trình làm thay đổi cấu trúc và mối quan hệ của nền kinh tế theo mục đích và phương hướng nhất định Quá trình này tất yếu phải xẩy ra bởi sự phát triển và vận động không ngừng của

sự vật đó Cơ cấu kinh tế nông nghiệp sẽ vận động và chuyển hoá từ cơ cấu cũ

Trang 11

sang cơ cấu kinh tế mới đòi hỏi phải có thời gian và qua các nấc thang nhất định của sự phát triển Đầu tiên là biến đổi về lượng và khi lượng được tích luỹ đến độ nhất định sẽ dẫn đến sự chuyển đổi về chất Đó là quá trình chuyển hoá cơ cấu kinh tế cũ sang một cơ cấu kinh tế mới một cách phù hợp và có hiệu quả hơn

Tuy nhiên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó sự tác động của con người có ý nghĩa vô cùng quan trọng Vì thế, cần phải có những giải pháp chính sách và cơ chế quản lý thích hợp để định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng

và chuyển dịch kinh tế nông thôn nói riêng Tất cả sự nóng vội sẽ dẫn tới sự trì trệ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gây phương hại đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải là một quá trình không thể khác được nhưng không phải là một quá trình tự do của con người Trên cơ sở nhận thức, nắm bắt được quy luật khách quan của cơ cấu kinh tế nông nghiệp con người sẽ tác động theo những mục tiêu

đã định nhằm chuyển một cách có hiệu quả và đúng hướng phục vụ cho con người Nhưng vấn đề quan trọng là phải bắt nguồn từ đâu và với những biện pháp nào mà khi tác động vào nó sẽ gây phản ứng dây truyền tạo ra bước phát triển nói nên tổng thể kinh tế nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung

1.1.2.4 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp được hình thành và phát triển trên cơ sở của điều kiện tự nhiên và mức độ khai thác cải tạo điều kiện tự nhiên (đất đai, thời tiết, khí hậu)

Thật vậy, sản xuất nông nghiệp luôn gắn liền với điều kiện tự nhiên vì vậy cơ cấu kinh tế nông nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều của điều kiện tự nhiên Một nền nông nghiệp hay, một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiệu quả là phải đạt năng suất cây trồng, vật nuôi cao với chi phí ít trên một đơn vị sản phẩm Muốn vậy phải lợi dụng tối đa các yếu tố của điều kiện tự nhiên tham gia vào quá trình sản xuất Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo xu hướng ngày càng lợi dụng được điều kiện

tự nhiên và cải tạo tự nhiên có lợi nhất

Trang 12

1.1.2.5 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hình thành và biến đổi gắn liền với sự ra đời

và phát triển của một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá

Kinh tế nông nghiệp trải qua một quá trình phát triển từ nền kinh tế sinh tồn sang kinh tế tự cung tự cấp, sự biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp rất chậm chạp và trì trệ Từ khi chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá (kinh tế thị trường) thì cơ cấu kinh tế nông nghiệp mới được hình thành đa dạng và có hiệu quả hơn

1.1.3 Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với hiệu quả

sử dụng đất

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với đặc điểm tự nhiên sinh thái của vùng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất Sản xuất nông nghiệp bao gồm cây trồng, vật nuôi nên việc áp dụng các phương thức sản xuất nông lâm nghiệp với các mô hình canh tác phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng như trồng những loại cây phù hợp với đặc điểm về thời tiết, đất đai, loại đất, … hay biết kết hợp các loại cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái vùng, địa điểm canh tác thì sẽ đem lại năng suất cao hơn, giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích sẽ cao hơn, từ đó hiệu quả sử dụng đất sẽ được nâng cao

- Trong nông nghiệp, khi hiệu quả sử dụng đất được nâng cao tức là người dân đã bố trí các phương thức sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi) phù hợp với điều kiện tự nhiên sinh thái Do vậy, cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã được chuyển dịch theo xu hướng nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp vì thế tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

1.1.4 Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất

Cũng như cơ cấu kinh tế nói chung, nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp (KTNN) bao gồm: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kỹ thuật Sự phân công lao động theo ngành là cơ sở hình

Trang 13

thành cơ cấu ngành, sự phân công lao động phát triển ở trình độ cao, càng tỷ mỷ thì sự phân công chia ngành càng đa dạng và sâu sắc Trong lịch sử phát triển xã hội loài người trong thời gian dài kinh tế nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi chưa phát triển, những nước kém phát triển tỷ trọng trồng trọt trong nông nghiệp chiếm rất cao, đại bộ phận nông dân chủ yếu tham gia lao động trồng trọt chỉ có số ít là kết hợp và chăn nuôi Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học - kỹ thuật đặc biệt sự phát triển của nông nghiệp hiện đại, cơ cấu KTNN được cải biến nhanh chóng theo hướng sản xuất hàng hóa, công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.1.4.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành và nội bộ ngành

Sản xuất nông nghiệp bao gồm: Nông nghiệp theo nghĩa hẹp (trồng trọt và chăn nuôi); lâm nghiệp; thuỷ sản và dịch vụ nông nghiệp

Do vậy trong cơ cấu ngành còn phải xét tới sự chuyển dịch của ngành lâm nghiệp và ngành dịch vụ Cơ cấu ngành của kinh tế nông nghiệp bao gồm các nhóm ngành trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp và lâm nghiệp

Trong mỗi nhóm ngành lại được chia thành những ngành hẹp hơn Trong trồng trọt lại được chia thành cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả, cây dược liệu Trong ngành chăn nuôi được phân chia thành: đại gia súc, tiểu gia súc, gia cầm kinh nghiệm trong nước và thế giới cho thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính qui luật: từ trồng trọt mở ra lâm nghiệp, ngư nghiệp, chăn nuôi, sản xuất hàng hoá

- Trước thời kỳ đổi mới nước ta là một nước có nền kinh tế kém phát triển,

cơ cấu kinh tế chậm chuyển biến Nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu chậm chuyển dịch nguyên nhân chủ yếu là sản xuất kém phát triển, năng suất lao động thấp, phân công lao động chưa hợp lý nên tình trạng thiếu lương thực kéo dài Từ sau đổi mới, đặc biệt là từ 1989 trở lại đây, sản xuất nông nghiệp đã đạt được thành tựu to lớn: Lương thực không chỉ cung cấp đủ ăn mà

Trang 14

còn dư thừa lương thực để xuất khẩu Vì vậy, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta

đã chuyển dịch nhanh chóng theo hướng có hiệu quả

- Những nước có trình độ kém phát triển, nông nghiệp chiếm đại bộ phận trong nền kinh tế thì sự phát triển của lực lượng sản xuất đặc biệt là tiến bộ khoa học kỹ thuật cần được ứng dụng vào sản xuất để cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh chóng theo hướng CNH,HĐH

1.1.4.2.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng lãnh thổ

Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao động theo lãnh thổ đó là hai mặt của một quá trình gắn bó hữu cơ với nhau Sự phân công lao động theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên những vùng lãnh thổ nhất định

Cơ cấu kinh tế phân theo vùng lãnh thổ là việc bố trí các ngành kinh tế theo không gian khu vực cụ thể nhằm khai thác mọi ưu thế tiềm năng của vùng, lãnh thổ Ở đây, xu thế chuyển dịch cơ cấu KTNN theo vùng, lãnh thổ đi vào chuyên môn hoá và tập trung hoá hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn tập trung để mang lại hiệu quả kinh tế cao và gắn kết với các vùng chuyên môn hoá khác, gắn cơ cấu của từng khu vực với cơ cấu kinh tế của cả nước Trong từng vùng lãnh thổ coi trọng chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp đa dạng

- Để hình thành cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ hợp lý thì cần bố trí các ngành trên vùng lãnh thổ hợp lý và khai thác đầy đủ tiềm năng của từng vùng Đặc biệt cần bố trí các ngành chuyên môn hoá dựa trên những lợi thế so sánh từng vùng, cụ thể là: Những vùng có đất đai tốt, khí hậu thuận lợi, đường giao thông lớn và các khu công nghiệp đô thị

- So với cơ cấu ngành thì cơ cấu vùng lãnh thổ có tính trí tuệ hơn, có sức ỳ hơn, chậm chuyển dịch hơn vì thế khi bố trí các vùng chuyên môn hoá cần được xem xét cụ thể thận trọng nếu phạm sai lầm thì sẽ khó khắc phục và gây ra những tổn thất rất lớn

1.1.4.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế

Trang 15

Trong suốt thời gian dài của thời kỳ bao cấp ở nước ta, cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp chậm chuyển biến với sự tồn tại thuần nhất của hai loại hình kinh tế, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Đến đại hội VI của Đảng với yêu cầu đặt ra là chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì ở nước ta đã có nhiều thành phần kinh tế phát triển

- Điều đáng chú ý trong qua trình chuyển dịch cơ cấu KTNN theo thành phần kinh tế nổi lên các xu thế sau: Đó sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế hộ nổi lên thành kinh tế hộ độc lập, tự chủ, đây là thành phần kinh

tế năng động nhất, tạo ra sản phẩm hàng hoá phong phú đa dạng cho xã hội Trong quá trình phát triển kinh tế hộ chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá nhỏ tiến tới hình thành các trang trại, công trại (sản xuất hàng hóa lớn)

- Thành phần kinh tế quốc doanh có xu hướng giảm mạnh nhà nước đang

có biện pháp sắp xếp, rà soát lại, hoặc chuyển sang các chức năng khác cho phù hợp với điều kiện hiện nay

Thành phần kinh tế tập thể (hay kinh tế hợp tác ) còn chuyển đổi chức năng của mình sang các HTX kiểu mới làm chức năng hướng dẫn sản xuất và công tác dịch vụ phục vụ cho nguyện vọng của các hộ nông dân mà trước đây chức năng của HTX là trực tiếp điều hành sản xuất

Như vậy, sự phát triển đa dạng của các thành phần kinh tế cùng với việc chuyển đổi chức năng cuả nó làm chuyển dịch cơ cấu KTNN theo thành phần kinh tế theo hướng phát huy hiệu quả của các thành phần kinh tế

1.1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất;

Cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế nông nghiệp luôn luôn biến đổi, chuyển dịch dưới tác động của nhiều nhân tố: nhân tố bên trong – bên ngoài, nhân tố khách quan – chủ quan Trong những nhân tố tác động, có những nhân tố tích cực thúc đẩy phát triển, song cũng có những nhân tố hạn chế, kìm hãm sự chuyển dịch và

Trang 16

phát triển Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn có

thể chia thành các nhóm sau:

1.1.5.1 Nhóm nhân tố tác động từ bên trong

* Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ của xã hội

Thị trường là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng Nhân tố thị trường tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh

tế nông nghiệp, thể hiện như sau:

- Tạo ra quá trình mở rộng và khai thác tiềm năng cho sự phát triển của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản và dịch vụ nông nghiệp ở nông thôn

- Thúc đẩy sự phân công lao động xã hội, đa dạng hoá ngành nghề ở nông thôn, khuyến khích mở rộng đầu tư trong và ngoài nước, tạo ra sự tăng trưởng nhanh cho các ngành kinh tế ở nông thôn nói riêng và cả nước nói chung

- Tác động của sự cạnh tranh và nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao trên thị trường tạo động lực thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, đổi mới công nghệ ở trong nội bộ từng ngành trở nên bức thiết

- Thông qua lợi ích kinh tế thu được sẽ tạo ra động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đạt hiệu quả ở mức cao hơn

Như vậy, thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội là người đặt hàng cho tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế Nó không chỉ qui định số lượng mà cả chất lượng các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nên nó có tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của các ngành, lĩnh vực ở địa phương…

* Nhân tố các nguồn lực

Các nguồn lực của một quốc gia, một vùng lãnh thổ có vai trò quan trọng trong việc hình thành và tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế, nhất là

ở khu vực nông thôn

- Vị trí địa lý của một vùng lãnh thổ góp phần tạo ra sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng đó

Trang 17

- Tài nguyên thiên nhiên: gồm khoáng sản, đất đai, khí hậu, lâm sản, hải sản…là một trong những nguồn lực cơ bản của quá trình sản xuất, là điều kiện cần thiết để phát triển các ngành kinh tế

- Tuy nhiên tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn, do đó cần tính toán chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế để đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên

đó, đồng thời bảo vệ môi trường sống cho thế hệ sau

- Dân số, sức lao động: đây được xem là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế nói chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng Dân số và tốc độ tăng dân số của một quốc gia hay vùng lãnh thổ có ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế Có một nguồn lao động dồi dào thì sẽ có nguồn nhân lực phục vụ cho sản xuất nhiều hơn, nhưng nếu tốc độ tăng dân số quá cao sẽ làm tăng trưởng kinh tế chậm lại

Việc cải thiện chất lượng lao động hay nguồn nhân lực là cơ sở quan trọng

để phát triển các ngành kinh tế kỹ thuật cao, có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế

- Vốn đầu tư: Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu trong quá trình sản xuất, quyết định sự tăng trưởng kinh tế Nhà nước sử dụng ngân sách để đầu tư phát triển sản xuất sẽ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu ngành công nghiệp một cách nhanh chóng

Vốn đầu tư là chìa khoá cho mọi sự phát triển của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng Không có vốn đầu tư để hiện đại hoá trang thiết bị, đổi mới công nghệ thì không có tăng trưởng kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng

* Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất tại khu vực nông thôn

Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu lao động và con người có khả năng sử dụng tư liệu lao động để tác động vào các đối tượng lao động, tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của xã hội Lực lượng sản xuất phát triển sẽ

Trang 18

làm thay đổi quy mô sản xuất, công nghệ, trang thiết bị… làm hình thành và phát triển các ngành nghề mới, chuyển lao động từ đơn giản thành phức tạp, từ ngành nghề này sang ngành nghề khác… Làm phá vỡ những cơ cấu cũ, thiết lập một cơ cấu kinh tế mới phù hợp hơn

* Cơ chế quản lý của Nhà nước

Cơ chế quản lý của Nhà nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng

Cơ chế quản lý khoa học, phù hợp với quy luật khách quan và tình hình thực tiễn thì nó sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh và hiệu quả Ngược lại nó sẽ kìm hãm, làm chậm lại quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

* Định hướng chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng giai đoạn

Mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính khách quan và tính lịch sử xã hội, nhưng

nó lại chịu sự tác động, chi phối của Nhà nước Nhà nước tác động gián tiếp thông qua định hướng chiến lược, đặt ra các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội

và khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển nhằm đạt các mục tiêu đề ra

Nhà nước tuy không trực tiếp sắp đặt các ngành nghề, không quy định cụ thể về cơ cấu kinh tế song thông qua chiến lược phát triển, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, Nhà nước có sự điều tiết vĩ mô, dẫn dắt các ngành, lĩnh vực kinh tế phát triển theo định hướng chung, đảm bảo tính cân đối và đồng bộ của nền kinh tế

1.1.5.2 Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài

*Xu thế toàn cầu hoá kinh tế và quốc tế hoá lực lượng sản xuất

Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế đã hình thành mạng lưới sản xuất quốc tế, cùng với việc ứng dụng các công nghệ mới và sự phát triển mạnh mẽ của các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch sản xuất kinh doanh vượt

xa hơn biên giới của một vùng lãnh thổ

Trang 19

Xu thế này tạo ra sự đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, thúc đẩy hợp tác với nhau một cách toàn diện cả trong sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ Tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế tăng lên, các mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước và các khu vực ngày càng trở lên sâu rộng và mật thiết Quá trình phân công lao động trở lên sâu sắc và chuyên môn hoá hơn, làm cơ sở cho quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất ( hay công nghiệp hoá toàn cầu)

*Xu hướng chính trị xã hội của khu vực và thế giới

Xét đến cùng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Sự biến động về chính trị – xã hội của một nước, một khu vực hoặc thế giới sẽ tác động mạnh mẽ đến hoạt động ngoại thương, đầu tư, chuyển giao công nghệ…buộc các nước phải điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp, đảm bảo cho nền kinh tế ổn định và phát triển

*Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ

Khoa học kỹ thuật hiện đại và công nghệ tiên tiến được coi là nhân tố quyết định đối với quá trình sản xuất, làm tăng mạnh giá trị kinh tế các ngành, lĩnh vực, tạo ra những bước đột phá lớn thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Như vậy, các nhân tố bên ngoài có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, là nhân tố tác động đến việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, cơ cấu kinh tế nông nghệp Tuy nhiên, chính các nhân tố bên trong mới giữ vai trò then chốt và quyết định đối với quá trình chuyển dịch trên

1.1.6 Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất

* Về trồng trọt:

- Thâm canh tăng vụ để nâng cao hiệu quả sử dụng đất

- Chuyển từ cây trồng mang hiệu quả kinh tế thấp sang các loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trang 20

- Hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá, sản xuất tập trung

* Về lâm nghiệp

Đầu tư phát triển rừng sản xuất, trồng rừng tập trung và trồng các loại cây lâm nghiệp sinh trưởng, phát triển nhanh và có giá trị cao

1.1.7 Những Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Chuyển dịch cơ cấu KTNN là một trong những chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước để phát triển kinh tế đất nước và phát triển nông nghiệp nông thôn

Để định hướng phát triển nông nghiệp nông thôn, nhà nước đã ban hành một loạt các chủ trương chính sách chuyển dịch cơ cấu KTNN, cụ thể là:

- Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ Chính trị

về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn

- Nghị quyết số 09/NQ/CP ngày 15 tháng 6 của chính phủ về chuyển dịch

cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

- Thông tư số 44/1999/TT-BTC ngày 26/4/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn về ưu đãi thuế đối với hợp tác xã

- Nghị quyết số 03-NQ/CP ngày 02 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại

Trang 21

- Nghị định số 85/1999/NĐD-CP ngày 28/8/1999 của Chính phủ sửa đổi,

bổ sung một số điều của Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dài

- Nghị định số 68/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai

- Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn

- Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngà 04/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2001-2005

- Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg ngày 10/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp thời kỳ 2000-2005

- Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoá rừng và đất lâm nghiệp

- Quyết định số 224/1999/QĐ-TTg ngày 08/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 1999-2010

- Quyết định số 103/2000/QĐ-TTg ngày 15/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thuỷ sản

1.2 Khái quát tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở một số nước trên thế giới và ở nước ta

1.2.1 Khái quát tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Nhật Bản

Nhật Bản là nước nằm ở vùng Đông Á, diện tích tự nhiên là 372.313 km2, diện tích đất canh tác khoảng 4.422.000 ha chiếm 11,7% diện tích đất tự nhiên

Trang 22

do địa hình đồi núi Vì vậy, Nhật Bản là nước có bình quân đất canh tác trên đầu người vào loại thấp nhất thế giới (khoảng 390m2/người) Tuy nằm ở vùng Đông

Á song Nhật Bản có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội lúc xuất phát khá giống nước ta đất ít, người đông, ruộng đất manh mún, quy mô các hộ nông dân nhỏ bé, lúa nước là cây trồng chính

Sau chiến tranh thế giới thứ II, kinh tế Nhật Bản lâm vào suy thoái, thiếu lương thực trầm trọng Chính lúc đó, Nhật Bản đề ra chương trình mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực và chính sách cải cách kinh tế nông thôn

Về lương thực: Chính phủ Nhật Bản chủ trương cải tạo 1,55 triệu ha đất

và định cư cho 1 triệu hộ nông dân trong 5 năm

Về cải cách ruộng đất: Bắt buộc các điền chủ có diện tích đất lớn hơn theo quy định phải bán cho nông dân để nông dân có đất sản xuất

Chính phủ ban hành các chính sách thúc đẩy sản xuất nông nghiệp: chính sách ổn định giá cả, tự do lưu thông hàng hóa, tăng cường công tác khuyến nông

do Nhà nước đầu tư, hoàn thiện quy trình sản xuất nông nghiệp, cải thiện điều kiện sống

Từ năm 1947, Chính Phủ Nhật Bản ban hành một số đạo luật nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển cao hơn: Luật Tài trợ cho nông dân trong trường hợp gặp thiên tai, luật Tăng cường màu mỡ của đất, luật Đất đai nông nghiệp Do

đó, từ năm 1949 lương thực đã có bước phát triển khá Năm 1951, thu nhập của

hộ nông dân cao hơn hộ công nhân thành phố 30% Năm 1956, lại kém hơn 10% Trước tình hình đó, Nhật Bản lại đề ra mục tiêu: “Phát triển những đặc sản nông nghiệp đáp ứng cho từng khu vực riêng” Do vậy, Nhật Bản lại tiến hành chuyển dịch CCKT nông nghiệp cho phù hợp Năm 1975, Nhật Bản thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện, lấy an ninh lương thực làm mục tiêu chính Đến năm 1979, sản xuất gạo dư thừa, có gạo bán trên thị trường nội địa 6 triệu tấn Từ năm 1990, Nhật Bản chủ trương chuyển 830.000 ha lúa sang sản xuất các cây con khác có hiệu quả hơn Hiện nay, Nhật trở thành nước nhập khẩu

Trang 23

nông sản lớn nhất thế giới, với khối lượng nông sản nhập khẩu hàng năm là gần

20 triệu tấn ngô; 5,5 triệu tấn lúa mỳ; 5 triệu tấn đậu tương; gần 2 triệu tấn đường; trên 700 nghìn tấn thịt và hàng triệu tấn rau quả

Quá trình điều chỉnh CCKT nông nghiệp của Nhật Bản là nhờ sự nhạy bén nắm bắt các quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường trong mỗi thời kỳ nhất định

1.2.1.2 Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Indonesia

Với hơn 200 triệu dân và 70% dân cư sống ở nông thôn, ngành nông nghiệp Indonesia có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Để chuyển dịch cơ cấu KTNN Indonesia đã ban hành chính sách phát triển nông nghiệp trong đó tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm vì mục tiêu an toàn lương thực, thực phẩm và đề cao vai trò khu vực nông thôn

Để thực hiện việc dễ dàng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp chính phủ nước này đã tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng như đường sá, công trình thuỷ lợi, nghiên cứu ứng dụng các loại giống cao sản… đều được trợ giá ở mức độ khác nhau Đây chính là điều kiện nhằm khuyến khích phát triển cho nền kinh tế nông nghiệp

Cơ cấu và diện tích cây trồng liên tục được mở rộng, chú trọng phát triển những cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu ở các trang trại nhà nước và tư nhân Trong khu vực Đông Nam Á, Indonesia thực hiện khá tốt chính sách phát triển kinh tế trang trại Nhờ đó, Indonesia trở thành nước xuất khẩu ca cao, cà phê, chè hàng đầu thế giới Chính phủ nước này luôn cố gắng duy trì sự cần bằng tương đối giữa nông nghiệp và những ngành công nghiệp, dịch vụ đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ giải quyết các yếu tố đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp

1.2.1.3 Kinh nghiệm của Thái Lan

Trong nông nghiệp cây lúa là cây trồng chính được trồng khắp các vùng, chiếm khoảng ½ diện tích trồng trọt của cả nước Để tăng thu nhập, cải thiện đời

Trang 24

sống cho nông dân chính phủ Thái Lan đã thực hiện chủ trương đa dạng hoá nông nghiệp, giảm bớt nhập khẩu vật tư nông nghiệp, bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cân bằng hệ sinh thái nông nghiệp

Cụ thể, Thái Lan đã chú trọng mở mang đất đai, đầu tư sang sản xuất cây ngũ cốc, cây ăn quả, chăn nuôi, lâm nghiệp, đánh cá, hoa, cây cảnh, Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 50,1% năm 1951 xuống còn 14,2 % năm 1990 Giá trị gạo trong tổng giá trị xuất khẩu từ 45% năm 1950 giảm xuống còn 4,4% năm 1992 Thái Lan cũng đã giảm tỷ trọng phế phẩm nông nghiệp từ 40,9 % xuống còn 25% Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp cũng giảm từ 83,8% xuống còn 7,4 %

Thời kỳ năm 1987 đến 1996, mức tăng trung bình của nông nghiệp là 3,4% Cũng trong thời gian ấy, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp trong tổng số lao động cả nước giảm xuống còn 60 % Sự chuyển dịch trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của Thái Lan phản ánh định hướng phát triển thương mại theo lợi thế một số mặt hàng xuất khẩu trong cơ cấu sản phẩm nông nghiệp mở rộng (trước đây chỉ có lúa, ngô, sắn nay có thủy hải sản, gà đông lạnh, dứa hộp, cà phê, hạt tiêu, rau và hoa quả) Để giúp nông dân phát triển sản xuất, chuyển dich cơ cấu cây trồng, Chính phủ Thái Lan đã ban hành các chính sách tạo điều kiện cho nông dân nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm chi phí, tăng cường chế biến nông sản tại hộ gia đình nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và tạo ra nhiều loại sản phẩm

có thể đáp ứng nhu cầu thị trường, hỗ trợ thiết lập các thị trường trong nước trở thành nơi mua và bán nông sản ở từng địa phương; thay thế vụ lúa thứ hai bằng những mặt hàng có lãi suất cao hơn ở những vùng trồng lúa không thích hợp; giới thiệu cho nông dân mô hình sản xuất đa canh có lợi cho nông dân học tập, giúp nông dân ít đất vùng khó khăn thu hồi vốn nhanh; thành lập hệ thống tín dụng có khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho người sản xuất, phát triển cơ sở hạ tầng, phổ biến công nghệ mới và cung cấp thông tin nhanh cho người nông dân

Trang 25

1.2.2 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở Việt Nam

* Những thành tựu đã đạt được

Trong những năm gần đây nông nghiệp, nông thôn Việt nam đã đạt được những thành tựu toàn diện và to lớn, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã đạt được nhiều thành công, cụ thể:

- Từ một nền nông nghiệp tự cung, tự cấp, lạc hậu, thiếu lương thực triền miên đến nay về cơ bản đã là một nền nông nghiệp hàng hoá, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, có tỷ suất hàng hoá ngày càng cao, nhiều mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng có trong khu vực và thế giới Tính sản xuất hàng hoá còn thể hiện trong cơ cấu sản xuất ngày càng đa dạng, quy mô sản xuất ngày càng tập trung, người sản xuất ngày càng quan tâm tới nhu cầu tị trường Khoa học – công nghệ mới ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp

- Hình thành một số vùng sản xuất nông nghiệp tập trung gắn với công nghiệp chế biến như: Lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long, đòng bằng sông Hồng mía đường ở miền trung, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, chè ở trung du miền núi phía Bắc, cà phê ở Tây Nguyên, cao su ở Đông Nam Bộ, nuôi trồng thuỷ sản ở nhiều vùng ven biển, …

- Năng lực chế biến nông, lâm, thuỷ sản tăng đáng kể

- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn đã dịch chuyển theo hướng khai thác lợi thế các đặc thù của mỗi vùng sinh thái

- Tỷ trọng các cây trồng trong nghành trồng trọt cũng có những chuyển dịch theo hướng tích cực Tỷ trọng của cây lương thực giảm từ 60,7% (năm 2000) xuống 6,4% (năm 2009), cây công nghiệp năm 2000 là 24% tăng lên 25,6% năm 2009; cây rau đậu từ 7% năm 2000 lên 8,8% năm 2009, cây ăn quả

từ 6,7% năm 2000 lên 7,8% năm 2009

Trang 26

- Các làng nghề ở nông thôn được khôi phục và phát triển, mở ra nhiều việc làm, nhất là thu hút nguồn lao động tại chỗ khi nông nhàn Nhiều tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới đã được áp dụng

- Cơ sở vật chất, kỹ thuật được cải thiện đáng kể, các hộ sản xuất trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, các hợp tác xã kiểu mới được hình thành, sản xuất trang trại xuất hiện và phát triển khá nhanh

Tóm lại, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn thời gian qua đã có những bước chuyển biến tích cực từ một nền nông nghiệp tự cấp tự túc sang nền nông nghiệp hàng hoá phát triển toàn diện kinh tế nông thôn, làm tiền

đề cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

* Những tồn tại hạn chế:

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu như trên nhưng quá trình phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện vẫn còn nhiều tồn tại:

- Tốc độ chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong tổng thể nền kinh tế

và trong nội bộ ngành diễn ra chậm: Cơ cấu kinh tế nông thôn còn năng nề về nông nghiệp (khoảng 60%) Tỷ trọng của sản xuất nông nghiệp trong cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp còn rất lớn (trên 70% giá trị sản xuất của toàn ngành) Cơ cấu cây trồng vật nuôi vẫn chưa có thay đổi đáng kể, tỷ lệ chăn nuôi năm 2009 mới đạt trên 27,1% giá trị sản xuất nông nghiệp Tỷ trọng giá trị sản xuất cây công nghịêp trong trồng trọt mới đạt 25,6% năm 2009 so với mục tiêu 45% Quá trình chuyển đổi bộc lộ một số điểm không chắc chắn: Thể hiện qua sự tăng trưởng không ổn định của từng ngành, từng lĩnh vực

- Khoa học công nghệ trong nông, lâm, ngư nghiệp phát triển chậm, nhiều mặt còn lạc hậu nên đa số các loại cây trồng, vật nuôi đều có năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh thấp, giá thành cao, kém hiệu quả và chưa bề vững Quan hệ sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nông nghiệp hàng hoá theo cơ chế mới

Trang 27

- Cơ cấu thành phần cơ cấu kinh tế nông thôn ít có sự thay đổi Khả năng rút lao động ra khỏi nông nghiệp của các ngành nghề phi nông nghiệp thấp Vai trò của kinh tế hợp tác không hỗ trợ được cho kinh tế phát triển

- Thị trường cho sản phẩm nông nghiệp không ổn định, mặt khác chất lượng sản phẩm thấp, khả năng cạnh tranh yếu, dẫn đến hiệu quả kinh tế bị hạn chế Nhiều thị trường như vốn, lao động, đất và công nghệ mới đang trong quá trình hình thành

- Phát sinh nhiều vấn đề bất cập như ô nhiễm môi trường, phân hoá xã hội, giải quyết việc làm, tệ nạn xã hội, …trong nông thôn

1.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn

Qua nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở các nước, có thể rút ra một số bài học cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp như sau:

- Phát triển cơ sở hạ tầng như đường xá, công trình thuỷ lợi, nghiên cứu

ứng dụng các loại giống cao sản, … nhằm khuyến khích KTNN phát triển

- Đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ giải quyết các yếu tố đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp

- Ban hành các chính sách tạo điều kiện cho người dân nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm chi phí, tăng cường chế biến nông sản tại hộ gia đình nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và tạo ra nhiều loại sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu thị trường

- Khai thác lợi thế các đặc thù của mỗi vùng sinh thái nhằm tạo sự chuyển biến cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo chiều hướng tích cực

Trang 28

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.Tình hình cơ bản về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của huyện Hạ Hòa

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1.Vị trí địa lý

Hạ hoà là huyện miền núi nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ; có tổng diện tích tự nhiên 34026,51ha, với 33 đơn vị hành chính ( 32 xã, 1 thị trấn) Địa giới hành chính tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Yên Bái;

- Phía Tây Nam giáp huyện Yên Lập;

- Phía Nam giáp huyện Cẩm Khê;

- Phía Đông giáp huyện Đoan Hùng và huyện Thanh Ba

Trung tâm huyện Hạ Hoà, cách thành phố Việt Trì khoảng 70 km Nằm ở

vị trí tiếp giáp với các tỉnh vùng Tây Bắc có nhiều thuận lợi trong việc giao lưu hàng hoá, phát triển kinh tế, huyện Hạ Hoà có nhiều lợi thế để trở thành trung tâm kinh tế - xã hội tiểu vùng Tây Bắc tỉnh Phú Thọ

2.1.1.2 Địa hình và đất đai thổ nhưỡng

* Địa hình, địa mạo

Địa hình chung thấp dần theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, vùng giữa huyện dọc theo Sông Hồng có độ cao thấp hơn được bao bọc bởi hai vùng đồi núi cao phía Tây Bắc giáp huyện Yên Lập và Đông Bắc giáp huyện Đoan Hùng Các triền Núi Ông, Núi Văn, Núi Tiêu Phong, Núi Kìm, Núi Chưa ở phía Tây, hướng dốc đổ dồn về phía hữu ngạn Sông Hồng Các dãy Núi Gò Ngang, Núi Buộm, Núi Sơn Nhiễu, Núi Vua ở phía Đông Bắc, sườn núi thấp dần về phía

Trang 29

Tây Nam, hướng dốc đổ dồn về hướng tả ngạn Sông Hồng Đặc điểm của kiến tạo

tự nhiên hình thành nên 3 tiểu vùng khác nhau:

- Tiểu vùng núi thấp, đồi cao: Nằm ở phía Tây Bắc huyện nơi giáp danh với huyện Yên Lập và phía Đông Bắc nơi giáp danh với huyện Đoan Hùng và tỉnh Yên Bái Độ cao trung bình so với mặt nước biển là từ 200-600m, độ dốc trung bình từ 25 – 30o , đồi chạy thành từng dải ngắn, có những nét đứt gãy bởi các thung lũng hẹp Kiểu địa hình tập trung ở các xã Quân Khê, Xuân Áng, Vô Tranh, Đại Phạm, Phụ Khánh, Hà Lương,

- Tiểu vùng đồi thấp: Nằm phía Nam của huyện tiếp giáp với huyện Thanh Ba và huyện Đoan Hùng Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 100 – 200m, địa hình ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 5 – 10o, tập trung ở các xã Chuế Lưu, Bằng Giã, Văng Lang, Gia Điền, Phương Viên, Cáo Điền, Yên Kỳ,

Ấm Hạ, Hương Xạ, Minh Côi,

- Tiểu vùng đồng bằng ven Sông Hồng: Phân bố dọc theo hai bờ Sông Hồng, là vùng đất phù sa được bồi và không được bồi Vùng này tương đối bằng phẳng, có nhiều đầm hồ tập trung các xã: Vụ Cầu, Mai Tùng, Vĩnh Chân, Lang Sơn, Minh Hạc, Thị trấn Hạ Hoà,

Nhìn chung huyện Hạ Hoà có địa hình đặc trưng miền núi thấp xen lẫn vùng đất ven sông, đất dốc nhiều, địa hình bị chia cắt

* Đất đai thổ nhưỡng

Theo kết quả đánh giá phân hạng đất huyện Hạ Hoà, đất đai của huyện gồm một số nhóm chính sau: Đất phù sa, đất Glây, đất xám, đất đỏ, đất tầng mỏng; diện tích và cơ cấu của từng loại đất được thể hiện ở bảng 2.1

Huyện Hạ Hoà có tổng diện tích đất tự nhiên là 34.026,51ha, chiếm 9,63% diện tích đất tự nhiên của tỉnh Phú Thọ Cơ cấu đất đai huyện Hạ Hoà được thể hiện qua bảng 2.1

Trang 30

Bảng 2.1 Các loại đất huyện Hạ Hoà

(Nguồn số liệu: Chi cục thống kê huyện Hạ Hoà)

Huyện Hạ Hoà có tổng diện tích đất tự nhiên là 34026,51ha, chiếm 9,63% diện tích đất tự nhiên của tỉnh Phú Thọ Trong đó:

- Diện tích đất nông nghiệp là 27.493,84 ha chiếm 80,8% tổng diện tích đất toàn huyện, trong đó diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất, chiếm đến 50,12% diện tích đất nông lâm nghiệp và thuỷ sản

- Diện tích đất phi nông nghiệp là 5.982,28 ha, chiếm tỷ trọng thấp (17,58% trong tổng diện tích đất toàn huyện)

- Diện tích đất chưa sử dụng là 550,39 ha, chiếm tỷ trọng 1,62%

Trang 31

Bảng 2.2 Thực trạng sử dụng đất đai huyện Hạ Hoà năm 2011

Trang 32

2.1.1.3 Khí hậu và thời tiết

Theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng Phú Thọ cho thấy, Hạ Hoà mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa đông khô lạnh kéo dài, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm là 23,40C (Thấp nhất là 3-40C, cao nhất là 410C) Lượng mưa trung bình một năm vào khoảng 1.800mm Độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 80-85%

Nhìn chung, khí hậu huyện Hạ Hoà phù hợp cho sinh trưởng và phát triển lượng mưa nhiều lại tập trung chủ yếu vào mùa hè (70%) nên hàng năm thường xảy ra lũ, úng ở mức độ khác nhau gây khó khăn cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, gìn giữ cảnh quan môi trường và đời sóng của nhân dân

2.1.1.5 Nguồn nước

- Nguồn nước ngầm huyện Hạ Hoà có lưu lượng khá (Bình quân khoảng 3,5-6lít/s, các lỗ khoan có độ sâu từ 60-124m), chất lượng nước đảm bảo sinh hoạt, nhưng phân bố nước ngầm không đều, những vùng núi, vùng đồi cao xa Sông Hồng thường có trữ lượng và lưu lượng thấp

- Nguồn nước mặt chuyên dùng của toàn huyện là 2043,52 ha Nguồn nước mặt tập trung chủ yếu ở các con sông, suối và các hồ đập, đảm bảo cung cấp nước cho sản xuất nông lâm nghiệp và sinh hoạt của nhân dân

2.1.1.6 Tài nguyên khoáng sản

Theo tài liệu điều tra về địa chất và báo cáo thuyết minh dự án khảo sát đo đạc xác định khu vực quản lý khai thác và bảo vệ khoáng sản trên địa bàn huyện thì huyện Hạ Hoà có một số mỏ và quặng như: Quặng sắt, Kaolin, cát, đá, sỏi, đất

Trang 33

Các mỏ khoáng sản này có trữ lượng và chất lượng đều ở mức trung bình

và nhỏ, tuy nhiên đây là nguồn tài nguyên quan trọng góp phần phát triển kinh tế của huyện

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

* Tăng trưởng kinh tế

Do nhiều cố gắng trong những năm qua nền kinh tế của huyện luôn đạt mức tăng trưởng khá cao Giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của huyện là 11%/năm, giai đoạn 2006-2010 tốc độ tăng 11,7%/năm

Giai đoạn 2006-2010 tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 11,45%, trong đó:

- Nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng trưởng bình quân là 5,5%/năm

- Công nghiệp xây dựng tăng bình quân 17,1%/năm

- Dịch vụ, thương mại và du lịch tăng tăng bình quân 21,2%/năm

Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn năm 2010 tăng 1,52 lần so với năm 2006 Bình quân giá trị sản xuất đầu người năm 2010 tăng 1,49 lần so với năm 2006

Cơ cấu kinh tế huyện Hạ Hoà từ năm 2007 đến năm 2011 được thể hịên qua bảng 2.3

Bảng 2.3 Cơ cấu kinh tế huyện Hạ Hoà giai đoạn 2007-2011

(giá cố định 1994)

Ngành

GTSX (tr đ)

Tỷ lệ (%)

GTSX (tr đ)

Tỷ lệ (%) Nông nghiệp 479.491,60 56,29 711.837,30 48,61 Công nghiệp – XD cơ bản 217.787,00 25,56 430.249,00 29,38 Thương mại - dịch vụ 154.632,00 18,15 322.287,00 22,01

(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Hạ Hoà)

Qua bảng 2.3 cho thấy, giá trị sản xuất năm 2011 tăng so với năm 2007 là 612.462,70 triệu đồng Trong đó:

- GTSX ngành nông nghiệp năm 2007 là 479.491,60 triệu đồng, năm 2011

là 711.837,30 triệu đồng ( tăng 232.345,7 triệu đồng)

Trang 34

- GTSX ngành công nghiệp – XD cơ bản năm 2007 là 217.787 triệu đồng, năm 2011 là 430.249 triệu đồng ( tăng 212.462 triệu đồng)

- GTSX ngành thương mại dịch vụ năm 2007 là 154.632 triệu đồng, năm

2011 là 322.287 triệu đồng ( tăng 167.655 triệu đồng)

Tỷ lệ GTSX của các ngành kinh tế huyện Hạ Hoà được thể hiện qua biểu

Năm 2011

48,6122,01

29,38

Nông nghiệpCông nghiệp – XD cơ bảnThương mại - dịch vụ

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu giá trị sản xuất huyện Hạ Hoà giai đoạn 2007-2011

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể và đúng hướng; tỷ trọng sản xuất nông lâm nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ tăng dần

* Dân số, lao động việc làm và đời sống nhân dân

- Dân số:

Theo số liệu thống kê đến 31 tháng 12 năm 2011, dân số toàn huyện Hạ Hoà có 106.177 người, chiếm 7,6% dân số toàn tỉnh, được phân bố ở 32 xã, 1 thị trấn; dân số thuộc khu vực đô thị có 7.674 người chiếm 7,23%, dân số thuộc khu

Trang 35

vực nông thôn là 98.503 người chiếm 92,77 dân số toàn huyện, mật độ bình quân dân số là 312 người/ km2

Dân số tập trung không đều, thường tập trung ở thị trấn và các xã có địa hình bằng phẳng, gần đường giao thông (quốc lộ, tỉnh lộ), mật độ đông dân nhất

là xã Vụ Cầu 763 người/km2, thấp nhất ở xã Quân Khê là 104 người/km2

Mật độ dân số trung bình toàn huyện bằng 81,5% so với mật độ dân số trung bình toàn tỉnh (373 người/km2)

Cơ cấu dân số và lao động tại huyện Hạ Hoà được thể hiện qua bảng 2.4

- Lao động, việc làm:

Toàn huyện có 68.122 lao động, trong đó số lao động trong độ tuổi có 54.024 người, chiếm tỷ lệ 79,3%, số người ngoài độ tuổi tham gia lao động là 14.098 người, chiếm tỷ lệ 20,7% tổng lao động Nguồn lao động của huyện khá dồi dào, nhưng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm đến 80%, lao động có tay nghề đã qua đào tạo chỉ chiếm tỷ lệ thấp 15% Phân theo ngành nghề, lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất với 65,01%; lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm 18,49%; lao động dịch vụ thương mại chiếm 16,49% Xu hướng chuyển dịch giảm dần tỷ lệ lao động sản xuất nông lâm thuỷ sản, tăng dần

tỷ lệ lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, lao động dịch vụ - thương mại

Trang 36

Bảng 2.4 Cơ cấu dân số và lao động tại huyện Hạ Hoà

TT Các đơn vị hành chính Số nhân khẩu

Trang 37

- Thu nhập và mức sống:

Trong những năm qua các mặt đời sống của nhân dân trên địa bàn huyện

ổn định và từng bước được cải thiện

Bình quân giá trị sản xuất năm 2011 (giá thực tế) đạt 13,79 triệu đồng/người/năm tăng 1,82 lần so với năm 2007

An ninh lương thực được giữ vững, bình quân lương thực ở mức khá, năm

*Kết cấu hạ tầng kỹ thuật

- Giao thông:

Huyện Hạ Hoà có tiềm năng phát triển giao thông cả đường bộ, đường

sắt, đường thuỷ; những năm gần đây mạng lưới giao thông trên địa bàn từng bước được đầu tư làm mới, nâng cấp, có nhiều cải thiện đáng kể, góp phần tích

cực tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của huyện

+ Đường bộ: Trên địa bàn huyện có gần 1500 km đường bộ gồm 2 tuyến quốc lộ, 7 tuyến đường tỉnh, 13 tuyến đường huyện, 15 tuyến đường liên xã, 501 tuyến đường liên thôn xóm, 325 tuyến đường nội đồng, đường lên đồi, 17 tuyến đường nội thị

Mạng lưới giao thông đường bộ trên địa bàn huyện hiện nay tương đối phù hợp với phân bố dân cư và nền sản xuất, phù hợp chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội, chiến lược an ninh quốc phòng; phù hợp quy hoạch phát triển giao thông đường bộ quốc gia, của tỉnh, của vùng

+ Đường thuỷ: Từ địa hình đa dạng tạo nên mặt sông, suối, ngòi khá nhiều, thuận lợi để giao thông đương thuỷ phát triển Sông Hồng là tuyến giao

Trang 38

thông thuỷ quan trọng nhất, từ tỉnh Yên Bái chảy qua địa phận huyện với chiều dài 31,5 km Hạ Hoà có 2 bến xếp dỡ với quy mô nhỏ đang được khai thác có hiệu quả ( bến Vĩnh Chân, bến thị trấn Hạ Hoà), có một bến phà (phà Ấm Thượng) và 18 bến đò ngang qua sông Giao thông đường thuỷ trên địa bàn huyện Hạ Hoà có nhiều thuận lợi phát triển; hàng năm khối lượng hàng hoá vận tải bằng đường thuỷ đạt hàng trăm nghìn tấn, lượng hàng hoá thông qua các bến xếp dỡ đạt khoảng 150 nghìn tấn

+ Đường sắt: Tuyến đường sắt Hà Nội đi Lào Cai chạy qua 12 xã, thị trấn thuộc địa phận Hạ Hoà có chiều dài 27,5 km, có 2 ga (ga Ấm Thượng, ga Đan Thượng) Đường sắt đã tạo nhiều thuận lợi cho nhân dân đi lại, lưu thông hàng hoá nông sản

- Thuỷ lợi:

Hệ thống công trình thuỷ lợi trên địa bàn Hạ Hoà, tương đối hoàn chỉnh, phục

vụ tốt cho sản xuất nông-lâm nghiệp, cùng các nhu cầu sinh hoạt của nhân dân

+ Đê điều: Các tuyến đê thuộc địa phận Hạ Hoà gồm: Đê tả sông Thao từ Hậu Bổng đến Vụ Cầu dài 32,5 km; đê hữu sông Thao từ Hiền Lương đến Minh Côi dài 23,2 km; đê hữu ngòi Lao dài 9,5 km; đê ngòi Vần, đê Tiểu Phạm, đê ngòi Giành Đê, kè đều được chú trọng đầu tư nâng cấp, gia cố, cứng hoá mặt đê

để đảm bảo phòng, chống lũ

+ Hồ đập: Toàn huyện hiện có 102 hồ chứa lớn, vừa và nhỏ, trong đó có 3

hồ chứa lớn có diện tích mặt thoáng từ 100ha đến 200ha là hồ Ngòi Vần, hồ Ao Châu, hồ Đồng Phai, còn lại các hồ đập giữ nước vừa và nhỏ có diện tích mặt thoáng dưới 100 ha

+ Trạm bơm: Tổng số có 14 trạm bơm điện công suất từ 250 đến 500m3/giờ, gồm 13 trạm bơm tưới và 1 trạm bơm tiêu

- Kênh mương: hệ thống kênh mương đảm bảo tưới tiêu trên địa bàn có tổng chiều dài 427,8 km gồm: Các tuyến kênh chính chiều dài 168,8 km đảm bảo

Trang 39

tưới cho 3308 ha; các tuyến kênh nhánh N1 chiều dài 152,4 km đảm bảo tưới cho

1819 ha; các tuyến kênh nhánh N2 chiều dài 106,6 km đảm bảo tưới cho 1.382 ha

Tổng chiều dài kênh mương đã được đầu tư kiên cố hoá là 104,4 km trong

đó kênh chính 68,6 km, kênh nhánh N1 24,5 km, kênh nhánh N2 11.3 km

Nhìn chung hệ thống tưới tiêu của huyện hiện nay đã được đầu tư cải tạo nâng cấp, tăng khả năng phục vụ cho sản xuất, đặc biệt là diện tích trồng lúa

- Năng lượng:

Mạng lưới điện trên địa bàn huyện hiện có đường dây cao thế, trung thế,

hạ thế và 140 trạm biến áp các loại, đang từng bước được cải tạo nâng cấp, thay thế, xây dựng mới Những năm vừa qua ngành điện đã tập trung đầu tư các công trình trọng điểm về lưới điện, đến nay 100% xã có điện lưới quốc gia, 100% các khu dân cư có điện lưới, điện năng cung cấp đạt trên 500 KWh/người/năm

- Bưu chính viễn thông:

Hệ thống bưu chính viễn thông huyện trong những năm qua đã từng bước phát triển Đến nay trên địa bàn có một bưu điện huyện, 33/33 xã đã có bưu điện văn hoá xã Số máy điện thoại toàn huyện hiện có là 17.614 máy, bình quân số máy điện thoại đạt 35 máy/100 dân (cả điện thoại di động) Hiện nay sóng di động với các dịch vụ cung cấp của VNPT, vietel, …đã được phủ sóng đến 33/33

xã, thị trấn

* Giáo dục và đào tạo

Sự nghiệp giáo dục – đào tạo có nhiều tiến bộ, trong những năm qua luôn được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp và sự nỗ lực

cố gắng của toàn ngành, vì vậy sự nghiệp giáo dục đã được phát triển Quy mô trường lớp hợp lý, cơ sở vật chất trường học được tăng cường; kỷ cương nề nếp học đường được giữ vững; chất lượng giáo dục toàn diện được duy trì và nâng cao Hiện tại, toàn huyện có 94 trường từ mẫu giáo đến trung học phổ thông Tổng số lớp học là 663 lớp, trong đó 35 trường mẫu giáo, mầm non với 170 lớp;

Trang 40

bậc tiểu học có 34 trường, 296 lớp; bậc trung học cơ sở có 22 trường, 194 lớp học; bậc trung học phổ thông có 93 lớp học

Công tác đào tạo, dạy nghề được quan tâm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo nghề trong độ tuổi

*Thực trạng môi trường

Hạ Hoà là huyện miền núi chưa có nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp nên môi trường sinh thái còn tương đối tốt, nhiều khu vực có sinh cảnh, khí hậu trong lành như Ao Châu, Ao Giời - Suối Tiên, …Thiên nhiên đã tạo cho Hạ Hoà nhiều phong cảnh đẹp, bao trùm là một màu xanh của hệ thống thảm thực vật, thêm vào đó là các dãy núi, đồi xen kẽ là các ruộng bậc thang và hệ thống sông suối uốn lượn đã tạo nên cảnh quan rất đặc trưng

Nhìn chung Hạ Hoà có cảnh quan thiên nhiên đẹp và môi trường trong lành, do không có các nhà máy lớn đóng trên địa bàn nên môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí chưa bị ô nhiễm, có hệ thống thảm thực vật với độ che phủ cao cung cấp nguồn không khí trong lành cho môi trường sống và bảo vệ đất chống xói mòn, là môi trường lý tưởng cho loại hình phát triển du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái

2.1.4 Đánh giá chung về các đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở huyện Hạ Hòa

2.1.4.1 Thuận lợi, lợi thế

Huyện Hạ Hoà có vị trí địa lý khá thuận lợi là cửa ngõ của tỉnh, trong hành lang kinh tế Đông – Tây, giáp ranh với tỉnh Yên Bái, có các tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua, ( đường bộ, đường thuỷ, đường sắt); có nhiều thế mạnh phát triển thương mại trao đổi hàng hoá với các huyện trong tỉnh, cũng như với các huyện thuộc tỉnh giáp ranh

Lượng mưa hàng năm khá lớn, khí hậu ôn hoà, thuận lợi cho phát triển nhiều tiểu vùng sản xuất nông nghiệp đặc thù với nhiều loại cây trồng vật nuôi

Ngày đăng: 02/03/2016, 04:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Các loại đất huyện Hạ Hoà - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 2.1 Các loại đất huyện Hạ Hoà (Trang 30)
Bảng 2.2. Thực trạng sử dụng đất đai huyện Hạ Hoà năm 2011 - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 2.2. Thực trạng sử dụng đất đai huyện Hạ Hoà năm 2011 (Trang 31)
Bảng 2.4. Cơ cấu dân số và lao động tại huyện Hạ Hoà - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 2.4. Cơ cấu dân số và lao động tại huyện Hạ Hoà (Trang 36)
Bảng 3.1. Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung huyện Hạ Hoà (giá cố định 1994) - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.1. Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung huyện Hạ Hoà (giá cố định 1994) (Trang 47)
Bảng 3.2. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện Hạ Hoà giai đoạn 2007-2011 (giá cố định 1994) - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.2. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện Hạ Hoà giai đoạn 2007-2011 (giá cố định 1994) (Trang 53)
Bảng 3.3. Quy mô và cơ cấu diện tích đất gieo trồng tại huyện Hạ Hoà - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.3. Quy mô và cơ cấu diện tích đất gieo trồng tại huyện Hạ Hoà (Trang 55)
Bảng 3.6. Quy mô và Cơ cấu chăn nuôi huyện Hạ Hoà giai đoạn từ năm 2007 - 2011 - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.6. Quy mô và Cơ cấu chăn nuôi huyện Hạ Hoà giai đoạn từ năm 2007 - 2011 (Trang 64)
Bảng 3.8. Tình hình phát triển ngành thuỷ sản huyện Hạ Hoà - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.8. Tình hình phát triển ngành thuỷ sản huyện Hạ Hoà (Trang 68)
Bảng 3.9. Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của ba vùng kinh tế trong huyện Hạ Hoà - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.9. Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của ba vùng kinh tế trong huyện Hạ Hoà (Trang 70)
Bảng 3.10. Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp theo thành phần kinh tế huyện Hạ Hoà - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.10. Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp theo thành phần kinh tế huyện Hạ Hoà (Trang 73)
Bảng 3.11. Phân loại hộ theo nghề nghiệp trên địa bàn huyện Hạ Hoà từ năm 2007 đến năm 2011 - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.11. Phân loại hộ theo nghề nghiệp trên địa bàn huyện Hạ Hoà từ năm 2007 đến năm 2011 (Trang 75)
Bảng 3.12. Thực trạng phát triển trang trại tại huyện Hạ Hoà - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.12. Thực trạng phát triển trang trại tại huyện Hạ Hoà (Trang 76)
Bảng 3.13. Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của các hộ điều tra - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.13. Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của các hộ điều tra (Trang 78)
Bảng 3.14. Quy mô & cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp ở các hộ điều tra. - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.14. Quy mô & cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp ở các hộ điều tra (Trang 79)
Bảng 3.15. Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Hạ Hoà - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.15. Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Hạ Hoà (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w