TĐC phải đảm bảo những người bị di dời có cuộc sống tốt hơn hoặc ngang bằng so với trước đây, người dân TĐC phải được cung cấp đầy đủ các nguồn lực đầu tư và được tạo cơ hội hưởng lợi từ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGƯỜI DÂN
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu được trích dẫn theo quy định; các kết quả nghiên cứu chính của Luận án là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Trần Đức Phương
Trang 4MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC……….i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của luận án 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Những đóng góp mới của luận án 5
5 Kết cấu của luận án 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁI ĐỊNH CƯ VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGƯỜI DÂN 6
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.1.Các nghiên cứu về đền bù, bồi thường trong TĐC 6
1.1.2 Các nghiên cứu về di dời, tổ chức TĐC 7
1.1.3 Các nghiên cứu về sinh kế và phục hồi sinh kế cho người dân TĐC 8
1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 11
1.2.1 Các nghiên cứu về chính sách TĐC 11
1.2.2 Các nghiên cứu về đời sống KT, XH của người dân TĐC 12
1.2.3 Các nghiên cứu về TĐC ở thành phố Hà Nội 16
Kết luận Chương 1 19
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ TÁI ĐỊNH CƯ VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGƯỜI DÂN 20
2.1 Những vấn đề chung về tái định cư 20
2.1.1 Khái niệm tái định cư 20
2.1.2 Các khái niệm về GPMB, đền bù, bồi thường và hỗ trợ 22
2.1.3 Đặc điểm, vai trò, bản chất và các hình thức TĐC 27
2.2 Tác động của TĐC đến đời sống KT, XH của người dân 37
2.2.1 Đời sống KT, XH 37
Trang 52.3 Vận dụng lý thuyết IRR trong nghiên cứu về TĐC và tác động đến đời sống KT, XH 55
2.3.1 Vận dụng lý thuyết IRR trong nghiên cứu TĐC trên thế giới 55
2.3.2 Vận dụng lý thuyết IRR kết hợp với khung sinh kế bền vững trong nghiên cứu TĐC ở Việt Nam 55
2.4 Kinh nghiệm trong và ngoài nước về TĐC 58
2.4.1 Kinh nghiệm TĐC ở một số quốc gia trên thế giới 58
2.4.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam 67
2.4.3 Những bài học kinh nghiệm 72
Kết luận Chương 2 74
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 76
3.1 Phương pháp tiếp cận 76
3.1.1 Tiếp cận hệ thống 76
3.1.2 Tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực 76
3.1.3 Tiếp cận lịch sử, cụ thể 77
3.1.4 Tiếp cận hiệu quả, bền vững 77
3.2 Nguồn dữ liệu 78
3.2.1 Nguồn dữ liệu thứ cấp 78
3.2.2 Nguồn dữ liệu sơ cấp 79
3.3 Phương pháp nghiên cứu 79
3.3.1 Nghiên cứu định tính 79
3.3.2 Nghiên cứu định lượng 81
3.4 Khung nghiên cứu về tác động của TĐC đến đời sống KT, XH 87
Kết luận Chương 3 88
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH TÁI ĐỊNH CƯ VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGƯỜI DÂN Ở HÀ NỘI 89
4.1 Tổng quan về quá trình TĐC ở thành phố Hà Nội 89
4.1.1 Vai trò quản lý của Nhà nước về quá trình TĐC 89
4.1.2 Khái quát về quá trình TĐC ở thành phố Hà Nội 106
4.1.3 Đánh giá chung tác động của quá trình TĐC ở thành phố Hà Nội 117
4.2 Tác động của quá trình TĐC đến đời sống KT, XH của người dân 124
4.2.1 Thông tin chung về hộ gia đình TĐC 124
4.2.2 Tác động của quá trình TĐC đến đời sống KT, XH 127
Kết luận Chương 4 148 CHƯƠNG 5: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẢM BẢO BỀN
Trang 65.1.1 Phương hướng phát triển KT, XH, đô thị của thành phố Hà Nội 149
5.1.2 Nhu cầu về TĐC, ổn định đời sống KT, XH người dân ở Hà Nội 153
5.2 Quan điểm về đảm bảo bền vững đời sống KT, XH của người dân TĐC 153
5.3 Các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo bền vững đời sống KT, XH của người dân TĐC 155
5.3.1 Giải pháp đảm bảo về nhà TĐC 155
5.3.2 Giải pháp về đổi mới, hoàn thiện về trình tự, thủ tục, xác định giá đất và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, TĐC 164
5.3.3 Giải pháp về ổn định thu nhập, việc làm 169
5.3.4 Các giải pháp về hỗ trợ giáo dục, y tế 174
5.3.5 Các giải pháp về đảm bảo về văn hóa, duy trì sự kết nối với cộng đồng 176
5.3.6 Các giải pháp về quản lý dân cư, tiếp cận các dịch vụ công cộng 177
5.3.7 Các giải pháp đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường 180
Kết luận Chương 5 182
KẾT LUẬN 183
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 186 TÀI LIỆU THAM KHẢO 187 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
cùng hóa và phục hồi sinh kế
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số
4.8 Tác động của việc phá dỡ công trình và nhà ở đến cuộc sống của hộ dân 128
4.13 Vấn đề vệ sinh môi trường ảnh hưởng đến đến cuộc sống của các hộ dân 141 4.14 Cuộc sống của hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi các vấn đề an ninh trật tự 142
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số
3.4 Khung nghiên cứu TĐC và tác động đến đời sống KT, XH 85
4.5 Ảnh hưởng của việc làm, thu nhập đến cuộc sống gia đình TĐC 131
5.1 Sơ đồ đề xuất hoàn chỉnh trình tự, thủ tục thực hiện giao, cho thuê đất, thu hồi đất, định giá đất và thực hiện bồi thường, hỗ
trợ, TĐC
164
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của luận án
Nơi ở là nền tảng của sự ổn định về sinh kế, tác động đến đời sống vật chất
và tinh thần, hiện tại cũng như tương lai của con người Những nội dung liên quan đến nơi ở của con người cần đặt trong mối quan hệ kinh tế, xã hội (KT, XH) Trong quá trình phát triển, hầu hết các thành phố lớn đều phải quy hoạch lại không gian, xây dựng mới và chỉnh trang, đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị và xã hội, do
đó đòi hỏi phải tiến hành giải phóng mặt bằng (GPMB), di dời, tái định cư (TĐC) một số bộ phận dân cư có liên quan
TĐC là quá trình từ bồi thường về đất đai và các tài sản trên đất, di dân đến nơi ở mới cùng các biện pháp hỗ trợ, tái tạo lại các thiệt hại về vật chất và tinh thần của người dân, và cuối cùng là toàn bộ các chương trình, biện pháp nhằm khôi phục lại cuộc sống và ổn định đời sống KT, XH Quá trình TĐC liên quan đến rất nhiều vấn đề như: sở hữu tài sản, các mối quan hệ kinh tế, việc làm, học hành, y tế, sự tiếp cận các dịch vụ đô thị, nhà ở và các mối quan hệ xã hội khác… Do đó, cần nhìn nhận TĐC là một quá trình chuyển dịch, thay đổi có tính hệ thống về kinh tế, văn hoá, xã hội của một bộ phận dân cư hơn là chỉ dừng lại ở việc xem xét quá trình thay đổi về mặt vật lý chỗ ở của người dân
Trên phương diện lý thuyết, những nguyên tắc về quá trình TĐC như hạn chế tối đa việc di dời, việc di dời chỉ thực hiện khi không thể tránh khỏi, phải đảm bảo cho người bị di dời được trợ giúp một cách tốt nhất để họ có thể phục hồi và nâng cao chất lượng cuộc sống TĐC phải đảm bảo những người bị di dời có cuộc sống tốt hơn hoặc ngang bằng so với trước đây, người dân TĐC phải được cung cấp đầy
đủ các nguồn lực đầu tư và được tạo cơ hội hưởng lợi từ dự án… Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy việc di dời, TĐC khi thực hiện các dự án phát triển đang gặp khó khăn trong việc giải quyết hài hoà mối quan hệ KT, XH của người dân bị ảnh hưởng Nhìn chung, những nghiên cứu thường cụ thể hóa tại từng dự án
Trang 11hoặc cụm dự án TĐC, chỉ dừng lại ở việc làm thế nào để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, chưa có những nghiên cứu về đời sống KT, XH của người dân TĐC một cách toàn diện và cụ thể
Trên phương diện thực tiễn, quá trình TĐC luôn được coi là quá trình phức tạp, nhạy cảm vì nó tác động đến việc thay đổi sở hữu tài sản, tác động trực tiếp, lâu dài đến đời sống vật chất, tinh thần của con người Hà Nội là thành phố Thủ đô, lại
có điều kiện đặc thù mở rộng địa giới hành chính (năm 2008) lên gấp 3 lần so với trước đây với diện tích 3.324 km2, dân số trên 7 triệu người và tiếp tục tăng lên hàng năm Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị và xã hội của Thành phố đang chịu sức ép rất lớn do dân số tăng nhanh và nhu cầu phát triển Hà Nội đã đặt quyết tâm xây dựng và phát triển thành phố với vai trò là Thủ đô đa chức năng của một đất nước
cơ bản hoàn thành CNH trước năm 2020, là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ và giao lưu quốc tế [29] Thành phố đã và đang triển khai nhiều công trình trọng điểm, nhiều dự án lớn cả về vốn lẫn quy mô sử dụng đất, ảnh hưởng đến hàng vạn hộ dân phải di dời, bố trí TĐC Do vậy, vấn đề di dời, GPMB, TĐC là một trong những nội dung trọng tâm, trọng điểm trong việc xây dựng cơ chế, chính sách, chỉ đạo điều hành
Cuộc sống của người dân TĐC ở Hà Nội gặp nhiều khó khăn Các khu TĐC được xây dựng trong thời gian gần đây có nhiều vấn đề bất cập như: hạ tầng bị xuống cấp, vừa yếu lại vừa thiếu; chất lượng nhà TĐC thấp; thu nhập của người dân không ổn định và khó khăn; đời sống văn hoá tinh thần của người dân tại các khu TĐC không được cải thiện so với nơi ở cũ; việc đảm bảo các điều kiện vật chất phục vụ đời sống như chợ búa, y tế, giáo dục, nhân hộ khẩu của người dân còn hạn chế Điều này tạo nên áp lực cho việc di dời, TĐC trong quá trình phát triển của Thành phố
Như vậy, trên phương diện cả lý thuyết lẫn thực tiễn, việc tiến hành lựa chọn
đề tài nghiên cứu của luận án “Quá trình tái định cư ở thành phố Hà Nội: nghiên
Trang 12cứu sự tác động đến đời sống kinh tế, xã hội của người dân” thực sự cần thiết, có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu:
- Tổng hợp, phân tích, làm rõ một số nội dung lý thuyết về TĐC và tác động đến đời sống KT, XH; quá trình phát triển lý thuyết cũng như cơ chế, chính sách của nhà nước Việt Nam về TĐC;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình TĐC ở Hà Nội và tác động đến đời sống KT, XH của người dân ở các khu TĐC;
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm ổn định bền vững đời sống KT, XH người dân TĐC ở Hà Nội
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Giải quyết vấn đề khoa học: Xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu về quá
trình TĐC và tác động đến đời sống KT, XH của người dân TĐC; nhận diện các yếu tố KT, XH của người dân TĐC và làm rõ cơ chế tác động của quá trình TĐC đến đời sống KT, XH của người dân
- Giải quyết vấn đề thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình TĐC
và tác động đến đời sống KT, XH của người dân TĐC, trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo bền vững đời sống KT, XH của người dân TĐC ở Hà Nội
- Câu hỏi nghiên cứu:
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình TĐC và tác động của TĐC
đến đời sống KT, XH của người dân TĐC Dựa trên cơ sở khung lý thuyết, luận án
tập trung nghiên cứu các nội dung: Vai trò quản lý của Nhà nước đối với vấn đề TĐC thông qua phân tích khung chính sách về TĐC; Thực trạng quá trình TĐC của thành phố Hà Nội; Tác động của quá trình TĐC đến đời sống KT, XH của người dân TĐC (là các hộ dân bị di dời đến định cư tại các khu TĐC); Đề xuất các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo bền vững đời sống KT, XH của người TĐC ở Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu, đánh giá quá trình TĐC và tác động của
quá trình TĐC đến đời sống KT, XH của người dân TĐC thông qua phân tích, so sánh theo thời gian (trước và sau khi di dời) và theo không gian (nơi ở mới so với nơi ở cũ) Ngoài ra, luận án sử dụng kết quả điều tra các hộ gia đình TĐC để bổ sung, làm rõ thêm cho những nhận định, đánh giá tác động của TĐC đến đời sống
KT, XH của người dân
- Phạm vi không gian: Luận án được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn thành
phố Hà Nội Cụ thể là tập trung vào các trường hợp GPMB, thu hồi đất, TĐC trong quy hoạch, liên quan đến quá trình xây dựng các dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật
đô thị; tức là việc tiến hành thu hồi, GPMB, TĐC không phải do vi phạm pháp luật
về đất đai, cũng không phải do chiến tranh, thiên tai địch họa hay các trường hợp khác Như vậy, luận án chỉ nghiên cứu các trường hợp TĐC ở khu vực các quận nội thành Hà Nội
- Phạm vi thời gian: Bắt đầu từ năm 2000, đặc biệt tập trung trong giai đoạn
2003 – 2013, định hướng đến năm 2020
Trang 144 Những đóng góp mới của luận án
- Những đóng góp về lý thuyết: Luận án đã hệ thống hóa, bổ sung, hoàn thiện
khung lý thuyết nghiên cứu về TĐC và tác động đến đời sống KT, XH của người dân trên cơ sở vận dụng kết hợp giữa lý thuyết Nguy cơ bần cùng hóa và phục hồi sinh kế (IRR) với Khung sinh kế bền vững
- Những đóng góp về thực tiễn: Luận án đã phân tích, đánh giá được quá trình
TĐC ở thành phố Hà Nội trong thời gian qua, đồng thời làm rõ tác động đến đời sống
KT, XH của người dân TĐC ở Hà Nội trên cơ sở các yếu tố kinh tế (đất đai, nhà ở và công trình, thu nhập – việc làm) và các yếu tố xã hội (giáo dục – y tế, văn hóa và hòa nhập cộng đồng, tiếp cận dịch vụ công, an ninh trật tự và vệ sinh môi trường) Ngoài
ra, luận án đã đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo bền vững đời sống KT, XH của người dân TĐC ở Hà Nội
5 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học đã công bố của tác giả, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án bao gồm 5 chương Cụ thể là:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về tái định cư và tác động đến đời sống
kinh tế, xã hội của người dân
- Chương 2: Cơ sở lý luận, thực tiễn về tái định cư và tác động đến đời sống
kinh tế, xã hội của người dân
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Thực trạng quá trình tái định cư và tác động đến đời sống kinh
tế, xã hội của người dân ở Hà Nội
- Chương 5: Quan điểm và các giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo bền vững
đời sống kinh tế, xã hội của người dân tái định cư ở Hà Nội
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁI ĐỊNH CƯ VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGƯỜI DÂN
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về TĐC bắt đầu xuất hiện từ những năm 1960, 1970 của thế kỷ trước Tuy nhiên, thời gian gần đây, các nghiên cứu về TĐC mới nổi lên và được quan tâm sâu sắc của giới học giả và công chúng Có thể tổng quan về một số các công trình nghiên cứu nổi bật sau đây:
1.1.1 Các nghiên cứu về đền bù, bồi thường trong TĐC
Nghiên cứu về đền bù, bồi thường trong TĐC có thể kể đến công trình “Kinh
tế học mới về TĐC: Những nhìn nhận nguyên tắc đền bù” của M.Cernea (2003)
nghiên cứu vai trò của kinh tế học trong trong đền bù, bồi thường Nghiên cứu đi sâu phân tích các lý thuyết về bồi thường, TĐC và cho rằng việc dùng các phương pháp kinh tế học thông thường khó có khả năng giải quyết về những vấn đề khác ngoài đền bù, TĐC Năm 2008, khi nghiên cứu tập trung vào đối tượng là người dân
bị ảnh hưởng và có nguy cơ bị bần cùng hóa, M Cernea đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội học để phát hiện các nguyên nhân của những thất bại trong
bố trí TĐC là do đói nghèo và thiếu hụt nguồn tài chính đền bù cho người bị ảnh
hưởng (NBAH) trong công trình“Đền bù và chia sẻ lợi ích: Tại sao cần phải thay
đổi chính sách và thực tế TĐC” Tác giả cho rằng các chính phủ thường quá tập
trung vào bồi thường chứ không chú ý đến khôi phục thu nhập hay phục hồi sinh kế, cũng như các nguồn lực bổ sung cho việc di dời đến nơi ở mới Tập hợp các bài viết phân tích chi phí – lợi ích và các nguyên tắc bồi thường TĐC của tác giả M Cernea
và Ravi Kanbur (2003) nghiên cứu “Sự hoán đổi nguyên tắc đền bù trong TĐC”
Nếu như Ravi Kanbur nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết kinh tế phát triển và hiệu quả Pareto thì M Cernea dựa trên cơ sở xã hội học phê phán các nguyên tắc bồi thường,
hỗ trợ Mục đích liên kết hai công trình với nhau là để nhằm chứng tỏ tầm quan trọng của TĐC và bồi thường thiệt hại trong các dự án phát triển, không chỉ tính đến
Trang 16những yếu tố kinh tế mà còn cần phải tính đến những vấn đề xã hội Một nghiên cứu khác cho thấy việc nghiên cứu đền bù, TĐC ở khu vực đô thị khác biệt hoàn
toàn với khu vực nông thôn của Nelson Chan (2003) “Đền bù khi thu hồi đất ở
Trung Quốc: Vấn đề và giải pháp” đã đánh giá cụ thể hệ thống chính sách, pháp
luật của Trung Quốc và phân tích quá trình ĐTH ở Trung Quốc kể từ sau khi cải cách 1978, đồng nghĩa với việc thu hồi đất và TĐC Qua tìm hiểu những nghiên cứu cho thấy các tác giả mới tập trung nghiên cứu chính sách, đề xuất đổi mới hệ thống pháp luật nhưng chưa đi vào nghiên cứu bản chất của việc TĐC cũng như đòi hỏi phải có chính sách về TĐC
1.1.2 Các nghiên cứu về di dời, tổ chức TĐC
Khái quát về TĐC trong quá trình phát triển, liên quan đến các vấn đề kinh
tế, phát triển, cưỡng bức di dời, trong cuốn“Kinh tế học về TĐC: Câu hỏi và thách
thức” M Cernea và cộng sự đã đưa ra 2 luận điểm: Thứ nhất, kinh tế học về di dời
và TĐC đã bị giới học giả bỏ qua, dẫn đến khoảng trống trong phân tích kinh tế, tài chính đối với quá trình di dời cũng như các biện pháp khắc phục Trên thực tế, khoa học về nhân học, xã hội học đã nghiên cứu về TĐC, vượt xa khoa học kinh tế và tạo
ra một khoảng cách lớn cả về nhận thức lẫn thực tế Thứ hai, các phương pháp kinh
tế được sử dụng trong các dự án TĐC của Ngân hàng Thế giới (WB), của các nhà tài trợ và một số chính phủ được dựa trên phân tích chi phí – lợi ích thông thường
và tỏ ra lạc hậu, không phù hợp với phân tích di dời, TĐC vì nó đòi hỏi sự khác biệt
về phân phối trong cả chi phí và lợi ích Nghiên cứu của Walter Fernandes, (2007)
“Cưỡng chế di dời: chính sách và thực tiễn ở Ấn Độ” cho rằng yếu tố cơ bản trong
GPMB, di dời TĐC là vấn đề đền bù, trong đó quan trọng nhất là khoản đền bù về nhà và đất Tuy nhiên, trên thực tế, việc yếu kém trong vận dụng khung khổ pháp lý
về đất đai dẫn đến các khoản đền bù này không thể đáp ứng được yêu cầu phục hồi sinh kế cho những người bị di dời Tác giả tập trung vào việc đề xuất thay đổi, cải cách hệ thống chính sách, các luật và khung khổ pháp lý để đảm bảo công bằng trong đền bù, làm sao khoản đền bù có thể không gây ra nguy cơ bần cùng hóa, việc đưa ra định nghĩa sự bần cùng hóa và đời sống KT-XH chưa được quan tâm chú ý
Trang 17Anjan Chakrabarti and Anup Dhar (2009) ở Ấn Độ với công trình “GPMB và TĐC
trong quá trình phát triển ở các nước thế giới thứ ba” đã nghiên cứu thực chất của
GPMB, TĐC chính là quá trình phát triển Nghiên cứu tập trung vào phạm vi Ấn
Độ trong khi mục tiêu đặt ra là nghiên cứu ở các nước thuộc thế giới thứ ba Ở các nước đang phát triển, chính sách và các chế định về đền bù, TĐC thường rất khác nhau và thay đổi theo thời gian, nghiên cứu một vài trường hợp thực tế ở Ấn Độ có thể không mang tính bao quát
1.1.3 Các nghiên cứu về sinh kế và phục hồi sinh kế cho người dân TĐC
1.1.3.1 Các nghiên cứu về sinh kế của người dân TĐC
Trước hết, phải kể đến John Eriksen và Maria Clara-Mejia (2000) với nghiên
cứu “Đối phó với TĐC nông thôn châu Á và TĐC đô thị ở châu Mỹ Latinh”, đã
cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về sai sót kinh tế trong lập kế hoạch cho các hoạt động TĐC, trong đó thiếu những biện pháp phục hồi sinh kế Dưới giác độ
nhân chủng học, Lakshman Mahapatra (1997) đã xây dựng “Mô hình TĐC: các
nguy cơ nghèo khó và tái thiết sinh kế” trên cơ sở thực nghiệm về quá trình bần
cùng hóa do việc di dời ở Ấn Độ Tác giả cho rằng, một chính sách TĐC tốt có thể huy động tốt hơn các nguồn lực ngân sách cho TĐC và các nguồn tài nguyên mới được tạo ra bởi chính bản thân dự án nhằm cải thiện điều kiện kinh tế của người dân TĐC và cho phép họ chia sẻ lợi ích trong phát triển Nghiên cứu này cung cấp quan điểm về động lực bên trong TĐC và cho thấy các công cụ phân tích và giải
pháp chính sách để cải thiện các nguồn lực Nghiên cứu về “Quá trình phát triển –
tất yếu của TĐC” của Jason Stanley (2003) đã mang đến cái nhìn tổng quan về
TĐC trên phạm vi toàn cầu, từ châu Á - Thái Bình Dương, châu Phi, Mỹ La - tinh
và Caribean, châu Âu và Bắc Mỹ Tác giả nghiên cứu 3 loại dự án phát triển dẫn đến TĐC (dự án thủy điện, phát triển hạ tầng và giao thông đô thị, và khai thác tài nguyên thiên nhiên) Việc thiếu nghiên cứu thực địa nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những nét khái quát trên phạm vi toàn cầu về TĐC Công trình nghiên cứu của
Trung tâm nghiên cứu di trú thuộc Đại học Oxford, (2002) “Hướng tới phát triển
Trang 18khu vực và giảm thiểu đói nghèo gây ra bởi TĐC” đã nghiên cứu các ảnh hưởng
tiêu cực và tích cực của TĐC bắt buộc, ảnh hưởng của việc thay đổi chính sách, triển vọng hồi phục của những người dân TĐC, sự hồi phục sinh kế xét ở góc độ kinh tế… Các tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích so sánh, đối chiếu các lý thuyết, các mô hình trong nghiên cứu TĐC của một số học giả trên thế giới Quy
mô của nghiên cứu này quá rộng, không có đủ nguồn lực để tiến hành nghiên cứu thực
Khi phân tích bản chất của TĐC, một số tác giả đã cố gắng tìm hiểu những nguyên nhân sâu sa để tìm ra những căn nguyên của sự bần cùng hóa, nghèo đói, các nguy cơ khác mà NBAH phải gánh chịu David Pearce, nhà kinh tế học phúc lợi người Anh với nghiên cứu về TĐC trên quan điểm kinh tế học phúc lợi Ông cho rằng có sự tương đồng giữa kinh tế TĐC và kinh tế môi trường và việc kích thích phát triển các cơ sở kinh tế - tài chính cho việc di dời và TĐC là hoàn toàn phù hợp
Nghiên cứu của Junko Maruyama, (2003) về “Ảnh hưởng của TĐC đến sinh kế và
các mối quan hệ xã hội ở khu vực trung tâm Kalahari, Botswana” cho thấy người
dân bị ảnh hưởng bởi dự án TĐC có những thay đổi đáng kể, từng nhóm dân cư di dời ra ngoài khu vực TĐC hình thành các khu TĐC tự phát Sinh kế của người dân không được đảm bảo và quan tâm đúng mực Nội dung của nghiên cứu tập trung vào đánh giá thực trạng không gian sống và đề xuất tái bố trí không gian TĐC trên
phạm vi khá rộng lớn Syed Al Atahar (2013) với công trình “Thu hồi đất và TĐC ở
Bangladesh trong các dự án phát triển: Hoàn thiện chính sách TĐC quốc gia và phục hồi sinh kế” đã nghiên cứu nhiều dự án phát triển và đánh giá ảnh hưởng của
TĐC đến sinh kế người dân ở Bangladesh Tác giả tập trung đi sâu phân tích hệ thống pháp lý của Bangladesh và đề xuất thay đổi các chính sách về TĐC Nghiên cứu chưa đi sâu vào bản chất của các tác động ảnh hưởng của TĐC và sự cần thiết phải phục hồi thu nhập của người dân cũng như các chính sách đề xuất không hề có những nội dung liên quan đến sinh kế của người dân
Nghiên cứu “TĐC và quá trình phát triển: Khái niệm, chính sách và thực
tiễn” của Duan JueFang, (2005) tập trung vào các dự án TĐC lớn ở Trung Quốc,
Trang 19đặc biệt là Dự án thủy điện Tam Hiệp Nghiên cứu chủ yếu đánh giá tác động của
dự án phát triển đến TĐC, vai trò của các cơ quan chính phủ liên quan đến dự án, chưa đánh giá mức độ ảnh hưởng đến đời sống KT, XH của người dân Đối tượng nghiên cứu tập trung vào vai trò của các cơ quan nhà nước, cho rằng nếu họ làm tốt thì dự án sẽ thành công và người dân TĐC được hưởng lợi Công trình nghiên cứu
“GPMB và TĐC không tự nguyện để làm đường cho mỏ kim cương: Nghiên cứu trường hợp Zimbabwe” của các tác giả Madebwe, Victor Madebwe và Sophia
Mavusa (2011) đã nghiên cứu đánh giá thực trạng TĐC của cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng cũng như các biện pháp phục hồi sinh kế cho họ Agba, Ogaboh,
Akpanudoedehe và Ushie (2010) với công trình nghiên cứu về “Ảnh hưởng của
TĐC đến đời sống KT, XH, văn hóa của dân cư vùng Cross River, Nigeria” đã
nghiên cứu trên khía cạnh văn hóa, bản sắc của cộng đồng dân cư bị di dời Nghiên
cứu cho thấy NBAH chịu tác động khá lớn của TĐC đến đời sống văn hóa và cần thiết phải có khoản đền bù thỏa đáng đối với những NBAH
1.1.3.2 Mô hình lý thuyết (IRR)- Nguy cơ bần cùng hóa và phục hồi sinh kế
Mô hình lý thuyết (IRR) - Impoverishment Risk and Reconstruction - Nguy
cơ bần cùng hóa và phục hồi sinh kế của M Cernea và cộng sự phát triển vào những năm 1990 Các nghiên cứu trên toàn thế giới về TĐC đang ngày càng tập trung vào nghiên cứu nguy cơ bần cùng hóa mà người dân TĐC phải đối mặt và cần thiết phải đặt ra mục tiêu phòng chống nguy cơ và phục hồi sinh kế Có thể kế đến các nghiên cứu (Mathur và Marsden, 1998; Cernea, 1997, 2000; Pandey, 1998; Schmidt-Soltau, 2003; Scudder, 2005; Guha, 2007) Trong khoảng 2 thập kỷ gần đây, xuất hiện việc
sử dụng rộng rãi mô hình IRR trong các nghiên cứu trên toàn thế giới (Mahapatra, 1999; Scudder, 2005; De Wet, 2006) Những nghiên cứu thực chứng cho thấy, bần cùng hóa, nguy cơ đói nghèo đối với NBAH bởi TĐC là do chính sách ở nhiều nước
áp dụng cơ chế bồi thường thấp và vi phạm quyền của người dân Có thể nói, trong các nghiên cứu của M Cernea đã làm rõ nhiều nội dung về TĐC, phát hiện các nguy cơ đói nghèo và nguy cơ phải đối mặt và tìm ra được cách thức làm cho NBAH giảm thiểu đối mặt với nguy cơ nghèo đói và có thể phục hồi sinh kế khi họ
Trang 20được tham gia trong quá trình chia sẻ lợi ích của dự án Để xây dựng mô hình IRR,
M Ceanea và các cộng sự đã tập trung nghiên cứu về sự công bằng xã hội đối với NBAH, về hoàn cảnh tương đồng giữa các đối tượng TĐC trên cơ sở nghiên cứu các trường hợp khoảng 200 triệu người phải TĐC tự nguyện hay bắt buộc trong thời gian khoảng 20 năm, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Các nghiên cứu tập trung đến các nhân tố nguy cơ chính do TĐC gây ra, đó là: mất nhà cửa, mất việc làm, ly tán gia đình, tác động ngoại biên, an toàn lương thực, bệnh dịch, mất đi sự tiếp cận các dịch vụ công, phân tầng xã hội…Tác giả cũng đã nghiên cứu sự phục hồi sinh kế từ việc giảm thiểu nguy cơ nêu trên Ngoài ra, các tác giả cũng đánh giá
sự cần thiết phải phục hồi các nguy cơ do TĐC mang lại, phân tích những ưu điểm của mô hình và sự tham gia của NBAH Các công trình nghiên cứu này đã chỉ ra khoảng trống trong phương pháp đánh giá nguy cơ cũng như sự thiếu hoàn thiện trong đánh giá chi phí - lợi ích khi nghiên cứu về TĐC Tác giả đã sử dụng các phương pháp tiếp cận kinh tế học và xã hội học để phân tích mô hình Việc sử dụng
mô hình này vào những nghiên cứu cụ thể về TĐC được các giới khoa học và quản
lý trên thế giới vận dụng khá rộng rãi, đặc biệt là khi đánh giá về đời sống KT, XH của NBAH
1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, có khá nhiều các công trình nghiên cứu về TĐC, từ các đề tài nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, đến các đề án của các cơ quan quản lý, các
dự án của các tổ chức trong và ngoài nước… Các nghiên cứu tập trung vào một số vấn đề chủ yếu sau:
1.2.1 Các nghiên cứu về chính sách TĐC
Phạm Mộng Hoa, Lâm Mai Lan (2000) với nghiên cứu "TĐC trong các dự
án phát triển: Chính sách và thực tiễn" tập trung vào nội dung của các quy định
pháp lý đối với việc đền bù, giải tỏa và trách nhiệm của nhà nước đối với người
bị giải tỏa; đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết và hạn chế của chính sách hiện hành trên cơ sở so sánh sự khác biệt giữa chính sách TĐC của Việt Nam với
Trang 21chính sách TĐC của các tổ chức quốc tế Ngoài ra, các tác giả cũng đề xuất, kiến nghị, bổ sung và điều chỉnh những chính sách hiện hành, làm cho những chính
sách này phù hợp với yêu cầu thực tiễn Dự án "Chính sách di dân châu Á" (Dự
án VIE/95/2004, 1998) đã đề cập dưới những góc độ khác nhau của việc di dời,
giải toả, TĐC Cụ thể trong bài viết "Chính sách TĐC do kết quả của sự phát
triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam" (tr 180-195), tác giả Trương Thị Ngọc Lan bàn
về thực trạng TĐC hiện nay ở Việt Nam và tập trung trình bày những nội dung chính của các văn bản pháp lý liên quan đến TĐC Tác giả Lê Văn Thành với
nghiên cứu "Di dân nhập cư với vấn đề phát triển một đô thị mới như thành phố Hồ
Chí Minh" bước đầu đề cập đến những khó khăn, thiệt thòi về việc làm mà người
dân TĐC phải gánh chịu Nghiên cứu về Chính sách về bồi thường và TĐC ở Việt
Nam (ADB, 2004) tập trung về các cơ chế, chính sách và cơ sở pháp lý liên quan
đến TĐC Đây là giai đoạn sau khi Luật Đất đai (năm 2003) ra đời, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đã nghiên cứu khá chi tiết và đề xuất các khung chính sách về TĐC, bồi thường ở các dự án do ADB tài trợ
1.2.2 Các nghiên cứu về đời sống KT, XH của người dân TĐC
Khái quát về tình hình thực hiện các chính sách đền bù, TĐC cho những người dân bị ảnh hưởng bởi các dự án phát triển phải kể đến nghiên cứu của Trần
Xuân Quang (1997), "Tình hình thực hiện chính sách đền bù, TĐC và khôi phục
cuộc sống cho những NBAH bởi các dự án đầu tư phát triển tại các đô thị và KCN"
Một nghiên cứu khác nhấn mạnh mục tiêu đặt ra cho việc TĐC là phải đảm bảo sau khi TĐC, những NBAH bởi dự án ít nhất đạt tới mức sống như họ lẽ ra có
được nếu không có dự án Tài liệu "TĐC bắt buộc” của ADB (1995) nêu rõ TĐC
bắt buộc được xác định là chính sách đền bù, hỗ trợ ổn định lại cuộc sống Một công trình nghiên cứu khác rất công phu, đi sâu vào phân tích đời sống KT, XH
của người dân, phải kể đến công trình nghiên cứu cấp nhà nước “Thực trạng thu
nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các KCN, khu đô thị (KĐT), xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia” của Lê Du Phong (2005) tập trung phân tích thực trạng đời sống, việc
Trang 22làm của người bị thu hồi đất, tổng kết đánh giá những vấn đề nảy sinh ngoài hệ thống pháp lý hiện hành và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao đời sống, thu nhập, việc làm của NBAH, đặc biệt là đề xuất những thay đổi về chính sách, khung khổ pháp lý về GPMB, TĐC, trong đó chú trọng đền bù, hỗ trợ NBAH Nhằm đánh giá những chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân bị thu hồi đất khi phát triển các KCN, Nguyễn Văn Nhường, Nguyễn Thành Độ (2011) có nghiên cứu
“Bàn về chính sách an sinh xã hội với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các KCN”, đã hệ thống hóa các văn bản pháp luật về đền bù, GPMB, đánh giá
thực trạng an sinh xã hội của người nông dân sau khi bị thu hồi đất, đề xuất các chính sách đảm bảo an sinh xã hội Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu tại các KCN trên địa bàn một tỉnh nên chưa có những đánh giá khái quát về chính sách
“Nghiên cứu về TĐC ở Việt Nam” của WB tại Việt Nam (2005) tiến hành
trên phạm vi cả nước trong đó chủ yếu tập trung ở 3 đô thị lớn là Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, đã đánh giá các nội dung về cơ sở pháp lý tại thời điểm
đó về TĐC và tiến hành điều tra chọn mẫu tại các khu TĐC trên địa bàn Thành công của nghiên cứu là cố gắng coi TĐC như là một yếu tố của quá trình phát triển Hạn chế của nghiên cứu là đưa ra được bức tranh thực trạng về đời sống KT, XH của người dân tại các khu TĐC chứ không đưa ra được những khuyến nghị hay giải pháp nhằm cải thiện tình hình Phương pháp điều tra chọn mẫu chưa toàn diện vì hạn chế về nguồn lực tài chính cũng như nguồn lực thời gian; phương pháp phân
bảo sự bền vững cho những cộng đồng bị TĐC ở Việt Nam” của ADB (2008) tập
trung phân tích thực tiễn và đề xuất định hướng chính sách nhằm mục tiêu phục hồi sinh kế cho người dân bị ảnh hưởng, làm sao để những cộng đồng bị ảnh hưởng có sinh kế bền vững sau khi đến nơi ở mới
Ngoài ra, hàng loạt các nghiên cứu được tài trợ bởi WB tại Việt Nam như:
“Ảnh hưởng đến người dân tại các dự án thuỷ điện tại khu vực miền Trung Việt Nam” (WB, 2006);“Nghiên cứu về TĐC ở Việt Nam” của Phạm Mộng Hoa (2003);
Trang 23“Nghiên cứu về đời sống văn hoá của người dân tại các KĐT” (WB, 2006) đã dựa
trên cơ sở các điều tra xã hội học để thu thập số liệu thống kê nhằm phát hiện và đề xuất chính sách dựa trên kết quả điều tra qua các bảng hỏi và bảng phỏng vấn sâu Các nghiên cứu này góp phần vào việc xây dựng chính sách và hoạt động thực thi của WB, vẫn nặng về nghiên cứu thực địa hơn là nghiên cứu mang tính hàn lâm
Những nghiên cứu về sinh kế của người dân trong các dự án TĐC thủy điện
ở các công trình “TĐC trong các dự án thủy điện” và “Báo cáo nghiên cứu: di dân,
TĐC, ổn định cuộc sống và bảo vệ tài nguyên môi trường ở các dự án Thủy điện Việt Nam” của Viện Tư vấn phát triển – CODE (2010, 2011) cũng đề cập đến đời
sống KT, XH của người dân trong vùng ảnh hưởng của dự án Tuy nhiên, việc nghiên cứu TĐC ở các dự án thủy điện phụ thuộc khá nhiều vào ngân sách vì chi phí nghiên cứu thực địa lớn, địa bàn rộng, dân cư đa dạng với nhiều dân tộc thiểu
số, khu vực nghiên cứu chỉ tập trung ở miền Bắc Việt Nam Việc đánh giá đời sống
cư dân bị ảnh hưởng cần được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Điểm thành công của nghiên cứu là đã cập nhật và đề xuất những thay đổi chính sách về TĐC của nhà nước theo hướng có lợi cho người dân – đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp bởi các dự án Một nghiên cứu về đời sống KT, XH của đồng bào dân
tộc thiểu số được Cục Hợp tác xã (2007) tiến hành: “Chính sách di dân, TĐC phục
vụ các công trình quốc gia ở vùng dân tộc và miền núi – vấn đề cấp bách cần giải quyết” đề cập đến thực trạng chính sách pháp luật hiện hành và việc thực thi chính
sách di dân, TĐC phục vụ các dự án quốc gia ở vùng dân tộc và miền núi Nghiên cứu đã có những đánh giá ảnh hưởng của chính sách đối với đời sống của người dân
và đề xuất những cơ chế, chính sách mang tính cấp bách để đảm bảo việc thực hiện
di dời, TĐC có hiệu quả hơn
Nghiên cứu của Trần Thị Lê Tâm, (2012) ”Tác động của TĐC đến đời sống
người dân trong vùng dự án của dự án ADB - Cải thiện môi trường đô thị miền Trung Việt Nam” tìm hiểu các nhân tố tác động đến hiệu quả của việc thực hiện, đề
ra giải pháp nâng cao hiệu quả tác động của dự án TĐC… Nghiên cứu tập trung trong lĩnh vực xã hội học, sử dụng các phương pháp xã hội học chuyên biệt, nghiên
Trang 24cứu chưa đánh giá về mặt kinh tế khi đánh giá cuộc sống của người dân… Nghiên
cứu của Khúc Thị Thanh Vân, (2007) “Giám sát độc lập về đền bù và TĐC đối với
các dự án có nguồn vốn ODA - Kinh nghiệm và thực tế” đã nêu những định nghĩa
về các thuật ngữ được sử dụng trong khuôn khổ đề án như: GPMB, TĐC, đền bù, chi phí… và đề xuất các phương pháp giám sát khi thực hiện giám sát độc lập về TĐC đối với các dự án có nguồn tài trợ ODA theo cách vừa phù hợp với luật pháp Việt Nam và phù hợp với các quy định của tổ chức tài trợ Công trình chưa đề cập đến đời sống sinh kế của các đối tượng bị ảnh hưởng… Tác giả Võ Kim Cương,
(2005) “TĐC - Quá trình tất yếu để phát triển” đã chứng minh rằng công tác
GPMB, TĐC đã là động lực của quá trình phát triển chứ không như trước đây vẫn được coi như là vấn đề khó khăn, nan giải, là trở lực phát triển… Nghiên cứu đề cập đến sự liên hệ giữa TĐC với quá trình đô thị hóa (ĐTH), quá trình di dân theo quy hoạch sang chỗ ở mới với cơ sở hạ tầng tốt hơn, TĐC gắn liền với xây dựng mới cơ
sở hạ tầng và cho rằng, TĐC là quá trình tất yếu, là động lực của quá trình phát triển
Ngoài ra, các công trình được công bố ở các dạng sách hướng dẫn, đề tài
khoa học, đề án nghiên cứu như: “Hướng dẫn công tác TĐC và khôi phục tại Việt
Nam” của Bộ Kế hoạch & Đầu tư (1998), “Tình hình thực hiện chính sách đền bù, TĐC và khôi phục cuộc sống cho những NBAH bởi các dự án đầu tư phát triển tại các đô thị và khu công nghiệp” của Trần Xuân Quang (1997), “Vấn đề nhà ở đô thị trong nền kinh tế thị trường của thế giới thứ ba” của Trịnh Duy Luân & Michael
Leaf (1996); “Ảnh hưởng của đô thị hoá đến nông thôn ngoại thành Hà Nội - Thực
trạng và giải pháp” của Lê Du Phong, Nguyễn Văn Áng (2002), “Nghiên cứu, đề xuất phương án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hoá gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn thành phố
Hà Nội” của Đỗ Trọng Hùng (2005), “Đô thị hoá và lao động việc làm ở Hà Nội”
của Hoàng Văn Hoa (2006)… Các công trình nghiên cứu trên đã có những đánh giá
và phân tích khá toàn diện trên các lĩnh vực như ĐTH, nông nghiệp nông thôn, lao động việc làm, khôi phục cuộc sống nhưng chưa có nghiên cứu đánh giá đầy đủ,
Trang 25toàn diện các mặt của đời sống KT, XH của NBAH bởi các dự án TĐC, đặc biệt là tác động của quá trình TĐC đến đời sống KT, XH của người dân ở khu vực đô thị
Trong những năm gần đây còn có các dự án nghiên cứu các công trình di dời, giải toả về giao thông (Đường Quốc lộ 1, Đường 5 mới, Đường Hồ Chí Minh…) hay công trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng đến các mặt KT, XH của việc di dời, giải toả, TĐC ở khu công nghiệp Dung Quất… Các nghiên cứu này
đã bước đầu chú trọng vào việc xem xét mức độ ảnh hưởng của các dự án đến các mặt KT, XH, văn hoá, lối sống của cả cộng đồng dân cư trong vùng dự án
Ở Việt Nam, công tác TĐC đã được thực hiện từ khi bắt đầu công cuộc phát triển đất nước với những công trình có quy mô lớn như thủy điện Thác Bà, thủy điện Hòa Bình, những phong trào di dân, đưa lao động đi vùng kinh tế mới Tuy nhiên, về mặt học thuật, nghiên cứu về TĐC chỉ mới xuất hiện trong khoảng 2 thập kỷ gần đây mặc dù còn chưa được quan tâm, chú trọng Các nghiên cứu về TĐC chủ yếu tiếp cận trên phương diện phân tích cơ sở pháp lý, tức là quan tâm xem xét các cơ chế chính sách hiện hành về GPMB, đền bù, TĐC Còn việc nghiên cứu về tác động của TĐC đến đời sống KT, XH của người dân chưa được quan tâm đúng mức
1.2.3 Các nghiên cứu về TĐC ở thành phố Hà Nội
Ở Hà Nội, có một số nghiên cứu liên quan đến GPMB, TĐC trong những năm gần đây Phân tích, đánh giá thực trạng công tác GPMB, đền bù trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 1993 – 2003 và đề xuất các giải pháp, cơ chế chính sách đẩy nhanh tiến độ GPMB các dự án thì có thể kể đến công trình nghiên cứu
điển hình như:“Giải pháp đẩy mạnh công tác GPMB ở Hà Nội” của tác giả Nghiêm
Xuân Đạt, (2003) Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống pháp lý liên quan đến GPMB, đền bù, bồi thường nhưng chưa tổng kết được cơ sở lý luận cũng như khung
lý thuyết Hơn nữa, đề tài mới chỉ tập trung đánh giá cơ chế, chính sách đẩy nhanh tiến độ GPMB, việc TĐC chưa được coi trọng như là một nội dung quyết định đối
với các dự án phát triển ở thành phố Hà Nội thời điểm đó Đề án “Giải pháp ổn
Trang 26định đời sống người dân hậu GPMB ở Hà Nội” của Tô Xuân Dân (2003) là bước cụ
thể hóa chi tiết công trình nghiên cứu về GPMB, vấn đề hậu GPMB, thời điểm đó nổi lên như một vấn đề mang tính thời sự Tuy nhiên, việc nghiên cứu mới dừng lại
ở hỗ trợ về tạo việc làm cho người dân bị mất đất khi thực hiện dự án, chưa đề xuất
cụ thể các mô hình đào tạo hay chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị mất đất Những đề xuất mạnh mẽ của đề án khi đó bị hạn chế bởi các khung khổ pháp lý về
đất đai và đền bù, bồi thường Đề án "Nghiên cứu về giải quyết việc làm cho người
dân bị mất đất khu vực quận Tây Hồ, Hà Nội” của Viện nghiên cứu phát triển KT,
XH Hà Nội (2004) tập trung khảo sát đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dự án phát triển KĐT Nam Thăng Long - Ciputra, đề xuất một số mô hình tạo việc làm cho người dân bị mất đất sản xuất Tuy nhiên, do tính khả thi của đề án chưa cao nên việc áp dụng vào thực tiễn không mang lại hiệu quả mong muốn Công trình
nghiên cứu “Nghiên cứu quá trình đô thị hoá nhanh tại khu vực tây Hồ Tây, Hà
Nội” của Hoa Hữu Lân (2005) phân tích cơ sở về ĐTH cũng như các vấn đề liên
quan đến kinh tế đô thị, đánh giá quá trình ĐTH nhanh tại khu vực tây Hồ Tây, Hà Nội, trong đó có nội dung rất quan trọng là GPMB, TĐC trong khu vực dự án tây
Hồ Tây; đề xuất các biện pháp giải quyết những hệ quả do quá trình ĐTH nhanh diễn ra trên khu vực nghiên cứu Điểm hạn chế của nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu đánh giá thực trạng chưa chú trọng phân tích các nhân tố định lượng, các đề xuất chính sách chưa sát với thực tế Các công trình nghiên cứu của Nguyễn
Chí Mỳ (2006, 2007) “Thực trạng và giải pháp tạo quỹ nhà cho người có thu nhập
thấp ở Hà Nội”, “Công tác tư tưởng trong GPMB ở Hà Nội – Thực trạng và giải pháp” đã đánh giá về tâm lý, tư tưởng của các các bên tham gia trong GPMB, TĐC
cũng như các biện pháp giải quyết vấn đề tư tưởng; đánh giá đầy đủ về nhà ở cho người thu nhập thấp trên địa bàn Hà Nội, đề xuất các cơ chế, chính sách nhằm tạo quỹ nhà cho người thu nhập thấp, trong đó đề cập đến nội dung hẹp về phát triển quỹ nhà TĐC để phục vụ công tác GPMB, TĐC khi thực hiện các dự án đầu tư phát triển trên địa bàn Đề tài chưa khái quát hóa được hệ thống cơ sở lý luận về nhà ở, nhà ở cho người thu nhập thấp theo tinh thần chung của pháp luật về nhà ở Đề
Trang 27tài“Hậu GPMB ở Hà Nội – vấn đề và giải pháp” của Nguyễn Chí Mỳ và Hoàng
Xuân Nghĩa, (2009) tập trung đánh giá vấn đề sau GPMB trên địa bàn thành phố Hà Nội, kinh nghiệm tổ chức GPMB, bố trí TĐC ở các tỉnh, thành phố trong cả nước
và đề xuất các giải pháp tổ chức tốt công tác hậu GPMB Tuy nhiên, việc hệ thống hóa lý thuyết về vấn đề GPMB không được chú trọng, đề tài cố gắng nêu các khái niệm, đặc điểm, quy trình GPMB dựa trên cơ sở hệ thống các văn bản pháp lý Việc nghiên cứu thực tế mới chỉ dừng lại ở việc tổng hợp số liệu thứ cấp, việc sử dụng số liệu sơ cấp để tìm ra những phát hiện chưa được chú trọng Ngoài ra, vấn đề cuộc sống của người dân TĐC sau khi chịu ảnh hưởng bởi dự án GPMB cũng được các tác giả dành ít lưu lượng nghiên cứu
Có thể nói, các nghiên cứu nêu trên mới dừng lại ở việc đánh giá về công tác giải toả, đền bù cho người dân, cố gắng làm thế nào để đẩy nhanh tiến độ GPMB các dự án chứ chưa đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp, biện pháp đảm bảo đời sống KT, XH của người dân tại các khu vực dự án Đặc biệt đối với thành phố Hà Nội, nơi có tốc độ ĐTH diễn ra nhanh chóng, các dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị và hạ tầng xã hội được triển khai khá nhiều Do đó, việc
tổ chức TĐC cho người dân tại các khu TĐC luôn là việc làm hết sức phức tạp, khó khăn và được quan tâm sâu sắc, từ cấp độ các cơ quan quản lý nhà nước đến dư luận
xã hội, trong đó có giới nghiên cứu Tại các khu TĐC, việc đảm bảo đời sống KT,
XH của người dân lại càng trở thành vấn đề bức thiết Tình trạng thiếu việc làm, sở hữu tài sản bị ảnh hưởng, thu nhập giảm… cần có các biện pháp để đảm bảo đời sống sinh kế cho người dân như đền bù, hỗ trợ các thiệt hại về kinh tế khi bố trí TĐC Ngoài ra, các vấn đề xã hội như giáo dục, y tế, văn hoá và các mối quan hệ xã hội của người dân tại các khu TĐC cần phải được quan tâm Những vấn đề này là thách thức không nhỏ đối với cơ quan chính quyền và các nhà đầu tư, đồng thời là
sự mong mỏi, bức thiết đối với người dân TĐC
Trang 28Kết luận Chương 1
Qua nghiên cứu tổng quan tài liệu trong và ngoài nước về quá trình TĐC và tác động đến đời sống KT, XH của người dân, có thể rút ra một số kết luận sau đây:
Một là, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến
GPMB, bồi thường, TĐC Các nghiên cứu trong và ngoài nước tuy đã có những tập trung vào nhiều vấn đề liên quan đến TĐC, nhưng chưa chú trọng về vấn đề đời sống KT, XH của người dân TĐC Việc nghiên cứu đồng thời cả về đời sống KT, XH cũng như đánh giá tác động của TĐC đến người dân là chưa được đề cập một cách rõ nét và toàn diện Nhiều nghiên cứu mới dừng lại ở việc đánh giá về công tác giải toả,
cố gắng làm thế nào để đẩy nhanh tiến độ GPMB các dự án, nhất là các nghiên cứu dưới dạng đề án đề tài của các cơ quan tổ chức trong nước
Hai là, các nghiên cứu sử dụng nhiều cách tiếp cận, nhiều khung lý thuyết
khác nhau Qua nghiên cứu các công trình trên thế giới và của các tổ chức quốc tế cho thấy việc vận dụng mô hình IRR và khung sinh kế trong nghiên cứu về TĐC là một bước đột phá vì đã kết hợp được cả khoa học kinh tế và khoa học xã hội Dùng khung lý thuyết IRR để đánh giá tác động của TĐC qua việc nhận diện thực trạng các yếu tố của đời sống kinh tế và xã hội của người dân TĐC là phù hợp với nhiều trường hợp và được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu TĐC trên thế giới trong
những năm gần đây
Ba là, qua khảo cứu các tài liệu và công trình nghiên cứu về TĐC, trên cơ sở
kế thừa và vận dụng các phương pháp từ các công trình nghiên cứu, có thể thấy việc ứng dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng, các phương phân tích chính sách kết hợp với điều tra thực địa để đánh giá tác động của TĐC đến đời sống KT,
XH của người dân TĐC là một hướng đi đúng đắn trong phân tích, đánh giá về tác động của TĐC đến đời sống KT, XH của người dân TĐC
Trang 29CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ TÁI ĐỊNH CƯ VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGƯỜI DÂN
2.1 Những vấn đề chung về tái định cư
2.1.1 Khái niệm tái định cư
TĐC là một khái niệm có nội hàm khá rộng, dùng để chỉ những ảnh hưởng tác động đến đời sống của người dân do bị mất tài sản và nguồn thu nhập trong quá trình phát triển dự án gây ra, bất kể có phải di chuyển hay không và các chương trình nhằm khôi phục cuộc sống của họ TĐC bao hàm cả việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất TĐC theo nghĩa hẹp là quá trình di chuyển người dân đến nơi ở mới
Theo cách tiếp cận của các tổ chức quốc tế như WB hay ADB, TĐC được hiểu là tất cả những biện pháp của các bên liên quan (bao gồm cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp và người dân) được tiến hành để đảm bảo/khôi phục đời sống
KT, XH của người dân TĐC khi thực hiện các dự án phát triển
Theo Từ điển Tiếng Việt: TĐC là đến một nơi nhất định để sinh sống lần thứ hai (lại một lần nữa).[41]
Theo quan niệm của pháp luật, mặc dù thuật ngữ TĐC được pháp luật đất đai
đề cập nhưng lại chưa có quy định nào giải thích cụ thể nội hàm của khái niệm này Luật Đất đai (2003) quy định: “UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập và thực hiện các dự án TĐC trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở… Trường hợp không có khu TĐC thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước đối với khu vực đô thị; bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn…" (khoản 3 Điều 42) [24]
Từ quy định của pháp luật về đất đai, có thể thấy khái niệm về TĐC như sau: TĐC là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chuẩn bị nơi ở mới đáp ứng đầy
Trang 30đủ các điều kiện do pháp luật quy định cho người bị Nhà nước thu hồi đất ở để giúp
họ nhanh chóng ổn định cuộc sống TĐC là di chuyển và thay đổi cuộc sống của con người, không chỉ là quá trình chuyển dịch vật chất, mà còn là quá trình cắt bỏ các quan hệ cũ và tạo lập các quan hệ mới Như vậy, theo cách hiểu của hệ thống luật pháp ở Việt Nam, việc chuẩn bị nơi ở mới (hạ tầng khu TĐC, nhà TĐC…) là
do cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm Cách tiếp cận như vậy đã ảnh hưởng đến việc ban hành cơ chế chính sách, đến quá trình triển khai thực hiện các dự án TĐC
ở Việt Nam
Theo một cách tiếp cận khác, TĐC là quá trình bồi thường các thiệt hại về đất đai và tài sản gắn liền với đất, chi phí di chuyển, ổn định và khôi phục cuộc sống cho những NBAH để thực hiện các dự án phát triển TĐC còn bao gồm hàng loạt các hoạt động nhằm hỗ trợ cho NBAH do việc thực hiện dự án gây ra, nhằm khôi phục và cải thiện mức sống, tạo điều kiện nhằm phát triển những cơ sở kinh tế, văn hóa và xã hội TĐC nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về các mặt KT, XH đối với một bộ phận dân cư phải di chuyển nơi ở vì sự phát triển chung Theo cách tiếp cận này, các dự án TĐC cũng được coi là dự án phát triển và phải được tiếp cận, thực hiện như các dự án phát triển khác Hiện nay, ở một số quốc gia, họ nhìn nhận TĐC như là cơ hội để phát triển chứ không phải là trở ngại trong quá trình phát triển Khi thực hiện các dự án TĐC, một mặt cần vận dụng tối đa hệ thống các văn bản pháp lý của nhà nước, mặt khác cũng cần đổi mới cách tiếp cận khi thực hiện
dự án với mục đích hướng tới sự phát triển, mang lại lợi ích về KT, XH, môi trường
và phát triển bền vững
Như vậy, TĐC được hiểu là quá trình bồi thường về đất đai và các tài sản trên đất, di dân đến nơi ở mới cùng các biện pháp hỗ trợ, tái tạo lại các thiệt hại về
vật chất và tinh thần của người dân, và cuối cùng là toàn bộ các chương trình, biện
pháp nhằm khôi phục lại và ổn định đời sống KT, XH
Nói cách khác, TĐC chính là quá trình từ lập kế hoạch thực hiện các dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị và hạ tầng xã hội, triển khai thực hiện GPMB, thu
Trang 31hồi đất, tổ chức bồi thường, hỗ trợ và di dời TĐC cho người dân từ nơi ở cũ đến nơi
ở mới Như vậy, TĐC gồm hai quá trình riêng biệt nhưng có quan hệ chặt chẽ với
nhau: di dời và xây dựng lại cuộc sống của NBAH Do đó, TĐC mang tính phức tạp, thể hiện ở sự phong phú, đa dạng của các dự án trên thực tế khiến cho mục tiêu thực hiện tốt công tác này là một nhiệm vụ đầy khó khăn và ngày càng trở thành nhân tố trọng yếu trong thực hiện các dự án phát triển
2.1.2 Các khái niệm về GPMB, đền bù, bồi thường và hỗ trợ
Khi nghiên cứu về TĐC, không thể không đề cập đến những vấn đề GPMB, đền bù, hồi đất để có cái nhìn toàn diện và cụ thể hơn GPMB vừa là tiền đề trực tiếp vừa là nguyên nhân của TĐC, là hệ quả tất yếu từ nhu cầu cần thiết phải xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển công nghiệp, hệ thống thủy lợi, đường cao tốc, sản xuất điện, phát triển đô thị, xây dựng bệnh viện, trường học, sân bay Không thể phủ nhận vai trò của những dự án phát triển, chúng giúp cải thiện cuộc sống của người dân, cung cấp việc làm và dịch vụ Nhưng việc cưỡng ép GPMB do thực hiện các dự án như thế sẽ tạo ra các áp lực lên bộ phận dân cư Chúng gây nên
sự hạn chế các quyền của người dân bởi sự can thiệp của nhà nước dẫn đến những
hệ quả xấu hơn đối với người dân bị ảnh hưởng [51]
Dưới một góc độ nào đó, GPMB là kết quả của việc ban hành các văn bản pháp lý về thu hồi đất đai, trong khi bản thân quá trình GPMB lại không có các khung pháp lý điều chỉnh nó Khi hệ thống pháp luật bao giờ cũng bảo vệ những quyền về đất đai, nhưng trên thực tế, nhiều văn bản pháp lý đó không được thực hiện một cách đầy đủ đối với những NBAH [84]
3.1.2.1 Giải phóng mặt bằng
Theo M Cernea (2003) “GPMB chính là người bạn đồng hành tồi tệ của quá trình phát triển” Mặc dù luận điểm này còn nhiều tranh cãi nhưng người ta đã chứng minh rằng, trong nhiều dự án phát triển cơ sở hạ tầng, các dự án phúc lợi xã hội như công viên, trường học, bệnh viện… đã buộc phải tiến hành GPMB trên phạm vi lớn, người dân bị di dời và mất đất và chịu đối mặt với rất nhiều hiệu ứng
Trang 32phát sinh từ GPMB Việc GPMB không tự nguyện đã được coi là vấn đề mang tính
KT, XH, đạo đức và chính trị sâu sắc
Về khái niệm GPMB, dưới giác độ nào đó, là sự di dời của dân cư từ nơi cư trú bình thường đến các vùng khác Việc di chuyển thường là bắt buộc mà không tính đến các hiện tượng thiên tai Vấn đề này không chỉ mang tính nội bộ trong từng quốc gia mà mang tính toàn cầu, là phạm trù vĩnh viễn, mặc dù vẫn có khả năng người dân có thể trở lại nơi ở cũ có thể tồn tại trong một vài trường hợp [43]
Theo quan niệm ở Việt Nam, GPMB là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc giải tỏa, di dời nhà cửa, cây cối, công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng mới công trình
Theo Leopoldo Jose Bartolome (2010), có hai loại hình GPMB Đó là GPMB không tự nguyện (cưỡng chế) và GPMB do thiên tai xảy ra [84] Theo Alex
de Sherbinin, Marcia Castro and Francois Gemenne (2010) thì có 3 hình thức/ loại hình GPMB như sau:
(1) GPMB ở những dự án quy mô lớn: Đó là các dự án về trồng trọt vùng nguyên liệu, xây dựng các hồ đập thủy điện cực lớn như dự án trồng nhiên liệu sinh học ở Brasil hay dự án đập thủy điện Tam Hiệp ở Trung Quốc… Các dự án này gây
ra một lượng cực lớn diện tích đất phải giải tỏa, phải di dời hàng triệu người dân
(2) GPMB ở những dự án phát triển cơ sở hạ tầng: Các chính phủ hiện nay đang tích cực thực hiện các dự án phát triển cơ sở hạ tầng để phát triển Hàng loạt người phải đối mặt với các phương án di dời bắt buộc và sẽ được bố trí TĐC ở những nơi ở mới
(3) GPMB ở những khu vực nguy hiểm, thiên tai, dịch bệnh: Có những khu vực cần phải GPMB, di dời người dân ra khỏi nơi ở cũ hoặc bị bắt buộc phải tiến hành giải tỏa để đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản khi có những sự kiện ngoài
dự kiến xảy ra…[43]
Trang 33Ở Việt Nam, hệ thống pháp luật đất đai hiện hành có quy định về các hình thức GPMB phục vụ các dự án sản xuất, kinh doanh và GPMB phục vụ các dự án phát triển hạ tầng, phục vụ lợi ích công cộng Quá trình GPMB được tính từ khi bắt đầu hình thành hội đồng GPMB đến khi giải phóng xong mặt bằng và giao chủ đầu
tư mới Đây là một quá trình phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia và của cả xã hội Công tác GPMB mang tính quyết định đến tiến độ của dự án, là khâu đầu tiên của toàn bộ dự án, trong đó, đền bù thiệt hại là khâu quan trọng quyết định tiến độ GPMB
3.1.2.2 Đền bù, bồi thường, hỗ trợ và thu hồi đất
a) Đền bù: Đền bù là khái niệm dùng để chỉ sự đền đáp lại những thiệt hại do
hoạt động của chủ thể gây ra Trong phạm vi nghiên cứu về GPMB, TĐC đền bù là khái niệm chung, dùng để chỉ tập hợp các chính sách về bồi thường, hỗ trợ và TĐC
Từ điển tiếng Việt: “Đền bù có nghĩa là trả lại đầy đủ hoặc tương xứng với mất mát và sự vất vả” Hiểu như vậy có nghĩa là: Không phải mọi khoản đền bù đều bằng tiền; Sự mất mát của người bị thu hồi đất không chỉ thiệt hại về vật chất mà nhiều trường hợp còn mất mát về cả tinh thần, nhất là khi phải di dời, TĐC; về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế và vẫn đòi hỏi sự hy sinh; không chỉ là một sự đền bù ngang giá tuyệt đối.[41]
Theo một cách tiếp cận khác, đền bù là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao Trong các quan hệ trao đổi lợi ích, có một nguyên tắc cần được tuân thủ: nguyên tắc sòng phẳng và công bằng Áp dụng nguyên tắc này, để loại trừ một lợi ích chính đáng trong khuôn khổ giải quyết xung đột lợi ích bằng pháp luật, thì nhóm
có lợi ích được bảo vệ phải “mua lại” lợi ích bị loại trừ với giá cả hợp lý
b) Bồi thường: Ở hầu hết các quốc gia, việc bồi thường được nhà nước sử
dụng như là công cụ tài chính để thực hiện giải tỏa, di dời và TĐC Về mặt lý thuyết, bồi thường, bồi hoàn thiệt hại là khái niệm có thể bù đắp những gì bị tước đoạt cả về vật chất lẫn tinh thần, tước quyền sở hữu và bần cùng hóa kinh tế khi tổ chức GPMB, TĐC Trên thực tế, bồi thường hay bị gây hiểu nhầm cho rằng khó có
Trang 34thể thực hiện được việc bồi thường làm phục hồi được những gì vốn dĩ đã có trước
đó và những khoản bồi thường thường không hiệu quả Thực tế cho thấy có rất nhiều dự án mà bồi thường không làm phục hồi sinh kế mà còn làm cho NBAH có cuộc sống trở nên tồi tệ hơn Đây chính là thất bại của các dự án phát triển có liên quan đến GPMB ở các quốc gia đang phát triển, nơi có các khó khăn về nguồn lực tài chính [51]
M Cernea (2008) cho rằng việc bồi thường đất và tài sản khi tiến hành giải tỏa là hợp lý về khía cạnh kinh tế, bắt buộc về mặt pháp lý, và không thể thiếu trong các dự án phát triển Nhưng bản thân bồi thường không phải là tất cả những gì cần phải đạt được khi thực hiện dự án mà mục đích cuối cùng cần đạt phải là phục hồi sinh kế và cải thiện cuộc sống Bản thân bồi thường luôn tồn tại khoảng cách về tài chính so với thực tế giá trị tài sản nếu không tính tới các nguồn hỗ trợ khác [51]
Trong các nghiên cứu của Fernandes và Thukral (1989); McDowell (1996); Dreze và cộng sự (1997); Picciotto và cộng sự (2001); McDonald (2006); Jayawardene (2008) cho thấy bồi thường không bao giờ được coi là một khoản vốn đầu tư hay là một “lợi ích” đối với những NBAH mà thực tế nó chỉ đơn giản là phần
bù đắp (không đầy đủ) khi thực hiện giải tỏa, di dời cho NBAH
Trong các bài phê bình về lý thuyết bồi thường, M Cernea (1999, 2008) đã nghiên cứu khá chi tiết và sâu sắc khi ông cố gắng phản biện lại các học giả khác và
đề xuất với các nhà quản lý ở các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở Ấn Độ Các khoản bồi thường tiếp tục bị mất hiệu lực, kém hiệu quả bởi tham nhũng và méo mó trong quá trình thỏa thuận Người nghèo không có được trong tay toàn bộ số tiền bồi thường cho tài sản của họ, có nghĩa là để hỗ trợ họ trong việc trở lại trên đôi chân của mình.[60, 61,62]
Bồi thường khi thu hồi đất và nhà đã trở thành một yếu tố thường xuyên trong các dự án phát triển Tuy nhiên, hiện nay, việc bồi thường đang bị biến dạng hoặc bóp méo Những NBAH luôn có thái độ chống lại những sự biến dạng về bồi
Trang 35thường và các nhà nghiên cứu và các chuyên gia đang có những nghiên cứu để chỉ trích về vấn đề này [78, 79]
Bồi thường thiệt hại cho tài sản bị mất bao gồm cả đất đai đã trở thành một trong những vấn đề xã hội chủ yếu liên quan TĐC không tự nguyện Ở hầu hết các nước, tài sản được xem xét trong tính toán bồi thường thường bao gồm đất đai, nhà cửa và cây trồng Brotoisworo (2000) và Akpan Udoedehe (2010) cho rằng tiền mặt/tiền bồi thường là cách thực hiện thông thường và việc bồi thường bao gồm việc thay thế các ngôi nhà ở nơi ở cũ bằng ngôi nhà ở nơi ở mới và các khoản thanh toán cho tài sản bị mất khác Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các phương tiện sinh kế của các gia đình bị ảnh hưởng lại bị bỏ qua Việc bồi thường có hiệu quả phải bao quát, bao gồm các vấn đề về sở hữu rõ ràng Các nhóm dễ bị tổn thương là đặc biệt các nhóm có khó khăn do TĐC, những người lấn chiếm đất và những gia đình có hoa màu và tài sản khác bị phá hủy do TĐC đều phải được bồi thường [3]
Theo Từ điển tiếng Việt: Bồi thường là sự “đền đáp trả” tất cả những thiệt hại mà chủ thể gây ra một cách tương xứng Thiệt hại có thể là thiệt hại về vật chất hoặc thiệt hại phi vật chất [42]
Theo WB, bồi thường là giá trị thanh toán bằng tiền mặt hoặc hiện vật để bù lại giá trị thiệt hại về đất đai, nhà cửa, thu nhập và tài sản khác do dự án gây ra Mọi trường hợp bồi thường đều dựa trên nguyên tắc giá chuyển đổi, là phương pháp định giá tài sản nhằm đền bù thiệt hại theo giá trị thị trường hiện tại, cộng với bất kỳ chi phí giao dịch nào như lệ phí, thuế, lệ phí trước bạ… Cần phân biệt bồi thường với bồi hoàn Bồi hoàn có thể được hiểu là sự hoàn trả lại những gì đã mượn đi, lấy
đi Ở Việt Nam, đây là khái niệm gắn với các mốc lịch sử của thời kỳ bao cấp khi
mà việc bồi thường về đất đai chưa đặt thành vấn đề trong quy hoạch Khác với bồi thường, khái niệm bồi hoàn không đòi hỏi mức độ chính xác tuyệt đối giữa tài sản lấy đi và tài sản hoàn lại Có một thời gian dài trong quá khứ, trong quan hệ đất đai, khái niệm này được hiểu song song với khái niệm hoán đổi đất - điều kiện rất chung chung sau khi thu hồi để sử dụng có thể tái lập cuộc sống tối thiểu Hiện nay, nhìn
Trang 36chung các văn bản pháp lý không còn dùng khái niệm này để điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, TĐC.[101]
c) Thu hồi đất: Khái niệm thu hồi đất lần đầu tiên được được thể hiện trong
các quy định ở Anh quốc vào năm 1824 khi mà các dự án phát triển hệ thống đường sắt trên khắp đất nước Theo luật pháp ở một số nước trước đây là thuộc địa của Anh quốc thì việc thu hồi đất cho phép chính phủ thu hồi đất của tư nhân trên địa bàn lãnh thổ của mình Khái niệm thu hồi đất để nhằm các mục đích công cộng được tiến hành bởi các cơ quan chính phủ, người dân sở hữu đất đai sẽ được hưởng một khoản đền bù trong khi đất đai sẽ thuộc về cơ quan của chính phủ
Theo WB, thu hồi đất là quá trình một cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp hoặc tổ chức tư nhân bị một đơn vị nhà nước yêu cầu trao một phần hoặc toàn bộ phần đất thuộc sở hữu của họ hoặc chiếm dụng quyền sở hữu và sử dụng của chính đơn vị nhà nước đó cho mục đích sử dụng công cộng sẽ được đền bù tương đương bằng giá thay thế cho phần tài sản bị ảnh hưởng
Theo các quy định hiện hành ở Việt Nam, thu hồi đất là việc cơ quan hành chính Nhà nước ra quyết định hành chính nhằm thu lại quyền sử dụng đất hoặc đất của tổ chức, cá nhân được giao trước đó theo các quy định của Luật đất đai Thực chất của việc thu hồi đất là việc chuyển đổi quyền sử dụng đất từ một chủ thể đang
sử dụng sang chủ thể khác
2.1.3 Đặc điểm, vai trò, bản chất và các hình thức TĐC
2.1.3.1 Các hình thức TĐC
Theo Mengistu (2005), TĐC có thể được phân chia thành TĐC không theo
kế hoạch (TĐC tự phát và tình trạng khẩn cấp) hoặc TĐC theo kế hoạch (TĐC tự nguyện và không tự nguyện) [88]
CÁC HÌNH THỨC TĐC
TĐC không theo Kế hoạch
TĐC theo Kế hoạch
Trang 37Hình 2.1: Các hình thức TĐC
Nguồn: Mengistu (2005)
TĐC tự nguyện là một quá trình mà người định cư sẵn sàng di chuyển đến nơi ở mới nếu những người định cư có đầy đủ thông tin về nơi ở mới, làm thế nào
họ được TĐC và tham gia vào việc lập kế hoạch và thực hiện chương trình, TĐC tự
nguyện có thể đạt được mục tiêu của họ
Mengistu (2005) cho rằng sự thành công của kế hoạch TĐC thường dựa trên trên sự sẵn có của các nguồn tài nguyên, điều kiện tốt về cơ sở hạ tầng, điều kiện môi trường thích hợp và quan trọng nhất là sự sẵn sàng của cộng đồng những NBAH [88]
TĐC theo kế hoạch là khái niệm được sử dụng khi những người tổ chức là các cơ quan chính phủ và các cơ quan viện trợ Các dự án TĐC đã được thực hiện với mục đích làm giảm áp lực dân số và thúc đẩy tích tụ ruộng đất và nông nghiệp trong vùng có mật độ dân số cao.[101]
Như vậy, Mengistu (2005) cho rằng các chương trình TĐC liên quan đến các
cơ quan chính quyền và quyền sử dụng và sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên Việc định cư vẫn thường xuyên được lên kế hoạch để phục hồi những ảnh hưởng bởi thiên tai, điều kiện khí hậu không thuận lợi hoặc xung đột chính trị [88] Những người khác gọi những người phải di dời do thiên tai địch họa như là người tị nạn
TĐC tự phát là những loại TĐC được thực hiện bằng sự di chuyển trong tuyệt vọng khỏi nơi ở cũ do các yếu tố phát sinh (khan hiếm đất, hạn hán, mất năng suất do suy thoái đất) đến các khu vực định cư mới có nhiều tiềm năng hơn để duy
trì sự sống.[88]
TĐC không tự nguyện TĐC khẩn cấp
Trang 38TĐC là việc kế hoạch di dân trực tiếp có sự can thiệp của chính phủ hoặc các nhà đầu tư nhằm di dời người dân đến một nơi nào đó được lựa chọn trước để TĐC cho người dân Sự lựa chọn có thể được thực hiện sau khi thảo luận với người dân
bị ảnh hưởng, nhưng cũng có thể được áp đặt lên họ TĐC cũng có thể liên quan
đến việc thanh toán của một số đền bù cho người dân bị ảnh hưởng.[43]
TĐC là tự nguyện hoặc không tự nguyện là việc di chuyển của con người từ nơi này (nơi ở cũ) đến nơi khác (đó là một khu định cư mới), và việc di chuyển này
là không phải không để lại hậu quả [42] Quá trình TĐC phải chịu những tác động
về các mặt ảnh hưởng đến sinh kế, môi trường sống mà con người buộc phải thích ứng hoặc chịu thiệt hại Trong quá trình di chuyển hoặc thích ứng quá trình, các đối tượng bị ảnh hưởng có thể phải đối mặt với những khó khăn về vật chất và tinh thần [88]
Theo Cernea (2000), các nghiên cứu xã hội học cho thấy ngày càng xuất hiện các vấn đề văn hóa xã hội, tỷ lệ tử vong cao và bệnh tật liên quan đến TĐC không
tự nguyện Trong các dự án TĐC không tự nguyện ở hầu hết các nơi trên thế giới đến hệ thống canh tác đã bị phá hủy, đất canh tác và mạng lưới hỗ trợ xã hội bị phá hủy làm cho các gia đình lâm vào nghèo đói và bần cùng Sự suy thoái đồng cỏ và ô nhiễm nguồn nước cũng bắt nguồn từ TĐC không tự nguyện [51] Ayanda (1988) thừa nhận rằng TĐC ảnh hưởng đến tổ chức và cơ cấu của thị trường địa phương, đây là một quan điểm khác biết so với các mô hình trước đó
Nếu tiếp cận về tính chất, yêu cầu, nguyện vọng của người dân, TĐC có thể được phân chia theo các tiêu chí sau:
- Xét theo hình thức, TĐC có các dạng: (i) Di dân vào vùng đô thị hóa; Chuyển dịch nội ngoại thành, bao gồm từ việc thực hiện các chương trình cải tạo đô thị cho tới việc chuyển dịch theo ý nguyện của người dân; (ii) TĐC tại chỗ khi thực hiện các dự án chỉnh trang khu dân cư;
- Xét theo yêu cầu, nguyện vọng của người dân cũng có nhiều mức độ: (i) TĐC tự phát: là việc mua bán đất và xây dựng trái phép không theo quy hoạch Do
Trang 39việc xây dựng trái phép ở khu vực không có hạ tầng, giá đất rẻ nên nhiều người có thu nhập thấp, trong đó có nhiều người thuộc diện giải tỏa từ các dự án nhận tiền bồi thường tự lo chỗ ở (ii) TĐC tự giác: là việc TĐC để thực hiện các dự án và người dân tự giác chấp hành kế hoạch và phương thức TĐC, kể cả việc tạo lập chỗ
ở mới ở các dự án phát triển nhà (iii) Cưỡng bức TĐC: thường là cưỡng bức giải tỏa và bố trí chỗ ở cho những người bị giải tỏa chưa được sự đồng thuận của họ Nhiều trường hợp không kiên quyết đã gây ra ách tắc cho đầu tư phát triển
- Xét về tính chất TĐC: (i) TĐC bắt buộc: để thực hiện các dự án phục vụ lợi ích chung Nhìn chung các quốc gia trên thế giới đều xác lập quyền ưu tiên của nhà nước trong việc thu hồi đất để thực hiện các dự án này ví lợi ích quốc gia (ii) TĐC
tự nguyện: thông thường trong các dự án cải tạo đô thị ở quy mô nhỏ, vì lợi ích trực tiếp của những người tham gia thực hiện dự án
Theo WB, TĐC bắt buộc/không tự nguyện là quá trình nâng cao hoặc tối thiểu là phục hồi thu nhập và mức sống của những người dân chịu tác động tiêu cực bởi GPMB TĐC bắt buộc bao gồm việc chi trả đền bù cho những tài sản bị mất mát, di chuyển người và tài sản, cùng các biện pháp phục hồi kinh tế khác giúp người dân ổn định và cải thiện cuộc sống
2.1.3.2 Vai trò của TĐC
Quá trình TĐC là quá trình tất yếu trong phát triển nói chung và trong quá trình chỉnh trang, cải tạo và phát triển đô thị nói riêng TĐC là nội dung quan trọng đang được quan tâm sâu sắc, đặc biệt trong bối cảnh chung về chính sách TĐC và các chính sách chỉnh trang, phát triển đô thị hiện nay đang diễn ra rất mạnh mẽ và nhanh chóng Ở những quốc gia đang phát triển, nhất là đang trong quá trình ĐTH trong bối cảnh phát triển toàn diện các lĩnh vực KT, XH và đô thị sẽ chịu tác động mạnh đối với vấn đề TĐC Nghiên cứu về vai trò của TĐC trong quá trình phát triển, có thể kể đến một số vai trò của TĐC như sau:
- TĐC có vai trò trong phát triển của quốc gia Ở các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, những dự án di dân quy mô lớn từ nông thôn đến thành thị, di
Trang 40dân đô thị để cải tạo, chỉnh trang, thực hiện các dự án phát triển diễn ra nhanh chóng trong những thập kỷ gần đây Khi thành phố trở thành nơi có những điều kiện tốt hơn hẳn về sinh kế đối với người dân thì việc người dân di cư/TĐC từ nông thôn đến thành thị là một hiện tượng khách quan, phổ biến Quá trình TĐC đóng vai trò như là một lực đẩy cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội, đô thị và môi trường
- TĐC có vai trò gắn liền với tái bố trí mục đích sử dụng đất Ở các nước đang phát triển, việc quy hoạch cải tạo và phát triển các đô thị để phục vụ quá trình CNH-HĐH và ĐTH là một nội dung tất yếu trong quá trình phát triển Trong quá trình ĐTH, các nội dung công việc bao gồm hai nội dung: quy hoạch cải tạo chỉnh trang đô thị cũ và quy hoạch phát triển các KĐT mới Khi thực hiện các quy hoạch này không tránh khỏi việc di dời, TĐC Do đó, việc bố trí lại, quy hoạch lại mục đích sử dụng đất là nội dung công việc gắn liền với quá trình TĐC, hay nói khác đi, vai trò của quá trình TĐC góp phần không nhỏ vào quá trình bố trí sử dụng đất
- TĐC ảnh hưởng đến năng suất lao động và đồng thời với nó là ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Ở khu vực nông thôn, TĐC có vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ TĐC tác động đến quá trình đào tạo và đào tạo lại đối với các đối tượng bị ảnh hưởng trong độ tuổi lao động Do đó, năng suất lao động trong nông nghiệp sẽ giảm nhưng năng suất lao động ở khu vực công nghiệp và đô thị sẽ tăng lên Ngoài
ra, ngay cả trong khu vực đô thị, việc thực hiện dự xây dựng hạ tầng, TĐC có vai trò tạo động lực cũng như tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân, trong đó có người dân TĐC
- TĐC có vai trò góp phần cải thiện đời sống người dân Việc nâng cao đời sống của người dân là mục tiêu cơ bản của mọi quốc gia trên thế giới Phương châm
cơ bản của công tác TĐC ở bất kỳ quốc gia nào cũng phải bảo đảm cuộc sống của người dân bằng hoặc hơn so với nơi ở cũ Mỗi người dân sẽ thường được hưởng lợi
từ hai nguồn: (i) từ sự đền bù trực tiếp khi thực hiện dự án; (ii) từ sự phát triển chung của đô thị do dự án mang lại, yếu tố này khó nhận thấy hơn vì khó có thể