Xuất phát từ quan điểm đó và thực trạng hoạt động của các DNVVN hiện nay, em quyết định chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTM cổ phần Công T
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận của mình, ngoài sự cố gắng lỗ lực của bản thân, em nhận được
sự giúp đỡ từ gia đình, bạn bè và các nguồn tài liệu tham khảo khác Em xin được bày tỏ lòng biết ơn đến ban giam hiệu trường ĐHDL Đông Đô, các thầy cô trong khoa Quan hệ quốc tế, thư viện trường ĐHDL Đông Đô, tạo điều kiện giúp đỡ động viên em trong quá trình học tập 4 năm tại trường và hoàn thành khóa luận tôt nghiệp của mình.
Một lần nữa em cũng xin đựơc bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Tiến sỹ: Nguyễn Trọng Tài giảng viên trường Học viện Ngân hàng Thầy đã tận tình chỉ bảo em trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Và đây là bài nghiên cứu khoa học đầu tiên của em Vì vậy, khoá luận chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết Em rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo trong hội đồng phản biện nhằm hoàn thiện tốt hơn đề tài nghiên cứu cũng như củng cố và nâng cao kiến thức của bản thân.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày tháng năm 2012 Sinh viên thực hiện
Dương Văn Xuân
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
I Danh mục các chữ viết tắt tiếng Anh.
giới
Society for Worldwide
Interbank Financial Telecommunication
Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng Toàn thế giới
6 ACB Asia Commercial Bank Ngân hàng Thương mại Cổ
Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa
II Danh mục các chữ viết tắt tiếng Việt.
Trang 3ST
Trang 42.4 Tình hình cho vay đối với DNVVN tại NHTMCP Công Thương
2.5 Tình hình dư nợ cho vay đối với DNVVN tại NHTMCP Công
2.6 Dư nợ cho vay đối với DNVVN tại NHTMCP Công Thương chi
2.7 Tình hình dư nợ cho vay DNVVN theo đảm bảo tại NHTMCP
2.8 Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay đối với DNVVN tại
2.9 Vòng quay vốn tín dụng đối với DNVVN tại NHTMCP Công
2.10 Tình hình nợ quá hạn đối với DNVVN tại NHTMCP Công
2.11 Tình hình nợ xấu tại NHTMCP Công Thương chi nhánh Tiên
2.12 Tình hình thu nợ DNVVN tại NHTMCP Công Thương chi
2.13 Số DNVVN có quan hệ tín dụng với NHTMCP Công Thương
Danh mục biểu đồ
Trang 52.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP Công Thương
2.2 Doanh số cho vay DNVVN ngắn hạn tại NHTMCP Công
2.3 Doanh số cho vay DNVVN trung và dài hạn tại NHTMCP
2.4 Tỷ trọng DNVVN của NHTMCP Công Thương chi nhánh
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Trong quá trình phát triển của mỗi nền kinh tế thì các doanh ngiệp vừa và nhỏ (DNVVN) luôn đóng vai trò quan trọng, là động lực mạnh mẽ tạo nên sự tăng trưởng liên tục trong nền kinh tế Thực tế hiện nay, số DNVVN ở nước ta chiếm khoảng 96% tổng số các DN, đóng góp của những DN này vào GDP hàng năm
là khá lớn Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNVVN
là bước đi hợp quy luật đối với nước ta Các DNVVN ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong việc giải quyết các mối quan hệ mà quốc gia nào cũng phải quan tâm chú ý đến đó là: tăng trưởng kinh tế- giải quyết việc làm- hạn chế lạm phát
Tuy nhiên, vấn đề của các DNVVN hiện nay là rất thiếu vốn và chậm đổi mới công nghệ để mở rộng sản xuất, trình độ quản lý còn yếu kém, năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh còn chưa cao … Hơn nữa, khi nền kinh tế vẫn còn chưa phục hồi sau khủng hoảng tài chính thì các DNVVN vốn đã gặp khó khăn do thiếu vốn để sản xuất kinh doanh nay lại càng khó khăn hơn Vì vậy việc đi vay từ các NHTM là một nguồn vốn tốt cho các DN này tạm thời thoát khỏi khó khăn và tiếp tục kinh doanh tốt hơn
Ngày nay, tình hình hoạt động các Ngân hàng ngày càng không ngừng phát triển Các dịch vụ ngày càng tiến bộ và thu hút, thủ tục hành chính ngày một cải cách Trong khi đó thực tế hiện nay cho thấy nguồn vốn tín dụng ngân hàng đầu
tư cho phát triển các DNVVN còn rất hạn chế vì các DNVVN khó đáp ứng đầy
đủ điều kiện vay vốn ngân hàng và khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng thì các doanh nghiệp lại sử dụng vốn chưa hợp lý và hiệu quả Vì thế việc tìm ra giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN là một vấn đề bức xúc hiện nay của các NHTM Xuất phát từ quan điểm đó và thực trạng hoạt động của các DNVVN
hiện nay, em quyết định chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTM cổ phần Công Thương Việt Nam chi nhánh Tiên Sơn” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trang 72 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chất lượng tín dụng đối với DNVVN của
NHTM
- Phân tích thực trạng tín dụng đối với DNVVN tại NHTMCP Công Thương Việt
Nam chi nhánh Tiên Sơn
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng tín dụng tại
NHTMCP Công Thương chi nhánh Tiên Sơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chất lượng tín dụng
đối với DNVVN của NHTM
- Phạm vi: chủ yếu đề cập đến chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại
NHTMCP Chi nhánh Tiên Sơn trong giai đoạn 2008-2010
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, logic…
5 Kết cấu của khóa luận
Khóa luận bao gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó, phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về chất lượng tín dụng đối với DNVVN Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại
NHTM Cổ phần Công Thương Tiên Sơn
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại
NHTM Cổ phần Công Thương Tiên Sơn
Trang 8Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN.
1.1 Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại.
1.1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
a) Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Khái niệm
Để hiểu rõ thế nào là một DNVVN thì ta cần hiểu thế nào là một DN?
Theo khoản 1 điều 4 luật DN năm 2005 thì: “DN là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được dăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”
Để phân biệt các loại hình DN với nhau thì có rất nhiều tiêu chí, ví dụ như:
- Phân chia theo loại hình DN:
Ở nước ta theo Nghị định 90/2002/NĐ – CP ban hành ngày 23/11/2001 thì:
DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội
cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí nói trên Văn bản pháp luật đầu tiên và chính thức
quy định về DNVVN này đã tạo nên khung pháp lý cho việc trợ giúp phát triển DNVVN ở nước ta
Đặc điểm.
Với đặc trưng của DNVVN là số vốn đầu tư ban đầu ít nên các DNVVN có những ưu điểm sau:
Trang 9- Thu hồi vốn nhanh: vốn đầu tư dưới 10 tỷ đồng đi kèm với chu kỳ sản
xuất kinh doanh thường ngắn nên khả năng thu hồi vốn nhanh
- Có tính năng động và linh hoạt cao: vì số vốn đầu tư nhỏ nên khi thị
trường có biến động thì các DNVVN sẽ dễ dàng chuyển hướng kinh doanh hoặc chuyển mặt hàng kinh doanh để thích ứng
- Tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế:
các DNVVN có mặt ở hầu hết các lĩnh vực như thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông- lâm- ngư nghiệp… và hoạt động dưới mọi hình thức như: DNNN, DN tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, DN có vốn đầu tư nước ngoài… Với quy mô khiêm tốn, các DN này có thể hoạt động trong cả những lĩnh vực mà các DN lớn không muốn tham gia hoặc không thể vươn tới, từ
đó đã tạo ra được một lượng cung hàng hóa phong phú, đáp ứng đầy đủ kịp thời mọi nhu cầu tiêu dùng của tất cả các thành phần trong xã hội
- Cơ cấu tổ chức, quản lý tương đối hiệu quả: do cơ cấu tổ chức nhỏ
gọn, ít cấp bậc, thường không bị chồng chéo nên chi phí quản lý thấp, thời gian đưa ra quyết định ngắn do đó có thể nắm bắt cơ hội hoặc sửa chữa kịp thời những
kế hoạch sản xuất kinh doanh cho sát với những biến động của thị trường
Ngoài những đặc điểm thuận lợi trên, DNVVN cũng có những nhược điểm:
- Năng lực cạnh tranh hạn chế: vì quy mô nhỏ nên không có điều kiện
đầu tư quá nhiều vào nâng cấp, đổi mới máy móc thiệt bị, mua sắm công nghệ tiên tiến để mở rộng sản xuất mà thường phải sử dụng những công nghệ đã cũ hoặc tận dụng kết hợp cả công nghệ cũ và công nghệ mới nên năng suất sản phẩm thường không cao, tính cạnh tranh trên thị trường kém
- Gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn thông tin: để có được nguồn
thông tin đáng tin cậy về thị trường một cách kịp thời, đầy đủ thì đối với những
DN lớn cũng là đã khó và với những DNVVN thì lại càng khó hơn DNVVN chủ yếu tiếp nhận thông tin thông qua các kênh thông tin do Nhà nước tài trợ
- Năng lực quản lý thấp: do những điều kiện đi kèm về vốn và doanh
thu mà các DNVVN ít có khả năng thu hút những nhà quản lý và lao động có trình độ tay nghề cao hay có chế độ đãi ngộ để giữ chân họ nên năng lực quản lý của các DN này nhìn chung còn hạn chế
b) Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế.
Trang 10Ta thấy rất nhiều tập đoàn lớn, DN lớn đều được thành lập lên từ việc các DNVVN tích tụ, tập trung vốn Và ngay cả các nước tư bản phát triển, các DNVVN vẫn giữ một vai trò vị trí quan trọng và ngày càng được khẳng định bởi
có nhiều lĩnh vực kinh doanh chỉ có thể đạt hiệu quả bởi các DNVVN Sau thời
kỳ suy thoái kinh tế những năm đầu thập kỷ 30 của thế kỷ trước, người ta nhận ra rằng khu vực DNVVN là nhân tố quan trọng thúc đẩy cạnh tranh, bảo đảm ổn định kinh tế, phòng ngừa nguy cơ khủng hoảng Trong nền kinh tế các DNVVN
có những vai trò sau:
- Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: do lợi thế vốn ban đầu ít kết
hợp với chi phí thấp, tính năng động và linh hoạt cao nên trong những năm qua số
DNVVN phát triển khá nhanh, ngày càng chiếm tỷ trọng cao về số lượng (ở Việt Nam chỉ xét các DN có đăng ký kinh doanh thì đến năm 2010 tỷ lệ này là khoảng 96% ), đóng góp một phần rất lớn vào thu nhập quốc dân của mỗi nền kinh tế,
theo thống kê của Bộ kế hoạch và Đầu tư thì mỗi năm các DNVVN ở Việt Nam
đã đóng góp 40% vào GDP cả nước, 29% kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng đạt 18%/ năm Bên cạnh đó, với sự phân bố rộng khắp và tương đối đa
dạng trong các ngành nghề kinh doanh (phần lớn các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng…) lại không đòi hỏi trình
độ lao động quá cao, nên có khả năng thu hút nhiều lao động, tạo ra nhiều công
ăn việc làm cho xã hội, giúp tăng thu nhập cho người dân, giúp giải quyết vấn đề
xã hội của mọi quốc gia, đặc biệt ở các nước nghèo và các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
- Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: trong hầu hết các nền kinh tế, các
DNVVN là những nhà thầu phụ cho các DN lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Khi nền kinh tế gặp khó khăn hoặc khi Nhà nước chuyển hướng kinh tế từ ngành này sang ngành khác, các DN lớn với cơ cấu và quy mô vốn lớn sẽ rất khó có thể chuyển ngành sản xuất kinh doanh nhưng các DNVVN thì có thể Vì thế các DNVVN được xem như là thanh giảm sốc của nền kinh tế
- Là trụ của nền kinh tế địa phương: nếu như DN lớn thường đặt trụ sở
ở những trung tâm kinh tế lớn của đất nước, thì các DNVVN lại có mặt ở khắp
Trang 11các địa phương, tiến hành khai thác tiềm năng, thế mạnh của các địa phương về tài nguyên, lao động, từ đó đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng
và tạo công ăn việc làm ở địa phương
- Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội ngày càng phong phú đa dạng mà các DN lớn không làm được: nhu cầu con người ngày càng tăng cùng với sự phát
triển của xã hội Bằng sự đa dạng nghề nghiệp, tính nhạy cảm thị trường, các DNVVN sẽ có nhiều thuận lợi trong sản xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng mọi sản phẩm và nhu cầu tiêu dùng đến từng cá nhân Các DN lớn với việc áp dụng các dây truyền sản xuất hiện đại, sản phẩm được sản xuất ra hàng loạt với số lượng lớn sẽ dần dần không thể đáp ứng nhu cầu phong phú của từng cá nhân mà các nhu cầu riêng lẻ này sẽ được chuyển đến các DNVVN với đội ngũ lao động thủ công, đến từng cơ sở sản xuất nhỏ và hộ gia đình
- DNVVN có vai trò quan trọng trong lĩnh vực phân phối lưu thông:
trong quá trình tái sản xuất xã hội, hàng hóa được chuyển từ khâu sản xuất qua khâu trung gian là khâu tiêu thụ mới đến tay người tiêu dùng Nếu thực hiện cả sản xuất và lưu thông sẽ đòi hỏi quy mô phải cực lớn và thường không mang lại hiệu quả tích cực, điều này đúng cả với các DN lớn Do các DNVVN rất thích hợp với lĩnh vực kinh doanh thương mại và dịch vụ bán lẻ, nên mô hình thích hợp
ở đây sẽ là DN lớn đảm nhiệm khâu sản xuất hàng hóa và các DNVVN vệ tinh sẽ phụ trách khâu tiêu thụ
- DNVVN góp phần chuyển dịch cở cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước: nếu muốn chuyển từ nền sản xuất thuần nông sang
nền kinh tế công nghiệp phát triển, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ buộc chúng ta phải chú trọng phát triển các DNVVN Sự phát triển của các DN này tại các vùng nông thôn tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại dịch vụ, tiểu thương phát triển theo, từ đó thu hẹp dần tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế Cùng với việc tham gia phát triển kinh tế địa phương, các DNVVN đã góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa, thu hút và tập trung dân cư vào các vùng kinh tế trọng điểm, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước
Trang 121.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội: nền kinh tế - xã hội phát triển ở trình
độ cao sẽ thúc đẩy các DN nói chung và các DNVVN nói riêng phát triển và ngược lại
- Chính sách và cơ chế quản lý: Nhà nước, Chính phủ và các cơ quan ban hành những chính sách và cơ chế quản lý tác động mạnh mẽ đến hoạt động của DNVVN Nếu chính sách và cơ chế quản lý phù hợp sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp này phát triển
- Đội ngũ các nhà sáng lập và quản lý doanh nghiệp: đội ngũ này có trình độ chuyên môn cao và có kinh nghiệp là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển doanh nghiệp
- Sự phát triển và khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ: ngày nay khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão Áp dụng khoa học và công nghệ tiên tiến sẽ giúp doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình phát triển, giảm thời gian
và chi phí…
- Tình hình thị trường: thị trường biến động sẽ ảnh hưởng cùng chiều tới hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp
1.2 Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ngày nay tuy có nhiều thay đổi trong hoạt động kinh doanh của nhưng cho vay vẫn là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất và mang lại nhiều thu nhập nhất cho các ngân hàng Hiệu quả của hoạt động cho vay không chỉ giới hạn trong lĩnh vực của hoạt động Ngân hàng mà còn thực hiện thông qua hiệu quả sử dụng vốn vay của khách hàng vay vốn, qua sự tăng trưởng và phát triển của các ngành kinh tế
Danh từ “ Tín dụng” xuất phát từ gốc la tinh “Gredittum” có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm Tín dụng là phạm trù kinh tế mạng tính lịch sử, ra đời và tồn tại trong nền kinh tế sản xuất và trao đổi hàng hóa Nó là một trong những sản phẩm
Trang 13chính của ngân hàng Đây là hình thức sản phẩm mang hình phi vật chất, là dịch
vụ đặc biệt Sản phẩm này chỉ có khả năng đánh giá được sau khi khách hàng đã
sử dụng Do đó, hiệu quả của hoạt động tín dụng có thể được hiểu như sau:
Chất lượng hoạt động tín dụng là kết quả tổng hòa những thành tựu hoạt động tín dụng thể hiện ở sự phát triển ổn định vững chắc của nền kinh tế quốc dân, của Ngân hàng và của khách hàng Hiệu quả hoạt động cho vay được hiểu đúng nghĩa là Ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách hàng, đồng thời khách hàng vay vốn hoàn trả đúng thời hạn, đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng Đối với khách hàng vay vốn thì hiệu quả của hoạt động cho vay đó chính là khách hàng có thể bì đắp kịp thời nhu cầu thiếu hụt vốn, trang trải được các chi phí hoạt động đem lại lợi nhuận cho DN.
Xem xét từ những góc độ khác nhau thì có những quan niệm về chất lượng tín dụng:
+ Từ góc độ Ngân hàng: các khoản cho vay của Ngân hàng đối với DNVVN
được coi là có hiệu quả khi Ngân hàng có thể thu hồi được khoản nợ, khoản vay
đó phù hợp hợp với khả năng của Ngân hàng và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
+ Từ góc độ DNVVN: để hoạt động cho vay có thể diễn ra thì không thể thiếu
khách hàng vay vốn hay nói cụ thể là DNVVN Khoản vay có hiệu quả khi nó đáp ứng kịp thời nhu cầu thiếu hụt vốn với lãi suất hợp lý, thủ tục nhanh gọn, thuận tiện tạo điều kiện cho DN tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả
+ Từ góc độ nền kinh tế: hoạt động của NHTM luôn đặt trong mối quan hệ chặt
chẽ với nền kinh tế Hiệu quả của TDNH đó là đảm bảo nền kinh tế đi lên theo đúng hướng, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, khai thác có hiệu quả các tiềm năng sẵn có của đất nước… góp phần làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững
1.1.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
a) Các chỉ tiêu định tính.
+ Đảm bảo nguyên tắc cho vay: Mọi tổ chức kinh tế hoạt động đều dựa trên các
Trang 14nguyên tắc nhất định Do đặc thù của ngân hàng là tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động của nó ảnh hưởng sâu sắc tín dụng là một nguyên tắc quan trọng đối với
mỗi ngân hàng
Để đánh giá hiệu quả một khoản vay, điều đầu tiên phải xem xét là khoản vay đó
có đảm bảo nguyên tắc cho vay hay không?
Trong “Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng” ban hành theo quyết định số: 167/2001/QĐ – NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc
NHNN, tại điều 6 có quy định rõ:
“Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo:
1 Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
2 Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng”
Hai nguyên tắc trên là nguyên tắc tối thiểu mà bất cứ một khoản vay nào cũng phải đảm bảo
+ Quy trình thẩm định: thẩm định cho vay là công việc hết sức quan trọng, là
tiền đề quyết định việc cho vay là hiệu quả vốn đầu tư Thẩm định là quá trình phân tích, đánh giá dự án trên cơ sở những chuẩn mực, nhằm rút những kết luận làm căn cứ cho đưa ra quyết định cho vay
Quá trình thẩm định là cách tốt nhất để ngân hàng nắm được thông tin về năng lực pháp luật, đạo đức, tình hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng… Đây
là khâu không thể thiếu trong quá trình quyết định cho vay và theo dõi khoản vay Quá trình thẩm định phải tuân theo nguyên tắc, các căn cứ, các quy trình và nội dung thẩm định của từng ngân hàng Một khoản vay có chất lượng là khoản vay
đã được thẩm định và phải đảm bảo các bước của quá trình thẩm định
b) Các chỉ tiêu định lượng.
Chỉ tiêu định lượng giúp cho Ngân hàng có các đánh giá cụ thể hơn về mặt chất của hiệu quả cho vay, giúp ngân hàng có biện pháp xử lý kịp thời những khoản vay kém hiệu quả Các chỉ tiêu cụ thể mà các ngân hàng thường dùng là:
+ Doanh số cho vay: là số tiền mà Ngân hàng đã thực sự giải ngân cho khách
hàng được tính trong một thời kỳ Doanh số cho vay là chỉ tiêu quan trọng để
Trang 15đánh giá hiệu quả của hoạt động cho vay Đây là vốn Ngân hàng giúp DN trong đầu tư, cải tiến máy móc thiết bị, ứng dụng công nghệ mới, mở rộng sản xuất kinh doanh Con số và tốc độ của doanh số cho vay qua các năm phản ánh quy
mô và xu hướng của hoạt động tín dụng là đang mở rộng hay thu hẹp
+ Doanh số thu nợ: là chỉ tiêu phản ánh tổng số tiền thực tế mà khách hàng đã
vay vốn tại Ngân hàng đã trả cho chính Ngân hàng đó trong một thời kỳ
+ Dư nợ cho vay: Chỉ tiêu này được đo bằng số tuyệt đối giữa doanh số cho
vay và doanh số thu nợ, nó phản ánh lượng vốn mà khách hàng còn nợ Ngân hàng tại một thời kỳ cụ thể Tổng dư nợ thấp phản ánh hiệu quả cho vay thấp, nó chỉ ra Ngân hàng không có khả năng mở rộng hoạt động cho vay, khả năng tiếp thị khách hàng kém, thị phần thấp… Tuy nhiên, khi xem xét chỉ tiêu này không nên xem xét trong một thời kỳ riêng lẻ mà xem xét trong cả quá trình trên cơ sở phân tích các yếu tố bên ngoài để chỉ tiêu này phản ánh một cách có hiệu quả nhất
+ Nợ quá hạn: Khả năng hoàn trả của người vay là yếu tố quan trọng nhất để
cấu thành hiệu quả của hoạt động cho vay Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không chủ động hoàn trả, trên tài khoản tiền gửi không có tiền hoặc không đủ tiền
để thu nợ nếu sau khi xem xét mà Ngân hàng thấy nguyên nhân chậm trả là do khuyết điểm chủ quan của khách hàng gây nên thì khoản nợ đó sẽ bị chuyển sang
nợ quá hạn
Theo quy định chung, lãi suất nợ quá hạn mà tổ chức tín dụng được tính tối đa bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn Trường hợp người vay chậm thanh toán một kì, có thể chuyển toàn bộ qua nợ quá hạn nhưng chỉ tính lãi quá hạn trên khoản nợ mà người vay đã không trả đúng hạn, còn phần nợ gốc chưa đến kì hạn trả thì vẫn tính theo lãi suất cho vay theo hợp đồng tín dụng Trường hợp đến thời điểm cuối cùng của thời hạn cho vay mà khách vay vẫn không trả hết số nợ gốc
và nợ lãi, không được tổ chức tín dụng gia hạn thì sẽ tính lãi suất quá hạn trên toàn bộ dư nợ gốc đã chuyển Trường hợp người vay trễ hạn, bị chuyển nợ quá hạn nhưng sau đó đã thanh toán sòng phẳng sẽ thực hiện chuyển toàn bộ dư nợ còn lại của các khoản vay đó từ nợ quá hạn vào nợ trong hạn
Trang 16Nợ quá hạn được chia làm hai loại:
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là những khoản nợ mà khách hàng vẫn có khả năng trả được nợ cho Ngân hàng Đây là loại nợ quá hạn do định kỳ trả nợ ngắn hơn chu kỳ sản xuất kinh doanh hoặc vì một lý do nào đó mà khách hàng chưa thu hồi được khoản tiền bán hàng chưa trả được nợ đúng hạn cho Ngân hàng và khoản nợ đó bị chuyển sang nợ quá hạn
- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi: đây là loại nợ quá hạn do người vay vốn bị phá sản do kinh doanh thua lỗ hoặc bị lừa đảo hoặc người vay vốn bị chết không còn khả năng trả nợ cho ngân hàng Khi đó Ngân hàng buộc phải chuyển khoản vay này sang nợ quá hạn để chờ xử lý, khả năng thu hồi được khoản vay vốn này là rất ít Thông thường, các Ngân hàng sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp cho khoản nợ quá hạn này
+ Tỷ lệ nợ quá hạn: để đánh giá về khoản nợ quá hạn, người ta thường xem
lệ này càng thấp càng tốt Tuy nhiên, có trường hợp tỷ lệ nợ quá hạn ở dưới mức cho phép song vẫn không được đánh giá là tốt nếu số nợ quá hạn không thể thu hồi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số nợ quá hạn hoặc giá trị tài sản thế chấp không đủ để thu hồi nợ
+ Vòng quay vốn tín dụng:
Trang 17Vòng quay vốn tín dụng =
Chỉ tiêu này cho biết trong một thời gian nhất định vốn tín dụng quay được mấy vòng Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ vốn của Ngân hàng luân chuyển càng nhanh Việc đánh giá chỉ tiêu trên thường được so sánh giữa các kỳ khác nhau So với kỳ trước, nếu vòng quay vốn tín dụng càng nhiều chứng tỏ tốc
độ quay vòng vốn tín dụng trong kỳ tăng nhanh và ngược lại
cụ thể như sau:
a) Nhân tố khách quan.
Là nhóm nhân tố thuộc về môi trường bên ngoài hoạt động tín dụng của NHTM đối với DNVVN Nhóm nhân tố này bao gồm:
• Môi trường kinh tế: Đây là môi trường hoạt động hay môi trường
“sống” của các DN và Ngân hàng Các biến động của môi trường kinh tế như: chu kỳ kinh tế, tỷ lệ lạm phát, mức ổn định giá cả, lãi suất, tình trạng thất nghiệp, triển vọng của các ngành nghề kinh tế có sử dụng vốn vay của Ngân hàng… tác động rất mạnh tới hoạt động của cả DN và Ngân hàng
Trang 18+ Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, sản xuất cũng phát triển làm tăng nhu cầu vay vốn Ngân hàng của các DN để đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh Đây
là cơ hội cho các Ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay, nâng cao chất lượng của các khoản cho vay, thu hồi nợ đến hạn được thuận lợi và đây là giai đoạn Ngân hàng thu được lợi nhuận cao nhất
+ Bên cạnh đó, lạm phát cũng là nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với DNVVN Lạm phát luôn bắt nguồn từ sự mất cân đối giữa tổng lượng hàng hóa và tổng tiền cung ứng ra thị trường Lạm phát làm gia tăng chi phí đầu vào của DNVVN, làm tăng giá bán sản phẩm, ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của DN Điều đó là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát khiến các Ngân hàng đối mặt với nguy cơ rủi ro tín dụng
+ Biến động của lãi suất cũng là một nhân tố vố cùng quan trọng đối với chất lượng của khoản cho vay Việc tăng giảm lãi suất có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng đối với DNVVN Khi lãi suất trên thị trường tăng buộc các Ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay đối với các DN nói chung và DNVVN nói riêng Việc tăng lãi suất cho vay để trang trải chi phí huy động vốn
và đạt được mức lợi nhuận dự kiến Tuy nhiên, khi lãi suất cho vay tăng lên các DNVVN vay vốn có xu hướng không muốn trả nợ cho Ngân hàng mà muốn chiếm dụng vốn đó sử dụng cho kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo Điều này sẽ gây khó khăn cho Ngân hàng khi thu nợ Ngược lại, khi lãi suất giảm thì các Ngân hàng cũng có xu hướng giảm lãi suất cho vay để tăng khả năng cạnh tranh
và thu hút các DN đến vay vốn Lúc này, DN lại có xu hướng trả nợ trước hạn Việc tăng giảm lãi suất đều ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.Ngoài ra, chính sách kinh tế của Nhà nước ưu tiên hay hạn chế sự phát triển của một ngành nghề hay một lĩnh vực nào đó đảm bảo sự cân đối trong nên kinh
tế cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
• Môi trường pháp lý: Đây là các cơ chế, chính sách, luật, quy định …của
Nhà nước nhằm điều chỉnh tác động đến hoạt động cho vay của Ngân hàng và các hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNVVN Nếu hệ thống pháp lý đồng bộ,
Trang 19thống nhất sẽ tạo hành lang pháp lý vững chắc, giúp cho mọi hoạt động kinh doanh của DN được diễn ra thuận lợi và có hiệu quả Đó cũng là cơ sở pháp lý để giải quyết những tranh chấp pháp lý phát sinh giữa Ngân hàng và các DN Điều này có ý nghĩa quan trọng khi Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính chuyên kinh doanh tiền tệ, khi xảy ra rủi ro cho một hay một số khoản vay có thể dẫn tới
sự đổ vỡ phá sản của cả Ngân hàng, kéo theo sự đổ vỡ của cả hệ thống Ngân hàng
và nền kinh tế
• Môi trường chính trị: Tính ổn định của chính trị quốc gia quyết định rất
nhiều đến sự hoạt động của cả nền kinh tế Nếu chính trị ổn định thì việc bỏ vốn kinh doanh, đầu tư sẽ an tâm hơn Khi đó các DNVVN sẽ mở rộng đầu tư, muốn
mở rộng đầu tư thì nguồn vốn tín dụng là rất cần thiết và có hiệu quả cao Nếu chính trị bất ổn thì hoạt động kinh doanh sẽ bị ngưng trệ và nhu cầu tín dụng giảm, ảnh hưởng tới hiệu quả và chất lượng của khoản vay
• Môi trường tự nhiên – xã hội: Quan hệ tín giữa Ngân hàng và khách
hàng là quan hệ dựa trên cơ sở lòng tin Tuy nhiên có nhiều trường hợp khách hàng không trả được nợ không phải do những nguyên nhân chủ quan mà là do nguyên nhân khách quan không thể tránh khỏi làm mối quan hệ tín dụng bị phá
vỡ, chất lượng tín dụng không tốt chẳng hạn như: hạn hán, lũ lụt, động đất…
• Nhân tố thuộc về bản thân DNVVN
Các DNVVN luôn trong tình trạng thiếu vốn và đó là cơ hội để các Ngân hàng
mở rộng quy mô cho vay và nâng cao chất lượng tín dụng Một số nhân tố thuộc
về DNVVN có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng :
+ Vốn tự có của DNVVN: vốn tự có thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của DNVVN, khả năng thanh toán và chống đỡ rủi ro của DN Nếu vốn tự có của DNVVN quá thấp trong khi vốn vay Ngân hàng lại quá lớn thì khả năng tự chủ về tài chính, khả năng thanh toán, đồng thời nợ đến hạn khó có khả thanh toán
+ Năng lực quản lý: nhân tố này thể hiện ở khả năng thích nghi của bộ máy quản lý của DNVVN trước những biến động của thị trường Năng lực yếu kém sẽ dẫn đến sử dụng lãng phí các nguồn lực, khi nền kinh tế có biến động không thể thích nghi kịp thời, khả năng bị phá sản là rất cao trong trường hợp này, từ đó dẫn
Trang 20đến việc DN không có đủ khả năng hoàn trả gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng, làm giảm hiệu quả cho vay.
+ Mục đích sử dụng vốn vay của DNVVN: để vay vốn của Ngân hàng thì DNVVN phải cam kết là sử dụng vống vay đúng mục đích Tuy nhiên vẫn có những DN cố tình sử dụng vốn sai mục đích, gây thất thoát vốn và làm ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay
Có thể thấy được những nhân tố thuộc về bản thân DNVVN rất khó kiểm soát
và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và trình độ am hiểu về DNVVN của cán bộ tín dụng
b) Nhân tố chủ quan (các nhân tố thuộc về Ngân hàng).
+ Các Ngân hàng là chủ thể huy động vốn nhàn rỗi để cho vay Ngân hàng có thể cho vay nhiều hay ít tùy thuộc vào nguồn vốn tự có, nhu cầu của khách hàng
và tài sản đảm bảo (nếu có), ngoài ra còn phụ thuộc vào uy tín, kinh nghiệm và nhận thức của cán bộ nhân viên Ngân hàng về DNVVN nói riêng
Chất lượng tín dụng đối với DNVVN thể hiện khi Ngân hàng đáp ứng tốt nhất cũng có nghĩa là Ngân hàng đang tạo điều kiện để các DN này tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục, tái đầu tư mở rộng sản xuất, tạo lợi nhuận cho
DN, đảm bảo cho DN hoàn trả đủ gốc và lãi đúng hạn Trên thực tế, Ngân hàng
có lượng vốn tự có rất nhỏ so với nhu cầu của khách hàng vay vốn nên Ngân hàng là chủ thể huy động vốn để cho vay Để có đủ đáp ứng nhu cầu của các DNVVN, Ngân hàng phải khai thác tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh
tế Nguồn vốn đó bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn; tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn của tổ chức kinh tế và cá nhân trong nền kinh tế
+ Tuân thủ quy trình cho vay vốn: Trong quy trình cho vay thì phân tích tín dụng là khâu quan trọng nhất quyết định đến chất lượng tín dụng Việc phân tích đánh giá một cách toàn diện khách hàng trước khi vay vốn là điều kiện để Ngân hàng thu hồi đủ gốc và lãi đúng thời hạn, tạo điều kiện tăng nhanh vòng quay vốn tín dụng
+ Sự phát triển của khoa học công nghệ của Ngân hàng cũng ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng tín dụng Chính vì thế, cán bộ Ngân hàng cũng cần phải là
Trang 21người có trình độ nghiệp vụ, có khả năng tiếp thu và ứng dụng công nghệ mới Công nghệ càng cao sẽ giúp Ngân hàng giảm chi phí, quản lý sát sao các khoản vốn huy động, vốn vay và đưa ra mức lãi suất hợp lý để cạnh tranh, góp phần nâng cao chất lượng cho vay của Ngân hàng.
+ Đạo đức của cán bộ Ngân hàng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả tín dụng Cán bộ tín dụng có đạo đức không tốt sẽ ảnh hưởng xấu tới công tác thẩm định dẫn đến làm giảm chất lượng tín dụng đối với DNVVN DNVVN rất cấn có vốn của Ngân hang để hoạt động kinh doanh, để
mở rộng sản xuất, tái đầu tư nên họ sẽ tìm mọi cách để có nguồn vốn này Các DNVVN có thể tiếp xúc móc nối với cán bộ tín dụng để đạt được mục đích của mình
1.3 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN.
1.3.1 Kinh nghiệm một số nước
a) Kinh nghiệm của Đài Loan
Ở Đài Loan, các DNVVN đóng vai trò quyết định nền công nghiệp nước này Các loại hình DNVVN phải có từ 5 - 10 công nhân, vốn trung bình là 1,6 triệu USD là rất phổ biến Chúng chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp, tạo ra khoảng 40% sản lượng công nghiệp, hơn 50% giá trị xuất khẩu và chiếm hơn 70% chỗ làm việc Để đạt được thành tựu to lớn này, Đài Loan đã dành những nỗ lực trong việc xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ các DNVVN như chính sách hỗ trợ công nghệ, chính sách về nghiên cứu và phát triển, chính sách quản lí, đào tạo và chính sách hỗ trợ tài chính tín dụng
Chính sách hỗ trợ tài chính tín dụng cho DNVVN được cụ thể:
- Khuyến khích các ngân hàng cho DNVVN vay vốn như điều chỉnh mức lãi suất thấp hơn lãi suất thường của ngân hàng, thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng, quy định tỉ lệ cung cấp tài chính cho DNVVN phải tăng lên hàng năm Ngân hàng trung ương Đài Loan yêu cầu các NHTM thành lập riêng phòng tín dụng cho DNVVN, tạo điều kiện để cho DNVVN tiếp cận được với ngân hàng NHTW cũng sử dụng các chuyên gia tư vấn cho DNVVN về cách củng cố cơ sở tài chính, tăng khả năng nhận tài trợ của mình
Trang 22- Thành lập Quỹ phát triển cho DNVVN: các quỹ được thành lập như Quỹ phát triển, Quỹ phát triển DNVVN để cung cấp vốn cho DNVVN qua hệ thống ngân hàng, nhằm tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNVVN.
- Thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng
Từ việc nhận thức được sự khó khăn của DNVVN trong việc thế chấp tài sản vay vốn ngân hàng, năm 1974 Đài Loan đã thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng Nguyên tắc hoạt động của quĩ này là cùng chia sẻ rủi ro với các tổ chức tín dụng
Từ đó tạo lòng tin đối với tổ chức tìn dụng khi cấp tín dụng cho DNVVN Kể từ khi thành lập đến nay quỹ đã bảo lãnh cho 1,5 triệu trường hợp với tổng số tiền tương đối lớn
Nói chung, với sự quan tâm của Chính phủ bằng các chính sách khuyến khích hữu hiệu, các DNVVN ở Đài Loan phát triển mạnh mẽ, ổn định làm cho Đài Loan trở thành quốc gia của các DNVVN về mặt kinh tế
b) Kinh nghiệm của Nhật Bản.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản đặc biệt quan tâm đến phát triển các DNVVN vì đây là khu vực đem lại hiệu quả kinh tế cao và giải quyết được nạn thất nghiệp Chương trình "hiện đại hoá" các DNVVN trở thành một nhiệm
vụ và Nhật Bản đã có hàng loạt các chính sách về nhiều mặt được ban hành Chi phí cho chương trình "hiện đại hoá" các DNVVN chủ yếu tập trung trên 4 lĩnh vực:
• Xúc tiến hiện đại hoá DNVVN
• Hiện đại hoá các thể chế quản lý DNVVN
• Các hoạt động tư vấn cho DNVVN
• Các giải pháp tài chính cho DNVVN
Trong đó dành một sự chú ý đặc biệt đối với việc hỗ trợ tài chính nhằm giúp các DNVVN tháo gỡ những khó khăn, cản trở việc tăng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh như khả năng tiếp cận tín dụng thấp, thiếu sự bảo đảm về vốn vay
Các biện pháp hỗ trợ này đã được thực hiện thông qua hệ thống hỗ trợ tín dụng và các tổ chức tài chính tín dụng công cộng phục vụ DNVVN Hệ thống hỗ
Trang 23trợ tín dụng giúp các DNVVN tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng, tạo điều kiện cho họ vay vốn của các tổ chức tín dụng tư nhân thông qua sự bảo lãnh của hiệp hội bảo lãnh tín dụng trên cơ sở hợp đồng bảo lãnh.
Ngoài ra còn có ba tổ chức tài chính công cộng là Công ty Tài chính DNVVN, Công ty tài chính nhân dân và ngân hàng Shoko Chukin do Chính phủ đầu tư thành lập toàn bộ hoặc một phần nhằm tài trợ vốn cho các DNVVN đổi mới máy móc thiết bị và hỗ trợ vốn lưu động dài hạn để mở rộng sản xuất kinh doanh
c) Kinh nghiệm của Đức.
Đức là một quốc gia có số lượng DNVVN tương đối lớn Nó đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế, tạo ra gần 50% GDP, chiếm hơn 1/2 doanh thu chịu thuế của các doanh nghiệp, cung cấp các loại hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của nguời tiêu dùng trong và ngoài nước Để đạt được những thành tựu đó, Chính phủ Đức đã áp dụng hàng loạt các chính sách và chương trình thúc đẩy DNVVN trong việc huy động vốn
Công cụ chính để thực hiện các chính sách và chương trình này là thông qua các khoản tín dụng ưư đãi, có sự bảo lãnh của Nhà nước Các khoản tín dụng này được phân bố ưu tiên đặc biệt cho các dự án đầu tư thành lập doanh nghiệp, đổi mới công nghệ, đầu tư vào những khu vực kém phát triển của đất nước
Do phần lớn các DNVVN không đủ tài sản thế chấp để có thể nhận được khoản tín dụng lớn bên cạnh các khoản tín dụng ưu đãi nên còn phát triển khá phổ biến tổ chức bảo lãnh tín dụng Những tổ chức này được thành lập và bắt đầu hoạt động từ những năm 50 với sự hợp tác chặt chẽ cuả các phòng Thương mại, Hiệp hội doanh nghiệp, Hiệp hội Ngân hàng và Chính quyền liên bang Nguyên tắc hoạt động cơ bản là vì khách hàng DNVVN nhận được khoản vay từ ngân hàng với sự bảo lãnh của một số tổ chức bảo lãnh tín dụng Khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ tổ chức này có trách nhiệm trả khoản vay đó cho ngân hàng Ngoài ra, các khoản vay này còn có thể được Chính phủ bảo lãnh
Trang 24Với các cơ chế và chính sách hỗ trợ như vậy các DNVVN ở Đức đã khắc phục được rất nhiều khó khăn trong quá trình huy động vốn, từ đó đóng góp to lớn trong việc phát triển DNVVN ở Đức.
1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt nam
Từ việc phân tích các biện pháp hỗ trợ vốn tín dụng đối với các DNVVN của một số nước trên thế giới, trong đó Nhật Bản đã có những chính sách khuyến khích phát triển DNVVN rất hiệu quả Thực tế đã chứng minh sự thành công của các chính sách hỗ trợ này Vì vậy, đây có thể là những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo và vận dụng
Tuy nhiên, quy mô của nền kinh tế cũng như của các DNVVN ở Việt Nam còn nhỏ bé hơn nhiều so với các nước trên Hơn nữa, Việt Nam lấy kinh tế Nhà nước làm vai trò chủ đạo, các DNNN còn được hưởng đặc quyền so với các doanh ngiệp ngoài quốc doanh mà chủ yếu là DNVVN Do đó, khi thực hiện những chính sách hỗ trợ nói chung cũng như chính sách hỗ trợ vốn tín dụng nói riêng đối với những DNVVN, chúng ta cần phải thực hiện sao cho vừa có hiệu quả, vừa tạo ra sự bình đẳng giữa các loại hinh doanh nghiệp Chúng ta có thể tổng kết trên các nội dung sau:
Thứ nhất: Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc xây dựng một môi
trường pháp lí ổn định, có những chính sách hỗ trợ cụ thể đối với sự phát triển của DNVVN Trong đó, Cục Phát triển Doanh nghiệp phải thực hiện những quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của mình
Thứ hai: Về mặt pháp lý, cần đảm bảo thật sự bình đẳng trong quan hệ tín
dụng ngân hàng giữa DNVVN ngoài quốc doanh với doanh nghiệp quốc doanh NHNN cần khuyến khích các ngân hàng có ưu đãi nhất định cho DNVVN vay vốn, hoặc ít nhất cũng có sự bình đẳng về mặt thủ tục, thời hạn vay, lượng vốn vay các NHTM nên thành lập những kênh tài chính riêng cho các DNVVN nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp này tiếp cận với các hoạt động tín dụng của ngân hàng
Thứ ba: Cần nhanh chóng triển khai mô hình Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các
DNVVN Quỹ này là người trung gian đắc lực giữa ngân hàng và DNVVN trong
Trang 25việc thẩm định dự án của doanh nghiệp để kiến nghị cho ngân hàng cho vay Quỹ đứng ra bảo lãnh cho các khoản vay còn thiếu thế chấp và trả nợ thay cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp chưa có khả năng trả nợ Nguồn vốn của các quỹ có thể
do ngân sách cấp hoặc kết hợp với sự đóng góp của các ngân hàng, các tổ chức tài chính và cá nhân khác
Thứ tư: NHTM nên mở rộng hình thức tín dụng thuê mua Đây là biện pháp
tài trợ vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp đặc biệt là đối với các DNVVN
ở trong tình trạng thiếu vốn rất hiệu quả Với hình thức tín dụng này NHTM giảm bớt được rủi ro vì tránh được tình trạng đóng băng vốn Tuy nhiên cần phải hoàn thiện hệ thống văn bản phát huy quy định chặt chẽ quyền và nghĩa vụ giữa hai bên: ngân hàng và DNVVN
Thứ năm: Thành lập Quỹ hỗ trợ đầu tư cho các DNVVN nhằm giúp các
doanh nghiệp này vay vốn trung và dài hạn bằng chính nguồn vốn của Nhà nước hoặc kết hợp với các tổ chức, cá nhân khác Để thực hiện có hiệu quả cần có cơ chế điều hành quỹ thật rõ ràng, minh bạch, xác định đúng đối tượng hỗ trợ và đưa
ra những điều kiện cụ thể, thống nhất kèm theo Ngoài ra, Chính phủ cần có các biện pháp nhằm tạo điều kiện về mặt tài chính cho các DNVVN như trợ cấp vốn không hoàn lại cho các dự án ở vùng sâu, vùng xa, các lĩnh vực độc hại
Thông qua việc phân tích lý giải những cơ sở lý luận về DNVVN và tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường cũng như thực tế chứng minh những vai trò quan trọng của DNVVN trong nền kinh tế, ta thấy cần thiết phát triển DNVVN để phát triển nền kinh tế xã hội Từ những điều kiện kinh tế - xã hội để phát triển DNVVN, ta thấy tầm quan trọng của nguồn vốn cho sự hình thành phát triển bất cứ một DNVVN nói riêng Để tạo nguồn vốn cho doanh nghiệp có rất nhiều nguồn vốn như vốn tự có, vốn liên doanh liên kết, vốn do Nhà nước cấp, vốn cổ phần, vốn vay từ những nguồn không chính thức…trong đó có vốn vay từ các tài chính tín dụng Vốn tín dụng ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự hình thành và phát triển DNVVN ở một số nước trên thế giới ta rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 26Xuất phát từ những lý luận đó ta soi rọi vào thực tế đầu tư tín dụng cho DNVVN ở nước ta, để thấy được những gì còn tồn tại, tìm ra những nguyên nhân tồn tại để tìm ra nguyên nhân của tồn tại để từ đó tìm biện pháp khắc phục
Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN TẠI NHTM
CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH TIÊN SƠN 2.1 Giới thiệu chung về chi nhánh.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh.
a) Lịch sử của hình thành NHTMCP Công Thương chi nhánh Tiên Sơn.
NHTMCP Công Thương chi nhánh Tiên Sơn là một bộ phận của NHTMCP Công Thương Việt Nam Được thành lập năm 1993, là một phòng giao dịch trực thuộc NHTMCP Công Thương chi nhánh Bắc Ninh, đến năm 1996 được nâng
cấp lên thành chi nhánh cấp 2 (có 15 – 20 cán bộ) Và đến ngày 01/01/2006 trên
Trang 27cơ sở nâng cấp từ Chi nhánh cấp 2 trực thuộc NHTMCP Công Thương chi nhánh Bắc Ninh lên thành chi nhánh cấp 1
Với quyết định thành lập thì chi nhánh Tiên Sơn sẽ hoạt động nhằm đa dạng hóa các sản phẩm tại địa phương, tập trung mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, của các tổ chức kinh tế để tăng nguồn vốn của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng là các DN trong các làng nghề như: Đa Hội, Đồng Kỵ,… Sự
ra đời của chi nhánh Tiên Sơn đã đánh dấu một bước phát triển của NHTMCP Công Thương trong việc phát triển chi nhánh ở các làng nghề truyền thống và trong cơ chế thị trường Và với vai trò của mình, chi nhánh Tiên Sơn đã góp phần quan trọng trong việc tăng cường khả năng cạnh trạnh của hệ thống NHTMCP Công Thương Việt Nam, nhờ đó thúc đẩy phát triển toàn hệ thống ngân hàng Trong công cuộc đổi mới chung của đất nước hòa mình vào sự phát triển của thế giới, ngành Ngân hàng nói chung và NHTMCP Công Thương chi nhánh Tiên Sơn nói riêng đã vượt qua không ít khó khăn để đạt được mục tiêu phát triển chung Cụ thể là những khó khăn về cơ sở vật chất lúc ban đầu, chi nhánh chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ về lãi suất tiền gửi và tiền vay của các Ngân hàng trên địa bàn Tuy gặp một số khó khăn nhưng trong những năm gần đây, hoạt động của chi nhánh đã rất phát triển Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh đạt tăng trưởng tốt qua các năm về cả hoat động huy động vốn, sử dụng vốn, hoạt động kinh doanh ngoại tệ.Theo xu hướng phát triển chung, chi nhánh NHTMCP Công Thương chi nhánh Tiên Sơn cũng tiến hành triển khai các nghiệp vụ mới như thanh toán quốc tế, đại lý chuyển tiền nhanh hay cung cấp thẻ rút tiền tự động ATM
Sau gần 5 năm khai trương đi vào hoạt động, từ 1 trụ sở với 19 cán bộ ban đầu,
đến nay NHTM cổ phần Công thương chi nhánh Tiên Sơn đã có 59 cán bộ (trong
đó số người có trình độ đại học cao đẳng chuyên ngành là 80%, trung cấp là 20%, lứa tuổi trung bình là 32), cùng một mạng lưới kinh doanh phát triển rộng với 1 trụ sở chính và các phòng chức năng (Phòng kế toán; Phòng tổ chức hành chính; Phòng khách hàng cá nhân; Phòng khách hàng DN; Phòng ngân quỹ; Phòng rủi ro) và 7 phòng Giao dịch Ngân hàng đã thể hiện được “sức trẻ” với
Trang 28việc không ngừng phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, hiệu quả kinh doanh và trở thành điểm đến tin cậy cho các khách hàng, nhất là khách hàng
ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Với phương trâm hoạt động “đi vay để cho vay” NHTMCP Công Thương chi
nhánh Tiên Sơn luôn coi trọng công tác huy động và coi đây là công tác chủ yếu nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, nhằm đáp ứng kịp thời nguồn vốn vay cho các thành phần kinh tế trên địa bàn Vì thế, đơn vị đã triển khai nhiều giải pháp để thu hút nguồn tiền nhàn rỗi của các tổ chức và dân cư thông qua công tác quảng cáo, tiếp thị, điều chỉnh linh hoạt các mức lãi suất hợp
Ban Giám Đốc
Phòng Quản
lý rủi ro
Phòng
Kế toán
Phòng Ngân Quỹ
Phòng Khách hàng DN
Phòng Khách hàng cá nhân
Phòng
Tổ chức
hành chính
Phòng Giao dịch Đồng Nguyên
Phòng Giao dịch Nam Bắc Ninh
Phòng Giao dịch Châu Khê
Phòng Giao dịch Phù Khê
Phòng
Giao dịch Yên Phong
Trang 29lý và coi trọng việc đầu tư trang thiết bị máy móc nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác… Và trong những năm qua nguồn vốn của Chi nhánh
luôn tăng trưởng qua các năm và việc huy động vốn dưới nhiều hình thức (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu…); từ nhiều nguồn (tổ chức kinh tế, dân cư) để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của hoạt
(tăng giảm)
Tỷ lệ (%)
huy động tăng 306 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ 21,9% Một thực tế là năm 2009 tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động giảm nhẹ so với năm trước Nguyên nhân khách quan là do diến biến phức tạp của nền kinh tế đầu tàu của Mỹ đã làm ành hưởng đến nền kinh tế trong nước Ngoài ra, do tình hình giá vàng trong nước có thời điểm liên tục tăng mạnh, không ít người đã rút tiền gửi ra để mua vàng
Và đến năm 2010 tổng nguồn vốn huy động tăng 48 tỷ đồng và tốc độ tăng trưởng giảm mạnh so với năm 2008 và năm 2009 Có thể là do tình hình diễn biến kinh tế đầu năm 2010 không thuận lợi và giá vàng biến động liên tục vào thời điểm cuối năm nên người dân dã rút tiền để mua vàng tích trữ Năm 2011 do lạm phát tăng cao người dân chi tiêu nhiều hơn nên vốn huy động tăng không đáng
Trang 30kể so với năm 2010, cụ thể tăng 2,91% Nhìn chung, tổng nguồn vốn huy động tăng hàng năm, nhưng vẫn cần có biện pháp để tốc độ vốn huy động tăng cao.
b) Hoạt động sử dụng vốn
Nếu như hoạt động huy động vốn là một nguồn đầu vào quan trọng đáp ứng nhu cầu hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động sử dụng vốn là hoạt động cơ bản
để tạo lợi nhuận cho ngân hàng, bù đắp các chi phí chung và chi phí đầu vào của
ngân hàng Và với phương châm “An toàn-Hiệu quả-Hiện đại-Tăng trưởng bền vững” chi nhánh đã có những chiến lược kinh doanh tiền tệ quan trọng để mở
rộng và nâng cao chất lượng tín dụng
Về công tác tín dụng, Ngân hàng chủ yếu tập trung cho vay đối với các phương
án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, cho vay khách hàng có tiềm lực tài chính lành mạnh, khách hàng truyền thống
Tình hình sử dụng vốn của chi nhánh được thể hiện quả bảng sau:
Bảng 2.2 : Tình hình sử dụng vốn của NHTMCP Công Thương chi
nhánhTiên Sơn
Đơn vị: tỷ đồng
Tăng giảm năm 2010 so với năm 2009
Tăng giảm năm 2011 so với năm 2010 Giá
trị
Tỷ lệ (%)
Giá trị
Tỷ lệ (%)
a,Dư nợ
Trang 31theo kỳ hạn
Ngắn hạn 402,6 587,5 920,6 938,1 333,1 56,7 17,5 1,9 Trung, dài
17,0 2 b,Dư nợ
theo quy mô
(Nguồn: BCKQHKD 2008 -2011 của NHTMCP Công Thương chi nhánh Tiên Sơn).
Bảng 2.2 phản ánh:
Năm 2008 tổng dư nợ là 450 tỷ đồng Năm 2009 tổng dư nợ là 450 700 tỷ đồng 700
tăng 350 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ là 77,8% so với năm 2008 Còn đến năm
2010, tổng dư nợ là 1135 tỷ đồng tăng 435 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ là 62,1%
so với năm 2009 Và năm 2011,tổng dư nợ là 1189 tỷ đồng, tăng nhẹ so với năm
2010 là 4,8%
Đồng thời, trong cơ cấu dư nợ thì cả 4 năm dư nợ ngắn hạn đều cao hơn và chiếm tỷ trọng cao hơn dư nợ trung và dài hạn, và đều có xu hướng tăng lên, cụ thể là:
+ Dư nợ ngắn hạn năm 2008 là 402,6 tỷ đồng chiếm 89,5% tổng dư nợ, còn
dư nợ trung và dài hạn là 47,4 tỷ đồng chiếm 10,5%
+ Dư nợ ngắn hạn năm 2009 là 587,5 tỷ đồng chiếm 83,9% tổng dư nợ, tăng 184,9 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ 45,9% so với năm 2008; còn dư nợ trung và dài hạn là 112,5 tỷ đồng, tăng 65,1 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ 137,3 % so với năm 2008
+ Dư nợ ngắn hạn năm 2010 là 920,6 tỷ đồng chiếm 81,1% tổng dư nợ, tăng 333,1 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ 56,7% so với năm 2009; dư nợ trung và dài hạn là 214,4 tỷ đồng, tăng 101,9 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ 90,6% so với năm 2009
+ Dư nợ ngắn hạn năm 2011 là 938,1 tỷ đồng chiếm 78,9% tổng dư nợ, tăng 17,5 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ 1,9% so với năm 2010; dư nợ trung và dài hạn
là 250,9 tỷ đồng, tăng 36,5 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ 17,02% so với năm 2010.Nhưng xét tỷ lệ giữa dư nợ tín dụng và vốn huy động qua bảng số liệu sau ta thấy được:
Bảng2.3: Cân đối huy động vốn và sử dụng vốn
Trang 32sử dụng hiệu quả hơn Năm 2011 hệ số sử dụng vốn tăng nhưng tăng không đáng
kể Nhìn chung, chi nhánh vẫn trong tình trạng không sử dụng hết vốn
c) Kết quả hoạt động
Biểu đồ 2.1 : Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP Công Thương chi nhánh Tiên Sơn 2008 – 2011
Trang 33(Nguồn: Bảng tổng hợp các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh tại NHTMCP Công Thương chi nhánh Tiên Sơn từ năm 2008 - 2011)
Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy rằng: tuy lợi nhuận của năm 2009 là 12,6 tỷ đồng giảm 6,6 tỷ đồng so với năm 2008 (lợi nhuận là 19,2 tỷ đồng) nhưng đến năm
2010 thì lợi nhuận lại tăng lên đáng kể Lợi nhuận năm 2010 là 26,8 tỷ đồng tăng 14,2 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ là 113% Lợi nhuận năm 2011 là 29,7 tỷ đồng tăng 2,9 tỷ đồng so với năm 2010.Nguyên nhân là:
+ Năm 2009, tổng thu nhập của của chi nhánh là 89,7 giảm 11,5 tỷ đồng (tỷ lệ 11,4%) so với năm 2008; còn tổng chi phí là 72,9 tỷ đồng giảm 2,7 tỷ đồng (tỷ lệ 3,6%) so với năm 2008 Việc này làm cho lợi nhuận của chi nhánh giảm xuống đáng kể Nguyên nhân có thể do kinh tế đang trong thời kỳ phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính nên thu nhập từ việc cho vay giảm xuống
+ Năm 2010 lợi nhuận tăng lên đáng kể là do tổng thu là 170 tỷ tăng lên 80,3
tỷ đồng (tỷ lệ 89,5%) so với năm 2009; còn tổng chi phí là 134,3 tỷ đồng tăng 61,4 tỉ đồng (tỷ lệ 84,2%) so với năm 2009
+ Năm 2011 lợi nhuận tăng ít do tổng thu là 86 tỷ đồng tăng không đáng kể (tăng thêm 16 tỷ so với năm 2010) và tổng chi là 143,8 tỷ đồng
- Đi đôi với hoạt động kinh doanh, hỗ trợ DN, NHTM cổ phần Công thương Tiên Sơn còn luôn quan tâm đổi mới phong cách giao dịch, đẩy mạnh phát triển
Trang 34các dịch vụ Ngân hàng hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi giao dịch đồng thời nâng cao hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng.
2.1.3 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong địa bàn hoạt động của Ngân hàng.
Đến nay phần lớn các DN hoạt động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh là các DNVVN Trong những năm qua, DNVVN đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng
và chất lượng Năm 2008 số lượng DNVVN trên địa bàn tỉnh là 2089 DN chiếm 96,6% tổng số DN trên địa bàn Và tính đến hết ngày 31/12/2011, trên địa bàn tỉnh có 2908 DNVVN, chủ yếu là công ty ngoài quốc doanh và loại hình doanh nghiệp đa số là công ty TNHH Hàng năm số lượng DN thành lập mới bình quân
là 29,9%
Trong thời gian gần đây, DNVVN đã phát triển để tận dụng hết tiềm năng của địa phương Với đặc điểm của địa phương là vùng nhiều ngành nghề truyền thống, nhân công chủ yếu là dân trong vùng chuyển từ làm nông sang, nên tiền lương rẻ Chính vì vậy mà DNVVN trong tỉnh phát triển theo hướng là hỗ trợ cho các ngành nghề truyền thống tại địa phương Nhiều DN đã mạnh dạn đầu tư vào chiều sâu, mua sắm thiết bị tiên tiến, áp dụng công nghệ hiện đại và sản xuất và quản lý doanh nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho số đông người lao động… Kết quả hoạt động kinh doanh của các DN này ngày một hiệu quả
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2.2.1 Tình hình chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trong những năm gần đây NHTMCP Công Thương Tiên Sơn đã mở rộng cho vay đối với loại hình DNVVN Để thấy rõ những chuyển biến đó có thể thông qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.4 : Tình hình cho vay đối với DNVVN tại NHTMCP Công Thương
Chi nhánh Tiên Sơn
Trang 35Đơn vị tính: tỷ đồng
Giá trị
Tỷ trọn
g (%)
Giá trị
Tỷ trọn
g (%)
Giá trị
Tỷ trọng (%)
Giá trị
Tỷ trọng (%) 1.Tổng
Trong tổng doanh số cho vay thì cả doanh số cho vay DN khác và cho vay DNVVN đều tăng, nhưng xét về tỷ trọng thì doanh số cho vay DNVVN có tỷ trọng ngày càng tăng còn doanh số cho vay các DN khác có tỷ trọng ngày càng giảm Cụ thể là:
+ Năm 2008, doanh số cho vay DNVVN là 571,1 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 46,6% tổng doanh số cho vay