1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ yếu là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk)

108 590 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định của bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng .... Tình hình nghiên cứu Trong những năm qua, việc n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN DUY THUẤN

C¸C TéI X¢M PH¹M HO¹T §éNG T¦ PH¸P Mµ CHñ THÓ

Lµ NH÷NG NG¦êi TRONG C¸C C¥ QUAN TIÕN HµNH Tè TôNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TS ĐỖ NGỌC QUANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xá và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Duy Thuấn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP MÀ CHỦ THỂ LÀ NGƯỜI TRONG CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG 6

1.1 Những khái niệm có liên quan 6

1.1.1 Khái niệm cơ quan tư pháp 6

1.1.2 Khái niệm hoạt động tư pháp 10

1.1.3 Khái niệm người trong các cơ quan tiến hành tố tụng 12

1.1.4 Khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người tiến hành tố tụng 16

1.2 Quá trình phát triển của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng 18

1.2.1 Giai đoạn 1945 đến 1975 18

1.2.2 Giai đoạn 1976 đến 1999 22

1.3 Quy định của bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng 25

1.3.1 Xác định tội danh của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng 25

Trang 5

1.3.2 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm hoạt

động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành

tố tụng 29

1.3.3 Chế tài hình sự đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng 54

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP MÀ CHỦ THỂ LÀ NGƯỜI TRONG CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG 56

2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng 56

2.1.1 Kết quả và những tồn tại trong điều tra, truy tố và xét xử đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng 56

2.1.2 Những nguyên nhân gây nên những tồn tại trong việc áp dụng pháp luật đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng 67

Chương 3: NHỮNG ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP MÀ CHỦ THỂ LÀ NGƯỜI TRONG CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG 74

3.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước trong đấu tranh với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng 74

3.2 Hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng 80

3.4 Các đề xuất, kiến nghị khác 92

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Số vụ án hình sự và số bị cáo bị đưa ra xét xử về tội xâm

phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cải cách tư pháp là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết và mang tính quy luật để có thể thích ứng với những đổi mới về văn hóa, kinh tế, xã hội và hệ thống chính trị Vấn đề này đã chính thức được đặt ra tại nhiều Đại hội của Đảng, đồng thời đã được đánh dấu và ghi nhận trong các Nghị quyết 8 Trung ương khóa VII, Nghị quyết 3 và 7 Trung ương khóa VIII và đặc biệt là Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác

tư pháp trong thời gian tới”; Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”

Do tố tụng hình sự được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng là hoạt động quyền lực Nhà nước do những người đại diện của các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện như: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án Những năm qua, trong tiến trình tổng thể cải cách đất nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng thì hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhất là trong công tác phát hiện, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đã hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong khi thực hiện nhiệm vụ tư pháp đã xuất hiện không ít hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp của người tiến hành tố tụng trong các cơ quan tiến hành tố tụng Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả của hoạt động tư pháp, mà còn gây

Trang 9

mất lòng tin của nhân dân vào các cơ quan tư pháp, vào công lý, lẽ phải Vì vậy, việc nghiên cứu các tội xâm phạm hoạt động tư pháp nói chung và với đối tượng phạm tội là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng là một vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn Với nhận thức như vậy, học

viên chọn đề tài: "Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, việc nghiên cứu các tội xâm phạm hoạt động tư pháp đã thu hút được sự quan tâm của dư luận và nhiều nhà nghiên cứu đã

được công bố như: Trần Minh Hưởng, Đặng Thu Hiền: "Tìm hiểu các tội xâm

phạm hoạt động tiến hành tố tụng", Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, năm 2002

; Nguyễn Ngọc Điệp, Hồ Thị Nệ: "Tìm hiểu các tội hoạt động tiến hành tố

tụng: Trong Bộ luật hình sự 1999", Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm

2001; Nguyễn Tất Viễn, Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Luật học: "Các tội xâm

phạm hoạt động tiến hành tố tụng trong luật hình sự Việt Nam", năm 1996;

Nguyễn Huy Hoàn, Luận án tiến sĩ Luật học: "Đảm bảo quyền con người

trong hoạt động tiến hành tố tụng ở Việt Nam hiện nay", năm 2005; Đề tài

nghiên cứu khoa học: "Thực trạng các tội xâm phạm hoạt động tiến hành tố

tụng và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong cuộc đấu tranh chống các tội phạm này", Chủ nhiệm đề tài Bùi Đức Long, Cơ quan chủ

trì: Trường Cao đẳng kiểm sát, 1998… Ngoài ra, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp còn được đề cập ở các mức độ khác nhau trong các tạp chí, sách báo khác như: Giáo trình Luật hình sự của trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, sách chuyên khảo Các tác giả chủ yếu đề cập tới trách nhiệm hình sự, tìm hiểu và bình luận về các tội xâm phạm hoạt động tiến hành tố tụng trong luật hình sự Việt Nam, đảm bảo

Trang 10

quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay hoặc nghiên cứu các tội xâm phạm hoạt động tư pháp với tư cách là đối tượng của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ về mặt lý luận những nội dung cơ bản của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng và thực trạng đấu tranh chống các tội phạm này theo quy định của Luật hình sự Việt Nam trong những năm gần đây Trên cơ sở

đó, luận văn đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Về mặt lý luận: trên cơ sở nghiên cứu quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong lịch sử phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam và các quy định về người tiến hành tố tụng và các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong Luật hình sự một số nước trên thế giới, phân tích khái niệm, các yếu tố, dấu hiệu cấu thành tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng trong Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành để làm sáng tỏ bản chất pháp lý và những nội dung cơ bản của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng theo luật tố tụng hình sự Việt Nam

Về mặt thực tiễn: nghiên cứu, phân tích và đánh giá những vụ việc của các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã có những sai phạm trong quá trình thực thi pháp luật Đồng thời phân tích những hạn chế, tồn tại và vướng mắc

Trang 11

xung quanh việc áp dụng trên thực tiễn các quy định về loại tội phạm này nhằm đề ra phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật và các biện pháp chống các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng thình sự Việt Nam

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Để đạt được những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, nghiên cứu lịch sử

và phương pháp tổng hợp, cũng như những thành tựu của khoa học luật hình

sự, khoa học luật tố tụng hình sự, xã hội học pháp luật v.v Trong các công trình của các nhà khoa học, luật gia ở trong và ngoài nước Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào số liệu thực tiến trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, trong các báo cáo của Công an nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân và một số vụ án hình sự trong thực tiễn trong quá trình điều tra, truy

tố và xét xử và thông tin trên mạng Internet để phân tích và đánh giá, tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự

5 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới về khoa học của luận văn

Về mặt lý luận: Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đề cập một cách

có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội xâm phạm hoạt động

tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, ở cấp độ một luận văn thạc sĩ ngành luật hình sự và tố tụng hình sự

Trang 12

Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần vào việc xác định đúng đắn những

yếu tố cấu thành tội phạm của từng tội danh cụ thể trong chương Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật này và nêu ra các đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh chống các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành

tố tụng Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa tham khảo cho cán bộ và học viên trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập về vấn đề này

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung về các tội xâm phạm hoạt động tư

pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng

Chương 2 Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm

hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng

Chương 3 Những đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả đấu tranh với

các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM

HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP MÀ CHỦ THỂ LÀ NGƯỜI

TRONG CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG

1.1 Những khái niệm có liên quan

1.1.1 Khái niệm cơ quan tư pháp

Quyền tư pháp cùng với quyền lập pháp và quyền hành pháp hợp thành quyền lực nhà nước thống nhất của một quốc gia Cơ quan tư pháp, với những đặc trưng riêng của quyền tư pháp, được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc do Hiến pháp và pháp luật quy định

Trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật hiện nay của nhà nước ta không nêu rõ và đặt tên cơ quan tư pháp là cơ quan nào Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1946 có một chương có tên Cơ quan tư pháp, trong đó, Tòa án được

coi là cơ quan tư pháp: Cơ quan tư pháp của Nước Việt Nam dân chủ cộng

hòa gồm có: Tòa án tối cao; Các tòa án phúc thẩm; Các tòa án đệ nhị cấp và

sơ cấp (Điều 63)

Hiến pháp 1959 cụm từ cơ quan tư pháp không được sử dụng trong các văn bản pháp luật của Nhà nước Từ Hiến pháp năm 1992 đến nay, cụm từ quyền tư pháp và cơ quan tư pháp được sử dụng nhiều trong các văn bản chính trị, pháp luật; Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) có một điều khoản đề cập đến quyền tư pháp trong nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước “Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2) và một điều khoản đề cập đến hoạt động tư pháp khi quy định Viện kiểm sát thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Trong Hiến pháp cũng như các văn bản pháp luật, không văn bản nào xác định rõ ràng, thống nhất cơ

Trang 14

quan thực hiện quyền tư pháp là những cơ quan nào; hoạt động tư pháp gồm những hoạt động gì; Trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (Năm 2002) cũng không có điều khoản nào làm rõ khái niệm hoạt động tư pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp mà chỉ dùng phương pháp liệt kê một số nhiệm vụ của kiểm sát hoạt động điều tra, hoạt động xét xử, hoạt động thi hành án Như vậy, các Hiến pháp những năm tiếp theo như Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp 2013 không có tên chương nào đặt cho cơ quan tư pháp mà chỉ quy định chương có tên Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân Ví dụ, Điều

126 Hiến pháp năm 1992 quy định: Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân

dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Hiến pháp năm 2013 không có điều luật chung quy định về Tòa án nhân

dân, Viện kiểm sát nhân dân, nhưng có các điều luật riêng xác định chức năng

của các cơ quan này Tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: Tòa án

nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Điều 107

Hiến pháp 2013 quy định: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố,

kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,

cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Như vậy, tuy không nêu rõ, nhưng Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát

nhân dân được gọi là các cơ quan tư pháp

Trang 15

Trong thực tế, tại các văn kiện của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung hay Nghị quyết về công tác tư pháp nói riêng, cụm từ cơ quan tư pháp được sử dụng nhiều, nhưng cũng không có văn bản nào xác định một cách thống nhất, rõ ràng cơ quan tư pháp gồm những cơ quan nào Ở mỗi thời điểm khác nhau, thuật ngữ cơ quan tư pháp được xác định và thể hiện trong các văn bản cũng khác nhau Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, khi đề cập đến việc nâng cao chất lượng hoạt động và đề cao trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ tư pháp đã xác định các cơ quan sau: Cơ quan điều tra; Cơ quan công tố (các viện kiểm sát nhân dân); Cơ quan xét xử (các tòa án); Cơ quan thi hành án (hình sự, dân sự); Cảnh sát tư pháp; Các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp (các tổ chức luật

sư, công chứng, giám định tư pháp ) Hoặc trong Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02-6-2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, khi đề cập đến việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức,

bộ máy của các cơ quan tư pháp đã nêu các cơ quan: Tòa án nhân dân; Viện kiểm sát nhân dân; Cơ quan điều tra; Cơ quan thi hành án Ngoài ra, Nghị quyết số 49-NQ/TW còn nhấn mạnh, cần hoàn thiện các chế định về bổ trợ tư pháp (luật sư, giám định, cảnh sát hỗ trợ tư pháp, công chứng) Có thể thấy, thuật ngữ các cơ quan tư pháp ở nước ta hiện nay chưa được hiểu và sử dụng một cách thống nhất trong các văn bản của Đảng và pháp luật của Nhà nước Thuật ngữ này thường được hiểu theo nghĩa rộng là ngoài Tòa án và Viện kiểm sát, còn có các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp (Cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án, cơ quan công chứng…), thậm chí gồm cả các tổ chức xã hội nghề nghiệp (như Luật sư), tức là những tổ chức nằm ngoài hệ thống quyền lực Nhà nước [14]

Một điểm cần lưu ý khi tìm hiểu thuật ngữ các cơ quan tư pháp được

Trang 16

dùng với ý nghĩa, phạm vi nhưtrên, chúng ta cần phân biệt thuật ngữ này với thuật ngữ các cơ quan của “ngành tư pháp” thuộc hệ thống hành pháp (gồm

Bộ Tư pháp, các Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, Ban Tư pháp) Mặc dù các cơ quan này đều có cụm từ “Tư pháp” gắn sau tên cơ quan, nhưng thực chất, các

cơ quan này không trực tiếp thực hiện các hoạt động tư pháp Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các cơ quan này là cơ quan quản lý Nhà nước đối với một số tổ chức và hoạt động tư pháp (thi hành án dân sự, luật sư, công chứng, giám định tư pháp ) Ngoài ra, trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, Bộ

Tư pháp được giao chủ trì xây dựng một số văn bản luật liên quan trực tiếp đến hoạt động tư pháp (như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Luật thi hành án, Luật luật sư ), là thành viên tham gia và thẩm định tất cả các văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp Điều này đặt ra cần hiểu đúng thế nào là cơ quan tư pháp

Theo lý luận nhà nước và pháp luật, bộ máy quyền lực nhà nước của các quốc gia trên thế giới nói chung gồm có các cơ quan chủ yếu là: Cơ quan lập pháp (Quốc hội), Cơ quan hành pháp (Chính phủ) và Cơ quan tư pháp (Tòa án) Các cơ quan này độc lập với nhau để kiềm chế sự lạm quyền của mỗi cơ quan Tuy nhiên, do đặc điểm của nước ta, ngoài những điểm chung như các quốc gia khác trên thế giới còn có những đặc điểm riêng Các cơ quan quyền lực của nhà nước ta có Cơ quan lập pháp là Quốc hội, Cơ quan hành pháp là Chính phủ, bộ máy chính quyền địa phương và Cơ quan tư pháp thì ngoài Tòa án còn có Viện Kiểm sát Quan điểm của Đảng và nhà nước ta là

các cơ quan này như Điều 2 Hiến pháp 2013 khẳng định: Quyền lực nhà nước

là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Cho nên

việc phân chia quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước mang tính chất tương đối Tất cả các hoạt động của các cơ quan này đặt dưới sự lãnh đạo của

Trang 17

Đảng Cộng sản Việt Nam như Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định: Đảng Cộng sản Việt nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội

Như vậy, có thể hiểu các cơ quan tư pháp tại Việt Nam là Cơ quan Tòa

án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân những cơ quan thực hiện chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính theo quy định của pháp luật có liên quan

1.1.2 Khái niệm hoạt động tư pháp

Trên thế giới, nói đến hoạt động tư pháp là nói đến hoạt động xét xử của toà án cũng như nói đến cơ quan tư pháp là nói đến cơ quan toà án; nói đến tư pháp là nói đến một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập rất cao trong mối quan hệ với lập pháp và hành pháp Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là lĩnh vực tư pháp độc lập một cách tuyệt đối với các lĩnh vực lập pháp

và hành pháp Xét về phương diện phân công (hay phân chia) và thực hiện quyền lực ở mỗi quốc gia, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp đều có quan hệ và ảnh hưởng qua lại với nhau trong hoạt động Mức độ của sự ảnh hưởng này tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như: bản chất nhà nước; các nguyên tắc

tổ chức bộ máy nhà nước; các yếu tố văn hoá pháp lý và dân chủ; điều kiện thực tế của mỗi nước

Ở nước ta, nếu chỉ có hoạt động của các cơ quan tòa án, viện kiểm sát thì chưa thể thực hiện được chức năng tư pháp, mặc dù hoạt động xét xử của tòa án được coi là trung tâm trong hoạt động tư pháp Khi giải quyết vụ án hình sự, để tòa án có thể tổ chức các phiên tòa xét xử, viện kiểm sát thực hiện được chức năng công tố, buộc tội người phạm tội trước phiên tòa phải có các hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra mà đa số các cơ quan này không nằm trong cơ quan tòa án, viện kiểm sát (trừ Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao) Các cơ quan điều tra nói chung (các Cơ quan điều tra các cấp của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng) đều nằm trong bộ máy hành pháp

Trang 18

(Chính phủ) Ngoài ra, để thực hiện được nhiệm vụ điều tra của các cơ quan này đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của nhiều cơ quan khác như cơ quan giám định,

cơ quan hỗ trợ tư pháp, cơ quan công chứng, cơ quan định giá tài sản trong tố tụng hình sự, tố tụng dân sự v.v Do vậy, hoạt động tư pháp không chỉ của các cơ quan tư pháp, mà còn có các cơ quan khác nằm trong bộ máy Chính phủ hoặc những tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp

Trong quá trình phát triển của đất nước, khái niệm “hoạt động tư pháp” luôn có những thay đổi theo các giai đoạn lịch sử, gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nếu theo tinh thần của Hiến pháp năm 1946, với quy định về cơ quan tư pháp là toà án thì, hoạt động tư pháp thuần tuý được hiểu chỉ là hoạt động xét xử của toà án Từ Hiến pháp năm 1992 trở đi, khái niệm “hoạt động tư pháp” từng bước được mở rộng và đến nay đã gồm nhiều hoạt động khác nhau, như: khởi

tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Cho nên, các hoạt động tư pháp hiện nay được thực hiện bởi nhiều chủ thể, như: Toà án; Viện kiểm sát; Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Toà án như cơ quan Công an, các cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú, làm việc Ngoài ra còn có những

cơ quan khác cũng được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm Lâm, lực lượng Cảnh sát Biển thực hiện các hoạt động tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ các quyền tự do, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của công dân Cho nên, khái niệm hoạt động tư pháp thường được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là hoạt động của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và Cơ quan thi hành án trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và

Trang 19

thi hành đối với các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và giải quyết các quan hệ pháp luật khác được phát sinh theo quy định của pháp luật, nhằm bảo

vệ các quyền của Nhà nước, của các tổ chức, của công dân Các hoạt động này do người đại diện của các cơ quan tư pháp nhân danh Nhà nước trực tiếp thực hiện tùy theo chức danh được bổ nhiệm Hoạt động tư pháp bao gồm những hoạt động trực tiếp liên quan đến trình tự thủ tục tố tụng theo luật định mới được xác định là hoạt động tư pháp Ví dụ như hoạt động điều tra; hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; hoạt động xét xử, hoạt động thi hành án và các hoạt động của các cơ quan được Nhà nước giao thẩm quyền trong việc tiến hành một số hoạt động tư pháp theo thủ tục tố tụng, trong đó hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động trọng tâm (theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 2/6/2005 "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020")

Như vậy, hoạt động tư pháp là hoạt động tố tụng trong các lĩnh vực

hình sự, dân sự, hành chính, bao gồm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với các vụ án hình sự, dân sự, hành chính do người của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án thực hiện trong khuôn khổ pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và của công dân

1.1.3 Khái niệm người trong các cơ quan tiến hành tố tụng

Tên gọi người tiến hành tố tụng để chỉ những người làm việc trong các

cơ quan tiến hành tố tụng Các cơ quan tiến hành tố tụng ở nước ta được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng (Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính) Tùy thuộc vào mỗi hình thức tố tụng

mà các cơ quan tiến hành tố tụng được quy định không giống nhau

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; Toà án

Trang 20

các cấp Ví dụ, hệ thống các cơ quan điều tra bao gồm: cơ quan điều tra trong Công an nhân dân; cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân; cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Các cơ quan điều tra là một bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng, tiến hành điều tra các vụ án hình sự làm cơ sở cho hoạt động truy tố, xét xử đối với người phạm tội trước Toà án Trong Công an nhân dân có các cơ quan điều tra sau đây: Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh); Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện); Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh) Trong Quân đội nhân dân có cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng; cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương; cơ quan điều tra hình sự khu vực; Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng; Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương Ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao có cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra một

số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp [39]

Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Viện kiểm sát quân sự Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước hợp thành quan trọng của hệ thống tư pháp Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật nhằm góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã

Trang 21

hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật [38]

Hệ thống Tòa án nhân dân bao gồm: Toà án nhân dân tối cao; Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Toà án quân sự trung ương; Tòa án quân

sự cấp quân khu và Tòa án quân sự cấp khu vực Những người tiến hành tố tụng tại các cơ quan này gồm Thủ trường, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án [37]

Trong tố tụng dân sự, theo Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự: Các cơ quan

tiến hành tố tụng gồm có: Toà án nhân dân; Viện kiểm sát nhân dân Những người tiến hành tố tụng gồm có: Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án; Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Trong tố

tụng hành chính, theo Điều 34 Luật tố tụng hành chính, Các cơ quan tiến

hành tố tụng hành chính gồm có: Toà án nhân dân; Viện kiểm sát nhân dân Những người tiến hành tố tụng hành chính gồm có: Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án; Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên [39]

Như vậy, cơ quan tiến hành tố tụng nói chung là cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án được giao trách nhiệm giải quyết vụ án hình sự, vụ án dân sự,

vụ án hành chính tại các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của những cơ quan này theo quy định của pháp luật

Quá trình giải quyết vụ án nói chung, trong đó có vụ án hình sự nói riêng, là một quá trình liên tục, trải qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau

Trang 22

Trong vụ án hình sự, quá trình tố tụng được bắt đầu từ khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử Đối với vụ án dân sự, hành chính, quá trình tố tụng được bắt đầu khi có đơn khởi kiện của nguyên đơn dân sự tại Tòa án Những người có trách nhiệm giải quyết vụ án này được gọi là người tiến hành tố tụng

Nếu như các cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án thì người tiến hành tố tụng là người làm việc trong các cơ quan này được giao nhiệm vụ giải quyết vụ án Họ là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra và Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát

và Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Toà án Họ là những người có chức danh tư pháp Vì quan niệm chức danh tư pháp bao gồm những người thực thi nhiệm vụ trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử) được đào tạo kỹ năng thực hành

và hành nghề theo một chuyên môn nhất định, có chức danh, được bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp luật khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định của pháp luật

Do hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng gắn liền với việc giải quyết vụ án do người tiến hành tố tụng thực hiện Hoạt động của họ với tư cách người tiến hành tố tụng đều nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nên hoạt động của họ gắn liền với việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước, xã hội, công dân Chính vì vậy, hoạt động của người tiến hành tố tụng chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Vụ án có được giải quyết đúng pháp luật hay không, nhanh hay chậm; quyền lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có được bảo vệ hay không; công lý và công bằng

có được bảo đảm hay không tùy thuộc vào khả năng, trình độ, năng lực, đạo đức và ý thức nghề nghiệp của người tiến hành tố tụng Khi thực hiện nhiệm

vụ, người tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; được trực tiếp sử dụng quyền lực Nhà nước trong khi thi hành công

Trang 23

vụ và ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích cơ bản của công dân

Từ điều này, có thể hiểu, người trong các cơ quan tiến hành tố tụng là

những người tiến hành tố tụng có chức danh tố tụng; được giao nhiệm vụ giải quyết vụ án theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định, tùy thuộc vào vụ án

đó là vụ án hình sự, dân sự hay vụ án hành chính

1.1.4 Khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người tiến hành tố tụng

Điều 292 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định“Các tội xâm phạm hoạt

động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” [41] Theo khái niệm

này, hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành

án là hoạt động theo đúng quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động điều tra hình sự của cơ quan điều tra; hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Cơ quan Viện kiểm sát; hoạt động xét xử của Cơ quan Tòa án, và hoạt động thi hành án của các Cơ quan Thi hành án hình sự (cơ quan công an các cấp), thi hành án dân sự (cơ quan tư pháp các cấp) Xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan này thể hiện bằng việc không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án và hậu quả của sự xâm phạm này là gây thiệt hại cho quyền lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân

Trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được quy định tại Chương XXII của BLHS có 3 loại chủ thể của tội phạm Loại thứ nhất là các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được thực hiện bởi những người tiến hành tố tụng gồm các tội được quy định tại các Điều 293, 294, 295, 296, 298, 299 (Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội; Tội không truy cứu trách nhiệm

Trang 24

hình sự người có tội; Tội ra bản án trái pháp luật; Tội ra quyết định trái pháp luật; Tội dùng nhục hình; Tội bức cung)

Loại chủ thể thứ hai trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được thực hiện bởi những người tham gia tố tụng Những người tham gia tố tụng là những người với tư cách người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định

Họ là chủ thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được quy định tại các Điều 304, 307, 308, 311 (Tội không chấp hành án; Tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật; Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu; Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử)

Loại chủ thể thứ ba trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được thực hiện bởi bất kỳ người nào khi có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định Họ có thể là những người có chức vụ quyền hạn nhất định trong bộ máy nhà nước nói chung, hoặc họ là những người làm việc trong các

cơ quan thi hành án Đó là các tội được quy định tại các Điều 297, 300, 301,

302, 303, 305, 306, 309, 310, 312, 313 và 314 (Tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật; Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án; Tội thiếu trách nhiệm để người

bị giam, giữ trốn; Tội tha trái pháp luật người đang bị giam, giữ; Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật; Tội không thi hành án; Tội cản trở việc thi hành án; Tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; Tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản; Tội đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử; Tội che giấu tội phạm; Tội không tố giác tội phạm)

Như phần trên đã trình bày, hoạt động của những người tiến hành tố tụng chiếm vị trí đặc biệt quan trọng vì vụ án có được giải quyết đúng pháp luật hay không, nhanh hay chậm; quyền lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp

Trang 25

của tổ chức, cá nhân có được bảo vệ hay không; công lý và công bằng có được bảo đảm hay không tùy thuộc vào khả năng, trình độ, năng lực, đạo đức và ý thức nghề nghiệp của những người tiến hành tố tụng Trong trường hợp họ vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án làm cho vụ án được giải quyết không đúng theo quy định của pháp luật, gây oan sai cho những người tham gia

tố tụng thì sẽ gây thiệt hại cho quyền lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Cho nên, Nhà nước và xã hội luôn đòi hỏi

họ phải thực sự khách quan trong việc giải quyết vụ án

Từ những nội dung đã trình bày trên có thể hiểu, các tội xâm phạm hoạt

động tư pháp mà chủ thể là người tiến hành tố tụng là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử được thực hiện bởi một hoặc một số người trong những người có chức vụ như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án trong khi được giao giải quyết vụ án gây hậu quả nghiêm trọng đến quyền lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân

1.2 Quá trình phát triển của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng

1.2.1 Giai đoạn 1945 đến 1975

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công (tháng 8/1945), trong những năm tháng đầu tiên sau khi giành được độc lập, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trên tất cả các lĩnh vực Nền kinh tế đất nước rất nghèo nàn, lạc hậu, vừa trải qua nạn đói năm 1945; người dân không có việc làm; chế độ tài chính kiệt quệ, hầu như không có gì, phải kêu gọi nhân dân ủng hộ tiền, vàng cho cách mạng; trình độ học vấn của nhân dân hầu như rất thấp, có tới 95% dân số toàn quốc hoàn

Trang 26

toàn mù chữ Trong khi đó, nguy cơ ngoại xâm từ bên ngoài lấy danh nghĩa đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật Tại miền Bắc, quân đội Tưởng Giới Thạch tiến vào Hà Nội Khoảng 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch mượn danh nghĩa Đồng Minh vào giải giáp quân đội Nhật Tại miền Nam, quân đội Pháp được quân Anh yểm trợ xâm lược chiếm Sài Gòn Bên trong đất nước, bọn phản động người Việt được sự trợ giúp của đế quốc ngoại bang và tàn quân của chế độ cũ nổi dậy chống phá nhằm lật đổ chính quyền nhân dân non trẻ để thành lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng Đứng trước tình hình đó, nhân dân ta phải thực hiện ba nhiệm vụ lớn là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm Chính vì vậy, hệ thống pháp luật nói chung, trong

đó có pháp luật hình sự được xây dựng thời kỳ này chủ yếu tập trung phục vụ

ba nhiệm vụ nói trên Nhưng do tình hình hết sức khẩn trương lúc bấy giờ, nên không thể ban hành kịp các văn bản quy phạm pháp luật cũng như các văn bản quy phạm pháp luật hình sự cần thiết Do đó, ngày 10/10/1945, nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 47-SL cho tạm thời giữ các luật lệ cũ ở ba miền Bắc, Trung, Nam, nhưng không được xâm phạm vào nền độc lập quốc gia, trong đó có Bộ "Luật hình An Nam", Bộ "Hoàng Việt hình luật", và Bộ

"Hình luật pháp tu chính" Điều 1 Sắc lệnh quy định:"cho đến khi ban hành

bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành vẫn tạm giữ nguyên như cũ" với điều kiện "Những điều khoản trong luật lệ cũ được tạm giữ lại do sắc luật này chỉ thi hành khi nào không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa" (Điều 12 Sắc lệnh)

Do tình hình đất nước lúc bấy giờ rất cấp bách trong bảo vệ nền độc lập dân tộc nên vấn đề xây dựng pháp luật chưa có thời gian xây dựng, các văn bản pháp luật được ban hành thường mang tính thời kỳ, phục vụ những nhiệm

vụ trước mắt Tuy nhiên, hàng loạt văn bản liên quan đến hoạt động tư pháp được ban hành Sắc lệnh 33C ngày 13/9/1945 của Chính phủ lâm thời về

Trang 27

thành lập tòa án quân sự; Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 và Sắc lệnh số 51 ngày 17/7/1946 về thành lập tòa án các cấp Để hoạt động của tòa án có hiệu quả, một số văn bản pháp luật đã quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp Tại Điều 24 Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán có quy định: các hội thẩm nhân dân phải giữ kín những điều đã bàn bạc trong lúc nghị án Nếu tiết lộ bí mật ấy sẽ bị tòa án nhân dân phúc thẩm khu hoặc thành phố phạt tù từ 6 tháng đến 2 năm tù Tại Điều 18

Sắc lệnh số 40 ngày 29/3/1946 có quy định: "Những người phụ trách các đề

lao, các trại giam, giữ người sau hạn giam mà không có lệnh gia hạn sẽ bị phạt tù từ hai năm đến năm năm và phạt tiền từ 1.000 đến 10.000 đồng"

Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng đã ghi nhận một số nguyên tắc trong hoạt động của cơ quan tư pháp như Điều 11 quy

định: Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ, giam cầm công dân

Việt Nam; Điều 68 quy định: "Cấm không được tra tấn, đánh đập, ngược đãi những bị cáo và tội nhân" Điều 3 Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 cho

phép bị can có thể nhờ công dân không phải là luật sư bênh vực trước tòa án,

nhưng có quy định: người nào để lộ những bí mật đã biết trong khi xem hồ sơ,

hoặc trong cuộc thẩm vấn tại phiên tòa sẽ bị phạt từ 1 đến 5 năm tù và phạt

005 ngày 20/5/1953 Sắc lệnh này quy định trách nhiệm hình sự đối với hành

vi tra tấn, dùng nhục hình cũng như một số hành vi khác xâm phạm đến hoạt

động đúng đắn của cơ quan tư pháp, cụ thể Điều 14 quy định: "Đối với những

người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam tuyệt đối nghiêm cấm tra tấn hoặc dùng

Trang 28

bất cứ nhục hình nào", "Nếu phạm tội tra tấn, dùng nhục hình sẽ bị xử theo hình luật chung" Điều 16 Sắc lệnh cũng quy định chế tài đối với hành vi bắt,

giam người, khám đồ vật, nhà ở thư tín trái đạo luật này thì tùy trường hợp có thể bị thi hành kỷ luật hành chính hoặc bị xử phạt từ 15 ngày đến ba năm tù

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đất nước ta bị chia làm hai miền: miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, còn miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm thống trị Trước tình hình đó, pháp luật hình sự thời kỳ này phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc giải phóng miền Nam Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng miền Bắc thành căn cứ vững mạnh của cách mạng cả nước Đảng và Nhà nước tiến hành cuộc cải cách ruộng đất rộng khắp trên toàn miền Bắc Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967,

Điều 17 quy định: "Kẻ nào biết rõ phần tử phản cách mạng mà chưa chấp

che giấu, tiếp tế, giúp đỡ cho chúng lẩn trốn hoặc cất giấu tang vật thủ tiêu chứng cứ phạm tội của chúng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm"

Kể từ khi miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, số lượng tài sản Nhà nước chiếm tỷ lệ lớn trong nền kinh tế Quốc gia Mặt khác, thời kỳ này, nền kinh tế Việt Nam mang đậm tính chất kinh tế bao cấp, tội phạm về kinh tế và tội phạm xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa gia tăng nhiều Đáp ứng yêu cầu của thực tế và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm Ngày 21/10/1970, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành hai pháp lệnh: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa,

và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản công dân Hai pháp lệnh này

có quy định về tội bao che cho kẻ xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và tội bao che kẻ xâm phạm tài sản công dân

Trang 29

1.2.2 Giai đoạn 1976 đến 1999

Với chiến thắng năm 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước ta hoàn toàn thống nhất Cả nước bắt tay vào khắc phục những hậu quả của chiến tranh và tiến hành xây dựng đất nước, khôi phục kinh tế, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Sau thất bại ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã thực hiện nhiều kế hoạch nhằm chống phá chính quyền cách mạng Việt Nam như bao vây cấm vận kinh tế, kích động, dụ dỗ người dân Việt Nam chạy ra nước ngoài hoặc sử dụng người dân Việt sống lưu vong ở nước ngoài chống phá Việt Nam khiến cho tình hình xã hội ở miền Nam chưa được ổn định

Song song với việc chính thức thành lập Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Sắc luật số 03/SL-76, ngày 15/3/1976, quy định các tội phạm và hình phạt Sắc luật này trừng trị các tội phản cách mạng, các tội xâm phạm tài sản công cộng, các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm, sức khỏe, tài sản riêng của công dân, các tội kinh tế (đầu cơ, tích trữ, phá rối trị trường, làm hàng giả ), các tội chức vụ, hối lộ, các tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng [9] Điều 3

Sắc luật quy định: "biết rõ phần tử phản cách mạng mà che giấu thì bị phạt tù

từ một năm đến bảy năm" Hướng dẫn thi hành Sắc luật số 03/SL-76, Bộ Tư

pháp đã ban hành Thông tư số 03/BTP ngày 12/4/1976 Điều 5 Thông tư quy

định: Biết rõ phần tử phản cách mạng mà che giấu, chứa chấp thì bị xử phạt từ

1 năm đến 7 năm tù; có nghĩa là hành vi chứa chấp, che giấu, tiếp tế, giúp đỡ

cho bọn phản cách mạng lẩn trốn hoặc cất giấu tang vật thủ tiêu chứng cứ về tội phạm của chúng Ngoài ra, trong nội dung của Thông tư này cũng có một số quy định về những hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp khác như: các hành vi bắt, giam người trái phép, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật trái phép do người có chức vụ quyền hạn thực hiện thì bị xử theo quy định của Điều 7 Sắc

Trang 30

luật số 03/SL-76 ngày 15/3/1976, hoặc hành vi trốn trại giam hoặc tổ chức cho

kẻ khác trốn trại giam không vì mục đích phản cách mạng thì bị xử theo Điều 9 Sắc luật số 03 về tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng với hình phạt tù từ ba tháng đến năm năm, phạt tiền đến 1.000 đồng và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Như vậy, quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp chưa có tính hệ thống, thiếu cụ thể, còn thiếu nhiều, tản mạn và chưa đề cập được hết các khía cạnh và sự phức tạp của các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp dẫn đến việc gặp nhiều khó khăn trong quá trình xử lý các tội phạm này Đứng trước yêu cầu của tình hình mới, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, cả nước thực hiện nhiệm vụ bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền kinh tế nước nhà, cùng với việc hoàn thiện hệ thống các cơ quan tư pháp thì vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và phòng chống các hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan tư pháp nói riêng trở nên bức xúc Để khắc phục những hạn chế trên cần phải có quy định cụ thể và có hệ thống các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong văn bản quy phạm pháp luật hình sự

Tại kỳ họp thứ 9, ngày 27/6/1985, Quốc hội khóa VII đã thông qua Bộ luật hình sự, có hiệu lực từ ngày 1/1/1986 Sự ra đời của Bộ luật hình sự năm

1985 đánh dấu bước phát triển cao của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật hình sự nói riêng Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành là một sự kiện chính trị pháp lý quan trọng, góp phần tích cực vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Bộ luật hình sự này có sự kế thừa và phát triển luật hình sự của nhà nước ta từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, với sự tích lũy kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm thời gian trước năm 1985, kế thừa những tinh hoa của pháp luật hình sự tiến bộ, thể hiện tính nhân văn, nhân đạo

Trang 31

xã hội chủ nghĩa, Bộ luật hình sự ghi nhận được những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự xã hội chủ nghĩa như nguyên tắc pháp chế, nhân đạo, dân chủ, cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt

Về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, Bộ luật hình sự năm 1985 đã

dành một chương riêng ở Phần các tội phạm, cụ thể là Chương X với 19 điều

luật, từ Điều 230 đến Điều 248 quy định về nhóm tội phạm này Trong 19 điều luật này có 1 điều quy định về khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, 1 điều quy định về hình phạt bổ sung, còn 17 điều quy định 20 tội thuộc nhóm tội xâm phạm họat động tư pháp, trong đó 8 điều quy định về chủ thể là người tiến hành tố tụng đó là: Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không

có tội (Điều 231); Tội ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật (Điều 232); Tội

ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật (Điều 233); Tội dùng nhục hình (Điều 234); Tội bức cung (Điều 235); Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án (Điều 236); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn tha trái pháp luật người bị tạm giam (Điều 238); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn giam người trái pháp luật (Điều 239) Có thể nói, Bộ luật hình sự năm 1985 lần đầu tiên quy định một cách thống nhất, tổng thể và có hệ thống về tội phạm và hình phạt, quy định khá đầy đủ các hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ đáng kể bị coi là tội phạm Việc quy định các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thành một chương riêng trong Bộ luật cho thấy ý nghĩa quan trọng cụ thể hóa những quy định về chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò của các cơ quan tư pháp bằng các quy phạm pháp luật hình sự nhằm bảo vệ cho hoạt động của các cơ quan này khỏi các hành vi xâm hại

Nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, phù hợp với những đổi mới của xã hội, Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997 Tuy nhiên, riêng về chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp thì vẫn tương đối ổn định

Trang 32

Qua 15 năm thực hiện, Bộ luật hình sự năm 1985 đã góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có những đóng góp không nhỏ vào thành công chung của đất nước, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1985 đã bộc lộ những hạn chế nhất định, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn, chưa chính xác về mặt khoa học Nhiều tội danh quy định quá chung chung, bố cục một số chương, điều chưa hợp lý; những hành vi phạm tội có tính chất, mức

độ nguy hiểm khác nhau lại được để cùng một điều luật, một tội danh với một chế tài xử phạt; khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa trong khung hình phạt của nhiều điều luật quá dài đã tạo ra những sơ hở nhất định, dẫn đến

sự tùy tiện khi áp dụng, hiệu quả xử lý không nghiêm, không thống nhất trong việc áp dụng hình phạt

Xuất phát từ tình hình đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, hội nhập khu vực và thế giới, đặt ra yêu cầu phải xây dựng một khung pháp luật hoàn chỉnh vừa khuyến khích các yếu tố tích cực của nền kinh tế thị trường phát triển, vừa có những quy định nghiêm cấm với các chế tài nghiêm khắc nhằm phòng ngừa và xử lý nghiêm minh những tiêu cực của cơ chế Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 21/12/1999, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X tại kỳ họp thứ XI đã thông qua Bộ luật hình sự mới (gọi là Bộ luật hình sự năm 1999), trong đó, chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được tiếp tục hoàn thiện đáp ứng yêu cầu đấu tranh với các tội phạm này trong hoạt động tư pháp

1.3 Quy định của bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm hoạt

động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng

1.3.1 Xác định tội danh của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng

Trang 33

chủ thể là người tiến hành tố tụng là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử được thực hiện bởi một hoặc một số người trong những người có chức vụ như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng

Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư

ký Tòa án trong khi được giao giải quyết vụ án gây hậu quả nghiêm trọng đến quyền lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân

Căn cứ quy định về những người tiến hành tố tụng trong tư pháp hình

sự, dân sự, hành chính và những tội danh trong chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp thì có những tội danh sau đây:

- Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 293);

- Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (Điều 294);

- Tội ra bản án trái pháp luật (Điều 295);

- Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 296);

- Tội dùng nhục hình (Điều 298);

- Tội bức cung (Điều 299);

- Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án (Điều 300);

- Tội tha trái pháp luật người đang bị giam giữ (Điều 302);

- Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam giữ người trái pháp luật (Điều 303); Chủ thể của các tội vừa lượt kê nêu trên chỉ có thể là người tiến hành

tố tụng Ví dụ, Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều

293) quy định: Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự

người mà mình biết rõ là không có tội, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm Người có thẩm quyền nêu trong điều luật này chỉ có thể là Thủ trưởng,

Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát Tương tự như thế, Tội ra bản án trái pháp luật (Điều 295) quy định:

Thẩm phán, Hội thẩm nào ra bản án mà mình biết rõ là trái pháp luật, thì bị

Trang 34

phạt tù từ một năm đến năm năm Chủ thể của tội phạm này chỉ là Thẩm

phán, Hội thẩm là những người có thẩm quyền ra bản án sau khi xét xử Do vậy, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người tiến hành tố tụng khác với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là bất kỳ người nào, hoặc chủ thể là những người tham gia tố tụng

Riêng đối với tội làm sai lệch hồ sơ vụ án được quy định tại Điều 300 Bộ

luật hình sự (BLHS), điều luật quy định: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm

phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự nào mà thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ, làm

hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm Chủ

thể của tội phạm này không chỉ có Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, mà còn có cả nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự Tuy nhiên, luận văn không đề cập đến các nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự vì

họ không phải là người tiến hành tố tụng có chức danh tố tụng như đã nêu ở phần trên của luận văn

Đối với những tội khác như: Tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật (Điều 297); Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn (Điều 302); Tội cản trở việc thi hành án (Điều 306); Tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật (Điều 309); Tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản (Điều 310); Tội đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử (Điều 312); Tội che giấu tội phạm (Điều 313); Tội không tố giác tội phạm (Điều 314), chỉ có thể được thực hiện bởi những người khác không phải là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng, nên không trong phạm vi nghiên cứu

Ví dụ, tội che dấu tội phạm được quy định tại 313 BLHS quy định:

Trang 35

Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại các điều sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù

từ sáu tháng đến năm năm: Các điều từ Điều 78 đến Điều 91 về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; Điều 93 (tội giết người); Điều 111, các khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 112 (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 114 (tội cưỡng dâm trẻ em); Điều 116, các khoản 2 và 3 (tội dâm ô đối với trẻ em); Điều 119, khoản 2 (tội mua bán người); Điều 120 (tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em); Điều 133 (tội cướp tài sản); Điều 134 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); Điều 138, các khoản 2, 3 và 4 (tội trộm cắp tài sản); Điều 139, các khoản 2, 3 và

4 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 140, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản); Điều 143, các khoản 2, 3 và 4 (tội huỷ hoại hoặc

cố ý làm hư hỏng tài sản); Điều 153, các khoản 3 và 4 (tội buôn lậu); Điều 154, khoản 3 (tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới); Điều 155, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm); Điều 156, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 157 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 158, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 160, các khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 165, các khoản 2 và 3 (tội

cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 166, các khoản 3 và 4 (tội lập quỹ trái phép); Điều 179, các khoản

2 và 3 (tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng); Điều 180 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả); Điều 181 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác); Điều 189, các khoản 2 và 3 (tội huỷ hoại rừng); Điều 193 (tội sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 194 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý);

Trang 36

v.v Do vậy, các tội phạm này được thực hiện không phải đặc trưng chỉ có

Thứ nhất, khách thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể

là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng

Trong khoa học pháp lý hình sự, khách thể của tội phạm được chia làm 3 loại bao gồm khách thể chung, khách thể loại của từng nhóm tội phạm và khách thể trực tiếp của từng tội phạm cụ thể

Khách thể chung của tội phạm là sự xâm phạm vào quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ

đó chính là nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, trật tự pháp luật, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và những điều kiện bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp có khách thể chung thể hiện sự xâm phạm vào trật tự pháp luật nói chung mà luật hình sự bảo

vệ Khách thể loại của các tội phạm này chính là xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Hoạt

Trang 37

động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án và thi hành án thể hiện

ở chỗ, hoạt động tư pháp bao gồm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành

án do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, các cơ quan và tổ chức bổ trợ tư pháp thực hiện trong khuôn khổ pháp luật để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm hình sự nhằm bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; bảo

vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Với

ý nghĩa quan trọng như vậy, trong hoạt động chung của bộ máy nhà nước, hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) một mặt góp phần bảo đảm cho hoạt động bình thường của toàn xã hội thông qua việc đấu tranh chống các tội phạm, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền tính mạng, tài sản, tự do, nhân phẩm, danh dự cho mỗi công dân; đảm bảo dân chủ, công bằng xã hội cho mỗi công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong hoạt động tư pháp; bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm mỗi tội phạm xảy

ra phải được phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh đúng người đúng tội, không

để lọt tội phạm, không bắt nhầm người vô tội Mặt khác, nó góp phần tích cực vào việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm, giáo dục cho công dân có ý thức tuân theo pháp luật Để thực hiện được nhiệm vụ tư pháp, những người làm việc trong các cơ quan tư pháp phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của Nhà nước quy định về công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Mọi hành vi làm trái quy định của pháp luật ở các lĩnh vực hoạt động tư pháp đều gây cho hoạt động

tư pháp không công minh, dẫn đến làm đảo lộn trật tự pháp luật, làm sai lệch cán cân công lý, làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước toàn thể nhân dân lao động Do vậy, khách thể loại của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp chính là sự xâm phạm hoạt động đúng đắn của các

cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân

Nếu như tư pháp là những công việc bảo vệ pháp luật, thì hoạt động tư

Trang 38

pháp, không có gì khác là hoạt động bảo vệ pháp luật, trong đó hoạt động xét xử của Tòa án được thừa nhận là nơi biểu hiện tập trung nhất quyền tư pháp trong một quốc gia Thế nhưng, hoạt động tư pháp lại phụ thuộc vào tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước tại mỗi quốc gia Hoạt động tư pháp ở Nhà nước ta không chỉ là hoạt động của Tòa án, mà còn là hoạt động của những cơ quan Nhà nước khác, các tổ chức được Nhà nước cho phép thành lập nhằm thực hiện các công việc liên quan trực tiếp đến hoạt động xét xử của Tòa án Theo Điều 292 Bộ luật hình sự năm 1999 thì hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Như vậy, khách thể loại của hoạt động tư pháp là sự hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án và những hoạt động có liên quan hoặc hỗ trợ cho việc xét xử của Tòa án

Hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án

là những hoạt động giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật về tư pháp, có nghĩa là những hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án nói chung Những hoạt động này là những hoạt động của toà án khi xét xử các vụ án (hình sự, dân sự, kinh tế, lao động v.v… tại Toà án; các hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát trong giải quyết vụ án hình sự; các hoạt động của cơ quan thi hành án trong việc đưa các bản án, quyết định của toà án (hình sự, dân sự, kinh

tế, lao động v.v… ) đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành Khách thể loại của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng là nhóm những quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động tư pháp

Khách thể trực tiếp của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người tiến hành tố tụng được thể hiện trong từng điều luật cụ thể về những tội phạm cụ thể:

- Đối với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 293 BLHS), khách thể trực tiếp của tội phạm này thể hiện ở chỗ xâm phạm vào những quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự Tại Điều 2 BLHS quy định:

Trang 39

Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự Để xác định một người phải chịu trách nhiệm hình sự cần

phải qua quá trình khởi tố, điều tra thu thập chứng cứ chứng minh họ phạm tội

Điều 126 Bộ luật tố tụng hình (BLTTHS) quy định, khi có đủ căn cứ để xác định

một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi

tố bị can Căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội phải dựa

vào những chứng cứ có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định xác định có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và chứng cứ này phải được thể hiện bằng, hoặc là vật chứng; hoặc là lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người khác đã bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; hoặc là kết luận giám định; hoặc biên bản về hoạt động điều tra và các tài liệu, đồ vật khác Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh một người đã thực hiện tội phạm mà những người có thẩm quyền trong cơ quan điều tra, kiểm sát (Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát) vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ chính là sự xâm phạm vào những quy định của pháp luật tố tụng hình sự

về việc truy cứu trách nhiệm hình sự

- Khách thể trực tiếp của tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (Điều 294 BLHS) cũng là sự xâm phạm vào những quy định về truy cứu

trách nhiệm hình sự Điều 126 BLTTHS quy định, khi có đủ căn cứ để xác định

một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi

tố bị can Trong trường hợp này, người có thẩm quyền trong Cơ quan điều tra

phải khởi tố bị can và tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ để buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, người có thẩm quyền này (Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát) phải khởi tố bị can để điều tra Nhưng họ đã không khởi tố đối với

Trang 40

người đã có đủ chứng cứ buộc tội, có nghĩa họ đã không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có tội Điều này là sự xâm phạm vào hoạt động đúng đắn của các cơ quan tư pháp khi thực thi công vụ

- Khách thể trực tiếp của tội ra bản án trái pháp luật (Điều 295 BLHS), Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 296 BLHS) là sự xâm phạm vào hoạt động của cơ quan xét xử khi ra bản án Tùy thuộc vào từng vụ án được đưa ra xét xử

là vụ án hình sự, hay vụ án dân sự, hành chính, pháp luật tố tụng quy định cụ thể

về quy trình đưa ra bản án Ví dụ, Điều 224 BLTTHS quy định, Toà án ra bản

án nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong bản án cần phải ghi rõ: ngày, giờ, tháng, năm và địa điểm phiên toà; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án; họ tên của Kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thành phần

xã hội, tiền án, tiền sự của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của bị cáo; họ tên của người bào chữa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ

án, người đại diện hợp pháp của họ Trong bản án phải trình bày việc phạm tội của bị cáo, phân tích những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có phạm tội hay không và nếu bị cáo phạm tội thì phạm tội gì, theo điều, khoản nào của Bộ luật hình sự, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý như thế nào Nếu bị cáo không phạm tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và phải giải quyết việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ Phần cuối cùng của bản án ghi những quyết định của Toà án và quyền kháng cáo đối với bản án Tuy nhiên, việc đưa ra bản án hình sự đã không theo đúng

quy định này như trong bản án phải trình bày việc phạm tội của bị cáo, không phân tích những chứng cứ xác định có tội, không xác định bị cáo có phạm tội

Ngày đăng: 29/02/2016, 15:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2007), Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 của Cơ quan điều tra (CQĐT) Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 của Cơ quan điều tra (CQĐT) Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tác giả: Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2007
5. CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2008), Báo cáo tổng kết công tác năm 2007 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2007 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tác giả: CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2008
6. CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2009), Báo cáo tổng kết công tác năm 2008 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2008 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tác giả: CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2009
7. CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2010), Báo cáo tổng kết công tác năm 2009 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2009 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tác giả: CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2010
8. CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2011), Báo cáo tổng kết công tác năm 2010 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2010 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tác giả: CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2011
9. CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2012), Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tác giả: CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2012
10. CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2012), Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tác giả: CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2012
11. CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2014), Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 của CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tác giả: CQĐT Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2014
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08/NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08/NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
27. Nguyễn Ngọc Điệp, Hồ Thị Nệ (2001), Tìm hiểu các tội hoạt động tư pháp trong Bộ luật hình sự 1999, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các tội hoạt động tư pháp trong Bộ luật hình sự 1999
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điệp, Hồ Thị Nệ
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001
28. Nguyễn Duy Lãm, Sổ tay Thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nxb Giáo dục 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay Thuật ngữ pháp lý thông dụng
Nhà XB: Nxb Giáo dục 2001
30. Nguyễn Văn Hải, Một số kinh nghiệm điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp - Tạp chí kiểm sát số 11, tháng 6/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp
32. Phạm Thanh Bình, Nguyễn Vạn Nguyên (1997), Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp
Tác giả: Phạm Thanh Bình, Nguyễn Vạn Nguyên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
33. Quốc hội (1985), Bộ luật hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1985
35. Quốc hội (2001), Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2001
36. Quốc hội (2001), Luật Tổ chức Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Chính phủ
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2001
37. Quốc hội (2002), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2002
38. Quốc hội (2002), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2002
39. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2003
40. Quốc hội (2008), Luật thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thi hành án dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:   Số vụ án hình sự và số bị cáo bị đưa ra xét xử về tội xâm - Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ yếu là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk)
Bảng 2.1 Số vụ án hình sự và số bị cáo bị đưa ra xét xử về tội xâm (Trang 7)
Bảng 2.1: Số vụ án hình sự và số bị cáo bị đƣa ra xét xử về tội xâm phạm  hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố - Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ yếu là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk)
Bảng 2.1 Số vụ án hình sự và số bị cáo bị đƣa ra xét xử về tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố (Trang 67)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm