sử dụng vốn chủ sở hữu CTCP như: quy định về hình thức góp vốn, xác định mệnh giá cổ phần, giảm vốn điều lệ, bảo vệ an toàn vốn và tài sản của cổ đông…Những điểm này nếu không được giải
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI TUẤN ANH
PHÁP LUẬT VỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI TUẤN ANH
PHÁP LUẬT VỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Kinh Tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
LỜI MỞ ĐẦU 7
Chương 1 10
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦNVÀ VỐN CHỦ SỞ HỮU TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 10
1.1 Khái niệm công ty cổ phần 10
1.1.1 Nguồn gốc hình thành và sự phát triển của công ty cổ phần …….10
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phần 12
1.1.3 Bản chất pháp lý của công ty cổ phần 14
1.2 Khái niệm vốn chủ sở hữu trong công ty cổ phần 15
1.2.1 Khái niệm vốn và cơ cấu vốn trong công ty cổ phần 15
1.2.2 Khái niệm vốn chủ sở hữu và các nguồn hình vốn chủ sở hữu trong công ty cổ phần 16
1.2.3 Vốn điều lệ: 17
1.2.4 Quan hệ giữa vốn điều lệ và cổ phần 18
1.2.5 Xác định mệnh giá cổ phần 21
1.2.6 Mối liên hệ giữa vốn chủ sở hữu và giá bán cổ phần 22
1.2.7 Thặng dư vốn cổ phần 23
1.3 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về vốn chủ sở hữu công ty cổ phần 23
Chương 2 27
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU CÔNG TY CỔ PHẦN 27
2.1 Quy định của pháp luật về tạo lập vốn chủ sở hữu CTCP 27
2.1.1 Xác định vốn điều lệ 27
2.1.2 Mệnh giá cổ phần 30
2.1.3 Góp vốn điều lệ 31
2.1.4 Phương thức tạo lập vốn điều lệ 33
Trang 52.1.5 Chủ thể góp vốn 33
2.1.6 Hình thức góp vốn 37
2.1.7 Định giá tài sản góp vốn 40
2.1.8 Chuyển quyền tài sản góp vốn cho công ty 43
2.2 Quy định của pháp luật về tăng, giảm vốn chủ sở hữu CTCP 45
2.2.1 Tăng vốn điều lệ CTCP 45
2.2.2 Giảm vốn điều lệ CTCP 58
2.3 Quy định của pháp luật về thặng dư vốn và các loại quỹ CTCP 66
2.3.1 Quy định về thặng dư vốn CTCP 66
2.3.2 Quy định về các loại quỹ trong CTCP 67
2.4 Quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn chủ sở hữu CTCP 70
2.4.1 Thẩm quyền quản lý, sử dụng vốn chủ sở hữu CTCP: 70
2.4.2 Quản lý việc sử dụng vốn chủ sở hữu thực hiện Dự án đầu tư 72
2.4.3 Quản lý việc sử dụng vốn chủ sở hữu thực hiện đầu tư tài chính và vấn đề sở hữu chéo 73
2.4.4 Quy định về chuyển nhượng các phần vốn góp 77
Chương 3 79
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU CTCP 79
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về vốn chủ sở hữu CTCP: 79
3.2 Một số kiến nghịhoàn thiện pháp luật về vốn chủ sở hữu: 80
3.2.1 Các hình thức góp vốn 80
3.2.2 Mệnh giá cổ phần 81
3.2.3 Giảm vốn điều lệ 84
3.2.4 Bảo vệ cổ đông thiểu số 86
3.2.5 Về công khai, minh bạch thông tin 93
3.2.6 Quy định về tỉ lệ sở hữu đối với nhà đầu tư nước ngoài 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 So sánh quy định về vốn điều lệ trong các văn
2 Bảng 2.2 So sánh các trường hợp tăng vốn điều lệ 49
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tình cấp thiết của đề tài
CTCP là một trong những loại hình công ty phổ biến nhất hiện nay không chỉ ở trên thế giới mà còn ở Việt Nam, được xem là phương thức hữu hiệu để huy động vốn cho kinh doanh,góp phần phát triển kinh tế
CTCP là hình thức đầu tiên và đặc trưng nhất của loại hình công ty đối vốn Trong đó,công ty chú trọng tới vốn góp của các thành viên để tạo thành vốn chủ sở hữu Đặc điểm quan trọng của CTCP là có sự tách bạch giữa tài sản của các cá nhân là thành viên công ty với công ty, các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp mà họ góp vào công ty (trách nhiệm hữu hạn) Ngoài ra, vốn của CTCP được chia thành các phần nhỏ bằng nhau và được
dễ dàng chuyển nhượng tự do Đặc biệt, CTCP được phép phát hành chứng khoán để huy động vốn Chính điều này đã giúp cho CTCP có được lợi thế hơn nhiều so với các loại hình công ty khác trong việc huy động vốn dài hạn, tạo tiền đề giúp DN triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả và phát triển bền vững, qua đó đóng góp vào
sự phát triển của nền kinh tế
Với những ưu thế và lợi ích đối với người góp vốn, nhà đầu tư và nền kinh tế như vậy, ở nước ta mô hình CTCP được xem là một hướng đi quan trọng trong chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta Điều này được thể hiện rõ trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ
X:“Đối với kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những
ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những hướng ưu tiên của Nhà nước trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến mô hình CTCP như chuyển thành DN cổ phần, bán cổ phần cho người lao động”
Dựa trên tinh thần đó, LDN 2005 và tiếp theo đó là LDN 2014 đã được ban hành nhằm xác định địa vị pháp lý, cũng như khuôn khổ pháp lý của CTCP để công ty
có thể hoạt động và phát huy hết những ưu điểm của mình, nhất là ưu điểm trong việc tạo lập và huy động vốn chủ sở hữu
Tuy nhiên, LDN hiện hành nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung vẫn còncó một số những hạn chế, bất cập liên quan đến việc tạo lập, huy động và quản lý
Trang 9sử dụng vốn chủ sở hữu CTCP như: quy định về hình thức góp vốn, xác định mệnh giá
cổ phần, giảm vốn điều lệ, bảo vệ an toàn vốn và tài sản của cổ đông…Những điểm này nếu không được giải quyết sẽ cản trở hoạt động của CTCP, gây ảnh hưởng đến quyền lợi cho cổ đông cũng như tạo ra những rủi ro nhất định dành cho các chủ nợ
trong việc thu hồi nợ Với những lý do ở trên, tôi chọn đề tài “Pháp luật về vốn chủ
sở hữu trong công ty cổ phần ở Việt Nam” với mong muốn góp phần làm sáng tỏ về
lý luận và thực tiễn các vấn đề liên quan đến vốn chủ sở hữu của CTCP và đưa ra một
số kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định có liên quan đến vốn chủ sở hữu CTCP
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tính đến thời điểm hiện tại, vấn đề vốn trong CTCP thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của những nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, pháp luật Các đề tài nghiên cứu về vấn đề này gồm:
Những vấn đề pháp lý về tài chính doanh nghiệp – TS Nguyễn Thị Lan Hương, NXB Chính trị Quốc gia năm 2013
Công ty: Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật DN 2005 - Luật sư Nguyễn Ngọc Bích và TS Nguyễn Đình Cung, NXB Tri Thức năm 2009
Chế độ pháp lý về vốn của công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam – Nguyễn Thanh Hải, Luận văn thạc sỹ Kinh tế (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội) năm 2007
Luật DN – Vốn và quản lý trong công ty cổ phần – Luật sư Nguyễn Ngọc Bích, NXB Trẻ năm 2003
Một số vấn đề pháp lý của công ty cổ phần theo Luật DN – Lê Thị Hải Ngọc Luận văn Thạc sỹ Kinh tế (Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội) năm 2002
Cấu trúc vốn của công ty – PGS PTS Lê Hồng Hạnh, Tạp chí luật học số 03 năm 1996
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều đề cập đến các vấn đề pháp lý về vốn và quản lý của CTCP Tuy vậy, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề vốn chủ sở hữu của CTCP, đặc biệt là trong bối cảnh LDN 2014 mới được ban hành với nhiều thay đổi quan trọng có liên quan đến vấn đề vốn của công ty
Với nội dung đề tài: “Pháp luật về vốn chủ sở hữu trong công ty cổ phần ở Việt Nam” người viết sẽ đi sâu phân tích một cách có hệ thống các quy định pháp luật
Trang 10quy định này vào thực tế với hy vọng sẽ đưa ra những đóng góp mới có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn sâu sắc
3.Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Đề tài được thực hiện với một số mục đích sau đây:
- Nghiên cứu và làm rõ lý luận về CTCP và vốn chủ sở hữu CTCP
- Nghiên cứu và làm rõ thực trạng áp dụng các quy định pháp luật Việt Nam trong việc tạo lập, huy động và quản lý sử dụng vốn chủ sở hữu của CTCP
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật trong việc tạo lập, huy động và quản lý sử dụng vốn chủ sở hữu của CTCP
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về vốn chủ sở hữu trong CTCP ở Việt Nam Phạm vi nghiên cứu: CTCP ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện luận văn này, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với tính chất và yêu cầu của đề tài như phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp liệt kê, phương pháp so sánh, phương pháp chứng minh, duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đánh giá các quy định của pháp luật về vốn chủ sở hữu CTCP Bên cạnh đó, thông qua phương pháp điều tra để nghiên cứu thực trạng tạo lập, huy động và quản lý sử dụng vốn chủ sở hữu CTCP Trên cơ sở đó, đưa ra những phân tích, nhận xét, đánh giá việc thực hiện các quy định này trong thực tế để làm rõ những bất cập của pháp luật liên quan đến vấn đề vốn chủ sở hữu của CTCP
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài được chia thành ba chương
- Chương 1: Khái quát chung về CTCP và vốn chủ sở hữu trong CTCP
- Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về vốn chủ sở hữu CTCP
- Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về vốn chủ sở hữu CTCP
Trang 11Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
VÀ VỐN CHỦ SỞ HỮU TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Khái niệm công ty cổ phần
1.1.1 Nguồn gốc hình thành và sự phát triển của công ty cổ phần
CTCP là một loại hình công ty phổ biến bậc nhất hiện nay, được xem là phương thức phát triển hoàn thiện nhất cho đến nay của xã hội loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển.Ở các nước khác nhau, CTCP có thể có những tên gọi khác nhau Ở Pháp là công ty vô danh (anonymous Company), Ở Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn (Company LTD)
và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ phần (Kabushiki Kaisha)…[17; tr 2]
Về mặt lịch sử hình thành, CTCP ra đời sau các loại công ty đối nhân nhưng là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn Khác với sự ra đời của hình thức công ty TNHH – là sản phẩm của các nhà lập pháp xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, CTCP được hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận
CTCP xuất hiện đầu tiên trên thế giới là công ty Đông Ấn (East India Company) của Anh (1600-1874) Nó được thành lập ngày 31/10/1860 bởi một nhóm
có 218 người, và được cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở châu Á, châu Phi Ngày 01/6/1874, Công ty bị giải thể khi giấy phép lần sau cùng không được gia hạn Công ty đầu tiên này hoạt động hết sức lỏng lẻo: “Người đầu tư góp vốn theo chuyến đi biển và sau mỗi chuyến
đi biển nhận lại vốn cổ phần và tiền lãi” [3; tr 10] Đến năm 1602, ở Hà Lan xuất hiện các CTCP theo hình thức tương tự công ty Đông Ấn của Anh, rồi lần lượt CTCP xuất hiện ở Thụy Điển, Đan Mạch, Đức…
Ở Mỹ, CTCP phát triển rất mạnh Lúc đầu là vì phải xây dựng đường xe lửa, sau này là để thiết lập mạng lưới phân phối và bán lẻ trên toàn lãnh thổ rộng lớn của
Mỹ Chính do yêu cầu tài trợ cho các công ty làm đường xe lửa mà thị trường chứng khoán ở NewYork phát triển Năm 1811, bang NewYork ban bố luật về tính TNHH dành cho các công ty sản xuất Nhờ có luật này, tiền ùn ùn đổ về NewYork và tính hữu
Trang 12hạn kia trở thành phổ biến vì bang nào không dùng đến nó là không thu hút được vốn[9; tr 25]
Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, CTCP bắt đầu phát triển ở nhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, vận tải, xây dựng, các ngành chế tạo cơ khí, ngân hàng, bảo hiểm…ở các nước tư bản phát triển và về sau phát triển rộng rãi ở các nơi khác trên thế giới Đến những năm 20, 30 của thế kỷ XIX, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, nền kinh tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ, điều đó dẫn đến nhu cầu phải tập trung những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế –
xã hội CTCP là một trong những công cụ giúp thực hiện nhanh chóng vấn đề tập
trung vốn Vì vậy, có ý kiến bình luận rằng “Nếu như cứ phải chờ cho đến khi tích luỹ
làm cho số tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương được việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn chưa có đường sắt”[1; tr 199] Sự ra đời
của CTCP đã giúp cho các nhà DN giải quyết được mâu thuẫn về tiền vốn một cách sáng tạo
Tóm lại, trải qua quá trình phát triển lâu dài, CTCP đã từ phạm vi ở một nước, một khu vực nhất định đã phát triển thành những công ty đa quốc gia, hoạt động trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, đúng như nhận định: “CTCP đã phát triển ở hầu hết các
nước từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ một ngành đến đa ngành, từ một quốc gia đến nhiều quốc gia thông qua các công ty siêu quốc gia”[2; tr
35]
Ở Việt Nam, các hình thức sơ khai của CTCP xuất hiện từ khá sớm Luật lệ về công ty lần đầu tiên được quy định là trong “Bộ Dân luật thi hành tại các tòa Nam án Bắc Kỳ”, trong đó tiết thứ 5 (Chương IX) nói về hội buôn được chia thành hai loại là hội người và hội vốn Trong đó hội vốn được chia thành hai loại là hội vô danh (bản chất là CTCP) và hội hợp cổ (bản chất là công ty hợp vốn đơn giản) Nhìn chung, quy định của Pháp luật thời kỳ này về CTCP còn rất sơ khai[5; tr 17]
Dưới thời Pháp thuộc, CTCP xuất hiện ở cả ba kỳ và được quy định trong Bộ luật Thương mại Pháp năm 1807 Đến năm 1944, chính quyền Bảo Đại ban hành Bộ luật thương mại Trung phần có hiệu lực áp dụng tại Trung Kỳ, trong đó có quy định về
Năm 1972, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ban hành Bộ luật Thương mại,
trong đó CTCP được gọi là hội nặc danh với đặc điểm “gồm có các hội viên mệnh
Trang 13danh cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phần hùn của mình dưới hình thức
cổ phần” (Điều 236) và “chỉ được thành lập nếu có số hội viên từ 7 người trở lên”
(Điều 295) Các vấn đề pháp lý liên quan đến hình thức hội nặc danh như thành lập, góp vốn, cơ cấu quản lý … đã được quy định rất chi tiết trong Bộ luật này từ Điều 236 đến Điều 278 cũng như từ Điều 295 đến Điều 314
Ở miền Bắc, sau năm 1954 cho đến khi thống nhất đất nước vào năm 1975 và trên phạm vi cả nước từ sau năm 1975 đến những năm 80 của thế kỷ 20, với chính sách kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các hình thức công ty nói chung và CTCP nói riêng hầu như không còn tồn tại do không được pháp luật thừa nhận Khái niệm “công ty” trong giai đoạn này không được hiểu đúng bản chất pháp lý mà chỉ được hiểu theo hình thức kinh doanh [42]
Luật công ty 1990 được ban hành ngày 21/12/1990 mới chính thức quy định vềhình thức CTCP cụ thể và sau đó LDN 1999, LDN 2005 và LDN 2014 lần lượt được ban hành Trong các văn bản này, CTCP vẫn tiếp tục được ghi nhận và được quy định theo hướng tiếp cận dần đến các chuẩn mực quốc tế về quản trị CTCP
Hiện nay, các CTCP ở Việt Nam hình thành từ ba nguồn chính [12; tr 223]: (1) được chuyển đổi từ DN quốc doanh sang CTCP trong chương trình cổ phần hóa kéo dài từ những năm 1992 cho đến nay; (2) được chuyển đổi và thành lập mới từ khu vực dân doanh trong nước; (3) được chuyển đổi hoặc thành lập mới từ khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phần
Thật khó để đưa ra một định nghĩa chính xác về CTCP mà có thể làm hài lòng tất cả mọi người Do đó, phương pháp tối ưu nhất để nắm được khái niệm về CTCP là đưa ra các đặc điểm pháp lý của nó CTCP có một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: CTCP là loại hình công ty đối vốn, thuộc chế độ trách nhiệm hữu
hạn Do là loại hình công ty đối vốn nên yếu tố nhân thân hay sự quen biết của các thành viên trong công ty không được coi trọng, yếu tố quan trọng được người ta quan tâm nhất chính là cổ phần Cũng chính bởi điều này mà CTCP được xem là hình thức công ty đối vốn điển hình Có những công ty có hàng trăm ngàn đến hàng triệu cổ đông trên toàn thế giới như Apple, IBM, Microsoft,Coca Cola và các cổ đông này không hề quen biết tất cả nhau Ở Việt Nam, một số DN có số lượng nhiều cổ đông
Trang 14nhất phải kể đến Tổng Công ty Khí Việt Nam, Công ty cổ phần Sữa Việt Nam hay Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Tính chịu trách nhiệm hữu hạn được hiểu là nghĩa vụ của cổ đông chỉ phải trả các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty giới hạn trong số vốn đã góp vào công ty và về nguyên tắc không phải đem tài sản cá nhân ra trả nợ cho công ty Các chủ nợ chỉ có quyền đối với các tài sản của công ty, chứ không có quyền đối với tài sản riêng của các cổ đông
Thứ hai: Các thành viên hay những người quản trị công ty đều không có tư cách
thương nhân Bản thân công ty mới là thương nhân Những người có thẩm quyền giao dịch với bên ngoài chỉ là những người đại diện cho Công ty Về lý thuyết, tư cách thương nhân chỉ được trao cho những thành viên chịu trách nhiệm vô hạn trong một
có công ty là trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của mình
Thứ ba:CTCP có cơ cấu tổ chức khoa học, hợp lý với nhiều cơ quan với chức
năng, nhiệm vụ riêng Các cơ quan này được phân tách riêng biệt và có cơ chế kiểm tra, giám sát lẫn nhau một cách chặt chẽ Đặc điểm này của CTCP nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi của các cổ đông, thúc đẩy công ty phát triển có hiệu quả Cổ đông không
có quyền trực tiếp kiểm soát hoạt động hàng ngày của công ty, mà chỉ có quyền bổ nhiệm những người sẽ đại diện họ vào HĐQT Trong công ty, quyền quyết định về tương lai, định hướng phát triển của công ty được giao cho HĐQT, trong khi đó việc điều hành công việc hàng ngày của công ty được giao cho những giám đốc hoặc tổng giám đốc
Thứ tư:CTCP được phép phát hành chứng khoán để huy động vốn Vốn của
CTCP được chia thành các phần nhỏ bằng nhau và được dễ dàng chuyển nhượng tự
do Chính điều này đã giúp cho CTCP có được lợi thế hơn nhiều so với các loại hình công ty khác trong việc huy động vốn dài hạn.Số cổ phần được sở hữu bởi các cổ đông
là một quyền tài sản tư có thể tự do chuyển nhượng trừ những hạn chế và ràng buộc được thỏa thuận trong điều lệ công ty hoặc do luật định
LDN năm 2014 cũng không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là CTCP mà chỉ liệt kê các đặc điểm của nó và qua đó giúp phân biệt nó với các loại hình công ty khác Điều 110 LDN 2014 quy định: CTCP là DN, trong đó: (1) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; (2) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng
Trang 15cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; (3) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp; (4) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác; (5) CTCP có tư cách pháp nhân; (6) CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn Định nghĩa về CTCP trong LDN năm 2014 gần như không có gì khác biệt
so với định nghĩa trong LDN 2005
1.1.3 Bản chất pháp lý của công ty cổ phần
Hiện tại, có nhiều học thuyết khác nhau liên quan tới bản chất pháp lý của công
ty được các học giả Hoa Kỳ nhắc tới Các học thuyết này giải thích cho bản chấp pháp
lý của công ty đối vốn mà ở đó CTCP là loại hình công ty đối vốn đặc trưng nhất
Học thuyết biểu tượng xem Công ty là một biểu tượng cho sự liên kết giữa các
cá nhân tạo thành công ty.Học thuyết DN nhấn mạnh tới DN thương mại cơ bản, không nhấn mạnh tới thực thể - sự liên kết của những thực thể cấu thành.Học thuyết
hư cấu hay thực thể nhân tạo xem công ty là một pháp nhân được thành lập bởi nhà chức trách Học thuyết này bắt nguồn từ Luật La Mã và Luật Giáo hội với quan niệm
về “Persona ficta”.Học thuyết hiện thực hay học thuyết về tính vốn có xem nhân tính của công ty là sự thừa nhận các lợi ích nhóm như một hiện tượng thực tế đã tồn tại
Học thuyết mối liên hệ hợp đồng được phát triển bởi những nhà kinh tế học Họ xem công ty là một giả tưởng pháp lý bao gồm một mạng lưới, một sự phức hợp của các quan hệ hợp đồng giữa những người có liên quan với nhau như các nhà đầu tư, người lao động, khách hàng, các nhà cung ứng…Học thuyết này cho rằng những người điều hành công ty chính là những người có khả năng kết hợp các nguồn lực sẵn có trong xã hội để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận Các cổ đông hoặc các chủ nợ khác chỉ là những người chờ đợi được chia các khoản lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Theo góc độ tiếp cận
DN bằng hợp đồng, PGS.TS Ngô Huy Cương cho rằng CTCP có thể được xem như phức hợp của nhiều hợp đồng (nexus of contracts) [6] Theo trình tự thời gian, có thể nhận diện vô số hợp đồng đã tạo nên CTCP như sau: (1) hợp đồng giữa các sáng lập viên thành lập công ty, (2) hợp đồng giữa các sáng lập viên với các bên thứ ba để tiến hành vận động, chuẩn bị thành lập công ty (thuê văn phòng, nhà xưởng, thuê nhân công, tạo lập cơ sở hạ tầng, thuê điều tra, khảo sát thị trường,v.v), (3) các thỏa thuận
Trang 16lập viên, cơ cấu quản trị, người đại diện cho công ty và các vấn đề khác, (4) các hợp đồng khác do công ty thiết lập trong quá trình hoạt động, ví dụ như với các trái chủ, người cung cấp tín dụng, bạn hàng và người làm công Sở dĩ công ty được gọi là phức hợp của nhiều hợp đồng bởi các khế ước trên không thể độc lập mà ràng buộc và chi phối lẫn nhau[13; tr 229]
Trong các học thuyết đó, học thuyết hợp đồng quan niệm công ty chính là một hợp đồng Học thuyết này được sử dụng để giải quyết các mối quan hệ bao gồm: (1) mối quan hệ giữa các thành viên trong công ty với nhau, (2) mối quan hệ giữa các thành viên công ty với bản thân công ty và (3) mối quan hệ giữa công ty và Nhà nước
Bộ luật Dân sự Pháp định nghĩa: “Công ty là một hợp đồng thông qua đó hai
hay nhiều người thỏa thuận với nhau sử dụng tài sản hoặc khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận hoặc kiếm lời có thể thu được thông qua hoạt động đó”
Cùng với những tư tưởng đó, các Bộ luật Dân sự của các chế độ cũ ở Việt Nam đều có một chương riêng dành cho khế ước lập hội xác định rõ bản chất pháp lý của Công ty hay thương hội là hợp đồng.Khoản 7 Điều 4 LDN năm 2014 định nghĩa DN (dưới bất kể hình thức công ty nào) là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh
Từ định nghĩa này có thể thấy DN nói chung và CTCP nói riêng có bản chất là sự kết hợp giữa học thuyết hư cấu hay thực thể nhân tạo với học thuyết DN
1.2 Khái niệm vốn chủ sở hữu trong công ty cổ phần
1.2.1 Khái niệm vốn và cơ cấu vốn trong công ty cổ phần
CTCP không thể được thành lập và hoạt động nếu không có vốn Vốn là yếu tố quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng như quan hệ với các đối tác bên ngoài Với đặc trưng là loại hình công ty đối vốn, quyền lực trong CTCP sẽ thuộc về những ai nắm giữ phần lớn số vốn trong công ty Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của CTCP là một dấu hiệu chỉ rõ thực lực tài chính của công ty Tuy nhiên, khác với nhiều yếu tố khác, vốn trong CTCP là yếu tố năng động nhất
Theo LDN hiện hành, các DN phải tiến hành đăng ký kinh doanh, trong đó bắt buộc phải có nội dung đăng ký vốn điều lệ Khi thành lập CTCP, vốn điều lệ được hình thành khi các sáng lập viên góp hoặc cam kết góp Lúc này, vốn điều lệ được xem
là tài sản đầu tiên của CTCP và là một yếu tố quan trọng cấu thành nên vốn chủ sở
Trang 17hữu Vốn điều lệ này có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như: tài sản cố định, tài sản vô hình…nhưng thông dụng nhất vẫn là tiền mặt Khi CTCP hoạt động, làm ăn có hiệu quả, tổng doanh thu lớn hơn tổng chi phí Lúc này, khoản chênh lệch ngoài vốn điều lệ ban đầu này sẽ làm tăng vốn chủ sở hữu của CTCP
Trong quá trình hoạt động, để bổ sung vốn lưu động, mở rộng đầu tư, CTCP có thể phải tạo lập các nguồn vốn khác bên cạnh việc chỉ sử dụng vốn chủ sở hữu Việc tạo lập các nguồn vốn khác có thể thông qua việc phát hành trái phiếu, vay ngân hàng hoặc các tổ chức, cá nhân khác…Số tiền thu được từ hoạt động này chính là vốn nợ
Cả vốn chủ sở hữu và vốn nợ tạo thành tài sản của CTCP Trong bảng cân đối kế toán của DN, vốn thể hiện bằng tiền toàn bộ giá trị tài sản
1.2.2 Khái niệm vốn chủ sở hữu và các nguồn hình vốn chủ sở hữu trong công ty cổ phần
Hiểu một cách khái quát, vốn chủ sở hữu trong CTCP là các tài sản thuộc sở hữu của các cổ đông trong CTCP Vốn chủ sở hữu chính là cổ phần hoặc bất cứ loại
phương tiện để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, trong quan hệ với chủ nợ thì vốn chủ sở hữu chính là tài sản để thanh toán các khoản nợ
Có 3 nguồn chính tạo nên vốn chủ sở hữu: (1) số tiền góp vốn của các nhà đầu
tư, (2) lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối) và (3) khoản chênh lệch từ định giá lại tài sản
Trên bảng cân đối kế toán, vốn chủ sở hữu là lượng tiền được cổ đông đóng góp cộng với các khoản thu được (hoặc trừ đi khoản bị mất) và được phản ánh chi tiết gồm: (1) vốn của các nhà đầu tư, (2) thặng dư vốn cổ phần, (3) lợi nhuận giữ lại, (4) các quỹ, (5) lợi nhuận chưa phân phối, (6) chênh lệch tỷ giá và (7) khoảnh chênh lệch
từ định giá lại tài sản Trong đó:
- Vốn của các nhà đầu tư có thể là vốn của chủ DN, vốn góp, vốn cổ phần, vốn Nhà nước;
- Thặng dư vốn cổ phần là chênh lệch giữa mệnh giá cổ phiếu với giá thực tế phát hành;
- Lợi nhuận giữ lại là lợi nhuận sau thuế giữ lại để tích luỹ bổ sung vốn;
- Các quỹ như quỹ dự trữ, quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển;
Trang 18- Lợi nhuận chưa phân phối là lợi nhuận sau thuế chưa chia cho chủ sở hữu hoặc chưa trích lập các quỹ;
- Chênh lệch tỷ giá, gồm: Chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng; chênh lệch tỷ giá phát sinh khi DN ở trong nước hợp nhất báo cáo tài chính của các hoạt động ở nước ngoài sử dụng đơn vị tiền tệ kế toán khác với đơn vị tiền tệ kế toán của DN báo cáo
- Khoản chênh lệch từ định giá lại tài sản là chênh lệch giữa giá trị ghi sổ của tài sản với giá trị định giá lại tài sản khi có quyết định của Nhà nước, hoặc khi đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, cổ phần
1.2.3 Vốn điều lệ:
Nguồn hình thành vốn chủ sở hữuCTCP đầu tiên chính là vốn điều lệ do các cổ đông đóng góp Bởi vậy, vốn điều lệ có thể coi là một bộ phận quan trọng nhất trong
cơ cấu của vốn chủ sở hữu
LDN 2005 quy định: “Vốn điều lệlà số vốn do các thành viên, cổ đông góp
hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty” Tuy
nhiên, theo quy định của LDN 2014, “vốn điều lệ công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh
giá cổ phần đã bán các loại Vốn điều lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty”(Khoản 1, Điều 111, LDN2014)
Vốn điều lệ được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần Tại thời điểm thành lập, các cổ đông sáng lập sẽ thống nhất với nhau về vốn điều lệ của công
ty, mệnh giá cổ phần, tổng số lượng cổ phần tương ứng với vốn điều lệ và số cổ phần các cổ đông sáng lập sẽ đăng ký mua Bản chất của hành vi phát hành cổ phần là để hình thành nên vốn điều lệ Trường hợp CTCP được thành lập có quy mô lớn, mô hình
mở rộng thì cổ phần phát hành sẽ do các cổ đông sáng lập và các nhà đầu tư nắm giữ Ngược lại, nếu CTCP có quy mô nhỏ, phạm vi khép kín thì các cổ phần phát hành sẽ chỉ do các cổ đông sáng lập nắm giữ
LDN 2005 có một số quy định về nghĩa vụ và thời hạn góp đủ cổ phần đối với các cổ đông như sau: (1) Khi thành lập CTCP, cổ đông sáng lập xác định số cổ phần
dự định phát hành để ghi trong điều lệ công ty và các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy
Trang 19chứng nhận đăng ký kinh doanh (2) CTCP có thể được phép chào bán hết số cổ phần
dự định phát hành trong thời gian 03 năm Từ các quy định trên đây có thể thấy rằng chừng nào thời hạn 03 năm chưa kết thúc thì vốn của CTCP chưa chắc đã bằng với tổng số cổ phần dự định phát hành Tuy nhiên, LDN 2014 lại có quy định chặt chẽ hơn, theo đó các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán tại thời điểm đăng ký DN và phải thanh toán đủ
số cổ phần đã mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký DN Nếu sau thời hạn quy định này có cổ đông chưa thanh toán hoặc chỉ thanh toán được một phần số cổ phần đã đăng ký mua thì Công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị mệnh giá số cổ phần đã được thanh toán đủ và thay đổi cổ đông sáng lập trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua Mặt khác, Cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số
cổ phần đã đăng ký mua phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn 90 ngày Thành viên HĐQT, người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới về các thiệt hại phát sinh do không thực hiện hoặc không thực hiện đúng quy định về thanh toán tiền mua cổ phần và điều chỉnh vốn điều lệ theo quy định
1.2.4 Quan hệ giữa vốn điều lệ và cổ phần
Một trong những ưu điểm của hình thức CTCP so với các loại hình DN khác là
sự đa dạng về loại cổ phần mà cổ đông có thể nắm giữ Chính bởi vậy, để tạo ra nhiều lựa chọn cho nhà đầu tư rót vốn vào công ty, các loại cổ phần khác nhau sẽ được công
ty phát hành bao gồm cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi Khi nhà đầu tư mua cổ phần phổ thông, họ sẽ nhận được những quyền lợi “phổ thông” nhất như: có quyền biểu quyết tương ứng với số cổ phần họ mua, đồng thời có quyền hưởng cổ tức Khi nhà đầu tư mua cổ phần ưu đãi, họ sẽ nhận được những quyền lợi ưu đãi như: ưu đãi trong việc biểu quyết, ưu đãi khi nhận cổ tức, ưu đãi hoàn lại hoặc các ưu đãi khác tùy thuộc vào điều lệ công ty Mặc dù mỗi loại cổ phần ưu đãi có những ưu thế riêng, nhưng khá ngạc nhiên là tại hầu hết CTCP ở Việt Nam, quy định này trong điều lệ chỉ
để “cho có”…
Về bản chất, việc quy định trong CTCP có các loại cổ phần ưu đãi là nhằm phát huy tối đa lợi thế của loại hình DN này về tính đại chúng trong cơ cấu sở hữu vốn,
Trang 20các nhà đầu tư/cổ đông có tâm lý “nhát gan” khi bỏ vốn vào đầu tư, kinh doanh Việc quy định các loại cổ phần ưu đãi phải được ghi trong điều lệ công ty hoặc phải do ĐHĐCĐ quyết định
Theo LDN 2014, có 4 loại cổ phần ưu đãi CTCP có thể phát hành bao gồm: Cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số quyền biểu quyết nhiều hơn cổ phần phổ thông Theo quy định của LDN 2014 thì chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông [40; Khoản 3 Điều 113] Quy định này của LDN 2014 được kế thừa từ LDN 2005 với mục đích bảo vệ quyền lợi cho những cổ đông sáng lập và các tổ chức được Chính phủ ủy quyền trong thời gian 03 năm đầu thành lập
- Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được ưu tiên hưởng cổ tức ở mức cao hơn mức cổ tức được trả cho cổ phần phổ thông hoặc được hưởng mức cổ tức cố định hàng năm Cổ tức được chi trả hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định được chi trả kể cả trong trường hợp công ty làm ăn không có lãi Tùy thuộc vào lĩnh vực kinh doanh của DN mà pháp luật quy định chi tiết hơn về cổ phần ưu đãi Riêng trường hợp cổ phiếu ưu đãi cổ tức của các ngân hàng thương mại được quy định
cụ thể hơn trong Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại Cụ thể, nghị định này quy định cụ thể hơn về tổng giá trị mệnh giá của cổ phần ưu đãi cổ tức được quy định tối đa bằng 20% vốn điều lệ của ngân hàng Ngoài ra, ngân hàng thương mại cổ phần được phát hành
cổ phần ưu đãi cổ tức cao hơn so với mức cổ tức thông thường của cổ phần phổ thông
và được duy trì ổn định hàng năm Hàng năm cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức được hưởng cổ tức cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của ngân hàng và chỉ được chi trả khi ngân hàng có lãi Trong trường hợp ngân hàng làm ăn thua lỗ thì cổ tức cố định được cộng dồn vào năm tiếp theo
- Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của nhà đầu tư hoặc các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần
Trang 21ưu đãi hoàn lại.Điểm khác biệt lớn nhất giữa các loại cổ phần ưu đãi nêu trên là cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết, không có quyền dự họp ĐHĐCĐ hoặc đề cử người vào HĐQT và ban kiểm soát
- Cổ phần ưu đãi khác là một quy định tùy nghi, theo đó Điều lệ công ty hoặc ĐHĐCĐ có thể quy định bất kỳ ưu đãi nào hoặc đơn giản là “gộp” các loại ưu đãi, ví dụ: công ty có thể có loại cổ phần ưu đãi vừa “ưu đãi cổ tức” vừa “ưu đãi hoàn lại” Tuy nhiên, việc để cho Điều lệ công ty hoặc ĐHĐCĐ quy định các loại cổ phần ưu đãi khác là quy định “mang tính thách thức” với CTCP, khi mà bản thân nhà làm luật còn không chỉ rõ cho DN cách thức xác định như thế nào là “khác”, hay nó còn có các loại
cụ thể nào
Tuy nhiên, từ thực tiễn tham khảo các nước, CTCP có thể quy định các loại cổ phần ưu đãi khác sau đây: cổ phần ưu đãi cổ tức dồn lãi, cổ phần ưu đãi dự phần được chia cổ tức; cổ phần ưu đãi mua lại được; cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi; cổ phần
ưu đãi phức hợp (có 2 quyền ưu đãi trở lên); cổ phần ưu đãi ưu tiên hàng đầu (Prior preferred stock)… Mục đích của việc có nhiều loại cổ phần ưu đãi là nhằm thu hút càng nhiều NĐT/cổ đông sẵn sàng tham gia góp vốn vào CTCP nhất
+ Cổ phần ưu đãi cổ tức dồn lãi: Đặc điểm cơ bản của loại cổ phần ưu đãi này là: nếu trong vòng 1 năm, một cổ phần ưu đãi cổ tức không được thanh toán cho các cổ đông ưu đãi cổ tức thì những cổ đông này có quyền cổ tức dồn lãi, nghĩa là công ty phải cộng dồn vào thanh toán các cổ tức chưa thanh toán vào những năm tiếp theo trước khi cổ tức được thanh toán cho các cổ đông phổ thông
+ Cổ phần ưu đãi dự phần được chia cổ tức: Đặc điểm của loại cổ phần này là sau khi các cổ tức ưu đãi được thanh toán, các cổ đông ưu đãi dự phần có quyền chia thành các cổ tức được công bố cho các cổ đông phổ thông và cổ đông khác trong phạm
vi được quy định trong Điều lệ công ty
+ Cổ phần ưu đãi mua lại được: LDN có quy định trường hợp cổ đông phản đối quyết định của công ty có quyền yêu cầu công ty mua cổ phần của mình hoặc công ty mua lại cổ phần đã bán
Tuy nhiên, trên thực tế quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn Do vậy, các cổ đông có thể thỏa thuận trong Điều lệ công ty một loại cổ phần ưu đãi mua lại với các quy định “mềm dẻo” hơn cho các cổ đông và công ty với những điều kiện và điều
Trang 22và Điều lệ không bảo vệ được quyền lợi của cổ đông (đặc biệt là các cổ đông ưu đãi hoặc cổ đông thiểu số)
+ Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi: LDN quy định, cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của ĐHĐCĐ Tuy nhiên, trên thực tế, các cổ đông có thể thỏa thuận trong Điều lệ công ty các loại cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi, tức là các cổ phần này trao cho cổ đông quyền lựa chọn để chuyển đổi
cổ phần ưu đãi của họ thành các loại chứng khoán khác trong công ty một cách tuỳ ý khi xảy ra một sự kiện nào đó
+ Cổ phần ưu đãi ưu tiên trước (Prior prefered stock): Các cổ phần ưu đãi này
có quyền ưu tiên hơn các cổ phần ưu đãi đã được phát hành trước đó trong các ưu đãi hàng đầu về: thanh toán cổ tức; thanh toán các quyền thanh lý (khi công ty kết thúc hoạt động, giải thể) và các quyền lợi cụ thể khác
Tùy thuộc vào mục đích của người sáng lập mà CTCP có thể lựa chọn việc phát hành cổ phần phổ thông hoặc kết hợp phát hành cổ phần phổ thông và phát hành cổ phần ưu đãi Cần lưu ý rằng, việc phát hành cổ phần ưu đãi về bản chất không làm thay đổi tổng vốn điều lệ mà chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các nhà đầu tư sở hữu cổ phần ưu đãi như đã được phân tích ở trên
Trên thế giới, vào đầu thế kỷ 20, mệnh giá cổ phấn khá cao, thường là 100 USD Tuy nhiên do chính quyền tại một vài bang của Mỹ quy định một số khoản phí
tỷ lệ với mệnh giá nên mệnh giá có xu hướng giảm dần [21, tr 30] xuống một vài USD hay thậm chí một vài cents Mặt khác, chính quyền một số bang của Mỹ trước đây còn quy định trách nhiệm của cổ đông căn cứ vào mệnh giá Nếu mệnh giá 100 USD mà giá thị trường cổ phiếu là 90 USD, khi công ty bị thanh lý, cổ đông có trách nhiệm đóng thêm 10 USD [20, tr 502] Tình hình đó khuyến khích công ty phát hành
cổ phiếu có mệnh giá nhỏ, 1 USD, 1 cent hay không có mệnh giá (no-par stock)
Trang 23Thậm chí tại Canada vào năm 1975, luật mới về các công ty thương mại Canada (L.S.C.C.) quy định rằng các cổ phiếu có mệnh giá không được phát hành nữa,
và các công ty có thời gian 5 năm để chuyển các cổ phiếu có mệnh giá sang cổ phiếu không có mệnh giá Việc chuyển đổi từ cổ phiếu có mệnh giá sang không mệnh giá mất khá nhiều thời gian, nhưng hiện nay, đại đa số công ty Canada chỉ có cổ phiếu không mệnh giá [19, tr 844-845]
Tại Việt Nam, LDN 2014 cũng như các LDN trước đây đều không quy định cụ thể về việc xác định mệnh giá cổ phần Hiện nay, các CTCP khi được thành lập thường xác định mệnh giá cổ phần là 10.000 VNĐ Do không có quy định thống nhất của pháp luật điều chỉnh về vấn đề này nên mệnh giá cổ phần có thể được đặt cao thấp khác nhau tùy thuộc vào ý chí của người sáng lập Tuy nhiên, theo Luật chứng khoán hiện hành, CTCP chào bán ra công chúng lần đầu thì mệnh giá cổ phần phải tương đương với mệnh giá cổ phiếu là 10.000 VNĐ (Điều 10 Luật chứng khoán sửa đổi bổ sung năm 2010)
Ngoài ra, nguyên tắc phát hành cổ phần phải đảm bảo giá trị cổ phần theo mệnh giá được ghi nhận trong Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ
về chuyển DN 100% vốn Nhà nước thành CTCP Cụ thể là, khi DNNhà nước được cổ
phần hóa thì “giá bán không được thấp hơn giá khởi điểm” và mức giá khởi điểm được xác định “không thấp hơn mệnh giá là 10.000 VNĐ” Quy định này nhằm mục đích
bảo đảm vốn chủ sở hữu hình thành tương đương với phần giá trị tài sản định giá
1.2.6 Mối liên hệ giữa vốn chủ sở hữu và giá bán cổ phần
Có 03 trường hợp xảy ra sau công ty phát hành cổ phần tùy thuộc vào mục đích phát hành, đó là: Công ty có thể thu được tiền bán cổ phần bằng mệnh giá, cao hơn mệnh giá hoặc dưới mệnh giá Giá bán cổ phần sẽ quyết định cơ cấu vốn chủ sở hữu CTCP.Trong trường hợp giá bán cổ phần bằng với mệnh giá cổ phần thì tổng số tiền thu được của việc bán cổ phần sẽ được ghi nhận tương xứng với vốn điều lệ của CTCP Còn trong trường hợp giá bán cổ phần thấp hơn mệnh giá thì lúc đó vốn điều lệ thực có sẽ thấp hơn vốn điều lệ đã đăng ký Hiện nay, pháp luật chưa có các quy định điều chỉnh vấn đề này một cách cụ thể dẫn đến một số CTCP niêm yết phát hành cổ phần dưới mệnh giá cho một số đối tượng được sự đồng ý bởi ĐHĐCĐ Có thể dễ
Trang 24dàng nhận thấy rằng, việc CTCP phát hành dưới mệnh giá tạo lợi ích cho các cổ đông nhưng giảm giá trị vốn thực có thấp hơn so với vốn điều lệ đăng ký
ty nhưng tiền cổ tức của họ chỉ được xác định dựa trên mệnh giá cổ phần và số lượng
cổ phần Sau khi cổ đông nhận tiền cổ phần, thặng dư vốn cổ phần tồn tại độc lập, riêng biệt với vốn điều lệ trong cơ cấu vốn chủ sở hữu Thặng dư vốn cổ phần chỉ trở thành vốn điều lệ khi công ty phát hành cổ phiểu thưởng bằng thặng dư cổ phần để chia cho cổ đông và người lao động
1.3 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về vốn chủ sở hữu công ty cổ phần
1.3.1 Phân quyền trong quản lý và sử dụng vốn chủ sở hữu và tài sản của CTCP
Với tư cách là chủ sở hữu CTCP, các cổ đông này có thể tự mình (trực tiếp) hoặc thông qua người đại diện (gián tiếp) để quản lý và sử dụng vốn, tài sản của DN nhằm đạt mục đích phát triển công ty và thu lợi nhuận về cho mình
Các loại hình DN khác nhau có đặc thù khác nhau trong việc phân định thẩm quyền quản lý, sử dụng vốn và tài sản của DN Đối với CTCP, đặc biệt là các CTCP
có quy mô lớn, nguyên tắc phân tách giữa sở hữu và quản lý điều hành được quy định trong luật công ty của nhiều nước trên thế giới Vì vậy, các cổ đông không trực tiếp tham gia hoạt động quản lý mà thông qua ĐHĐCĐ để bầu ra HĐQT và ủy thác việc quản lý điều hành cho HĐQT Sự phân quyền của các tổ chức nội bộ trong quản lý về vốn và tài sản được phân chia thành: (1) Phân quyền giữa cơ quan chủ sở hữu và cơ quan quản lý; (2) Phân quyền giữa cơ quản quản lý và cơ quan điều hành
Trang 251.3.2 Bảo toàn vốn và tài sản của CTCP
Mối quan hệ cân đối giữa tài sản với nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giá trị tài sản và cơ cấu vốn của DN trong hoạt động sản xuất kinh doanh Nhìn từ góc độ tài chính, vốn là thể hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản Khi vốn bằng tiền đã chuyển thành tài sản, thì bảo toàn tài sản đồng nghĩa với duy trì giá trị sử dụng của tài sản Lúc này, bảo toàn vốn cũng có thể coi là bảo toàn tài sản nhằm duy trì và làm tăng giá trị của tài sản thông qua các hoạt động đầu tư, kinh doanh
Mục tiêu chủ yếu của các cổ đông khi thành lập CTCP không có gì khác ngoài lợi nhuận Vốn được sử dụng để mua sắm, đầu tư vào tài sản cố định hoặc được sử dụng làm vốn lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của CTCP Tuy nhiên, không phải mọi quyết định tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh đều đúng đắn
và mang lại lợi nhuận cho công ty, các quyết định sai lầm trong kinh doanh là điều không thể tránh khỏi và điều này khiến DN rơi vào tình trạng thua lỗ, thậm chí phá sản Khi đó, ĐHĐCĐ quyết định bảo toàn vốn thông qua quyết định mua bán, sáp nhập công ty, bán tài sản…nhằm duy trì giá trị sử dụng của tài sản và bảo toàn vốn của CTCP
1.3.3 Bảo vệ lợi ích của các cổ đông và chủ nợ
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận của các cổ đông chỉ đạt được khi DN làm ăn có lãi Bên cạnh phần vốn chủ sở hữu bỏ ra ban đầu của các
cổ đông góp vốn, DN phải vay thêm vốn để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Trong quan hệ với DN, chủ nợ chỉ có quyền hưởng lãi suất theo thỏa thuận
và chỉ có thể thu hồi vốn khi đến hạn trả nợ theo hợp đồng và không chịu trách nhiệm
về sự thất bại của dự án đầu tư của DN
Trong khi đó, các cổ đông trong CTCP chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp tương đương với giá trị cổ phần sở hữu hoặc phần vốn góp và chỉ được hưởng cổ tức hoặc được phân chia lợi nhuận khi DN kinh doanh có lãi Có thể nói mục đích của chủ sở hữu và chủ nợ chỉ có thể đạt được khi DN sử dụng có hiệu quả vốn chủ sở hữu để kinh doanh có lãi Do lợi ích của chủ nợ gắn chặt với lợi ích của công ty nên các quyết định kinh doanh của ĐHĐCĐ, HĐQT và cơ quan điều hành phải tuân thủ pháp luật để bảo vệ lợi ích của chủ nợ nhằm hạn chế việc công ty làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản
Trang 261.3.4 Thông tin về quản lý và sử dụng vốn chủ sở hữu phải được công khai minh bạch
Thẩm quyền quản lý, sử dụng vốn và tài sản đƣợc giao cho cơ quan quản lý và điều hành theo quy định của LDN và Điều lệ Công ty Đại diện theo pháp luật nhân danh DN ký kết và đôn đốc thực hiện các hợp đồng có liên quan đến việc sử dụng vốn
và tài sản Hành vi mua bán hàng hóa, cung cấp, nhận cung cấp dịch vụ và thanh toán gắn với chuyển dịch quyền sở hữu và sử dụng vốn, tài sản của công ty Kết quả thu, chi liên quan đến các giao dịch này đƣợc tổ chức kế toán DN ghi nhận trên các tài khoản kế toán Đây chính là căn cứ để xác định doanh thu, chi phí và lợi nhuận của
DN Việc minh bạch hóa thông tin về tài chính giúp cho các cổ đông và cơ quan quản
lý điều hành CTCP đánh giá đƣợc chính xác kết quả thực hiện nghị quyết và quyết định đã ban hành cũng nhƣ dễ dàng kiểm tra, giám sát hoạt động của HĐQT và Tổng giám đốc/giám đốc
Trang 27KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
CTCP là một trong những loại hình công ty ưu việt nhất hiện nay để huy động vốn cho kinh doanh không chỉ ở trên thế giới mà còn ở Việt Nam CTCP là hình thức đầu tiên và đặc trưng nhất của loại hình công ty đối vốn Trong đó, công ty chú trọng tới vốn góp của các thành viên để tạo thành vốn chủ sở hữu
Hiểu một cách khái quát, vốn chủ sở hữu trong CTCP là các tài sản thuộc sở hữu của các cổ đông trong CTCP Vốn chủ sở hữu chính là cổ phần hoặc bất cứ loại chứng khoán nào khác đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cổ đông Vốn chủ sở hữu là phương tiện để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, trong quan hệ với chủ nợ thì vốn chủ sở hữu chính là tài sản để thanh toán các khoản nợ Có 3 nguồn chính tạo
nên vốn chủ sở hữu: (1) số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, (2) lợi nhuận từ hoạt động
sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối) và (3) khoản chênh lệch từ định giá lại tài sản
Vào thời kỳ bao cấp, vốn của các xí nghiệp quốc doanh do Nhà nước cấp, còn của hợp tác xã do Nhà nước cấp một phần Vào thời kỳ này, vốn không được phân biệt theo tính chất pháp lý, tính trách nhiệm hữu hạn hay vô hạn Sang thời kỳ kinh tế mở cửa từ những năm 90 trở lại đây, khu vực kinh tế tư nhân được thiết lập và nó kế thừa những quan niệm cũng những cách gọi tên các loại vốn Lúc này, vốn thực sự được coi
là phương tiện kinh doanh và nếu không có vốn là DN không hoạt động được Bởi vậy, vốn chủ sở hữu CTCP nói riêng và vốn doanh nghiệp nói chung là đối tượng được pháp luật điều chỉnh Một số nội dung chính về vốn chủ sở hữu CTCP được pháp luật điều chỉnh bao gồm: Việc tạo lập vốn chủ sở hữu; việc tăng, giảm vốn điều lệ; việc quản lý, sử dụng vốn chủ sở hữu CTCP…
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU
Vốn điều lệ được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần Tại thời điểm thành lập, các cổ đông sáng lập sẽ thống nhất về vốn điều lệ của công ty, mệnh giá cổ phần, tổng số lượng cổ phần tương ứng với vốn điều lệ và số cổ phần các cổ đông sáng lập sẽ đăng ký mua Lúc này, các cổ đông của CTCP chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty và số vốn này chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ số vốn đã đầu tư vào công ty Chính ưu điểm này làm cho hình thức CTCP rất hấp dẫn các nhà đầu tư bởi vì việc đầu tư vào các công ty
có chế độ trách nhiệm hữu hạn như CTCP sẽ ít rủi ro hơn so với hình thức công ty đối
ro là vô hạn kể cả khi đã xác định được mức vốn điều lệ
Bản chất của hành vi phát hành cổ phần là để hình thành nên vốn điều lệ Trường hợp CTCP được thành lập có quy mô lớn, mô hình mở rộng thì cổ phần phát hành sẽ do các cổ đông sáng lập và các nhà đầu tư nắm giữ Ngược lại, nếu CTCP có quy mô nhỏ, phạm vi hạn chế thì các cổ phần phát hành chỉ do các cổ đông sáng lập nắm giữ
LDN 2005 quy định: “Vốn điều lệlà số vốn do các thành viên, cổ đông góp
hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty” Theo
nghị quyết của ĐHĐCĐ, vốn điều lệ được hình thành từ tiền bán cổ phần phổ thông và
cổ phần ưu đãi Do vốn điều lệ là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập công ty nên vốn điều lệ của CTCP không nhất thiết phải bằng với tổng số cổ phần dự định phát hành theo mệnh giá trong mọi trường hợp
LDN 2005 cũng đã đưa ra một số quy định về nghĩa vụ và thời hạn góp đủ cổ phần đối với các cổ đông như sau: (1) Khi thành lập CTCP, cổ đông sáng lập xác định
Trang 29số cổ phần dự định phát hành để ghi trong điều lệ công ty và các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán
và thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (2) CTCP có thể được phép chào bán hết số
cổ phần dự định phát hành trong thời gian 03 năm
Như phân tích ở trên, LDN 2005 thừa nhận tình trạng vốn thực góp chưa có đủ như đã đăng ký của CTCP trong thời hạn ba năm đầu kể từ ngày DN được cấp giấy chứng nhận đăng ký DN Nhưng đến hướng dẫn của Nghị định 102/2010/NĐ-CP lại nói rằng: “Vốn điều lệ của CTCP là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành Số
cổ phần đã phát hành là số cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty Tại thời điểm đăng ký kinh doanh thành lập DN, vốn điều lệ của CTCP là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng
ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty; số cổ phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN”[Khoản 4
15/4/2010 của Chính phủ (Nghị định 43) hướng dẫn việc đăng ký DN thì quy định rằng “vốn điều lệ CTCP không bao gồm giá trị của số cổ phần được quyền chào
Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ
số cổ phần được quyền chào bán
Vốn điều lệ là tổng giá trị mệnh giá số
cổ phần đã phát hành (đã được thanh toán đủ bởi cổ đông cho Công ty)
Bảng 2.1 So sánh quy định về vốn điều lệ trong các văn bản pháp luật
Trang 30Như vậy, điểm khác biệt cơ bản giữa các văn bản luật liên quan đến vốn điều lệ CTCP là theo LDN 2005 thì vốn điều lệ bao gồm cả phần vốn cam kết góp, còn Nghị định 43 và Nghị định 102 thì chỉ phần vốn đã thanh toán mới được coi là vốn điều lệ Phần vốn cổ phần đăng ký bán cho cổ đông mà chưa được cổ đông thanh toán thì không được coi là vốn điều lệ Hai Nghị định này không nói rõ phần vốn cổ phần chưa được cổ đông thanh toán là vốn gì
Cũng theo hướng dẫn của hai Nghị định trên, sẽ không còn tình trạng nợ 80% vốn điều lệ theo qui định của LDN Hướng dẫn này tạo nên hai mâu thuẫn về mặt lý luận: (1)hướng dẫn này trái với qui định của Điều 84 LDN 2005, thừa nhận tình trạng
nợ 80% vốn điều lệ của loại hình CTCP (2)với hướng dẫn này, Nghị định 102/2010/NĐ-CP đã xoá nhoà ranh giới phân định sự khác biệt đặc trưng giữa công ty TNHH và CTCP Bởi vì trong công ty TNHH, vốn điều lệ của công ty hình thành trên
cơ sở số vốn thành viên công ty góp hoặc cam kết góp Nói cách khác, chủ sở hữu phần vốn này đã được xác định ngay từ khi cam kết góp Trong khi đó, vốn điều lệ của CTCP do các cổ đông sáng lập tự thỏa thuận và ghi vào điều lệ của công ty Nhưng các cổ đông sáng lập có thể mua hoặc không mua hết vốn điều lệ Nói cách khác, vốn điều lệ của CTCP, trong trường hợp cổ đông sáng lập chỉ đăng ký con số tối thiểu là 20% cổ phần phổ thông theo qui định của LDN, bao hàm cả phần sở hữu được xác định cụ thể cho từng cổ đông sáng lập và một phần (lớn) chưa được xác định Chúng ta gọi phần chưa xác định này là cổ phần có quyền chào bán Đến lúc này, bất cứ người nào, không rơi vào các trường hợp bị cấm góp vốn vào DN thì cũng có quyền được mua số cổ phần có quyền chào bán này một khi công ty quyết định bán cổ phần để huy động vốn Đó cũng là đặc trưng của CTCP mà chúng ta hay gọi là “công ty mở”
Để giải quyết mâu thuẫn nói trên giữa LDN 2005 và Nghị định hướng dẫn,
LDN 2014 đã định nghĩa vốn điều lệ như sau: “Vốn điều lệ CTCP là tổng giá trị mệnh
giá cổ phần đã bán các loại Vốn điều lệ của CTCP tại thời điểm đăng ký thành lập
DN là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty”, đồng thời có quy định chặt chẽ hơn, theo đó Các cổ đông sáng lập
phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán tại thời điểm đăng ký DN và phải thanh toán đủ số cổ phần đã mua trong thời hạn
90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN Nếu sau thời hạn quy định này có cổ đông chưa thanh toán hoặc chỉ thanh toán được một phần số cổ phần đã
Trang 31đăng ký mua thì công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị mệnh giá số
cổ phần đã được thanh toán đủ và thay đổi cổ đông sáng lập trong thời hạn 30 ngày, kể
từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua Mặt khác, cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn 90 ngày Thành viên HĐQT, người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới về các thiệt hại phát sinh
do không thực hiện hoặc không thực hiện đúng quy định về thanh toán tiền mua cổ phần và điều chỉnh vốn điều lệ theo quy định
2.1.2 Mệnh giá cổ phần
Hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa “mệnh giá của cổ phần (cổ phiếu)” là gì Tuy nhiên, hiểu một cách đơn giản thì mệnh giá cổ phần (cổ phiếu) được hiểu là giá trị của mỗi cổ phần trong CTCP
Về bản chất, mệnh giá chỉ là con số mà công ty muốn định ra thế nào cũng được [10; tr 135] Ở thời điểm khi công ty thành lập, mệnh giá cổ phần không có liên quan gì tới giá trị thực hay giá cổ phần của công ty đó trên thị trường (“giá thị trường” hay “thị giá”) Điều này được giải thích vì ở thời điểm công ty thành lập, giá trị thực hay giá thị trường của cổ phần của công ty vẫn chưa hề tồn tại
Hiện tại, các CTCP khi được thành lập thường xác định mệnh giá cổ phần là 10.000 VNĐ do Luật chứng khoán hiện hành quy định CTCP chào bán ra công chúng lần đầu thì mệnh giá cổ phần phải tương đương với mệnh giá cổ phiếu là 10.000 đ [38; Điều 10] Trong khi đó, LDN 2014 cũng như các luật DN trước đây đều không quy định cụ thể về việc xác định mệnh giá cổ phần Việc xác định mệnh giá cổ phần là
10.000 đ như hầu hết các DN hiện nay dẫn đến một số trường hợp bất cập như sau:
- Thứ nhất: Hiện tại,trên 2 sàn Hà Nội và TP.HCM có tổng cộng 243 DN có thị
giá dưới mệnh giá là 10.000 đ, giao động bình quân từ 3.000 đồng – 8.000 đồng/cổ phiếu, thậm chí có mã cổ phiếu chỉ giao dịch ở mức 1.900 đồng/cổ phiếu (Mã chứng khoán SRA của CTCP Sara Việt Nam) Có thể nói, đa số những công ty đang được giao dịch có thị giá nhỏ hơn 10.000 đồng xét ở một khía cạnh nào đó đang được thị trường định giá sát với giá trị thực sự của DN, ngoại trừ một số công ty hoạt động tốt nhưng bị thị trường định giá thấp do những lý do khách quan liên quan đến xu hướng
Trang 32của thị trường, xu hướng ngành nghề, ảnh hưởng của chế độ chính sách hoặc tâm lý nhà đầu tư
- Thứ hai: Giá của cổ phiếu đã được giảm xuống mức vài nghìn đồng, thậm chí
có thời điểm còn xuống tới vài trăm đồng /cổ phiếu Vậy thì cũng không loại trừ trường hợp xuống thấp hơn nữa, giả định ở mức 50 đồng/cổ phiếunhất là khi khủng hoảng kinh tế xảy ra Thế nhưng tiền đồng hiện nay không có mệnh giá loại 50 đồng Như vậy cách giao dịch cổ phiếu với giá 50 đồng và thậm chí là vài đồng cũng cần phải có qui định? Nếu không sẽ gây khó khăn cho các nhà đầu tư và đơn vị kinh doanh
chứng khoán trong vấn đề hạch toán và giao dịch
- Thứ ba:Nếu chúng ta cho rằng vào thời điểm này, giá các loại cổ phiếu đã
phản ánh đúng giá trị thực tế của DN, ví dụ giá 1.900 đồng /cổ phiếu là giá trị thực củaCông ty CP Sara Việt Nam thì việc trả cổ tức cho cổ đông căn cứ vào mệnh giá 10.000 đ/cp theo quy định hiện tại chứ không dựa vào thị giá có thể coi là một nhiệm
vụ bất khả thi cho DN này ?Ởmột số nước, cổ tức được công bố dưới dạng giá trị tuyệt đối, nghĩa là cổ tức sẽ được công bố là2.000 đ/ cổ phần, thay vì công bố cổ tức
20%(của mệnh giá cổ phần 10.000 đ)
2.1.3 Góp vốn điều lệ
Như chúng ta đã biết, CTCP là một thực thể kinh doanh được tạo lập nên trên
cơ sở sự góp vốn của các cổ đông Cũng chính bởi lẽ đó, góp vốn là nội dung quan trọng bậc nhất trong việc thành lập CTCP Nghĩa vụ căn bản của thành viên công ty được pháp luật quy định không gì khác là việc góp vốn Đối với công ty có nhiều thành viên như CTCP, khi đã cam kết góp vốn, thành viên đã tự ràng buộc mình trở thành con nợ của công ty Khi ấy, công ty với tư cách là một pháp nhân riêng biệt chính là chủ nợ của các cổ đông Pháp luật của các nước đều xác lập và quy định một cách cụ thể về các quyền và nghĩa vụ pháp lý của CTCP với tư cách là một pháp nhân độc lập, có năng lực và tư cách chủ thể riêng, tồn tại độc lập và tách biệt với các cổ đông trong công ty
LDN 2014 quy định: Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của
công ty Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập DN hoặc góp thêm vốn điều lệ của
DN đã được thành lập.Thời hạn để các cổ đông hoàn tất các thủ tục góp vốn thông qua việc mua cổ phần đã đăng ký là 90 ngày kể từ ngày Giấy chứng nhận đăng ký DNtrừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định một thời
Trang 33hạn khác ngắn hơn HĐQT chịu trách nhiệm giám sát, đôn đốc thanh toán đủ và đúng hạn các cổ phần các cổ đông đã đăng ký mua
Hiện nay, pháp luật Việt Nam không quy định chế tài đối với việc góp vốn
chậm Tuy nhiên, phản ánh vấn đề này Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 quy định: “Nếu
khế ước không có kỳ hạn hay một điều kiện gì , thì chính ngày hôm ấy, các thành viên phải nộp phần mình đã hứa góp, nếu không thì đương nhiên phải trả hoa lợi cùng lời lãi và đồng thời phải bồi tổn hại vì lẽ chậm trễ, dù là tiền bạc cũng vậy” (Điều thứ
1205) Ngoài ra, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936 quy định “Mỗi hội viên đối với hội là
người mắc nợ về phần mình đã góp, và phải góp ngay vào ngày hội thành lập; nếu không đương nhiên phải trả hoa lợi hay tiền lời của phần mình cho hội, chiếu theo số tiền lời luật định, nếu phần góp ấy là một số tiền và có khi lại phải bồi tổn hại nhiều vì
lẽ góp chậm nữa” (Điều thứ 1437)
Có thể nhận định rằng góp vốn là một điều khoản thiết yếu của hợp đồng thành lập công ty Pháp luật Singapore và Malaysia quy định khá chặt chẽ và cụ thể về vấn
đề này: “Trừ khi là một công ty có trách nhiệm vô hạn, hợp đồng thành lập công ty
nhất thiết phải chứa đựng một điều khoản về vốn mà trong đó có tuyên bố về khoản vốn được phép và phân chia vốn đó thành các cổ phần với số lượng ấn định trở thành giới hạn mà công ty có thể được phép quyên góp”
Ở khía cạnh kinh tế, góp vốn là việc tạo ra tài sản cho Công ty nhằm đảm bảo những chi phí trong hoạt động của Công ty và bảo đảm các quyền lợi của chủ nợ thì ở phương diện pháp lý, góp vốn là việc chuyển giao tài sản hay đưa tài sản vào sử dụng
để đổi lấy quyền lợi của Công ty Hành vi đổi lấy quyền lợi này khác với hành vi mua bán hay cho thuê ở chỗ: trong hành vi mua bán hay cho thuê, khi chuyển giao quyền
sở hữu tài sản hay quyền hưởng dụng tài sản thì người chuyển giao có quyền lợi là được nhận một khoản tiền từ giá bán (khi bán tài sản) hoặc giá cho thuê (khi cho thuê tài sản); còn trong hành vi góp vốn, khi chuyển giao quyền sở hữu hay quyền hưởng dụng tài sản cho công ty, thì người góp vốn không nhận được bất kì khoản tiền nào mà nhận được quyền lợi tại công ty tương ứng với phần vốn góp, ngoài ra tùy thuộc vào loại cổ phần được quy định trong điều lệ công ty mà cổ đông còn có quyền lợi và
Trang 342.1.4 Phương thức tạo lập vốn điều lệ
Có 2 phương thức để tạo lập vốn điều lệ trong giai đoạn thành lập mới CTCP,
đó là (1) phương thức mua toàn bộ cổ phần của cổ đông sáng lập và (2) phương thức chào bán [8; tr 120] Việc lựa chọn phương thức nào phụ thuộc vào điều kiện và lựa chọn của cổ đông sáng lập.Một điểm lưu ý là CTCP mới thành lập phải có ít nhất ba
cổ đông sáng lập nhưng đối với trường hợp CTCP được chuyển đổi từ DN 100% vốn Nhà nước hoặc từ công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc chia tách, hợp nhất, sáp nhập từ
định 43/2010/NĐ-CP]
Phương thức mua toàn bộ cổ phần của cổ đông sáng lập là phương thức các cổ đông sáng lập đăng ký mua toàn bộ số cổ phần được quyền chào bán của công ty Công ty theo đó sẽ được thành lập trong vòng kín Vốn điều lệ của CTCP tại thời điểm hình thành hay tại thời điểm đăng ký kinh doanh này tổng giá trị mệnh giá toàn bộ cổ phần do các cổ đông sáng lập đã đăng ký mua Trong khi đó, phương thức chào bán là phương thức các cổ đông sáng lập mua một phần số cổ phần được quyền chào bán và
số cổ phần còn lại được chào bán ra công chúng [15; tr.183] Trong trường hợp này, cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán theo quy định của LDN Nghị định 102/2010/NĐ-CP quy định thêm rằng việc đăng ký mua này của các cổ đông sáng lập phải được hoàn thành tại
thời điểm đăng ký DN “Thời điểm đăng ký DN” được hiểu là thời điểm các cổ đông
sáng lập nộp đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định của LDN tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền
2.1.5 Chủ thể góp vốn
Cả LDN 2005 và LDN 2014 đều phân chia nhà đầu tư thành hai nhóm khá rõ ràng Đó là: (1) nhóm được quyền thành lập và quản lý DN và (2) nhóm chỉ có quyền góp vốn vào DN Về nguyên tắc những chủ thể đầu tư thuộc nhóm (1) đương nhiên có quyền góp vốn còn đối với chủ đầu tư thuộc nhóm (2) họ không có quyền thành lập và quản lý DN nhưng họ được quyền góp vốn vào DN nhưng cũng không phải là họ có quyền góp vốn vào mọi DN
2.1.5.1.Nhóm chủ thể được quyền thành lập và quản lý CTCP
Trong CTCP, các chủ thể được phép thành lập CTCP gọi là cổ đông sáng lập Điều 13 khoản 1 LDN 2005 và Điều 18 khoản 1 LDN 2014 quy định: “Tổ chức, cá
Trang 35nhân có quyền thành lập và quản lý DN tại Việt Nam theo quy định của pháp luật”, hay tại Điều 5 khoản 1 Nghị định 43/2010/NĐ-CP: “Thành lập DN theo quy định của pháp luật là quyền của cá nhân và tổ chức được Nhà nước bảo hộ” Tuy nhiên, không
tham gia thành lập và quản lý CTCP theo LDN 2014 bao gồm:
sản Nhà nước để thành lập DN kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình
Việc pháp luật quy định các chủ thể này không được tham gia thành lập và quản lý DN là nhằm đảm bảo công khai, minh bạch trong huy động, sử dụng ngân sách Nhà nước Đồng thời cũng góp phần ngăn chặn các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi hành vi tiêu cực, gian lận, tham nhũng gây thiệt hại cho nguồn ngân sách Nhà nước
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;
Theo quy định tại Điều 20 Luật cán bộ công chức 2008, Điểm b khoản 1 Điều
37 Luật phòng chống tham nhũng 2005 thì không chỉ có cán bộ, công chức bị cấm thành lập và quản lý DN, thậm chí đến cả viên chức cũng bị cấm thành lập và quản lý
DN Theo đó, cán bộ, công chức, viên chức bị cấm “Thành lập, tham gia thành lập
hoặc tham gia quản lý, điều hành DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, CTCP, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”
Từ những quy định trên cho thấy pháp luật không cho phép cán bộ, công chức, viên chức được thành lập, quản lý DN vì các đối tượng này đều đang đảm nhiệm công việc công, đây là công việc ổn định thường xuyên và được trả lương từ ngân sách Nhà nước để đảm bảo đời sống, có nghĩa vụ phải tận tâm, hết lòng phục vụ xã hội và phục
vụ nhân dân nên không thể dành thời gian thực hiện hoạt động kinh doanh mang tính chất “công việc tư” nữa Ngoài ra, quy định trên còn để tránh sự lạm quyền, nhập nhằng giữa công việc chung với công việc tư, làm ảnh hưởng tới công việc được giao, đồng thời ngăn ngừa khả năng vì tư lợi mà lạm dụng quyền hạn của mình để làm phương hại đến lợi ích chung của xã hội và Nhà nước
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc
Trang 36nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại DN;
Đây là đối tượng có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh quốc phòng cho đất nước Những đối tượng này đã được Nhà nước đầu tư giáo dục đào tạo chuyên môn nghiệp vụ để thực hiện các nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của quốc gia và được hưởng lương từ nguồn ngân sách Nhà nước Do đó, để những đối tượng này có thể tập trung vào nhiệm vụ chuyên môn quan trọng đó mà không bị gián đoạn hay phân tán tư tưởng nên pháp luật đã cấm họ không được thành lập và quản lý DN
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong DNNhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại DN khác;
Đây là những người được Nhà nước giao nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý các DNNhà nước, những DN có vai trò quan trọng trong nên kinh tế của đất nước Pháp luật cấm họ không được thành lập, quản lý DN là nhằm tạo điều kiện cho họ tập trung vào công việc quản lý DN Nhà nước đạt được hiệu quả cao, đồng thời, tránh sự tham
ô, quan liêu của những cán bộ lãnh đạo trong việc sử dụng nguồn vốn Nhà nước, tránh việc dùng tiền công để phục vụ lợi ích tư trong quá trình thành lập, quản lý DN khác
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình
buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng
Tư cách chủ thể là khả năng mà chủ thể có thể tham gia vào quan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể độc lập có khả năng tự mình thực hiện các quyền và nghĩa
vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật đã tham gia Tư cách chủ thể của cá nhân chỉ đầy đủ, hoàn thiện và độc lập khi họ có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Những đối tượng chưa đủ năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự thì khả năng thực hiện các nghĩa vụ dân sự của họ sẽ bị hạn chế Tương tự đối với người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị cấm hành nghề kinh doanh thì họ cũng không có điều kiện để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ Vì vậy, nếu tham gia thành lập, quản lý DN nó sẽ dẫn tới nguy cơ hoạt động của DN sẽ không được đảm
Trang 37bảo và khi xảy ra tranh chấp hay nợ nần họ sẽ không đứng ra giải quyết được Người đang chấp hành hình phạt tù đã bị tước hoặc hạn chế quyền tự do, khó có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh
Đối với người bị tòa án tuyên cấm hành nghề kinh doanh, đây là hình phạt đối với những người kinh doanh không trưng thực, nếu để họ kinh doanh sẽ gây nguy hại cho xã hội Vì vậy, để đảm bảo nguyên tắc tôn trọng lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác được quy định tại Điều 10 Bộ luật dân
sự 2005, pháp luật quy định nhóm đối tượng này không được thành lập, quản lý DN
- Đối với nhóm (1): Cũng như phân tích ở trên thì pháp luật quy định như vậy nhằm mục đích đảm bảo công khai, minh bạch trong huy động, sử dụng ngân sách Nhà nước Đồng thời cũng góp phần ngăn chặn các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi hành vi tiêu cực, gian lận, tham nhũng gây thiệt hại cho nguồn ngân sách Nhà nước
- Đối với nhóm (2): Theo quy định của pháp luật hiện hành, chỉ có cán bộ, công chức, viên chức là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan mới không
có quyền góp vốn, mua cổ phần Còn các cán bộ, công chức, viên chức không giữ chức vụ không bị cấm góp vốn, mua cổ phần
Thực tế hiện nay không ít trường hợp lãnh đạo là cán bộ công chức tham gia góp vốn vào công ty hoạt động kinh doanh lĩnh vực mà mình quản lí Vì vậy, pháp luật quy định như vậy là nhằm hạn chế hiện tượng quan liêu, tham nhũng của những người lãnh đạo trong các cơ quan Nhà nước, tránh việc lợi dụng quyền hành để dùng việc công thực hiện mục đích tư, không đảm bảo yếu tố khách quan, công bằng trong việc kiểm tra, quản lí Hơn nữa, pháp luật quy định như vậy cũng là để tăng cường vai trò, trách nhiệm của những người quản lí, để họ tập trung vào chuyên môn, không bị xao nhãng việc điều hành, quản lí Nhà nước khi họ thực hiện hoạt động góp vốn kinh
Trang 382.1.6 Hình thức góp vốn
LDN 2005 quy định: “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ
sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty”[Khoản 4 Điều 4 LDN 2005]
Trong khi đó, LDN 2014 quy định:“Góp vốnlà việc góp tài sản để tạo thành
vốn điều lệ của công ty Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập DN hoặc góp thêm vốn điều lệ của DN đã được thành lập” [Khoản 3 Điều 4 LDN 2014]
Cũng theo quy định của LDN 2014 thì tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá đƣợc bằng Đồng Việt Nam Quyền sở hữu trí tuệ đƣợc sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn [Điều 35 LDN 2014]
Đánh giá một cách khái quát, quy định trên chỉ để cập đến việc góp vốn bằng tài sản thông qua việc kể ra các dạng tài sản góp vốn Để tránh sự liệt kê thiếu, các quy
tự “định nghĩa” thông qua việc thỏa thuận và ghi nhận trong điều lệ công ty
Lý giải về hình thức góp vốn, Bộ luật dân sự Quebec của Canada quy định nhƣ
sau: “Một hợp đồng hợp danh là một hợp đồng mà trên tinh thần hợp tác, các bên thỏa
thuận tiến hành hoạt động bao gồm việc khai thác DN, góp vốn vào đó bằng tài sản, tri thức hoặc các hoạt động và chia nhau bất kỳ khoản lợi nhuận nào từ kết quả đó”
(Điều 2186) Từ nhận định này, ta có thể hiểu hình thức góp vốn gồm các hình thức chủ yếu sau: hình thức góp vốn bằng tài sản, hình thức góp vốn bằng tri thức hoặc bằng hoạt động
- 2.1.6.1 Góp vốn bằng tài sản:
Góp vốn bằng tài sản là hình thức góp vốn quan trọng nhất vì nếu không có tài sản thì công ty không thể hoạt động đƣợc Bộ luật dân sự 2005 định nghĩa tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Nhƣng ở một số nền tài phán trên thế giới
Trang 39lại có quan niệm tài sản bao gồm bất động sản và động sản và trong đó động sản được chia thành động sản hữu hình, động sản vô hình và tương tự như vậy là bất động sản hữu hình và bất động sản vô hình Ví dụ Bộ luật dân sự Quebec của Canada quy định
“Tài sản, hoặc hữu hình hoặc vô hình được chia thành bất động sản và động sản”
(Điều 899) Tài sản là một khái niệm động Ngày nay có nhiều dạng thức mới của tài sản gây tranh cãi như khả năng vẽ tranh của họa sĩ, tinh trùng, thông tin di truyền, các sản phẩm của trí tuệ…Tiếp cận vấn đề này ở một góc nhìn khác, ta có thể thấy tài sản
là công cụ của đời sống xã hội, do đó khái niệm về tài sản không phải là khái niệm thuần túy mang tính học thuật mà là khái niệm có tính mục đích rất cao Vì vậy, có thể tóm lược lại rằng các vật chất liệu và các quyền mà có thể khai thác mang lại giá trị kinh tế hay có thể trị giá bằng tiền đều có thể coi là tài sản dùng để góp vốn
Về lý thuyết, mọi tài sản đều có thể đem góp vốn vào Công ty tuy nhiên còn tùy thuộc vào sự thống nhất cụ thể của các thành viên trong hợp đồng thành lập công ty Tài sản góp vốn có thể là bất cứ dạng thức nào từ vật chất liệu có thể sờ cầm được hay các quyền vô hình mà ta không thể nhìn thấy nhưng với điều kiện các tài sản này phải
là các tài sản có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự một cách hợp pháp Dựa trên việc chuyển giao, có thể chia hình thức góp vốn bằng tài sản thành một số loại để nghiên cứu như sau:
- Thứ nhất: Góp vốn bằng tiền: Đây có thể coi là hình thức góp vốn bằng tài sản phổ biến nhất bởi tính tiện dụng, thủ tục đơn giản Bản chất của việc góp vốn bằng tiền
là việc bỏ tiền ra mua quyền lợi tại Công ty nhưng việc mua quyền lợi này không phải
là từ mua của người khác mà là những người góp vốn tạo ra quyền lợi ấy Khi đã cam kết góp vốn bằng tiền mà không góp hoặc góp không đúng hạn thì người góp vốn bị coi là trái chủ của Công ty
- Thứ hai: Góp vốn bằng vật chất, hiện vật hoặc đồ vật: Đây có thể coi là việc góp vốn bằng quyền sở hữu vật chất hoặc đồ vật Những vật chất và đồ vật này có thể
là động sản hoặc bất động sản nhưng đều có đặc điểm chung là hữu hình Việc góp vốn này có thể xem như việc bán hoặc đổi đồ vật để lấy quyền lợi tại công ty Việc công ty trở thành chủ sở hữu của vật góp vốn buộc Công ty phải có khả năng hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ Chính bởi vậy, việc góp vốn bằng vật chất không thể được diễn ra với các công ty không có tư cách pháp nhân [7; tr181]
Trang 40- Thứ ba: Góp vốn bằng quyền Đây có thể coi là hình thức góp vốn phức tạp nhất trong số các hình thức góp vốn bằng tài sản bởi việc khó tính toán chính xác giá trị của quyền Mặt khác việc phân loại tài sản cũng là một thách thức Hiện nay, góp vốn bằng quyền có thể được phân loại thành góp vốn bằng quyển hưởng dụng, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ và góp vốn bằng sản nghiệp thương mại
- 2.1.6.2 Góp vốn bằng trí thức hay chất xám
Xã hội ngày càng phát triển, tầm quan trọng của trí thức ngày càng được đề cao Cũng chính bởi lẽ đó, việc góp vốn bằng trí thức trở thành một vấn đề quan trọng của nền kinh tế công nghiệp và kinh tế trí thức Ngày nay, vấn đề sở hữu trí tuệ rất được quan tâm khi Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại song phương và đa phương với các nước trên thế giới Sở hữu trí tuệ làm một thành tố quan trọng của trí thức.Từ
đó ta thấy rằng, khái niệm tài sản và tri thức có những nét giống nhau, giao thoa lẫn nhau nhưng có những điểm khác nhau, không trùng khít nhau Nếu xét trên yếu tố hành vi có thể quan sát được thì tri thức được hiểu là khả năng của một người hoặc tổ chức tự mình thực hiện hoặc hướng dẫn người khác thực hiện các quy trình công việc nhằm tạo ra kết quả (sự chuyển hóa) có thể dự báo được của sự vật hiện tượng
Việc góp vốn bằng tri thức là một khả năng rất trừu tượng nên việc này gặp một
số khó khăn khi triển khai thực hiện như: tính giá trị phần vốn góp để làm căn cứ tính quyền lợi tương ứng tại công ty; chứng minh mức độ trung thực, mẫn cán của người góp vốn Do pháp luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề này nên các khó khăn kể trên được giải quyết hoàn toàn bằng thỏa thuận của các thành viên góp vốn Điều đáng chú
ý là, tri thức được đem ra góp vốn không phải được thực hiện duy nhất một lần mà được sử dụng thường xuyên, liên tục và càng sử dụng thì càng được củng cố và phát triển do đó việc góp vốn bằng tri thức cần sự trung thực của người góp vốn Từ phân tích trên nhận thấy, người góp vốn bằng tri thức phải đảm bảo rằng việc mang tri thức của mình ra phục vụ công ty được thực hiện một cách trung thực, nhiệt tình, cần vẫn cho lợi ích của công ty mà họ lập ra
- 2.1.6.3 Góp vốn bằng hoạt động hay công việc
Như chúng ta đã biết nghĩa vụ của các thành viên trong công ty được phát sinh
từ thỏa thuận thành lập công ty Trong khi đó, đối tượng của nghĩa vụ là chuyển giao quyền sở hữu, làm hoặc không làm một công việc nào đó Cũng chính bởi vậy nên việc cam kết thực hiện một hay nhiều công việc nếu xét trên quan điểm của luật nghĩa