Hiến pháp, pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng đã có những quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để quyền và lợi ích của h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHI LONG
BảO ĐảM QUYềN CON NGƯờI CủA NGƯờI Bị TạM GIữ,
Bị CAN, Bị CáO TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHI LONG
BảO ĐảM QUYềN CON NGƯờI CủA NGƯờI Bị TạM GIữ,
Bị CAN, Bị CáO TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Phi Long
Trang 4CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO 6 1.1 Quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các
điều ước quốc tế và pháp luật của một số nước 6
1.1.1 Quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các điều
ước quốc tế 6 1.1.2 Quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật
tố tụng hình sự của một số nước 8
1.2 Cơ sở lý luận của việc quy định quyền con người của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam 15
1.2.1 Quan điểm, chính sách của Đảng về tôn trọng và bảo đảm quyền
con người 15 1.2.2 Quy định của Hiến pháp 16
1.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 20
1.3.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền của người
bị tạm giữ 20 1.3.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền của bị can 22 1.3.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền của bị cáo 23 1.3.4 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo đảm quyền
con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thông qua một số nguyên tắc tố tụng 27
Trang 51.3.5 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo đảm quyền
con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thông qua quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa 30 1.3.6 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo đảm quyền
con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thông qua quy định về nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng 32 1.3.7 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo đảm quyền
con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thông qua quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự 34 1.3.8 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo đảm quyền
con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thông qua quy định về trách nhiệm bồi thường, trách nhiệm khác 35
Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA
NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK) 38 2.1 Khái quát đặc điểm tình hình tỉnh Đắk Lắk và thực trạng bảo
đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự từ năm 2009 - 2014 38
2.1.1 Khái quát đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, dân cư tỉnh
Đắk Lắk 38 2.1.2 Thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự từ năm 2009 - 2014 39
2.2 Thực trạng áp dụng các quy định của BLTTHS về bảo đảm
quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong một số trường hợp cụ thể 44 2.3 Những hạn chế và nguyên nhân trong việc bảo đảm quyền con
người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam 62
2.3.1 Hạn chế từ các quy định của pháp luật 62 2.3.2 Nguyên nhân từ thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật 73
Trang 6Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC BẢO
ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ
CAN, BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 81
3.1 Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật 81
3.1.1 Kiến nghị hoàn thiện các nguyên tắc trong TTHS 81
3.1.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định về quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 82
3.1.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền, nghĩa vụ của NBC 84
3.1.4 Kiến nghị sửa đổi bổ sung quy định về những căn cứ và thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn áp dụng biện pháp ngăn chặn 87
3.1.5 Kiến nghị bỏ biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp 88
3.1.6 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung BLTTHS theo hướng rút ngắn thời hạn tạm giam 89
3.1.7 Kiến nghị cần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam 90
3.1.8 Kiến nghị sớm ban hành Luật tạm giữ, tạm giam 91
3.2 Kiến nghị về tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật 92
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103
Trang 7CQĐT: Cơ quan điều tra
ĐTV: Điều tra viên
GCNNBC: Giấy chứng nhận người bào chữa KSV: Kiểm sát viên
PLTTHS: Pháp luật tố tụng hình sự
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TTHS: Tố tụng hình sự
THTT: Tiến hành tố tụng
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình đình chỉ và tuyên không có tội 41
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG Ở PHỤ LỤC
Bảng 1: Tình hình bắt tạm giữ từ năm 2011 – 2014 104 Bảng 2: Số bị can bị khởi tố và bắt tạm giam từ năm 2011 – 2014 104 Bảng 3: Tình hình kiểm sát việc tạm giữ từ năm 2011 – 2014 104 Bảng 4: Tình hình kiểm sát tạm giam từ năm 2011 – 2014 105 Bảng 5: Thống kê số liệu phản ánh nguồn lực thực hiện chức năng
buộc tội trong TTHS của cơ quan điều tra trong Công an
thông tin, tài liệu mà luật sư thu thập được phục vụ cho
Bảng 11: Nguyên nhân những khó khăn, vướng mắc mà luật sư
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Ở PHỤ LỤC
Số hiệu
Biểu đồ 1: Cơ quan điều tra tạo điều kiện cho người bị bắt, bị cáo tiếp
cận với người bào chữa (dựa trên % số người trả lời) 109 Biểu đồ 2: Nguyên nhân cơ quan tiến hành tố tụng từ chối cấp giấy
Biểu đồ 3: Người bào chữa được tạo điều kiện khi muốn gặp bị can bị
Biểu đồ 4: Nguyên nhân của việc cơ quan THTT không tạo điều kiện
cho người bào chữa gặp thân chủ của họ bị tạm giữ, tạm
Biểu đồ 5: Thông báo của cơ quan điều tra về tiến trình tố tụng cho
Biểu đồ 6: Cơ quan điều tra tạo điều kiện cho người bào chữa tham
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đấu tranh phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng để bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống yên bình cho nhân dân Trong cuộc đấu tranh với tội phạm, một vấn đề không kém phần quan trọng là việc bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong đó có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Hiến pháp, pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng đã có những quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để quyền và lợi ích của họ không bị xâm hại, hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật từ phía các cơ quan và người tiến hành tố tụng Tuy nhiên, pháp luật về bảo đảm quyền của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo ở nước ta hiện nay vẫn còn một số bất cập, còn những quy định chưa rõ ràng, mâu thuẫn hoặc còn bỏ ngỏ Trong việc áp dụng pháp luật, có trường hợp nhận thức người tiến hành tố tụng còn khác nhau
Để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, Đảng ta đã có những quan điểm chỉ đạo về cải cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, đặc biệt tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020,
Bộ chính trị đã xác định mục tiêu là:
Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao [5]
Thực tiễn áp dụng cho thấy trong quá trình giải quyết vụ án hình sự trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng tình trạng cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng xâm phạm đến các quyền con người, đặc biệt là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn còn xảy ra Do đó, việc nhận thức đầy đủ và hoàn thiện các quy định về bảo vệ quyền của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo và thực thi những quy định ấy trên thực tế, kiên quyết xử lí nghiêm khắc các hành vi vi phạm là yêu cầu cấp thiết, góp phần chung vào quá trình xây
Trang 12dựng và phát triển đất nước, là minh chứng quan trọng nhằm bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền, củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần chung vào tiến trình hội nhập và phát triển, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Những lí do trên đây lập luận cho việc học viên lựa chọn đề tài “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)’’ làm Luận văn Thạc
sỹ Luật học (chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự) của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự nói chung và bảo vệ quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam nói riêng
là vấn đề rất nhạy cảm và phức tạp, là nội dung quan trọng luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự nói chung đã có nhiều công trình, nhiều bài
tham luận như : “Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam” của TS Trần Quang Tiệp; “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự” của GS-TSKH Lê Cảm; “Mấy ý kiến về bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam” của PGS-TS Phạm Hồng Hải; Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật “Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Đinh Duy Minh… Ở góc độ cụ thể hơn, vấn đề đảm bảo
quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay
đã phần nào nhận được sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu biểu hiện qua các
công trình khoa học sau: Đề tài luận văn Thạc sĩ “Đảm bảo quyền con người của người bị tạm giữ, bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” của tác giả Đoàn Văn Thuận; đề tài luận văn Thạc sĩ “Bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tiến Đạt; luận án tiến sĩ
“Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình
sự Việt Nam” của tác giả Lại Văn Trình, tuy nhiên hiện nay, quy định của Pháp luật
Trang 13tố tụng hình sự và thực tiễn bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo còn nhiều hạn chế Do đó việc tìm hiểu, nghiên cứu quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng như quá trình áp dụng những quy định ấy để bảo vệ quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam là yêu cầu cấp thiết, mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Qua việc phân tích, đánh giá quy định của pháp luật tố tụng hình sự cũng như thực tiễn áp dụng các quy định liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam trong toàn quốc nói chung
và trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, học viên đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam, thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước ta
4 Nhiệm vụ nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài, học viên tập trung nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận chung
về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền cũng như cơ chế bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Luận văn cũng phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về quyền
và bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; quá trình tiềm ẩn nhiều khả năng xâm phạm đến quyền con người nói chung và quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo với những biểu hiện đa dạng và phức tạp
Do phạm vi đề tài rộng, trong phạm vi của luận văn thạc sỹ luật học, học viên giới hạn việc nghiên cứu về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk
Lắk), không đi sâu vào nhóm người chưa thành niên
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, học viên dựa trên cơ sở nhận thức lý luận
về phép biện chứng duy vật, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người nhằm phát huy dân chủ, kết hợp việc
sử dụng các phương pháp như phương pháp phân tích, so sánh, chứng minh, tổng
Trang 14hợp; phương pháp thống kê; phương pháp điều tra xã hội học để hoàn thành luận văn của mình Những phương pháp trên được học viên sử dụng tập trung chủ yếu ở
chương 2 (đặc biệt là mục 2.1 Thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự từ năm 2009
- 2014; Mục 2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTHS về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong một số trường hợp cụ thể; Mục 2.3 Những hạn chế và nguyên nhân trong việc bảo đảm quyền con người của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam) để minh chứng, làm sáng
tỏ thực tiễn, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo xác định những nguyên nhân của những hạn chế để làm cơ sở cho những đề xuất nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong Luật tố
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận: Đề tài góp phần bổ sung và hoàn thiện hơn vấn đề lý luận về
quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trên cơ sở đó hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về quyền và cơ chế bảo đảm quyền của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo giúp cho những nhà thực thi pháp luật có cái nhìn toàn diện, nâng cao hơn nữa hiệu quả bảo đảm quyền con người nói chung và quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam nói riêng
Về thực tiễn: Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo, phục vụ hoạt
động nghiên cứu và học tập Những đề xuất, kiến nghị của học viên luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam liên quan đến việc điều tra, truy tố và xét xử… trong tố tụng hình sự, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
Trang 157 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có ba chương với cơ cấu như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về địa vị pháp lý về quyền con người của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Chương 2: Khái quát chung về thực trạng bảo đảm quyền con người của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk) và những hạn chế, nguyên nhân trong việc bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện việc bảo đảm
quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự
Việt Nam
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO
1.1 Quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các điều ước quốc tế và pháp luật của một số nước
1.1.1 Quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các điều ước quốc tế
Quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là quyền pháp lý của cá nhân đang ở vào tình thế bất lợi vì họ bị tình nghi là đã thực hiện hành vi phạm tội Trong TTHS, họ có thể bị áp dụng một số biện pháp tố tụng ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền con người, quyền công dân của họ Do vậy, các điều ước quốc tế về quyền con người quy định những chuẩn mực tối thiểu đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, các quyền này được áp dụng ở các quốc gia thành viên, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế – xã hội Hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng được quy định trong các công ước quốc tế khác nhau
Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền con người trong lĩnh vực dân sự và chính trị năm 1966 quy định người bị buộc tội có các quyền sau:
+ Quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo quy định của pháp luật Họ không buộc phải chứng minh chống lại mình hoặc buộc tự thú là mình có tội;
+ Quyền không bị tra tấn, đối xử hoặc bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn vô nhân đạo hoặc nhục hình;
+ Quyền được yêu cầu xét xử trước Tòa án do bị bắt hoặc giam giữ; + Quyền được bồi thường thiệt hại do bị bắt, giam giữ trái
pháp luật [12]
Công Ước Châu Âu về quyền con người 1950 được xem là một phần của pháp luật các nước thuộc Liên Minh Châu Âu Nội dung về bảo vệ quyền của người bị
Trang 17buộc tội trong giai đoạn điều tra VAHS (Điều 6) của Công ước được xem xét dưới 2 góc độ là bảo vệ quyền của người bị buộc tội trên cơ sở các nguyên tắc hoạt động tố tụng và góc độ các quy định cơ bản về quyền của người bị buộc tội (bao gồm cả người bị tạm giữ, bị can) Người bị buộc tội có các quyền sau đây (Điều 6.3):
+ Quyền được thông báo kịp thời về lý do họ bị buộc tội và đòi hỏi phải chính xác, đầy đủ để họ có điều kiện chuẩn bị cho việc bào chữa (Điều 6.3a);
+ Quyền được tạo điều kiện thuận lợi về thời gian thích hợp để chuẩn bị cho việc bào chữa và được xác định kể từ thời điểm từ khi người bị buộc tội tìm được NBC, khoảng thời gian này còn áp dụng cho
cả NBC Những quy định này thật sự là điểm tiến bộ trong việc đảm bảo quyền bào chữa - quyền quan trọng nhất của người bị buộc tội, việc đảm bảo này là cơ sở rất tốt cho việc bảo vệ các quyền của người bị buộc tội đạt được hiệu quả cao nhất (Điều 6.3b);
+ Quyền được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, nếu trường hợp cần thiết mà người bị buộc tội không có khả năng tài chính
để lựa chọn NBC thì họ sẽ được trợ giúp miễn phí, khoản tiền trả cho việc bào chữa sẽ được trích từ quỹ cộng đồng (Điều 6.3c);
+ Quyền được thu thập chứng cứ và kiểm tra chứng cứ do nhân chứng cung cấp chống lại anh ta Trên thực tế, người bị buộc tội được tạo điều kiện tối đa (thường thông qua NBC) để thu thập chứng cứ, đặt câu hỏi với người làm chứng về lời khai chống lại mình (Điều 6.3d);
+ Quyền được có phiên dịch miễn phí: khi người bị buộc tội không hiểu ngôn ngữ đang được sử dụng để chống lại anh ta (Điều 6.3e) [12]; Công ước Châu Âu về quyền con người là kết quả của sự hợp tác khăng khít giữa các quốc gia trong cộng đồng Châu Âu trong việc nâng cao hiệu quả đảm bảo quyền con người nói chung và người bị buộc tội nói riêng nên mức độ đảm bảo quyền của người bị buộc tội được chi tiết hóa ở mức độ đáng kể thông qua nguyên tắc của hoạt động tố tụng đó là nguyên tắc suy đoán vô tội, theo đó nội dung của
Trang 18nguyên tắc này đòi hỏi “Bất cứ người nào bị cáo buộc là đã thực hiện hành vi phạm tội sẽ được coi là vô tội cho đến khi chứng minh được anh ta phạm tội theo quy định của pháp luật”, vấn đề cốt lõi của nguyên tắc là “Mọi nghi ngờ phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội” [12, Điều 6.2]
1.1.2 Quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự của một số nước
1.1.2.1 Bộ luật tố tụng hình sự của Cộng Hòa Pháp
BLTTHS hiện hành của nước Cộng hòa Pháp được ban hành vào ngày 02-1957 và có hiệu lực vào năm 1958 Mặc dù không trực tiếp thể hiện khái niệm người bị tạm giữ, bị can, tuy nhiên căn cứ theo quy định pháp luật TTHS Cộng hòa Pháp thì một người chỉ có thể bị tạm giữ khi có những dấu hiệu cho phép suy đoán
31-họ đã có hành vi hoặc có ý định phạm tội Khi bị áp dụng biện pháp tạm giữ, người
bị tạm giữ có các quyền sau:
+ Quyền yêu cầu thông báo về việc tạm giữ cho thân nhân trong gia đình như vợ, chồng, bố mẹ, người chủ lao động (Điều 63-2)
+ Quyền mời bác sĩ đến khám sức khỏe (Điều 63-3)
+ Lúc bắt đầu việc tạm giữ, người bị tạm giữ có thể yêu cầu được nói chuyện với LS (Điều 63-4) [11]
Khi người này không ở vào vị trí được lựa chọn một người, hoặc nếu không thể gặp được LS được lựa chọn, người này có thể yêu cầu chủ nhiệm đoàn LS chính thức chỉ định cho mình một LS Chủ nhiệm đoàn LS được thông báo về yêu cầu này ngay sau đó bằng bất kì phương tiện nào có thể LS được lựa chọn có thể trao đổi với người bị tạm giữ trong các điều kiện được đảm bảo sự bí mật của cuộc nói chuyện Sau cuộc nói chuyện, không được kéo dài quá 30 phút, LS, nếu có cơ hội, đưa ra nhận xét bằng văn bản để lưu trong hồ sơ tố tụng Khi thời hạn tạm giữ được gia hạn, người này cũng có thể yêu cầu nói chuyện với LS vào lúc bắt đầu việc gia
hạn, theo các điều kiện và cách thức quy định
Tất cả những thủ tục tố tụng tiến hành trong thời gian tạm giữ đều được ghi vào biên bản tạm giữ Nếu không tuân thủ những thủ tục hành chính này thì Sĩ quan
Trang 19cảnh sát có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chịu trách nhiệm dân sự và văn bản do sỹ quan cảnh sát thực hiện sẽ bị hủy bỏ
Ngoài ra, BLTTHS của Cộng hòa Pháp quy định rất chi tiết các thủ tục tố tụng khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng nhằm bảo đảm quyền của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo:
+ Khi khám nhà thì cần phải có người chứng kiến đồng thời Dự thẩm phải tiến hành mọi biện pháp cần thiết để đảm bảo bí mật nghề nghiệp và quyền bào chữa của đương sự, chỉ có thể lấy lời khai, hỏi cung, đối chất khi có mặt LS của đương sự hoặc sau khi LS đã được triệu tập theo đúng quy định của pháp luật trừ trường hợp các bên khước từ quyền mời LS giúp đỡ Hồ sơ vụ án được chuyển cho
LS nghiên cứu trong thời gian hợp lý Sau lần hỏi cung đầu tiên, LS của các bên có thể xin cấp bản sao toàn văn hoặc một phần các tài liệu có trong hồ sơ để sử dụng nhưng không được sao lại
+ Đối với biện pháp tạm giam: biện pháp này chỉ được áp dụng trong trường hợp cần thiết như để bảo vệ nhân chứng, ngăn chặn sự thông đồng của bị can với đồng phạm, để bảo vệ đương sự trước khi ra quyết định tạm giam, Dự thẩm phải thông báo cho bị can biết là bị can có một thời hạn để chuẩn bị bào chữa, quy định này cũng áp dụng đối với LS của bị can Trong thời hạn tạm giam, nếu có những điều kiện nhất định thì người bị tạm giam hoặc LS của họ có thể yêu cầu Dự thẩm
ra quyết định trả tự do cho bị can bị tạm giam (18, Điều 148) [11] Trong trường hợp người bị tạm giam sau đó được miễn tố, được tha bổng hoặc trắng án thì họ có thể được bồi thường thiệt hại nếu việc tạm giam gây ra cho người đó thiệt hại nghiêm trọng (18, Điều 149) [11] Hơn nữa, BLTTHS Cộng Hòa Pháp còn quy định Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm chỉ được tiến hành lấy căn cước, lấy lời khai của đương sự sau khi đã báo trước cho đương sự biết rằng được tùy ý lựa chọn khai hay không khai và hỏi xem đương sự có đồng ý được chuyển đến cho thẩm phán điều tra có thẩm quyền hay muốn kéo dài hiệu lực của lệnh dẫn giải, chờ quyết định của thẩm phán điều tra thụ lý vụ việc và ở lại nơi đang bị bắt giữ Nếu không đồng ý việc chuyển đi đương sự sẽ được dẫn giải đến trại giam, việc này phải
Trang 20được thông báo ngay cho thẩm phán điều tra có thẩm quyền (18, Điều 128) [11], bản chính hoặc bản sao biên bản xác nhận sự có mặt và các đặc điểm nhận dạng đầy
đủ của đương sự được chuyển ngay cho thẩm phán điều tra cùng với tất cả những chỉ dẫn cần thiết để có thể dễ dàng xác định căn cước của người đó.Trong biên bản phải ghi rõ là đương sự đã được báo là được tùy ý lựa chọn khai hay không khai Hơn nữa, BLTTHS Cộng Hòa Pháp còn quy định, trừ khi công khai từ bỏ quyền này, người bị tạm giữ, bị can chỉ có thể bị xét hỏi, lấy cung hoặc đối chất với sự có mặt của LS của họ hoặc khi LS của họ đã được triệu tập theo đúng quy định LS được triệu tập muộn nhất là năm ngày làm việc trước khi thẩm vấn hoặc thẩm tra bên họ trợ giúp, bằng thư bảo đảm với yêu cầu phúc đáp, bằng fax với phúc đáp, hoặc bằng lời nói với chữ ký trong hồ sơ tố tụng Hồ sơ được chuyển cho họ nghiên cứu muộn nhất là bốn ngày làm việc trước mỗi lần thẩm vấn người bị thẩm tra tư pháp hoặc mỗi lần xét hỏi bên dân sự Sau lần trình diện đầu tiên của người bị thẩm tra tư pháp hoặc lần xét hỏi đầu tiên của bên dân sự, hồ sơ cũng được chuyển cho
LS toàn quyền nghiên cứu trong những ngày làm việc, phù hợp với yêu cầu hoạt động của văn phòng thẩm phán điều tra
Liên quan đến đảm bảo quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, BLTTHS Cộng Hòa Pháp (18, Điều 1- P – Điều khoản sơ bộ) [11] quy định tố tụng hình sự phải công bằng và tranh tụng, duy trì sự cân bằng về quyền giữa các bên Bất kỳ ai bị nghi ngờ hoặc truy tố được suy đoán vô tội chừng nào chưa chứng minh được tội của họ… (18, Điều 137) [11] việc vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội bị cấm, và phải bị bồi thường, trừng phạt trong các trường hợp luật định Người này có quyền được thông báo về cáo buộc chống lại họ và được bào chữa về mặt pháp lý Các biện pháp cưỡng chế mà người này phải chịu được tiến hành bởi hoặc dưới sự kiểm soát hiệu quả của cơ quan tư pháp Chúng phải được giới hạn một cách nghiêm ngặt trong sự cần thiết của tiến trình, tương ứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm bị cáo buộc và không xâm phạm phẩm giá của con người Việc buộc tội đối với người này phải được đưa ra trước phán quyết cuối cùng trong thời gian hợp lý
Trang 21Nhìn chung, BLTTHS Pháp quy định khá chặt chẽ về trình tự thủ tục tiến hành các biện pháp ngăn chặn, các hoạt động điều tra, cũng như các biện pháp hỗ trợ để điều tra có hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu bảo vệ một cách tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can,bị cáo; là sự cụ thể hóa đáng ghi nhận các nguyên tắc về bảo vệ quyền của người bị buộc tội theo Điều 6 Công ước Châu Âu về quyền con người
1.1.2.2 Bộ luật tố tụng hình sự của Cộng Hòa Liên Bang Nga
Căn cứ quy định tại khoản 13 Điều 5, Điều 46, Điều 47 BLTTHS Cộng Hòa Liên Bang Nga, đối tượng bị buộc tội trong TTHS gồm: Người bị tình nghi, bị can,
bị cáo Theo quy định tại Điều 46 BLTTHS Cộng Hòa Liên Bang Nga thì:
Người bị tình nghi là người đối với họ đã khởi tố VAHS theo những căn cứ và theo thủ tục quy định tại Mục 20 Bộ luật này hoặc là người bị bắt giữ theo quy định tại Điều 91 (Căn cứ tạm giữ người bị tình nghi) và Điều 92 (Thủ tục tạm giữ người bị tình nghi) hoặc Điều 100 (áp dụng biện pháp ngăn chặn trước khi khởi tố bị can) [10]
Người bị tình nghi có các quyền sau đây (khoản 4 Điều 46):
+ Được biết họ bị tình nghi về việc gì và nhận bản sao quyết định khởi tố vụ
án chống lại họ hoặc bản sao biên bản bắt giữ hoặc bản sao quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với họ;
+ Đưa ra những lời giải thích và khai báo về việc họ bị tình nghi hoặc từ chối đưa ra những lời giải thích và khai báo Khi người bị tình nghi đồng ý khai báo thì phải thông báo cho họ về việc lời khai đó có thể được sử dụng làm chứng cứ của vụ
án, kể cả việc sau này họ phản bác lại lời khai đó, trừ trường hợp lời khai của người
bị tình nghi, bị can trong giai đoạn tố tụng trước khi xét xử mà không có sự tham gia của NBC, kể cả trường hợp họ từ chối có NBC và không được người bị tình nghi, bị can thừa nhận tại Toà án thì không được chấp nhận làm chứng cứ
+ Được sự giúp đỡ của NBC từ thời điểm quy định tại điểm 2 và 3 khoản
3 Điều 49 Bộ luật này và được gặp gỡ riêng và bí mật với NBC trước khi lấy lời khai của họ;
Trang 22+ Đưa ra những chứng cứ; đưa ra những yêu cầu và đề nghị thay đổi người THTT; đưa ra những lời khai và giải thích bằng tiếng mẹ đẻ hoặc bằng ngôn ngữ
mà họ sử dụng thành thạo;
+ Được sự giúp đỡ miễn phí của người phiên dịch; xem các biên bản hoạt động tố tụng mà họ tham gia và đưa ra những nhận xét;
+ Tham gia vào các hoạt động điều tra được tiến hành theo yêu cầu của
họ, của NBC hoặc người đại diện hợp pháp của họ, nếu được Dự thẩm viên hoặc ĐTV đồng ý; khiếu nại đối với hoạt động và quyết định của Toà án, KSV, Dự thẩm viên và ĐTV; được bảo vệ bằng những biện pháp và phương pháp khác không bị Bộ luật này cấm
Theo Điều 47 BLTTHS Cộng Hòa Liên Bang Nga, bị can là người “bị tống đạt quyết định khởi tố bị can hoặc là người bị tống đạt bản cáo trạng” [10] Bị can
có các quyền sau đây (khoản 4 Điều 47):
+ Được biết họ bị buộc tội về việc gì;
+ Được nhận bản sao quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với họ, quyết định truy tố hoặc bản cáo trạng;
+ Phản đối việc buộc tội, đưa ra những lời khai liên quan đến việc buộc tội
họ hoặc từ chối đưa ra lời khai;
+ Khi bị can đồng ý khai báo thì phải thông báo cho họ về việc lời khai đó có thể được sử dụng làm chứng cứ của vụ án, kể cả việc sau này họ phản bác lại lời
khai đó, trừ trường hợp quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 75 Bộ luật này;
+ Đưa ra những chứng cứ; đưa ra những yêu cầu và đề nghị thay đổi người THTT; + Đưa ra những lời khai và giải thích bằng tiếng mẹ đẻ hoặc bằng ngôn ngữ
mà họ sử dụng thành thạo;
+ Được sự giúp đỡ miễn phí của người phiên dịch;
+ Được sự giúp đỡ của NBC, trong đó có sự giúp đỡ miễn phí trong những trường hợp quy định tại Bộ luật này; được gặp gỡ riêng và bí mật, kể cả trước lần hỏi cung đầu tiên và không bị hạn chế số lần và thời gian;
+ Được tham gia vào các hoạt động điều tra được tiến hành theo yêu cầu của
Trang 23họ, của NBC hoặc của người đại diện hợp pháp của họ, nếu như Dự thẩm viên đồng
ý, tiếp xúc với các biên bản hoạt động đó và đưa ra những nhận xét;
+ Xem quyết định trưng cầu giám định tư pháp, được đưa ra các câu hỏi đối với người giám định và xem kết luận giám định Xem toàn bộ hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra và được ghi chép bất kỳ tài liệu nào và với bất kỳ số lượng nào từ
+ Tham gia vào quá trình giải quyết vụ án tại các Toà án sơ thẩm, phúc thẩm
và giám đốc thẩm, cũng như tham gia vào việc giải quyết của Toà án đối với việc lựa chọn biện pháp ngăn chặn đối với họ và trong những trường hợp khác quy định tại các điểm 1, 2 và 10 khoản 2 Điều 29 Bộ luật này;
+ Được nhận bản sao những khiếu nại và yêu cầu đối với vụ án và đưa ra ý kiến phản đối đối với những khiếu nại và yêu cầu này;
+ Tham gia vào việc xem xét những vấn đề liên quan đến việc thi hành án; + Được bảo vệ bằng những biện pháp và phương pháp khác không bị Bộ luật này cấm…
Bên cạnh những quy định tiến bộ, toàn diện về quyền của bị can, BLTTHS Cộng Hòa Liên Bang Nga còn có những quy định hữu hiệu để đảm bảo quyền của người bị tình nghi, bị can thể hiện qua:
+ Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 14 với nội dung: không ai có thể bị coi
là có tội và phải chịu hình phạt nếu chưa có bản án của Toà án và không tuân theo thủ tục quy định tại Bộ luật này);
+ Bảo đảm tranh tụng giữa các bên (Điều 15),
+ Tôn trọng danh dự và nhân phẩm của cá nhân (Điều 9);
Trang 24+ Quyền bất khả xâm phạm của cá nhân (Điều 10);
+ Bảo vệ các quyền và tự do của con người và của công dân trong tố tụng hình sự (Điều 11);
+ Các quy định về NBC, thời điểm tham gia vào vụ án (từ thời điểm ban hành quyết định khởi tố bị can; từ khi khởi tố vụ án và tùy vào từng trường hợp cụ thể để quyết định; từ thời điểm thực tế bắt giữ người bị tình nghi thực hiện tội phạm trong những trường hợp: từ thời điểm thông báo quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với người bị tình nghi thực hiện tội phạm; từ thời điểm bắt đầu thực hiện những biện pháp cưỡng chế tố tụng khác hoặc những hoạt động tố tụng khác hạn chế quyền và tự do của người bị tình nghi thực hiện tội phạm)
+ Các quy định về thủ tục tham gia bào chữa (LS được chấp nhận tham gia vào vụ án với tư cách là NBC khi họ đệ trình giấy chứng nhận LS và thẻ LS);
+ Các quyền của NBC (Điều 49);
+ Thông qua quy định về chứng cứ trong TTHS (từ Điều 73 đến Điều 96); quy định về Biện pháp ngăn chặn (từ Điều 97 đến Điều 110);
+ Những biện pháp cưỡng chế tố tụng khác (từ Điều 111 đến Điều 118); + Quy định về yêu cầu và khiếu nại (điều 119 đến điều 122);
+ Quy định về khiếu nại quyết định và hành vi của Tòa án và những người THTT (từ Điều 123 đến Điều 127),
+ Quy định về minh oan (từ Điều 133 đến Điều 139)
Nhìn chung: Với những quy định như trên, trong BLTTHS Liên Bang Nga, quyền con người được thực sự coi trọng ở chỗ vào thời điểm xuất hiện bên buộc tội một ai đó thì pháp luật cũng dành cho người bị buộc tội những quyền để thực hiện chức năng gỡ tội từ người đại diện của người bị tình nghi là người chưa thành niên và NBC của họ Bên buộc tội và bên bào chữa có địa vị ngang bằng nhau và các phương tiện
mà pháp luật dành cho hai bên trong việc thực hiện chức năng của mình
là như nhau [10]
Những quy định trên thể hiện sự tiến bộ về vấn đề bảo vệ quyền của người bị tình nghi, bị can trong TTHS của Cộng Hòa Liên Bang Nga
Trang 251.2 Cơ sở lý luận của việc quy định quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.1 Quan điểm, chính sách của Đảng về tôn trọng và bảo đảm quyền con người
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau Có thể là một giá trị nhân loại, đồng thời có tính lịch sử hình thành trong cuộc
đấu tranh giai cấp và được bổ sung mới qua các thời đại khác nhau Quyền con
người được đặt trong mối quan hệ với nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với xã hội và được giải quyết trên cơ sở đảm bảo lợi ích xã hội Bảo đảm quyền con người là bảo đảm dân chủ, bảo đảm hiệu quả, hiệu lực nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia từng nêu ra Những định nghĩa này cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận
và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế [7, tr.37-38] Theo Chỉ thị số 12/CT/TW ngày 12-7-1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng:
“Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại” [2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng nêu rõ: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu bức thiết của xã hội; nhà nước phải thể chế hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền công dân, quyền con người” [6]
Các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm
1948 và các Công ước về quyền con người trong các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về quyền chính trị và dân sự năm 1966)
Trang 26Ngày 24-9-1982, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước về quyền chính trị và dân sự năm 1966 Trên cơ sở tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia, những chính sách, văn bản quy phạm pháp luật được Đảng và Nhà nước ban hành đã cụ thể hóa những nguyên tắc thành những định hướng, quy định cụ thể phù hợp với thực tiễn tình hình đất nước để đảm bảo tính khả thi, tôn trọng, thực hiện các quy định về quyền con người
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Các Nghị quyết này đã thể hiện một tư tưởng hoàn toàn mới trong đó định hướng xây dựng một hệ thống tố tụng hình sự coi trọng việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, như: các cơ quan THTT có trách nhiệm thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc bắt, giữ, giam và một số biện pháp ngăn chặn khác trong đó biểu hiện qua việc đảm bảo các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, căn cứ thực hiện các biện pháp nói trên Đặc biệt việc bắt, giữ, giam liên quan trực tiếp đến quyền tự do thân thể, quyền đảm bảo an toàn về tính mạng sức khỏe của con người nên trường hợp chưa cần bắt, giữ, giam thì CQĐT không được tiến hành hoặc VKS cương quyết không phê chuẩn Các biện pháp điều tra được tiến hành nhằm là tìm ra sự thật của vụ án nhưng phải trên cơ sở tôn trọng các quyền của người bị buộc tội Các cơ quan giám sát việc thực hiện việc tuân theo pháp luật đặc biệt là VKS phải tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật Các cơ quan nhà nước cần xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để LS tham gia vào quá trình tố tụng: tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại toà Hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người [5]
1.2.2 Quy định của Hiến pháp [27]
Hiến pháp năm 2013 là sự khẳng định rõ ràng và mạnh mẽ quan điểm nhân quyền nhất quán của Nhà nước Việt Nam Quan điểm chủ đạo của Đảng và Nhà
Trang 27nước ta là sửa đổi, bổ sung Hiến pháp nhằm tiếp tục phát huy nhân tố con người, thể chế hóa sâu sắc hơn quan điểm về tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người như một định hướng mục tiêu của Nhà nước pháp quyền XHCN
Về mặt cơ cấu hình thức, vấn đề quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được chuyển dịch từ vị trí chương V trong Hiến pháp lên vị trí Chương II, chỉ sau Chương I về chế độ chính trị Nhưng trước hết, quyền con người
là nội dung được bổ sung ngay trong Chương I của Hiến pháp Hơn thế, tại rất nhiều chương, điều khác, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân cũng hiện diện trong nội dung chức năng và nhiệm vụ của các thiết chế Nhà nước như Quốc Hội (Điều 70, khoản 14); Chính phủ (Điều 96, khoản 6); TAND (Điều
102, khoản 3); VKSND (Điều 107, khoản 3) Đây là những nội dung hoàn toàn mới
so với Hiến pháp năm 1992 khi Hiến pháp năm 2013 trao những chức năng, nhiệm
vụ cho các thiết chế, quyền lực Nhà nước tương ứng
Chương II của Hiến pháp ghi nhận quá trình tiếp nhận các giá trị cơ bản của cộng đồng quốc tế về tôn trọng và bảo vệ quyền con người, đồng thời là giá trị quan trọng và trở thành đối tương ưu tiên bảo hộ của pháp luật trong tố tụng hình sự Một
lá chắn quan trọng và vững chắc nhất nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân nhằm phòng ngừa và ngăn chặn những vi phạm từ phía các cơ quan tố tụng chính là việc thừa nhận và ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội [43]
Khoản 1, Điều 31 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản
án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [27, tr.19-20]
Trước đó, Điều 72 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [27] Điều 9 BLTTHS năm 2003 đã cụ thể hóa quy định trên đây của
Hiến pháp năm 1992 và coi nội dung xác định tại Điều luật này là một nguyên tắc
cơ bản của tố tụng hình sự nước ta
Thực tiễn không chỉ các hoạt động điều tra, truy tố mà cả của hoạt động xét
xử của Tòa án cho thấy có một khuynh hướng nhìn nhận bị can, bị cáo như là người
Trang 28đã được coi là phạm tội, dù lỗi của họ chưa được chứng minh Trong tâm lý học, khuynh hướng đó được gọi là khuynh hướng buộc tội, còn luật học thì gọi đó là
“suy đoán có tội” Đó chính là một trong những nguyên nhân của vấn đề án oan, án sai hiện nay [43]
Theo quan điểm của GS TSKH Đào Trí Úc thì vấn đề bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự có thể được coi là trục xoay của toàn bộ các hoạt động tố tụng hình sự [43, tr.193] Sở dĩ như vậy là vì tố tụng hình sự phản ánh những mối liên
hệ đa chiều và mang trong mình nó nhiều nghịch lý của các mối liên hệ Tố tụng hình
sự của bất kỳ quốc gia và hệ thống pháp lý nào cũng đều phải thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: vừa phải xác định cho được sự thật của vụ án, bảo đảm để công lý được thực thi; vừa làm thế nào để trên con đường đi tìm sự thật và công lý thì quyền của tất cả những ai đó liên quan đều phải được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ [43]
Khoản 4 Điều 31 BLTTHS khẳng định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” [28] Quy định bảo đảm rằng người bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
hình sự được là không có tội cho đến khi hành vi phạm tội của họ được các cơ quan THTT và người THTT chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, khi những người này tham gia tố tụng với
tư cách là bị can, bị cáo thì các chủ thể tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện các quyền hiến định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ [3]
Khoản 5 Điều 31 BLTTHS khẳng định:
Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật [28, tr.19-20]
Hiến pháp năm 2013 không những mở rộng phạm vi người được bồi thường và nội dung được bồi thường mà còn quy định cụ thể, rõ ràng hơn quyền
Trang 29được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự của người bị oan do người có thẩm quyền trong tố tụng hình sự gây ra, cũng như trách nhiệm của người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác Để bảo đảm thi hành Hiến pháp đòi hỏi pháp luật tố tụng và pháp luật có liên quan phải xác định cụ thể trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tiến hành tố tụng, khắc phục tình trạng trì hoãn, đùn đẩy trách nhiệm khi xảy ra oan sai
Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử của Tòa án,
khoản 5 Điều 103: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” [27, tr.55] Hiện
nay, theo quy định tại pháp luật tố tụng hình sự của nước ta, hình thức tố tụng hình
sự được áp dụng là hình thức tố tụng thẩm vấn Theo hình thức này, cơ quan THTT thường coi trọng sự thật khách quan hơn là những tài liệu, đồ vật được coi là chứng
cứ do bị can, bị cáo cung cấp Yếu tố tranh tụng còn mờ nhạt, thẩm vấn vẫn là phương pháp chủ yếu được thực hiện ở hầu hết các giai đoạn tố tụng, thể hiện sự bất bình đẳng giữa những người THTT và người tham gia tố tụng, trong đó sự bất lợi luôn thuộc về người tham gia tố tụng, đặc biệt là đối với bị can, bị cáo
Hiến pháp năm 2013 đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người [13] Trong số các quyền con người được Hiến pháp năm
2013 ghi nhận, Điều 20 quy định:
1 Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm 2 Không ai bị bắt nếu không có quyết định của TAND, quyết định hoặc phê chuẩn của VKSND, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam giữ người do luật định [27, tr.16]
Trong hệ thống pháp luật nước ta, BLTTHS có trách nhiệm thể chế hóa, chi tiết hóa các quy định về quyền bất khả xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm được quy định trong Điều 20 Hiến pháp năm 2013 Vấn đề này liên quan trực tiếp
Trang 30đến chế định về những biện pháp ngăn chặn (bắt, tạm giữ, tạm giam) được quy định tại Chương VI (từ Điều 79 đến Điều 94) và một số điều, ở các chương khác của BLTTHS năm 2003 Đây là những biện pháp tố tụng được áp dụng với mục đích ngăn chặn không cho tội phạm tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật Đối tượng bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn là bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang hoặc người mà cơ quan tiến hành tố tụng có tài liệu, chứng cứ nghi là họ phạm tội Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn, các cơ quan có thẩm quyền chỉ được tiến hành trong phạm vi, giới hạn cũng như thủ tục mà luật tố tụng hình sự quy định Ngoài các đối tượng kể trên không ai
có thể bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, mọi hành vi vi phạm tùy theo tính chất
và mức độ có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Thẩm quyền
áp dụng biện pháp ngăn chặn là những người THTT có thẩm quyền của các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, hoặc những người có chức vụ trong các cơ quan khác được giao thực hiện một số hoạt động tố tụng, hay công dân tham gia vào việc bắt người phạm tội quả tang, bắt người theo lệnh truy nã Tùy theo tính chất, đặc điểm của từng giai đoạn tố tụng, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan mà luật tố tụng hình sự quy định cho cơ quan đó được áp dụng tất cả hay một số biện pháp ngăn chặn Những biện pháp đó phải nằm trong phạm vi, giới hạn cũng như theo thủ tục của luật tố tụng hình sự [13]
1.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo
1.3.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền của người
bị tạm giữ [28]
Theo quy định tại Điều 48 BLTTHS 2003: “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ” [28, tr.37-38] Như vậy, người bị tạm giữ là người bị tình nghi đã thực hiện
hành vi có dấu hiệu tội phạm
Trang 31Xuất phát từ bản chất của việc tạm giữ là cách ly người bị tình nghi thực hiện tội phạm trong thời gian ngắn, nên các quy định về quyền của người bị tạm giữ được quy định liên quan đến hai vấn đề: tính có căn cứ của việc tạm giữ (căn cứ nội dung) và tính hợp pháp của thủ tục tạm giữ (căn cứ hình thức)
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 48 BLTTHS 2003 thì người bị tạm giữ có quyền: + Được biết lý do mình bị tạm giữ: việc tạm giữ là hậu qủa tố tụng của việc bắt quả tang, bắt khẩn cấp, truy nã, đầu thú hoặc tự thú cho nên người bị tạm giữ phải được biết lý do tại sao họ bị bắt quả tang, bắt khẩn cấp, truy nã, đầu thú hoặc
tự thú của họ
+ Được giải thích về quyền và nghĩa vụ: trong thực tế cuộc sống, không phải
ai cũng am hiểu pháp luật, hiểu biết quyền và nghĩa vụ của mình trong những tình huống cụ thể, nhất là đối với người bị tạm giữ Khi họ đã và đang tiếp tục phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi thì việc họ được biết quyền và nghĩa vụ của mình trong trường hợp này là vô cùng cấp thiết để làm căn cứ cho việc họ thực hiện những quyền năng cũng như nghĩa vụ của họ mà PLTTHS quy định
+ Trình bày lời khai: người bị tạm giữ có quyền trình bày những vấn đề có liên quan đến việc họ bị bắt giữ hoặc việc tình nghi họ phạm tội
+ Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa: khi bị áp dụng một số biện pháp hạn chế quyền của cá nhân mình thì người bị tạm giữ có quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa để chứng minh sự không liên quan của người bị tạm giữ với việc thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ
+ Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình + Khiếu nại về quyết định tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT nếu thấy việc mình bị tạm giữ là sai trái, không có căn
cứ pháp luật [28, tr.188]
So với BLTTHS năm 1988, quy định về quyền của con người và của người
bị tạm giữ trong BLTTHS 2003 đã bổ sung cho họ quyền được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa (điểm d khoản 2 Điều 48) Đây là sự sửa đổi phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp, nâng cao vấn đề bảo đảm quyền con người trong TTHS
Trang 321.3.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền của bị can
Theo quy định của BLTTHS 2003 tại Điều 49 thì “Bị can là người đã bị khởi
tố về hình sự” [28, tr.38] Tư cách tố tụng bị can sẽ chấm dứt khi CQĐT đình chỉ
điều tra, VKS đình chỉ vụ án, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử
Khi khởi tố bị can, người bị khởi tố chính thức bị buộc tội, bởi vì theo
quy định tại khoản 1 Điều 126 BLTTHS 2003: “Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì CQĐT ra quyết định khởi tố bị can” [28, tr.103] Kể từ khi bị khởi tố, một người trở thành bị can và chính thức bị
truy cứu trách nhiệm hình sự, bị buộc tội bởi nhà nước Họ có thể bị áp dụng biện
pháp cưỡng chế tố tụng nghiêm khắc nhất là “tạm giam” (có thể kéo dài từ 02 đến
16 tháng) hoặc một số biện pháp ngăn chặn khác như: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo… Đây là điểm khác biệt rất lớn giữa
bị can và người bị tạm giữ
Bị can phải tuân thủ những nghĩa vụ theo quy định của pháp luật để đáp ứng yêu cầu giải quyết vụ án, bên cạnh đó họ được trao một số quyền nhất định để bảo
vệ mình trước sự truy cứu trách nhiệm hình sự của các cơ quan, người THTT
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 49 BLTTHS thì bị can có các quyền sau đây: + Được biết mình bị khởi tố về tội gì: Bị can có quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì, chỉ khi họ biết họ bị buộc tội về hành vi gì thì họ mới có thể chống lại việc buộc tội đó, họ phải được giao nhận quyết định khởi tố bị can, vấn đề này thuộc trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền
+ Được giải thích về quyền và nghĩa vụ: khi giao quyết định khởi tố bị can,
cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định này phải có nghĩa vụ giải thích các quyền
và nghĩa vụ để bị can hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của mình tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ đó
+ Trình bày lời khai: Đây là quyền của bị can, do đó nếu họ từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về lời khai
đó Ngược lại nếu họ thành khẩn khai báo thì được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Cơ quan có thẩm quyền tiến hành hoạt động điều tra không được
Trang 33dùng biện pháp trái pháp luật để buộc họ phải khai báo, điều đó là vi phạm quyền của bị can, có thể dẫn đến sai lầm trong hoạt động điều tra
+ Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu: bị can có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu để chứng minh sự vô tội hoặc để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình Đây
là quyền quan trọng được cụ thể hoá từ quyền bào chữa của bị can
+ Đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ làm cho việc giải quyết vụ án không khách quan, công bằng Cơ quan THTT phải xem xét giải quyết yêu cầu của bị can nếu đề nghị này có căn cứ
+ Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa: Đây là quyền quan trọng nhất của bị can, không chỉ là quyền độc lập tách rời với các quyền khác của bị can mà có thể hiểu quyền bào chữa là tổng hòa các quyền của bị can Việc quy định quyền bào chữa của bị can nhằm gỡ tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, chống lại
việc buộc tội của các cơ quan THTT “Việc bào chữa của bị can không chỉ là sự biện minh về hành vi phạm tội đang bị tình nghi thực hiện mà còn là việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can bị xâm hại hay có nguy cơ bị xâm hại trong quá trình giải quyết vụ án” [9]
+ Được nhận quyết định khởi tố, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án, quyết định truy tố
+ Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động điều tra góp phần làm cho các quyết định, hành vi tố tụng đúng đắn hơn, đồng thời quy định trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại và thông báo kết quả giải quyết khiếu nại bằng văn bản [14, tr.190]
1.3.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền của bị cáo
Theo quy định của BLTTHS 2003 tại điều 50 BLTTHS thì: “Bị cáo là người
đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” [28, tr.39] Sau khi Cơ quan điều tra kết
thúc điều tra, thấy rằng có đủ chứng cứ để khẳng định rằng bị can đã phạm tội do
Trang 34BLHS quy định thì đề nghị Viện kiểm sát truy tố ra trước Tòa án Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa thấy rằng có đủ điều
kiện để đưa vụ án ra xét xử mà không phải trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra
bổ sung, không có căn cứ để đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án thì ra quyết định đưa
vụ án ra xét xử Từ thời điểm này, bị can trở thành bị cáo trong vụ án hình sự
Cũng như bị can, bị cáo là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị buộc tội
Vì vậy, địa vị pháp lý, tình trạng của bị cáo cũng giống như bị can; có nghĩa là bị
cáo cũng có khả năng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng do BLTTHS quy định, có nguy cơ bị xâm phạm các quyền con người cao, đã có sự buộc tội chính thức nên cần có các quyền tương ứng để bào chữa, cho nên các biện pháp bảo đảm
quyền con người đối với bị can, bị cáo cơ bản là giống nhau
Tuy nhiên, một điểm khác biệt quan trọng giữa bị cáo và bị can là bị cáo tham gia tố tụng trong một cơ chế tố tụng hoàn chỉnh, đầy đủ những người tham gia
tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng với chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử; thực hiện các quyền tố tụng của mình trong phiên tòa công khai, dân chủ và bình đẳng Rõ ràng, so với bị can tham gia tố tụng (nhất là hỏi cung) trong môi trường chỉ có người buộc tội, (trường hợp cá biệt mới có người bào chữa, người chứng kiến), bị cáo tham gia tố tụng trong phiên tòa công khai, không chỉ có mặt những người tham gia tố tụng, mà còn có sự chứng kiến của công chúng Trong quá trình xét xử, người tiến hành tố tụng khó có khả năng sử dụng các biện pháp trái pháp luật, vi phạm quyền con người của bị cáo (như đe doạ bức cung, dùng nhục hình, mua chuộc nhận tội…); trong khi đó, đối với bị can thì tình trạng này dễ xảy
ra hơn Không ngẫu nhiên mà nhiều luật sư bào chữa bức xúc cho rằng trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra thường xuyên gây khó khăn cho người bào chữa tham gia hỏi cung bị can và các hoạt động tố tụng khác; trong nhiều phiên tòa, kháng cáo phúc thẩm, khiếu nại giám đốc thẩm, bị cáo thường tố cáo người tiến hành tố tụng bức cung, dùng nhục hình để bị cáo nhận tội, gây nên tình trạng oan
sai trong xét xử vụ án hình sự
Trang 35- Theo quy định tại khoản 2 Điều 50 BLTTHS thì bị cáo có các quyền sau đây:
+ Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ
vụ án; bản án, quyết định của Tòa án; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật TTHS Bị cáo nhận các quyết định này để chuẩn
bị cho việc bào chữa Trong trường hợp bị cáo chưa nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử trước khi mở phiên tòa thì phải hoãn phiên tòa
+ Tham gia phiên tòa Bị cáo có mặt tại phiên tòa để bảo vệ quyền lời của mình Trong trường hợp bị cáo không có mặt tại phiên tòa mà có
lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa (Điều 287 BLTTHS)
+ Được giải thích về quyền và nghĩa vụ
+ Đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật TTHS Đề nghị thay đổi của bị cáo với những người nói trên được chuyển đến Viện trưởng VKS hoặc Chánh án Tòa án
+ Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
+ Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Đối với bị cáo phạm tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự hoặc là người chưa thành niên, người có nhược điểm
về tâm thần hoặc thể chất thì sự có mặt của người bào chữa là bắt buộc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho bị cáo
+ Trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa Bị cáo trình bày ý kiến của mình khi Hội đồng xét xử hỏi Những ý kiến của bị cáo tập trung vào nhận xét bản cáo trạng của VKS và những tình tiết của vụ án, nhận xét về lời khai của những người tham gia tố tụng khác, hoặc chứng
Trang 36mức độ phạm tội, hoặc khi thấy rằng kết luận của bản án không phù hợp với thực tế xảy ra, bị cáo có quyền kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật
+ Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT Bản khiếu nại của bị cáo gửi đến Viện trưởng VKS
hoặc Chánh án Tòa án đã xét xử [14, tr.191-193]
Như vậy, theo quy định của BLTTHS 2003, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
có một số quyền giống nhau: quyền được biết lí do mình bị tạm giữ, bị khởi tố; truy
tố và xét xử; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền THTT Bên cạnh đó, với tính chất nghiêm trọng cũng như hậu quả của việc chính thức bị khởi tố, bị can, bị cáo còn được hưởng các quyền: đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch; được nhận quyết định khởi tố; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố; quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án; các quyết định tố tụng khác
Bên cạnh những quyền tố tụng đặc thù quy định tại Điều 48, Điều 49, Điều
50 của BLTTHS 2003 với tư cách là công dân và là người chưa bị coi là có tội, qua việc ghi nhận những nguyên tắc trong tố tụng hình sự, BLTTHS 2003 đã thể hiện việc ghi nhận các quyền cơ bản mà người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được hưởng:
“Quyền được tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4); Quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 5;Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 6); Quyền được bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (Điều 7); Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở,
an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (Điều 8); Quyền được coi là không có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9) [28, tr.9-11]
Trang 371.3.4 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thông qua một số nguyên tắc tố tụng
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, để thực hiện được mục đích phát hiện nhanh chóng, kịp thời, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cần phải có những định hướng trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS Những định hướng này thể hiện quan điểm, đường lối và chính sách hình sự của Nhà nước ta trong việc đấu tranh, xử lý
tội phạm và được gọi là nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS Việt Nam [14, tr.71]
Các nguyên tắc tố tụng là định hướng quan trọng cho hoạt động thực tế và các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ cũng như thủ tục tố tụng có liên quan, vì vậy việc ghi nhận những nguyên tắc đề cao sự tôn trọng và bảo đảm quyền của cá nhân trong
đó có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là tiền đề pháp lý cần thiết, là sự bảo đảm
pháp lý quan trọng đối với việc đảm bảo những quyền cụ thể
- Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm cá nhân, các quyền và tự do của công dân (Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8 BLTTHS năm 2003) [28]
Trong quá trình giải quyết vụ án, các hoạt động của cơ quan THTT ảnh hưởng tới các quyền của công dân, đặc biệt là các quyền cơ bản được quy dịnh trong Hiến pháp như: quyền tự do thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện tín, điện báo… Vì vậy, Luật TTHS quy định các nguyên tắc nhằm
đảm bảo các quyền con người [25, tr.130] Trước pháp luật, mọi công dân đều được
bình đẳng, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng không ngoại lệ, họ cũng được đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể được quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở,
an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín, những quyền này của họ chỉ bị hạn chế khi có những căn cứ và hành vi hạn chế những quyền kể trên của họ phải được tiến hành theo quy định của pháp luật được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản, PLTTHS nghiêm cấm mọi hình thức xâm phạm bất hợp pháp các quyền nói trên của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Nguyên tắc này là cơ sở nền tảng của việc xây dựng và áp dụng các quy định của BLTTHS trong vấn đề đảm bảo quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Trang 38- Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án
đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9 và đoạn 2 Điều 10 BLTTHS năm 2003) [28]
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa có bản án kết tội của tòa án đối với họ đã có hiệu lực pháp luật, do đó họ chưa phải là người có tội Nguyên tắc này là định hướng trong chính sách xây dựng và áp dụng pháp luật trong việc đảm bảo quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Đồng thời đã khắc phục được sự định kiến của các cơ quan THTT đối với bị can, bị cáo và tạo điều kiện để bị can, bị cáo thực
hiện quyền bào chữa của mình [14, tr.130]
- Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 10 Bộ luật TTHS năm 2003) [28]
CQĐT, VKS và Tóa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội
Xác định sự thật khách quan là mục đích của quá trình giải quyết vụ án hình
sự và là một nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS tại Điều 10 Bộ luật TTHS năm
2003 Như vậy, công cụ để CQĐT, VKS, Tòa án xác định sự thật khách quan của
vụ án là tất cả các biện pháp của TTHS Các biện pháp đó bao gồm: biện pháp ngăn chặn, biện pháp điều tra thu thập chứng cứ và những biện pháp khác Khi sử dụng các biện pháp này phải tuân thủ và trong giới hạn quy định của pháp luật, không được sử dụng biện pháp bất hợp pháp để tiến hành làm rõ vụ án
Sự thật của vụ án mà các cơ quan THTT phải xác định đó là toàn bộ diễn biến của sự việc phạm tội đã xảy ra Điều 63 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định những đối tượng chứng minh mà các cơ quan THTT cần giải quyết là: có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, mục đích hay động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và
Trang 39những đặc điểm của nhân thân bị can, bị cáo; tính chất mức độ do hành vi phạm tội gây ra Trong quá trình chứng minh, các cơ quan THTT, người THTT phải thu thập, kiểm tra và đánh gia chứng cứ trên tất cả các phương diện một cách khách quan, tránh phiến diện Mọi chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, xét xử đều phải được đánh giá trên cơ sở pháp lý để rút ra kết luận về việc giải quyết vụ án
Trách nhiệm xác định sự thật khách quan của vụ án thuộc về các cơ quan THTT, người THTT Bởi vì, cơ quan THTT, người THTT đại diện cho Nhà nước được quyền áp dụng các biện pháp mà Luật TTHS qua định mới có điều kiện để xác định sự thật khách quan của vụ án; mặt khác, để buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự thì Nhà nước phải đưa ra các chứng cứ chứng minh họ đã có hành vi phạm tội xâm hại tới lợi ích chung, trách nhiệm thu thập chứng cứ xác định sự thật
đó thuộc về các cơ quan THTT và người THTT Bị can, bị cáo không có nghĩa vụ phải chứng minh họ vô tội, không phải chứng minh sự thật khách quan của vụ án
Tuy nhiên, để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Luật TTHS quy định họ có quyền đưa ra các chứng cứ và yêu cầu chứng minh mình không phạm tội Các cơ quan THTT phải tạo điều kiện để bị can, bị cáo đưa ra các chứng cứ và giải quyết các yêu cầu mà họ đưa ra, phải xem xét một cách khách quan các chứng cứ và yêu cầu đó, không được có thái độ thiên vị hoặc bỏ qua
Tóm lại, xác định sự thật khách quan là nguyên tắc cơ bản xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án mà các cơ quan THTT, người THTT có trách nhiệm phỉa chứng minh [17, tr 88-90]
- Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11 BLTTHS năm 2003) [28]
Nguyên tắc này khẳng định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền bào chữa và là cơ sở xây dựng các cơ chế để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa dễ dàng, hiệu quả cũng như quy định nghĩa vụ của người THTT cũng như các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Trang 40- Nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (Điều 29 BLTTHS năm 2003), bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền THTT hình sự gây ra (Điều 30 BLTTHS năm 2003) [28]
Đây là nguyên tắc thể hiện trách nhiệm của nhà nước trước công dân Trong trường hợp cơ quan, người THTT làm oan người vô tội hoặc làm thiệt hại cho họ Người bị oan, người bị thiệt hại (trong đó có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi Nguyên tắc này không chỉ nâng cao trách nhiệm của cơ quan THTT, người THTT trong việc giải quyết VAHS mà còn là biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng trong TTHS, lĩnh vực mà quyền con người đặc biệt là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có khả năng bị xâm phạm rất cao Trên cơ sở nguyên tắc này, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 388 quy định chi tiết việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền của các cơ quan THTT gây ra Những quy định này của pháp luật đã góp phần tích cực vào
việc bảo vệ quyền con người [14, tr.133]
- Nguyên tắc đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo trong TTHS (Điều 31 BLTTHS năm 2003) [28]
Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân chủ của pháp luật TTHS nước ta, là một trong những biện pháp quan trọng để phát hiện, sữa chữa kịp thời những sai lầm, thiếu sót trong hoạt động tố tụng của cơ quan, người THTT, là một trong những căn cứ để công dân (trong đó có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
1.3.5 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thông qua quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
Theo pháp luật TTHS, NBC là người tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội, giúp họ về mặt pháp lí nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình