Trước tình hình đó, nhiều liệu pháp mới ra đời nhằm nâng cao hiệu quả điều trị, có thể kể đến như: liệu pháp gene, liệu pháp dẫn thuốc đến đúng mục tiêu, trong đó liệu pháp tế bào dựa tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRƯƠNG HẢI NHUNG
TÓM TẮT ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
LUẬN ÁN
Ngành: Sinh học
Chuyên ngành: Sinh lý người và động vật
Mã số chuyên ngành: 62 42 30 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
1 GS.TS Nguyễn Văn Thanh
2 TS.BS Huỳnh Nghĩa
Tp.HCM, tháng 05 năm 2014
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN 1 GIỚI THIỆU
1.1 Sơ lược về bệnh xơ gan 2
1.2 Điều trị bệnh xơ gan trong hiện tại 3
1.3 Điều trị bằng tế bào gốc 4
1.4 Tế bào gốc trung mô (MSC) 6
PHẦN 2: ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU 1 Tên đề tài luận án: 7
2 Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7
3 Mục đích nghiên cứu của luận án 8
4 Đối tượng, phương pháp nghiên cứu 8
5 Nội dung và phạm vi của vấn đề sẽ đi sâu nghiên cứu 12
6 Dự kiến kết quả đạt được 15
7 Nơi thực hiện đề tài nghiên cứu của luận án 16
8 Các tài liệu tham khảo được sử dụng khi viết đề cương 16
9 Phân bổ thời gian thực hiện đề tài luận án 17
Trang 4PHẦN 1 GIỚI THIỆU
1.1 Sơ lược về bệnh xơ gan
1.1.1 Bệnh xơ gan
Xơ gan là một loại bệnh gan mãn tính Các kiểu xơ gan lần đầu tiên được giới thiệu
bởi Laennec năm 1826 Nó có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “scirrhus” và được sử dụng
để mô tả mẫu sinh thiết gan có bề mặt màu cam và hung nâu
Nhiều dạng tổn thương gan được đánh dấu bằng xơ Xơ hóa được định nghĩa là tập trung quá mức của các thành phần của mạng lưới ngoại bào (bao gồm collagens, glycoprotein, proteoglycans) trong gan Đáp ứng với sự tổn thương gan này vốn dĩ có khả năng đảo ngược được Nhưng trong hầu hết các bệnh nhân, xơ gan lại thể hiện là một quá trình bất hồi phục Việc điều trị chỉ có thể giúp giảm tiến trình bệnh và ngăn ngừa biến chứng
Xơ gan được định nghĩa mô học như một quá trình khuếch tán đặc trưng của gan xơ hóa và biến đổi cấu trúc gan bình thường thành các nốt cấu trúc bất thường Sự tiến triển của tổn thương gan đến xơ gan có thể xảy ra trong vài tuần tới vài năm Thật vậy, bệnh nhân bị viêm gan C có thể bị viêm gan mãn tính từ 40 năm trước khi tiến triển đến xơ gan
Mối tương quan giữa những phát hiện mô học và triệu chứng lâm sàng lại tương đối không rõ ràng Một bệnh nhân xơ gan có thể hoàn toàn không có triệu chứng rõ ràng và sống lâu, trong khi ở bệnh nhân khác lại có nhiều triệu chứng nặng của bệnh gan giai đoạn cuối và thời gian sống rất ngắn Dấu hiệu thường gặp và triệu chứng thể hiện ở suy giảm chức năng gan, giảm khả năng giải độc của gan, tăng huyết áp ở tĩnh mạch cửa gan
Dịch tễ học xơ gan
Theo thống kê của tổ chức Y tế Thế giới năm 2002, bệnh xơ gan là căn bệnh gây tử vong đứng hàng thứ 12, gây ra cái chết cho hơn 700,000 người mỗi năm với tỷ lệ tử vong lên đến trên 12 người trong 100,000 người trên toàn thế giới
Tỉ lệ tử vong của người mắc bệnh xơ gan là 34-66% trong vòng 10 năm, phần lớn phụ thuộc vào nguyên nhân gây xơ gan: xơ gan do rượu có tiên lượng xấu hơn xơ gan
do mật và xơ gan do viêm gan Nguy cơ tử vong do tất cả các nguyên nhân trên tăng gấp 12 lần; nếu loại trừ những hậu quả trực tiếp của bệnh gan, thì nguy cơ tử vong vẫn tăng gấp 5 lần
Theo thống kê năm 2004, bệnh xơ gan phổ biến nhất ở các nước Đông Âu, Bắc Phi, Hoa Kì và Trung Mỹ Việt Nam nằm trong nhóm những nước có tỷ lệ mắc bệnh xơ gan khá cao và có xu hướng ngày càng tăng
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây xơ gan chủ yếu là do nhiễm virus (virus viêm gan C đóng vai trò chủ yếu gần 26% trường hợp, virus viêm gan B, D gần 15% trường hợp), rượu (gần 21% trường hợp), các nguyên nhân khác như rối loạn chuyển hóa (hemochromtosis, thiếu men -antitrypsin), bệnh đường mật kéo dài, nghẽn tĩnh mạch gan, rối loạn miễn dịch, nhiễm độc (methotrexate, amiodarone), suy dinh dưỡng, nhiễm trùng, bẩm sinh…
Hậu quả
Trang 5Hậu quả chính của xơ gan là gây suy chức năng gan và tăng huyết áp tĩnh mạch cửa Suy chức năng gan làm giảm khả năng tổng hợp protein huyết thanh; giảm tổng hợp chất chống đông máu gây bầm tím, chảy máu; giảm chức năng tiết mật, chế biến bilirubin gây vàng da; thay đổi chuyển hóa đạm gây giảm chức năng não, hay quên, mất tập trung, khó ngủ do các chất đạm cần cho não như ammonia không được cung cấp đủ; giảm khả năng giải độc của gan, giảm khả năng chuyển hóa thuốc… Tăng huyết áp ở tĩnh mạch cửa gây ra các chứng bệnh cổ chướng, lách to, giãn mạch thực quản, tăng huyết áp phổi, gây xnah tím, khó thở … Ngoài ra còn gây giảm khả năng miễn dịch, tăng nguy cơ mắc bệnh do nhiễm trùng, tăng nguy cơ ung thư gan dẫn đến
tử vong, dễ nghẽn tĩnh mạch gan, không cung cấp đủ máu cho thận gây suy thận (tỷ lệ
tử vong rất cao)…
1.2 Điều trị bệnh xơ gan trong hiện tại
Ngăn ngừa tiếp xúc với tác nhân gây xơ gan
Ở xơ gan do rượu, việc ngừng uống rượu sẽ giúp dừng tiến triển xơ gan Tương tự, việc ngừng dùng thuốc độc đối với gan hoặc loại bỏ chất độc ngoài môi trường sẽ dừng tiến triển xơ gan Sự điều trị các bệnh chuyển hóa, như điều trị chứng thừa sắt trong hội chứng hemochromatosis hay thừa đồng trong bệnh Wilson cũng là những liệu pháp có hiệu quả Các bệnh viêm gan B và C có thể đáp ứng với việc điều trị bằng interferon và viêm gan tự miễn có thể tiến triển với prednisone và azathioprine (Imuran) Các loại thuốc như ursodiol (Actigall) có thể làm chậm tiến triển của xơ gan
do tắc mật nguyên phát và bệnh viêm xơ chai đường mật
Điều trị biến chứng
Ở những bệnh nhân bị xơ gan, việc chữa trị chủ yếu hướng vào các biến chứng Chứng giãn tĩnh mạch xuất huyết thực quản có thể được điều trị bằng liệu pháp xơ hóa nội soi hoặc thắt dây cao su Cổ trướng và phù thủng thường đáp ứng tốt với khẩu phần ăn ít Natri Cổ trướng và phù thủng nặng hơn có thể sử dụng liệu pháp lợi tiểu Viêm phúc mạc tự phát do vi khuẩn nên được chữa trị nhanh chóng bằng các kháng sinh thích hợp Những thuốc chuyển hóa ở gan nên cẩn thận khi sử dụng Các chứng rối loạn đông máu thỉnh thoảng sẽ đáp ứng với vitamin K
Đối với tăng áp tĩnh mạch cửa, có thể sử dụng thuốc beta-blocker hoặc nitrat Bệnh não do gan được điều trị bằng cách rửa ruột với lactulose Có thể bổ sung kháng sinh nếu cần thiết Với bệnh nhân xơ gan bị suy gan-thận nên được điều trị thẩm tách máu
và bổ sung thuốc làm tăng lượng máu đến thận
Những điều trị khác hướng về các nguyên nhân đặc trưng của xơ gan Đối với viêm gan siêu vi, sử dụng interferon và các thuốc kháng virus Đối với viêm gan tự miễn, có thể sử dụng corticosteroid và các thuốc khác
Ghép gan
Ghép gan là một cách chữa trị hiệu quả cao cho xơ gan giai đoạn cuối Ghép gan thường cần đến khi các biến chứng như bệnh não, cổ trướng hay giãn tĩnh mạch xuất huyết không thể kiểm soát được hoặc khi chức năng sinh hóa bị suy giảm nghiêm trọng Ở những bệnh nhân bị xơ gan do tắc mật nguyên phát, mức bilirubin tăng biểu thị một tiên lượng xấu và những bệnh nhân này nên được cân nhắc ghép gan ngay khi nồng độ bilirubin bắt đầu tăng Các chuyên gia sẽ xác định các nguy cơ và lợi ích của ghép gan cho từng bệnh nhân Tỉ lệ tử vong đã được cải thiện hơn nhiều năm qua nhờ
Trang 6sử dụng các thuốc suy giảm miễn dịch và giữ cho gan được ghép vào không bị tấn công và tổn thương Trung bình hơn 80% bệnh nhân được ghép gan có thể kéo dài cuộc sống sau năm năm
Tuy nhiên, số lượng bệnh nhân cần ghép gan vượt xa số lượng gan hiến tặng Một bệnh nhân cần ghép gan phải trải qua một quá trình đánh giá phức tạp trước khi được cho vào danh sách chờ ghép gan Nói chung, gan được ghép cho những bệnh nhân được tiên đoán có cơ hội sống sót dài nhất sau khi cấy ghép Sự sống sót sau khi ghép gan cần sự theo dõi chặt chẽ và kết hợp với sự chăm sóc chu đáo
Xơ gan và ung thư gan là căn bệnh phổ biến trên thế giới Theo thống kê, năm 2008 trên thế giới có 740.000 trường hợp mới được chẩn đoán bị bệnh ung thư gan trong đó
có 696.000 trường hợp tử vong, đứng thứ ba trong các trường hợp tử vong liên quan đến ung thư (Ju Dong Yang và Lewis R Roberts, 2010) Ung thư gan khởi phát từ bệnh gan cấp tính rồi tiến triển thành bệnh gan mãn tính dẫn tới xơ gan và ung thư gan
Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn tới tiến trình này trong đó có thể kể đến: Do uống rượu, nhiễm virus Hepatitis, do hoá chất như aflatoxin… Bệnh này có thể được ngăn ngừa bằng cách kiểm soát các yếu tố kể trên Tuy nhiên, khi bệnh tiến triển đến giai đoạn xơ gan và ung thư găn thì việc điều trị gặp nhiều khó khăn Trong đó các biện pháp điều trị phổ biến hiện nay là hoá chất, cấy ghép gan, tuy nhiên hiệu quả điều trị của các phương pháp này còn thấp Hơn nữa, phương pháp cấy ghép gan là phương pháp xâm lấn, ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của người bệnh và thường gặp hiện tượng thải loại khi ghép
Trước tình hình đó, nhiều liệu pháp mới ra đời nhằm nâng cao hiệu quả điều trị, có thể
kể đến như: liệu pháp gene, liệu pháp dẫn thuốc đến đúng mục tiêu, trong đó liệu pháp
tế bào dựa trên những kết quả thí nghiệm trên mô hình chuột và trên bệnh nhân hứa hẹn nhiều triển vọng và tiềm năng ứng dụng cao
1.3 Điều trị bằng tế bào gốc
Cơ sở lý thuyết của việc sử dụng tế bào gốc trong điều trị xơ gan
Sự tăng sinh, sự biệt hóa, sự tiết và các chức năng của tế bào cấy ghép và tế bào nội sinh tại gan bị ảnh hưởng bởi vi môi trường tại vùng xơ gan Các bệnh liên quan đến
sự suy thoái tế bào như xơ gan đều do sự ảnh hưởng của vi môi trường ngoại bào Chứng cứ ban đầu của sự tái tạo gan là sau khi cắt bỏ 1 phần gan, người ta nhận thấy
sự xuất hiện các tín hiệu quan trọng từ prostaglandin; đây là yếu tố quyết định cho sự tái tạo gan Tín hiệu này liên quan đến sự tăng yếu tố tăng trưởng TGF-beta 1 Gan bị
xơ hóa có nồng độ TGF-beta 1 cao, điều này dẫn đến sự apoptosis của tế bào gan cũng như tác động sự kháng phân bào và sự xơ hóa
Không chỉ có vi môi trường của cơ thể chủ ảnh hưởng đến các tế bào ghép, các tín hiệu do tế bào ghép tiết ra cũng làm thay đổi vi môi trường Sự thay đổi tại vi môi trường vùng xơ gan góp phần cho sự thành công của các ca ghép gan Việc cấy ghép các tế bào gốc trong điều trị xơ gan trên động vật đã chỉ ra vai trò của tế bào gốc tại vi môi trường vùng xơ gan Một số nghiên cứu đã chỉ ra khả năng tiết các yếu tố kích thích sự phân chia tế bào, các yếu tố ngoại bào dẫn đến sự tái tạo nội sinh ở cơ thể chủ
và giúp cơ thể sống sót (Makowka et al.) Chẳng hạn, các tế bào gốc trung mô có thể tiết ra một số các yếu tố ức chế các cytokine đáp ứng viêm trên mô hình chuột bệnh xơ hóa phổi Các tế bào ghép vào vùng tổn thương giúp làm giảm đáp ứng viêm tại vi môi trường vùng tổn thương, tiết các yếu tố kích thích tế bào gốc nội sinh do đó giúp cải
Trang 7thiện tình trạng tổn thương Mặt khác MSC có thể được cảm ứng để tuần hoàn vào máu ngoại vi trong mô hình động vật trong điều kiện cụ thể Tín hiệu hóa ứng động để dẫn dụ tế bào gốc vào vi môi trường thích hợp hoặc cảm ứng sự luân chuyển của nó vẫn chưa được hiểu rõ Một số chemokine được đề xuất như SDF-1 và các yếu tố tăng trưởng (Growth factor_GF) được cho là các yếu tố hóa ứng động trên MSC, tuy nhiên
cơ chế điều hòa của nó thì vẫn chưa được hiểu rõ Điều này giải thích cho khả năng “di cư” của tế bào gốc đến vùng tổn thương
Điều trị xơ gan bằng cấy ghép tế bào gan tự thân
A.Schwarz và cộng sự tại viện Angewandte Zellkultur (Đức) đã tiến hành thử nghiệm phương pháp điều trị xơ gan bằng cách chuyển tế bào gan tự thân cùng một lượng nhỏ tế bào tụy lên một tấm scaffold bằng polymer Sau đó chuyển ngược lại vào
cơ thể bệnh nhân Bằng phương pháp này đã ứng dụng điều trị trên 57 bệnh nhân bị xơ gan, tỉ lệ sống sót sau một năm cấy tế bào là 75% trên tổng số bệnh nhân
Cấy ghép tế bào tiền thân gan (tế bào oval)
J.M Lemire et al (1991) và X Wang et al (2003) chứng minh rằng tế bào oval có
khả năng biệt hoá thành các tế bào gan trưởng thành và tế bào biểu mô ống mật M.I
Yovchev et al (2008) đã cấy ghép tế bào oval cho thấy sự tăng sinh và hoà nhập với
90% tế bào gan ở gan nhận được thay thế bởi tế bào oval cho trên mô hình chuột C.X
Wu et al (2009), tiêm tế bào oval vào gan chuột Wistar bị xơ gan có thể tăng tỉ lệ sống
sót
Điều trị xơ gan bằng ghép tế bào gốc tuỷ xương
Năm 2004, Isao Sakaida và cs cấy ghép tế bào gốc tuỷ xưởng kết hợp với CCl4 vào chuột bị xơ hoá gan trong báo cáo “Transplantation of Bone Marrow Cells Reduces CCl4 Induced Liver Fibrosis in Mice” Kết quả cho thấy, chuột mô hình bệnh xơ gan giảm đáng kể sự xơ hoá gan
Các nhà khoa học Nhật bản thuộc đại học Y Yamaguchi và đại học y Tokyo đã tiến hành thử nghiệm điều trị xơ gan trên mô hình chuột bị gây xơ gan bằng Carbontetrachloride Tế bào từ tủy xương được chuyển GFP để quan sát sự di cư và biệt hóa của tế bào ghép Kết quả cho thấy các tế bào tủy xương tập trung tại mô gan
bị xơ và biệt hóa thành tế bào gan sản xuất albumin, và biểu hiện mạnh metalloproteinases (MMPs), làm tăng cường chức năng gan, đặc biệt là sự biểu hiện hoạt tính của MMP-9, làm tăng cường tỷ lệ sống sót của chuột bị xơ gan
F Anjos-Afonso et al (2004), dùng tế bào gốc tuỷ xương chuột cấy ghép qua tĩnh mạch đuôi cho thấy sự chuyển biệt hoá thành tế bào giống tế bào gan trong chuột nhận NOD/SCID M.R Alison et al (2000), thử nghiệm lâm sàng trên người, sử dụng nhiễm sắc thể giới tính để phân biệt tế bào cấy ghép từ người nhận có giới tính khác biệt M Korbling et al (2002), và N.D Theise et al (2000), tế bào gốc từ tuỷ xương
có thể hoà nhập vào gan và chuyển biệt hoá thành tế bào gan trưởng thành S Nikeghbalian et al., 2011, ghép tự thân tế bào đơn nhân và có CD133+ từ tủy xương vào các bệnh nhân cho kết quả khả quan trong việc điều trị xơ gan
Sử dụng tế bào gốc từ mô mỡ
A Banas et al (2009) cấy ghép tế bào gốc từ mô mỡ thông qua tiêm tĩnh mạch đuôi chuột , kết quả cho thấy có sự biệt hoá của tế bào ghép thành tế bào gan trưởng thành ở chuột BALB/c nude bị xơ gan do cảm ứng CCl4
Trang 8Sử dụng tế bào gốc từ máu cuống rốn
P.C Tsai et al (2009) tiến hành tiêm 5x105 tế bào vào thuỳ phải gan chuột bị xơ, kết quả cho thấy có sự kiềm chế xơ gan, dù chúng không biệt hoá thành tế bào gan trưởng thành Tác giả đề nghị: các tế bào gốc không biệt hoá có thể tiết ra các cytokine nhất định như human cutaneous T cell-attracting chemokine, leukemia inhibitory factor, và prolactin sẽ giúp duy trì chức năng gan và kích thích sự tái tạo gan nội sinh Nhóm tác giả Philip N Newsome đã sử dụng tế bào gốc từ máu cuống rốn trong điều trị xơ gan trên mô hình chuột (Philip N Newsome, 2003) Kết quả cho thấy, tế bào gốc người đã biệt hoá thành công thành tế bào gan trưởng thành với khả năng tiết mật bình thường trong điều kiện in vivo của cơ thể chuột NON-SCID
Sử dụng tế bào gốc trưởng thành từ máu ngoại vi để điều trị bệnh xơ gan
Bệnh viện Hammersmith tại London, Anh đã điều trị cho hơn 30 bệnh nhân với phương pháp này và đã thu được những kết quả đầy hi vọng Máu của bệnh nhân được thu nhận sau đó thu lấy tế bào và nuôi cấy tăng sinh tế bào và đưa tế bào ngược trở lại gan thông qua động mạch Có sự giảm đáng kể bilirubin sau 12 tuần tiêm tế bào và giảm alanine transaminase và aspartate transaminase sau một tuần tiêm tế bào
Sử dụng tế bào gốc phôi trong điều trị xơ gan
D.C Hay et al., (2008) chỉ ra rằng tế bào gốc phôi có khả năng biệt hoá thành tế bào giống tế bào gan T Teratani et al (2005), và Y Kumashiro et al (2005) tiến hành cấy ghép tế bào gan thu từ tế bào gốc phôi vào lách hoặc gan tổn thương của 3 chuột nhận, tình trạng xơ gan được hạn chế, chức năng gan và khả năng sống được cải thiện
J Cai et al (2007), dùng tế bào gốc phôi người cấy vào lách của chuột suy giảm miễn dịch cho thấy các tế bào cấy ghép có thể hoà nhập vào gan tổn thương
Sử dụng tế bào gốc cảm ứng đa tiềm năng (iPS) trong điều trị xơ gan
D Xu et al (2008), cấy ghép tế bào tiền thân nội mô biệt hoá từ tế bào iPS vào gan chuột bị bệnh ưa chảy máu giúp cải thiện hội chứng và tỉ lệ sống, iPS có thể sử dụng cho các rối loạn di truyền ở người trong tương lai
1.4 Tế bào gốc trung mô (MSC)
1.4.1 Giới thiệu
Tế bào nền tủy xương được mô tả lần đầu tiên bởi Friedenstein, quần thể tế bào này có khả năng bám trải hình dạng giống nguyên bào sợi và có khả năng biệt hóa thành xương, Friedenstein cũng xem tế bào này như là dạng tế bào tiền thân tạo xương Các nghiên cứu tiếp theo chỉ ra rằng các tế bào này có khả năng biệt hóa thành nhiều dòng
tế bào thuộc lớp trung mô bao gồm sụn, gân và nguyên bào cơ Dựa trên khả năng biệt hóa đa dòng này, Caplan đã đưa ra thuật ngữ tế bào gốc trung mô (mesenchymal stem cell – MSC), mặc dù có nhiều thuật ngữ khác cũng được đưa ra để mô tả quần thể tế bào không đồng nhất và đa tiềm năng này Dù MSC là quần thể tế bào gốc (có khả năng tự làm mới và khả năng biệt hóa thành nhiều dòng tế bào), nhưng câu hỏi được đặt ra là liệu rằng đặc tính gốc này có hay không khi chúng ở dạng tế bào đơn Chính vì vậy, trong thời gian gần đây người ta đề xuất thuật ngữ tế bào nền trung mô đa tiềm năng (mesenchymal stromal cells) để mô tả các tế bào có khả năng bám vào bề mặt
plastic khi nuôi cấy in vitro và có hình dạng giống nguyên bào sợi Bonnet và cs đã
chứng minh rằng các tế bào đơn từ quần thể MSC tủy xương chuột biểu hiện kháng
Trang 9nguyên đặc biệt của phôi, chúng có khả năng biệt hóa in vivo, do vậy chúng thật sự
mang các đặc điểm của tế bào gốc
MSC có khả năng biệt hóa thành nhiều dòng tế bào như xương, mỡ, sụn [2] Các nghiên cứu cho thấy các tế bào đa tiềm năng này không chỉ biệt hóa thành dòng trung
mô mà còn biệt hóa thành các dòng thuộc nội bì và ngoại bì thần kinh bao gồm tế bào thần kinh, tế bào gan và tế bào nội mô Các tế bào gốc đa tiềm năng được hiểu với nhiều tên gọi như tế bào tiền thân trưởng thành đa tiềm năng (multipotent adult progenitor cells – MAPCs), tế bào gốc đa tiềm năng từ tủy xương (BM-derived multipotent stem cells – BMSCs), tế bào có thể cảm ứng đa tiềm năng từ tủy xương (marrow isolated adult multilineage inducible cells –MIAMIs) hoặc là tế bào gốc giống tế bào gốc phôi rất nhỏ (very small embryonic-like stem cells – VSELs) Các tế bào này đòi hỏi điều kiện nuôi cấy chuyên biệt và nghiêm ngặt bao gồm huyết thanh bào thai bò, đĩa nuôi cấy được xử lý bề mặt, môi trường chứa các yếu tố tăng trưởng chuyên biệt và quá trình nuôi cấy kéo dài ở mật độ tế bào thấp Việc nuôi cấy các tế bào này ở mật độ cao làm cho chúng dễ biệt hóa thành các tế bào tiền thân trung mô và giới hạn khả năng biệt hóa của nó
Mặc dù nguồn gốc của MSC được thu nhận từ tủy xương, nhưng gần đây người ta cũng có thể thu nhận được các quần thể tương tự MSC từ mô mỡ, máu cuống rốn, nhau thai, dịch ối Hiện tại, MSC không có marker chuyên biệt hoặc sự liên kết
các marker nào Về kiểu hình, MSC ex vivo biểu hiện một số marker không chuyên
biệt như: CD105 (SH2 hoặc endoglin), CD73 (SH3 hoặc SH4), CD90, CD166, CD44,
và CD29 MSC âm tính với các marker tạo máu và nội mô như: CD11b, CD14, CD31,
và CD45
PHẦN 2: ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
1 Tên đề tài luận án:
Nghiên cứu điều trị thực nghiệm bệnh xơ gan trên mô hình chuột bị xơ gan sử dụng liệu pháp tế bào gốc
2 Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Gan là cơ quan có khả năng tái sinh nhưng trong các trường hợp tổn thương mạn tính khả năng tự tái tạo của gan không còn và sau đó dẫn đến tình trạng xơ hóa Xơ gan là một bệnh nguy hiểm, tần suất cao, điều trị khó khăn Việt Nam
là nước có tỷ lệ viêm gan và xơ gan rất cao (~20%) so với nhiều nước trên Thế giới Các biện pháp điều trị xơ gan hiện tại chưa thực sự mang lại kết quả như mong đợi
- Hiện phương pháp điều trị có hiệu quả cho xơ gan (xơ hóa gan) là cấy ghép gan Mặc dù cấy ghép gan là liệu pháp tốt giúp kéo dài đời sống cho bệnh nhân, nhưng việc hiến tặng cơ quan là rào cản lớn nhất của liệu pháp Số lượng bệnh nhân chờ ghép gan ngày càng tăng, trong khi mô hiến tặng thì ngày một khan hiếm
- Với các kiến thức nền tảng và chuyên sâu về tế bào gốc và y học tái tạo, các nhà khoa học có thể đặt niềm tin vào việc sử dụng tế bào gốc trong tái tạo mô gan ở các bệnh nhân xơ gan Liệu pháp sử dụng tế bào gốc trưởng thành có
Trang 10nhiều ưu điểm như: nguồn thu nhận dồi dào, có thể ghép tự thân, vượt qua rào cản về đạo lí
- Mô hình động vật xơ gan bằng CCL4 đã được nghiên cứu nhiều, do vậy các kết quả thử nghiệm trên động vật xơ gan có độ tin cậy cao
- Việc phát triển liệu pháp mới ứng dụng tế bào gốc trong điều trị xơ gan là rất cấp thiết và sẽ mở ra 1 hướng mới trong điều trị xơ gan nói riêng và các bệnh về thoái hoá tế bào nói chung
3 Mục đích nghiên cứu của luận án
Mục tiêu chung:
Nghiên cứu điều trị thực nghiệm chuột bệnh xơ gan bằng tế bào gốc
Mục tiêu cụ thể:
- Thu nhận được tế bào gốc từ các nguồn mẫu: tủy xương và mô mỡ chuột
- Nghiên cứu khả năng chuyển biệt hóa của MSCs thành tế bào gan dưới sự tác động của hóa chất và của dịch chiết gan
- Gây tạo được mô hình bệnh xơ gan trên chuột
- Phân tích và đánh giá hiệu quả điều trị thực nghiệm của tế bào gốc được thu nhận từ nhiều nguồn khác nhau (tủy xương, mô mỡ,…) trên chuột bệnh xơ gan theo các phác
đồ khác nhau
4 Đối tượng, phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu này được tiến hành trên dòng tế bào gốc
trung mô người hay chuột, và chuột nhắt trắng (hoặc chuột Bald-C)
- Các phương pháp chính sử dụng nghiên cứu:
Phương pháp 1: Phân lập tế bào gốc trung mô từ tủy xương và mô mỡ chuộc
Phương pháp 1.1 Phân lập tế bào gốc trung mô từ tủy xương
Nguyên tắc: Trong tủy xương, các quần thể tế bào có thể thu nhận được là: 1 Tế bào
hồng cầu (trưởng thành và chưa trưởng thành); 2 Tế bào bạch cầu (trưởng thành và chưa trưởng thành); 3 Tế bào nền tủy xương; 4 Tế bào mỡ; 5 Tế bào gốc Trong các quần thể tế bào trên, quần thể hồng cầu, bạch cầu trưởng thành và tế bào mỡ là không
có khả năng bám vào bề mặt nuôi cấy hoặc chỉ trong thời gian ngắn Vì vậy, trong điều kiện nuôi cấy bám dính, các tế bào này sẽ bị loại bỏ sau các lần thay môi trường Tế bào bạch cầu chưa trưởng thành, một số tế bào nền tủy xương có khả năng bám dính chọn lọc, tuy nhiên điều kiện môi trường nuôi cấy không thích hợp nên đời sống của các tế bào này rất ngắn Quần thể tế bào gốc chứa 2 loại chính: tế bào gốc tạo máu và
tế bào gốc trung mô, trong 2 loại này chỉ có tế bào gốc trung mô là có khả năng bám
dính và tăng sinh vô hạn trong điều kiện in vitro
Phương pháp 1.2 Phân lập tế bào gốc trung mô từ mô mỡ chuột
Mô mỡ chuột được thu nhận và sử dụng bộ kít tách chiết tế bào gốc mô mỡ ADSC extract Kit (GW Ltd.) để phân tách tế bào gốc Tế bào sau khi thu nhận được nuôi cấy trong môi trường MSC Cult Pro Kit (GW Ltd.)
Phương pháp 2: Khẳng định tế bào gốc sau thu nhận là tế bào gốc trung mô