Vì vậy việc nắm vững những quy định trong Chương V và Chương XXXII "về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên" của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là nhân tố quan trọng, cần thi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI LONG HƯNG
BIệN PHáP NGĂN CHặN áP DụNG ĐốI VớI NGƯờI CHƯA THàNH NIÊN TRONG Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Nam)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI LONG HƯNG
BIệN PHáP NGĂN CHặN áP DụNG ĐốI VớI NGƯờI CHƯA THàNH NIÊN TRONG Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Nam)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Trong quá trình nghiên cứu, học viên đã tham khảo nhiều công trình nghiên cứu khác, có kế thừa, phân tích, bình luận và phát triển Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví
dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Học viên đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Bùi Long Hưng
Trang 4CHẶN ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 6 1.1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa
thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam 6
1.1.1 Khái quát biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS Việt Nam 6 1.1.2 Người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam 11
1.2 Những đặc điểm của biện pháp ngăn chặn đối với người
chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam 18
1.2.1 Phải căn cứ vào qui định chung về biện pháp ngăn chặn của Luật
tố tụng hình sự Việt Nam 18 1.2.2 Những đặc điểm riêng khi áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với
người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam 19
1.3 Các qui định của pháp luật quốc tế về biện pháp ngăn chặn đối
với người chưa thành niên phạm tội trong tố tụng hình sự 29 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TTHS VIỆT NAM VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 36 2.1 Quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên 36
Trang 52.1.1 Quy định của pháp luật TTHS trước 2003 - lịch sử hình thành và
phát triển 36
2.1.2 Quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa thành niên theo Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2003 38
2.2 Thực tiễn biện pháp ngăn chặn áp dụng với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh Hà Nam của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội 48
2.2.1 Tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người đối với người chưa thành niên 48
2.2.2 Tình hình áp dụng biện pháp tạm giữ 54
2.2.3 Tình hình áp dụng biện pháp tạm giam 57
2.2.4 Tình hình áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú 60
2.2.5 Tình hình áp dụng biện pháp bảo lĩnh 64
2.2.6 Tình hình áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm 66
2.3 Nhận xét về việc biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam tại địa bàn tỉnh Hà Nam 69
2.3.1 Những ưu điểm 69
2.3.2 Những mặt hạn chế 71
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 75
3.1 Cơ sở và những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật 75
3.1.1 Cơ sở dự báo 75
3.1.2 Hoàn thiện hệ thống những quy định của pháp luật liên quan đến việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn người chưa thành niên 76
Trang 63.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn
chặn đối với người chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam 86
3.2.1 Nâng cao nhận thức của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về
trật tự xã hội trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên 86 3.2.2 Làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của công dân 88 3.2.3 Tuyên truyền giáo dục pháp luật cho quần chúng nhân dân nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật là điều kiện để đảm bảo việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn 88
KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLHS: Bộ luật Hình sự BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra
PLHS: Pháp luật hình sự
PLTTHS: Pháp luật Tố tụng hình sự
THTT: Tiến hành tố tụng TTHS: Tố tụng hình sự
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Hà Nam chính thức được tái thành lập năm 1997, có địa giới hành chính nhỏ hẹp, dân cư không đông nhưng ngày càng phát triển nhanh, vững chắc, khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - chính trị - an ninh
- quốc phòng Tuy nhiên, tội phạm do người chưa thành niên có chiều hướng gia tăng, với tính chất, mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng đòi hỏi các cấp, các ngành, các lực lượng chức năng phải cùng "vào cuộc"
để ngăn chặn, kiềm chế, từng bước làm giảm loại tội phạm này
Trên thực tế, việc quy định và áp dụng đúng đắn các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam được coi là sự đảm bảo cao nhất cho quá trình phát hiện tội phạm để người phạm tội không thể tiếp tục thực hiện các hành vi phạm tội cũng như trốn tránh, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Ở đây, lại có một vấn đề đặt ra là việc thực hiện các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa mang yếu tố nhạy cảm khá cao vì liên quan đến quyền, lợi ích của công dân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, bí mật đời tư nên vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định, hậu quả dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm những nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, xâm phạm đến các quyền cơ bản của công dân Vì vậy việc nắm vững những quy định trong Chương V và
Chương XXXII "về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên" của Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2003 là nhân tố quan trọng, cần thiết và có giá trị để các Điều tra viên vận dụng tốt vào thực tiễn hoạt động nghiệp vụ, tránh được những sai sót đáng tiếc xảy ra và góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm do người chưa thành niên thực hiện
Trong những năm vừa qua, lý luận về áp dụng các biện pháp ngăn chặn
Trang 9trong điều tra các vụ án hình sự do người chưa thành niên gây ra chưa được quan tâm nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hà Nam, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về áp dụng các biện pháp ngăn chăn đối với người chưa thành niên phạm tội và thực tiễn áp dụng để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra những giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của việc
áp dụng những quy định đó có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng
Do vậy, việc chọn đề tài "Biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa
thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam" (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Nam) của lực lượng Cảnh sát điều tra về TTXH tỉnh Hà Nam làm
luận văn thạc sĩ, tôi mong muốn sẽ đáp ứng được các yêu cầu cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn của vấn đề
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, vấn đề áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó có sự đóng góp đáng kể của một số đề tài khoa học và sách chuyên khảo như:
"Những điều cần biết về bắt người, tạm giữ, tạm giam " đúng pháp luật của
tác giả Phạm Thanh Bình - Nguyễn Vạn Nguyên, nhà xuất bản pháp lý năm
1990, cuốn "Các biện pháp ngăn chặn trong luật Tố tụng hình sự Việt Nam"
của tác giả Nguyễn Mai Bộ, nhà xuất bản Công an nhân dân năm 1997
Ngoài ra còn có các bài viết đăng trên tạp chí Công an nhân dân, tạp chí Kiểm sát cũng tập trung phân tích, đề cập đến những khó khăn, vướng mắc, những giải pháp về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội trên từng địa bàn cụ thể với những đặc trưng riêng biệt của từng địa phương
Trước tình hình trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tài "Biện pháp ngăn
chặn áp dụng đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam" (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Nam) trong giai đoạn hiện nay là
Trang 10rất cần thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn, góp phần đảm bảo thực hiện đúng pháp luật trong lĩnh vực này trên địa bàn tỉnh Hà Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Từ việc nghiên cứu lý luận và thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Hà Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2015, đề tài chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế, nguyên nhân tồn tại, đề xuất một số giải pháp chủ yếu để hoàn thiện lý luận và góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh
- Đánh giá việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự trên cơ sở đó rút ra những tồn tại, thiếu sót, vướng mắc trong quá trình áp dụng luật trên cơ sở thực tiễn tỉnh Hà Nam
- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật
tự xã hội Công an tỉnh Hà Nam từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2015
- Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong thời gian tới đối với người chưa thành niên
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn dưới góc độ khoa học pháp lý nhằm hoàn thiện việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam trên phạm vi địa bàn tỉnh Hà Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2015, các số liệu vụ án được nghiên cứu thuộc lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Hà Nam
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện cùng với những chính sách hình sự của Nhà nước đối với họ
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, trực tiếp khảo sát, tổng kết kinh nghiệm, lấy ý kiến của các chuyên gia
6 Những đóng góp của đề tài
- Làm rõ lý luận các biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó tìm ra những ưu điểm, tồn tại trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh Hà Nam
- Tìm ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả việc áp dụng các biện
Trang 12pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên và các vấn đề nghiệp vụ để đảm bảo các biện pháp đó
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam Kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu và cho cán bộ làm công tác điều tra, đấu tranh phòng chống loại tội phạm này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về các biện pháp ngăn chặn áp dụng
đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng biện pháp
ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình
sự Việt Nam
Trang 13Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1 Khái quát biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS Việt Nam
1.1.1.1 Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là những biện pháp
cưỡng chế được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, do người
có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố khi
có căn cứ do pháp luật quy định nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ tiếp tục xảy ra, ngăn chặn họ trốn tránh, bảo đảm cho việc tiến hành tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng
Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được quy định tại Điều 79 BLTTHS Việt Nam bao gồm: Bắt; Tạm giữ; Tạm giam; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bảo lĩnh; Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo
- Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã, người thực hiện hành vi phạm tội quả tang và trong trường hợp khẩn cấp nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn chặn việc trốn tránh của họ và để tạo điều kiện cho việc tiến hành tố tụng, xác định sự thật khách quan của vụ án
- Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền quyết định tước tự do thân thể trong thời hạn nhất định áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy
nã nhằm đảm bảo cho CQĐT có thời gian tiến hành các hoạt động điều tra
Trang 14ban đầu để có cơ sở quyết định khởi tố bị cạn, tạm giam hoặc trả tự do cho người bị bắt
- Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng; Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn
cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội
- Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng
- Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự thay thế cho biện pháp tạm giam được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có người bảo lãnh không để bị can, bị cáo phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và nhằm bảo đảm sự có mặt của
họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng
- Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự để thay thế biện pháp tạm giam do CQĐT, VKS, Tòa án
áp dụng đối với bị can, bị cáo để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng và ngăn ngừa họ có hoạt động cản trở việc giải quyết vụ án
Những biện pháp ngăn chặn nêu trên phải được áp dụng bởi những người có thẩm quyền như: Chánh án, Phó Chánh án Toà án các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;
Trang 15Người chỉ huy quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới, người chỉ huy tàu bay, tàu biển hoặc chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển Riêng việc bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã thì mọi công dân đều có quyền bắt
Khi đưa ra khái niệm biện pháp ngăn chặn, khoa học pháp lý ở nước ta tương đối có sự thống nhất, Giáo trình luật TTHS của Khoa Luật ĐHQGHN định nghĩa như sau:
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế được quy định trong pháp luật TTHS Việt Nam, do người có thẩm quyền ở các cơ quan THTT hoặc các cơ quan khác được giao một số hoạt động tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang, người
có lệnh truy nã hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội, không để họ cản trở việc điều tra, truy tố, xét
xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như nhằm đảm bảo cho việc thi hành án [13, tr.248-249]
1.1.1.2 Căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự
Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với những người bị nghi ngờ thực hiện hành vi phạm tội hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bảo đảm cho các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm vì người thực hiện tội phạm thường có ý thức che dấu tội phạm, trốn tránh để tránh bị xử lý Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn tác động trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cư trú và đi lại… do vậy phải đảm bảo sự công bằng, dân chủ và tôn trọng các quyền công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định Vì vậy không được
Trang 16tùy tiện áp dụng các biện pháp ngăn chặn mà phải áp dụng dựa trên các căn
cứ pháp luật đã quy định để đảm bảo việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, thực hiện các biện pháp ngăn chặn đúng pháp luật
Căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự bao gồm: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm; Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; Sẽ tiếp tục phạm tội; Cần bảo đảm thi hành án Theo đó thì:
Thứ nhất, để kịp thời ngăn chặn tội phạm
Kịp thời ngăn chặn tội phạm, để tội phạm không xảy ra, không tiếp tục xảy ra, không hoàn thành để gây ra nguy hiểm cho xã hội là một việc làm cần thiết Do đó BLTTHS quy định để kịp thời ngăn chặn tội phạm là một căn cứ
Thứ hai, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc
điều tra, truy tố, xét xử
Những người bị tình nghi thực hiện tội phạm hay đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu không bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn phần lớn sẽ gây nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng nên việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là cần thiết Khi họ có các hành vi gây khó khăn thì việc giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều khó khăn và việc tìm
ra sự thật khách quan của vụ án gặp nhiều cản trở thậm chí không thực hiện được Việc gây khó khăn của họ thể hiện ở việc trốn tránh triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, làm sai lệch hoặc thủ tiêu chứng cứ, bàn bạc, câu kết với những người tham gia tố tụng khác khai báo gian dối, tạo chứng cứ giả…
Trang 17Do vậy khi có căn cứ nêu trên các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc thay đổi các biện pháp ngăn chặn đối với
bị can, bị cáo, người đã thực hiện hành vi phạm tội để đáp ứng được nhiệm vụ giải quyết vụ án hình sự, xác định được sự thật khách quan của vụ án
Thứ ba, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội
Trường hợp người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội, bị can, bị cáo có khả năng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thì việc áp dụng biện pháp ngăn chặn để hạn chế hoặc cách ly họ với xã hội để họ không có điều kiện thực hiện tội phạm là cần thiết Tuy nhiên, khi xem xét căn cứ này phải xem xét trên mọi phương diện để tránh việc áp dụng tùy tiện, xâm phạm đến các quyền con người, quyền công dân của họ
Các căn cứ này có thể được xác định thông qua nhân thân của người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội, bị can, bị cáo, các hành vi khách quan của
họ Họ là những người có nhân thân xấu như: có tiền án, tiền sự, sử dụng trái phép các chất ma túy chứng tỏ họ đã được giáo dục và xử lý bởi pháp luật nhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật Họ có các biểu hiện như đe dọa trả thù người bị hại, người làm chứng… và có khả năng thực hiện được sự đe dọa
Thứ tư, để bảo đảm thi hành án
Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật liên quan trực tiếp đến bị can, bị cáo hay người bị kết án Trong trường hợp bị can, bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng
và đặc biệt nghiêm trọng hoặc họ có nhân thân xấu thuộc trường hợp bị áp dụng hình phạt tù thì việc áp dụng biện pháp ngăn chặn là cần thiết
Việc áp dụng căn cứ này được áp dụng tại phiên tòa bởi Hội đồng xét
Trang 18- Bị cáo không bị áp dụng biện pháp tạm giam nhưng bị xử phạt bằng hình phạt tù và có căn cứ cho rằng họ gây khó khăn cho việc thi hành bản án hoặc sẽ tiếp tục phạm tội thì Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định bắt tạm giam để tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án
1.1.2 Người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.2.1 Người chưa thành niên
Người chưa thành niên là thuật ngữ phổ biến được sử dụng trong đời sống cũng như trong các ngành khoa học nghiên cứu Dưới nhiều góc độ nghiên cứu cũng như mục đích nghiên cứu khác nhau mà ở mỗi ngành khoa
học lại có cách hiểu riêng về thuật ngữ này Theo Từ điển Tiếng Việt: “Vị
thành niên là người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ hay nói cách khác là người chưa đủ 18 tuổi”
Định nghĩa này phù hợp với tinh thần của Công ước của Liên Hợp Quốc về
quyền trẻ em thông qua ngày 20/11/1989: “Trong phạm vi của Công ước này,
trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [15, Điều 1] Theo
cách hiểu thông thường, từ “trẻ em” nghĩa là người chưa thành niên, hay vị thành niên Thế nhưng trong Công ước này trẻ em lại bao gồm tất cả những người chưa phải người lớn Công ước nhấn mạnh rằng tất cả những ai dưới 18 tuổi thì được hưởng mọi quyền lợi đã được ghi nhận trong Công ước
Tuy nhiên những quy định khác nhau về khái niệm người chưa thành niên lại nằm trong các văn bản pháp luật truyền thống của các quốc gia trên thế giới Sở dĩ có sự quy định khác nhau như vậy là do xuất phát từ truyền thống lịch sử văn hóa cũng như các quan niệm về đạo đức, phong tục tập quán của các quốc gia khác nhau Mặt khác, còn do điều kiện kinh tế - xã hội, sự phát triển về sinh học của con người, đặc biệt là chính sách pháp luật và yêu cầu của thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm của mỗi quốc gia cũng có sự khác nhau
Trang 19Trong phạm vi một quốc gia, thì tùy vào từng ngành khoa học mà người ta cũng có khái niệm khác nhau về người chưa thành niên Ở Việt Nam, Điều 1 Luật giáo dục, chăm sóc và bảo vệ trẻ em Việt Nam quy định
rõ: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.”
Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung năm 2002 quy định: “Người chưa thành
niên là người dưới 18 tuổi” [22, Điều 119] Bộ luật dân sự năm 2005 cũng
có quy định tương tự: “Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” [25, Điều 18] Như vậy, theo nghĩa chung nhất thì người chưa thành niên
là người chưa đủ 18 tuổi
Ở độ tuổi này, người chưa thành niên có những đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng và chính vì thế mà bất cứ ngành luật nào cũng dành những quy định đặc biệt để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ
Bất kể một công dân nào sinh ra cũng có sẵn một cơ sở vật chất giống nhau đó là bộ não Đây là điều kiện cần, nhưng chưa đủ Trong qua trình lớn lên, trưởng thành, bộ não của con người tiếp nhận, chọn lọc những kỹ năng sống, tri thức để phát triển qua gia đình, nhà trường, xã hội xung quanh Đúng
như F.Ăngghen đã từng nói: “Ý thức từ ban đầu đã là sản phẩm của xã hội và
vẫn là sản phẩm của xã hội chừng nào xã hội còn tồn tại” và “chỉ trong tự ý thức con người mới tách mình độc lập với thế giới xung quanh, xác định vị trí của mình trong những quan hệ tự nhiên và xã hội” [1, tr.325] Đây là điều
kiện đủ để một người đạt đến ngưỡng gọi là “trưởng thành” hay “đã thành niên” Dưới ngưỡng này đồng nghĩa với việc chưa phát triển đầy đủ, khả năng thích ứng với xã hội còn kém và rất dễ bị tổn thương tâm lý, nếu không khéo léo “chạy chữa” thì người đó sẽ không thể trở thành một người trưởng thành thật sự Người chưa thành niên chính là những người đang ở vị thế như vậy
1.1.2.2 Người chưa thành niên phạm tội
Như đã phân tích ở trên, năng lực trách nhiệm hình sự chỉ hình thành
Trang 20khi con người đạt đến một độ tuổi nhất định và năng lực đó sẽ được hoàn thiện ở một độ tuổi tiếp theo Người chưa thành niên, hay vị thành niên hoặc
có nơi coi là trẻ em về thể chất và tâm sinh lý đã có sự phát triển đáng kể, có khả năng hiểu biết nhất định để có những xử sự phù hợp với quy định của pháp luật Theo nguyên tắc công bằng của pháp luật, họ phải chịu trách nhiệm
về hành vi do chính mình thực hiện
“Người chưa thành niên phạm tội” là thuật ngữ sử dụng trong khoa học PLHS, PLTTHS và các khoa học gần gũi khác Mặc dù BLTTHS và BLHS đều có dành một chương riêng để quy định về người chưa thành niên phạm tội, nhưng lại đều không có khái niệm lập pháp chính thức thế nào là người chưa thành niên phạm tội BLHS 1985 cũng như BLHS 1999 khi nói tới người chưa thành niên phạm tội chỉ đưa ra một khái niệm gián tiếp thông qua việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Điều 12 BLHS năm 1999 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố
ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng BLHS năm 1999 cũng quy định:
“Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm
hình sự theo những quy định của chương này [21, Điều 68]
Với quy định trong các điều khoản trên có thể hiểu người chưa thành niên phạm tội bao gồm những người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi Nhưng cũng cần phải lưu ý rằng: Người chưa thành niên trong PLHS Việt Nam phải được nhìn nhận chính xác từ hai góc độ không nên đồng nhất thuật ngữ “người chưa thành niên” trong PLHS với thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội” Ở góc độ thứ nhất, người chưa thành niên là người bị hại, người xúi giục, “người chưa thành niên” sẽ bao gồm tất cả những người ở độ tuổi dưới 18 tuổi Nhìn từ góc độ thứ hai, người chưa thành niên bằng năng
Trang 21lực nhận thức của mình thực hiện hành vi bị pháp luật cấm, tức là người chưa thành niên phạm tội Tại thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội pháp luật quy định họ phải đang ở độ tuổi 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mà không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (tình trạng bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hoạt động của mình do bị mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác)
Một câu hỏi mà bất cứ một người nào mới tiếp xúc với pháp luật hình
sự cũng sẽ đặt ra trong trường hợp này là: tại sao pháp luật hình sự lại quy định độ tuổi chịu trách nhiệm là 14 tuổi? Ở một số quốc gia trên thế giới quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự rất khác nhau Ví dụ: Singapore: 7 tuổi; Anh: 10 tuổi; Canada: 12 tuổi; Nhật Bản, Nga: 14 tuổi; Thuỵ Điển: 15 tuổi; Cuba: 16 tuổi;… Sở dĩ, pháp luật hình sự của các nước quy định khác nhau như vậy là do phụ thuộc vào điều kiện phát triển của từng nước
Ở nước ta, pháp luật hình sự quy định 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự là phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Trong độ tuổi này, người chưa thành niên đã bắt đầu phát triển nhanh về tâm sinh lý
Họ đã tự ý thức được những hành vi của mình, tự ý thức được đâu là đúng, đâu là sai, ý thức được phần nào những việc gì là đúng pháp luật, việc gì là sai trái, bị pháp luật cấm Vì lẽ đó, họ cũng đã có sự cân nhắc, dù cẩn thận hay không trước khi thực hiện hành vi của mình Từ đó, họ có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về chính hành vi do mình thực hiện ấy
Như vậy, khái niệm về người chưa thành niên phạm tội do BLHS quy định có ý nghĩa pháp lý sâu sắc Đó là cơ sở xác định tính chất tội phạm đối với những hành vi do người chưa thành niên thực hiện và tạo điều kiện cho việc áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi trên cơ sở những đặc điểm tâm sinh lý vào thời điểm họ phạm tội Không những thế, khái niệm trên còn mang ý nghĩa chính trị xã hội bởi nó
Trang 22phù hợp với nội dung điều ước quốc tế tiến bộ của nhân loại mà chúng ta đã gia nhập vừa phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội, sự phát triển về thể chất, tinh thần con người Việt Nam và kinh nghiệm đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta
Thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội” vốn đã phức tạp lại càng phức tạp thêm vì vấn đề này không chỉ có ý nghĩa về phương diện đạo đức - pháp lý mà còn có ý nghĩa về phương diện thực tế hoặc thống kê Trong thực
tế, còn tồn tại nhiều vướng mắc gây tranh cãi khi xác định một cá nhân có phải
là người chưa thành niên phạm tội hay không Trước hết phải kể đến khó khăn vướng mắc trong việc xác định độ tuổi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong những trường hợp không rõ ràng về ngày, tháng, năm sinh Thứ hai là khó khăn trong việc xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người chưa thành niên thực hiện có phải là tội phạm hay không phải tội phạm vì rất khó phân biệt tội phạm với các loại vi phạm khác Chẳng hạn, hành
vi trộm cắp một chiếc xe đạp của người khác chỉ trở thành tội phạm khi xác định chính xác giá trị của chiếc xe từ hai triệu đồng trở lên, nếu không, hành vi
đó chỉ là một vi phạm hành chính Cuối cùng là khó khăn, vướng mắc trong việc xác định một cách chính xác, phù hợp với thực tế tổng số vụ và người chưa thành niên phạm tội hàng năm Con số người chưa thành niên phạm tội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là mức độ kiểm soát tội phạm; hiệu quả của công tác phát hiện, xử lý tội phạm Các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện được phát hiện chỉ là một phần mà chúng ta biết được trong số rất nhiều vụ phạm pháp hình sự đã và đang xảy ra Mặt khác, các vụ phạm tội được ghi nhận vào sổ thống kê lại chưa bằng một nửa số vụ người chưa thành niên phạm tội bị phát hiện Mặc dù các con số thống kê hình sự về số lượng các
vụ án và số lượng người chưa thành niên chỉ là phần tội phạm rõ trong tổng thể các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể
Trang 23sử dụng con số này làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá, phân tích tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện
Dựa vào những phân tích nêu trên, có thể hiểu: Người chưa thành niên
phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm
1.1.2.3 Người chưa thành niên trong tố tụng hình sự
“Người chưa thành niên phạm tội” là khái niệm của luật hình sự và không đồng nghĩa với khái niệm “người chưa thành niên trong Tố tụng hình sự”, tuy nhiên hai khái niệm này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu như khái niệm “người chưa thành niên phạm tội” để chỉ người chưa thành niên đã
bị tòa án kết tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì khái niệm “người chưa thành niên trong TTHS” chỉ người chưa thành niên, mà hành vi của họ có dấu hiệu tội phạm đang trong quá trình giải quyết vụ án ở những giai đoạn TTHS khác nhau, đó là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo Đây là khái niệm đặc trưng của pháp luật tố tụng hình sự và do đó, luật TTHS qui định thủ tục giải quyết vụ án đối với người chưa thành niên, chứ không phải là thủ tục giải quyết vụ án đối với người chưa thành niên phạm tội Theo qui định của Luật TTHS Việt Nam thì thủ tục giải quyết vụ án đối với người chưa thành niên được áp dụng cho các đối tượng sau: (a) Người bị bắt bao gồm người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã…; (b) Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội
tự thú, đầu thú và đối với họ có quyết định tạm giữ; (c) Bị can là người đó bị khởi tố về hình sự; (d) Bị cáo là người bị toà án quyết định đưa ra xét xử [24]
Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành
Trang 24niên thỏa mãn những quy định pháp lý về người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng họ đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi Vì vậy, những thủ tục đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên phải được tiến hành theo thủ tục đặc biệt được quy định tại chương XXXII BLTTHS Việt Nam năm 2003 Từ những phân tích
trên có thể hiểu: Người chưa thành niên trong tố tụng hình sự là người bị
bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi ở thời điểm các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự đối với họ
Như vậy, khái niệm người chưa thành niên phạm tội và khái niệm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có những điểm khác nhau xuất phát từ thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật mà trong đó người chưa thành niên là chủ thể Quy định đối với người chưa thành niên phạm tội trong BLHS chỉ áp dụng đối với đối tượng là người chưa thành niên ở thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội Còn người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên bị coi là những người bị tình nghi trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án Những quy định áp dụng đối với
họ chỉ được thực hiện vào thời điểm họ bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị khởi
tố, truy tố, xét xử và phải vào thời điểm mà họ là người chưa thành niên
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm biện pháp ngăn chặn
áp dụng đối với người chưa thành niên trong TTHS Việt Nam như sau: “Biện
pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên là biện pháp cưỡng chế TTHS được quy định trong pháp luật TTHS, do người có thẩm quyền ở các cơ quan THTT hoặc các cơ quan khác được giao một số hoạt động tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang, người có lệnh truy nã hoặc người bị nghi phạm tội trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời điểm các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự đối
Trang 25với họ nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội, không để họ cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như nhằm đảm bảo cho việc thi hành án”
1.2 Những đặc điểm của biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam
Luật tố tụng hình sự các quốc gia đều qui định các biện pháp ngăn chặn
áp dụng đối với người chưa thành niên là bị người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án Tuy nhiên, các biện pháp ngăn chặn áp dụng với đối tượng này ngoài những đặc điểm chung còn có những đặc điểm riêng tạo thành một tổng thể thống nhất, đó là những đặc điểm sau đây:
1.2.1 Phải căn cứ vào qui định chung về biện pháp ngăn chặn của Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa thành niên có đầy đủ các đặc điểm như các biện pháp ngăn chặn áp dụng trong các trường hợp chung đó là những qui định về căn cứ, thẩm quyền, trình tự thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn Các biện pháp có mục đích kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, cũng như không cho họ có những hành động làm cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; khi áp dụng biện pháp ngăn chặn cần phải tuân thủ theo những trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do BLTTHS quy định bởi lẽ đây là các biện pháp hạn chế một phần quyền con người, quyền công dân Đặc điểm này cho thấy tính thống nhất của biện pháp ngăn chặn nói chung, theo đó biện pháp ngăn chặn với người chưa thành niên phạm tội là một tổng thể trong các biện pháp ngăn chặn nói chung được quy định trong BLTTHS, bao gồm sáu biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 79 BLTTHS Việt Nam gồm bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi
nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
Trang 261.2.2 Những đặc điểm riêng khi áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
Ngoài các đặc điểm chung khi áp dụng biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa thành niên còn có những đặc điểm riêng sau:
1.2.2.1 Căn cứ và phạm vi áp dụng
Người chưa thành niên có thể bị bắt, tạm giam, tạm giữ, trở thành bị can, bị cáo trong vụ án hình sự Do vậy, những quy định chung của Bộ luật TTHS đối với người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, quyền, nghĩa vụ của bị can,
bị cáo nói chung đều áp dụng đối với trường hợp người chưa thành niên phạm tội Do những đặc điểm về tâm lý, sinh lý, thể chất, tinh thần của người chưa thành niên khác với những người thành niên mà khi áp dụng các quy định của
Bộ luật TTHS không được trái với quy định về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên
Quy định của Điều 301 Chương XXXII Bộ luật TTHS Việt Nam về phạm vi áp dụng, thì thủ tục tố tụng đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên được áp dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương vừa nêu trên Như vậy, việc áp dụng thủ tục tố tụng này là những người chưa thành niên phạm tội, đó là những người từ đủ
14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 18 tuổi Trong trường hợp một người vào thời điểm thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng đến khi họ bị phát hiện thì họ đã là người thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) thì vụ án hình sự liên quan đến họ không áp dụng theo thủ tục này
* Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự có thể chia biện pháp bắt
người chưa thành niên phạm tội thành: Bắt bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội để tạm giam; bắt người chưa thành niên phạm tội trong trường hợp khẩn cấp; bắt người chưa thành niên phạm tội quả tang hoặc đang bị truy
nã Trong đó:
Trang 27- Bắt bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội để tạm giam là bắt người sau khi có lệnh tạm giam hoặc quyết định của cơ quan hoặc người
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Căn cứ bắt bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội để tạm giam được quy định tại Điều 80 và Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự Để bắt bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi để tạm giam phải có đủ các
điều kiện cần và đủ sau đây: Một là, có lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam của những người có thẩm quyền; hai là, người chưa thành niên bị bắt để tạm
giam phải là bị can, bị cáo phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Để bắt bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi cũng phải có đủ các điều kiện cần và đủ nêu trên; trong đó, điều kiện thứ nhất giống như đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Còn điều kiện thứ hai là người chưa thành niên phạm tội bị bắt để tạm giam phải là bị can, bị cáo phạm tội về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
- Bắt người chưa thành niên phạm tội trong trường hợp khẩn cấp là bắt người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm hoặc sau khi thực hiện tội phạm thì
bỏ trốn, cản trở việc điều tra khám phá tội phạm Theo quy định tại Điều 81
Bộ luật Tố tụng hình sự, thì có ba căn cứ bắt người trong trường hợp khẩn cấp
sau: Một là, khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; hai là, khi người
bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay
việc người đó trốn; ba là, khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại
chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ
Trang 28- Bắt người chưa thành niên phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã được thực hiện theo quy định tại Điều 82 và Điều 303 Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam Điều 82 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định chỉ được bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã khi có một trong bốn căn cứ sau đây:
Một là, đang thực hiện tội phạm; hai là, ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị
phát hiện; ba là, đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã bỏ chạy và bị đuổi bắt; bốn là, đang có lệnh truy
nã Còn theo quy định tại Điều 303 Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam, thì chỉ được bắt người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng
do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Chỉ được bắt người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
* Tạm giữ người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 86
và Điều 303 Bộ luật Tố tụng hình sự Theo quy định tại Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì tạm giữ là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với người
bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn người bị bắt trốn tránh việc điều tra; để xác minh tội phạm
và để quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự (khởi tố bị can) đối với họ
* Việc tạm giam bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội phụ thuộc vào độ tuổi của người chưa thành niên, loại tội phạm mà người đó thực hiện Theo quy định tại Điều 303 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì chỉ được tạm giam người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều
88 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Chỉ được tạm giam người
Trang 29từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 88 Bộ luật
Tố tụng hình sự, trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
Như vậy, căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn là những tài liệu, chứng
cứ mang tính dự báo về khả năng bị can, bị cáo thực hiện các hành vi cản trở điều tra, truy tố, xét xử, tiếp tục phạm tội hoặc cản trở thi hành án Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn phải dựa vào một trong những căn cứ nêu trên chứ không phải bất cứ trường hợp nào bị can, bị cáo cũng đều bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Việc có hay không áp dụng biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện pháp ngăn chặn nào tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân của bị can, bị cáo và điều kiện, khả năng quản lý họ của cơ quan THTT
1.2.2.2 Thẩm quyền áp dụng
Trong giải quyết các vụ án hình sự nói chung, để giải quyết một cách
có kết quả cao, Thủ trưởng CQĐT, Viện trưởng VKS, Chánh án Tòa án thường lựa chọn và phân công những người THTT là Điều tra viên, Kiểm soát viên, Thẩm phán có những hiểu biết nhất định về đặc điểm của vụ án hình sự, đặc điểm người phạm tội trong từng lĩnh vực chuyên môn Đối với vụ án hình
sự liên quan đến người chưa thành niên phạm tội, khoản 1 Điều 302 Bộ luật TTHS quy định, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán THTT đối với người chưa thành niên phạm tội phải là người có những am hiểu cần thiết về tâm sinh lý, khoa học giáo dục, đặc điểm của người chưa thành niên phạm tội cũng như về hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm đối với những người chưa thành niên
Mặt khác, như chúng ta đã nghiên cứu ở trên, biện pháp ngăn chặn với người chưa thành niên với tính chất là một đối tượng đặc biệt trong tố tụng hình sự và là những chủ thể tham gia tố tụng có tâm lý, điều kiện không giống
Trang 30như những trường hợp bình thường khác trong việc áp dụng thủ tục tố tụng hình sự Do đó, người chưa thành niên được coi là nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự; biện pháp ngăn chặn đối với những trường hợp này thì người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải có sự cân nhắc rất kỹ, cần phải đạt được mục đích riêng, đó là mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn với người chưa thành niên không giống như áp dụng đối với các trường hợp khác Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy
đủ về thể chất và tinh thần, là những đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là khi họ tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án, do đó tùy theo lứa tuổi, mức độ trưởng thành và nhu cầu cá nhân mà họ cần được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng hình sự Vì vậy khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền con người, quyền công dân đối với họ thì người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn không thể không tính toán đến các yếu tố là hậu quả tác động Bởi lẽ việc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam sẽ tác động, ảnh hưởng tâm lý sâu sắc, đồng thời ảnh hưởng tới quá trình phát triển về thể chất, tinh thần… của người chưa thành niên bị áp dụng Trong quá trình bị áp dụng các biện pháp này, người chưa thành niên hình thành những tâm lý không ổn định không những không đạt được mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, mà còn dẫn đến việc gây khó khăn cho hoạt động điều tra và khám phá tội phạm
Do đặc điểm sinh lý và thể chất của người chưa thành niên là người đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ thiếu niên trở thành người lớn nên họ có thể chất, tinh thần, tâm lý, sinh lý chưa phát triển đầy đủ, hoàn thiện dẫn đến khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Vì vậy, trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội, người tiến hành tố tụng phải đảm bảo có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục liên quan đến
Trang 31người chưa thành niên, đồng thời phải có kiến thức, kinh nghiệm trong hoạt động đấu tranh, phòng chống tội phạm này sẽ giúp cho việc giải quyết vụ án đạt hiệu quả nhanh hơn về mặt thời gian và đảm bảo sự đúng đắn trong việc
áp dụng pháp luật TTHS
1.2.2.3 Thủ tục áp dụng
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội được tiến hành theo thủ tục chung, nhưng không được trái với quy định về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên Có nghĩa rằng, những quy định của Bộ luật TTHS Việt Nam về bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử được áp dụng chung đối với tất cả các vụ án hình
sự, nhưng nếu vụ án có người chưa thành niên phạm tội là người tham gia tố tụng thì phải thực hiện theo thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội ở một số vấn đề liên quan đến đặc điểm của người chưa thành niên
So với các quy định của BLTTHS năm 1988 thì BLTTHS Việt Nam năm
2003 đã kế thừa hầu hết các quy định của BLTTHS năm 1988 đối với các quy định về điều tra, truy tố xét xử, các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2003 cũng đã sửa đổi, bổ sung hai nhóm người bị bắt và người bị tạm giữ là người chưa thành niên cùng với bị can, bị cáo là người chưa thành niên vào đối tượng áp dụng thủ tục đặc biệt được quy định tại Điều 301 của Bộ luật này Ngoài ra, tại Khoản 3, Điều 303 BLTTHS năm 2003 quy định về việc bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành
niên phạm tội, đó là việc "Khi thực hiện việc bắt, tạm giữ, tạm giam đối với
người chưa thành niên phạm tội, cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phải thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam" [23, Điều 303, Khoản 3] Do đây là
đối tượng chưa hoàn thiện về tâm lý và còn phụ thuộc vào cha mẹ và người giám hộ nên thủ tục quy định áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam đối
Trang 32với người chưa thành niên như trên cho thấy thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên được quy định rất chặt chẽ và chỉ áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội tùy thuộc vào lứa tuổi và theo tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, hoàn cảnh gia đình của người đó Điều này đảm bảo quyền lợi của người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Không những thế, do đặc điểm của lứa tuổi người chưa thành niên cũng như trình độ nhận thức của họ bị hạn chế nên khi các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp hạn chế quyền của họ thì đại diện hợp pháp, đại diện gia đình của họ phải được thông báo kịp thời nhằm bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên trong quá trình tham gia tố tụng
Nếu trong trường hợp thực sự cần thiết phải áp dụng mà không thể giao
họ cho gia đình, cha mẹ hay người đỡ đầu giám sát do tính nguy hiểm trong hành vi phạm tội của họ hoặc do những đặc điểm nhân thân khác mà thấy rằng, nếu tiếp tục để họ ngoài xã hội thì thực sự gây nguy hiểm cho xã hội Việc xác định sự cần thiết phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên cần dựa vào tính chất của vụ án, mức độ hậu quả gây ra cho xã hội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điều kiện sinh sống, giáo dục, đặc điểm nhân thân, hoàn cảnh gia đình, xã hội… và yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Mặt khác, cha mẹ hoặc người đỡ đầu của người chưa thành niên phạm tội không có khả năng giám sát, giáo dục và đảm bảo
sự có mặt của họ theo giấy triệu tập hoặc không có khả năng ngăn chặn sự tiếp tục phạm tội của họ
Như vậy, khi cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội thì người tiến hành tố tụng phải tuân thủ những quy định: chỉ bắt vào ban ngày, trừ trường hợp không thể trì hoãn được; khi bắt phải có mặt cha mẹ hoặc người đỡ đầu, người nuôi dưỡng họ, trừ trường hợp bắt quả tang Người chưa thành niên bị tạm giữ, tạm
Trang 33giam riêng theo giới tính, không để chung phòng với người thành niên và phải thông báo ngay cho gia đình người chưa thành niên biết về trường hợp tạm giữ, tạm giam; phải luôn kiểm tra tính cần thiết của biện pháp ngăn chặn nếu thấy không cần thiết thì phải áp dụng hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn khác cho phù hợp hoặc giao cho gia đình giám sát, giáo dục nhằm tránh ảnh hưởng tới sự phát triển về thể chất và tâm sinh lý của người chưa thành niên
1.2.2.4 Thời hạn áp dụng
Do đặc điểm của đối tượng áp dụng biện pháp ngăn chặn này là những người chưa thành niên có đặc điểm tâm lý, sinh lý chưa ổn định, thuộc nhóm những người dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự nên khi áp dụng biện pháp ngăn chặn cần có sự cân nhắc kỹ trước khi người THTT có quyết định
áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội Trong
đó, vấn đề quan trọng và cần quan tâm nhất là thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên Theo quy định:
- Thời hạn tạm giam bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội được quy định tại các Điều 120, 166, 177, 228, 243, 250 và Điều 287 Bộ luật
Tố tụng hình sự Tại các Điều 120, 166, 177 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn tạm giam để điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội phụ thuộc vào tội phạm mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên bị khởi tố, truy tố, bị đưa ra xét xử Cụ thể như sau: Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (Điều 120) Thời hạn tạm giam bị can để truy tố là hai mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra (khoản 1 Điều 166) Thời hạn tạm
Trang 34giam bị can, bị cáo để chuẩn bị xét xử là ba mươi ngày, đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án
- Thời hạn tạm giữ: Tạm giữ người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 86 và Điều 303 Bộ luật Tố tụng hình sự Theo quy định tại Điều
86 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì tạm giữ là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn người bị bắt trốn tránh việc điều tra; để xác minh tội phạm và để quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự (khởi
tố bị can) đối với họ Tại Điều 303 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Chỉ được tạm giữ người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Và chỉ được tạm giữ người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
Tuy nhiên, thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự cần càng ngắn càng tốt, khi có đủ các điều kiện thì cần hủy bỏ ngay việc áp dụng biện pháp ngăn chặn với người chưa thành niên Bên cạnh đó một đặc điểm khác biệt so với trường hợp áp dụng biện pháp ngăn chặn trong trường hợp thông thường đó là hạn chế việc gia hạn áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam, đồng thời cần cân nhắc, tính toán
để giảm tối đa thời gian áp dụng, tránh ảnh hưởng tới tâm sinh lý, sự phát triển của người chưa thành niên
Trang 351.2.2.5 Thay đổi biện pháp ngăn chặn
Thay thế biện pháp ngăn chặn là việc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thế cho biện pháp ngăn chặn đang được áp dụng; cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn nào thì có quyền quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn đó, đối với những biện pháp ngăn chặn do VKS phê chuẩn thì việc thay thế phải do VKS quyết định Biện pháp ngăn chặn có thể được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác nghiêm khắc hơn hoặc ít nghiêm khắc hơn đối với người đang bị
áp dụng Việc thay thế biện pháp ngăn chặn căn cứ vào yêu cầu giải quyết vụ
án và thái độ chấp hành của bị can, bị cáo đối với biện pháp ngăn chặn đang
áp dụng Đối với người chưa thành niên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy họ tiến bộ, nhận thức được hành vi sai phạm của bản thân, nhân thân tốt thì có thể xem xét thay đổi biện pháp ngăn chặn
Người chưa thành niên phạm tội là đối tượng đặc biệt nên các biện pháp ngăn chặn có tính cưỡng chế, hạn chế quyền con người của người chưa thành niên như tạm giữ, tạm giam không được khuyến khích áp dụng mà thông thường được áp dụng các biện pháp khác mang tính chất không hạn chế quyền hơn như: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc các biện pháp khác để đảm bảo Điều này đảm bảo cho người chưa thành niên phạm tội vẫn có thể sống cùng với gia đình, vẫn nhận được sự chăm sóc, quản lý
và giáo dục từ phía gia đình và nhà trường để bảo đảm cho sự phát triển và cuộc sống bình thường nhất của họ thay vì tạm thời cách ly họ ra khỏi xã hội nhằm các mục đích của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn Đây là đặc điểm thể hiện tính nhân đạo của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên
Như vậy, khi thấy rằng không cần thiết phải áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, CQĐT, VKS, TA có thể ra quyết định giao người chưa thành
Trang 36niên phạm tội cho cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ giám sát để bảo đảm sự
có mặt của người chưa thành niên phạm tội khi có giấy triệu tập của cơ quan THTT Người giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người chưa thành niên, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó
1.3 Các qui định của pháp luật quốc tế về biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội trong tố tụng hình sự
Con người là tổng hòa các mối quan hệ, do vậy phần lớn người phạm tội chỉ có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền chứ không phải là tất cả
Người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, nhất là tạm giữ, tạm giam về bản chất họ vẫn là con người với các mối quan hệ với môi trường xung quanh Họ có người thân, có nhu cầu sinh hoạt như những người khác,
có những bản năng vốn có của con người do vậy trước hết họ phải được đối
xử như giữa con người với con người, đây chính là biểu hiện rõ nét nhất sự
phát triển của xã hội loài người
Người chưa thành niên bị tạm giữ hay người bị tạm giam trước hết họ phải được coi là người bình thường mà không phải là tội phạm vì chưa có bản
án có hiệu lực của tòa án Họ là những người đang trong giai đoạn tố tụng với
sự nghi ngờ của các cơ quan quan tố tụng Các biện pháp ngăn chặn đó chỉ là nhằm đảm bảo cho điều tra, truy tố, xét xử hiệu quả hơn chứ không phải là nhằm mục đích giáo dục hay trừng phạt đối với người phạm tội Do vậy pháp luật hình sự cũng chỉ quy định một số hạn chế đối với họ ví dụ như quyền bầu
cử, ứng cử, quyền tự do đi lại… chứ về các nhu cầu sinh hoạt của con người vẫn phải đảm bảo cho họ Tùy thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia cũng như môi trường, hoàn cảnh người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp ngăn chặn có thể được thêm quyền này hoặc bớt đi quyền nào đó nhưng một
số quyền của họ không bao giờ bị xâm phạm cho dù dưới bất kỳ hình thức nào hay nhân danh cái gì chăng nữa Quyền con người trong tạm giữ, tạm
Trang 37giam phải có nền tảng về sự đối xử, đó là Các quy tắc, tiêu chuẩn tối thiểu đối
xử với tù nhân của Liên Hợp Quốc năm 1955 Các hành vi tra tấn, trừng phạt
tàn nhẫn, vô nhân đạo hay hạ nhục khác về thể xác lẫn tinh thần đối với họ là điều không bao giờ được chấp nhận
Nội dung các quy định nêu trong các Công ước, quy tắc có tính đến sự
đa dạng và cơ cấu pháp luật của các quốc gia, phản ánh mục đích và tinh thần của tư pháp người chưa thành niên, đề ra những nguyên tắc mong muốn và thông lệ đối với việc quản lý người chưa thành niên phạm tội; đồng thời đảm bảo rằng, trong quá trình thực thi và áp dụng pháp luật thì quyền của người chưa thành niên, kể cả trong trường hợp họ là đối tượng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị vi phạm
Để thực hiện được mong muốn và tinh thần nêu trên, Công ước và một
số quy tắc, hướng dẫn khác đó thể hiện khá đầy đủ và tập trung các quyền cụ thể của người chưa thành niên trong TTHS cũng như những lưu ý đối với việc xây dựng hệ thống pháp luật và việc áp dụng pháp luật nhằm bảo đảm quyền con người, quyền trẻ em của người chưa thành niên khi các em phạm tội
Điều 40 của Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải thúc đẩy việc thành lập một hệ thống tư pháp người chưa thành niên riêng và đặc biệt
là ban hành các đạo luật quy định trình tự, thủ tục, các cơ quan và thể chế áp dụng riêng cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự Công ước đưa ra các quy định đảm bảo tối thiểu cho người chưa thành niên (“các quy định đảm bảo tranh tụng”) vào thời điểm bị bắt giữ, xét xử và kết án Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên quy định độ tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự, và các biện pháp xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự mà không phải áp dụng thủ tục tố tụng (“xử lý chuyển hướng, thay thế”) Các quốc gia thành viên cũng cần có nhiều biện pháp xử lý khác nhau đối với người chưa thành niên nhằm đảm bảo các em được xử lý một cách phù hợp với sự phát triển ở độ tuổi này
Trang 38Bên cạnh đó, Điều 37 của Công ước quy định người chưa thành niên phải được bảo vệ tránh khỏi bị tra tấn, phân biệt đối xử hoặc trừng phạt tồi tệ,
vô nhân đạo cũng như những hành vi làm mất phẩm giá Người chưa thành niên chỉ bị bắt, bị giam giữ và áp dụng hình phạt khi không thể áp dụng các biện pháp thay thế Trong trường hợp bị giam giữ, các em phải được đối xử nhân đạo và việc giam giữ theo chế độ riêng phù hợp với sự phát triển của lứa tuổi về cả tâm và sinh lý
Điều 40 của Công ước có nêu ra một nguyên tắc chung định hướng hành động có liên quan tới người chưa thành niên phạm tội như sau:
Mọi trẻ bị cáo buộc, buộc tội hoặc bị coi là vi phạm luật hình
sự đều có quyền được đối xử phù hợp với sự phát triển ý thức về nhân phẩm và phẩm chất của trẻ Sự phát triển ý thức đó giúp tăng thêm ý thức tôn trọng các quyền con người và quyền tự do cơ bản của người khác; giúp xem xét khía cạnh lứa tuổi của trẻ và mong muốn của chúng về sự tái hoà nhập cộng đồng [14, Điều 40]
Nguyên tắc chung này cần được coi là kim chỉ nam cho việc tiến hành xây dựng, áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội Quyền lợi cơ bản nhất của người chưa thành niên phải trở thành một yếu tố quan trọng trong các quyết định tố tụng đối với họ
Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên năm 1985 (gọi tắt là Quy tắc Bắc Kinh) đề ra các tiêu chuẩn tối thiểu, toàn diện về việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên Các quy tắc này hướng dẫn các quốc gia thành viên khi xây dựng các hệ thống tư pháp riêng cho người chưa thành niên theo nghĩa vụ được quy định tại Điều 40 của Công ước về quyền trẻ em Nội dung của điều này là cơ
sở để các quốc gia thành viên xây dựng và ban hành các luật, quy tắc, thể chế
để áp dụng riêng đối với người chưa thành niên phạm tội, và bảo vệ các quyền
cơ bản của họ
Trang 39Quy tắc Bắc Kinh một lần nữa nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống các quy định áp dụng đối với người chưa thành niên cần chú trọng đến quyền, lợi ích của người chưa thành niên, đồng thời đảm bảo mọi quyết định xử lý người chưa thành niên phải phù hợp với hoàn cảnh và tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các em đó thực hiện
Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên năm 1990 (gọi tắt là Hướng dẫn Riát) đưa ra cách tiếp cận phòng ngừa tội phạm tích cực, toàn diện và đặt người chưa thành niên là trung tâm Cách tiếp cận này hướng tới giải quyết các nguyên nhân xã hội căn bản dẫn đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên Phòng ngừa không chỉ được coi là vấn đề giải quyết các tình trạng tiêu cực thông qua các cơ quan chức năng và các cơ chế kiểm soát xã hội, mà thay vào đó, Hướng dẫn này cũng ủng hộ cách tiếp cận dựa trên việc tích cực thúc đẩy sự phát triển và sức khỏe của các em từ khi các em còn nhỏ Chiến lược phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội tốt nhất là chiến lược phòng ngừa có nhiều biện pháp để thúc đẩy quyền của người chưa thành niên và tăng cường sự phát triển cộng đồng, nhằm giải quyết vấn đề đói nghèo và sự cách ly các em với xã hội Hướng dẫn Riát khuyến nghị việc phòng ngừa phạm tội ở người chưa thành niên cần được chính thức hóa ở mọi cấp chính quyền Hoạt động phòng ngừa cần xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, sự phối kết hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các đoàn thể quần chúng, sự tham gia của cộng đồng thông qua một loạt các dịch vụ và chương trình, hợp tác liên ngành giữa các chủ thể trong toàn xã hội và sự tham gia của người chưa thành niên vào quá trình xây dựng tất cả các chính sách phòng ngừa tội phạm
Quy tắc của Liên Hợp Quốc về việc bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do năm 1991 (gọi tắt là Quy tắc 1991) đưa ra các nguyên tắc hướng dẫn về điều kiện và việc đối xử với người chưa thành niên bị tước
Trang 40quyền tự do một cách đầy đủ, toàn diện Các quy tắc này được áp dụng với tất cả những người chưa thành niên bị đưa vào các cơ sở quản lý giáo dục tập trung (trại giam, trại cải tạo, trung tâm giáo dục, bảo vệ hoặc phục hồi) theo quyết định của bất kỳ cơ quan tư pháp, hành chính hoặc cơ quan công quyền nào Trọng tâm của Quy tắc 1991 là nhằm đảm bảo việc tước quyền
tự do không dẫn đến việc vi phạm hoặc tước các quyền khác mà những người dưới 18 tuổi được hưởng theo Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc
Trong quá trình giao tiếp với người chưa thành niên, phải sử dụng ngôn ngữ phù hợp và dễ hiểu với các em; cấm các biện pháp điều tra tùy tiện, trong mọi trường hợp, quyền riêng tư của các em phải được bảo vệ, những thông tin
cá nhân và mang tính nhạy cảm liên quan đến người chưa thành niên phải được xử lý cẩn thận và được bảo đảm bí mật;