1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014

94 930 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ tài sản giữa vợ, chồng là quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân, tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, không có tính đền bù ngang giá và không xác định được công sức đóng góp cụ thể c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS BÙI MINH HỒNG

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả được nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy, tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Thị Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục Lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 8

1.1 Khái niệm chế độ tài sản vợ chồng và xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn 8

1.1.1 Khái niệm chế độ tài sản vợ chồng 8

1.1.2 Khái niệm xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn 10

1.2 Ý nghĩa của việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn 13

1.3 Sơ lược pháp luật Việt Nam về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn qua các thời kỳ 14

1.3.1 Pháp luật phong kiến về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn 14

1.3.2 Pháp luật thời kỳ Pháp thuộc về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn.15 1.3.3 Pháp luật ở miền Nam trước ngày thống nhất đất nước về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn (1954 - 1975) 18

1.3.4 Pháp luật của Nhà nước ta từ Cách mạng tháng tám đến năm 2000 về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn 19

1.4 Pháp luật một số quốc gia về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn 25

1.4.1 Luật của Thái Lan 25

1.4.2 Luật của Nhật Bản 26

1.4.3 Luật của Đức 27

Trang 5

Chương 2: XÁC ĐỊNH TÀI SẢN VỢ CHỒNG KHI LY HÔN THEO PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH VÀ THỰC

TIỄN ÁP DỤNG 30

2.1 Xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận 29

2.1.1 Xác định tài sản vợ chồng dựa vào văn bản thoả thuận về tài sản của vợ chồng 29

2.1.2 Xác định tài sản của vợ chồng khi thoả thuận về chế độ tài sản không đầy đủ, rõ ràng 32

2.2 Xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng áp dụng chế độ tài sản theo luật định 34

2.2.1 Xác định tài sản chung của vợ chồng 35

2.2.2 Xác định tài sản riêng của vợ, chồng 49

2.3 Thực tiễn xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn 55

2.3.1 Căn cứ xác định tài sản chung vợ chồng 55

2.3.2 Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng 62

2.3.3 Thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản khác 66

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 68

3.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn 68

3.1.1 Quy định về căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 68

3.1.2 Quy định về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 73

3.1.3 Quy định về nhập tài sản riêng của vợ chồng vào tài sản chung 73

Trang 6

3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xác

định tài sản vợ chồng khi ly hôn 74

3.2.1 Tăng cường công tác giải thích và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật 75

3.2.2 Phát huy vai trò của công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật trong nhân dân 75

3.2.3 Giải pháp nâng cao chất lượng công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng 77

3.2.4 Nâng cao chất lượng của công tác hòa giải 78

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật dân sự

DLTK : Dân luật Trung Kỳ

BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung

năm 2011 GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ xưa đến nay, gia đình luôn là tế bào của xã hội, là nơi những người

có quan hệ huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng cùng chung sống Gia đình hòa thuận và hạnh phúc sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững và phồn thịnh chung của xã hội Nhận thức được vị thế quan trọng của gia đình, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng đến việc xây dựng và gìn giữ gia đình

êm ấm, hòa thuận, thể hiện ở sự quan tâm đó là Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình góp phần giúp cho sự tồn tại và phát triển của gia đình đi vào chuẩn mực, khuôn khổ, nhằm tạo ra sự bền vững trong quan hệ gia đình

Khi nam nữ kết hôn, cùng nhau xây dựng một gia đình thì sự bền vững của quan hệ hôn nhân là mong muốn của vợ chồng Đây cũng là mục đích của việc xây dựng gia đình mà pháp luật đặt ra Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, quan hệ hôn nhân do chịu sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, đã không giữ được ý nghĩa và giá trị như mong muốn ban đầu, cuộc sống chung của vợ, chồng đã không còn hạnh phúc, nên pháp luật dự liệu khả năng cho họ quyền được giải phóng khỏi mối quan hệ hôn nhân bằng việc ly hôn

Khi ly hôn, giữa vợ chồng thường xảy ra các tranh chấp, đặc biệt là về tài sản Quan hệ tài sản giữa vợ, chồng là quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân, tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, không có tính đền bù ngang giá và không xác định được công sức đóng góp cụ thể của các bên nên khi xảy ra tranh chấp thì việc xác định tài sản vợ, chồng là tương đối khó khăn, phức tạp, gây nhiều tranh cãi Những năm gần đây, với sự phát triển của nền kinh tế thị

Trang 9

trường nên đời sống xã hội cũng như kinh tế của người dân ngày càng được đảm bảo và nâng cao Song mặt trái của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến nhiều người sống buông thả, coi trọng vật chất, tình cảm giữa mọi người với nhau không còn mặn mà, được coi trọng như trước Giá trị tài sản lớn và sự coi trọng vật chất làm những tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong việc giải quyết ly hôn có tính quyết liệt, căng thẳng hơn

Đất nước ta bước sang giai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xã hội Việt Nam đang chịu những tác động tích cực và tiêu cực, không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả về mặt văn hóa, xã hội Gia đình với tư cách là tế bào của xã hội cũng không tránh khỏi sự tác động đa chiều đó Một số quan niệm mới về hôn nhân, gia đình ở nước ngoài đã du nhập vào Việt Nam và gây ra nhiều hệ lụy khác nhau Trong bối cảnh như vậy, Luật HN&GĐ năm 2000 đã bộc lộ một

số hạn chế, bất cập làm ảnh hưởng đến sự ổn định của các quan hệ HN&GĐ Nhằm tạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định, thống nhất cho việc xây dựng và hoàn thiện chế độ HN&GĐ Việt Nam; góp phần xây dựng gia đình Việt Nam

ấm no, tiến bộ và hạnh phúc Kế thừa và phát triển của Luật HN&GĐ năm

1959, Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014 đã quy định các vấn đề HN&GĐ, trong đó có vấn đề tài sản của vợ chồng một cách đầy đủ và hợp lý hơn, tạo thuận lợi cho việc thực hiện và áp dụng giải quyết tranh chấp

Với những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Xác định tài sản

vợ chồng khi ly hôn theo luật HN&GĐ 2014” làm Luận văn thạc sĩ luật học

của mình

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ vai trò quan trọng của gia đình trong xã hội nên việc nghiên cứu về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn luôn được quan tâm và

chú ý, được nhiều nhà nghiên cứu và các học giả đề cập

Trong thời gian qua, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng Có thể phân loại các công trình nghiên cứu này thành ba nhóm lớn như sau:

Nhóm các luận văn, luận án: Các công trình nghiên cứu tiêu biểu

trong nhóm này có: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Văn Cừ, Luận án Tiến sĩ, 2005); Xác định chế độ tài sản của vợ chồng - một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Nguyễn Hồng Hải, Luận văn Thạc sĩ, 2002); Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 - Thành tựu, vướng mắc và hướng hoàn thiện (Trần Thị Thùy Liên, Luận văn Thạc sĩ, 2012); Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam - Thực tiễn

áp dụng và hướng hoàn thiện (Nguyễn Thị Hạnh, Luận văn Thạc sĩ, 2012); Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn (Đinh

Thị Minh Mẫn, Luận văn Thạc sĩ, 2014)…

Các công trình này có công trình có phạm vi nghiên cứu rộng, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau, có công trình chỉ giải quyết một khía cạnh nhỏ trong vấn đề tài sản vợ chồng, có công trình nghiên cứu riêng và chuyên sâu

về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn Song, các công trình nghiên cứu trên cho dù có những nội dung ưu việt, tiên tiến nhưng cũng còn nhiều vấn đề không bắt kịp nhịp sống xã hội vốn luôn chuyển biến ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống vợ chồng, đặc biệt là vấn đề tài sản

Nhóm giáo trình, sách chuyên khảo: Trong nhóm này phải kể đến

một số công trình tiêu biểu như: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2008), Giáo trình

Trang 11

Kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự (Học viện Tư pháp, Nxb Công an nhân dân, 2007); Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Ngọc Điện, Nxb Trẻ, 2004); Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Văn Cừ, Nxb Tư Pháp,2008); Một số vấn

đề lý luận và thực tiễn về Luật HN&GĐ năm 2000 (Tác giả Nguyễn Văn Cừ -

Ngô Thị Hường, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2002);…

Trong các cuốn sách trên, xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn đã được phân tích một cách chung chung, có tính chất tổng quát, có cuốn đi vào phân tích chuyên sâu và cụ thể nhưng chưa nêu hết được những bất cập, hạn chế trước những biến đổi của đời sống xã hội có ảnh hưởng tới chế độ tài sản của

vợ chồng

Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí: Có thể kể đến một số bài

như Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành (Nguyễn Hồng Hải, 2003, Tạp chí Luật học, số 5); Chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng liên hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam (Bùi Minh Hồng, 2009, Tạp chí Luật học, số 11);…

Các tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh hoặc một trường hợp cụ thể liên quan đến xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn mà không thể phân tích toàn diện các khía cạnh của chế định này

Một điểm chung của cả ba nhóm công trình nghiên cứu kể trên, đó là phần lớn các tác giả thường thiên về việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật quy định về chế độ tài sản của vợ chồng Một số công trình nghiên cứu, cũng đã có dẫn chiếu, liên hệ thực tiễn áp dụng một số quy định pháp luật, tuy nhiên, sự liên hệ, phân tích đó chỉ có tính chất minh hoạ cho một số trường hợp

cụ thể mà chưa có sự soi chiếu một cách tổng thể, toàn diện tất cả các khía cạnh của việc áp dụng quy định về chế độ tài sản của vợ chồng vào thực tiễn

Trang 12

Trong các nhóm trên, có công trình đã nghiên cứu về xác định tài sản

vợ chồng khi ly hôn, nhưng đứng trước sự phát triển kinh tế - xã hội với nhiều chuyển biến, chịu sự ảnh hưởng của tập quán của đất nước tất yếu có sự tác động lớn trong tâm lý của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cặp vợ chồng Đồng thời, với xu hướng các vụ án ly hôn và xác định, phân chia tài sản của

vợ chồng khi ly hôn hiện nay ngày càng tăng và việc Luật HN&GĐ năm 2014 mới được ban hành và bước đầu đi vào áp dụng trong thực tiễn thì việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn là điều quan trọng Qua nghiên cứu, sẽ thấy được những tiến bộ của Luật HN&GĐ năm 2014 và những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật để xác định tài sản vợ chồng, đề ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và những phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả của việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của Luận văn là trên cơ sở nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 Đồng thời phân tích những quy định cụ thể nhằm nhận thức rõ nội dung, hiệu quả áp dụng, cũng như những điểm hạn chế, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014

Trang 13

- Tìm hiểu một cách có hệ thống về lịch sử phát triển của việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật ở Việt Nam qua các thời kỳ

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về tài sản vợ chồng

và cách xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật Qua đó, đánh giá về những thành tựu cũng như những vướng mắc, bất cập của việc áp dụng các nguyên tắc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật

- Từ những phân tích nội dung và nghiên cứu thực tiễn áp dụng xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật, luận văn đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật

4 Đối tượng nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, Luận văn sẽ phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về cơ sở lý luận và thực tiễn việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014

5 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, luận văn tập trung vào một

số vấn đề sau:

- Quy định của pháp luật hiện hành về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014, BLDS năm 2005 và một số văn bản pháp luật khác có liên quan

- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn Trong đó, tập trung vào một số vấn đề khó khăn, vướng mắc, điển hình; các trường hợp áp dụng sai luật…; tìm hiểu và nghiên cứu những ví dụ cụ thể, những bản án thực tế từ đó bình luận và phân tích

Trang 14

những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn trong thực tế

Luận văn không đề cập đến góc độ thủ tục tố tụng khi giải quyết vấn đề xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn Luận văn cũng không xem xét, nghiên cứu vấn đề xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn dưới góc độ tư pháp quốc tế

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các quan điểm của đảng, pháp luật của Nhà nước điều chỉnh quan hệ HN&GĐ

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp phân tích, so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn Trong quá trình khảo sát thực tiễn, luận văn đã áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu một số người có liên quan để thu thập những tài liệu lưu trữ chính thống còn khuyết thiếu, đồng thời nhằm có thêm tư liệu sinh động từ thực tiễn của người trực tiếp áp dụng pháp luật

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung của Luận văn gồm hai chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về xác định tài sản của vợ chồng khi

ly hôn

Chương 2: Xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật hiện hành, thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN

VỢ CHỒNG KHI LY HÔN

1.1 Khái niệm chế độ tài sản vợ chồng và xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn

1.1.1 Khái niệm chế độ tài sản vợ chồng

Gia đình là tế bào của xã hội, thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội Gia đình có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Để xây dựng gia đình tốt thì nền tảng hôn nhân phải bền vững, ngoài việc được hình thành trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ thì việc tạo lập tài sản là một trong những điều kiện tất yếu để nuôi sống gia đình, là điều kiện vật chất, cơ sở kinh tế cho hôn nhân tồn tại bền vững Vì vậy, các nhà làm luật đã quan tâm xây dựng các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế định quan trọng,

cơ bản nhất của pháp luật hôn nhân và gia đình

Vợ, chồng với tư cách là công dân, có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình Tài sản theo nghĩa từ điển

Luật học là “của cải, vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng”, còn theo Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ

có giá và các quyền tài sản” [40, Điều 163] Trước khi kết hôn, tài sản của

mỗi bên nam, nữ thuộc phạm trù tài sản riêng của cá nhân Chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình Chỉ sau khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân, vấn đề tài sản giữa

vợ chồng mới phát sinh, tài sản chung được hình thành, các lợi ích và các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với khối tài sản này cũng được hình thành Do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân - tính cộng đồng, hai vợ

Trang 16

chồng cùng đóng góp công sức trong việc tạo dựng tài sản, xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng ràng buộc lẫn nhau về quyền và nghĩa vụ, trong đó có những quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng Tất cả các tài sản của vợ, chồng, dù là của riêng mỗi người hay của chung hai người, đều phải được khai thác, sử dụng trước hết nhằm bảo đảm

sự duy trì và phát triển của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con,… Nhân danh lợi ích của gia đình, vợ hoặc chồng có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch trên tài sản chung và trong một số trường hợp, nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch ấy có thể ràng buộc cả vợ và chồng một cách liên đới, nghĩa là khiến cho chồng hoặc vợ, dù không trực tiếp đứng ra giao dịch, phải có trách nhiệm cùng với vợ hoặc chồng thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản chung, thậm chí bằng tài sản riêng của mình Do vậy, tài sản không chỉ gắn liền với những lợi ích thiết thực của hai bên mà còn liên quan đến người thứ ba, đặc biệt là khi vợ chồng tham gia vào hoạt động kinh doanh thương mại Đây là một trong những lý do mà các nhà lập pháp phải dự liệu về chế độ tài sản của vợ chồng Nhờ có chế độ tài sản của vợ chồng được quy định, tạo điều kiện cho vợ, chồng và người thứ ba tự do tham gia các giao dịch liên quan đến tài sản của

vợ chồng trong khuôn khổ luật định, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình

Trong pháp luật của Nhà nước ta,cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong một văn bản cụ thể của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật như là một tất yếu khách quan, nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản vợ chồng, góp phần ổn định các quan hệ xã hội

Tôi đồng ý với luận điểm khái quát chế độ tài sản của vợ chồng như

Trang 17

sau: “Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng” [10]

Đối với tài sản chung, vợ chồng cùng tham gia vào việc tạo lập, duy trì

và phát triển khối tài sản mà họ có quyền sở hữu chung Trong khi đối với tài sản riêng, vợ, chồng có sự độc lập trong việc xác lập và thực hiện quyền sở hữu Việc quy định chế độ tài sản vợ chồng ở các quốc gia là khác nhau tuỳ thuộc vào chế độ kinh tế, xã hội cũng như tập quán, thuần phong, mỹ tục Pháp luật hôn HN&GĐ nói chung quy định hai cách thức tương ứng với hai chế độ tài sản vợ chồng: chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật (chế độ hôn sản pháp định) và chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận (chế độ hôn sản ước định)

1.1.2 Khái niệm xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn

Quan hệ hôn nhân với đặc điểm tồn tại lâu dài, bền vững cho đến suốt cuộc đời con người vì nó được xác lập trên cơ sở tình yêu thương, gắn bó giữa

vợ Một ngày cũng nên nghĩa vợ chồng là một quan hệ đẹp đã ăn sâu vào tiềm thức của người Phương Đông Mục đích của kết hôn là nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc, cùng nhau chung sống suốt đời nhưng cuộc sống gia đình không phải lúc nào cũng “êm đềm” Khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất trong gia đình tăng lên, các mối quan hệ của vợ chồng đối với xã hội ngày càng nhiều, đa dạng và tác động qua lại giữa chúng đã dẫn đến việc nảy sinh những mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng, hôn nhân đi vào con đường rạn nứt, đổ vỡ và họ tìm đến con đường giải thoát bằng những cuộc ly hôn

Trang 18

Ly hôn không chỉ làm sứt mẻ đi cuộc sống, tình cảm tâm lý của của các thành viên trong gia đình, sự ly tán gia đình, vợ chồng, con cái mà còn có sự tranh giành, hơn thua nhau trong vấn đề phân chia tài sản

Khi yêu cầu ly hôn, do có sự mâu thuẫn về quan hệ tình cảm nên vợ chồng khó tìm được tiếng nói chung trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản Vì vậy, họ thường có nhu cầu xác định rạch ròi về tài sản

Theo Từ điển tiếng Việt thì xác định được hiểu là việc đưa ra kết quả

cụ thể, rõ ràng và chính xác sau khi nghiên cứu, tìm tòi và tính toán cái chưa

rõ thuộc về bên nào

Việc xác định tài sản có thể diễn ra cùng việc vợ, chồng xin ly hôn hoặc có thể diễn ra sau khi vợ chồng đã ly hôn do thời điểm ly hôn vợ, chồng không yêu cầu giải quyết về tài sản mà để họ tự thỏa thuận nhưng sau đó họ không tự thỏa thuận được

Vấn đề xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn gồm các nội dung sau:

- Xác định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ, chồng

Ví dụ: Tài sản do vợ chồng tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân như nhà, đất nhưng trong giấy tờ mua bán hoặc GCNQSDĐ chỉ đứng tên vợ hoặc chồng; Tài sản là của bố mẹ vợ hoặc chồng cho vợ chồng nhưng khi ly hôn thì bố mẹ lại thay đổi là chỉ cho con trai hoặc con gái hoặc cha mẹ đòi lại; Tài sản riêng vợ chồng có trước khi kết hôn nhưng lại đưa vào sử dụng chung trong thời kỳ hôn nhân…

- Phân chia tài sản chung của vợ chồng

Bình thường, tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất, phần quyền sở hữu của vợ, chồng không được xác định trước Khi đem chia, khối tài sản chung được phân, tách thành từng phần tính theo hiện vật hoặc

giá trị để vợ, chồng có quyền sở hữu riêng Như vậy, chia tài sản chung của

Trang 19

vợ chồng là phân chia tài sản chung của vợ chồng thành từng phần thuộc sở hữu riêng của vợ và của chồng

Khi chia tài sản chung của vợ chồng cần căn cứ vào các nguyên tắc chia tài sản chung như tình trạng tài sản, công sức đóng góp, hoàn cảnh của các bên…

- Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng ràng buộc lẫn nhau bởi nhiều bổn phận, trong đó có những bổn phận có ảnh hưởng nhất định đối với quyền hạn của vợ, chồng trong việc xác lập các giao dịch liên quan đến tài sản, thậm chí

có những bổn phận có tác dụng đặt cơ sở cho việc xác định tính chất chung hay riêng của một tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra Tất cả các tài sản của vợ, chồng, dù là của riêng mỗi người hay của chung hai người, đều phải được khai thác, sử dụng trước hết nhằm bảo đảm sự duy trì và phát triển của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con,… sau đó mới phục vụ cho cá nhân chủ sở hữu Nhân danh lợi ích của gia đình, vợ hoặc chồng có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch trên tài sản chung và trong một số trường hợp, nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch ấy có thể ràng buộc cả vợ và chồng một cách liên đới, nghĩa là khiến cho chồng hoặc vợ, dù không trực tiếp đứng ra giao dịch, phải có trách nhiệm cùng với vợ hoặc chồng thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản chung, thậm chí bằng tài sản riêng của mình Do vậy, tài sản không chỉ gắn liền với những lợi ích thiết thực của hai bên mà còn liên quan đến người thứ

ba, đặc biệt là khi vợ chồng tham gia vào hoạt động kinh doanh thương mại

Ví dụ: Các khoản nợ mà vợ, chồng vay của người khác trong thời kỳ hôn nhân vì nhu cầu của sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học hành, chữa bệnh và những nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho

Trang 20

cuộc sống bình thường của mỗi người trong gia đình; khoản nợ mỗi bên vợ, chồng vay riêng, sử dụng vào mục đích riêng… Tùy theo từng trường hợp cụ thể để mà áp dụng chế độ tài sản vợ chồng xác định theo nghĩa vụ chung của

vợ chồng hay nghĩa vụ riêng của vợ, chồng phải thanh toán khoản nợ đó

Từ những phân tích trên ta có thể đưa ra khái niệm về xác định tài sản

vợ chồng khi ly hôn như sau: “Xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn là việc vợ chồng tự thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án về phân định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng Từ đó, dựa trên cơ sở các nguyên tắc chia tài sản chung khi ly hôn để phân chia khối tài sản chung của vợ chồng nhằm đảm bảo sự công bằng, hợp tình, hợp lý Đồng thời, xác định việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự về tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi

ly hôn”

1.2 Ý nghĩa của việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn

Bản chất của quan hệ hôn nhân là quan hệ tài sản gắn liền với chủ thể nhất định, không thể tách rời và không có tính đền bù ngang giá Vì vậy, khi hôn nhân không còn tồn tại thì việc giải quyết vấn đề tài sản là cần thiết Việc

vợ chồng tự thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản khi ly hôn sẽ phù hợp với nguyện vọng của các bên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án sau này Đặc biệt, với các trường hợp thuận tình ly hôn, vợ chồng thỏa thuận được với nhau về việc phân chia tài sản chung là một điều kiện để Tòa án công nhận thuận tình ly hôn

Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được với nhau, có yêu cầu Tòa

án giải quyết, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ, chồng và những người khác có quyền, lợi ích liên quan đến tài sản vợ chồng trước khi quyết định ly hôn, Tòa án cần phải xác định: Đâu là tài sản riêng của vợ, chồng; những tài sản nào thuộc khối tài sản chung của vợ chồng; phân chia tài sản

Trang 21

chung của vợ chồng; giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

Thông qua việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn thì quan hệ tài sản được chấm dứt phù hợp với quyền và lợi ích của vợ, chồng và những người

có liên quan Thông qua sự xem xét, đánh giá, quyết định của một cơ quan nhà nước có đủ thẩm quyền để xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng và giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn sẽ giúp tháo gỡ hoặc hạn chế những mâu thuẫn, bất đồng giữa vợ - chồng, giữa

vợ, chồng với các thành viên khác trong gia đình, giúp họ có đủ niềm tin, động lực, điều kiện để duy trì, ổn định cuộc sống sau khi ly hôn, giúp con cái

họ có điều kiện phát triển bình thường, được hưởng các quyền lợi vật chất và

sự yêu thương, chăm sóc của bố mẹ Như vậy, việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn là công việc có ý nghĩa quan trọng vừa đảm bảo pháp luật được thi hành, tăng cường pháp chế trong lĩnh vực hôn nhân gia đình vừa hạn chế được những mâu thuẫn, bất đồng giữa những con người đã từng có mối quan

hệ thiêng liêng về huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng

1.3 Sơ lược pháp luật Việt Nam về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn qua các thời kỳ

1.3.1 Pháp luật phong kiến về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn

Xã hội phong kiến Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của nho giáo, trong đó có các quan niệm về HN&GĐ Các quy định về HN&GĐ chiếm một

vị trí quan trọng trong các văn bản luật Tuy nhiên, ở thời kỳ này quan hệ gia đình mang nặng tính chất gia trưởng, quyền uy, phục tùng trong đó người vợ phụ thuộc tuyệt đối vào người chồng

Trang 22

Tiêu biểu ở giai đoạn này là hai bộ luật: Quốc triều hình luật (còn gọi là

Bộ luật Hồng Đức - thời Lê) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Bộ luật Gia Long - thời Nguyễn)

Theo các nhà nghiên cứu, chế độ tài sản của vợ chồng không được quy định như một chế định riêng rẽ và cụ thể Trong Quốc triều hình luật

có một số quy định về xác định tài sản của vợ chồng thể hiện sự bình đẳng giữa vợ và chồng

Quốc triều hình luật quy định việc xác định phân chia tài sản sau ly hôn như sau: Thông thường, nếu ly hôn không do lỗi của người vợ thì phần tài sản riêng (gồm cả điền sản và tư trang), người vợ có quyền mang về nhà mình Trong trường hợp có lỗi thường thì tự ý người vợ không đem theo tài sản hoặc trong một vài trường hợp luật định người vợ buộc phải để lại tài sản đó

cho chồng, “người vợ mà đi gian đâm, tài sản phải trả về cho chồng”

Sau ly hôn, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng chấm dứt, hai bên có quyền kết hôn với người khác Khi ly hôn người vợ có quyền sở hữu đối với tài sản riêng của mình (của hồi môn) và được chia một số tài sản chung do hai

vợ chồng gây dựng nên (Điều 373, 374)

Như vậy, dù ra đời trong xã hội phong kiến, bị tác động, ảnh hưởng và chi phối bởi những hạn chế của lễ nghi phong kiến vẫn còn mang nặng tư tưởng lễ giáo, gia trưởng, đề cao coi trọng vị trí, vai trò của người chồng trong gia đình, người đàn ông trong xã hội Tuy nhiên, Bộ luật Quốc triều hình luật có những quy định bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn

1.3.2 Pháp luật thời kỳ Pháp thuộc về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn

Theo pháp luật ở giai đoạn này, vợ hoặc chồng có thể có của riêng

Trang 23

các tài sản riêng đó (bao gồm cả động sản và bất động sản) hợp nhất thành khối tài sản chung Tuy nhiên, đó chỉ là sự hợp nhất tạm thời trong thời kỳ hôn nhân Chỉ có những tài sản do hai vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mới là tài sản chung chính thức Khi hôn nhân chấm dứt thì các tài sản riêng của vợ chồng đã được hợp nhất tạm thời vào khối tài sản chung lại được tách

ra để chia theo nguyên tắc của ai thì người đó lấy lại, còn các tài sản chung thì được chia đôi cho vợ và chồng

Theo quy định tài Điều 106, 107 Bộ DLBK và Điều 104, 105 Bộ DLTK thì tài sản chung của vợ và chồng gồm có:

- Các tài sản do vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân;

- Tài sản do vợ chồng làm việc mà kiếm ra;

- Lợi tức của toàn bộ tài sản trong gia đình, không phân biệt lợi tức từ tài sản riêng hay lợi tức từ tài sản chung

Như vậy, toàn bộ tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân (cả động sản và bất động sản) đều là tài sản chung của vợ chồng Để phân biệt được động sản hoặc bất động sản nào là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng, thì căn cứ vào việc đăng ký hoặc có chứng thư xác nhận nguồn gốc của tài sản đó Đối với các động sản không được đăng ký và cũng không có chứng thư xác nhận nguồn gốc thì được suy đoán là tài sản chung của vợ chồng; nếu bên vợ hoặc chồng cho rằng đó là tài sản riêng của mình thì phải chứng minh

Trong trường hợp vợ chồng ly hôn, theo Bộ DLBK và Bộ DLTK thì khối cộng đồng tài sản sẽ được phân chia Tuy nhiên, với quan niệm khối cộng đồng tài sản được gây dựng để cho các con, pháp luật phân biệt hai trường hợp: Vợ, chồng ly hôn mà có con chung hoặc không có con chung với nhau Tùy theo từng trường hợp mà áp dụng nguyên tắc phân chia khác nhau

Trang 24

Khi ly hôn, nếu hai vợ chồng có lập hôn khế thì chia theo các điều khoản trong hôn khế mà hai vợ chồng đã thỏa thuận, nếu không có hôn khế thì áp dụng Điều 112 Bộ DLBK và Điều 110 Bộ DLTK xác định như sau: Trường hợp giữa hai vợ chồng không có con chung, người vợ được lấy lại kỷ

phần tài sản của mình “bằng hiện vật hiện còn” Nếu tài sản riêng của người

vợ đã bị bán đi để chi dùng cho gia đình hay cho riêng người chồng thì người

vợ không có quyền đòi lại Vả lại, nếu tài sản riêng của vợ hay chồng được tu sửa, quản lý bằng tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản chung đó phải được tính vào khối tài sản cộng đồng để chia Sau khi đã trả lại cho vợ, chồng

kỷ phần của vợ, chồng, phần tài sản chung của vợ chồng được chia đôi cho vợ chồng mỗi người một nửa

Trường hợp hai vợ chồng có con chung thì tài sản được giải quyết như sau: Người vợ không được thu hồi toàn bộ của riêng của mình, tức là những của cải đã đem về nhà chồng khi cưới và tài sản đã được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; những tài sản ấy sẽ thuộc tài sản chung của vợ chồng do người chồng quản lý, vì của cải của vợ chồng là để dành cho các con Bộ DLBK và

Bộ DLTK đã ấn định rằng nếu vợ, chồng ly hôn mà có con với nhau thì sẽ không thanh toán tài sản chung Điều 112 Bộ DLBK dự liệu rằng nếu có con thì sau khi ly hôn người vợ được hưởng một phần của chung, phần ấy nhiều hay ít sẽ do Tòa án quyết định tùy theo công sức của người vợ Còn Điều 110

Bộ DLTK thì dự liệu kỷ phần người vợ sẽ là 1/3 số của chung, với ngụ ý rằng 1/3 chia cho chồng và 1/3 chia cho các con Trường hợp vợ chồng ly hôn do lỗi của người vợ (phạm gian) thì phần trả cho người vợ sẽ bị giảm đi một nửa (1/2) (Điều 112 Bộ DLBK) và một phần tư (1/4) (Điều 112 Bộ DLTK)

Trang 25

1.3.3 Pháp luật ở miền Nam trước ngày thống nhất đất nước về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn (1954 - 1975)

Khác với DLBK và DLTK đều quy định việc xác định tài sản khi vợ chồng ly hôn và ấn định việc cộng đồng tài sản vẫn tiếp tục sau khi người vợ, chồng chết trước [2, Điều 112,113]; [57, Điều 110,111], Luật Gia đình đã không đề cập đến vấn đề này Theo Luật Gia đình thì vấn đề xác định tài sản

vợ chồng chỉ được đặt ra khi một bên vợ hoặc chồng chết trước Cũng bởi lẽ, vấn đề ly hôn của vợ chồng không được Luật Gia đình chấp nhận, vì thế Luật Gia đình không dự liệu việc chia tài sản của vợ chồng trong trường hợp ly hôn Duy nhất một ngoại lệ đã cho phép tổng thống có quyền cho đôi vợ chồng được

ly hôn, sau khi đã hỏi ý kiến Chánh án tòa phá án và Chánh nhất tòa thượng thẩm, nơi cư trú của vợ chồng và sau khi nghe tộc trưởng hai bên cùng ý kiến, nguyện vọng của hai vợ chồng (Điều 55) Nếu tổng thống cho phép vợ chồng được ly hôn, khi đó vấn đề phân chia tài sản của vợ chồng mới được giải quyết Toàn bộ tài sản của vợ chồng có được từ trước khi kết hôn hoặc được tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân, đều là tài sản chung của vợ chồng

Sắc luật số 15/64 không dự liệu việc chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước mà chỉ dự liệu việc chia tài sản chung của

vợ chồng khi vợ chồng ly thân hoặc ly hôn Đối với BLDS thì việc xác định tài sản được đặt ra trong cả ba trường hợp: Khi vợ, chồng chết; khi vợ chồng

ly thân hoặc ly hôn Bên cạnh khối tài sản chung, Sắc luật số 15/64 (Điều 55)

và BLDS năm 1972 (Điều 152) ghi nhận việc vợ chồng có khối tài sản riêng, bao gồm:

- Những bất động sản thuộc quyền sở hữu của mỗi bên vợ, chồng khi kết hôn (tức là các bất động sản mà vợ hay chồng đã có từ trước khi kết hôn);

- Những bất động sản mà mỗi bên vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân do được tặng cho riêng hoặc được thừa kế riêng

Trang 26

Như vậy, việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn cần phân biệt:

- Nếu có hôn ước thì phải phân chia theo các điều khoản của hôn ước;

- Nếu không có hôn ước thì chia theo nguyên tắc:

+ Tài sản của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó;

+ Tài sản của vợ chồng được chia đôi cho vợ chồng, mỗi người một nửa [50, Điều 94]; [46, Điều 201]

Đối với trường hợp ly hôn do lỗi của vợ, chồng thì người vợ, chồng có lỗi đó sẽ bị mất hết những quyền lợi mà người kia dành cho hoặc do hôn ước

từ khi kết hôn (Điều 92 Sắc luật số 15/64; Điều 200 BLDS) Trường hợp thanh toán hôn sản khi vợ chồng ly thân, hậu quả của việc thanh toán tài sản của vợ chồng đặt vợ, chồng rơi vào tình trạng biệt sản Tuy nhiên, Sắc luật số 15/64 không dự liệu cụ thể vấn đề này, mà chỉ quy định chung: Sự ly thân đặt

vợ chồng rơi vào tình trạng tài sản riêng biệt Tài sản sẽ phân chia… (Điều 97) Ngược lại, BLDS đã dự liệu khi lập hôn ước, vợ chồng có thể lựa chọn chế độ biệt sản để áp dụng cho họ (Điều 168); người vợ có quyền quản lý, hưởng dụng và định đoạt tài sản riêng của mình Cũng có thể chế độ biệt sản

sẽ do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng khi có lý do chính đáng (Điều 165) Ngoài ra, trường hợp vợ chồng ly thân thì tài sản của vợ chồng sẽ được chia như khi ly hôn, tuy nhiên, ly thân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng, mà chỉ làm chấm dứt chế độ tài sản chung, việc ly thân đương nhiên đặt vợ chồng rơi vào tình trạng biệt sản (Điều 204)

1.3.4 Pháp luật của Nhà nước ta từ Cách mạng tháng tám đến năm

2000 về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn

Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (02/9/1945) Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

Trang 27

Theo Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định về vấn đề ly hôn cũng đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa vợ chồng khi thực hiện quyền yêu cầu ly hôn; công nhận quyền tự

do ly hôn của vợ chồng và các căn cứ chung để Tòa án giải quyết việc ly hôn (Điều 2); bảo đảm quyền yêu cầu thuận tình ly hôn của vợ chồng (Điều 3); hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của vợ chồng khi người vợ đang có thai (Điều 5) Về hiệu lực của việc ly hôn, Sắc lệnh số 159/SL không quy định rõ về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Điều 6 Sắc lệnh số 159/SL quy định:

Tòa án sẽ căn cứ quyền lợi của các con vị thành niên để ấn định việc trông nom, nuôi nấng và dạy dỗ chúng

Hai vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi dạy con, mỗi bên tùy theo khả năng của mình

Theo quy định này, khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng phải được chia, tùy theo khả năng của mỗi bên vợ, chồng phải cùng có nghĩa vụ trong việc nuôi dạy con Đáng tiếc là Sắc lệnh số 159/SL không dự liệu về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng Tuy vậy, cứ chiểu theo tinh thần của những văn bản này, chúng ta cũng có thể suy luận rằng: Tài sản chung của vợ chồng phải được chia đôi, mỗi bên vợ, chồng được một nửa giá trị tài sản chung (nguyên tắc này cũng đã được áp dụng theo Bộ DLBK, Bộ DLTK trước đây)

Năm 1959, Luật HN&GĐ đầu tiên được nhà nước ta ban hành (còn gọi là Đạo luật số 13), là công cụ pháp lý của Nhà nước ta được xây dựng và thực hiện với hai nhiệm vụ cơ bản: Xóa bỏ những tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu; xây dựng chế độ HN&GĐ mới XHCN Theo

quy định tại Điều 15: “Vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử

Trang 28

dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” Quy định này

thể hiện, toàn bộ các tài sản của vợ chồng dù có trước khi kết hôn hoặc được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; dù vợ, chồng được tặng cho riêng, được thừa

kế riêng hoặc cả hai vợ chồng được tặng cho chung hay thừa kế chung, không phân biệt nguồn gốc tài sản và công sức đóng góp, đều thuộc khối tài sản chung của hai vợ chồng Luật không thừa nhận vợ, chồng có tài sản riêng Về nguyên tắc, khi vợ chồng ly hôn (Điều 29), tài sản chung của vợ chồng được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên, vào tình hình

tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình Ngoài ra, luật cũng quy định: “Khi

ly hôn, cấm đòi trả của” (Điều 28), nhằm xóa bỏ một trong những tập tục

lạc hậu của chế độ HN&GĐ phong kiến trước đây

Ngày 25/10/1982 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã quyết định thành lập Ban dự thảo Luật HN&GĐ mới; Dự luật đã được Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1986 và được Hội đồng Nhà nước công bố ngày 03/01/1987

Theo Điều 14, Luật HN&GĐ năm 1986, tài sản chung của vợ chồng bao gồm:

- Các tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân (tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền hưu trí, các thu nhập hợp pháp mang lại

từ kinh tế gia đình; các tài sản mà vợ chồng mua sắm được bằng các khoản thu nhập nói trên);

- Các tài sản do vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung Bên cạnh khối tài sản chung của vợ chồng, Luật HN&GĐ năm 1986 đã ghi nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng [34, Điều 16], bao gồm:

- Các tài sản mà vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn;

Trang 29

- Các tài sản mà vợ hoặc chồng được tặng cho riêng hay được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân

Người vợ, chồng có tài sản riêng có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng

Đây là quy định mới so với Luật HN&GĐ năm 1959, xuất phát từ thực tiễn trước khi kết hôn, mỗi bên vợ, chồng (có thể) đã có khối tài sản riêng có giá trị lớn, mà xét về bản chất kinh tế hay pháp luật, tài sản đó không phải là

do hai vợ chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân Luật ghi nhận vợ chồng có quyền có tài sản riêng nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của vợ chồng Mặt khác, tạo điều kiện cho vợ chồng được quyền tự định đoạt tài sản riêng của mình với tư cách là chủ sở hữu, không bị lệ thuộc bởi ý chí của bên kia; cũng như sự linh hoạt trong các quan hệ gia đình và xã hội có liên quan đến vấn đề tài sản: Thỏa mãn nhu cầu cá nhân bằng tài sản riêng; trả nợ hoặc bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của vợ, chồng gây ra bằng tài sản riêng của vợ, chồng…

Khi vợ chồng ly hôn (Điều 42), về nguyên tắc chia tài sản của vợ

chồng, Luật HN&GĐ năm 1986 đã dự liệu “Nguyên tắc chia đôi tài sản chung”, nguyên tắc xác định, chia đôi tài sản chung chỉ mang tính ước lệ

(xuất phát từ kỷ phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung là bằng nhau một đặc điểm của tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất); khi chia, Tòa án vẫn phải dựa vào công sức đóng góp trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung của vợ chồng, vẫn có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo tỷ lệ nhiều, ít khác nhau cho các bên vợ, chồng

Luật HN&GĐ năm 2000 được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 9/6/2000 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2001 Cũng như Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về phạm vi thành

Trang 30

phần khối tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của

vợ chồng đối với các loại tài sản đó; các trường hợp chia tài sản chung và hậu quả của việc chia tài sản chung của vợ chồng

Trên nguyên tắc bảo đảm quyền tự định đoạt của vợ chồng, khoản 1 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

Theo khoản 1 Điều 95, đối với tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó Nếu có tranh chấp về tài sản riêng, bên nào cho rằng đó là tài sản riêng của mình, phải có nghĩa vụ chứng minh (việc chứng minh tài sản riêng có thể bằng sự công nhận của bên kia hoặc bằng các giấy tờ xác nhận quyền sở hữu của mình); nếu không có chứng cứ chứng minh tài sản

mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng (khoản 3 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000)

Nhà làm luật đã sử dụng cả nguyên tắc suy đoán để xác định tài sản giữa vợ và chồng khi ly hôn xảy ra tranh chấp nhưng không đủ cơ sở xác định

là tài sản riêng của vợ, chồng thì được coi là thuộc khối tài sản chung của vợ chồng [37, Điều 27, Khoản 3] Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ năm

2000, xuất phát từ thực tế tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng; cuộc sống chung giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, sau nhiều năm tháng, các loại tài sản được sử dụng nhằm bảo đảm lợi ích chung của gia đình, khi vợ chồng

ly hôn xảy ra tranh chấp, có loại tài sản khó chứng mình được là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng

Đối với tài sản chung của vợ chồng, khoản 2,3 Điều 95 đã dự liệu:

a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát

Trang 31

triển tài sản này Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch

3 Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng

do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

Như vậy, so với Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định về tài sản chung của vợ chồng cụ thể hơn, đồng thời bổ sung một số quy định để khắc phục những hạn chế, thiếu sót của Luật HN&GĐ năm 1986

Ngày 01/01/2015 Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực So với Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014 có rất nhiều điểm mới, tiến bộ

và phù hợp với tình hình phát triển của đất nước cũng như đời sống xã hội ở nước ta hiện nay, đặc biệt là các quy định liên quan đến việc xác định tài sản

vợ chồng khi ly hôn như: Công nhận chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận,

bổ sung thêm các căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng

và quy định cụ thể các nguyên tắc chia tài sản vợ chồng khi ly hôn,…

Trang 32

1.4 Pháp luật một số quốc gia về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn

Có thể thấy điểm chung của các hệ thống pháp luật trên thế giới đều coi gia đình là một thiết chế xã hội vững chắc, bền vững, làm nền tảng cho một xã hội ổn định Vì thế nhà làm luật cần quan tâm điều chỉnh chặt chẽ các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực gia đình Trong đó, pháp luật các nước dành nhiều quy định giải quyết vấn đề tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Nhiều nhà làm luật các nước tư sản cho rằng, hôn nhân thực chất là một loại hợp đồng dân sự, hôn nhân chỉ khác với các loại hợp đồng dân sự thông

thường khác ở tính chất “long trọng” trong thiết lập và chấm dứt Bên cạnh

đó, nhà làm luật ở một số nước thường đề cao quyền tự do cá nhân, quyền tự định đoạt đối với tài sản của vợ, chồng Tự do lập hôn ước đã trở thành tư tưởng chủ đạo khi quy định chế độ tài sản của vợ chồng

Nhà làm luật các nước châu Âu như Đức, châu Á như Thái Lan, Nhật Bản đề cao quyền tự do cá nhân, quyền tự định đoạt đối với tài sản của vợ chồng… Chế độ tài sản vợ chồng trước hết phải do chính bản thân vợ chồng lựa chọn, thỏa thuận, pháp luật chỉ quy định một chế độ tài sản cho họ khi vợ chồng không có hoặc không thỏa thuận được một chế độ tài sản cho mình

Việc lựa chọn chế độ tài sản vợ chồng là một trong những nguyên tắc rất quan trọng trong việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn

Chúng ta có thể thấy rõ quan niệm này trong BLDS và Thương mại Thái Lan, BLDS Nhật Bản và BLDS Đức

1.4.1 Luật của Thái Lan

Quyền sở hữu của vợ chồng ở Thái Lan được điều chỉnh bằng hai phương thức: theo hôn ước mà vợ chồng lập ra trước khi cưới và theo quy định của pháp luật khi vợ chồng không có hôn ước hoặc hôn ước đó không được công nhận

Trang 33

Theo quy định của pháp luật Thái Lan kể từ thời điểm kết hôn vợ chồng sẽ phát sinh quan hệ tài sản chung với những tài sản có nguồn gốc sau:

- Tài sản vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân

- Tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân thông qua một

di chúc hoặc tặng cho được làm bằng văn bản nếu trong các văn bản này tuyên bố rõ tài sản đó là tài sản chung

- Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng

Ngoài ra trong trường hợp tài sản có nguồn gốc hợp pháp khác nhưng không chứng minh được nó là của riêng một bên vợ, chồng thì tài sản đó được coi là tài sản chung

Theo Điều 1492, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định khi

vợ chồng ly hôn, xác định phần tài sản chung để chia thì phần tài sản chia cho mỗi bên vợ chồng trở thành tài sản riêng của họ Bất cứ tài sản nào mà vợ chồng có được sau khi chia sẽ là tài sản riêng của người đó và không được coi

là tài sản chung Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung trở thành tài sản riêng chia đều cho mỗi bên Hoa lợi thu được từ tài sản riêng của người nào thuộc sở hữu của người đó

1.4.2 Luật của Nhật Bản

Nhật Bản là một quốc gia mang nặng nhiều biểu hiện phong kiến Bộ luật Dân sự ở Nhật Bản được coi là một trong những sản phẩm của cuộc cải cách Minh Trị năm 1868 Hôn ước hay phần lớn những quy định trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản thường do được học tập từ dân luật Đức hoặc Pháp

Điều 756 BLDS Nhật Bản quy định: “Nếu vợ hoặc chồng trước khi đăng ký kết hôn không ký một hợp đồng nào nhằm quy định khác đi tài sản của mình, thì quan hệ tài sản của họ được điều chỉnh bởi các quy định của tiểu mục II (tiểu mục qui định chế độ tài sản pháp định)

Trang 34

Theo quy định tại Điều 762 BLDS Nhật Bản: “Tài sản thuộc về vợ hoặc chồng từ thời điểm trước đám cưới và tài sản có được trong thời gian tồn tại của hôn nhân nhân danh người đó tạo thành là tài sản riêng của người

đó Bất kỳ tài sản nào mà không thể xác định được là của vợ hoặc chồng, thì được coi là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng”

Khi ly hôn, vợ hoặc chồng có quyền được yêu cầu phân chia tài sản Nếu các bên không thỏa thuận được việc phân chia tài sản phù hợp với các quy định của pháp luật thì có quyền yêu cầu Toà án HN&GĐ thực hiện các biện pháp nhằm đạt được sự thỏa thuận Lúc này, Tòa án HN&GĐ sẽ quyết định số lượng cũng như cách thức phân chia với sự cân nhắc số tài sản mà các bên đã cùng tạo dựng được (Điều 768) Đối với các vấn đề chi tiêu hàng ngày nếu chồng hoặc vợ thực hiện các giao kết pháp lý với người thứ ba, thì cả vợ

và chồng đều phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các nghĩa vụ phát sinh đó, trừ trường hợp có thông báo trước về việc chồng hoặc vợ sẽ không phải chịu trách nhiệm trước người thứ ba (Điều 761)

1.4.3 Luật của Đức

Ở Đức, pháp luật quy định về tài sản trong hôn nhân do luật định và hợp đồng hôn nhân (hôn khế) Nguyên tắc tự do quy định qua hợp đồng cũng được áp dụng cho tài sản hôn nhân nên vợ chồng có thể tự thoả thuận các quan hệ về tài sản của họ trong hợp đồng hôn nhân hay thoả thuận áp dụng những quy định luật định nào

Nếu không có hợp đồng hôn nhân thì quan hệ tài sản trong hôn nhân sẽ tuân theo các quy định của chế độ tài sản cộng đồng gia tăng (Điều 1361 BLDS) Ở chế độ này, tài sản của vợ hay chồng, kể cả tài sản có được sau khi kết hôn, vẫn là tài sản riêng của người ấy, mỗi người tự quản lý và chịu trách nhiệm về tài sản của mình, và chỉ cần ý kiến đồng thuận của người kia khi muốn chuyển nhượng toàn bộ tài sản của mình hay một đồ vật thuộc về đồ

Trang 35

đạc trong nhà Tài sản gia tăng của vợ chồng chỉ được chia khi chế độ tài sản của họ chấm dứt Khi chế độ tài sản vợ chồng bị chấm dứt vì người vợ hay chồng chết thì sự chia tài sản gia tăng được thực hiện qua việc phần thừa kế của người sống được tăng thêm 1/4 Nếu chế độ cộng đồng gia tăng bị chấm dứt qua ly hôn thì người nào có phần tài sản gia tăng cao hơn, sẽ phải chia đôi phần gia tăng nhiều hơn cho người kia, để cho phần gia tăng tài sản của hai

vợ chồng trong thời gian hôn nhân bằng nhau Tài sản gia tăng là sự chênh lệch về giá trị (tức là phần gia tăng) của tài sản tính từ ngày kết hôn đến ngày đơn xin ly hôn đến Toà án gia đình Những tài sản mà người vợ hay người chồng nhận được từ cha mẹ hay họ hàng của mỗi người như của hồi môn, thừa kế, quà tặng riêng… trong thời gian hôn nhân không bị coi là phần gia tăng của tài sản khi ly hôn

Nếu thông qua hợp đồng hôn nhân, vợ chồng có thể thỏa thuận không theo chế độ tài sản cộng đồng gia tăng mà chọn chế độ tài sản sở hữu tài sản tách riêng hoặc chế độ tài sản sở hữu tài sản chung

Ở chế độ tài sản sở hữu tài sản tách riêng (Điều 1414 BLDS) tài sản của vợ chồng, kể cả tài sản mà vợ chồng có được sau khi kết hôn qua lao động, là tài sản riêng của người ấy Mỗi người tự quản lý và chịu trách nhiệm

về tài sản của mình, có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt độc lập không cần ý kiến của người kia

Ở chế độ tài sản sở hữu tài sản chung, tất cả tài sản của hai vợ chồng có

từ trước ngày kết hôn và tài sản vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân qua lao động, thừa kế trở thành tài sản chung của hai vợ chồng mà không cần một nghi thức pháp lý nào Cả hai vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt như nhau đối với tài sản chung Chế độ tài sản sở hữu chung chấm dứt qua ly hôn, lúc này tài sản sẽ được chia đôi giữa vợ và chồng sau khi thanh toán hết những nghĩa vụ chi trả [4]

Trang 36

Chương 2: XÁC ĐỊNH TÀI SẢN VỢ CHỒNG KHI LY HÔN THEO PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

Điểm mới rất quan trọng của Luật HN&GĐ năm 2014 là bổ sung chế

độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, theo đó, vợ chồng có quyền lựa chọn

áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận [44, Điều 28] Do đó, việc xác định tài sản của vợ chồng khi ly hôn cần dựa vào sự lựa chọn của vợ chồng trong việc áp dụng chế độ tài sản

2.1 Xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận

Chế độ tài sản theo thỏa thuận là việc vợ chồng thỏa thuận với nhau về việc xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của họ Thỏa thuận này được thể hiện dưới dạng văn bản (dưới nhiều tên gọi: hôn ước, hợp đồng tiền hôn nhân hay thỏa thuận trước hôn nhân…) Vợ chồng có thể lựa chọn một trong các chế độ tài sản do pháp luật quy định hoặc tự thiết lập một chế độ riêng với điều kiện không trái với pháp luật

Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 thì trong trường hợp vợ chồng lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận và thỏa thuận này phù hợp với quy định của Luật HN&GĐ thì việc xác định tài sản của vợ chồng khi

ly hôn được giải quyết theo thỏa thuận của vợ chồng

2.1.1 Xác định tài sản vợ chồng dựa vào văn bản thoả thuận về tài sản của vợ chồng

Để xây dựng một gia đình hạnh phúc, bền vững thì việc phát triển kinh

tế, tạo lập tài sản của vợ chồng được các bên chú trọng Khi cuộc sống hoà thuận hạnh phúc, việc xác định rạch ròi tài sản chung của vợ chồng và tài sản

Trang 37

sử dụng các tài sản có được vào mục đích chung của gia đình, giới hạn giữa tài sản chung và riêng không có sự phân biệt rõ ràng Các bên thường có xu hướng nhập phần tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm đảm bảo đời sống của gia đình, giữa vợ chồng thường không phân biệt

“ranh giới” giữa tài sản chung và tài sản riêng; không phân biệt “của anh, của tôi” Pháp luật ghi nhận việc thoả thuận của các bên trên nguyên tắc

quyền tự định đoạt, giữa vợ và chồng có thể thoả thuận tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng và tài sản nào là tài sản riêng của vợ, chồng

Điều 47 của Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về thỏa thuận xác lập chế độ tài sản vợ chồng như sau:

Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực Chế độ tài sản của

vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn Khoản 1, Điều 48 của Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về nội dung

cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng như sau:

1 Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm: a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình;

c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế

độ tài sản;

d) Nội dung khác có liên quan

Trang 38

Đồng thời, tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình quy định về xác định tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận như sau:

1 Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung sau đây:

a) Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của

vợ, chồng;

b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;

c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc

sở hữu riêng của người có được tài sản đó;

d) Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng

Ví dụ: Trước khi kết hôn mỗi bên vợ chồng với tư cách là cá nhân tham gia các hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, họ học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh để tạo lập cuộc sống và chuẩn bị hành trang bước vào cuộc sống hôn nhân Tài sản của mỗi bên có trước khi kết hôn có thể là những thu nhập từ lao động, từ hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp, có thể do người khác chuyển dịch quyển sở hữu thông qua các giao dịch hợp pháp Theo quy định những tài sản đó phải thuộc sở hữu riêng của vợ,

chồng Đồng thời, trong thời kỳ hôn nhân, với quan niệm “của chồng công vợ” và xuất phát từ nhu cầu chung, lợi ích chung của gia đình là tối cao, tài

Trang 39

tất cả tài sản vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân được vợ chồng thỏa thuận đều là tài sản chung Khi vợ chồng ly hôn, khối tài sản chung đó sẽ được chia đôi cho mỗi bên vợ, chồng

2.1.2 Xác định tài sản của vợ chồng khi thoả thuận về chế độ tài sản không đầy đủ, rõ ràng

Khoản 2 Điều 48 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định.”

Thứ nhất, về nguyên tắc chung của chế độ tài sản vợ chồng, Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định:

1 Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập

2 Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

3 Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường

Với tư cách là đồng chủ sở hữu, vợ chồng bình đẳng với nhau khi thực hiện quyền sở hữu với tài sản chung Vấn đề bình đẳng trong quyền sở hữu đối với tài sản chung được thể hiện cụ thể ở ba quyền năng: Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 219 BLDS năm

2005 Trong gia đình, vợ và chồng đều có quyền nắm giữ, quản lý tài sản

Trang 40

thuộc sở hữu chung, đều có quyền khai thác công dụng, hưởng lợi ích từ tài sản cũng như quyền định đoạt số phận của tài sản đó

Vợ, chồng phải có sự bàn bạc, thỏa thuận sử dụng tài sản chung nhằm đảm bảo đời sống chung gia đình, sao cho việc sử dụng, định đoạt tài sản chung đem lại lợi ích nhiều nhất cho cuộc sống chung vợ chồng, đảm bảo nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục các con, cũng như quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình như: Mua bán lương thực, thực phẩm, vật dụng tiêu dùng thiết yếu, tham gia các dịch vụ thể thao, du lịch, giải trí văn hóa, văn nghệ

Đối với những giao dịch thông thường, liên quan đến những tài sản không lớn nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình, thì hành vi xử sự của vợ, chồng khi định đoạt tài sản chung đó luôn được coi là

có sự thỏa thuận đương nhiên của vợ và chồng dù chỉ có một trong hai bên định đoạt

Ví dụ: Vợ, chồng dùng tiền bạc, tài sản chung đảm bảo nhu cầu về ăn,

ở, học hành, chữa bệnh thì giao dịch này luôn được coi là đã có sự thỏa thuận đương nhiên của vợ, chồng

Trong những trường hợp vì lý do chính đáng và hoàn cảnh riêng của từng gia đình mà có thể vợ hoặc chồng không trực tiếp tạo ra tài sản mà chỉ lao động trong gia đình như làm nội trợ, chăm sóc con thì quyền sở hữu của

họ đối với tài sản chung vẫn ngang bằng với người kia Lao động trong gia đình của vợ hoặc chồng cũng được coi là lao động có thu nhập

Thứ hai, giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng thì việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của hai vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập,

Ngày đăng: 29/02/2016, 17:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. I.L Anđrêép (1987), Về tác phẩm của Ph.Ăngghen “nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” , NXB Tiến Bộ, Matsxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: “nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”
Tác giả: I.L Anđrêép
Nhà XB: NXB Tiến Bộ
Năm: 1987
3. Bộ tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1995), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản
Tác giả: Bộ tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
4. Thu Lan Boehm (2011), “Tổng quan về Luật gia đình CHLB Đức”, Tạp chí Luật học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về Luật gia đình CHLB Đức”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Thu Lan Boehm
Năm: 2011
5. Chính phủ (2001), Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
6. Chính phủ (2001), Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 21/10/2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
7. Chính phủ (2001), Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
8. Chính phủ (2008), Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật công chứng năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật công chứng năm 2006
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
9. Chính phủ (2014), Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
10. Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, trường Đại học luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ
Năm: 2005
11. Nguyễn Văn Cừ (2006), “Thời kỳ hôn nhân - Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng”, Tạp chí Toà án nhân dân, (23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời kỳ hôn nhân - Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng”, "Tạp chí Toà án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ
Năm: 2006
12. Nguyễn Văn Cừ, Ngô Thị Hường (2003), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ, Ngô Thị Hường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia"
Năm: 2003
14. Nguyễn Ngọc Điện (2005), Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập I - Gia đình, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập I - Gia đình
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điện
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
15. Nguyễn Hồng Hải (2003), “Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, Tạp chí Luật học, (03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”
Tác giả: Nguyễn Hồng Hải
Năm: 2003
18. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 02/2000/NĐ-CP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000
19. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2012), Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn và thi hành một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự về chứng minh và chứng cứ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hướng dẫn và thi hành một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự về chứng minh và chứng cứ
Tác giả: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2012
20. Thu Hương, Duy Kiên (2013), “Một số vấn đề cơ bản về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình và thực tiễn giải quyết”, Tạp chí Toà án nhân dân, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình và thực tiễn giải quyết”, "Tạp chí Toà án nhân dân
Tác giả: Thu Hương, Duy Kiên
Năm: 2013
22. Bùi Minh Hồng (2009), “Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng liên hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng liên hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Bùi Minh Hồng
Năm: 2009
24. Nguyễn Phương Lan (2002), “Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân”, Tạp chí Luật học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Phương Lan
Năm: 2002
25. Nguyễn Thị Lan (2012), Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại Học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Tác giả: Nguyễn Thị Lan
Năm: 2012
28. Nhà pháp luật Việt – Pháp (1998), Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp
Tác giả: Nhà pháp luật Việt – Pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w