Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, NCS đã chọn đề tài cho luận án tiến sĩ Kinh tế chính trị của mình là: “Những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hoá các doanh ngh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRỊNH VĂN SÖY
NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI NẢY SINH
TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TỈNH THANH HÓA
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRỊNH VĂN SÖY
NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI NẢY SINH
TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TỈNH THANH HÓA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi,
có sự hỗ trợ giúp đỡ của Thầy giáo hướng dẫn, một số thầy cô giáo khác và bạn bè, đồng nghiệp Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Trịnh Văn Súy
Trang 4MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt iDanh mục bảng biểu ii
MỞ ĐẦU 1Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 81.1 Những công trình đã công bố liên quan đến nội dung luận án 8
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về CPH DNNN nói chung 8 1.1.2 Các công trình nghiên cứu về những vấn đề kinh tế-xã hội nảy sinh trong quá trình CPH và hậu CPH DNNN 16 1.1.3 Các công trình nghiên cứu quá trình CPH DNNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 18
1.2 Kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và những vấn đề đặt
ra cần được nghiên cứu tiếp 19
1.2.1 Những kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu trên 19 1.2.2 Một số vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu tiếp 21
Chương 2: CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 252.1 Khái lược chung về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước 25
2.1.1 Doanh nghiệp nhà nước và vai trò của chúng trong nền kinh tế thị trường 25 2.1.2 Những hạn chế của các DNNN và nguyên nhân của chúng 29 2.1.3 Thực chất của CPH doanh nghiệp nhà nước 33 2.1.4 Cổ phần hóa DNNN – giải pháp cơ bản nhằm khắc phục những yếu kém của khu vực DNNN và nâng cao hiệu quả chung của nền kinh tế 36
Trang 52.2 Các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nước 39
2.2.1 Xung đột lợi ích – cội nguồn sâu sa của các vấn đề kinh tế-xã hội nẩy sinh trong quá trình CPH DNNN 39
2.2.2 Các vấn đề kinh tế-xã hội cụ thể thường nảy sinh trong quá trình CPH DNNN 41
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến các vấn đề kinh tế- xã hội nảy sinh trong quá trình CPH DNNN 53
2.3.1 Môi trường cạnh tranh và khung pháp lý điều tiết hoạt động chung của các doanh nghiệp 53
2.3.2 Khuôn khổ pháp lý và tính minh bạch của tiến trình cổ phần hóa các DNNN 55
2.3.3 Những biện pháp hỗ trợ của nhà nước đối với các doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hóa 57
2.3.4 Các thiết chế hỗ trợ quá trình CPH DNNN 58
2.3.5 Đội ngũ cán bộ làm công tác CPH 58
2.3.6 Nhận thức xã hội về quá trình CPH DNNN 59
2.4 Thực tiễn giải quyết những vấn đề kinh tế- xã hội nảy sinh trong quá trình này ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm cho Thanh Hóa 60
2.4.1 Thực tiễn giải quyết những vấn đề kinh tế- xã hội nảy sinh trong quá trình này ở một số địa phương 60
2.4.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Thanh Hóa 71
Chương 3: TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HÓA VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ - XẪ HỘI ĐẶT RA TỪ QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TỈNH THANH HÓA 76
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và DNNN của Thanh Hóa ảnh hưởng đến quá trình CPH DNNN 76
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội 76
Trang 63.1.2 Đặc điểm DNNN của Thanh Hóa trước cổ phần hóa 79
3.2.Tình hình, kết quả thực hiện CPH DNNN ở Thanh Hóa 81
3.2.1 Các giai đoạn triển khai thực hiện cổ phần hóa các DNNN 81
3.2.2 Một số kết quả và nhận xét chung 81
3.3 Những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Thanh Hóa 84
3.3.1 Tâm lý chần chừ, e ngại, ngăn trở tiến trình CPH 84
3.3.2 Vấn đề xác định giá trị các doanh nghiệp Nhà nước để cổ phần hoá 85
3.3.3 Việc đánh giá và xử lý nợ của các DN cổ phần hóa 88
3.3.4 Vấn đề sắp xếp lại lực lượng lao động và giải quyết lao động “dôi dư” trong các DNCPH 89
3.3.5 Vấn đề chuyển đổi cấu trúc sở hữu và quan hệ giữa các nhóm cổ đông 91
3.3.6 Vấn đề quản lý nhà nước và sự phân biệt đối xử đối với DN sau CPH (so với DNNN) 100
3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa DNNN ở Thanh Hóa 102
3.4.1 Cơ chế, chính sách về CPH DNNN 102
3.4.2 Công tác quản lý nhà nước về CPH DNNN trên địa bàn tỉnh chưa theo kịp với yêu cầu 106
3.4.3 Các thiết chế hỗ trợ tiến trình CPH DNNN còn kém phát triển 108 3.4.4 Nhận thức xã hội và công tác tuyên truyền về CPH còn hạn chế 109
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TỈNH THANH HÓA 112
4.1 Quan điểm giải quyết các vấn đề kinh tế- xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Thanh Hóa những năm tới 112
Trang 74.1.1 Bối cảnh của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Thanh Hóa những năm tới 112 4.1.2 Quan điểm giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Thanh Hóa 116
4.2 Một số giải pháp nhằm hạn chế và giải quyết các vấn đề kinh tế- xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Thanh Hóa những năm tới 124
4.2.1 Đổi mới phương pháp định giá đi đôi với nâng cao kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ định giá tài sản doanh nghiệp 124 4.2.2 Minh bạch hóa vấn đề tài chính và quyền sở hữu của Nhà nước trong doanh nghiệp sau CPH 129 4.2.3 Phân định rõ và tách bạch chức năng quản lý Nhà nước với chức năng chủ sở hữu Nhà nước tại các CTCP 135 4.2.4 Hoàn thiện môi trường kinh doanh, đảm bảo tính bình đẳng trong đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi của người lao động trong các doanh nghiệp sau CPH 139 4.2.5 Tăng cường vai trò và trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương và nâng cao vai trò của Ban đổi mới doanh nghiệp nhà nước trong quá trình CPH DNNN 1433
4.3 Một số kiến nghị với Nhà nước và bộ/ ngành hữu quan 1466KẾT LUẬN 149DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 153TÀI LIỆU THAM KHẢO 154PHỤ LỤC
Trang 8DNCPH : Doanh nghiệp cổ phần hóa
DNTN : Doanh nghiệp tƣ nhân
ĐMPTDN : Đổi mới phát triển doanh nghiệp
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Một số kết quả của các DN CPH của tỉnh Thừa Thiên - Huế năm
2010 64
Bảng 2.2: So sánh tỷ lệ tăng thu nhập của người lao động và tăng lợi nhuận của 3 CTCP 70
Bảng 3.1 Tỷ trọng cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa 77
Bảng 3.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Thanh Hóa 2006-2012 (%) 78
Bảng 3.3 Thu nhập bình quân đầu người/tháng giai đoạn 2002-2012 79
Bảng 3.4: Số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và nợ khó đòi (tính đến 1/1/1995) 80
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ năm 1986, với đường lối Đổi Mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền kinh tế nước ta đã từng bước chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong bước chuyển đổi này, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) - bộ phận trọng yếu của nền kinh tế, nói chung đã không thích ứng được, bộc lộ nhiều yếu kém , hoạt động thiếu hiệu quả, không tương xứng với vai trò mà chúng được kỳ vọng cũng như các nguồn lực mà chúng nắm giữ Trước tình hình đó, vào đầu những năm 1990, Đảng và Nhà nước đã chủ trương đổi mới một cách căn bản, toàn diện đối với các DNNN Nhiều chính sách và giải pháp đã được tiến hành, trong đó có giải pháp chuyển đổi các DNNN thành Công ty cổ phần (cổ phần hoá các DNNN) Đây là biện pháp quan trọng nhằm tạo ra sự chuyển biến căn bản về cơ cấu sở hữu và hoạt động của các DNNN, để thông qua đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của chính khu vực DNNN cũng như của cả nền kinh tế
Sau hơn 20 năm tổ chức thực hiện cổ phần hóa (CPH) DNNN, các chỉ tiêu như: vốn, doanh thu, lợi nhuận, thu nhập của người lao động tại nhiều doanh nghiệp sau CPH đã có sự cải thiện rõ rệt Tuy vậy, tính đến nay tiến trình này vẫn diễn ra chậm chạp Khu vực DNNN vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, hoạt động của nhiều DN sau CPH còn khó khăn, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh thấp, thậm chí nhiều doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ Nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình CPH DNNN đã tác động xấu đến quá trình CPH nói riêng, đến sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung
Tại Thanh Hóa, quá trình CPH DNNN đã được triển khai nghiêm túc
và thu được những kết quả nhất định Tính đến 31 tháng 12 năm 2014, Thanh Hoá đã CPH được 98 doanh nghiệp, trong đó có 24 doanh nghiệp bộ phận
Trang 11Kết quả khảo sát cho thấy, đa số các doanh nghiệp sau CPH hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, tiến trình CPH DNNN ở Thanh Hóa vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó nổi lên là: các mục tiêu chủ yếu của CPH đạt thấp; trong nhiều trường hợp, việc xác định giá trị doanh nghiệp trước khi CPH chưa hợp lý; các doanh nghiệp còn lúng túng trong việc xây dựng chiến lược sản phẩm và chiến lược phát triển Điều đáng nói là, sau cổ phần hóa, hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp vẫn thấp Nguyên nhân của tình trạng đó có nhiều, trong đó có nguyên nhân từ những vấn đề kinh tế-xã hội (KT – XH) tiêu cực nẩy sinh trong quá trình CPH nhưng chưa được tỉnh quan tâm giải quyết kịp thời, như: tình trạng thất thoát tài sản nhà nước còn phổ biến; vai trò của người lao động- cổ đông trong công ty chưa được coi trọng; cơ cấu sở hữu còn thiếu minh bạch; sự xung đột lợi ích nhóm bắt đầu bộc lộ; vấn đề xử lý nợ còn lúng túng.v.v Tất cả điều đó đều gây ra khó khăn cho tiến trình CPH DNNN, ngăn cản nó đi đến mục tiêu của mình Điều này đòi hỏi các nhà quản lý, các
cơ quan ban ngành từ Trung ương đến địa phương, các nhà nghiên cứu phải
có biện pháp để giải quyết những vấn đề nảy sinh đó một cách hiệu quả
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, NCS đã chọn đề tài cho luận án tiến
sĩ Kinh tế chính trị của mình là: “Những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Thanh Hoá", nhằm trả
lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Quá trình CPH DNNN thường làm nảy sinh các vấn đề kinh tế-xã hội nào? Căn nguyên sâu sa có tính quy luật chi phối sự nảy sinh các vấn đề này là gì?
- Những vấn đề đó bộc lộ, thể hiện như thế nào trong quá trình CPH DNNN ở Thanh Hóa?
- Cần có các giải pháp gì để xử lý hiệu quả các vấn đề trên nhằm đẩy nhanh tiến độ CPH và nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN sau CPH trên địa bàn Tỉnh?
Trang 122 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm làm rõ các vấn đề kinh tế-xã hội nảy sinh trong quá trình CPH DNNN ở Thanh Hóa, tìm ra nguyên nhân của tình trạng này, từ đó đề xuất các giải pháp xử lý thích hợp để đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả tiến trình CPH DNNN trên địa bàn tỉnh
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận án phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, chỉ ra những kết quả và những vấn đề đặt ra cần phải được nghiên cứu tiếp
- Xây dựng khung khổ lý thuyết về CPH DNNN và các vấn đề kinh tế -
xã hội thường nảy sinh trong quá trình này
- Khảo cứu kinh nghiệm xử lý các vấn đề kinh tế - xã hội tiêu cực nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa DNNN của một số địa phương
- Phân tích, đánh giá thực tế những vấn đề kinh tế - xã hội tiêu cực nảy sinh trong quá trình cổ phần hoá DNNN ở tỉnh Thanh Hóa từ năm 1998 đến năm 2014, làm rõ những kết quả và hạn chế trong việc xử lý các vấn đề này trong thực tiễn CPH ở Tỉnh
- Đưa ra quan điểm và đề xuất giải pháp xử lý các vấn đề kinh tế - xã hội tiêu cực nảy sinh trong quá trình cổ phần hoá các DNNN ở Thanh Hoá đến
năm 2020
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề kinh tế-xã hội nẩy sinh trong quá trình CPH DNNN dưới góc độ Kinh tế chính trị Điều này thể hiện ở chỗ: các vấn đề nảy sinh trong quá trình CPH được xem xét, cắt nghĩa dưới góc độ kinh tế - xã hội, như là sự phản chiếu các quan hệ lợi ích chứ không phải dưới góc
độ kinh tế - kỹ thuật; việc lý giải các vấn đề cũng như đề xuất giải pháp thường
Trang 13được gắn với môi trường thể chế, chính sách và vai trò của nhà nước hơn là tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp hay đề xuất giải pháp cho doanh nghiệp
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề KT-XH bộc lộ trong quá trình CPH DNNN, chủ yếu phát sinh từ sự xung đột lợi ích giữa các chủ thể kinh tế có liên quan, tạo ra những tác động tiêu cực đến quá trình này Đây chính là những tình huống hay khía cạnh khó khăn mà người ta cần phải giải quyết hay vượt qua nếu muốn quá trình CPH DNNN đi đến được mục tiêu của mình Các vấn đề kinh tế - kỹ thuật nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa sẽ không đề cập hoặc chỉ đề cập ở mức độ nhất định để làm rõ các quan hệ lợi ích kinh tế có liên quan
Ở Việt Nam, quá trình CPH DNNN đã trải qua nhiều giai đoạn và hiện vẫn đang được tiếp tục đẩy mạnh Một số vấn đề nảy sinh ở các doanh nghiệp sau CPH có thể tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đối với tiến trình CPH tiếp theo Đứng trên góc nhìn đó, những vấn đề như vậy vẫn cần được xem xét, giải quyết trong tổng thể quá trình CPH DNNN nói chung Đó là lý do một số khía cạnh sau CPH của
DN vẫn nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án này
- Về không gian: Trong khuôn khổ luận án này, NCS chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề kinh tế-xã hội nảy sinh có tác động tiêu cực đến tiến trình CPH DNNN ở tỉnh Thanh Hóa Tuy nhiên, luận án cũng nghiên cứu vấn đề này tại một số địa phương khác để đúc rút bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thanh Hóa
- Về thời gian: từ 1998, thời điểm tỉnh Thanh Hóa bắt đầu thực hiện CPH DNNN, đến năm 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án sử dụng cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đây là phương pháp luận được sử dụng xuyên suốt trong Luận án để nhận diện đúng bản chất của tiến trình CPH
Trang 14DNNN nói chung trong điều kiện các nền kinh tế thị trường cũng như những biểu hiện đặc thù của nó trong thực tiễn các nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam Với cách tiếp cận biện chứng, Luận án xem xét các vấn đề KT-XH nảy sinh trong tiến trình CPH DNNN không phải như các sự kiện ngẫu nhiên
mà như là những hệ quả tất yếu từ sự xung đột lợi ích giữa các nhóm người khác nhau gắn liền với quá trình này
Quán triệt nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Luận án đặt việc xử lý những vấn đề nảy sinh trong quá trình CPH DNNN ở Việt Nam nói chung, ở Thanh Hóa nói riêng trong mối quan hệ của nó với tổng thể quá trình đổi mới theo hướng phát triển kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập, trong đó CPH DNNN được xem như một bộ phận của quá trình cải cách và định vị lại khu vực DNNN, tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế theo các yêu cầu và nguyên lý của kinh tế thị trường
4.2 Phương pháp cụ thể
Trong luận án, một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau được chú trọng:
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Đây là phương pháp đặc thù trong nghiên cứu kinh tế chính trị Phương pháp này được sử dụng nhằm tạm gạt bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu những vấn đề cá biệt, ngẫu nhiên, ít có ảnh hưởng đến quá trình CPH DNNN để đi sâu nghiên cứu những vấn đề mang tính cốt yếu, phổ biến, có ảnh hưởng quyết định đến quá trình CPH DNNN và cách thức xử lý các vấn đề nảy sinh trong quá trình này Phương pháp này được áp dụng chủ yếu ở chương 3 và một phần ở chương 2 (phần nghiên cứu kinh nghiệm các nước)
- Phương pháp kết hợp lôgic và lịch sử được sử dụng trong luận án khi tác giả cố gắng khảo sát tiến trình CPH DNNN và các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh ở Thanh Hóa theo diễn tiến lịch sử của chúng (theo các giai đoạn của quá trình CPH nói chung cũng như các bước CPH đối với một doanh nghiệp
cụ thể) song đồng thời lại sẵn sàng bỏ qua những yếu tố ngẫu nhiên để xâu
Trang 15chuỗi, kết nối các khía cạnh khác nhau trong các vấn đề nảy sinh nhằm tìm ra
lô gic bên trong chi phối các tất cả vấn đề trên: sự xung đột lợi ích giữa các chủ thể kinh tế có liên quan Đó là cơ sở để tác giả luận án phân tích, lý giải đối tượng nghiên cứu và tìm kiếm các đề xuất giải pháp
- Phương pháp nghiên cứu tình huống, phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng trong các chương 2 - 3 và 4, trong đó nhiều nhất là ở chương 3 Chẳng hạn việc phân tích cho phép tác giả luận án khảo cứu, đánh giá riêng rẽ từng khía cạnh nảy sinh, có ảnh hưởng tiêu cực đến mục tiêu của quá trình CPH DNNN cả trước, trong và sau tiến trình này nếu xét ở một doanh nghiệp
cụ thể Tuy thế, thông qua việc khái quát hóa, dựa trên lô gic của các mối quan hệ lợi ích, tác giả cố gắng tổng hợp lại để nhận diện được một số yếu tố
có khả năng chi phối chung các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh cụ thể (sự xung đột lợi ích, môi trường kinh doanh chung hay khía cạnh thể chế…) Sử dụng các phương pháp này cho phép tác giả đưa ra được những nhận xét, đánh giá sát thực hơn về tình hình CPH DNNN và xử lý các vấn đề nảy sinh
có tác động tiêu cực đến quá trình CPH DNNN trong thời gian qua, chỉ rõ những thành tựu và hạn chế của quá trình này
- Phương pháp so sánh được sử dụng trong cả chương 2 và chương 3, đặc biệt trong phần nghiên cứu kinh nghiệm của các địa phương khác và đánh giá thực trạng CPH DNNN và cách thức giải quyết các vấn đề KT-XH nảy sinh trong quá trình CPH DNNN tại tỉnh Thanh Hóa Sử dụng phương pháp này sẽ cho phép làm rõ những ưu điểm, thành tựu hay nhược điểm, hạn chế trong CPH DNNN và giải quyết các vấn đề KT-XH tiêu cực nảy sinh trong quá trình đó
- Luận án chủ yếu sử dụng các số liệu, dữ liệu thứ cấp được chắt lọc từ các công trình (bài báo khoa học, sách chuyên khảo, luận án, luận văn…) có liên quan đến vấn đề CPH DNNN được công bố dưới dạng các tài liệu sách, báo hay trên các trang websites cũng như các báo cáo của tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa về tình hình CPH DNNN
Trang 165 Những đóng góp khoa học của luận án
- Bổ sung và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về các vấn đề kinh tế-xã hội nảy sinh mang tính phổ biến trong quá trình cổ phần hóa các DNNN, trong
đó chỉ rõ sự xung đột lợi ích không tránh khỏi giữa các chủ thể kinh tế gắn liền với quá trình chuyển đổi hình thức và tính chất của sở hữu trong CPH DNNN
là nguyên nhân sâu sa chi phối các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong tiến trình CPH Luận án cũng luận giải và khẳng định các vấn đề như cách định vị vai trò, vị trí của nhà nước , các DNNN trong nền kinh tế thị trường; trình độ phát triển của các thể chế thị trường là các yếu tố then chốt chi phối mức độ bộc lộ và khả năng xử lý các vấn đề kinh tế - xã hội trên
- Chỉ ra và phân tích những vấn đề kinh tế - xã hội bộc lộ cụ thể trong quá trình CPH DNNN tại tỉnh Thanh Hóa trong 15 năm qua (1998-2014), cắt nghĩa được một số yếu tố dẫn dắt, chi phối các vấn đề này
- Đưa ra và luận giải một số quan điểm và giải pháp nhằm xử lý có hiệu quả các tác động của những vấn đề kinh tế - xã hội tiêu cực nảy sinh trong quá trình CPH DNNN ở Thanh Hóa từ nay đến năm 2020
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận án được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước: cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 3: Tiến trình cổ phần hóa và những vấn đề kinh tế - xã hội đạt
ra từ quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Thanh Hóa
Chương 4: Quan điểm và giải pháp giải quyết các vấn đề kinh tế - xã
hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Thanh Hóa
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Những công trình đã công bố liên quan đến nội dung luận án
Cổ phần hóa DNNN là một chủ đề lớn được nhiều học giả và các nhà hoạch định chính sách quan tâm Vì vậy, xung quanh vấn đề này đã có khá nhiều công trình khoa học được công bố, trong đó những công trình liên quan
trực tiếp đến đề tài luận án có thể phân thành 3 nhóm: Nhóm 1, gồm các công trình nghiên cứu những vấn đề chung về CPH DNNN; Nhóm 2, gồm những
công trình nghiên cứu về các vấn đề kinh tế-xã hội nảy sinh trong quá trình
CPH DNNN và cách thức xử lý; Nhóm 3, gồm những bài viết về tiến trình
CPH DNNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về CPH DNNN nói chung
+ Những công trình nghiên cứu lý luận về cổ phần hóa DNNN
Những vấn đề lý luận chung về DNNN và CPH DNNN được khá nhiều người, cả trong nước và ngoài nước, quan tâm nghiên cứu Tại Việt Nam, ngoài các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành như Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, các Viện nghiên cứu của Bộ, Ngành- là cơ quan quản lý trực tiếp doanh nghiệp nhà nước, còn có nhiều chuyên gia kinh tế độc lập đã dày công nghiên cứu vấn đề này Trong số hàng trăm công trình đã xuất bản
mà NCS tiếp cận được, nhìn chung đều hướng tới một mục đích chung là tìm
ra con đường đưa DNNN vào quĩ đạo vận động của kinh tế thị trường, làm cho DNNN thích ứng được với cơ chế mới
Các tác giả Nguyễn Hữu Từ (1993), Ngô Quang Minh (2001), Nguyễn Cảnh Hoan (2002), Đỗ Thị Phi Hoài (2003), Lê Hồng Hạnh (2004), và nhiều người khác đều thống nhất quan điểm, cho rằng CPH DNNN là tất yếu khách quan trong quá trình chuyển nền kinh tế từ vận động theo cơ chế kế hoạch hóa
Trang 18tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam” (1998) đã chỉ
rõ cơ sở khoa học của việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Từ việc trở lại quá khứ tìm kiếm nguồn gốc ra đời của công ty cổ phần, bằng sự diễn giải giản đơn, dễ hiểu đề tài đã làm sáng tỏ tính ưu việt của công ty cổ phần mà các loại hình kinh tế khác không thể nào có được Tuy nhiên, các tác giả cũng lưu ý rằng, CTCP không phải hoàn toàn hiệu quả hơn DNNN, mà bản thân chúng cũng có những hạn chế nhất định
Một số tác giả đưa ra vấn đề có tính lý luận quan trọng nhưng hiện đang
có những ý kiến khác nhau, là nên gọi quá trình chuyển DNNN thành công ty
cổ phần là cổ phần hoá hay tư nhân hoá? Các tác giả của đề tài trên khẳng định, rằng không thể coi các doanh nghiệp có thành phần Nhà nước (tuy mức
độ khác nhau) như xí nghiệp liên doanh, công ty cổ phần, hay công ty trách nhiệm hữu hạn là tư nhân, vì cho dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, trong công ty cổ phần có yếu tố Nhà nước Theo họ, nếu Nhà nước- người đại diện cho toàn dân tham gia, mà lại coi là tư nhân thì sẽ là điều không hiểu nổi Tương tự như vậy, các vấn đề như: cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước có làm chệch hướng XHCN không?”; lợi ích của Nhà nước và của người lao động sẽ như thế nào? hay công ty cổ phần hoạt động có hiệu quả hơn doanh nghiệp Nhà nước không? cũng được bàn tới khá nhiều trong các công trình
đã công bố Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều có chung một câu trả lời là: CPH DNNN không hề làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa; các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hoá đều hoạt động có hiệu quả hơn, thể hiện là các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận, thu nhập của người lao động, lợi tức cổ phần đều tăng lên so với trước Trên cơ sở thực tiễn đó, kết luận được rút ra là, khi chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần thì nếu có mất chỉ
“mất” đi tác phong quan liêu, cửa quyền và sự tham nhũng, lãng phí mà
Trang 19thôi, còn cái được cơ bản và lâu dài là lợi ích của cả Nhà nước, tập thể và người lao động đều tăng lên Đó là vì, mặc dù công ty cổ phần có cấu trúc khá phức tạp, nhưng do tách bạch quyền sở hữu với quyền kinh doanh, chuvên môn hoá sản xuất nên công ty cổ phần đạt hiệu quả cao hơn các hình thức khác, kể cả doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH và doanh nghiệp 100% vốn nhà nước Vì vậy, việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần là hợp quy luật
xã hội hoá nguổn vốn đầu tư và kinh doanh, là xu thế tất yếu khách quan ở
nước ta, và cái được sẽ nhiều hơn cái mất
Một số công trình đề cập cơ sở thực tiễn của việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (1994), Bộ Tài chính (1998), và Bùi Quốc Anh (2009), khi phân tích luận cứ khoa học của việc
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đều khẳng định rằng: sự thay đổi thể chế kinh tế đòi hỏi phải cổ phần hoá, vì các thể chế kinh tế, lần lượt đi từ kinh tế thị trường tự do đến kinh tế kế hoạch hoá tập trung và hiện tại là kinh tế hỗn hợp Kinh tế hỗn hợp ra đời là cơ sở cho sự xuất hiện và phát triển công ty cổ phần và công ty cổ phần chính là hiện thân bậc cao của kinh tế hỗn hợp Hay nói cách khác, so với các loại hình doanh nghiệp khác, công ty cổ phần có nhiều ưu điểm như khả năng huy động vốn với quy mô lớn cho đầu tư phát triển; mục tiêu của những người góp vốn thống nhất; sự liên tục và không hạn định về thời gian hoạt động; phương thức quản lý khoa học chặt chẽ; khả năng phân tán rủi ro cao Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế của các quốc gia, kể cả nước ta Đối với các nước phát triển đó là thay đổi theo hướng
mở rộng hơn sở hữu cộng đồng, giảm bớt tỷ trọng sở hữu Nhà nước và sở hữu tập tập thể Đối với các nước đang phát triển và đặc biệt là những nước có nền kinh tế chuyển đổi, đây là vấn đề quan trọng, nhạy cảm về chính trị
Một số khác lại khẳng định: cổ phần hoá là một giải pháp tài chính quan trọng hiện nay, góp phần giải quyết khó khăn về vốn từng bước nâng
Trang 20cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các DNNN; đồng thời tạo điều kiện để Nhà nước tập trung nguồn lực cho sự phát triển các lĩnh vực khác của nền kinh tế
+ Những công trình nghiên cứu thực tiễn cổ phần hóa DNNN
Đề tài NCKH cấp Bộ, do Ngô Quang Minh làm chủ nhiệm (2001) đã đưa ra kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về vấn đề CPH DNNN và phân tích tính khả thi của việc áp dụng kinh nghiệm đó vào điều kiện Việt Nam Đánh giá tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, khảo sát tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa, trên cơ sở đó đề tài đưa ra một số quan điểm định hướng và giải pháp chung nhất mang tính chiến lược cho sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tiếp theo
Nhiều luận án tiến sĩ kinh tế đã được bảo vệ đã tiếp cận quá trình CPH DNNN dưới các góc độ khác nhau Luận án của Nghiên cứu sinh Trần Hồng
Thái, với đề tài “Các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả tiến trình CPH DNNN” (2001) đã tập trung làm rõ: quá trình phát triển của kinh tế cổ phần và
các loại hình doanh nghiệp mang tính cổ phần, khẳng định quá trình phát triển này có tính quy luật Qua nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển của hệ thống
xí nghiệp quốc doanh, “mổ xẻ” thực trạng hệ thống DNNN, luận án khẳng định nguyên nhân làm chậm tiến độ CPH là do “vai trò điều tiết của nhà nước và cơ chế chính sách” Trên cơ sở đó, luận án đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy thực hiện có hiệu quả tiến trình CPH DNNN giai đoạn 2001 -
2010 Theo dòng tư duy đó, Luận án Tiến sĩ với đề tài: “Tiếp tục đẩy mạnh quá trình CPH DNNN ở Việt Nam giai đoạn đến năm 2010” (2003) của
Nghiên cứu sinh Đỗ Thị Phi Hoài đã đưa ra cái nhìn tổng thể về quá trình CPH DNNN ở Việt Nam sau 10 năm thực hiện (1992-2002); phân tích những khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình CPH DNNN trong thời gian đến năm 2010
Trang 21Đề tài nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Hoan (2002) đã đề cập đến vấn đề thể chế tài chính trong tiến trình CPH DNNN ở Việt Nam Đề tài đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận về mối quan hệ của thể chế tài chính đối với cổ phần hóa DNNN, trong đó đã làm rõ vai trò và ý nghĩa của việc xác định một thể chế tài chính phù hợp trong cổ phần hóa DNNN
Có một số công trình khoa học nghiên cứu cả doanh nghiệp nhà nước ở các quốc gia trên thế giới và xu thế cải cách doanh nghiệp nhà tại các quốc gia
đó để rút ra bài học bổ ích cho Việt Nam về vấn đề này Kinh nghiệm CPH DNNN trên thế giới được các tác giả lựa chọn chủ yếu tập trung vào các nước
có nhiều thành công trong CPH DNNN, đồng thời có điều kiện tương đối gần với Việt Nam, như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Cộng hòa
Liên bang Nga, Ba Lan, Hungary Cuốn sách “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, những vấn đề lý luận và thực tiễn” (2004) của Lê Hồng Hạnh, do
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành đã nghiên cứu những thăng trầm của doanh nghiệp nhà nước ở các quốc gia trên thế giới và xu thế cải cách doanh nghiệp nhà nước của họ, trong đó có cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là hình thức cơ bản, được các nước áp dụng rộng rãi Vận dụng kinh nghiệm các nước vào điều kiện Việt Nam, tác giả khẳng định cổ phần hóa là giải pháp cải cách doanh nghiệp nhà nước tối ưu trong điều kiện nước ta hiện nay và chỉ rõ các tiền đề kinh tế, chính trị và pháp lý cơ bản của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Hoàn thiện nền tảng pháp lý cho tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nội dung được nhiều công trình nghiên cứu đề cập Các tác giả Lê Hồng Hạnh (2004), Bùi Quốc Anh (2009) và một số người khác đã chỉ ra một
số bất cập của pháp luật hiện hành ở Việt Nam trong lĩnh vực CPH DNNN, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp để tiếp tục hoàn thiện nền tảng pháp lý
để thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam nhanh
và hiệu quả Các công trình nghiên cứu của Lin, J Y, F Cai & Z Li
Trang 22(1997), Bộ Tài chính (1998), Tô Huy Rứa (2006), Phạm Minh Chính (2012), đưa ra nhiều kinh nghiệm từ các nước về CPH DNNN, trong đó nhấn mạnh những khía cạnh có thể khai thác vận dụng vào Việt Nam và những khía cạnh không thành công của họ mà Việt Nam nên tránh Chẳng hạn, liệu pháp "sốc" ở CHLB Nga với kế hoạch tư nhân hoá nhanh chóng một khối lượng lớn DNNN trong thời gian 3-4 năm đã đẩy quá trình tư nhân hoá vào tình thế hết sức khó khăn và mục tiêu ban đầu đề ra không thực hiện được, còn nền kinh tế Nga thì vẫn trong tình trạng suy giảm, đời sống dân Nga giảm sút nhanh, thất thoát tài sản, bất công tăng lên, xã hội không ổn định Hay tại
Ba Lan, tư nhân hoá cũng diễn ra ổ ạt trong nhiều ngành, dự kiến trong 4 năm
tư nhân hoá 50% số doanh nghiệp Nhà nước với 2 hình thức tư nhân hoá gián tiếp và tư nhân hoá trực tiếp Còn tại Trung Quốc, nhờ có những bước đi thận trọng hơn, nên tiến trình CPH tại nước này khá thành công Nhiều người trong số trên đều nhất trí, rằng để CPH DNNN thành công kinh nghiệm rút ra
từ các nước là cần phải có phương án tổng thể, không nên quá lệ thuộc vào nước ngoài; diện doanh nghiệp cổ phần hoá phải rộng; phải có chính sách ưu đãi phù hợp; cổ phần hoá phải là bộ phận của chương trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tránh chuyển từ độc quyền Nhà nước sang độc quyền tư nhân
Tiến trình CPH DNNN ở Việt Nam được đề tài nghiên cứu của bộ Tài chính (1998) phân tích sâu về những vướng mắc và tồn tại của cổ phần hoá Không chỉ dừng lại ở các vấn đề được phát hiện mà còn đi sâu phân tích các nguyên nhân làm chậm tiến trình cổ phần hoá Ở đây các tác giả đã tổng kết
và rút ra một số nguyên nhân chung làm chậm tiến trình cổ phần hoá, trong đó
quan trọng là: i) khung khổ pháp lý chưa đầy đủ (thiếu Luật hoặc pháp lệnh
về cổ phần hoá); ii) e ngại về tư tưởng do chưa có nghị quyết riêng của Bộ Chính trị; iii) chưa coi trọng tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn về cổ phần
hoá Dưới góc nhìn phát triển bền vững, Tô Huy Rứa (2006) đã đề xuất giải
Trang 23pháp: quá trình đổi mới doanh nghiệp phải được đặt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững, tức là: các doanh nghiệp cổ phần phải có sức cạnh tranh cao nhất và tạo nên chất lượng tăng trưởng tốt nhất; làm tăng vốn, tăng lợi nhuận, giảm nợ xấu, chia sẻ rủi ro cho các chủ sở hữu, tạo động lực làm chủ cho người lao động, tạo sức mạnh kinh tế để giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường; liên kết được những nguồn vốn để nó trở thành nguồn vốn
xã hội, thúc đẩy nhanh việc xã hội hóa nguồn vốn và tư liệu sản xuất; công nhân và người lao động có vị thế làm chủ của những người cổ đông, trở thành đồng sở hữu cùng với doanh nghiệp nhà nước Đặc biệt, M.Landalt (Viện công nghệ châu Á- AIT), trên cơ sở khảo sát rất kỹ quá trình CPH DNNN ở Thành phổ Hồ Chí Minh, phân tích những trở ngại và những cơ hội trong quá trình thực hiện, phân tích quá trình CPH trong các nền kinh tế đang chuyển đổi và đang phát triển, tác giả đề xuất những biện pháp và quy trình thực hiện CPH cấp doanh nghiệp ở Việt Nam
Nghiên cứu sâu hơn về quá trình CPH DNNN, các tác giả Hồ Sỹ Hùng (2012), Nguyễn Huy Oánh và Lê Văn Bằng (2006), Lê Đình Vinh, Ngô Đăng Thành (2010), và một số người khác đã không chỉ dừng lại ở việc tìm giải pháp để đẩy nhanh tiến độ CPH DNNN, mà còn nghiên cứu giải pháp để đổi mới các tổng công ty Nhà nước (TCTNN), trong đó tập trung vào việc tìm hướng đi cho các tổng công ty chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty
Mẹ - Con Theo các tác giả này, nguyên nhân cơ bản khiến các TCTNN không phát huy được năng lực trước hết là do bản chất nội tại của chúng Một trong những giải pháp được quan tâm để giải quyết vấn đề nội tại của các TCTNN là chuyển TCT sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, bởi đó là cách để tạo khả năng tiền tệ hoá mối liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác trong nội bộ các TCT, và điều này có thể khắc phục một cách cơ bản nhược điểm nội tại của mô hình TCTNN Hai tác giả Nguyễn Huy Oánh và Lê Văn Bằng cho rằng, mô hình Công ty Mẹ - Con
Trang 24là một giải pháp lớn để tăng tính minh bạch của của doanh nghiệp nhà nước
và góp phần quan trọng định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế Nhiều công trình nghiên cứu thừa nhận tính ưu việt của mô hình Công ty Mẹ - Con
và đều gợi ý cho việc nhân rộng mô hình này ở Việt Nam Trong công trình nghiên cứu khoa học cấp Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, với đề tài“Quá trình cải cách các tổng công ty nhà nước ở Việt Nam theo mô hình Công ty Mẹ - Con”, tác giả Ngô Đăng Thành chỉ rõ: trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các doanh nghiệp đều phải chấp nhận cạnh tranh bình đẳng, thì sự hiện diện của các TCTNN và nâng cao hiệu quả họat động của chúng là biện pháp hữu hiệu để đương đầu với các công ty lớn mạnh của nước ngoài Do đó, việc đổi mới về tổ chức và hoạt động của các TCTNN, dần chuyển hoạt động của các TCTNN này theo mô hình Công ty Mẹ - Con, trên cơ sở đó hình thành các tập đoàn kinh tế lớn, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước là yêu cầu cấp thiết Tập trung vào tiến trình cải cách các tổng công ty trong thời gian từ năm 2002 đến năm 2009, đề tài kết luận, rằng chủ trương đổi mới các TCTNN theo mô hình Công ty mẹ - con là đúng đắn, được đưa ra kịp thời, và có lộ trình thích hợp, đi từ đổi mới về lượng đến đổi mới về chất Tuy vậy, việc triển khai chủ trương sắp xếp, đổi mới các TCTNN diễn ra còn chậm và có phần rời rạc; tỷ lệ vốn cổ phần của Nhà nước trong các TCT đã CPH còn quá cao; việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn về TCT Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước còn chậm Những hạn chế đó đã vô hình chung tạo thành lực cản đối với quyền tự chủ và hoạt động của doanh nghiệp, theo đó hiệu quả hoạt động của các TCT còn thấp
+ Những công trình nghiên cứu cổ phần hóa DNNN ở các nư ớc
Trong khoảng 10 năm gần đây, tại các nước Đông Âu, SNG và Trung Quốc có khá nhiều công trình của cả các tác giả bản xứ lẫn nước ngoài bàn về DNNN và tư nhân hóa, cổ phần hóa DNNN Các công trình của SNG và Đông Âu chủ yếu bàn về quá trình thay đổi vị trí, vai trò, tỷ trọng khu vực
Trang 25DNNN gắn với quá trình cải cách chuyển đổi kinh tế Có thể kể ra những công trình tiêu biểu như: D Sachs (tác phẩm "Tư nhân hóa ở Đông Âu"), A Rađưgin (Quá trình tư nhân hóa ở Nga) và trên các tạp chí chuyên ngành của Nga có hàng loạt các bài nghiên cứu về diễn biến quá trình tư nhân hóa, ảnh hưởng của tư nhân hóa, các hình thức tư nhân hóa Công trình tiêu biểu
về quá trình cải cách các DNNN ở Trung Quốc là tác phẩm: “Bàn về cải cách toàn diện DNNN" do Trương Văn Bân chủ biên (đã dịch ra tiếng Việt: NXB CTQG H 1996)
Có thể mô tả bức tranh nghiên cứu về DNNN, cổ phần hóa, tư nhân hóa
ở các nước là một bức tranh đa màu sắc với những quan điểm rất khác nhau
và thường gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng nước đã có khu vực DNNN như thế nào, hệ thống kinh tế có thay đổi về cơ chế hay không, thay đổi nhiều hay ít, nhanh hay chậm Ở đây có nhiều quan điểm và kinh nghiệm rất bổ ích cho nước ta nhưng xét đến cùng chúng chỉ có giá trị tham khảo
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về những vấn đề kinh tế-xã hội nảy sinh trong quá trình CPH và hậu CPH DNNN
Những công trình viết về các vấn đề này chủ yếu tập trung vào khai thác khía cạnh hạn chế của quá trình thực hiện CPH Tiêu biểu trong số các
công trình nhóm này là Trần Ngọc Bút (1998), với bài “Bức xúc của cổ phần hoá DNNN”, đăng tải trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 4; Trần thị Minh Ngọc (2008), với đề tài cấp Bộ, tiêu đề “Những yếu tố cản trở quá trình cổ phần hóa DNNN trên địa bàn Hà Nội hiện nay”; Phạm Ngọc Linh (2009), với bài viết đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 11(451), tiêu đề “Doanh nghiệp nhà nước và những vấn đề sau cổ phần hóa” Các công trình này đã tập trung
nghiên cứu mổ xẻ các vấn đề gặp phải trong quá trình CPH, chỉ rõ những phân vân, những bất cập nảy sinh trong và sau CPH DNNN như: Định giá doanh nghiệp để CPH thường chưa sát với thị trường, vướng mắc khó khăn trong giải quyết nợ của các doanh nghiệp, các chính sách đối với người lao
Trang 26động trong doanh nghiệp nhà nước CPH còn nhiều bất cập, việc quản lý tài chính của các doanh nghiệp sau CPH còn nhiều lúng túng Đó cũng là quan điểm của nhiều bài tham luận trong Hội thảo khoa học quốc gia chủ đề “Cổ phần hóa DNNN” (2001), trong đó có tác giả Trần Tiến Cường, với báo cáo
“Các vấn đề tồn tại và phát sinh của DNNN sau cổ phần hoá đa dạng sở hữu”; Lê Hoàng Hải, với bài “Một số vướng mắc về tài chính đối với doanh nghiệp sau cổ phần hoá và đa dạng sở hữu”
Cũng có những bài viết khai thác những vấn đề hết sức cụ thể, nảy sinh trong quá trình CPH DNNN Tác giả Nguyễn Thị Kim Phượng (2001) đã đi sâu nghiên cứu các yếu tố tâm lý xã hội ảnh hưởng đến quá trình CPH DNNN, trên cơ sở đó dự báo xu hướng phát triển và đề xuất các giải pháp để định hướng hình thành phát triển các yếu tố tâm lý xã hội tích cực đối với quá trình CPH DNNN Tác giả Chu Đức Hoài (2001) thì đi sâu nghiên cứu cơ sở
lý luận và thực tiễn của việc giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong các DNNN khi CPH Còn tác giả Phạm Quang Huy (2002) và Nguyễn Cảnh Hoan (2002) lại phân tích khía cạnh tác động của tài chính và thị trường Chứng khoán đến quá trình CPH DNNN
Việc nghiên cứu sự chuyển biến quan hệ sở hữu trong quá trình CPH DNNN ở Việt Nam một cách căn bản nhất phải kể đến luận án tiến sĩ kinh tế chính trị của NCS Nguyễn Lê Quý Hiển (2012) Luận án khẳng định: sự chuyển biến quan hệ sở hữu trong CPH DNNN hiện nay thực chất là chuyển
từ chủ thể sở hữu đơn nhất sang đa chủ thể sở hữu, theo đó, mối quan hệ giữa các chủ thể sở hữu sẽ chuyển biến theo hướng giảm sở hữu Nhà nước, tăng sở hữu tư nhân, nhờ đó các tài sản trong DNNN được CPH được khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn Bằng việc phân tích, so sánh, đánh giá những tác động của sự biến đổi quan hệ sở hữu đến hiệu quả kinh doanh của DNNN sau CPH, tác giả một lần nữa khẳng định về sự cần thiết, tính đúng đắn của chủ trương CPH DNNN của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Trang 271.1.3 Các công trình nghiên cứu quá trình CPH DNNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Nghiên cứu vấn đề CPH DNNN, nhất là những vấn đề KT-XH nảy sinh trong quá trình CPH tại tỉnh Thanh Hóa hiện chưa có nhiều Không kể các Báo cáo hàng năm của Ủy ban Nhân dân tỉnh, của các các Sở, Ban Ngành hữu quan, đã có một số luận văn thạc sĩ, một vài cuộc hội thảo khoa học được
tổ chức bàn về vấn đề này Những công trình nghiên cứu đã công bố viết về quá trình CPH DNNN và những vấn đề KT-XH nảy sinh trong quá trình này tại tỉnh Thanh Hóa có thể kể đến là Hội thảo khoa học chủ đề “Đổi mới phát huy chủ đạo của DNNN” (1998) do Ban Kinh tế tỉnh Thanh Hóa tổ chức; Hội thảo khoa học chủ đề “Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thanh Hóa” (2009), do Trường Đại học Hồng Đức tổ chức Ngoài ra có một số bài (không nhiều) viết
về từng doanh nghiệp cụ thể, đăng tải trên Báo Thanh Hóa của Đỗ Gia Ngân (2010); Trần Đoàn Viên (2011, 2012); Phạm Ngọc (2013); Lê Hà (2013); Tùng Dương (2014) và Nguyễn Xuân (2015) Các công trình này chủ yếu khẳng định tính ưu việt của CPH DNNN và từ đó phản ánh sự tiến bộ của các DNNN sau CPH
Hầu hết các công trình trên là những bài viết ngắn, chủ yếu tập trung phản ánh một vài khía cạnh của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hoặc phản ảnh hiệu quả sản xuất kinh doanh của một hoặc vài doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần để khẳng định tính tất yếu, tính ưu việt của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa so với các doanh nghiệp nhà nước trước đó, như:
“Công ty cổ phần Sông Đà 25, nổ lực vươn lên bước phát triển mới”; “Công
ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn, đồng thuận để phát triển”; “Công ty cổ phần Dược - Vật tư y tế Thanh Hóa, bước tiến mới sau 10 năm cổ phần hóa”; hay
“Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn miền tây”.v.v
Trang 281.2 Kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và những vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu tiếp
1.2.1 Những kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu trên
+ Một số công trình đã mở rộng đối tượng nghiên cứu ra ngoài phạm vi CPH Đó là sự nghiên cứu về quá trình đổi mới, cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp Nhà nước ở Việt nam Thông qua việc phân tích quá trình đổi mới khu vực doanh nghiệp Nhà nước, làm rõ những kết quả đã đạt được của các chủ
trương chính sách chuyển đổi sở hữu và thí điểm cổ phần hóa Phân tích lý do
chủ yếu dẫn đến sự chậm trễ hay chưa thành công của chủ trương cổ phần hóa; đưa ra những vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu, xử lý
Trang 29+ Các công trình đã tập trung nghiên cứu tiến trình CPH DNNN ở các cấp độ và giai đoạn khác nhau, từ đó đã phác họa được bức tranh đa màu sắc
về quá trình CPH DNNN tại Việt Nam từ năm 2002 đến những năm đầu thập niên 2010 Quá trình triển khai thực hiện chủ trương CPH DNNN và tình hình thực hiện chính sách của Nhà nước về vấn đề này đã được các tác giả phân tích một cách khá toàn diện, trên cơ sở đó chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những thành công và hạn chế đó, đồng thời tìm ra những khó khăn, vướng mắc có tính khách quan gây cản trở cho quá trình thực hiện CPH DNNN Những vướng mắc được nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra là: khung khổ pháp
lý về cổ phần hóa DNNN còn thiếu; quan hệ sở hữu trong các DNNN sau CPH chưa có sự chuyển biến rõ rệt; hạ tầng tài chính và các đơn vị trung gian hỗ trợ
cổ phần hóa cũng còn thiếu; vấn đề bán cổ phần cho cán bộ, công nhân trong doanh nghiệp (với những điều kiện ưu đãi) và chính sách đối với người lao động khi cổ phần hóa còn nhiều bất cập.v.v
+ Đã đúc kết được một số bài học, cả thành công và thất bại, trong quá trình CPH DNNN của một số quốc gia trên thế giới, nhất là của các nước Trung Quốc, SNG và Đông Âu, một số nước châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia Khi nghiên cứu CPH DNNN trên thế giới, các tác giả đã tập trung nghiên cứu bối cảnh, quá trình và cách thức tiến hành CPH DNNN Một số công trình đã tiếp cận tiến trình CPH DNNN dưới góc độ xem xét các giải pháp tái cơ cấu các DNNN ở các quốc gia khác nhau, nhất là ở các nước
có nền kinh tế chuyển đổi- những nước có bối cảnh thực hiện chuyển đổi cơ chế tương tự như Việt Nam, nhằm rút ra bài học có thể áp dụng vào Việt Nam
+ Các nghiên cứu cũng đã đề xuất những quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả tiến trình CPH DNNN ở Việt Nam trong những năm tiếp theo, cả
ở tầm vĩ mô và vi mô Một số giải pháp được nhiều công trình đề cập là: phải
có sự quyết tâm của Chính phủ; phải tạo điều kiện pháp lý cho cổ phần hoá;
phải có bộ máy điều hành đủ mạnh; cần thành lập quỹ hỗ trợ cổ phần hoá
Trang 301.2.1.2 Các nghiên cứu về những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh
Những nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều, chủ yếu đề cập đến một
số khía cạnh như vấn đề chuyển đổi cơ cấu sở hữu; vấn đề định giá doanh nghiệp để CPH thường chưa sát với thị trường; vướng mắc khó khăn trong giải quyết nợ của các doanh nghiệp; các chính sách đối với người lao động trong doanh nghiệp nhà nước CPH; việc quản lý tài chính của các doanh nghiệp sau CPH còn nhiều lúng túng,…Hơn nữa, các nghiên cứu này chưa được tiến hành một cách có hệ thống và chưa luận giải một cách thấu đáo trên cơ sở kết nối, xâu chuỗi các vấn đề vướng mắc, nảy sinh trên cơ sở các mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh tế có liên quan, bắt nguồn từ tính chất chuyển đổi của quán trình CPH
1.2.2 Một số vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu tiếp
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập vấn đề CPH DNNN dưới nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó mỗi góc nhìn đều được phân tích, đánh giá khá sát thực Đó là nguồn tài liệu vô cùng quý giá để tác giả luận án kế thừa Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là tại một địa phương KT-XH còn chưa phát triển mạnh như tỉnh Thanh Hóa, nhiều vấn đề đang đặt ra, cả lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu thấu đáo, bởi những công trình trên hoặc là chưa giải quyết triệt để, hoặc là do giới hạn bởi phạm vi thời gian nghiên cứu (chưa thể cập nhật tình hình) trong khi nền kinh tế nói chung, tiến trình CPH DNNN nói riêng vẫn tiếp tục vận động Cụ thể, những vấn đề chủ
yếu đặt ra mà luận án có nhiệm vụ phải giải quyết là:
Thứ nhất, chưa có sự thống nhất về quan niệm CPH DNNN
Mặc dù đã tiến hành CPH DNNN trên thực tế được hơn 20 năm song một
số vấn đề đặt ra nhưng chưa có câu trả lời thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, trong đó nổi lên là: Thực chất của quá trình CPH DNNN là gì? Phải chăng nó chỉ đơn giản chỉ là quá trình chuyển đối từ một hình thức sở hữu
Trang 31đơn nhất (nhà nước) sang hình thức đa sở hữu? Cổ phần hóa và tư nhân hóa là một hay hai? Việc nhấn mạnh sự khác biệt giữa CPH và tư nhân hóa cũng như giữ quá trình CPH trong khuôn khổ “phi tư nhân hóa” có thể đưa tiến trình đi đến thành công – tăng cường sức sống và nâng cao hiệu quả chung của nền kinh tế? Nhà nước có nên nắm giữ tỷ lệ vốn khống chế trong các DNNN CPH không? nếu không thì nên nắm giữ ở mức độ nào là tốt?
Thứ hai, Mặc dù những vấn đề KT-XH nẩy sinh, có tác động tiêu cực
đến quá trình CPH DNNN ở Việt Nam đã được đề cập, phân tích ở những mức
độ khác nhau trong các công trình nghiên cứu về CPH song việc nghiên cứu chúng một cách hệ thống, như một chủ đề chuyên biệt, nhằm cắt nghĩa gốc rễ sâu sa của các vấn đề trên cũng như biểu hiện cụ thể của chúng trong tiến trình CPH, dù xét trên phạm vi cả nước nói chung hay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng hầu như chưa được thực hiện Có thể nói, cho đến nay các nghiên cứu lĩnh vực này, đặc biệt gắn với thực tiễn Thanh Hóa, mới chỉ dừng ở mức chấm phá, được trình bày kết hợp với các vấn đề khác trong một chủ đề rộng hơn Nói cách khác, hiện nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này, nhất là với tư cách một luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị
Thứ ba, các công trình đi trước tuy đã nghiên cứu khá toàn diện về lý
luận và thực tiễn CPH DNNN tại Việt Nam song phần lớn các công trình trên mới chỉ nghiên cứu quá trình CPH DNNN trong giới hạn thời gian từ năm 2010 trở về trước Những công trình nghiên cứu vấn đề này sau năm
2010 còn rất ít, trong khi bối cảnh thực hiện CPH các DNNN mấy năm gần đây đã có nhiều thay đổi Đặc biệt những vấn đề KT-XH sau cổ phần hoá các DNNN, nhất là những vấn đề có tác động tiêu cực trước đây chưa phát sinh, đến nay mới bộc lộ với những diễn biến phức tạp, đòi hỏi phải được nhận thức và giải quyết
Trang 32Những khoảng trống lý luận và thực tiễn trên đây đòi hỏi phải đƣợc
bổ sung, lấp đầy bởi những công trình nghiên cứu tiếp theo nhằm làm cho vấn đề CPH DNNN, đặc biệt là những vấn đề mới nảy sinh có tác động tiêu cực của quá trình đó đƣợc thể hiện một cách toàn diện, đầy đủ và hệ thống Luận án này sẽ cố gắng góp phần đáp ứng yêu cầu đó
Trang 33Kết luận Chương 1
CPH DNNN là một quá trình tất yếu ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập Quốc tế Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng đa dạng, như: sách, báo, tạp chí, đề tài NCKH, Hội thảo khoa học, luận văn, luận án Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh, nhiều cấp độ, nhiều giai đoạn khác nhau của vấn đề cổ phần hóa DNNN, đưa ra những kết luận, những gợi ý khác nhau nhằm tiếp tục tiến trình CPH DNNN một cách nhanh hơn
và hiệu quả hơn
Tuy nhiên, do sự vận động của nền kinh tế là không ngừng, tiến trình CPH DNNN vẫn còn đã và đang tiếp tục diễn ra, vì vậy nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu trong những công trình tiếp theo của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý cũng như các nhà hoạch định chính sách Luận án mà chúng tôi đang
thực hiện, với đề tài “Những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa DNNN ở tỉnh Thanh Hóa” sẽ là một trong những công trình nghiên cứu
cần thiết đó
Trang 34Chương 2 CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH
CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN
2.1 Khái lược chung về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước
2.1.1 Doanh nghiệp nhà nước và vai trò của chúng trong nền kinh tế thị trường
Người ta có thể có các cách hiểu khác nhau về khái niệm DNNN Theo cách hiểu được nhiều người chia sẻ, một doanh nghiệp được coi là DNNN khi
nó : 1) thuộc quyền kiểm soát, chi phối của nhà nước, khi nhà nước hoàn toàn
sở hữu DN hoặc là cổ đông chính của DN ; 2) có chức năng sản xuất hàng hóa, hay dịch vụ có thể bán ra trên thị trường (cho công chúng, các DN tư nhân hay DNNN khác) ; 3) ít nhiều vẫn theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, mặc dù
nó có thể vẫn phải đảm trách các chức năng xã hội khác mà nhà nước ủy thác [43, tr.601-602] Theo cách hiểu này, DNNN được phân biệt với các tổ chức, hay cơ quan công cộng thông thường
Trong các nền kinh tế KHH tập trung, khi mà sở hữu công trở thành hình thức thống trị tuyệt đối và được xem là hình thức sở hữu phù hợp với bản chất của CNXH, khu vực DNNN bao trùm trong toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp Các DNNN cung cấp đại bộ phận các hàng hóa, dịch vụ cho nhu cầu xã hội Do các quan hệ thị trường không được thừa nhận một cách thực chất, các DNNN không hoạt động như một chủ thể kinh doanh độc lập, mà chịu sự kiểm soát, chi phối trực tiếp bởi nhà nước Trong thời kỳ này, chúng thường được gọi là xí nghiệp nhà nước, hay nhà máy quốc doanh thay vì được xem như các « doanh nghiệp »
Trong nền kinh tế thị trường, khi mà sở hữu tư nhân được thừa nhận, việc sản xuất đại đa số các hàng hóa, dịch vụ thông thường là do các doanh
Trang 35nghiệp tư nhân đảm nhận Trong các nền kinh tế thị trường phát triển, nếu không kể đến các dịch vụ công, không có khả năng thương mại hóa như dịch
vụ quốc phòng, luật pháp, bảo đảm an ninh xã hội, được cung ứng bởi các tổ chức công thì các DNNN chỉ tham gia vào việc cung cấp một số hàng hóa được xem là quan trọng, có liên quan đến đông đảo người tiêu dùng như điện, nước sạch, dịch vụ bưu chính, viễn thông, vận tải hàng không hay đường sắt, một số dịch vụ bảo hiểm, các dịch vụ y tế, giáo dục…mặc dù điều đó không loại trừ sự cung cấp của khu vực tư nhân Tuy vậy, ở các nền kinh tế đang phát triển, DNNN thường đóng giữ một vai trò to lớn hơn, đặc biệt là trong ngành công nghiệp khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhất là trong thời kỳ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 80 của thế kỷ trước Nhiều nước trong thời kỳ này, sau khi giành được độc lập, trong điều kiện năng lực của khu vực tư nhân trong nước còn hạn chế, đã sử dụng các DNNN như một công cụ để tiến hành và thúc đẩy công nghiệp hóa, phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ, thoát dần khỏi
sự phụ thuộc vào các nước « chính quốc » trước đây DNNN được nhìn nhận là
có thể đóng giữ nhiều vai trò khác nhau và đó là các lý do được đưa ra để biện
minh cho sự thành lập các DNNN : 1) DNNN được xem là một công cụ để huy động và tích lũy vốn, phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa; 2) DNNN được coi như là một kênh tạo việc làm mới hoặc duy trì việc làm cũ (khi nhà nước tiếp quản các DNTN làm ăn thua lỗ, có nguy cơ phá sản) ; 3) DNNN được xem là một công cụ để nhà nước kiểm soát nền kinh tế - theo nghĩa này, các DNNN được coi là có « vai trò chủ đạo », chiếm lĩnh những « đỉnh cao chỉ huy » hay những ngành được xem là « then chốt » đối với nền kinh tế ; 4) DNNN cũng có thể được lập ra để phục vụ một mục tiêu xã hội : phân phối lại thu nhập, tạo ra sự cân đối trong sự phát triển giữa các vùng, miền ; tạo công ăn việc làm …Với các
lý do này, trong một thời gian dài, khu vực DNNN trở nên khá phát triển ngay cả
ở nhiều nước không thuộc hệ thống XHCN cũ như Ấn Độ, Pakistan, nhiều nước
ở Nam Mỹ hay Châu Phi
Trang 36Tuy nhiên, từ những năm 1980, những hạn chế của khu vực các DNNN dần dần được bộc lộ rõ nét Người ta bắt đầu nhận ra rằng các kỳ vọng mà xã hội gửi gắm vào các DNNN trong rất nhiều trường hợp không trở thành hiện thực Ở hầu khắp mọi nơi, các DNNN thường có hiệu quả hoạt động thấp hơn các DN tư nhân ; nhiều DNNN hoạt động trong tình trạng thua lỗ kéo dài, vì thế nhìn chung ở các nước đang phát triển các DNNN không phải là nguồn tạo ra tích lũy ròng mà trái lại, lại là nơi sử dụng những nguồn tích lũy [ 43; tr.616] So với khu vực tư nhân, khu vực các DNNN cũng thường ít thành công hơn trong việc tạo ra việc làm mới, do chúng thường tập trung vào những ngành thâm dụng vốn, đặc biệt là những ngành khai thác chế biến tài nguyên thiên nhiên [ 43; tr.628] Trách nhiệm xã hội mà các DNNN phải đảm nhận thường làm gia tăng các khoản chi phí kinh doanh của các DN và che
mờ đi những yếu kém của chúng Chi phí để thực hiện các mục tiêu xã hội nhất định (tạo việc làm, trợ cấp, trợ giá hay đảm bảo phúc lợi cho người nghèo…) không được thể hiện rõ ràng và trở nên tốn kém so với các hình thức trực tiếp khác [ 87; tr.248-255] Tuy nắm giữ những ngành, lĩnh vực được xem là « then chốt », thường có vị thế độc quyền và được hưởng nhiều
ưu đãi, nhưng do hoạt động không hiệu quả nên các DN này không đóng được vai trò « dẫn dắt » cũng như ảnh hưởng tích cực đối với nền kinh tế
Từ thực tiễn trên, dần dần người ta đi đến một nhận thức rõ hơn về vai trò của các các DNNN trong nền kinh tế thị trường Theo trường phái kinh tế học công cộng, vai trò này bắt nguồn từ vai trò của Nhà nước trong việc sửa chữa các thất bại thị trường để đảm bảo nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn,
ổn định hơn và công bằng hơn Tuy nhiên, để thực hiện vai trò của mình, nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ khác như hệ thống pháp luật, các chính sách thuế, chi tiêu, chính sách tiền tệ…, và trong nhiều trường hợp, các công
cụ này tỏ ra là hiệu quả hơn so với công cụ « các DNNN » vì chúng cho phép nhà nước đứng ngoài các hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể như một
Trang 37« trọng tài » hay tác nhân trung gian giữa các nhà sản xuất với nhau, giữa người sản xuất và tiêu dùng… hơn là một “trọng tài” kiêm “cầu thủ”
Chức năng chính của DNNN trong các nền kinh tế thị trường là cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công (thường là trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng); một số hàng hóa tư có tầm quan trọng đặc biệt liên quan đến lợi ích chung của nhiều người (điện, nước…); một số hàng hóa, dịch vụ có ý nghĩa xã hội cao
mà khu vực tư nhân không muốn hoặc chưa có điều kiện cung cấp (những hàng hóa, dịch vụ kiểu này ngày càng ít trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay) Trong số các hàng hóa công, nhiều hàng hóa như quốc phòng, an ninh
xã hội… được cung cấp thông qua các tổ chức công chứ không phải thông qua hệ thống DNNN hiểu theo khái niệm mà luận án đã nêu
Với chức năng như vậy, ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy ở các nền kinh
tế thị trường phát triển, nơi mà nền kinh tế vận hành tương đối hiệu quả, khu vực DNNN chỉ chiếm vị trí tương đối khiêm tốn so với khu vực tư nhân
Ở các nước đang phát triển, khi mà KVTN trong nước còn kém phát triển, chưa có khả năng thâm nhập vào những ngành, lĩnh vực công nghệ tiên tiến, đòi hỏi đầu tư vốn lớn song có triển vọng hay lợi thế so sánh trong tương lai hay những ngành, lĩnh vực quan trọng hay thiết yếu song lại cần quy mô đầu tư vốn lớn…thì, về mặt lý thuyết, nhà nước có thể dùng DNNN để thúc đẩy sự phát triển các ngành, lĩnh vực này Khi KVTN trưởng thành hơn, chúng sẽ được chuyển giao lại cho KVTN Trên thực tiễn, khi năng lực đầu tư của chính nhà nước là hạn chế thì khó khăn ở đây là : làm thế nào để xác định chính xác những ngành/lĩnh vực có lợi thế so sánh tương lai để ưu tiên đầu
tư ? Bên cạnh đó, một khi đã được thành lập, các DNNN lại có những động
cơ riêng để kéo dài sự tồn tại của mình (kể cả khi chúng hoạt động không hiệu quả), do đó, việc “chuyển giao‟ hiệu quả các DNNN cho KVTN không dễ thực hiện
Tóm lại, khác với mô hình kinh tế Kế hoạch hóa tập trung hay Kinh tế chỉ
Trang 38huy, trong kinh tế thị trường, khu vực DNNN có một vai trò tương đối khiêm tốn trong việc sản xuất, cung cấp các hàng hóa, dịch vụ Chúng chỉ là một trong nhiều công cụ để nhà nước thực hiện vai trò, chức năng của mình; bổ sung, hỗ trợ cho khu vực tư nhân để đảm bảo hiệu quả chung của nền kinh tế Tuy vậy,
do nhiều nguyên nhân khác nhau, kể cả là do các yếu tố lịch sử để lại mà trong các nước đang phát triển, khu vực DNNN có thể vẫn là một khu vực kinh tế lớn,
có ảnh hưởng không nhỏ đến toàn bộ sự vận hành của nền kinh tế chung
2.1.2 Những hạn chế của các DNNN và nguyên nhân của chúng
Hạn chế chung của khu vực DNNN trong các nền kinh tế thị trường là
hiệu quả hoạt động của khu vực này nhìn chung thấp hơn so với KVTN
Tình trạng chung mà người ta thường nhắc đến khi nói về khu vực DNNN, nhất là ở những nơi mà quy mô khu vực này tương đối lớn, khả năng giám sát của nhà nước còn nhiều hạn chế, là: nhiều DN thua lỗ, kéo dài; một số DN tuy không thua lỗ song tỷ suất sinh lời thường thấp so với các DN tư nhân thông thường; khả năng cạnh tranh hạn chế; tính năng động, sáng tạo, đổi mới thấp; tình trạng tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng phát sinh Do hiệu quả hoạt động thấp, mức độ đóng góp của khu vực DNNN trong GDP, cho ngân sách nhà nước cũng như trong việc tạo ra công ăn việc làm thường thấp so với giá trị các nguồn lực xã hội mà khu vực này nắm giữ
Nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế, yếu kém của khu vực
DNNN bắt nguồn từ chính tính chất của sở hữu công hay những hạn chế trong việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực công trong nền kinh tế thị trường
Điều này có thể giải thích thông qua một số khía cạnh sau:
- Quyết định phân bổ, sử dụng tài sản hay nguồn lực công là một dạng quyết định tập thể khác hẳn các quyết định cá nhân Nó thường gắn với các quá trình chính trị phức tạp, trong đó những người sở hữu đích thực chỉ là những người “đồng sở hữu” Khó khăn ở đây là làm thế nào để biến các quyết định của các cá nhân khác nhau thành một quyết định tập thể chung, phản ánh được
Trang 39nguyện vọng và lợi ích chung của các thành viên? Lý thuyết về “Lựa chọn
công cộng”, với Định lý về Tính không thể của Arrow [87; tr.211-212] đã
chứng minh rằng: người ta không thể thiết lập được các quy tắc để có thể ra được các quyết định tập thể có hiệu quả Khác hẳn các quyết định cá nhân đối với các tài sản tư nhân, quyết định liên quan đến tài sản công luôn tiềm ẩn nguy
cơ thiếu hiệu quả
- Sở hữu toàn dân thường phải được thực hiện thông qua sở hữu nhà nước Những chính khách và công chức nhà nước thực chất chỉ là những người đại diện cho nhân dân, được nhân dân ủy quyền để quản lý các tài sản
công Sự bất cân xứng về quyền lực và thông tin giữa những người được ủy quyền và những người đồng sở hữu dễ dẫn đến sự lạm dụng trong việc sử
dụng các tài sản công từ phía những người được ủy quyền
- Chế độ đồng sở hữu không khuyến khích những người được giao quyền quản lý các tài sản công (ví dụ các giám đốc DNNN) sử dụng các tài sản này một cách có hiệu quả như tài sản cá nhân của họ Ở đây tồn tại sự xung đột lợi ích giữa người sở hữu (toàn dân) và người quản lý (người có quyền ra quyết định trực tiếp đối với các tài sản) Sự khác biệt về lợi ích và chi phí mà xã hội hay cộng đồng phải gánh chịu với lợi ích và chi phí của chính cá nhân người được ủy thác quản lý thường rất lớn có thể thúc đẩy người quản lý đưa ra những quyết định có lợi cho mình nhưng không có lợi, hoặc thậm chí gây thiệt hại lớn cho xã hội Ở các DNNN, hiện tượng DN thua lỗ, tài sản công bị thất thoát, song giám đốc DNNN vẫn được hưởng lương cao hoặc giàu có là không hiếm
- Chế độ đồng sở hữu không khuyến khích từng người dân tận tâm giám sát việc sử dụng các tài sản mà mình chỉ là người đồng sở hữu, chứ không phải là người sở hữu tư nhân Một người không bỏ chút thời gian, công sức hay tiền bạc nào để theo dõi, giám sát, bảo vệ các tài sản công trước sự lạm dụng có thể của những người được ủy thác quản lý nào đó vẫn có thể giữ
Trang 40được phần lợi ích của mình khi những tài sản đó được bảo vệ bởi thời gian, công sức hay tiền bạc của người khác Chính vì thế, những người đồng sở hữu, (nhất là khi họ chỉ là một phần tử nhỏ bé trong một cộng đồng sở hữu
chung to lớn) luôn có xu hướng ỷ lại vào sự giám sát của người khác, hưởng
lợi trên sự giám sát của người khác Đây chính là hạn chế bắt nguồn từ hiện
tượng “kẻ ăn không”- những người chỉ muốn thụ hưởng một lợi ích nào đó
mà không muốn trả tiền hay công sức mà kinh tế học thường đề cập
Tất cả những điều này khiến những tài sản công nói chung, và tài sản công trong các DNNN nói riêng khó được phân bổ và sử dụng hiệu quả như các tài sản thuộc về sở hữu của các cá nhân cụ thể, xác định [52; tr 4 - 7] Ngoài ra, những yếu tố sau cũng làm các DNNN khó hoạt động hiệu quả:
- Vì các lý do khác nhau, các DNNN thường hoạt động trong môi trường thiếu vắng cạnh tranh, thường được che chắn, hoặc nhận ưu đãi từ phía nhà nước Khi hoạt động trong một môi trường thiếu các áp lực cạnh tranh cần thiết, DN không có động lực để buộc phải luôn luôn đổi mới và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh Vì thế, về dài hạn, các DNNN thường hoạt động không hiệu quả
- Các DNNN thường ít bị đối diện với nguy cơ phá sản, do chúng luôn
có thể trông chờ vào sự yểm trợ cần thiết của nhà nước, ngay cả khi chúng làm ăn thua lỗ kéo dài Một DN không lo bị phá sản do các quyết định sai lầm nghĩa là nó không thực sự bị trả giá vì những quyết định hay lựa chọn của mình Trong trường hợp này, vô hình chung, các quyết định thiếu cân nhắc, thiếu hiệu quả được khuyến khích
- Hệ thống khuyến khích và trừng phạt đối với các cá nhân trong các DNNN thường yếu hơn so với các DNTN Do những ràng buộc khác nhau, chế độ lương, thưởng trong các DNNN thường không linh hoạt như ở trong các DNTN Hệ thống lương, thưởng thường được quy định một cách cứng nhắc, bị kiểm soát bởi những chính sách hay quy định chung của nhà nước