1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền của người lập di chúc theo pháp luật việt nam hiện hành

125 715 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật quy định cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc, khi họ chết tài sản của h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Đình Nghị

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn nêu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực Kết quả nghiên cứu của Luận văn chưa từng được người khác công bố trong bất kỳ công trình nào

Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2015

Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Trà My

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp với kinh nghiệm trong quá trình thực tiễn công tác, với sự cố gắng nỗ lực của bản thân

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới TS Lê Đình

Nghị là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn cho tôi cả

chuyên môn và phương pháp nghiên cứu và chỉ bảo cho tôi nhiều kinh nghiệm

trong thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này

Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn

Mặc dù với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các Thầy Cô, đồng nghiệp

và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2015

Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Trà My

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LẬP DI CHÚC 8

1.1 Khái niệm di chúc 8

1.2 Người lập di chúc 13

1.2.1 Yêu cầu về độ tuổi của người lập di chúc 15

1.2.2 Yêu cầu về nhận thức của người lập di chúc 18

1.3 Quyền của người lập di chúc 22

1.4 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về quyền của người lập di chúc ở Việt Nam 27

1.4.1 Giai đoạn trước năm 1945 27

1.4.2 Giai đoạn từ 1945 đến trước ngày 1/7/1996 30

1.4.3 Giai đoạn từ ngày 1/7/ 1996 đến nay 39

Chương 2 - QUYỀN CỦA NGƯỜI LẬP DI CHÚC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 44

2.1 Phạm vi quyền của người lập di chúc 44

2.1.1 Chỉ định người thừa kế; Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế 44

2.1.2 Phân định phần di sản cho từng người thừa kế 51

2.1.3 Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng 52

2.1.4 Giao nghĩa vụ cho người thừa kế 59

2.1.5 Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản 62

2.1.6 Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc 66

2.2 Giới hạn quyền của người lập di chúc 77

2.2.1 Giới hạn trong việc giao nghĩa vụ cho người thừa kế 78

Trang 6

2.2.2 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 80

2.2.3 Giới hạn trong việc để lại di sản dùng vào việc thờ cúng 83

2.2.4 Giới hạn trong việc để lại di sản di tặng 85

2.2.5 Giới hạn trong việc phân chia di sản thừa kế 87

Chương 3 - THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI LẬP DI CHÚC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LẬP DI CHÚC 91

3.1 Thực tiễn thực hiện quyền của người lập di chúc 92

3.1.1 Về truất quyền hưởng di sản thừa kế 92

3.1.2 Về người lập di chúc đã định đoạt cả tài sản của người khác 97

3.1.3 Về phạm vi phần di sản dành cho di tặng 100

3.1.4 Về quyền hủy bỏ di chúc 102

3.2 Phương hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về quyền của người lập di chúc 104

3.2.1 Về phạm vi quyền của người lập di chúc 104

3.2.2 Về người lập di chúc 105

3.2.3 Về truất quyền hưởng di sản của người thừa kế 108

3.2.4 Về Di tặng, thờ cúng 109

3.2.5 Về sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc 111

KẾT LUẬN 114

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 BLDS Bộ luật dân sự

2 BLDS 1995 Bộ luật dân sự năm 1995

3 BLDS 2005 Bộ luật dân sự năm 2005

4 CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thừa kế là một hiện tượng xã hội xuất hiện và tồn tại trong mọi chế độ

xã hội Nơi nào có sở hữu thì nơi đó có thừa kế, bởi lẽ “bất cứ nền sản xuất

nào cũng là việc con người chiếm hữu những đối tượng của tự nhiên trong một phạm vi, một hình thái xã hội nhất định, nơi nào không có một hình thái

sở hữu nào cả thì nơi đó cũng không thể có sản xuất và do đó không thể có một xã hội nào cả” [10, tr.860] Như vậy, “thừa kế và sở hữu luôn tồn tại song song và gắn bó chặt chẽ với nhau trong mọi hình thái kinh tế xã hội Trong đó, nếu sở hữu là cơ sở làm xuất hiện vấn đề thừa kế thì đến lượt mình, thừa kế lại là phương tiện để duy trì và củng cố vấn đề sở hữu” [28, tr.8]

Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền của công dân Chính vì vậy, thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội Mỗi nhà nước dù có các xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân và được ghi nhận trong Hiến pháp, trong pháp luật dân sự…

Về mặt tâm lý, cá nhân không chỉ muốn mình có quyền năng đối với khối tài sản của mình khi còn sống, mà còn muốn chi phối nó ngay cả khi đã chết Vì vậy, Nhà nước đã công nhận quyền thừa kế của cá nhân đối với tài sản trong đó có quyền của người lập di chúc Pháp luật quy định cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc, khi họ chết tài sản của

họ sẽ được để lại cho những ai, tỷ lệ bao nhiêu… đó là quyền tự do định đoạt của người để lại di sản thừa kế Bởi thế, các quyền của người lập di chúc luôn được pháp luật tôn trọng, bảo vệ

Trang 9

2

Ở Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước, các quy định về quyền của người lập di chúc đã được quy định trong các bộ hình luật của các nhà nước phong kiến Trải qua thời kỳ Pháp thuộc, các quy định về quyền của người lập di chúc tiếp tục được quy định trong các luật hộ khác nhau được áp dụng tại ba miền Bắc, Trung, Nam Sau năm 1945, các quy định về quyền của người lập di chúc luôn luôn được đề cập trong các thông tư, văn bản tổng kết công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao Bước vào thời kỳ đổi mới, các quy định về quyền của người lập di chúc được pháp điển hóa và quy định trong các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn như Pháp lệnh Thừa kế năm

1990, BLDS 1995 Ngày nay, quyền của người lập di chúc được quy định trong BLDS 2005

Thực tiễn áp dụng cho thấy, các quy định về quyền của người lập di chúc trong BLDS 2005 đã bộc lộ những bất cập, vướng mắc cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước và thực

tế đòi hỏi của xã hội Không phải bất cứ người lập di chúc nào cũng thực hiện đúng các quyền được ghi trên, hoặc sử dụng một phần hoặc sử dụng quá cả phần quyền được pháp luật quy định Có những di chúc định đoạt cả phần tài sản của người khác, hoặc định đoạt toàn bộ tài sản của mình vượt quá phạm vi pháp luật cho phép, trong trường hợp này di chúc có thể vô hiệu hoặc chỉ có hiệu lực một phần tương ứng với di sản của người lập di chúc…

Bên cạnh đó, hiệu quả áp dụng pháp luật về quyền của người lập di chúc trong thực tiễn lập di chúc, thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa

kế có liên quan đến quyền của người lập di chúc cho thấy, một bộ phận không nhỏ người dân không nắm được các quy định của pháp luật về quyền của người lập di chúc Cùng với đó, một số Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân… cũng chưa thực sự hiểu các quy định của pháp luật về quyền của người lập di chúc

Trang 10

rõ vấn đề quyền của người lập di chúc giúp chúng ta hiểu và áp dụng pháp luật cho phù hợp với những tình huống cụ thể trong thực tế, là cơ sở đảm bảo quyền tự do dân chủ, công bằng xã hội đảm bảo quyền dân sự của con người được thực hiện đầy đủ từ đó giúp ổn định trật tự xã hội, xây dựng niềm tin cũng như sự tôn trọng của nhân dân vào pháp luật Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề

tài: “Quyền của người lập di chúc theo pháp luật Việt Nam hiện hành”

nghiên cứu làm luận văn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thừa kế là vấn đề được quan tâm rất lớn trong lĩnh vực khoa học pháp

lý Tính đến thời điểm hiện nay, đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực thừa kế Trong đó có một số công trình của một số tác giả tiêu

biểu như: PGS TS Đỗ Văn Đại với “Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình

luận bản án”, TS Nguyễn Mạnh Bách với “Chế độ hôn sản và thừa kế trong Việt Nam”, TS Phùng Trung Tập với “Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật dân sự Việt Nam”; “Luật thừa kế Việt Nam”, TS Nguyễn Minh Tuấn với

“Pháp luật thừa kế của Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”;

“Những quy định chung về quyền thừa kế trong Bộ luật dân sự Việt Nam”,

TS Trần Thị Huệ với “Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam”, TS Phạm Văn Tuyết với “Thừa kế - Quy định của pháp luật và thực tiễn áp

dụng”, TS Nguyễn Ngọc Điện với “Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật Dân sự Việt Nam”…

Trang 11

4

Thừa kế bao gồm thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Về thừa kế theo di chúc nói chung và quyền của người lập di chúc nói riêng, ở những khía cạnh khác nhau, cho đến nay có một số công trình nghiên cứu liên

quan như: Công trình nghiên cứu “Thừa kế theo di chúc trong luật dân sự Việt

Nam” của Giáo sư Vũ Văn Mẫu; “Thừa kế theo di chúc trong quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam” của TS Phạm Văn Tuyết; “Những qui định của Bộ luật dân sự (Dự thảo) về sự sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc và hiệu lực của

di chúc” của tác giả Phùng Trung Tập đăng trên Tạp chí Luật học số 2/1995,

tr.46 - 51; “Những khó khăn, vướng mắc trong việc lập di chúc và chứng nhận

di chúc” số 13/2010, tr.32 - 34, 39; “Bàn về nghĩa vụ mà người lập di chúc giao cho người thừa kế” số 4/2004, tr.14 - 15 của tác giả Thái Công Khanh

đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân; Khóa luận tốt nghiệp “Người lập di chúc

và quyền của người lập di chúc” của tác giả Đào Thị Nhuận bảo vệ năm 2011

tại trường Đại học luật Hà Nội…Tuy vậy, các công trình trên mới chỉ đề cập đến các quy định về thừa kế theo di chúc nói chung hoặc chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một cách khái quát về thừa kế theo di chúc, tiếp cận dưới một vài góc độ, chưa nghiên cứu chuyên sâu và có tính hệ thống về các quyền của người lập di chúc

Với tình hình trên, đề tài “Quyền của người lập di chúc theo pháp luật

Việt Nam hiện hành” lần đầu tiên được nghiên cứu ở Khoa luật cấp thạc sĩ

luật học một cách chuyên sâu, toàn diện, đầy đủ và đảm bảo được tính logic,

hệ thống, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành về quyền của người lập di chúc; đánh giá việc áp dụng các quy định này trên thực tiễn, phân tích một số vướng mắc, bất cập trên

Trang 12

5

thực tiễn khi áp dụng các quy định pháp luật về quyền của người lập di chúc

từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền của người lập di chúc và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành các quy định này trên thực tiễn

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn

- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm áp dụng có hiệu quả các quy định pháp luật về quyền của người lập di chúc

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền của người lập di chúc, các quy định của pháp luật hiện hành về quyền của người lập di chúc Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này qua hoạt động xét xử của Tòa

án nhân dân

- Phạm vi nghiên cứu

Tuy có nghiên cứu về lược sử quy định quyền của người lập di chúc trong pháp luật dân sự Việt Nam song phạm vi đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật dân sự hiện hành về quyền của người lập di chúc

và thực tiễn áp dụng các quy định trên phạm vi cả nước trong những năm gần đây

Trang 13

6

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Đối với hoạt động nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam giai đoạn trước 1945 đến nay;

- Phương pháp so sánh: Sử dụng trong Chương 1 khi so sánh các quy định trong pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kì Phương pháp so sánh cũng được sử dụng trong Chương 1 khi đề cập tới quan điểm của các tác giả

về vấn đề có liên quan tới đối tượng nghiên cứu của đề tài Phương pháp này cũng được sử dụng trong Chương 2 khi so sánh giữa quyền của người lập di chúc theo quy định của BLDS 2005 với quy định tương ứng về quyền của người lập di chúc trong BLDS 1995, so với pháp luật của Cộng hòa Pháp, Nhật Bản ;

- Phương pháp phân tích, quy nạp, diễn giải được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận văn để làm rõ những vấn đề được đưa ra;

- Ngoài ra đề tài có sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp giả định, tình huống…

6 Kết quả đạt được và những điểm mới của luận văn

- Luận văn phân tích có hệ thống những quy định pháp luật về các quyền của người lập di chúc Qua nghiên cứu, luận văn chỉ ra những quy định phù hợp với quan hệ thừa kế theo di chúc và những điểm còn bất cập trong quy định về các quyền của người lập di chúc, những điểm cần hướng dẫn thực hiện theo BLDS 2005

- Kết quả nghiên cứu đề tài, tác giả đã có những điểm mới sau đây: + Đây là đề tài khoa học được nghiên cứu lần đầu tiên ở nước ta ở cấp thạc sĩ luật học;

Trang 14

7

+ Luận văn hệ thống hóa được những quy định pháp luật về quyền của người lập di chúc ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, làm cơ sở để nghiên cứu toàn diện và hệ thống những quy định của pháp luật về quyền của người lập di chúc;

+ Luận văn chỉ ra những hạn chế, những vấn đề còn thiếu của những quy định pháp luật về quyền của người lập di chúc trong BLDS 2005; phân tích những quy định về quyền của người lập di chúc, qua đó có những kiến nghị khoa học nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật về quyền của người lập di chúc trong BLDS 2005;

+ Luận văn chỉ ra được những bất cập trong việc hiểu không đúng các quy định pháp luật về quyền của người lập di chúc, trong việc áp dụng pháp luật, đồng thời có những kiến nghị để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành những văn bản hướng dẫn cần thiết

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Khái quát chung về quyền của người lập di chúc;

Chương 2: Quyền của người lập di chúc theo pháp luật Việt Nam hiện hành;

Chương 3: Thực tiễn thực hiện quyền của người lập di chúc và phương hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về quyền của người lập di chúc

Trang 15

Thuật ngữ di chúc được đề cập và sử dụng nhiều trong đời sống nên từ lâu đã trở thành một vấn đề hết sức quen thuộc đối với đời sống nhân dân Di

chúc thường được hiểu một cách đơn giản, truyền thống: “Di chúc là sự dặn

lại của một người trước lúc chết với những người khác về những việc cần làm, nên làm” [38, tr.254] hay “là văn bản chính thức ghi những ý muốn của một người, đặc biệt là xử lý những tài sản của mình sau khi chết” [38, tr.182] Như

vậy, về mặt ngữ nghĩa có thể hiểu, di chúc là ý nguyện của cá nhân muốn người khác thực hiện ý nguyện của mình sau khi mình chết, đó có thể là lời dặn con cháu yêu thương lẫn nhau hoặc dặn con cháu làm một công việc gì đó

Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm di chúc cũng đã được hình

thành từ rất sớm Theo Uipian - một luật gia La Mã nổi tiếng thì: “Di chúc là

sự thể hiện ý chí của chúng ta và ý chí đó được thực hiện sau khi chúng ta chết” [37] Như vậy, dưới thời La Mã, di chúc đã được hiểu là phương tiện để

thể hiện ý chí của người lập ra nó và di chúc có hiệu lực khi người lập ra nó chết đi

Theo pháp luật Anh - Mỹ, thì di chúc được hiểu “là một phương tiện

mà một người sử dụng để định đoạt tài sản của mình và chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết, với bản chất là có thể được thay đổi hoặc hủy bỏ trong suốt thời gian mà người lập di chúc còn sống” [9, tr.210] Theo BLDS của

Cộng hòa Pháp thì: “Di chúc là một chứng thư, theo đó người để lại di chúc

định đoạt sau khi chết một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình, người đó có

Trang 16

9

thể hủy bỏ di chúc” [7, Điều 895] Tương tự như vậy, mặc dù trong Bộ luật

Dân sự và Thương mại Thái Lan không trực tiếp nêu ra khái niệm di chúc nhưng đã gián tiếp định nghĩa di chúc thông qua quy định về quyền của người

để lại thừa kế trong việc “giải quyết” tài sản của mình sau khi chết, cụ thể Điều 1646 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định: “Bất kỳ người

nào có thể, trước khi chết, làm một tuyên bố ý định bằng di chúc về giải quyết tài sản của mình, hoặc những vấn đề khác mà sẽ có hiệu lực theo quy định của pháp luật sau khi người đó chết”

Ở nước ta, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật các nhà xây dựng pháp luật luôn chú ý đến chuẩn hóa các thuật ngữ pháp lý

Theo tác giả Đoàn Bá Lộc thì di chúc hay chúc thư “là một văn tự lập theo

các thể thức pháp định để chứng chắc sự thật và do đó một người để lại cho người thừa kế biết ý định mai hậu của mình” [18, tr.133] Theo các tác giả của

cuốn Bình luận khoa học BLDS 2005 (Tập III) thì: “Di chúc là sự bày tỏ ý chí

của một người khi còn sống định đoạt tài sản của mình, để chuyển toàn bộ hoặc một phần tài sản của người đó cho một hay nhiều người thừa kế sau khi chết” [39, tr.45]

Trong pháp luật thực định của Việt Nam, di chúc là một giao dịch dân

sự dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương, theo đó, Điều 646 BLDS 2005 đã

định nghĩa: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản

của mình cho người khác sau khi chết” Như vậy, về phương diện khoa học

pháp lý di chúc là phương diện phản ánh trung thực ý nguyện cuối cùng của

cá nhân trong việc chuyển dịch tài sản của họ cho người khác sau khi họ chết

Từ khái niệm trên có thể thấy, di chúc có một số đặc trưng sau:

Thứ nhất, Di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương, tự nguyện của cá nhân mà không phải là của bất kỳ chủ thể nào khác: Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và trong một

Trang 17

10

số trường hợp bao gồm cả Nhà nước Tuy nhiên, do bản chất của di chúc là nhằm định đoạt tài sản riêng của cá nhân sau khi chết nên di chúc chỉ có thể được lập bởi cá nhân [36, tr.211], ngoài cá nhân pháp luật không thừa nhận quyền lập di chúc của bất cứ một chủ thể nào khác

Sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc được thể hiện ở chỗ, việc lập di chúc, nội dung của di chúc phải do chính người lập di chúc

quyết định và định đoạt, bởi vì “việc lập di chúc cũng như việc kết hôn không

thể thực hiện bằng lối ủy quyền Không ai có thể ủy quyền cho người khác để thay mình lập chúc thư mà pháp luật cũng không có quyền chỉ định một thụ

ủy luật định để lập chúc thư thay thế một người khác” [8, tr.61]

Nếu như hợp đồng dân sự “là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác

lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [27, Điều 388], tức là có

sự thống nhất ý chí của các bên chủ thể tham gia giao dịch dân sự thì di chúc

là một giao dịch dân sự thể hiện dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương - giao dịch được xác lập theo ý chí cá nhân của người để lại di chúc Điều này được thể hiện ở chỗ người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác sau khi chết Người lập di chúc có toàn quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai và có quyền cho ai bao nhiêu phần trăm số tài sản thuộc quyền sở hữu của mình mà không phụ thuộc vào việc người được hưởng thừa kế theo di chúc có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hay thân thích với người lập di chúc Người lập di chúc có thể cho người này nhiều, người kia ít, hoặc không cho người nào đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật Như vậy, việc có để lại di chúc hay không, nội dung di chúc chỉ định những ai được hưởng di sản, hưởng bao nhiêu, truất quyền thừa kế của ai…hoàn toàn là do người để lại di chúc quyết định mà không cần bàn bạc, trao đổi, thống nhất với những người thừa kế được chỉ định trong di chúc Đồng thời, không có ai có quyền can thiệp vào

Trang 18

11

việc lập di chúc, nội dung di chúc, bất cứ sự can thiệp nào ảnh hưởng đến sự

tự nguyện của người lập di chúc trong việc lập di chúc đều có thể làm cho di chúc vô hiệu Người lập di chúc không có nghĩa vụ phải trao đổi với những người thừa kế về nội dung di chúc

Như vậy, nếu như trong tất cả các loại hợp đồng dân sự đều phải thể hiện ý chí của các bên tham gia hợp đồng và các bên đều phải tự nguyện thỏa thuận, bàn bạc, trao đổi , thì di chúc chỉ thể hiện ý chí của bên lập di chúc Hợp đồng dân sự chỉ phát sinh hiệu lực khi các bên tham gia hợp đồng thống nhất được những điều khoản ghi nhận trong hợp đồng và cùng nhau

ký kết hợp đồng, còn trong di chúc thì không có sự thống nhất giữa người lập di chúc và người được thừa kế theo di chúc Thực tế đã có nhiều trường hợp người được hưởng thừa kế theo di chúc không thể biết mình có quyền được hưởng di sản theo di chúc vì di chúc chưa được công bố và được cất giữ bí mật

Thứ hai, mục đích của di chúc phải nhằm dịch chuyển tài sản của người lập di chúc cho người khác sau khi chết Nếu như các loại hợp đồng dân sự đều thể hiện ý chí thỏa thuận của các chủ thể nhằm chuyển dịch tài sản từ người này sang người khác thì di chúc lại nhằm chuyển dịch tài sản của người

đã chết sang cho người còn sống Người thừa kế theo di chúc phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế Nội dung của di chúc có thể gồm nhiều nội dung khác nhau, đó có thể là những lời dặn dò con cháu sống hòa thuận hoặc thực hiện một số công việc cụ thể nào đó…nhưng nhất định phải có nội dung thể hiện mục đích nhằm chuyển dịch tài sản của người để lại di chúc cho con cháu hay những người khác Do đó, những di chúc mà nội dung không nhằm định đoạt tài sản của người để lại di chúc cho người khác thì không được xem

là di chúc thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự

Trang 19

12

Di chúc phải có nội dung là định đoạt tài sản của người để lại di chúc cho người khác nhưng việc định đoạt tài sản ở đây phải là định đoạt tài sản sau khi chết, bởi lẽ, di chúc chỉ có hiệu lực và được thực thi khi người để lại

di chúc chết đi Đây là đặc trưng quan trọng thể hiện bản chất của di chúc và phân biệt giữa di chúc và hợp đồng tặng cho tài sản Trong thực tế, có trường hợp di chúc được công bố sớm và một số tài sản được giao ngay cho những người được chỉ định hưởng thừa kế quản lý Trong quá trình quản lý, một số người được chỉ định hưởng thừa kế trong di chúc đã đi đăng ký sở hữu đối với tài sản được tạm giao, có trường hợp, chủ sở hữu (người lập di chúc) không biết nhưng cũng có trường hợp chủ sở hữu biết rõ người quản lý (người được chỉ định trong di chúc) đã đi đăng ký sang tên sở hữu nhưng không phản đối Trong những trường hợp này, không thể xem là quyền sở hữu tài sản đã được xác lập đối với những người được chỉ định trong di chúc và đã được tạm giao quản lý tài sản [13, tr.278-279]

Thứ ba, di chúc có hiệu lực khi người để lại di sản thừa kế chết Khoản

1 Điều 667 BLDS 2005 quy định: "Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm

mở thừa kế" Về thời điểm mở thừa kế Khoản 1 Điều 633 BLDS 2005 quy

định: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường

hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết, thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này”

Đây là một đặc điểm thể hiện rõ nét sự khác biệt giữa di chúc với các loại giao dịch dân sự khác, ví dụ như hợp đồng dân sự có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác, còn thời điểm có hiệu lực của di chúc lại phụ thuộc vào thời điểm

mà người lập di chúc chết hoặc thời điểm mà quyết định của Tòa án tuyên bố người lập di chúc chết có hiệu lực pháp luật Vì vậy, việc xác định đúng thời điểm mở thừa kế (thời điểm người lập di chúc chết) có ý nghĩa trong việc xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc

Trang 20

13

Cũng là giao dịch dân sự nhưng việc chuyển dịch tài sản cho người được chỉ định trong di chúc khác với việc chuyển dịch tài sản cho người được tặng cho trong hợp đồng tặng cho tài sản Điều này được thể hiện ở chỗ, việc chuyển dịch tài sản cho người được tặng cho trong hợp đồng tặng cho tài sản

có hiệu lực khi người có tài sản còn sống, cụ thể, đối với hợp đồng tặng cho động sản hoặc bất động sản mà quyền sở hữu không phải đăng ký có hiệu lực

kể từ khi bên được tặng cho nhận tài sản; đối với động sản và bất động sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, còn việc chuyển dịch tài sản cho người thừa kế trong di chúc chỉ có hiệu lực pháp luật khi người để lại di sản chết đi Chính vì vậy, người để lại di sản có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, di chúc vào bất cứ lúc nào như tác giả Nguyễn Ngọc Điện đã viết:

“Cho đến khi người lập di chúc chết, người thụ hưởng di sản theo di chúc

không có bất kỳ một quyền nào trên bất cứ một tài sản nào của người lập di chúc và cho rằng họ cũng không chắc được hưởng di sản về sau này Di chúc chỉ ghi nhận cho họ một quyền nào đó trong di sản của người lập di chúc, tức

là một quyền đối với tài sản mà người này sau này sẽ để lại, nếu có để lại Người thừa kế theo di chúc và người được di tặng không thể đòi hỏi sự đảm bảo quyền lợi gắn liền với tư cách đó, và thậm chí, cả sự đảm bảo cho việc duy trì tư cách đó vì di chúc có thể bị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ theo ý chí của người lập ra nó” [15, tr.158]

1.2 Người lập di chúc

Cá nhân là một trong những chủ thể quan trọng của quan hệ pháp luật dân sự Tuy quyền dân sự của mọi cá nhân đều bình đẳng nhưng tùy thuộc vào năng lực chủ thể của họ mà pháp luật quy định cho họ được tham gia vào những quan hệ pháp luật dân sự với mức độ khác nhau Chủ thể có quyền lập

di chúc chỉ có thể là cá nhân Vấn đề cốt lõi của di chúc là định đoạt tài sản

Trang 21

14

của chủ thể cho người khác bằng một di chúc hợp pháp Sự thể hiện ý chí của chủ thể trong di chúc không chỉ là phương thức để thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản của người đó mà còn là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan

Quyền lợi của những người được hưởng di sản theo di chúc (và cả người thừa kế theo pháp luật) phụ thuộc phần lớn vào nội dung và tính hợp pháp của di chúc cho nên việc định đoạt tài sản theo di chúc có ý nghĩa và sự tác động đến các quan hệ xã hội ở một phạm vi nhất định, không chỉ trong phạm vi một gia đình Do vậy, để trở thành chủ thể lập di chúc, cá nhân phải đáp ứng những yêu cầu của pháp luật về độ tuổi, nhận thức và khả năng làm chủ hành vi

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 BLDS 2005 thì “Năng lực pháp

luật dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự” và theo Điều 17 BLDS 2005 thì “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” Năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của cá nhân

tạo thành năng lực chủ thể của cá nhân Với tư cách là một thực thể xã hội, mỗi cá nhân có mức độ năng lực hành vi và năng lực pháp luật khác nhau do vậy không phải cá nhân nào cũng có đủ năng lực chủ thể để trở thành chủ thể lập di chúc

Theo quy định của BLDS 2005 thì người lập di chúc phải đáp ứng được những điều kiện nhất định thì di chúc mới có hiệu lực Người lập di chúc phải đảm bảo được những điều kiện sau đây:

Điều 647 BLDS 2005 quy định về người lập di chúc:

1- Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó

bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

Trang 22

15

2- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di

chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý

Quy định tại Điều 647 BLDS 2005 đã làm sáng tỏ một số điều kiện và cũng là căn cứ để xác định chủ thể lập di chúc Nhìn chung, chủ thể lập di chúc là người định đoạt tài sản của mình thông qua hành vi pháp lý đơn phương của họ Vì vậy, điều kiện về độ tuổi và khả năng nhận thức của cá nhân người lập di chúc là điều kiện tiên quyết trong việc xác định di chúc có giá trị pháp lý hay không có giá trị pháp lý

1.2.1 Yêu cầu về độ tuổi của người lập di chúc

Thông thường, người thành niên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, bởi khi đó khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của lứa tuổi này phát triển hoàn thiện (trừ trường hợp bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác

mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình) họ có đủ điều kiện để thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép đồng thời cũng có khả năng gánh vác nghĩa vụ

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi mặc dù là người chưa thành niên, nhưng họ có những nhận thức nhất định, về mặt thực tế thì

có người trong số họ đã có tài sản riêng do được thừa kế hoặc được tặng cho, thậm chí có người đã tích lũy từ lao động phù hợp với sức lao động của mình Tuy nhiên, nhận thức của họ chưa ổn định, đôi lúc còn thiếu chín chắn trong suy nghĩ và xử sự của mình Vì vậy, những người ở độ tuổi này vẫn có quyền lập di chúc nhưng phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý

Xoay quanh vấn đề này còn có nhiều ý kiến khác nhau do chưa có sự hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Xét ví dụ sau: “Em A 16 tuổi bị bệnh hiểm nghèo biết không thể qua

khỏi Em lập di chúc để lại một số tiền lớn do các tổ chức từ thiện giúp đỡ riêng em cho quỹ khuyến học khi em mất Vì thương con, dù nhà nghèo mẹ em

Trang 23

16

đồng ý ghi vào di chúc như vậy nhưng bố em A lại không đồng ý Sau khi quỹ khuyến học nhận được di sản, bố em A đòi lại” Vậy bản di chúc của A được

coi là có hiệu lực không

Từ tình huống trên và thực tế nhiều câu hỏi được đặt ra trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi lập di chúc :

- Cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý là đồng ý về việc cho phép người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi lập di chúc hay là đồng

ý về nội dung di chúc?

- Sự đồng ý của cha hoặc mẹ hay là cả cha và mẹ Trường hợp nào thì cần đến sự đồng ý của người giám hộ?

Về vấn đề thứ nhất, tôi cho rằng chỉ là việc đồng ý cho phép người từ

đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi lập di chúc vì nếu hiểu là đồng ý với nội dung di chúc thì vô hình chung pháp luật đã can thiệp đến quyền tự định đoạt, đến ý chí tự nguyện của người lập di chúc, trong khi ý chí tự nguyện là một trong những điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp Cha,

mẹ bao giờ cũng là người thừa kế theo pháp luật của người con lập di chúc (thuộc hàng thừa kế thứ nhất), vì vậy nếu người lập di chúc định đoạt tài sản cho người khác sẽ ảnh hưởng ngay lập tức đến quyền lợi của cha, mẹ nên đa phần cha, mẹ sẽ không đồng ý với sự định đoạt ấy Khi đó di chúc sẽ bị coi là không hợp pháp, và thế là trong trường hợp này, quyền định đoạt về tài sản của người lập di chúc (dù là ý chí tự nguyện) vẫn coi như bị tước bỏ hoàn toàn Và một điều đương nhiên, nếu hiểu cha mẹ phải đồng ý về nội dung di chúc thì đã bao hàm cả việc đồng ý cho lập di chúc

Như vậy, khi người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi lập

di chúc và định đoạt tài sản thì cha, mẹ hoặc người giám hộ chỉ có quyền nêu

ý kiến của mình về việc có đồng ý cho người đó lập di chúc hay không mà không được can thiệp vào nội dung của di chúc hay sự định đoạt của người lập di chúc

Trang 24

17

Về vấn đề thứ hai, căn cứ vào cách hành văn của điều luật thì chỉ cần một trong hai người là cha hoặc mẹ đồng ý là đủ, mà không cần thiết phải được sự đồng ý của hai người

Pháp luật dân sự cũng đã quy định rõ ràng về việc giám hộ tại Mục 4

Chương III, Phần thứ nhất BLDS 2005 Điều 58 BLDS 2005 quy định: “Giám

hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ)” Thông thường, cha mẹ sẽ là

người đại diện cho con cái để thực hiện các giao dịch dân sự, trừ những giao dịch có giá trị nhỏ, nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân Tuy nhiên, trong trường hợp người chưa thành niên mà không còn cả cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không

có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu, thì người giám hộ được xác định có thể là anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ [27, Điều 61] Trong trường hợp này, thì người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi chỉ có quyền lập di chúc khi được sự đồng ý của người giám hộ

Một số vấn đề khác cần đặt ra khi nghiên cứu về sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ đối với hành vi lập di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đó là:

+ Hình thức đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi lập di chúc không được điều luật

Trang 25

18

quy định, vì thế không thể tránh khỏi có nhiều cách hiểu khác nhau về hình thức đồng ý có được thể hiện bằng văn bản riêng hay chỉ cần có bút tích của cha, mẹ hoặc của người giám hộ vào bản di chúc? Hoặc chỉ cần có chữ kí của cha, mẹ hoặc của người giám hộ vào cuối bản di chúc hoặc vào từng trang của

di chúc của người ở độ tuổi từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập ra?

+ Thời điểm mà cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý là thời điểm nào?

Sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ cho người lập di chúc ở độ tuổi từ

đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được thể hiện trước khi con lập

di chúc, sau khi con lập di chúc hay trong khi con đang lập di chúc? Hay cả

ba thời điểm mà sự đồng ý của cha, mẹ hoặc của người giám hộ cho người ở

độ tuổi này lập di chúc đều có giá trị pháp lý? Hoặc sự đồng ý đó chỉ được thừa nhận vào một thời điểm trước khi di chúc được lập ra?

Những vấn đề này cần được sự hướng dẫn, giải đáp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

1.2.2 Yêu cầu về nhận thức của người lập di chúc

Độ tuổi và khả năng nhận thức là hai tiêu chí để xác định năng lực hành

vi dân sự của cá nhân Năng lực hành vi dân sự của một người trước hết là phụ thuộc vào độ tuổi của người đó Tuy nhiên, một người trên mười tám tuổi vẫn bị coi là không có năng lực hành vi dân sự nếu không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Vì vậy, bên cạnh yếu tố về tuổi tác, yếu tố nhận thức là một điều kiện không thể thiếu trong việc xác định năng lực hành vi dân sự của người lập di chúc Nếu trong lúc lập di chúc người đó không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì di chúc đó sẽ bị coi là không hợp pháp

Tại Khoản 1 Điều 652 BLDS 2005 có quy định như sau về nhận thức

của người lập di chúc: “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập

Trang 26

19

di chúc ” Pháp luật hiện hành chỉ quy định chung chung mà không nói rõ cụ

thể thế nào là minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc Theo từ điển Tiếng

Việt thì: Minh mẫn là “có khả năng nhận thức nhanh chóng, rõ ràng và ít

nhầm lẫn” còn sáng suốt là “khả năng nhận thức rõ ràng và giải quyết vấn đề đúng đắn” [21]

Cả hai từ “minh mẫn”, “sáng suốt” đều được hiểu là có khả năng nhận thức rõ ràng và giải quyết vấn đề đúng đắn, không nhầm lẫn Cụm từ trên hiểu theo cách đơn giản có nghĩa là khi lập di chúc người lập hoàn toàn tỉnh táo để hiểu được những gì mình đang làm là đúng đắn Tuy nhiên, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt đến mức độ nào? Người lập di chúc có phải giám định sức khỏe trước khi lập di chúc hay không? Nếu người lập di chúc phải giám định sức khỏe trước khi lập di chúc thì cơ quan nào có thẩm quyền giám định? Có cần hay không cần kết quả giám định sức khỏe thì cơ quan nhà nước

có thẩm quyền mới được chứng thực vào di chúc…?

Hiện nay, pháp luật dân sự của nước ta chưa có quy định nào về việc người lập di chúc phải giám định sức khỏe trước khi lập di chúc Vì vậy, người lập di chúc có thể khám sức khỏe hoặc không khám sức khỏe trước khi lập di chúc Có một số trường hợp khám sức khỏe thì cơ quan khám sức khỏe cũng không thống nhất: Có trường hợp khám tại trung tâm y tế cấp huyện, tỉnh; nhưng cũng có trường hợp lại đi khám ở các bệnh viện về tâm thần Trên thực tế người lập di chúc ít khi đi giám định sức khỏe, khám sức khỏe trước khi lập di chúc Vì vậy, tình trạng sức khỏe của người lập di chúc tại thời điểm lập di chúc không được thể hiện Khi có tranh chấp xảy ra, bên đương

sự nào cho rằng người lập di chúc không đủ sức khỏe, ảnh hưởng đến sự minh mẫn của người lập di chúc trong khi lập di chúc thì họ phải có nghĩa vụ chứng minh Thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế tại Tòa án nhân dân cho thấy tình trạng này diễn ra tương đối phổ biến

Trang 27

20

Bên yêu cầu chia thừa kế theo di chúc có nghĩa vụ xuất trình trước Tòa

án các chứng cứ liên quan đến việc người lập di chúc hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc Ngược lại, bên yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật

có nghĩa vụ xuất trình các chứng cứ để chứng minh người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt để bác bỏ yêu cầu chia thừa kế theo di chúc

Về nguyên tắc, tất cả các di chúc đều được coi là do người để lại di sản lập trong lúc minh mẫn, sáng suốt Vì vậy, đương sự nào cho rằng khi lập di chúc người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt phải có nghĩa vụ chứng minh trước Tòa án có thẩm quyền Chỉ khi có đầy đủ cơ sở khẳng định người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt như: Kết luận của cơ quan y tế, lời khai của những người làm chứng, chứng kiến, bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì Tòa án có thẩm quyền tuyên bố di chúc vô hiệu Thông thường, những di chúc được chứng nhận, chứng thực của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ít khi xảy ra tranh chấp về việc người lập di chúc có minh mẫn, sáng suốt hay không Tranh chấp về việc minh mẫn, sáng suốt của người lập di chúc lại thường xảy ra đối với những di chúc không có chứng nhận, chứng thực Vì vậy, để hạn chế tranh chấp thì việc lập di chúc có chứng thực, chứng nhận cần được khuyến khích [20, tr.32-33]

Theo quy định của pháp luật thì người đã thành niên có quyền lập di chúc (trừ những người không có năng lực hành vi dân sự), nhưng pháp luật lại không quy định rõ người bị hạn chế năng lực hành vi sân sự theo quy định tại Điều 23 BLDS 2005, khi lập di chúc có phải hỏi ý kiến và phải được sự đồng

ý của người đại diện theo pháp luật của người đó hay không?

Điều 23 BLDS 2005 quy định:

“1 Người nghiện ma túy hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến

phá tán tài sản của gia đình, thì theo yêu cầu của những người có quyền, lợi ích liên quan hoặc tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Trang 28

21

2 Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự và phạm vi đại diện do Tòa án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhỏ nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày”

Như vậy, nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 647 BLDS 2005, thì những người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 23 BLDS 2005, vẫn có quyền lập di chúc với tư cách của người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự

Ngược lại, nếu xét theo quy định tại Điều 23 BLDS 2005, thì tuy rằng một người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhưng đã bị hạn chế theo một bản án có hiệu lực pháp luật, thì khi người đó xác lập giao dịch phải có sự đồng ý của người đại diện Như vậy, người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự theo một bản án có hiệu lực, khi lập di chúc mà không có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, thì di chúc do người đó lập ra có hiệu lực pháp luật không?

Hai cách hiểu trái ngược nhau đã và sẽ không tránh khỏi những sai sót trong việc xác định chủ thể có quyền lập di chúc và tính hợp pháp khi định đoạt ý chí của người lập di chúc Cần có quy định rõ về vấn đề này để tạo sự thống nhất giữa các điều luật tránh những cách hiểu trái ngược nhau Theo tôi: Người lập di chúc sau khi bị tòa tuyên bố là hạn chế năng lực hành vi dân

sự mà di chúc đó không có sự đồng ý của người đại diện, trường hợp này di chúc được lập cũng không có hiệu lực pháp luật

Đối với những người đã thành niên nhưng bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì không có quyền lập di chúc Nếu họ lập di chúc, thì di chúc đó không được công nhận

Trang 29

22

1.3 Quyền của người lập di chúc

Nếu như thừa kế xuất hiện ngay cả khi xã hội chưa phân chia giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật thì quyền thừa kế của cá nhân chỉ ra đời và tồn

tại trong những xã hội đã phân chia giai cấp và có nhà nước.“Quyền là khái

niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế” [34]

Bằng việc ban hành các văn bản pháp luật, nhà nước qui định quyền để lại thừa kế và nhận thừa kế của các chủ thể, qui định trình tự và các điều kiện dịch chuyển tài sản cũng như qui định các phương thức dịch chuyển tài sản từ

người đã chết sang những người còn sống khác Trong quan hệ thừa kế các chủ

thể có những quyền và nghĩa vụ nhất định Trong đó, người có tài sản, trước khi chết có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác thông qua việc lập

di chúc, pháp luật cho phép người lập di chúc thực hiện các hành vi ứng xử

theo ý chí của mình phù hợp với các quy định của pháp luật Như vậy, Quyền

của người lập di chúc là khả năng pháp luật cho phép người lập di chúc xử sự, lựa chọn khi thực hiện hành vi lập di chúc và những việc liên quan

Quyền của người lập di chúc xuất phát từ quyền của chủ sở hữu đối với tài sản của mình Pháp luật Việt Nam tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân với tư cách là chủ sở hữu đối với tài sản của họ Vì vậy, trước khi chết

cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình Từ chỗ pháp luật quy định cho công dân có quyền sở hữu tài sản và cũng dựa vào đó pháp luật quy định cho họ có các quyền năng trong quan hệ thừa kế [26] Quyền của người lập di chúc nói riêng cũng như quyền thừa kế nói chung là một phương tiện để củng cố sở hữu của công dân

Người lập di chúc có thể dựa vào ý chí tình cảm của mình (mang tính chủ quan), định đoạt cho người khác được hưởng di sản sau khi qua đời

Trang 30

Quyền thừa kế của công dân là một quyền Hiến định, BLDS 2005 cụ thể hóa quyền này của công dân tại Phần thứ tư Ngay điều đầu tiên trong phần thừa kế (Điều 631 BLDS 2005) đã đưa ra nguyên tắc chung nhất, đó là

“Quyền thừa kế của cá nhân” Nguyên tắc này được thể hiện cụ thể như sau:

Pháp luật bảo đảm quyền định đoạt của cá nhân đối với tài sản sau khi cá nhân đó chết thông qua việc lập di chúc, nếu không lập di chúc để định đoạt tài sản của mình thì việc thừa kế được giải quyết theo pháp luật Như vậy, thừa kế được thực hiện theo hai phương thức: Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất như máy móc, kho xưởng, nguyên vật liệu; vốn bằng tiền, vàng, ngoại tệ với số lượng không hạn chế, cổ phiếu…Do đó, tất cả mọi tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân sẽ trở thành di sản thừa kế khi người đó chết đi [35, tr307] Và thông qua việc lập di chúc cá nhân sử dụng những quyền của mình trong phạm vi, giới hạn nhất định để định đoạt tài sản cho người khác sau khi chết

+ Quyền của người lập di chúc là sự biểu hiện của sự tự do ý chí, mang tính chủ quan

Quyền của người lập di chúc được quy định tại Điều 631 BLDS 2005

như sau: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại

tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” Có nghĩa là nếu người chết để lại di chúc (hợp pháp) thì

Trang 31

24

việc thừa kế sẽ tiến hành theo di chúc, theo sự định đoạt của người có tài sản

mà trước lúc chết, họ đã thể hiện ý nguyện của mình trong việc phân chia tài sản thuộc quyền sở hữu của người đó Tuy nhiên, việc định đoạt của người lập di chúc bị hạn chế trong trường hợp pháp luật quy định tại Điều 669 BLDS 2005 [35, tr.309]

Người lập di chúc có toàn quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác Như chúng ta đã biết, di chúc chính là sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc Ý chí đơn phương này được thể hiện qua việc người lập di chúc không phải bàn bạc với bất kỳ ai trong việc định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình (trường hợp lập di chúc chung vợ chồng thực chất thì vẫn là phần tài sản của ai thì người đó có quyền định đoạt) Người lập di chúc không có nghĩa vụ phải trao đổi với những người thừa kế về nội dung di chúc Người lập di chúc phải tự nguyện, không bị đe dọa, cưỡng ép trong việc lập di chúc Bằng việc lập di chúc, người để lại di sản đã xác lập một giao dịch dân

Khi thực hiện quyền định đoạt trong di chúc người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế, dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ định ng-ười giữ di chúc; người quản lý di sản, người phân chia di sản

Trang 32

25

Trong trường hợp di chúc đã được xác lập, nếu cần có sự thay đổi "ý nguyện" cũng như nội dung, người lập di chúc còn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào

Quyền tự định đoạt của cá nhân trong việc lập di chúc một mặt đã ghi nhận sự bảo hộ của pháp luật đối với quyền về thừa kế, mặt khác nó còn thể hiện một cách đầy đủ nhất các quyền dân sự chủ quan của mỗi cá nhân trong việc định đoạt toàn bộ tài sản của mình Do tính chất chủ quan của ý chí và mục đích chuyển dịch tài sản đã phản ánh tính độc lập và tự định đoạt của người lập di chúc Ý chí của cá nhân khi lập di chúc thể hiện hành vi pháp lí đơn phương của người lập di chúc, hoàn toàn độc lập, tự định đoạt tài sản của mình mà không có sự phụ thuộc nào vào bất kì ý kiến của chủ thể nào

Quyền của người lập di chúc bao gồm phạm vi quyền và giới hạn quyền của người lập di chúc Tôn trọng quyền tự do định đoạt tài sản của cá nhân, pháp luật quy định cá nhân có các quyền năng cụ thể trong việc lập di chúc Theo đó phạm vi quyền của người lập di chúc bao gồm những quyền sau đây: Quyền chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; quyền phân định phần di sản cho từng người thừa kế; quyền dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản; quyền chỉ định người giữ di chúc, người quản lí di sản, người phân chia di sản [27, Điều 648]; quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào [27, Điều 662]

Quyền định đoạt của cá nhân trong khi lập di chúc là sự biểu hiện của

sự tự do ý chí Tuy nhiên, tự do ý chí không có nghĩa là tùy tiện, càng không

có nghĩa là được làm tất cả những gì mình muốn mà tự do phải là sự nhận thức được cái tất yếu, quyền tự do của người này phải luôn hướng tới tự do và lợi ích của người khác Giữa tự do ý chí của một cá nhân với lợi ích chung

Trang 33

26

của toàn xã hội, pháp luật về thừa kế của nhà nước ta một mặt luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của người lập di chúc, mặt khác, luôn đặt quyền tự định đoạt đó trong một khuôn khổ nhất định, nhằm tạo ra một khung hành lang pháp lý để xác định rõ người lập di chúc có những quyền gì, những quyền đó

bị hạn chế trong những trường hợp nào Bởi vì “Quyền phải gắn với phạm vi

quyền, nghĩa vụ và năng lực của cá nhân và phải chịu tác động trong phạm vi giới hạn của pháp luật hay vùng lãnh thổ nhất định Quyền của cá nhân chỉ bị tước bỏ bởi pháp luật, chấm dứt khi người đó chết” [34]

Quyền thừa kế xuất phát từ quan điểm coi gia đình là tế bào của xã hội, phải đảm bảo quyền lợi chính đáng của mọi thành viên và sự ổn định gia đình Măt khác, thông qua quyền thừa kế, giáo dục tinh thần trách nhiệm của mỗi thành viên đối với gia đình Do vậy, bên cạnh việc quy định người lập di chúc được hưởng các quyền nhất định, pháp luật còn giới hạn quyền của người lập

di chúc trong những phạm vi nhất định nhằm bảo vệ lợi ích của những người liên quan Quyền của người lập di chúc bị giới hạn trong một số trường hợp sau: Giới hạn trong việc giao nghĩa vụ cho người thừa kế; phải dành một phần

di sản cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc; giới hạn trong trường hợp để lại di sản dùng vào việc thờ cúng, di tặng; giới hạn trong việc phân chia di sản thừa kế

Như vậy, có thể nói việc pháp luật vừa ghi nhận vừa giới hạn quyền của người lập di chúc là hai mặt của một vấn đề, là hai phạm trù đối lập nhưng cùng thống nhất với nhau nhằm mục tiêu góp phần củng cố, giữ vững tình yêu thương gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của những người có liên quan, những người có ảnh hưởng trực tiếp bởi việc tự do định đoạt tài sản của người lập di chúc nhưng vẫn tôn trọng, đảm bảo được các quyền của người lập di chúc

Trang 34

27

1.4 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về quyền của người lập di chúc ở Việt Nam

1.4.1 Giai đoạn trước năm 1945

Chế định thừa kế được quy định rất sớm trong pháp luật Việt Nam Dưới thời phong kiến, theo tài liệu còn lưu trữ được đến ngày nay, chế định thừa kế đã được quy định trong Bộ Quốc triều Hình luật (Bộ luật Hồng Đức) dưới triều đại nhà Lê và Bộ Hoàng Việt Luật Lệ (Bộ luật Gia Long) dưới triều đại nhà Nguyễn

Trong Quốc triều Hình luật, mặc dù luật không xây dựng các quy định

về thừa kế thành các phần, các chương nhưng qua nội dung các điều luật có thể thấy vấn đề thừa kế được quy định từ Điều 374 đến Điều 400 và nằm rải rác tại một số điều khác Các quy định đã thể hiện việc tôn trọng ý muốn và quyền quyết định của người có tài sản Trong Bộ luật Hồng Đức quy định các con (con trai, con gái, con nuôi) đều có quyền thừa kế của cha, mẹ Mọi người đều có quyền để lại hương hỏa cho con cháu Điều 388 Bộ luật Hồng Đức quy

định: “Cha mẹ mất cả, có mộng đất, chưa kịp để lại chúc thư, mà anh chị em

tự chia nhau, thì lấy một phần 20 số mộng đất làm hương hỏa, giao cho người con trai trưởng giữ, còn thì chia nhau Phần con của vợ lẽ, nàng hầu, thì phải kém Nếu đã có lệnh của cha mẹ và chúc thư, thì phải theo đúng, trái thì mất phần mình” Điều 390 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Người làm cha mẹ phải liệu tuổi già mà lập sẵn chúc thư Cha mẹ làm chúc thư phân chia tài sản, thiết lập hương hỏa trong chúc thư” [1]

Như vậy, Bộ luật Hồng Đức đã quy định quyền lập chúc thư để lại di sản, đặc biệt là những người tuổi cao Cha mẹ có quyền lập chúc thư phân định tài sản cho con cái, xác định phần hương hỏa trong chúc thư

Trong Hoàng Việt Luật lệ, vấn đề thừa kế được quy định tại Quyển 6 -

Hộ luật Tuy nhiên, theo như nhận xét của cố Giáo sư Vũ Văn Mẫu về Hoàng

Trang 35

28

Việt Luật lệ thì “…Bao nhiêu những sự tân kỳ mới lại trong bộ luật triều Lê,

không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong luật nhà Nguyễn Qua những điều khoản của bộ luật này, hình ảnh yêu dấu của dân tộc Việt Nam đã được nhường chỗ cho hình ảnh lạnh lùng xa lạ của dân tộc Mãn thanh…Vì một việc làm vô thức như vậy, mà trong luật lệ của nhà Nguyễn, không còn những điều khoản liên quan đến hương hỏa, đến chúc thư, đến các điều kiện về giá thú, đến chế độ tài sản của vợ chồng” [19] Bộ luật Gia Long (hay còn gọi là

Hoàng Việt luật lệ) là phiên bản của Bộ luật Mãn Thanh (Trung Quốc) Bộ luật không thừa nhận quyền thừa kế của con gái mà chú trọng đến quyền lợi của con trai, thể hiện rõ việc trọng nam khinh nữ Tuy nhiên, bộ luật cũng công nhận vai trò của việc thừa kế theo di chúc, thể hiện tại Điều 388 Bộ luật

này quy định: "Nếu có mệnh lệnh của cha mẹ, phải theo đúng Vi phạm điều

tư pháp khác nhau và các bộ luật riêng biệt cũng được ban hành Theo đó, vấn

đề thừa kế ở ba kỳ được quy định trong các văn bản pháp luật khác nhau Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ vấn đề thừa kế được quy định lần lượt trong Bộ dân luật Bắc Kỳ được ban hành năm 1931 với nhan đề chính thức là Bộ dân luật được thi hành tại các Tòa Nam án Bắc Kỳ và Bộ dân luật Trung Kỳ được ban hành năm 1936 có tên gọi là Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật Chế định thừa kế trong dân luật Bắc Kỳ 1931 và Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật tương đối giống nhau Trong hai bộ luật này, phần thừa kế được phân thành những quy định chung, thừa kế có di chúc, thừa kế theo pháp luật và các quy định khác như kỵ, điền, hầu điền…Bộ dân luật Bắc Kỳ quy định: Người thành niên hoặc đã thoát

Trang 36

29

quyền, nếu có đủ trí khôn đều có thể làm di chúc để xử trí tất cả tài sản của mình (Điều 321) Người cha có thể lập chúc thư để định đoạt tài sản của mình, nhưng phải giữ quyền lợi cho vợ chính Vợ chính, vợ thứ trong khi đương giá thú có thể định đoạt tài sản riêng của mình nếu chồng ưng thuận (Điều 320) Người lập di chúc có thể truất quyền thừa kế của một hay nhiều người trong những người được thừa kế Việc truất quyền thừa kế phải được lập thành văn bản do Viên quản lý văn khế lập hoặc do Lý trưởng nơi cư trú của người lập chúc thư Người lập di chúc có quyền dành một phần di sản để thờ cúng Chúc thư phải làm thành văn bản hoặc do viên quản lý văn khế làm

ra hoặc có công chứng thị thực Chúc thư không có viên chức thị thực phải do người lập chúc thư viết lấy và ký tên Nếu người lập chúc thư đọc để người khác viết thay thì phải có ít nhất hai người đã thành niên làm chứng Người làm chứng thường là lý trưởng tại nơi trú quán của người lập chúc thư, nếu ở

xa không về nơi trú quán được thì chúc thư ấy phải có sự chứng kiến của lý trưởng nơi hiện ở của người lập chúc thư (Điều 316)

Khi người lập chúc thư muốn thay đổi một phần hay toàn bộ chúc thư, thì bản chúc thư sau phải tiến hành đúng những thủ tục trên và phải nêu rõ việc người lập chúc thư thay đổi một phần hay toàn bộ bản chúc thư, nếu không nói rõ thì chỉ những điều khoản nào không hợp hoặc có trái với bản chúc thư sau mới bị bỏ mà thôi

Bộ dân luật Trung Kỳ hay còn gọi là Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật gồm

1709 điều, được chia làm 5 quyển Có thể nói, Bộ luật này hầu như sao chép lại nhiều điều khoản trong Bộ dân luật Bắc Kỳ, ví dụ Điều 341 Bộ dân luật Trung Kỳ giống Điều 346 Bộ dân luật Bắc Kỳ; Điều 359 Bộ dân luật Trung

Kỳ giống Điều 360 Bộ dân luật Bắc Kỳ; Điều 111 Bộ dân luật Trung Kỳ giống Điều 113 Bộ dân luật Bắc Kỳ; Điều 313 Bộ dân luật Trung Kỳ giống Điều 321 Bộ dân luật Bắc Kỳ; Điều 312 Bộ dân luật Trung Kỳ giống Điều

Trang 37

30

320 Bộ dân luật Bắc Kỳ…

Ở Nam Kỳ, Bộ dân luật giản yếu ban hành kèm theo Sắc lệnh ngày

3/10/1883 của Tổng thống Pháp,“song khác với hai Bộ dân luật Bắc và Trung

Bộ dân luật giản yếu chỉ quy định toàn thể các vấn đề được đề cập trong quyển thứ 1 của Bộ dân luật Pháp Tất cả các vấn đề ấy đều liên quan về nhân pháp (nghĩa là luật pháp nói về người, gồm các vấn đề liên quan đến gia đình và thân phận, năng lực của con người) Còn các vấn đề về thừa kế,

và chế độ tài sản của vợ chồng không được đề cập tới” [19, tr.215] Do đó,

trong các việc kiện tụng liên quan đến thừa kế, “các thẩm phán trước năm

1949 còn phải dựa vào Luật Gia Long để xét xử” [18, tr.215], thậm chí trong

nhiều trường hợp “phải nại tới những điều khoản trong luật Nhà Lê để bổ

khuyết cho Luật Nhà Nguyễn” [19, tr.216]

1.4.2 Giai đoạn từ 1945 đến trước ngày 1/7/1996

1.4.2.1 Giai đoạn 1945 đến 1975

Không lâu sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL về việc tạm thời áp dụng các luật lệ cũ, theo đó,

“Cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt

Nam, các luật hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ” [11, Điều 1], nếu những quy định trong các luật lệ cũ “không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa” [11, Điều12]

Phù hợp với quy định của Sắc lệnh này, Bộ dân luật Bắc Kỳ ban hành năm

1931, Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật ban hành năm 1936 và Bộ dân luật giản yếu Nam Kỳ năm 1883 vẫn có hiệu lực thi hành ở Việt Nam sau ngày thành lập chính quyền nhân dân Ngày 22/6/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 97/SL về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật, theo đó

Điều 1 Sắc lệnh này quy định: “Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi

Trang 38

31

người ta hành sự nó đúng với quyền lợi của nhân dân” [12] Sự ra đời của

Hiến pháp năm 1959 đã đánh dấu bước trưởng thành lớn của công tác lập

pháp nước ta Quyền thừa kế được Hiến pháp ghi nhận tại Điều 19: "Nhà

nước chiểu theo pháp luật để bảo hộ quyền thừa kế về tài sản của công dân"

[22] Đây là một nguyên tắc Hiến định, là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền thừa kế cho công dân

Sau năm 1954, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, miền Nam bị đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai thống trị Do đó, ở hai miền Nam, Bắc của Việt Nam thời gian từ năm 1954 đến năm 1975 về cơ bản có hai hệ thống pháp luật khác nhau Tuy nhiên, Nhà nước không thể ban hành ngay hệ thống pháp luật mới, cho nên Nhà nước giao cho Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp không áp dụng pháp luật cũ mà áp dụng pháp luật của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và đường lối chính sách của Đảng

và Nhà nước để xét xử Ngày 10/7/1959 Tòa án nhân dân tối cao ban hành Chỉ thị số 772-CT/TANDTC về việc đình chỉ áp dụng luật lệ của đế quốc và phong kiến Để thống nhất đường lối giải quyết các tranh chấp về thừa kế, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành một số văn bản hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp về đường lối xét xử, gồm các văn bản sau: Thông tư số 549/NCPL ngày 27/8/1968 Tổng kết kinh nghiệm và hướng dẫn đường lối xử các việc tranh chấp về thừa kế; Thông tư số 02/TATC ngày 02/8/1973 Hướng dẫn đường lối xử lý các tranh chấp về thừa kế di sản của liệt sỹ

Tại miền Nam Việt Nam, thời gian đầu để giải quyết các tranh chấp

dân sự nói chung và vấn đề thừa kế nói riêng thì “luật và án lệ áp dụng ở

Nam phần đại khái cũng không khác Bộ dân luật Bắc Kỳ hiện hành ở Bắc phần và Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật hiện hành ở Trung phần” [29,

tr.161-162] Năm 1972, Bộ dân luật của chế độ Việt Nam Cộng hòa được ban hành kèm theo Sắc luật số 028/TT/SLU ngày 20 tháng 12 năm 1972 của Tổng

Trang 39

32

thống Việt Nam Cộng hòa Nội dung của Bộ dân luật này gần giống với nội dung của Bộ dân luật Bắc Kỳ và Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật Trong đó, chế định thừa kế cũng đã được qui định cụ thể trong Bộ dân luật này Điều thứ

498 Bộ dân luật 1972 khẳng định: “Di sản được truyền cho ai là do luật pháp

định hay là do ý muốn của người quá cố” [5]

Về quyền của người lập di chúc được quy định tại một số điều:

Điều thứ 503 Bộ dân luật 1972 quy định: “Một thừa kế còn có thể bị

truất quyền do chúc thư của người mệnh một để lại có viện dẫn lý do Nói về

sự hủy bãi và thất hiệu chúc thư”; Điều thứ 582 Bộ dân luật 1972 quy định

“Người lập chúc thư có toàn quyền hủy bãi toàn thể, một phần chúc thư của

mình đã làm ra hoặc bằng một chúc thư làm sau cũng theo các thể thức nói ở trên, hoặc bằng một chứng thư hủy bãi lập tại phòng chưởng khế theo các điều kiện luật định”; Điều thứ 583 Bộ dân luật 1972 quy định: “Nếu chúc thư làm sau không nói rõ là hủy bãi chúc thư trước thì chỉ những điều khoản nào trong chúc thư trước trái ngược với chúc thư sau hay xem ra không thể dung hòa được mới bị coi là bị hủy bãi mà thôi”; Điều thứ 585 Bộ dân luật 1972

quy định: “Mọi việc đoạn mại, đổi chác do người lập chúc ưng thuận về một

tài sản đã được di tặng trong chúc thư, sẽ có hiệu quả hủy bãi việc di tặng về tài sản đó, dầu rằng việc đoạn mại hay đổi chác vô hiệu vì một lý do nào Nếu tài sản di tặng được đem cầm cố hay điển mại, thì người thụ di vẫn được hưởng tài sản ấy, nhưng phải chuộc lại”; Điều thứ 586 Bộ dân luật 1972 quy

định: “Nếu người thụ di chết trước người lập chúc, sự di tặng đối với người

ấy sẽ đương nhiên thất hiệu”; Điều thứ 587 Bộ dân luật 1972 quy định: “Việc người thụ di bị bất xứng hay truất quyền sẽ có hậu quả hủy bãi sự di tặng đối với người ấy”; Điều thứ 588 Bộ dân luật 1972 quy định: “Sự di tặng cũng có thể bị hủy bãi, nếu người thụ di không chịu thi hành những nghĩa vụ do người lập chúc bó buộc” [5]

Trang 40

33

Vấn đề hương hỏa được quy định tại các điều:

Điều thứ 600 Bộ dân luật 1972 quy định: “Hương hỏa là tài sản được

giao riêng cho người thừa tự để lấy huê lợi dùng vào việc phụng tự người quá

cố hoặc của người phối ngẫu và tổ tiên nội tộc của người ấy nữa Hương hỏa bất khả đoạn mại và bất khả thời tiêu” Về sự thành lập hương hỏa: Điều thứ

601 Bộ dân luật 1972 quy định: “Sự thành lập hương hỏa phải có giấy tờ mới

hữu hiệu Nếu tài vật được lập thành hương hỏa là bất động sản, phải làm chứng thư trước chưởng khế hay chứng thư có thị thực Nếu là động sản, một

tư chứng thư cũng đủ, miễn là người lập hương hỏa biết đọc và biết viết Có thể lập hương hỏa ngay trong chúc thư hay tờ phân sản, trong các trường hợp này, chỉ cần tuân theo các thể thức lập các chứng thư ấy Người lập hương hỏa phải đủ 18 tuổi, trừ phi trước đó đã được thoát quyền do hôn thú”; Điều

thứ 605 Bộ dân luật 1972 quy định: “Phần hương hỏa không bao giờ được

quá giới hạn một phần năm tổng số tài sản của người thành lập, mà cũng không được quá giới hạn diện tích tối đa theo luật định Nếu ngoài hương hỏa còn có được thiết lập các tư sản khác như kỵ điền, hậu điền, thì sự giới hạn trên phải được áp dụng cho tất cả các thứ tư sản hợp lại”; Điều thứ 606 Bộ

dân luật 1972 quy định: “Quá giới hạn kể trên, hương hỏa có thể bị giảm

thiểu cho vừa tới mức cho phép, theo lời yêu cầu của các thừa kế và chủ nợ của người này” [5]

Như vậy, nghiên cứu vấn đề thừa kế từ 1945 - 1975 chúng ta thấy, pháp luật về thừa kế Việt Nam trong giai đoạn này tuy cơ bản vẫn tiếp tục duy trì theo ba bộ pháp điển là Bộ dân luật Bắc Kỳ, Bộ dân luật Trung Kỳ và Pháp quy giản yếu (1873), nhưng lại mang một nội dung mới rất tiến bộ, hướng tới việc xoá bỏ những quan niệm lạc hậu, tư tưởng trọng nam, khinh nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ, bình đẳng mọi công dân trong lĩnh vực thừa kế

Ngày đăng: 29/02/2016, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ dân luật ban hành theo Sắc luật số 028/TT/SLU ngày 20 tháng 12 năm 1972 của Tổng thống Việt Nam cộng hòa (1973), Nxb Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ dân luật ban hành theo Sắc luật số 028/TT/SLU ngày 20 tháng 12 năm 1972 của Tổng thống Việt Nam cộng hòa
Tác giả: Bộ dân luật ban hành theo Sắc luật số 028/TT/SLU ngày 20 tháng 12 năm 1972 của Tổng thống Việt Nam cộng hòa
Nhà XB: Nxb Khai Trí
Năm: 1973
2. Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931 (1988), NXB Văn Hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931
Tác giả: Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931
Nhà XB: NXB Văn Hóa
Năm: 1988
3. Bộ luật dân sự Nhật Bản (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự Nhật Bản
Tác giả: Bộ luật dân sự Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
4. Bộ luật Dân sự Pháp (1998), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự Pháp
Tác giả: Bộ luật Dân sự Pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
5. C.Mac - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 2, tr.860, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mac - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1993
7. Bùi Tường Chiểu (1974), Dân luật, tr.61, Nxb Luật khoa Đại học Sài Gòn, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân luật
Tác giả: Bùi Tường Chiểu
Nhà XB: Nxb Luật khoa Đại học Sài Gòn
Năm: 1974
8. Chính phủ (1945), Sắc lệnh 47/SL ngày 10/10/1945 về việc tạm thời áp dụng các luật lệ cũ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh 47/SL ngày 10/10/1945 về việc tạm thời áp dụng các luật lệ cũ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1945
9. Chính phủ (1950), Sắc lệnh 97/SL ngày 22/05/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh 97/SL ngày 22/05/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1950
10. Đỗ Văn Đại (2013), Luật Thừa kế Việt Nam Bản án và bình luận bản án, Tập 1, tr.278-279, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thừa kế Việt Nam Bản án và bình luận bản án, Tập 1
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
11. Đỗ Văn Đại (2013), Luật Thừa kế Việt Nam Bản án và bình luận bản án, Tập 2, tr.623, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thừa kế Việt Nam Bản án và bình luận bản án, Tập 2
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
12. Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật dân sự Việt Nam, tr.158, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điện
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1999
13. Hội đồng nhà nước (1990), Pháp lệnh thừa kế, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh thừa kế
Tác giả: Hội đồng nhà nước
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1990
14. Hội Luật gia Việt Nam (2005), Tìm hiểu nội dung cơ bản của BLDS 2005, tr.9, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nội dung cơ bản của BLDS 2005
Tác giả: Hội Luật gia Việt Nam
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2005
15. Nguyễn Đình Huy (2001), Quyền thừa kế trong luật La Mã cổ đại, Tạp chí Khoa học pháp lý số 04/200, Trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền thừa kế trong luật La Mã cổ đại
Tác giả: Nguyễn Đình Huy
Năm: 2001
16. Đoàn Bá Lộc (1961), Dân luật thực hành, tr.133, Soạn giả xuất bản 4P, Đường Hùng Vương, Thị Nghè - Gia Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân luật thực hành
Tác giả: Đoàn Bá Lộc
Năm: 1961
17. Vũ Văn Mẫu (1973), Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử, tr.215-216, Quyển thứ nhất, Tập nhất, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử
Tác giả: Vũ Văn Mẫu
Năm: 1973
18. Nguyễn Hồng Nam (2005), Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của BLDS, tr.32-33, tr.45, Luận văn thạc sĩ Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của BLDS
Tác giả: Nguyễn Hồng Nam
Năm: 2005
19. Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2003
20. Quốc hội (1959), Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1959
21. Quốc hội (1980), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, NXB Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 1980

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w