Khái niệm chứng cứ và đánh giá chứng cứ Khoản 1 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS năm 2003 qui định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
QUÁCH TRỌNG SƠN
§¸NH GI¸ CHøNG Cø TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
QUÁCH TRỌNG SƠN
§¸NH GI¸ CHøNG Cø TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ THỊ PHƯỢNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
QUÁCH TRỌNG SƠN
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 6
1.1 Khái niệm và cơ sở của đánh giá chứng cứ 6
1.1.1 Khái niệm chứng cứ và đánh giá chứng cứ 6
1.1.2 Cơ sở của việc đánh giá chứng cứ 10
1.2 Các nguyên tắc, chủ thể và phương pháp đánh giá chứng cứ 13
1.2.1 Các nguyên tắc đánh giá chứng cứ 13
1.2.2 Chủ thể đánh giá chứng cứ 14
1.2.3 Phương pháp đánh giá chứng cứ 17
1.3 Qui định về đánh giá chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới 19
1.3.1 Qui định về đánh giá chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga 19
1.3.2 Qui định về đánh giá chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước Châu Á khác 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 30
2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về đánh giá chứng cứ 30
Trang 52.1.1 Đánh giá chứng cứ từ lời khai của người tham gia tố tụng 30
2.1.2 Đánh giá chứng cứ từ kết luận giám định 34
2.1.3 Đánh giá chứng cứ là vật chứng 38
2.1.4 Đánh giá chứng cứ là các loại biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác 41
2.2 Thực tiễn áp dụng các qui định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về đánh giá chứng cứ 43
2.2.1 Đánh giá chứng cứ trong giai đoạn khởi tố và điều tra 43
2.2.2 Đánh giá chứng cứ trong giai đoạn truy tố 51
2.2.3 Đánh giá chứng cứ trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm 55
2.2.4 Nguyên nhân của những vướng mắc trong hoạt động đánh giá chứng cứ 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ 67
3.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và các văn bản pháp luật khác có liên quan về đánh giá chứng cứ 67
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 67
3.1.2 Hoàn thiện văn bản pháp luật khác liên quan 70
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá chứng cứ 71
3.2.1 Cơ chế quản lý, đào tạo cán bộ 71
3.2.2 Đảm bảo cơ sở vật chất 73
3.2.3 Tăng cường sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong đánh giá chứng cứ 73
3.2.4 Tăng cường vai trò tham gia và nâng cao chất lượng của người bào chữa trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 76
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CQĐT: Cơ quan điều tra TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao VKS: Viện kiểm sát
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tố tụng hình sự, chứng cứ đóng một vai trò quan trọng vừa mang tính lý luận phức tạp, vừa mang tính thực tiễn cao Chứng cứ là căn cứ để Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS) và Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Tuy nhiên ở giai đoạn nào các chủ thể cũng phải sử dụng những phương tiện để làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án Đó là những tình tiết về thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm; có hành vi phạm tội xảy ra hay không; có lỗi hay không có lỗi; do cố ý hay vô ý… Để đáp ứng được vấn đề này, cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá chứng cứ Đây là một hoạt động rất quan trọng trong quá trình chứng minh, nó có ý nghĩa nhất định trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án
Hiện nay ở Việt Nam, tình trạng tội phạm ngày càng tinh vi, phức tạp
Để đánh giá chính xác những thông tin có từ vật chứng, lời khai, kết luận giám định… không phải là việc dễ dàng Chủ thể tố tụng cần chủ động, linh hoạt, vận dụng những biện pháp phù hợp để có được những thông tin chính xác phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án Trong những năm qua, ngoài những kết quả đạt được thì hoạt động đánh giá chứng cứ các vụ án hình sự vẫn còn nhiều hạn chế Nhiều vụ án bị bế tắc ngay từ khâu thẩm vấn do áp dụng không đúng các biện pháp kiểm tra, đánh giá chứng cứ Nhiều trường hợp đánh giá chứng cứ không đúng những thông tin có trong các tài liệu thu thập được dẫn đến làm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm Bên cạnh đó tình trạng vi phạm pháp luật tố tụng hình sự trong quá trình đánh giá chứng cứ vẫn diễn ra khá phổ biến, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng Chính vì vậy, việc nghiên cứu những qui định của pháp luật tố tụng hình sự về đánh giá chứng
Trang 8Do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Đánh giá chứng cứ trong luật tố tụng hình
sự Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ luật học với mong muốn đóng góp một
phần nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động đánh giá chứng cứ, qua
đó nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả cho công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự là một trong những vấn
đề trọng tâm của tố tụng hình sự nên được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu trong các sách báo pháp lý cũng có nhiều công trình đề cập đến dưới góc độ sách chuyên khảo, tham khảo có thể kể đến các công trình sau: 1)
“Chế định chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam” (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2005, tái bản năm 2009) của TS Trần Quang Tiệp; 2)
“Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự” (Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006) của TS Đỗ Văn Đương; 3) “Chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự VIệt Nam”
(Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005) của ThS Nguyễn Văn Cừ; v.v… Những công trình này bước đầu đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chứng
cứ, nguồn chứng cứ và quá trình chứng minh trong vụ án hình sự
Dưới góc độ bài viết đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý có những
công trình như: 1) “Đối tượng chứng minh và nghĩa vụ chứng minh trong Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2003” (Tạp chí Kiểm sát, số 6/2004); 2) “Một số vấn
đề lý luận về phương pháp thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong vụ án hình sự” (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5/2007); và 3) “Về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự” (Tạp chí Kiểm sát, số 9, 10/2008) của TS
Trần Quang Tiệp; 4) “Khái niệm chứng cứ trong luật tố tụng hình sự: Nhìn từ
góc độ lịch sử và luật so sánh” (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/2005)
của TS Nguyễn Văn Du; 5) “Chứng minh và chứng cứ trong hoạt động điều
tra hình sự” (Tạp chí Trật tự an toàn xã hội, số 3/1999) của PGS TS Phạm
Trang 9số 4/1997); 7) “Đánh giá chứng cứ trong tố tụng hình sự” (Tạp chí Luật học,
số 6/2000) của TS Bùi Kiên Điện; 8) “Về chứng cứ và nguồn chứng cứ quy
định tại Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” (Tạp chí Nghề luật, số
2/2006) của TS Trịnh Tiến Việt; 9) “Một số ý kiến về chứng cứ trong vụ án
hình sự” (Tạp chí Kiểm sát, số 9/2008) của tác giả Nguyễn Văn Bốn; 10)
“Hoàn thiện chế định về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự” (Tạp
chí Kiểm sát số 9, 10/2008) của TS Mai Thế Bày; v.v… Các công trình này ít nhiều đã đề cập đến các góc độ khác nhau về lý luận của chế định chứng cứ, nhấn mạnh đến khái niệm chứng cứ, nguồn chứng cứ, vai trò của chứng cứ trong quá trình chứng minh, cũng như phương pháp thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong vụ án hình sự và việc hoàn thiện chế định chứng cứ trong
BLTTHS Ngoài ra, công trình “Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ
trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay” là luận án tiến sĩ luật học
của tác giả Đỗ Văn Đương (Học viện cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 2000) đi sâu vào vấn đề nghiệp vụ là thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra
vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay
Tương tự, vấn đề chứng cứ còn được phân tích và đề cập trong một số
giáo trình, sách tham khảo, bình luận như: 1) “Giáo trình Luật tố tụng hình sự
Việt Nam” (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001) của tập thể tác giả do PGS
TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên; 2) “Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt
Nam” (Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002) của tập thể tác giả do GS TS
Võ Khánh Vinh chủ biên; 3) “Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam”
(Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009) của tập thể tác giả do PGS TS Hoàng
Thị Minh Sơn chủ biên; 4) “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự Việt
Nam năm 2003” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004) của tập thể tác giả;
5) “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự” (Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 2004) của tập thể tác giả do PGS TS Võ Khánh Vinh chủ biên; 6)
Trang 10Nam” của tập thể tác giả do PGS TS Trần Minh Hưởng và TS Trịnh Tiến
Việt đồng chủ biên (Nxb Lao động, Hà Nội, 2011), v.v…
Như vậy, các công trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau
về chứng cứ hoặc quá trình chứng minh trong vụ án hình sự, nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, đồng bộ và có hệ thống
về đánh giá chứng cứ cùng một lúc dưới góc độ lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về đánh giá chứng cứ và thực tiễn áp dụng các qui định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về đánh giá chứng cứ, luận văn sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đánh giá chứng cứ
Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về đánh giá chứng cứ theo luật tố tụng hình sự Việt Nam; Nghiên cứu đánh giá thực tiễn áp dụng các qui định của luật tố tụng hình sự về hoạt động đánh giá chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng; Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động đánh giá chứng cứ
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các qui định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về đánh giá chứng cứ Đồng thời đề tài cũng nghiên cứu thực tiễn áp dụng qui định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
về đánh giá chứng cứ trong vòng 10 năm trở lại đây
4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác xít, tư tưởng Hồ Chí Minh Các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau sẽ được dùng để nghiên cứu đề tài luận văn như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tế…
5 Những điểm mới đóng góp của luận văn
Trang 11khái niệm, cơ sở lý luận, đặc điểm của hoạt động đánh giá chứng cứ Đồng thời luận văn cũng phân tích và làm sáng tỏ hoạt động đánh giá chứng cứ trong một số nước trên thế giới
- Luận văn đã làm rõ được thực tiễn áp dụng các qui định của BLTTHS
về đánh giá chứng cứ tại một số địa phương trên cả nước những năm gần đây
- Luận văn đã đưa ra được một số đề xuất nhằm hoàn thiện luật tố tụng hình sự Việt Nam về đánh giá chứng cứ và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thực tiễn giải quyết vụ án
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về đánh giá chứng
cứ theo luật tố tụng hình sự, góp phần xây dựng, hoàn thiện các tri thức của khoa học luật tố tụng hình sự Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên, cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các CQĐT, VKS, Tòa án tại các địa phương trên cả nước
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về đánh giá chứng cứ trong pháp
luật tố tụng hình sự
Chương 2: Qui định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành
về đánh giá chứng cứ và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả của hoạt động đánh giá chứng cứ
Trang 12Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm và cơ sở của đánh giá chứng cứ
1.1.1 Khái niệm chứng cứ và đánh giá chứng cứ
Khoản 1 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 qui
định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do
Bộ luật này quy định mà CQĐT, VKS và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định
có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án” [22]
Chứng cứ tồn tại khách quan, độc lập với ý thức chủ quan của con người Con người sử dụng chứng cứ nhằm mục đích chứng minh sự thật của
vụ án Các thông tin, đồ vật, tài liệu được đưa ra chứng minh phải phù hợp với các tình tiết của vụ án đó Nếu chứng cứ không có thật hoặc đã bị làm giả theo ý chí chủ quan của con người thì mất đi tính khách quan và không được coi là chứng cứ
Trong trường hợp những thông tin, đồ vật bị xuyên tạc, bóp méo hoặc làm giả mà vẫn sử dụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì sẽ dẫn tới oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm Vì thế, cơ quan tiến hành tố tụng khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình cần phải nhận thức đúng các tình tiết, sự kiện của vụ án trong thực tế, tôn trọng sự thật khách quan, tránh thái độ chủ quan, phiến diện, định kiến, thiếu trung thực
Tính khách quan của chứng cứ chỉ được khẳng định khi chứng cứ đó có liên quan đến vụ án, nếu chứng cứ đó không liên quan đến vụ án thì dù có khách quan nhưng sẽ không chứng minh được gì cho vụ án Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở chỗ những tình tiết, đồ vật, tài liệu đã thu thập phải
Trang 13có mối quan hệ với những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể thu thập được nhiều tình tiết, sự kiện khác nhau nhưng chỉ những tình tiết, sự kiện mà bản thân nó chứa đựng những thông tin liên quan đến vụ án mới được công nhận là chứng cứ Chẳng hạn, tại hiện trường của một vụ án giết người, CQĐT thu được 3 con dao, nhưng chỉ 1 con dao có dấu vân tay hoặc dấu vết của việc hung thủ đâm nạn nhân mà phù hợp với vết thương trên người nạn nhân mới được coi là chứng cứ Tính liên quan của chứng cứ cho phép có thể sử dụng những đồ vật, tài liệu là chứng cứ nếu có liên quan đến những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự bao gồm: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; Có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại của hành vi phạm tội gây ra; Các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Các tài liệu, đồ vật liên quan trong vụ án trên chỉ có giá trị chứng minh khi chúng được cơ quan có thẩm quyền thu thập, kiểm tra, đánh giá theo quy định của BLTTHS Đây là tính hợp pháp của chứng cứ Tính hợp pháp của chứng cứ đòi hỏi tình tiết, sự kiện,
đồ vật, tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng phải theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật hình sự quy định mới được coi là chứng cứ Những việc làm tùy tiện trong quá trình thu thập chứng cứ đều bị coi là bất hợp pháp, vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, vi phạm luật tố tụng hình sự Ví dụ: trong quá trình khám nghiệm hiện trường, CQĐT đã không thu giữ mẩu thuốc lá vương vãi tại hiện trường, thu giữ con dao thì không lập biên bản và không mô tả rõ
Trang 14kích thước, đặc điểm của con dao… Vậy vấn đề đặt ra là trong giai đoạn tiền
tố tụng những tài liệu do trinh sát thu thập được có được coi là chứng cứ không? Những tài liệu này không được coi là chứng cứ, chúng chỉ được coi là chứng cứ khi đã được chuyển hóa thành chứng cứ tố tụng Ví dụ: CQĐT bí mật ghi âm cuộc nói chuyện của người nghi thực hiện tội phạm giết người với
vợ anh ta Nội dung cuộn băng ghi âm chỉ rõ hành vi giết người, chỗ vứt con dao gây án… Theo nội dung của băng ghi âm này, CQĐT tìm được phương tiện gây án và đấu tranh với bị can Vì không thể giấu được nữa, bị can đã thừa nhận hành vi giết người, thừa nhận chỗ vứt con dao CQĐT cho bị can chỉ địa điểm và thu giữ được con dao gây án Lời khai của bị can và con dao gây án sẽ được coi là vật chứng trong vụ án Như vậy chỉ coi là chứng cứ những tình tiết, sự kiện, đồ vật khi chúng đảm bảo 3 thuộc tính: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp Nếu thiếu một trong 3 thuộc tính trên thì không thể coi là chứng cứ và đồ vật, tài liệu đã thu thập được không có giá trị chứng minh
Đánh giá chứng cứ là giai đoạn cuối cùng của quá trình chứng minh nhằm rút ra kết luận về vụ án trên cơ sở những thông tin, đồ vật, tài liệu thu thập được trong quá trình tố tụng, là hoạt động của chủ thể nhằm phân tích giá trị chứng minh làm rõ bản chất của chứng cứ, xem chứng cứ đó thuộc loại chứng cứ gì và có giá trị chứng minh những vấn đề nào trong vụ án Đánh giá chứng cứ là quá trình xác định giá trị chứng minh của chứng cứ Từ việc đánh giá chứng cứ mà cơ quan tiến hành tố tụng xác định được những đồ vật, tài liệu nào trong vụ án có giá trị chứng minh, những tài liệu nào không có giá trị chứng minh Đây là hoạt động nhận thức của chủ thể đánh giá chứng cứ để tìm ra giá trị chứng minh của chứng cứ Điều 66 BLTTHS năm 2003 quy định
về đánh giá chứng cứ: “Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm
xác định và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sau khi
Trang 15nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các tình tiết của vụ án” [22]
Quy định của BLTTHS đã xác định rõ chủ thể của hoạt động đánh giá chứng cứ là Điều tra viên, Thẩm phán và Hội thẩm Họ có nghĩa vụ đánh giá chứng cứ với đầy đủ tinh thần và trách nhiệm của mình trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các tình tiết vụ án Những người tham gia tố tụng có quyền đánh giá chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người mà mình có trách nhiệm bảo vệ, nhưng lại không có nghĩa vụ phải đánh giá chứng cứ Mục đích của việc đánh giá chứng
cứ là xác định giá trị chứng minh của từng chứng cứ và của tất cả các chứng
cứ Các chủ thể đánh giá chứng cứ phải dựa trên việc nghiên cứu tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ án với đầy đủ tinh thần trách nhiệm Những quy định trên của BLTTHS Việt Nam đã có sự kế thừa những tinh hoa của pháp luật nước ngoài về đánh giá chứng cứ Điều 88 BLTTHS Liên
bang Nga quy định về đánh giá chứng cứ như sau: “Mỗi chứng cứ đều phải
được đánh giá trên quan điểm tính có liên quan, được chấp nhận, xác thực và tất cả các chứng cứ được thu thập phải đủ để giải quyết vụ án” [53] Quy
định này đã chỉ rõ việc đánh giá chứng cứ phải xác định được tính khách quan, tính liên quan và chứng cứ đó phải được chấp nhận Việc đánh giá chứng cứ đã thu thập phải đủ để giải quyết vụ án hình sự
Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm đánh giá chứng cứ như
sau: Đánh giá chứng cứ là hoạt động tư duy của các chủ thể có thẩm quyền tố
tụng hình sự, được tiến hành dưới dạng logic biện chứng trên cơ sở của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm nhằm nghiên cứu, đánh giá độ tin cậy của từng chứng cứ riêng biệt, cũng như tổng hợp chứng cứ của vụ án hình sự
Trong quá trình chứng minh, việc đánh giá chứng cứ trong các giai
Trang 16đoạn khởi tố, điều tra chỉ mang tính sơ bộ, còn đánh giá chứng cứ trong giai đoạn xét xử là chính thức Bởi lẽ, ở giai đoạn điều tra mục đích đánh giá đó chưa có tính quyết định Nó có thể bị thay đổi ở các giai đoạn tiếp theo Dựa trên cơ sở các chứng cứ đã thu thập được, Hội đồng xét xử mới đánh giá tổng hợp để đưa ra kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo Hoạt động đánh giá chứng cứ trong giai đoạn xét xử sẽ kết thúc quá trình chứng minh trong vụ án hình sự Dựa vào kết quả đánh giá chứng cứ, Hội đồng xét xử sẽ đưa ra được kết luận cuối cùng của vụ án xác định bị cáo có phạm tội hay không phạm tội, tội gì và áp dụng hình phạt nào theo quy định của Bộ luật hình sự Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự việc đánh giá chứng cứ được thực hiện ở nhiều khâu khác nhau Với hoạt động chuẩn bị xét xử, thẩm phán được phân công xét xử vụ án phải nghiên cứu hồ sơ vụ án trong thời hạn luật định, có những đánh giá sơ bộ về các chứng cứ của vụ án để ra một trong những quyết định sau đây: đưa vụ án ra xét xử, trả hồ sơ điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Tại phiên tòa thông qua xét hỏi, tranh luận, Hội đồng xét xử tiến hành kiểm tra, thu thập chứng cứ Đánh giá các chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa, được thực hiện chủ yếu qua nội dung thảo luận tại phòng nghị án Từ những phân tích trên có thể hiểu khái niệm về đánh giá chứng cứ
như sau:“Đánh giá chứng cứ là tổng hợp hoạt động tư duy của những người
tiến hành tố tụng hình sự nhằm xác định giá trị chứng minh của các chứng cứ với nhau Việc đánh giá chứng cứ phải được tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, đồng thời phải dựa vào ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm mới đảm bảo tính khách quan và chính xác”
1.1.2 Cơ sở của việc đánh giá chứng cứ
Cơ sở, phương pháp luận của việc đánh giá chứng cứ dựa trên quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: Bản chất của thế giới là vật chất, con người có khả năng nhận
Trang 17thức được thế giới khách quan để cải tạo thế giới khách quan Vật chất là thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức và được ý thức phản ánh Nội dung
cơ bản của phép duy vật biện chứng gồm 2 nguyên lý, 3 quy luật, 6 cặp phạm trù Chứng cứ cũng là một dạng vật chất nên vận động và phát triển theo đúng các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy
Mọi sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan luôn tồn tại trong mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau Sự vật này tác động vào sự vật khác sẽ
để lại những dấu vết xác định Chính vì thế, khi hành vi phạm tội xảy ra bao giờ cũng để lại dấu vết về mặt vật chất như: địa điểm, không gian, thời gian phạm tội, vật chứng, phương tiện phạm tội hoặc để lại các dấu vết về mặt tinh thần như: các thông tin được phản ánh trong đầu của người làm chứng, bị hại,
bị can, bị cáo,… Những dấu vết vật chất này tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người Trong thực tế các vụ án hình sự xảy
ra, đa phần người phạm tội luôn tìm cách che giấu tội lỗi của mình Họ có thể xóa dấu vết, tạo hiện trường khác làm giả chứng cứ để đánh lạc hướng điều tra Tuy nhiên, theo quy luật của tự nhiên, những hành vi xóa dấu vết tội phạm lại hình thành dấu vết mới của việc làm giả hiện trường Chẳng hạn, một xác chết được phát hiện trong khu vườn hoang, CQĐT xác định nguyên nhân nạn nhân chết là do bị đâm nhiều nhát dao vào người Nhưng tại hiện trường lại không tìm thấy có vết máu chảy hoặc vương vãi xung quanh, không
có dấu hiệu của sự xô xát, cây cối không bị dập nát Hiện trường thật ở đâu, ai
là người giết nạn nhân và mang xác chết đến đây vứt để đánh lạc hướng điều tra Đây là câu hỏi mà CQĐT phải làm rõ
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, con người có thể nhận thức được thế giới khách quan nên những dấu vết của tội phạm để lại trong thế giới khách quan thì người tiến hành tố tụng có thể giải quyết được Sự nhận thức này là quá trình biện chứng đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết
Trang 18nhiều; từ hiện tượng đến bản chất; từ bản chất kém sâu sắc đến sâu sắc Chính vì vậy nhận thức của người tiến hành tố tụng về vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự có nguồn gốc là thế giới vật chất Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đều phải thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ để tìm ra
sự thật của vụ án, tìm ra những tình tiết có nội dung phù hợp với sự thật khách quan của vụ án Từ các quy luật của tự nhiên và cơ chế hình thành dấu vết, Luật tố tụng hình sự quy định về các biện pháp điều tra như khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, xem xét dấu vết trên thân thể, khám nghiệm tử thi,… Các biện pháp này nhằm tái hiện lại sự việc đã xảy ra thông qua các chứng cứ của vụ án
Cũng theo phép biện chứng duy vật, mỗi sự việc, hiện tượng luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng Những gì đã xảy ra từ hành vi phạm tội cũng vận động và biến đổi không nằm ngoài quy luật đó Chẳng hạn vết máu trên con dao của hung thủ để lại ở hiện trường sẽ khô dần và phân hủy trong một khoảng thời gian nhất định Nếu CQĐT không thu giữ con dao và giám định vết máu kịp thời thì sẽ không làm rõ được vết máu đó là máu gì, của ai, dẫn tới gặp khó khăn trong công tác điều tra Chính từ quy luật vận động của vật chất này mà Luật tố tụng hình sự quy định các thủ tục thu giữ, bảo quản vật chứng, xử lý vật chứng; khám nghiệm hiện trường và thu thập chứng cứ, trưng cầu giám định… Tất cả các thủ tục phải được tiến hành trong một thời gian nhất định, tránh sự biến đổi của vật chất từ dạng này sang dạng khác Các hoạt động tiến hành tố tụng sẽ đi dần đến chân lý để tìm ra sự thật nhằm giải quyết đúng vụ án
Nghiên cứu về cơ sở đánh giá chứng cứ sẽ giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra được những cách thức sao cho phù hợp trong các hoạt động tố tụng của mình nhằm góp phần đánh giá chứng cứ hiệu quả
Trang 191.2 Các nguyên tắc, chủ thể và phương pháp đánh giá chứng cứ
1.2.1 Các nguyên tắc đánh giá chứng cứ
Thứ nhất, đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện và đầy đủ Mỗi
chứng cứ phải được đánh giá riêng biệt và phải đánh giá tất cả các chứng cứ,
cả chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các chứng cứ xác định tình tiết khác của vụ
án Mỗi Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm phải xem xét, nghiên cứ mọi tình tiết của vụ án một cách khách quan trên cơ sở các quy luật, pháp luật và thực tiễn
Thứ hai, đánh giá chứng cứ phải dựa trên cơ sở pháp luật Chứng cứ là
chế định quan trọng của pháp luật tố tụng hình sự Khi có một vu án xảy ra, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng để xác định tính hợp pháp của chứng cứ Dựa trên những quy định của pháp luật hình sự về tội phạm, cấu thành tội phạm, hình phạt để xác định hành vi của bị can, bị cáo có cấu thành tội phạm hay không, có những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nào, đưa ra kết luận giải quyết vụ án Ngoài luật hình sự và tố tụng hình sự, khi đánh giá chứng cứ phải dựa vào các văn bản pháp luật có liên quan, chẳng hạn khi đánh giá nguồn chứng cứ là kết luận giám định phải dựa trên quy định của pháp lệnh giám định số 24/2004/PL-UBTVQH11 do Uỷ ban thường vụ Quốc hội có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2005 để xem xét tính hợp pháp của kết luận giám định đó
Thứ ba, đánh giá chứng cứ phải dựa vào ý thức pháp luật Ý thức pháp
luật là một trong những hình thái ý thức xã hội có mối quan hệ mật thiết với pháp luật Ý thức pháp luật thể hiện mối quan hệ giữa con người với pháp luật Nó nói lên tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội Ý thức pháp luật được hình thành dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật và sự hiểu biết pháp luật Ý thức pháp luật được hình thành dựa trên cơ sở những quy định của
Trang 20pháp luật và sự hiểu biết pháp luật Ý thức pháp luật giúp các chủ thể trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự tìm ra cách tiếp cận đúng đắn đối với các tình tiết khác nhau của vụ án, hiểu rõ hơn giá trị thực tế của nó và đánh giá chính xác ý nghĩa pháp lý, chính trị - xã hội của các tình tiết đó
Thứ tư, đánh giá chứng cứ dựa vào niềm tin nội tâm Niềm tin nội tâm là
sự tin tưởng một cách chắc chắn vào các quyết định mà mình đã đưa ra khi giải quyết vụ án, chứ không phải là ý thức chủ quan của các chủ thể khi đánh giá chứng cứ Niềm tin nội tâm được hình thành trên cơ sở ý thức pháp luật, các tri thức và hiểu biết về khoa học chứng cứ, về pháp luật về hình sự và tố tụng hình
sự Niềm tin nội tâm khác với các linh cảm, suy luận về vụ án Nó chính là bản lĩnh nghề nghiệp và kinh nghiệm sống của người xét xử Những người tiến hành tố tụng phải dựa vào hệ thống chứng cứ được nghiên cứu đánh giá một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, tin tưởng chắc chắn vào kết luận của mình sẽ đưa ra để giải quyết vụ án Như vậy, niềm tin nội tâm phải dựa trên cơ
sở thực tế mà không phải là những quyết định suy đoán vô căn cứ
Ngoài ra, trong quá trình đánh giá chứng cứ còn phải tuân theo một số nguyên tắc khác do Hiến pháp và BLTTHS quy định Ví dụ: nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm độc lập khi tham gia xét xử Thẩm phán và hội thẩm là các chủ thể của hoạt động xét xử để đưa ra bản án hoặc quyết định phù hợp với quy định của pháp luật Vì thế họ cần độc lập với nhau, độc lập với cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan Nhà nước khác, các tổ chức xã hội và những người khác trong quá trình xét xử Thẩm phán và hội thẩm cần phải tuân theo nguyên tắc “suy đoán vô tội”, giải thích nghi ngờ theo hướng có lợi cho bị cáo; khi không đủ chứng cứ kết tội thì phải xác định bị cáo không phạm tội
1.2.2 Chủ thể đánh giá chứng cứ
Theo quy định tại BLTTHS thì chủ thể của đánh giá chứng cứ bao gồm: Nhóm tiến hành tố tụng: gồm cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến
Trang 21hành tố tụng Cơ quan tiến hành tố tụng có CQĐT, VKS và Tòa án Người tiến hành tố tụng gồm: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm
Những người tham gia tố tụng như bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự là những người tham gia tố tụng có quyền lợi pháp lý trong vụ án, họ có quyền thu thập các tài liệu
để bảo vệ cho các quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người mà mình có trách nhiệm bảo vệ nhưng họ lại không có quyền và nghĩa vụ đánh giá chứng cứ Nghĩa vụ này thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, người tiến hành tố tụng hình sự
Đối với người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch là những người không có quyền lợi trong vụ
án mà họ tham gia do nghĩa vụ nên họ không phải là chủ thể đánh giá, sử dụng chứng cứ
Theo quy định của pháp luật tố tụng thì chủ thể của hoạt động đánh giá chứng cứ trong các giai đoạn tố tụng hình sự là khác nhau và ngay cả trong từng giai đoạn tố tụng cũng có sự khác nhau Ví dụ ở giai đoạn xét xử sơ thẩm
là Thẩm phán, Hội thẩm Như vậy, vấn đề đặt ra là trong giai đoạn xét xử vụ
án hình sự sẽ có một số chủ thể khác tham gia tố tụng gồm: Kiểm sát viên và nhóm người tham gia tố tụng thì nhóm người này có được quyền đánh giá, sử dụng chứng cứ không? Có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này:
Quan điểm 1: cho rằng chủ thể của hoạt động đánh giá chứng cứ trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự là thẩm phán và hội thẩm vì họ là người thực hiện và điều hành hoạt động xét xử, họ đã có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án rất cụ thể trong quá trình chuẩn bị xét xử và đã có những nhận định, đánh giá
sơ bộ về chứng cứ Tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận và nghị
án, những chủ thể này sẽ đi đến đánh giá chứng cứ chính thức và nhân danh
Trang 22Nhà nước để kết tội hoặc tuyên bố vô tội đối với bị cáo, quyết định hình phạt, biện pháp tư pháp với người phạm tội
Quan điểm 2: cho rằng chủ thể của hoạt động đánh giá chứng cứ trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự là Hội đồng xét xử (Thẩm phán, Hội thẩm), kiểm sát viên và nhóm những người tham gia tố tụng Như vậy, chủ thể được
mở rộng hơn so với quan điểm 1 về người đánh giá, sử dụng chứng cứ trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
Cả hai quan điểm đều có điểm chung là xác định chủ thể gồm thẩm phán, hội thẩm, nhưng xác định như quan điểm 1 là quá hẹp đã bỏ sót chủ thể khác có nghĩa vụ chứng minh như Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng khác có quyền chứng minh Quan điểm 2 xác định đầy đủ hơn về các chủ thể tham gia đánh giá chứng cứ trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự Chúng tôi cho rằng: Ngoài chủ thể là Thẩm phán và Hội thẩm được quyền đánh giá chứng cứ như phân tích ở quan điểm 1 thì Kiểm sát viên cũng có nhiệm vụ đánh giá chứng cứ trong giai đoạn xét xử vì họ tham gia phiên tòa thực hiện quyền công tố và giám sát hoạt động xét xử nên họ có nghĩa vụ đánh giá những tình tiết liên quan đến việc buộc tội hoặc gỡ tội khi tham gia tranh tụng
để đưa ra quan điểm luận tội của mình Còn nhóm chủ thể tham gia hoạt động
tố tụng là do có liên quan trong vụ án hình sự, họ không có nghĩa vụ phải chứng minh và cũng không có quyền đưa ra những quyết định giải quyết vụ
án, nhưng họ có quyền đánh giá các chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho mình
Bị can, bị cáo trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì họ có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu để chứng minh sự vô tội của mình, có quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để đánh giá chứng cứ chứng minh là mình vô tội hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Người bị hại, nguyên đơn dân sự,
bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có sự đánh giá chứng cứ để bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của mình khi trình bày, phát
Trang 23biểu ý kiến, tranh luận hoặc đưa ra đồ vật, tài liệu tại phiên tòa Người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người bào chữa có quyền xác định và đánh giá chứng
cứ buộc tội, gỡ tội và có quyền đưa ra những đề nghị để bảo vệ quyền lợi cho đương sự, thân chủ mình Đối với những người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch là những người không
có quyền lợi trong vụ án mà họ tham gia do nghĩa vụ Người làm chứng là người biết những tình tiết, sự kiện này tại phiên tòa giúp cho hoạt động đánh giá, sử dụng chứng cứ được khách quan, thuận tiện Người giám định là người
có kiến thức cần thiết về lĩnh vực giám định và tham gia phiên tòa khi có giấy triệu tập của Tòa án giúp Hội đồng xét xử làm rõ các tình tiết của vụ án đã được đưa ra giám định, làm sáng tỏ bản chất của chứng cứ từ kết luận giám định để chứng minh sự thật của vụ án Người phiên dịch được triệu tập đến phiên tòa để thực hiện hoạt động phiên dịch trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt và họ có nghĩa vụ phải thực hiện việc phiên dịch một cách khách quan, trung thực Những người này không phải chủ thể đánh giá, sử dụng chứng cứ
cứ giúp cho hoạt động chứng minh đi đến kết luận cuối cùng của vụ án Trên thực tế không phải tất cả các chứng cứ thu được đều có giá trị chứng minh như nhau nên cần phải đánh giá từng chứng cứ Nếu xác định thấp hơn giá trị chứng minh của chứng cứ để có thể dẫn tới xử quá nhẹ sẽ không có tác dụng giáo dục, không đạt được mục đích của hình phạt hoặc bỏ lọt tội phạm Nếu
Trang 24xác định giá trị của chứng cứ cao hơn khả năng và mức độ chứng minh của nó thì dễ có các nhận định không đúng về vụ án mà có thể làm sai lệch sự thật vụ
án, xử oan sai hoặc xử quá nặng Khi đánh giá từng chứng cứ cần xem xét những vấn đề sau:
+ Sự việc, hiện tượng sẽ dùng làm căn cứ để chứng minh có phù hợp với qui luật khách quan của sự vật không;
+ Sự việc, hiện tượng đó được hình thành và tồn tại trong điều kiện nào? Những gì có thể tác động tới quá trình hình thành và phát triển của nó;
+ Mối quan hệ nhân quả giữa sự vật, hiện tượng dùng để chứng minh với đối tượng chứng minh mà chủ yếu là những vấn đề cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 63 BLTTHS;
+ Những sự việc, hiện tượng đó có thể giúp cho làm rõ yếu tố nào của đối tượng chứng minh; làm rõ đến đâu;
Khi xem xét kỹ những vấn đề trên sẽ rút ra mức độ và giá trị chứng minh của chứng cứ
- Phương pháp đánh giá tổng hợp các chứng cứ trong giai đoạn xét xử
vụ án hình sự:
Đánh giá tổng hợp các chứng cứ trong các giai đoạn tố tụng là hoạt động nhận thức của các chủ thể đánh giá chứng cứ đối với các chứng cứ trong mối liên quan chặt chẽ với nhau nhằm xác định giá trị chứng minh của chúng
và rút ra kết luận về vụ án Những người tiến hành tố tụng cần xem xét các chứng cứ đã đủ để chứng minh tất cả những vấn đề phải chứng minh trong vụ
án hay chưa Các chứng cứ không thể đứng cô lập mà chúng phải có quan hệ mật thiết với nhau (đặc biệt là khi đánh giá chứng cứ gián tiếp), có mối quan
hệ nhân quả, cùng tồn tại về không gian và thời gian Mục đích của việc đánh giá tổng hợp chứng cứ là xác định giá trị chứng cứ của các chứng cứ để rút ra kết luận về vụ án Khi đánh giá tổng hợp chứng cứ các chủ thể phải dựa vào
Trang 25những cơ sở như: những chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá riêng lẻ, các nguyên tắc đánh giá chứng cứ, kiến thức nghiệp vụ và kinh nghiệm bản thân Người đánh giá chứng cứ với vai trò là người ra quyết định giải quyết về vụ
án, Thẩm phán và Hội thẩm khi đánh giá tổng hợp chứng cứ còn cần xem xét
cả việc đánh giá chứng cứ của các chủ thể khác khi tham gia phiên tòa Ví dụ: quan điểm về đánh giá chứng cứ buộc tội của VKS tại phiên tòa; quan điểm đánh giá chứng cứ gỡ tội của luật sư… Việc xem xét một cách toàn diện sẽ giúp cho bản chất vụ án được sáng tỏ và kết luận chính xác về sự việc xảy ra
có phải là tội phạm hay không? Nếu có thì đó là tội gì? Ai là người thực hiện hành vi phạm tội? Tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
1.3 Qui định về đánh giá chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới
1.3.1 Qui định về đánh giá chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga
Điều 173 BLTTHS Liên bang Nga quy định: Dự thẩm viên tiến hành hỏi cung bị can ngay sau khi đã đưa ra lời buộc tội đối với họ và phải tuân thủ các quy định tại Điểm 9 Khoản 4 Điều 47 và Khoản 3 Điều 50 Bộ luật này Khi bắt đầu hỏi cung, Dự thẩm viên phải làm rõ, bị can có nhận tội hay không, có muốn khai báo về bản chất sự buộc tội họ không và nếu có thì khai báo bằng ngôn ngữ nào Trong trường hợp bị can từ chối khai báo, dự thẩm viên phải ghi nhận việc này trong biên bản hỏi cung Việc hỏi cung được tiến hành theo thủ tục được quy định tại Điều 189 Bộ luật này và những ngoại lệ
do Điều này quy định Trường hợp bị can từ chối khai báo ở lần hỏi cung đầu tiên, thì việc hỏi cung lại người đó về cùng một sự buộc tội chỉ có thể được tiến hành theo yêu cầu của chính bị can [53, tr.89-90] Điều 174 BLTTHS Liên bang Nga quy định: Mỗi lần hỏi cung bị can, Dự thẩm viên phải lập biên bản theo quy định tại Điều 190 Bộ luật này Trong biên bản lần hỏi cung đầu
Trang 26tiên phải ghi rõ những thông tin về nhân thân bị can bao gồm: 1) Họ và tên; 2) Ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh; 3) Quốc tịch; 4) Trình độ học vấn; 5) Hoàn cảnh gia đình, các thành viên trong gia đình; 6) Nơi làm việc hoặc học tập, nghề nghiệp hoặc chức vụ; 7) Nơi cư trú; 8) Tiền án (nếu có); 9) Những thông tin khác có ý nghĩa đối với vụ án [53, tr.90] Điều 275 BLTTHS Liên bang Nga quy định về trình tự, thủ tục lấy lời khai của bị cáo: Nếu bị cáo đồng ý đưa ra lời khai thì trước tiên người bào chữa và những người tham gia xét xử thuộc bên bào chữa hỏi bị cáo, sau đó đến lượt công tố viên và những người tham gia xét xử thuộc bên buộc tội Chủ tọa phiên tòa không chấp nhận những câu hỏi có tính chất gợi ý hoặc những câu hỏi không liên quan đến vụ
án Bị cáo có quyền sử dụng những ghi chép được trình ra trước tòa theo yêu cầu của họ Sau khi các bên đã hỏi bị cáo, Tòa án đưa ra các câu hỏi đối với bị cáo Tòa án tự mình hoặc theo yêu cầu của các bên tiến hành hỏi bị cáo trong trường hợp vắng mặt bị cáo khác và việc này không được thể hiện trong quyết định của Tòa án Trong trường hợp này sau khi bị cáo trở lại phòng xử án, chủ tọa phiên tòa thông báo cho những lời khai được đưa ra khi họ vắng mặt và cho phép họ được đưa ra những câu hỏi đối với bị cáo đã khai báo khi họ vắng mặt Nếu vụ án có nhiều bị cáo thì theo yêu cầu của một trong các bên, Tòa án có quyền thay đổi trình tự câu hỏi các bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều này [53, tr.131] Trình tự xét hỏi bị cáo được quy định như sau tại Điều 287: Công tố viên và người bào chữa có thể hỏi trực tiếp bị cáo về những chi tiết cần thiết, các sự việc và những yếu tố xung quanh của tội danh đang bị truy tố Chủ tọa có thể hỏi bị cáo sau khi việc điều tra như ở đoạn trên kết thúc Một thẩm phán của Tòa trong Hội đồng xét xử có thể hỏi cung bị cáo sau khi thông báo cho thẩm phán chủ tọa phiên tòa [50, tr.68] Trong BLTTHS Liên bang Nga, địa điểm và thời gian hỏi cung người làm chứng, người bị hại được quy định tại Điều 187, thủ tục triệu tập người làm chứng, người bị hại
Trang 27để hỏi cung được quy định tại Điều 188, những quy định chung khi tiến hành hỏi cung được quy định tại Điều 189 Điều 189 BLTTHS Liên bang Nga quy định: Trước khi hỏi cùng, Dự thẩm viên thực hiện những yêu cầu được quy định tại khoản 4 Điều 164 Bộ luật này Nếu Dự thẩm viên nghi ngờ về việc người khai báo không sử dụng thành thạo ngôn ngữ được sử dụng trong tố tụng, thì Dự thẩm viên giải thích cho người khai báo trình bày mong muốn được khai báo bằng ngôn ngữ nào; Nghiêm cấm đưa ra các câu hỏi có tính chất gợi ý Dự thẩm viên được tự do lựa chọn chiến thuật hỏi cung; Người khai báo có quyền sử dụng các tài liệu và ghi chép; Theo sáng kiến của Dự thẩm viên hoặc theo đề nghị của người khai báo, có thể tiến hành chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, quay phim, những tài liệu này được bảo quản cùng hồ sơ vụ
án khi kết thúc điều tra sơ bộ, phải được niêm phong; Nếu người làm chứng mời luật sư tham gia vào việc lấy lời khai để giúp họ về mặt pháp lý, thì luật
sư được có mặt khi lấy lời khai và sử dụng các quyền quy định tại khoản 2 Điều 53 Bộ luật này Khi kết thúc lấy lời khai, luật sư có quyền khiếu nại về những vi phạm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người làm chứng Những khiếu nại này được đưa vào biên bản lấy lời khai [53, tr.97] Đáng chú ý, BLTTHS Liên bang Nga quy định cụ thể về việc kiểm tra lời khai tại chỗ tại Điều 194: Để xác định những tình tiết mới có ý nghĩa đối với
vụ án hình sự, thì những lời khai trước đó của người bị hại, người làm chứng
có thể được kiểm tra hoặc làm rõ tại nơi có liên quan đến sự kiện đang được điều tra; Kiểm tra lời khai tại chỗ được thể hiện ở việc người đã khai báo trước đó, tái hiện tại chỗ bối cảnh và những tình tiết của sự kiện đang được điều tra, chỉ ra những đồ vật, tài liệu, dấu vết có ý nghĩa đối với vụ án hình sự, diễn tả một số hành động nhất định Nghiêm cấm bất kì sự can thiệp nào từ bên ngoài vào quá trình kiểm tra và những câu hỏi có tính chất gợi ý; Không được phép tiến hành đồng thời kiểm tra lời khai tại chỗ của một số người;
Trang 28Kiểm tra lời khai được bắt đầu bằng việc yêu cầu người khai báo chỉ địa điểm, nơi lời khai của họ cần được kiểm tra Sau khi họ kể và diễn tả các hành động, họ sẽ trả lời các câu hỏi đặt ra đối với họ [53, tr.100]
Quy định phải làm rõ quan hệ giữa người làm chứng với bị cáo và các đương sự khác có tác dụng giúp Hội đồng xét xử đánh giá được mức độ tin cậy trong lời khai của người làm chứng Đây là vấn đề được pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới đề cập Ví dụ: Điều 278 BLTTHS Liên bang Nga quy định về việc lấy lời khai người làm chứng tại phiên tòa như sau: Phải hỏi cung riêng từng người làm chứng và không có mặt của những người làm chứng chưa được hỏi cung; Trước khi hỏi cung, chủ tọa phiên tòa xác định nhân thân người làm chứng, làm rõ mối quan hệ giữa họ với bị cáo
và người bị hại, giải thích quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của họ được quy định tại Điều 56 Bộ luật này, người làm chứng ký xác nhận và xác nhận này được đính kèm vào biên bản phiên tòa [53, tr.120] Tương tự như quy định trong BLTTHS Việt Nam, BLTTHS Liên bang Nga đã quy định các trường hợp bắt
buộc trưng cầu giám định tư pháp tại khoản 5 Điều 196: “Tuổi của người bị
tình nghi, bị can, người bị hại, nếu điều đó có ý nghĩa đối với vụ án và không
có tài liệu khẳng định tuổi của họ hoặc có sự nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó” [53, tr.101] Đáng chú ý, Điều 197 BLTTHS Liên bang
Nga quy định cụ thể về quyền của người bị tình nghi, bị can, người bị hại, người làm chứng trong việc trưng cầu giám định tư pháp: Trong việc trưng cầu giám định tư pháp, người bị tình nghi, bị can, người bào chữa của họ có quyền: Xem quyết định trưng cầu giám định tư pháp; Đề nghị thay đổi giám định hoặc yêu cầu tiến hành giám định tư pháp ở cơ quan giám định khác; Đề xuất trưng cầu những giám định viên hoặc đề xuất tiến hành tại cơ quan giám định cụ thể; Đề nghị đưa vào quyết định trưng cầu giám định tư pháp những câu hỏi bổ sung đặt ra cho người giám định; Có mặt khi tiến hành giám định
Trang 29tư pháp nếu được dự thẩm viên đồng ý, đưa ra những lời giải thích cho giám định viên; Xem kết luận giám định hoặc xem thông báo về việc không thể đưa
ra kết luận giám định, cũng như biên bản hỏi cung giám định, cũng như biên bản hỏi cung giám định viên Người làm chứng và người bị hại mà việc tiến hành giám định tư pháp liên quan đến họ, được xem kết luận giám định Người bị hại có những quyền được quy định tại điểm 1, điểm 2 khoản 1 Điều này [53, tr.101 - 102] Nhìn chung pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định nhiều quyền năng cụ thể cho người bị tình nghi, bị can, người bào chữa, người làm chứng, người bị hại đối với giám định tư pháp
1.3.2 Qui định về đánh giá chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước Châu Á khác
Nguyên tắc đánh giá chứng cứ của Việt Nam khác với nguyên tắc tự do đánh giá chứng cứ dựa trên niềm tin nội tâm của thẩm phán được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự của một số nước Châu Á khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia và trong lý luận pháp lý tư sản về tự do đánh giá chứng
cứ Điều 308- Nguyên tắc tự do thẩm định chứng cứ của BLTTHS Hàn Quốc
quy định: “Giá trị chứng cứ do các thẩm phán quyết định” [50, tr.72]; Điều
318 BLTTHS Nhật Bản quy định: “Giá trị chứng minh của chứng cứ sẽ dành
cho sự suy xét tự do của các thẩm phán” [48, tr.54] Nếu như pháp luật tố
tụng hình sư Liên bang Nga cho phép bị can được từ chối khai báo, thì pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc chỉ cho phép bị can không trả lời những câu hỏi không liên quan đến vụ án Điều 93 BLTTHS Trung Quốc quy định: Khi thẩm vấn một nghi can, trước tiên Điều tra viên phải hỏi nghi can có thực hiện bất kì hành vi phạm tội nào không và để cho người này trình bày các tình tiết phạm tội hoặc giải thích sự vô tội của mình, sau đó mới có thể hỏi thêm Nghi can phải trả lời thành khẩn các câu hỏi của Điều tra viên, nhưng có quyền từ chối trả lời bất kì câu hỏi nào không liên quan đến vụ án [49 tr.23] Pháp luật
Trang 30tố tụng hình sự Trung Quốc không quy định về thủ tục hỏi cung người bị tình nghi, nhưng BLTTHS Nhật Bản lại quy định cụ thể về vấn đề này tại Điều 198: Công tố viên, sĩ quan trợ lý công tố viên và cảnh sát tư pháp có thể yêu cầu bất kì người bị tình nghi nào có mặt tại cơ quan của mình và thẩm vấn, nếu đó cần thiết cho việc điều tra tội phạm Tuy vậy, người bị tình nghi có thể
từ chối có mặt hoặc sau khi có mặt có thể rút lui bất kỳ lúc nào, trừ trường hợp người đó đã bị bắt hoặc giam giữ Trong trường hợp thẩm vấn tại khoản 1 trên đây thì người bị tình nghi phải được thông báo trước rằng họ không bị yêu cầu phải khai trái với mong muốn của mình Lời khai của người bị tình nghi có thể được ghi nhận biên bản [48, tr.34]
Đáng chú ý, pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản, Hàn Quốc đều có quy định về việc không công nhận là chứng cứ đối với lời thú tội của bị can trong trương hợp bị bức cung Điều 319 BLTTHS Nhật Bản quy định:
Sự thú tội được thực hiện do bị cưỡng ép, tra tấn hoặc đe dọa hoặc sau khi đã kéo dài thời hạn bắt hoặc giam giữ dưới hình thức khác mà làm cho việc thú tội đó không phải là tự nguyện thì sẽ không được chấp nhận là chứng cứ [48, tr.54];
Điều 309 BLTTHS Hàn Quốc quy định:
Lời thú nhận do bị can bị tra tấn, bạo lực đe dọa hay sau khi
bị bắt giữ hoặc tạm giam kéo dài, hoặc nghi vấn là thu được một cách không tự nguyện do gian lận hoặc các phương pháp khác, sẽ không được coi là chứng cứ phạm tội [50, tr.73]
Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự của một số nước như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan cho thấy, pháp luật tố tụng hình sự của các nước này mặc dù quy định khác nhau nhưng đều đề cập biên bản hỏi cung bị can BLTTHS Trung Quốc quy định về biên bản hỏi cung bị cáo tại Điều 95: Biên bản thẩm vấn phải được đưa cho nghi can xem; nếu nghi can
Trang 31không thể đọc, cán bộ thẩm vấn phải đọc cho họ nghe Nếu thấy biên bản còn thiếu hoặc chưa chính xác, nghi can có thể đề nghị bổ sung hoặc sửa chữa Khi nghi can thừa nhận biên bản không có sai sót thì kí tên hoặc đóng dấu vào đó Điều tra viên cũng phải ký tên vào biên bản Nghi can yêu cầu được tự viết một bản tường trình thì phải cho phép nghi can được làm điều này Khi cần, Điều tra viên cũng có thể yêu cầu nghi can viết bản tường trình [49, tr.23]
Tại Điều 155 BLTTHS Trung Quốc, trình tự xét hỏi bị cáo tại phiên tòa được được quy định khác BLTTHS Việt Nam: Sau khi Kiểm sát viên đọc báo cáo tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại có thể trình bày lập luận của mình về tội phạm bị cáo buộc trong cáo trạng và Kiểm sát viên có thể thẩm vấn bị cáo Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền và nghĩa
vụ liên quan trong vụ án có thể, với sự cho phép của Thẩm phán chủ tọa, đặt câu hỏi đối với bị cáo Thẩm phán có thể thẩm vấn bị cáo [49, tr.34] Trong BLTTHS Nhật Bản, bị cáo có quyền im lặng suốt cả thời gian xét xử và đây
có thể được coi là một trong những đặc điểm của chế định thu thập chứng cứ
từ lời khai của bị can, bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự nước này Điều
291 BLTTHS Nhật Bản quy định: Bản cáo trạng sẽ được Công tố viên đọc khi khai mạc phiên tòa Sau khi bản cáo trạng đã được đọc xong, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải thông báo cho bị cáo biết rằng họ có thể im lặng suốt
cả thời gian xét xử và từ chối trả lời bất kì câu hỏi nào, và những vấn đề cần thiết khác được quy định trong Điều lệ về Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình, phải cho bị cáo và luật sư bào chữa của họ cơ hội để phát biểu bất kỳ ý kiến nào liên quan đến vụ án [48, tr.49]
Trong pháp luật tố tụng hình sự Malaysia, không có quy định về trình
tự xét hỏi bị cáo tại phiên tòa, mà chỉ có quy định về việc bị cáo hoặc luật sư
bào chữa tường trình công việc Điều 215 BLTTHS Malaysia quy định: “Bị
cáo hoặc luật sư bào chữa có thể tường trình sự việc, chỉ rõ những tình tiết
Trang 32hoặc pháp luật để biện minh cho vụ việc, đưa ra ý kiến về chứng cứ buộc tội nếu thấy cần thiết” [51, tr.100]
Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc quy định về lấy lời khai người làm chứng, người bị hại tại Điều 67, 68, 69, 70 Điều 67 quy định về địa điểm lấy lời khai: Điều tra viên có thể đến hỏi người làm chứng tại nơi ở hoặc nơi làm việc của họ, nhưng phải cho họ xem giấy tờ, chứng nhận của VKS hoặc cơ quan Công an Khi cần thiết, cũng có thể mời người làm chứng đến VKS hoặc cơ quan Công an để lấy lời khai Phải nói riêng từng người làm chứng [49, tr.29]
Điều 68 Bộ luật này quy định về thủ tục lấy lời khai người làm chứng:
“Khi hỏi người làm chứng, phải nói để họ rõ cần nêu chứng cứ về vụ án thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật” [49, tr.29] BLTTHS Thái Lan quy
định về trình tự, thủ tục hỏi cung người làm chứng, người bị hại và những người khác tại Điều 133: Điều tra viên có quyền bảo hành giấy triệu tập yêu cầu người bị hại hoặc bất cứ người nào trình diện vào đúng thời gian và địa điểm trong giấy nêu có lý do cho rằng lời khai của người đó có ích cho vụ án Người phải trình diện sau đó sẽ bị thẩm tra Trong quá trình thẩm tra, Điều tra viên có thể yêu cầu người đó tuyên thệ hoặc khẳng định sự trung thực của lời khai trước khi khai báo, đồng thời Điều tra viên phải tuân theo mọi quy định
về chứng cứ, lời khai của Bộ luật này Không Điều tra viên nào được phép gợi
ý, khuyến khích hay dùng nhục hình để ngăn cản người bị lấy lời khai khai báo theo nguyện vọng của họ [52, tr.37]
BLTTHS Hàn Quốc có quy định về lời thề của người làm chứng tại
Điều 156 và Điều 157 Điều 156 – lời thề của nhân chứng quy định: “Một
nhân chứng sẽ bắt buộc phải thề trước khi bị thẩm vấn, trừ khi Luật quy định khác” [50, tr.133]
Tương tự như pháp luật tố tụng hình sự Hàn Quốc có quy định về lời thề của người làm chứng tại Điều 156 và Điều 157 Điều 156 - lời thề của
Trang 33nhân chứng quy định: “Một nhân chứng sẽ bắt buộc phải thề trước khi bị
thẩm vấn, trừ khi Luật quy định khác” [50, tr.33] Điều 157 Bộ luật quy định
mẫu lời thề tuyên thệ: “Văn bản tuyên thệ ghi: Tôi thề rằng tôi sẽ nói sự thật,
toàn bộ sự thật và không phải cái gì khác ngoài sự thật mà tôi được biết, nếu
có điều gì sai trái trong lời nói của tôi, tôi sẽ bị xử phạt” [50, tr.133]
Đáng lưu ý, pháp luật tố tụng hình sự Malaysia phân loại người làm chứng thành hai loại: người làm chứng buộc tội và người làm chứng gỡ tội
Để đảm bảo sự có mặt của người làm chứng tại phiên tòa, Điều 145 BLTTHS Malaysia quy định về cam kết của người làm chứng; Người làm chứng buộc tội và người làm chứng gỡ tội cần phải có mặt tại phiên tòa xét xử trước Tòa
án cấp cao, phải thực hiện cam kết trước cán bộ xét xử sẽ có mặt tại phiên tòa xét xử khi được triệu tập để cung cấp chứng cứ và cán bộ xét xử có thể cân nhắc yêu cầu họ đảm bảo chấp hành cam kết đó; Nếu người làm chứng từ chối thực hiện cam kết nêu trên hoặc không thể đảm bảo chấp hành cam kết
đó, thì cán bộ xét xử có thể tạm giam đến khi tiến hành phiên tòa xét xử hoặc đến khi người làm chứng đó đảm bảo sẽ cung cấp chứng cứ tại phiên tòa xét
xử [51, tr.67]; Khác với luật tố tụng hình sự các nước nói trên, pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy định người làm chứng được từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào buộc tội những người thân thích của họ Điều 147 BLTTHS Nhật Bản quy định: Một người làm chứng có thể từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào
mà có thể nghiêng về hướng buộc tội những người sau đây: Vợ chồng, người thân ruột thịt trong phạm vi ba đời hoặc người bà con gần gũi trong phạm vi hai đời của người làm chứng hoặc người đã có mối quan hệ với nhân chứng Người giám hộ, người giám sát của người giám hộ hoặc người phụ trách của người làm chứng Người mà được người làm chứng giám hộ, phụ trách hoặc giám sát người giám hộ của người đó [48, tr.26] Quy định trên thể hiện nét độc đáo trong việc thu thập chứng cứ từ lời khai của người làm chứng trong
Trang 34pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản Khác với pháp luật tố tụng hình sự nước Tòa án, trong pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản trưng cầu giám định được quy quy định thuộc thẩm quyền của Tòa án Điều 165 BLTTHS Nhật Bản quy
định: “Tòa án có thể ra lệnh cho những người có học thức hoặc có kinh
nghiệm kết luận giám định” [48, tr.28]; Điều 166 Bộ luật này còn quy định:
“Người giám định phải tuyên thề” [48, tr.28] BLTTHS Thái Lan đề cập kết
luận giám định tại chương V – Các chuyên gia với hai điều: Điều 243 và Điều
244 Điều 243 quy định: Bất cứ người nào do nghề nghiệp chuyên môn hoặc
do các cách khác – có các kiến thức sâu sắc về các lĩnh vực như: khoa học, nghệ thuật, công việc tinh xảo, thương mại, y khoa hoặc luật nước ngoài mà ý kiến của người đó có giá trị đối với việc xét xử vụ án, sẽ là nhân chứng trong giai đoạn điều tra, thẩm tra sơ bộ và xét xử của Tòa về các vấn đề như giám định thể lực, trí lực của người bị hại, bị cáo hoặc bị can, giám định chữ viết hoặc tiến hành thí nghiệm hay một số việc khác Tòa có thể buộc chuyên gia
đệ trình đánh giá của anh Tòa án bằng văn bản, nhưng chuyên gia sẽ được yêu cầu ra trước Tòa và chứng minh tính xác thực của bản đánh giá đó Bản sao của bản đánh giá đó được gửi cho các bên không dưới 3 ngày trước ngày đưa
ra chứng cứ [52, tr.64]
Từ sự nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới như Liên bang Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan , về hoạt động đánh giá chứng cứ có thể rút ra nhận xét rằng, các nước quy định rất khác nhau về vấn đề này và có sự khác biệt so với Việt Nam Sự khác biệt này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ tình hình kinh tế - xã hội, truyền thống lập pháp tố tụng hình sự, tình hình tội phạm, cũng như chính sách hình sự của mỗi quốc gia trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Đánh giá chứng cứ là tổng hợp hoạt động tư duy của những người tiến hành tố tụng hình sự nhằm xác định giá trị chứng minh của các chứng cứ với nhau Việc đánh giá chứng cứ phải được tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, đồng thời phải dựa vào ý thức pháp luật
và niềm tin nội tâm mới đảm bảo tính khách quan và chính xác Cơ sở, phương pháp luận của việc đánh giá chứng cứ là dựa trên quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lê nin Mục đích của việc đánh giá tổng hợp chứng cứ là xác định giá trị chứng cứ của các chứng cứ để rút ra kết luận về
vụ án Khi đánh giá tổng hợp chứng cứ các chủ thể phải dựa vào những cơ sở như: những chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá riêng lẻ, các nguyên tắc đánh giá chứng cứ, kiến thức nghiệp vụ và kinh nghiệm bản thân Người đánh giá chứng cứ với vai trò là người ra quyết định giải quyết về vụ án sẽ đi dần đến chân lý để tìm ra sự thật nhằm giải quyết đúng đắn vụ án Bên cạnh đó trong Chương 1, tác giả còn nghiên cứu so sánh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về đánh giá chứng cứ với những quy định tương ứng trong pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới như Liên bang Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan , có thể rút ra nhận xét làm kinh nghiệm cho Việt Nam trong hoạt động đánh giá chứng cứ
Trang 362.1.1 Đánh giá chứng cứ từ lời khai của người tham gia tố tụng
Lời khai của người tham gia tố tụng gồm có lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Đây là lời trình bày về những tình tiết, sự kiện có liên quan đến vụ án của những người tham gia tố tụng Đặc điểm chung về lời khai của những người tham gia tố tụng thể hiện các thông tin về vụ án được lưu giữ trong ý thức của họ (yếu tố chủ quan của con người) nên dễ bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh khách quan, năng lực tâm sinh lý, khả năng thu nhận thông tin
* Lời khai của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Lời khai của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là lời trình bày của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo về vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự
Nó là nguồn chứng cứ mang tính chất đặc biệt, bởi vì họ là chủ thể thực hiện tội phạm Họ biết rõ nhất là mình có thực hiện tội phạm hay không, động cơ, mục đích thực hiện tội phạm và những tình tiết có liên quan Họ có thể nêu rõ diễn biến của hành vi phạm tội, chỉ ra nơi cất giấu các phương tiện, công cụ phạm tội và những người đồng phạm Lời khai đúng sự thật của họ có vai trò quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án giúp cho quá trình giải quyết vụ án được thuận lợi Kết quả của việc giải quyết vụ án tác động trực tiếp đến người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; trường hợp bị tòa án tuyên
có tội, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp pháp lý khác
Trang 37Việc sử dụng lời khai của bị can, bị cáo để kết tội họ cần được sử dụng thận trọng, phải có sự kết hợp với các chứng cứ khác nên Luật tố tụng hình sự quy
định “Lời nhận tội của bị can, bị cáo không được sử dụng làm chứng cứ duy
nhất để kết tội Lời nhận tội của họ chỉ được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án”
Lời khai của bị can, bị cáo có thể là lời nhận tội hoặc chối tội Trường hợp họ thành khẩn khai báo để nhận khoan hồng của pháp luật thì lời nhận tội được tòa án dùng để buộc tội khi phù hợp với các chứng cứ khác mà cơ quan tiến hành tố tụng thu được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Lời khai của bị can, bị cáo cũng có thể là lời chối tội, bác bỏ sự buộc tội hoặc có trường hợp họ thừa nhận một phần.Trường hợp lời khai của bị can, bị cáo không nhận tội thì buộc cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh họ có phải
là tội phạm hay không
* Lời khai của người làm chứng
Lời khai của người làm chứng là nguồn chứng cứ xác định các tình tiết của vụ án do người làm chứng cung cấp Lời khai của người làm chứng được
sử dụng là chứng cứ khi nó phù hợp với các chứng cứ khác trong vụ án Lời khai của người làm chứng không nói rõ được do đâu mà họ biết được những tình tiết khách quan của vụ án hình sự, biết về những tình tiết đó trong hoàn cảnh nào, trực tiếp hay nghe ai nói lại; nếu nghe ai nói lại thì nghe ai nói và ở đâu… thì những tình tiết đó không được dùng làm chứng cứ Có 2 loại người làm chứng cứ: người làm chứng trực tiếp và người làm chứng gián tiếp Người làm chứng trực tiếp là người trực tiếp chứng kiến sự việc và đứng ra làm chứng; người làm chứng gián tiếp là người nghe kể lại, nói lại, thuật lại, không trực tiếp chứng kiến sự việc Theo Công văn số 98/NCPL ngày 02/3/1974 của Tòa án nhân dân tối cao gửi Tòa án địa phương thì khi đánh giá lời khai của người làm chứng cần chú ý họ có thể khai không đúng sự thật, vì những lí do sau:
Trang 38- Người làm chứng tuy khách quan nhưng vì trí nhớ hoặc mắt có thể không tốt nên thuật lại có thể không hoàn toàn đúng với diễn biến của sự việc
- Việc xảy ra đã lâu nên không nhớ chi tiết, thuật lại có thiếu sót Ngại phiền phức hoặc thù oán mà không khai hết sự việc mà mình đã biết
- Vì tình cảm hoặc có mâu thuẫn với một bên trong vụ án mà khai thêm hoặc bớt, thiếu chính xác
- Cũng có người làm chứng vì nhớ không kĩ mà khai thêm, bớt, suy diễn theo chủ quan của mình
- Vì đe dọa hoặc bị mua chuộc mà khai sai sự thật
- Đã khai báo không đúng, nhưng sau vẫn khai như trước, vì sợ khai khác thì bị đánh giá là không trung thực
Khi đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng cần lưu ý xem người làm chứng thuộc loại trực tiếp hay gián tiếp; mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị cáo và người bị hại; sự việc khai rõ ràng hay chỉ phỏng đoán, suy diễn; trạng thái về tinh thần, tuổi của người làm chứng; cương vị, điều kiện, vị trí công tác, nơi ở của họ có thể cho họ biết rõ sự việc như họ đã khai không, họ có quan hệ thân thuộc, bạn bè hoặc có mâu thuẫn gì với bị can, bị cáo, người bị hại có quyền lợi liên quan đến vụ án không
Trường hợp lời khai của người làm chứng có mâu thuẫn thì cần đối chiếu, so sánh và có thể sử dụng biện pháp đối chất với những người tham gia
tố tụng khác để làm rõ mâu thuẫn và xác định sự thật Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải tuân theo những quy định chung nhưng chủ tọa phiên tòa hỏi thêm người làm chứng những điểm mà họ chưa khai hoặc khai chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương
sự có thể hỏi thêm người làm chứng Dựa trên cơ sở lời khai của người làm chứng, Hội đồng xét xử có thể đánh giá sự tin cậy hay không của nguồn chứng cứ này Có thể sử dụng các tình tiết trong lời khai này được hay không
và làm rõ được vấn đề gì trong vụ án hình sự
Trang 39* Lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án
Lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là nguồn chứng cứ của vụ án, ngoài việc xác định chứng cứ để xử lí về mặt hình sự đối với bị cáo thì còn được dùng giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự Người bị hại được trình bày về các tình tiết của vụ án, quan hệ giữa họ với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và trả lời những câu hỏi đặt ra Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự
có quyền trình bày những tình tiết trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ Tại phiên tòa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của
họ trình bày về những tình tiết liên quan đến họ, sau đó, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa và người bảo về quyền lợi của đương sự hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn Khi Hội đồng xét xử đánh giá chứng cứ từ lời khai của những người này cần chú ý: phạm vi trình bày chỉ liên quan đến bồi thường thiệt hại hoặc quyền, nghĩa
vụ có liên quan; kiểm tra xem người được đại diện cho cơ quan, tổ chức có đủ thẩm quyền không Với người bị hại, việc khai báo là để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của họ đã bị tội phạm xâm hại, những thông tin do người bị hại khai báo có thể làm căn cứ xác định tội phạm Trong trường hợp người bị hại phóng đại các tình tiết do tâm lí căm tức để mong muốn kẻ phạm tội phải bị trừng phạt nặng hoặc lo sợ bị trả thù… thì Tòa án cần đối chiếu, so sánh với các chứng cứ khác trong vụ án, nếu thấy có sự mâu thuẫn thì tìm ra mâu thuẫn trong lời khai và nguyên nhân của mâu thuẫn để đưa ra quyết định sử dụng hay bác bỏ tình tiết nào trong lời khai của người bị hại
Những tình tiết, sự kiện trong lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Trang 40sẽ không được Tòa án sử dụng làm chứng cứ nếu họ không thể nói rõ vì sao
họ biết được tình tiết đó
Trên thực tế khi đánh giá, sử dụng lời khai của người tham gia tố tụng, Tòa án thường chú ý xem xét đánh giá tính hợp pháp của việc lấy lời khai Việc lấy lời khai có được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật hình sự quy định về thời gian, địa điểm không BLTTHS quy định không được lấy lời khai vào ban đêm (trừ trường hợp pháp luật quy định khác) nên trường hợp lấy lời khai vào ban đêm phải xem lý do ghi trong biên bản lấy lời khai có đúng trường hợp pháp luật cho phép hay không Địa điểm lấy lời khai
có thể là trụ sở CQĐT, nhà tạm giữ đối với bị can, bị cáo; là nơi ở, nơi công tác hay trụ sở CQĐT đối với người bị hại, người làm chứng… Trường hợp người chưa thành niên dưới 16 tuổi phạm tội quả tang chưa gọi được người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho họ tham gia vào quá trình lấy lời khai thì không được coi lời khai đó là hợp pháp Hoặc việc lấy lời khai của công an viên không phải là Điều tra viên được Thủ trưởng CQĐT phân công cũng không coi là hợp pháp Ngoài ra, cần đánh giá xem người khai có đủ năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi khi thực hiện việc khai báo hay không Điều này ảnh hưởng tới việc xác định tính khách quan, tính liên quan của lời khai, ảnh hưởng tới việc xác định sự thật của vụ án
2.1.2 Đánh giá chứng cứ từ kết luận giám định