1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

193 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu cần gắn kết với những vấn đề thời sự toàn cầunhư bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, toàn cầu hóa…,với chiến lược đổi mới toàn di

Trang 1

Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG

KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

TS Đoàn Đức Lân

Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tây Bắc

Tóm tắt: Bài báo chia sẻ các ý kiến về quan điểm xây dựng kế hoạch khoa học công nghệ, nhấn mạnh đến tính

phù hợp của kế hoạch với chiến lược phát triển và thực tiễn của Nhà trường, phù hợp với tính thực tiễn của ngành Giáo dục

và Đào tạo, của địa phương và khu vực trong bối cảnh đổi mới và toàn c ầu hóa Kế hoạch cũng cần chú ý đến tính khả thi

và đảm bảo sự tham gia của các giảng viên, cán bộ khi xây dựng kế hoạch Bài báo cũng tư vấn về các bước lập kế hoạch

và một số các công cụ có thể sử dụng, về một số hướng nghiên cứu phù hợp.

Nhà trường đang triển khai xây dựng kế hoạch năm học mới 2014 - 2015 Để tư vấn cho các đơn vị, cá nhân về hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, chúng tôi có một số ý kiến trao đổi như sau:

Từ khóa: Khoa học công nghệ, lập kế hoạch, sự tham gia.

1 Đặt vấn đề

Về quan điểm xây dựng kế hoạch: Kế hoạch cần phù hợp với chiến lược và định hướng pháttriển của Nhà trường Chúng ta đã và đang rất chú trọng đến việc nâng cao trình độ và năng lực của độingũ Đây là công việc có ý nghĩa rất quan trọng, mang t ính chất quyết định đối với sự nghiệp pháttriển Công tác đào tạo đội ngũ được thực hiện thông qua các khóa học dài hạn (sau đại học), các khóahọc, tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn, hoạt động tự học, tự bồi dưỡng, kể cả các hội nghị, hội thảo khoahọc, seminar chuyên môn, thảo luận đánh giá giờ giảng dạy…Đối với các khóa học đại học, sau đạihọc, sinh viên và học viên thường kết thúc khóa học bằng việc báo cáo luận văn, luận án - kết quả củathực hiện một đề tài nghiên cứu tốt nghiệp Trong quá trình xây dựng và t ổ chức thực hiện đề tàinghiên cứu khoa học ở các cấp (cấp cơ sở, cấp Bộ, Tỉnh…) các chương trình và dự án hợp tác, chúngtôi thấy rằng một trong những yêu cầu về hiệu quả của các nhiệm vụ khoa học công nghệ cần đạt được

là hiệu quả về đào tạo Điều đó có nghĩa là việc gắn kết công tác đào tạo cán bộ với các chương trình,

dự án, đề tài nghiên cứu khoa học không chỉ được khuyến khích, mà là yêu cầu đặt ra khi sử dụng cácnguồn lực khoa học công nghệ

2 Nội dung nghiên cứu

Nâng cao chất lượng đào tạo nguồ n nhân lực, phát triển khoa học công nghệ không chỉ lànhiệm vụ của một nhà trường, mà ở tầm quốc gia thì đó là quốc sách, như Đảng ta từng khẳng định:

"Giáo dục đào tạo và khoa học côn g nghệ là quốc sách hàng đầu" Nhiều nước phát triển, trong đó cócác nước châu Á không quá xa xôi với Việt Nam, đã đạt được sự tiến bộ vượt bậc là nhờ thực hiệnchiến lược đúng đắn về phát triển nguồn nhân lực Nước Singapore nhỏ bé, với nền tảng ban đầu lànhững làng chài ven biển lạc hậu, khan hiếm tài nguyên đã trở thành con rồng châu Á: thu nhập bìnhquân đầu người đứng thứ 3 trên thế giới, trở thành trung tâm tài chính thứ 4 thế giới Điều khiến quốcgia nghèo tài nguyên này đạt được những thứ hạng như vậy, chính là yếu tố con người, là trí tuệ, sựphát triển nền kinh tế dựa trên tri thức (4) Người Nhật Bản thường cúi mình rất thấp khi chào nhau,nhưng đằng sau vẻ khiêm nhường ấy tiềm ẩn một sức mạnh vô biên để vươn lên trước thiên nhiênkhắc nghiệt, tài nguyên nghèo nàn, thảm họa nguyên tử, để vươn lên tiếp thu và phá t triển khoa họccông nghệ với ý chí, lòng tự tôn dân tộc, tinh thần võ sĩ đạo (Bushido) và nền tảng văn hóa với nhữngnét đẹp như ngọn núi Phú Sĩ và hoa Anh đào ! Có thể nói, chính con người là nhân tố hàng đầu quyếtđịnh sự phát triển

Trang 2

Phương châm đào tạo của Nhà trường cũng chú trọng đến nâng cao chât lượng thực hành, bêncạnh đảm bảo kiến thức lý thuyết Do vậy, hoạt động khoa học công nghệ cũng cần gắn kết với thựctiễn của ngành, của địa phương và khu vực Nhiều giảng viên đã khẳng định rằng nếu kết q uả của cácnghiên cứu khoa học trong thực tiễn được phản ánh vào bài giảng, thì giờ dạy sẽ có sức hấp dẫn, sinhđộng, lôi cuốn người học hơn Các chủ điểm nghiên cứu cần liên quan mật thiết với đổi mới chươngtrình, đào tạo, với phương pháp giảng dạy đặc t hù của các Khoa, Bộ môn, liên quan mật thiết với họcphần giảng dạy của các giảng viên Các nghiên cứu cần gắn kết với những vấn đề thời sự toàn cầu(như bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, toàn cầu hóa…),với chiến lược đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo, với thực tiễn của các tỉnh Tây Bắc và chiến lượcphát triển bền vững kinh tế - xã hội của Quốc gia và khu vực.

Kế hoạch khoa học công nghệ cũng cần đảm bảo tính khả thi, trên cơ sở phân tích khách quanđặc điểm tình hình của đơn vị về đội ngũ giảng viên, cán bộ, các lĩnh vực hoạt động, nguồn lực về tàichính và cơ sở vật chất (phòng thí nghiệm, khu thực nghiệm, các thiết bị, phương tiện, tài sản liênquan), phân tích những cơ hội và thách thức trong thực tế

Để đảm bảo nguồn lực cho các hướng nghiên cứu dài hạn, chuyên sâu, việc thiết kế và đề xuấtcác nhiệm vụ khoa học công nghệ cần chú ý kế thừa các hoạt động nghiên cứu trước đó Mỗi côngtrình nghiên cứu, khi kết thúc sẽ còn nhiều vấn đề mở ra, còn những cô ng việc dang dở Nhiều nhàkhoa học đã dành trọn thời gian làm việc trong cuộc đời để theo đuổi một công trình, một hướngnghiên cứu và dù trải qua nhiều khó khăn, họ cũng đóng góp cho kho tàng tri thức của chúng ta nhữngphát hiện thú vị Nếu chúng ta thay đổi quá nhiều chủ điểm nghiên cứu, sẽ khó thu được những kết quảchuyên sâu, nhất là hiện tại điều kiện nghiên cứu của chúng ta còn nhiều hạn chế

Việc huy động sự tham gia của toàn bộ giảng viên, cán bộ trong việc xây dựng kế hoạch là rấtcần thiết để phát huy trí tuệ tập thể, đảm bảo tính phù hợp thực tiễn, sáng tạo và khả thi của kế hoạch

Với kinh nghiệm đã được JICA tập huấn tại Việt Nam và Nhật Bản về quản lý chu trình dự án(PCM - Project Cycle Management), chúng tôi cho rằng việc xác định rõ rệt các đầu vào, thiết kế các hoạtđộng cụ thể kèm theo kế hoạch thời gian, chỉ ra các đầu ra (kết quả) cần đạt được - là rất cần thiết (2)

2.1 Tư vấn về các bước để xây dựng kế hoạch

Trước hết, chúng ta cần đánh giá được thực trạn g hoạt động khoa học, công nghệ của đơn vị,xác định những thành công đạt được và những điểm còn tồn tại, hạn chế, phân tích những nguyên nhânnhân của thành công và hạn chế, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức Phân tíchSWOT sẽ là một công cụ hiệu quả có thể s ử dụng

Công việc tiếp theo là rà soát các văn bản về đường lối, văn bản pháp quy, quy định, kế hoạch, chiếnlược, chương trình phát triển khoa học, công nghệ của Trung ương, địa phương và của Nhà trường (1)

Nếu điều kiện cho phép, có thể tổ chức các chuyến thăm quan, học tập, tham khảo kinh nghiệm,thành tựu của các Trường Đại học, Học viện, Viện, Trung tâm nghiên cứu và các đối tác liên quan

Tiến hành khảo sát thực tiễn tại một số địa phương Tây Bắc để xác định phương hướng, chủđiểm cần thực hiện các nghiên cứu (khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học giáo dục,khoa học công nghệ), các hoạt động công nghệ, phù hợp với đặc thù của Nhà trường, của địa phương

và khu vực

Trang 3

Trong điều kiện ngân sách hạn hẹp, các cuộc thăm quan, học tập, khảo sát thực tế không thựchiện được thì chúng ta có thể tìm hiểu qua các nguồn tài liệu, bằng các phương tiện thông tin như sửdụng internet, trao đổi qua mail, khai thác website, kết hợp các chuyến công tác…

Dựa vào kết quả của các hoạt động nêu trên, chúng ta xác định các vấn đề, chủ điểm, các hoạtđộng khoa học công nghệ cần thực hiện Phân tích cây vấn đề và cây mục tiêu cũng là các công cụ trợgiúp hiệu quả Các kết quả dự kiến đạt được (đầu ra) cần được xác định bằng các chỉ số cụ thể

Dự thảo kế hoạch cần được thông qua hội thảo lấy ý kiến của các giảng viên cán bộ trong đơn

vị, nếu điều kiện cho phép có thể ý kiến tư vấn của các chuyên gia, đối tác liên quan

Các đơn vị xem xét, căn cứ vào đặc điểm tình hình của đơn vị để lựa chọn các nội dung màchúng tôi tư vấn, vận dụng linh hoạt cho phù hợp với thực tiễn

2.2 Tư vấn một số hướng nghiên cứu khoa học

Đổi mới toàn diện nền giáo dục bao hàm đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảngdạy, đổi mới phương thức quản lý giáo dục Các nghiên cứu kh oa học sư phạm cần tập trung theohướng này nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ các thầy cô giá o tương lai Do vậy việc nghiêncứu đổi mới chương trình, nội dung, sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy ở các bậc học phổthông cũng rất cần thiết

Đối với các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học kinh tế và công nghệ, cầnchú ý đến định hướng phát triển bền vững cho khu vực Tây Bắc, tức là cải thiện cuộc sống của ngườidân, phát triển kinh tế địa phương, gắn liền với bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên, môi trường.Định hướng phát triển kinh tế của tỉnh Sơn La trong thời gian tới là đẩy mạnh phát triển sản xuât nôngnghiệp bền vững và du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Tây Bắc với diện tích đất tự nhiên rộng, tàinguyên phong phú và sự đa dạng bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc - là không gian tiềm năngcho các nghiên cứu nông lâm nghiệp, nghiên cứu văn hóa và phát triển cộng đồng

3 Kết luận

Tây Bắc là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội , an ninh quốcphòng của đất nước Tây Bắc luôn thu hút được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước, của cácban, ngành, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, các địa phương trong cả nước và bạn bè quốc tế (3).Chúng ta có nhiều thuận lợi trong việc phấn đấu trở thành một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực,nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ cho, khẳng định vị thế của Nhà trường trong bối cảnhđổi mới và hội nhập

Việc xây dựng kế hoạch khoa học công nghệ phù hợp và sự nỗ lực, chủ động, kiên nhẫn, s ángtạo để tổ chức thực hiện kế hoạch đó - sẽ giúp chúng ta có thêm những thành tựu, đạt được nhiều hơnnữa các sản phẩm có giá trị khoa học và thực tiễn, góp phần thực hiện thành công kế hoạch năm họcmới của Nhà trường

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư số 22/2011/TT-BGDĐT ngày 30/5/2011 về nội dung hoạt động khoa học công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học.

[2] Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), 2007 Tài liệu tập huấn Quản lý Chu trình Dự án [3] Đoàn Đức Lân, 2014 Bài viết: "Nỗ lực vì sự phát triển vùng Tây Bắc" Website: utb.edu.vn.

Nguồn: ng-ta-y-ba-c/

Trang 4

http://www.utb.edu.vn/index.php/2013-05-25-09-32-25/news/428-na-la-c-va-sa-pha-t-tria-n-va-[4] Công ty tư vấn du học ASCI, 2014 Giáo dục Singapore phát huy tiềm năng con người.

Nguồn: 2940560.html/16/1/2004/

http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/du-hoc/giao-duc-singapore-phat-huy-tiem-nang-con-nguoi-SOME IDEAS ON PLAN-MAKING OF SCIENTIFIC

AND TECHNOLOGICAL ACTIVITIES

Dr Doan Duc Lan

Vice-rector, Tay Bac University

Abstract: This paper presents the author’s viewpoint towards plan-making of scientific and technological

activities and emphasizes on feasibility of the plan in relation to the university’s strategic directions and practices, regional and local education in the context of renovation and globalization Some guidelines are also proposed so that plan-makers can base on to make the plan more workable and well-participated by lecturers The paper also recommends some necessary steps for the plan-making, the needed tools, and some possible research directions in the future.

Từ khóa: Sciencetific and technological, plan-making, participated.

Trang 5

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA NÔNG NGHIỆP BẢO TỒN VÀ KHẢ

NĂNG ỨNG DỤNG CHO VÙNG TÂY BẮC VIỆ T NAM

ThS Nguyễn Hoàng Phương

Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Nông Lâm nghiệp

Tóm tắt: Nông nghiệp bảo tồn sử dụng năng lượng sinh học không làm hại đến môi trường nhờ lớp phủ thực vật

và các chức năng nông học chính được đảm bảo Kỹ thuật này khắc phụ c các trở ngại nông học, giúp các nhà nông học chủ động giải quyết nguyên nhân, chứ không phải triệu chứng của các vấn đề Tuy nh iên, để thực hiện được chúng ta cần đảm bảo duy trì một ngưỡng sinh khối cần hoàn trả cho đất tối thiểu để hệ thống Nông nghiệp bảo tồn vận hành hiệu quả đồng thời cần đạt được một sự chênh lệch lớn giữa “sinh khối hoàn trả cho đất - sinh khối mất đi” ngay trong những năm đầu tiên Để áp dụng nông nghiệp bảo tồn cho vùng cao Tây Bắc Việt Nam cần giải quyết triệt để các vấn đề về kỹ thuật làm đất, diện tích đất sử dụng cho sản xuất, lựa chọn đúng đối tượng cây trồng chính và cây trồng xen đồng thời truyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về nông nghiệp bảo tồn.

Từ khóa: Nông nghiệp bảo tồn, che phủ, sinh thái, sinh khối, bơm sinh học, Tây Bắc

1 Đặt vấn đề

Một số đặc điểm nổi bật của Nông nghiệp bảo tồn: Kỹ thuật gieo thẳng trên lớp phủ thực vậtthường xuyên lấy ý tưởng từ hệ sinh thái tự nhiên, không làm đảo lộn đất mà thậm chí còn thâm canhđất Như vậy, hoạt tính của chất hữu cơ trong Nông nghiệp bảo tồn gần giống trong hệ sinh thái tựnhiên và các sinh vật sống của đất đóng một vai trò quan trọng Nhìn chung, việc sử dụng hàng loạtnăng lượng công nghiệp phục vụ canh tác của nền nông nghiệp truyền thống được thay thế bằn g việc

sử dụng năng lượng canh tác sinh học không làm hại đến môi trường

Việc quản lý các hệ thống Nông nghiệp bảo tồn dựa trên mô hình vận hành tổng hợp của hệsinh thái trồng trọt Trước tiên, thông qua sản lượng và mức độ hoàn trả sinh khối cao, việc q uản lýnày có mục đích là tăng tỷ lệ chất hữu cơ của đất (và duy trì tỷ lệ ở mức cần thiết) và tăng hoạt tínhsinh học (cường độ và đa dạng sinh học) vốn là hai yếu tố cơ bản cho sự vận hành hiệu quả của Nôngnghiệp bảo tồn và thực hiện các chức năng bổ tr ợ khác nhau:

- Tích trữ, huy động và điều tiết các dòng chất dinh dưỡng và nước;

- Điều hòa các bất thường về thời tiết;

- Phòng chống dịch hại, v.v

Như vậy, các chức năng nông học chính được đảm bảo trước tiên là nhờ sự đa dạng chức năngsinh học trong các hệ thống (điều mà các hệ thống truyền thống đã đánh mất) Với mục đích là đảmbảo sản lượng các cây trồng chính (để đáp ứng nhu cầu của người nông dân và các đòi hỏi của thịtrường), các hệ thống này bao gồm cả các cây che phủ được lựa chọn để đảm nhiệm các chức năngsinh thái hệ cơ bản (làm tơi xốp đất, tuần hoàn và huy động các chất dinh dưỡng, kiểm soát cỏ dại vàcôn trùng có hại, v.v.)

Hơn nữa, phương thức vận hành của các hệ thống Nông nghiệp bảo tồn giúp cho tác động tớimôi trường của các “hành vi sai lầm” (bón nhiều phân hóa học hoặc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật saiquy định) được hạn chế nhờ lớp phủ thực vật và hoạt tính sinh học, ngược lại so với các hệ thống truyềnthống mà trong đó việc sử dụng thái quá các chất nêu trên thường dẫn đến tình trạng ô nhiễm cao

Các hệ thống cây trồng trong Nông nghiệp bảo tồn được thiết kế và làm phù hợp để khắc phụccác trở ngại nông học chính đã được xác định và xếp theo thứ tự ưu tiên Chúng chủ động giải quyếtnguyên nhân, chứ không phải triệu chứng của các vấn đề thông qua việc bảo vệ (phòng ngừa) và phụchồi (điều trị) đất đai và sự cân bằng sinh thái Hơn nữa, chúng còn cung cấp một số dịch vụ sinh thái

Trang 6

hệ, đặc biệt với một tác động rất tích cực trong lĩnh vực lưu giữ cacbon và giảm khí gây hiệu ứng nhàkính (trong khi các hệ thống truyền thống lại “làm mất” cacbon).

Các hệ thống Nông nghiệp bảo tồn “sung sức” nhất là các hệ thống có khả năng đảm bảo cácchức năng sinh thái hệ trong những điều kiện thực hiện khác nhau Người ta cũng tìm cách biến các h ệthống này càng bền

nghiệp bảo tồn được

điều chỉnh phải hài

hòa với điều kiện

của các nông hộ, với

các hạn chế và các

phương tiện của người nông dân, và tài sản của họ, trong một bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể (nhu cầu

và cơ hội của thị trường, hạn chế rủi ro, v.v)[1]

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Điều kiện triển khai các hệ thống Nông nghiệp bảo tồn

Các hệ thống Nông nghiệp bảo tồn chủ yếu dựa vào chất lượng và khối lượng của sinh khốiđược sản xuất và hoàn trả cho lớp phủ và cho đất (sinh khối bề mặt và rễ) Chất lượng sinh khối có vaitrò trong các dạng chức năng sinh thái hệ cần thực hiện, trong khi khối lượng lại ảnh hưở ng trực tiếptới cường độ của các chức năng này Tồn tại một ngưỡng sinh khối cần hoàn trả cho đất, nếu đạt hoặcvượt ngưỡng này thì các hệ thống Nông nghiệp bảo tồn sẽ vận hành hiệu quả, dưới ngưỡng này thìchúng sẽ vận hành kém Ngưỡng này tương ứng với khối lượng chất hữu cơ được khoáng hóa Nó thayđổi chủ yếu tùy theo khí hậu, chất lượng sinh khối, đất và phương thức quản lý đất (cày cuốc haykhông) Nếu sự cung cấp cao hơn ngưỡng này, đất (và cây trồng) sẽ hưởng lợi từ chúng theo tỷ lệ

thuận với hiệu số “sinh khối hoàn trả - sinh khối mất đi do khoáng hóa”.

Ngược lại, các hệ thống với mức hoàn trả chất hữu cơ thấp hơn khối lượng đã mất đi (trườnghợp của các hệ thống có sản lượng sinh khối thấp và/hoặc khai thác quá mức, đặc biệt là để làm thức

ăn gia súc) không cho phép duy trì bền vững định mức chất hữu cơ của đất Chúng chỉ có thể làmchậm sự suy thoái của đất và đảm nhiệm một vài chức năng nông học, điều này sẽ hạn chế hiệu quả vàlợi ích của chúng Thông thường, các hệ thống này được xếp vào trong một thuật ngữ chung là nôngnghiệp bảo tồn, chúng không cho phép duy trì một lớp phủ thực vật thường xuyên Vì vậy, chúngkhông đáp ứng được định nghĩa về kỹ thuật gieo thẳng trên lớp phủ thực vật thường xuyên vốn là mộtdạng đặc biệt của nông nghiệp bảo tồn (và dạng này cung cấp rất nhiều hệ thống khác nhau, dựa trênmột số nguyên tắc cần tuân thủ)

Trang 7

Để nhanh được hưởng lợi từ tác động của cá c thực hành Nông nghiệp bảo tồn , cần đạt được

một sự chênh lệch lớn giữa “sinh khối hoàn trả cho đất - sinh khối mất đi” ngay trong những năm đầu

tiên sau khi triển khai các hệ thống Nông nghiệp bảo tồn Sự chênh lệch lớn sẽ cho phép các hệ thốngnày thực hiện các chức năng sinh thái hệ của chúng, và dẫn đến sự cải tạo nhanh đất đai và sự phục hồicân bằng sinh thái Sự cải thiện này sẽ tạo thuận lợi để đạt được sản lượng sinh khối cao và cho phéptiếp tế dễ dàng cho “máy bơm” của các hệ thống Nông nghiệp bảo tồn trong những năm tiếp theo

Trên đất nghèo kiệt, việc thu được sản lượng sinh khối cao trong những năm đầu đượ c thựchiện thông qua sự phục hồi độ phì bằng phân bón (hữu cơ hoặc vô cơ), hun đất và/hoặc sử dụng cáccây che phủ có khả năng sản xuất sinh khối cao trên đất có độ phì kém Đất càng suy thoái thì việc

“khởi động” các hệ thống Nông nghiệp bảo tồn càng khó, càng lâu và/hoặc tốn kém

Dưới một mức độ suy thoái nhất định thì việc triển khai Nông nghiệp bảo tồn không mang lạihiệu quả kinh tế trong những năm đầu và cần có sự đầu tư Ngược lại, trong rất nhiều bối cảnh nôngnghiệp, sự đa dạng cao của các hệ thống và của các quy trình kỹ thuật trong Nông nghiệp bảo tồn cho

phép thích ứng với đa số các tình hình kinh tế - xã hội Nó cho phép đề xuất các hệ thống có hiệu quả

kinh tế, bền vững và có lợi, phù hợp với điều kiện và có mức độ rủi ro có thể chấp nhận đ ược đối vớicác dạng nông hộ khác nhau Tuy nhiên, sự đa dạng của các hệ thống và lợi ích của chúng, cũng nhưmức độ dễ triển khai của chúng, phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện tự nhiên (khí hậu, đất đai, v.v.)

và kinh tế - xã hội (hệ thống nông nghiệp, hệ thống chăn nuôi, điều kiện thị trường, các quy tắc cộng

đồng, v.v.) Nếu môi trường càng ít bị hạn chế (không gian và các phương tiện sẵn có, sức ép lên sinhkhối thấp, v.v.) thì khả năng cải thiện càng cao, với các hệ thống dễ quản lý Ngược lại, nếu môitrường càng bị hạn chế (sức ép lên sinh khối cao, tiềm năng sản lượng thấp, các phương tiện bị hạnchế, v.v.) thì càng phải cẩn trọng để lựa chọn cá c hệ thống Nông nghiệp bảo tồn và phương thức quản

lý phù hợp[1]

2.2 Khả năng ứng dụng Nông nghiệp bảo tồn tại vùng Tây Bắc Việt Nam

2.2.1 Mức độ đáp ứng và giải pháp về đất canh tác và cây trồng

Đất canh tác vùng cao Tây Bắc Việt Nam đa phần là đất dốc với diện tích khoảng 284.345 ha,trong đó 75% là đất đang bị suy thoái nghiêm trọng do phương thức canh tác truyền thống của người

dân là phát - đốt.

Đây là khó khăn lớn cho các hệ thống Nông nghiệp bảo tồn vì thời gian để xây dựng hệ thống

sẽ lâu dài hoặc tốn kém chi phí ban đầu cho việc cải tạo đất Như vậy một số giải pháp có thể áp dụngcho vùng Tây Bắc là:

- Dừng việc đốt nương, tiến hành phát dọn nương nhưng không đốt;

- Chuyển dịch ngay diện tích đất còn tốt, đất mới khai hoang sau bỏ hóa sang canh tác theohướng nông nghiệp bảo tồn để giảm thời gian và công sức cải tạo đất;

- Áp dụng kỹ thuật canh tác không làm đất hoặc làm đất tối thiểu ;

- Bỏ hóa diện tích đất canh tác đã bị thoái hóa để phục hổi lại sức sản xuất của đất ;

- Tăng cường thâm canh đất bằng để đảm bảo an ninh lương thực và giảm áp lực lên đất dốc Hiện nay đất canh tác đang được sử dụng chủ yếu đề trồng các loài cây lương thực như Ngô,Lúa, Sắn và Cây công nghiệp như Cà phê, Cao su Trong các loài cây trồng trên không phải loài câynào cũng có thể áp dụng các hệ thống Nông nghiệp bảo tồn do đặc điểm sinh học và nhu cầu sinh thái

Trang 8

khác nhau dẫn đến việc áp dụng biện pháp làm đất cần phải nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện Một sốloài cây trồng có thể áp dụng ngay các biện pháp kỹ thuật của Nông nghiệp bảo tồn gồm:

- Cây lương thực: Cây Ngô, cây Lúa nương, cây Sắn

- Cây công nghiệp: Cây Cà phê, cây Chè

2.2.2 Mức độ đáp ứng và giải pháp về điều kiện khí hậu

Vùng Tây Bắc Việt Nam với đặc trưng khí hậu có một mùa đông lạnh kéo dài từ tháng 11 đến

tháng 3 năm sau với điều kiện khô hạn và lạnh dẫn đến việc cung cấp nước cho cây trồng xen - bơm

sinh học rất khó khăn Đa phần các loài cỏ sử dụng cho Nông nghiệp bảo tồn hiện nay đều cần nướcđều đặn và ổn định trong cả năm dù không nhiều Việc thiếu nước kết hợp với lạnh giá là yếu tố hạnchế lớn đến việc áp dụng kỹ thuật bơm sinh học và sử dụng các loài cỏ nhập ngoại Một số giải pháp

có thể áp dụng cho khu vực như sau:

- Sử dụng các loài cây họ đậu bản địa để trồng xen như các giống: Đậu Nho Nhe, ĐậuH’Mông…

- Sử dụng các loài cỏ hòa thảo bản địa trồng thành băng sau đó cắt và che phủ vào giữa luốn gcác loài cây trồng

2.2.3 Mức độ đáp ứng và giải pháp về kinh tế - xã hội

Điều kiện sống của nông dân vùng Tây Bắc còn khá khó khăn mức thu nhập bình quân đầungười chỉ đạt khoảng 904 nghìn đồng/năm Trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, mức độ tiếp nhận vàứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa cao dẫn đến việc áp dụng kỹ thuật canh tác theo Nông nghiệpbảo tồn sẽ gặp khó khăn lớn Hơn nữa do giải pháp N ông nghiệp bảo tồn không mang lại lợi ích kinh

tế ngay trước mắt nên việc thuyết phục người dân chấp n hận và áp dụng kỹ thuật này là vấn đề không

hề dễ dàng Để áp dụng được kỹ thuật N ông nghiệp bảo tồn cần tiến hành một số giải pháp sau:

- Tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho người dân về tác hại của xói mòn đất, canh tác theohình thức phát đốt và những ưu điểm của Nông nghiệp bảo tồn;

- Xây dựng các mô hình trình diễn kỹ thuật để người dân thăm quan, học tập;

- Tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật cho cán bộ và người dân khu vực

3 Kết luận

Hệ thống Nông nghiệp bảo tồn giúp việc sử dụng hàng loạt năng lượ ng công nghiệp phục vụcanh tác của nền nông nghiệp truyền thống được thay thế bằng việc sử dụng năng lượng canh tác sinhhọc không làm hại đến môi trường Đồng thời các chức năng nông học chính được đảm bảo: Sảnlượng các cây trồng chính, Các chức năng sinh thái hệ cơ bản

Phương thức vận hành của các hệ thống Nông nghiệp bảo tồn giúp cho tác động tới môitrường của việc lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu được hạn chế nhờ lớp phủ thực vật và hoạttính sinh học

Các hệ thống cây trồng trong Nông nghiệp bảo tồn được thiết kế và làm phù hợp để khắc phụccác trở ngại nông học giúp chủ động giải quyết nguyên nhân, chứ không phải triệu chứng của các vấn

đề thông qua việc bảo vệ (phòng ngừa) và phục hồi (điều trị) đất đai và sự cân bằng sinh thái

Các hệ thống Nông nghiệp bảo tồn được điều chỉnh phải hài hòa với điều kiện của các nông hộ,với các hạn chế và các phương tiện của người nông dân, và tài sản của họ, trong một bối cảnh kinh tế -

xã hội cụ thể (nhu cầu và cơ hội của thị trường, hạn chế rủi ro, v v)

Trang 9

Tồn tại một ngưỡng sinh khối cần hoàn trả cho đất và nếu đạt hoặc vượt ngưỡng này thì các hệthống Nông nghiệp bảo tồn sẽ vận hành hiệu quả, và dưới ngưỡng này thì chúng sẽ vận hành kém.

Để nhanh hưởng lợi từ nông nghiệp bảo tồn cần đạt được một sự chênh lệch lớn giữa “sinhkhối hoàn trả cho đất - sinh khối mất đi” ngay trong những năm đầu tiên sau khi triển khai các hệthống Nông nghiệp bảo tồn Đất càng suy thoái thì việc “khởi động” các hệ thống Nông nghiệp bảo tồncàng khó, càng lâu, càng tốn kém

Để áp dụng Nông nghiệp bảo tồn cho vùng cao Tây Bắc Việt Nam cần giải quyết triệt để cácvấn đề về kỹ thuật làm đất canh tác, diện tích đất sử dụng cho sản xuất, lựa chọn đúng đối tượng câytrồng chính và cây trồng xen đồng thời truyên truyền nâng cao n hận thức của người dân về Nôngnghiệp bảo tồn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Hải Thanh, 2010 Sổ tay thực hành gieo thẳng tại Madagasca (Bản dịch tiếng

Pháp) Dự án: Hỗ Trợ Phát Triển Nông Nghiệp Sinh Thái tại khu vực Miền Núi Việt Nam

[2] Boulakia S, Kou P Leng V, Sar V, 2011 Introduction to DMC cropping systems - Case

study of Cambodia CA Workshop 2nd

[3] Chabierski S, Sona S, & Séguy L, 2011 Design of DMC cropping system for sustainable maize

production in Cambodia CA Workshop 2nd

[4] Jean A Saludadez, 2011 Technology knowledge network in CA narrative of a farmer CA

Workshop 2nd

[5] João Carlos de Moraes Sá, 2011 History of Conservation Agriculture in Brazil CA Workshop 2nd

[6] João Carlos de Moraes Sá, 2011 Managing C by CS in CA for C sequestration, soil quality,

crop profitability and enviroments CA Workshop 2nd

ADVANTAGES OF CONSERVATION AGRICULTURE AND THE ABILITY

TO APPLY FOR THE NORTHWEST REGION OF VIET NAM

Nguyen Hoang Phuong M.A

Center of Agriculture and Forestry Science

Abstract: Bioenergical conservation agriculture does not harm the environment because vegetation and major

agronomic functions is guaranteed This technique overcome agronomic obstacles helps ogronomic scientist proactively address the cause, but not only the symptoms of the problem However, there exists a threshold biomass required to reimburse the land and if they meet or exceed this threshold, the system of new Conservation agriculture should operate

efficiently and gain a big difference between " biomass reimburse soil-biomass loss " within the first year To apply this

agricultural conservation to the upland northwest Vietnam needs to thoroughly solve the technical problems of soil, land use for production, choosing right crops and simultaneous intercrop Council propagate the awareness of the people about conservation agriculture.

Key worlds: Conservation agriculture, mulch, ecology, biomass, bio-pum, North-Western.

Trang 10

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH NGHI VÀ TIỀM NĂNG CỦA MỘT SỐ

GIỐNG CỎ TRỒNG TẠI KHU VỰC NÚI CAO TÂY BẮC

TRONG GIAI ĐOẠN TUỔI THIẾT LẬP

CN Bùi Văn Hảo, CN Lê Xuân Tùng,

CN Nguyễn Thị Quyên, ThS Vũ Thị Thảo

Khoa Nông Lâm

Tóm tắt: Để khắc phục tình trạng thiếu thức ăn cho gia súc vào vụ đông ở vùng núi Tây B ắc Qua quá trình

khảo sát thực tế tại địa phương và những ưu điểm khi trồng cây thức ăn như giải quyết được tình trạng thiếu thức ăn nói chung, góp phần tăng cường độ màu mỡ đất, chống xói mòn, giải quyết được tình trạng thiếu lao động, p hát triển mang tính bền vững, chúng tôi đã tiến hành trồng 6 giống cỏ nhập nội (cỏ Mulato, cỏ Guatemala, cỏ ghine, cỏ pát, cỏ Voi, cỏ

VA06), hai giống cỏ bản địa( cỏ Lau, cỏ Gai) tại khu vườn thực nghiệm Khoa Nông Lâm - Trường Đại học Tây Bắc trong

khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 12 năm 2013 với mục đích đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất chất xanh của 8 giống cỏ trong giai đoạn tuổi thiết lập Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 8 công thức và 3 lần nhắc lại Kết quả nghiên cứu cho thấy bước đầu có thể lựa chọn mộ t số giống cỏ có tỷ lệ sống và năng suất cao như cỏ Voi (94,12%; 21,31tấn/ha/lứa), cỏ Guat emala (95,61%; 13,24 tấn/ha/lứa ), cỏ Mulato (93,50%; 15,30 tấn/ha/lứa) để trồng ở khu vực Tây Bắc.

Từ khóa: Cỏ Mulato, cỏ VA06, cỏ Voi, cỏ Ghine, cỏ Pát, cỏ Guatemala

1 Đặt vấn đề

Khu vực Tây Bắc được biết tới là vùng miền núi phía tây của miền Bắc Việt Nam, baogồm 6 tỉnh là Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hoà Bình, Lào Cai, Yên Bái Đây là khu vực rộng lớn(5,64 triệu ha) và mật độ dân số thấp (dân số toàn khu vực chỉ có 3,5 triệu người) Với địa hình đồinúi hiểm trở, diện tích đất rừng và đất đồi chiếm chủ yếu nên Tây Bắc rất có tiềm năng về phát triểnchăn nuôi đại gia súc ăn cỏ Hàng năm số lượng đàn trâu bò của các tỉnh không ngừng được tănglên Cụ thể với tỉnh Sơn La, năm 2000 tổng số lượng bò của toàn tỉnh mới chỉ là 87.600 con thì đếnnăm 2011 đã tăng lên 188.000 con, Việc phát triển ngành chăn nuôi trâu bò không chỉ giúp ngườidân tăng thêm thu nhập mà còn gọp phần tạo công ăn việc làm cho người dân Mặc dù ngành chănnuôi trâu bò của khu vực Tây Bắc đã đạt được những thành công, tuy nhiên nó còn gặp không ítnhững khó khăn, thách thức như vấn đề giống, nguồn thức ăn

Với đặc điểm thời tiết của khu vực, mùa đông khô, lạnh và kéo dài Vì vậy tình trạngthiếu thức ăn cho trâu bò vào mùa đông diễn ra phổ biến Số lượng trâu bò bị chết rét trong mùađông do thiếu thức ăn không ngừng tăng lên Xuất phát từ vấn đề thực tiễn này, trong khuôn

khổ hoạt động của dự án JICA nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng thích nghi và tiềm năng của một số giống cỏ trồng tại khu vực núi cao Tây Bắc trong giai đoạn tuổi thiết lập”.

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Nội dung nghiên cứu

Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất chất xanh của các giống tronggiai đoạn tuổi thiết lập

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 8 công thức và 3 lầnnhắc lại Trong thí nghiệm đảm bảo sự đồng đều về thời gian, địa điểm, phân bón,….Chỉ khác nhau

về yếu tố thí nghiệm, đó là giống cỏ khác nhau

Trang 11

2.3 Kết quả và thảo luận

2.3.2 Chiều cao của các giống cỏ

Bảng 2.2 Chiều cao của các giống cỏ ở các ngày tuổi

45 ngày tuổi

60 ngày tuổi

75 ngày tuổi

90 ngày tuổi

-Chiều cao của các giống cỏ có sự khác biệt giữa các nhóm cỏ Nhóm cỏ thân bụi (cỏ Ghinê,

cỏ Pát, cỏ Mulato….) ở thời điểm 45 ngày tuổi, đạt được chiều cao tốt hơn so với nhóm cỏ thânđứng (cỏ Voi, cỏ VA06…) Tuy nhiên đến thời điểm 60 ngày tuổi thì lại có sự thay đổi ngược lại,nhóm cỏ thân đứng phát triển chiều cao nhanh và mạnh hơn nhóm cỏ thân bụi Ở 60 ngày tuổi chiềucao của cỏ Voi đạt 123,67 cm, trong khi đó chiều cao của cỏ Mulato chỉ đạt 93,60 cm Sở dĩ có sựthay đổi lớn giữa 2 nhóm cỏ vì nhóm cỏ thân bụi đến thời điểm 60 ngày tuổi, cỏ đã cơ bản thànhthục nên sự tăng về chiều cao châm hơn so với nhóm có thân đứng (đang trong giai đoạn phát triểnmạnh về chiều cao) Ở giai đoạn 90 ngày tuổi, chiều cao của 4 giống cỏ thân đứng đều đạt mức trên

100 cm Trong đó cao nhất là cỏ Lau với chiều cao đạt 1,81 cm Cỏ VA06 và cỏ Voi có chiều caogần tương đương nhau, lần lượt là 168,23 cm và 175,34 cm Riêng chỉ có cỏ Guatemala đạt chi ềucao thấp nhất, chiều cao của cỏ này chỉ đạt 125,65 cm

Trang 12

2.4 Năng suất chất xanh của các giống cỏ

Bảng 2.3 Năng suất chất xanh của các giống cỏ ở ngày tuổi khác nhau Giống cỏ Năng suất chất xanh của các giống cỏ ở các ngày tuổi (tấn/ha/lứa)

45 ngày tuổi

60 ngày tuổi

75 ngày tuổi

90 ngày tuổi

cỏ Mulato đạt 15,30 tấn/ha/lứa Đến thời điểm 90 ngày tuổi thì năng suất chất xanh của cỏ Voi,VA06 cũng đạt được mức cao Cụ thể mức năng suất của cỏ Voi đạt 30,38 tấn/ha/lứa, cỏ VA06 đạtmức 31,58 tấn/ha/lứa Qua đây có thể thấy, nhóm cỏ Ghinê, cỏ Voi, cỏ VA06, cỏ Pát, cỏ Mulato và

cỏ Guatemala là những giống cỏ có tiềm năng cho năng suất chất xanh cao, phù hợp với việc pháttriển các mô hình trồng cỏ để chăn nuôi đại gia súc

Năng suất chất xanh của các giống cỏ tại

thời điể m 90 ngày tuổi

0 5 10 15 20 25 30 35

Trong quá trình nghiên cứu bước đầu nhóm chúng tôi nhận thấy: Tỷ lệ sống của các giống

cỏ nhập nội (cỏ Mulato, cỏ Guatemala, cỏ ghine, cỏ pát, cỏ Voi, cỏ VA06) đều cao trên 90%, cònhai giống cỏ bản địa (cỏ Lau, cỏ Gai) thì thấp, chiếm tỷ lệ 45,23% và 63,37%

Trang 13

Năng suất chất xanh của các giống cỏ nhập nội cũng rất tốt, đạt cao nhất là cỏ VA06 với31,58 tấn/ha/lứa ở thời điểm 90 ngày tuổi.

Bước đầu chúng tôi đã lựa chọn được một số giống cỏ năng suất cao như cỏ VA06, cỏ Voi,

cỏ Guatemala để trồng tại vùng núi cao Tây Bắc phù hợp với mô hình phát triển chăn nuôi gia súcgóp phần giải quyết tình trạng thiều thức ăn cho gia súc trong vụ đông

Lời cảm ơn : Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các chuyên gia Nhật Bản, Ban

Quản lý dự án JICA, Ban chủ nhiệm Khoa Nông Lâm đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi hoànthành nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đoàn Ân, Võ Văn Trị, 1976 Gây giống và sử dụng một số giống cỏ năng suất cao Nxb

Nông nghiệp, Hà Nội

[2] Nguyễn Ngọc Hà, Lê Hòa Bình, Bùi Xuân An, Ngô Văn Mậu, 1985 Kết quả nghiên cứu

tập đoàn cỏ nhập nội , Tạp chí KHKT Nông nghiệp.

[3] Từ Quang Hiển, Nguyễn Khánh Quắc, 1995 Các yếu tố tác động đến đồng cỏ, Giáo

trình đồng cỏ và cây thức ăn gia súc Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

[4] Trần Tấn Khanh, 2003 Đánh giá hiện trạng đồng cỏ tự nhiên và nghiên cứu một số biện

pháp kỹ thuật nhằm cải thiện nguồn thức ăn xanh cho gia súc (Luận án tiến sỹ nông nghiệp).

EVALUATION ON ADAPTABILITY AND POTENTIALITY OF SOME FORAGE SPECIES

IN NORTHWESTERN ALPINE REGIONS OF VIETNAM

IN THE YEAR OF ESTABLISHMENT

Bui Van Hao B.A, Le Xuan Tung B.A, Nguyen Thi Quyen B.A, Vu Thi Thao M.A

Faculty of Agriculture and Forestry

Abstract: To overcome the lack of food for cattle in winter in the mountainous areas in the Northwest and

through our actual experiments in local community, planting food crops has proved to be of great advantages It helps solve to the problem of food shortage, make the soil more productive, control erosion, and resolve the lack of labors We has just planted 06 types of exotic grass (such as: Mulato grass, Guatemala grass, Ghine grass, Pat grass, Voi grass, VA06 grass) Among them, 02 types are local grass (Lau grass, Gai grass) which are in the garden of Faculty of Agriculture and Forestry - Tay Bac University (from March to December 2013) with the pupose of evaluating the possible potential of growth and yield of 8 species of grass in the year of establlishment The experiment was arranged in a randomized complete block design (RCB) with 8 treatments and 3 replicates The results show that we can choose some kinds of grass which have high possibility of survival and productivity such as elephant grass (94.12%; 21,31 tone/ha/ages), Guatemala grass (95.61%; 13,24 tone/ha/ages ), Mulato grass (93.50%; 15,30 tone/ha/ages) to be planted in the local areas.

Key words: Mulato grass, King grass, Guatemala grass, VA06 grass, Ghine grass.

Trang 14

THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ LOÀI

CÂY THỨC ĂN CHO TRÂU BÒ TẠI SƠN LA

ThS Vũ Đức Toàn, CN Nguyễn Thị Quyên, CN Nguyễn Thùy Trang,

ThS Nguyễn Hoàng Phương, CN Bùi Văn Hảo

Khoa Nông Lâm

Tóm tắt: Để khắc phục vấn đề thiếu thức ăn cho trâu bò trong vụ đông, một trong những giải pháp được đưa ra là

khảo sát cụ thể tình hình chăn nuôi trâu bò, tìm ra loài cây, cỏ có tiềm năng để trồng thử nghiệm và nhân rộng các mô h ình Kết quả khảo sát cho thấy tại tỉnh Sơn La, tập quán chăn nuôi của mỗi dân tộc có những đặc điểm khác nhau nhưng hầu hết tất cả đều sử dụng phương pháp chăn thả tự do và phương pháp chăn dắt, phương pháp thâm canh không phổ biến Có rất nhiều loài cây, cỏ được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi nhưng tập trung chủ yếu vào 1 0 loài, trong đó có hai loài cỏ tiềm năng có thể phát triển, đó là cỏ Gai và cỏ Lau Bên cạnh đó, người dân đã và đang sử dụng 7 loại phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi Ngoài ra, một số giống cỏ nhập nội có năng suất cao cũng đã bước đầu được người dân đưa vào trồng làm thức ăn cho trâu bò.

Từ khóa: Chăn nuôi, trâu bò, cỏ bản địa, thức ăn gia súc.

1 Đặt vấn đề

Sơn La là một tỉnh miền núi phía Bắc của tổ quốc, là nơi sinh sống củ a 12 dân tộc anh em,nhân dân trong vùng có truyền thống chăn nuôi từ lâu đời, ngoài việc cung cấp cho nhu cầu thực phẩmcủa người dân, trâu bò còn là nguồn sức kéo không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp của địaphương Tốc độ tăng trưởng đàn trâu, bò hàng năm tăng khá (5,7%/năm), từ 263.700 con năm 2005tăng lên 354.100 con năm 2011

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 2 năm trở lại đây, đàn trâu bò ở một số địa phương,nhất là ở các vùng núi cao, có xu hướng tăng trưởng chậm lại Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đếntình trạng giảm sút về số lượng, nhưng chủ yếu xuất phát từ việc thiếu nguồn thức ăn trong mùađông và dịch bệnh Mặt khác, diện tích rừng, bãi chăn thả cho trâu bò ngày càng bị thu hẹp dochuyển đổi mục đích sử dụng đất, người dân hầu hết vẫn áp dụng phương thức chăn nuôi quảngcanh, chăn thả tự do, ít trồng cỏ Do vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu về thực trạng chăn nuôi cũng nhưcác loài cây bản địa, nhập nội có tiềm năng để gây trồng phát triển làm thức ăn cho trâu bò là hết sứccấp thiết đối với khu vực nghiên cứu

Trong khuôn khổ Dự án TBU - JICA, Nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu phát

triển một số cây thức ăn gia súc”, với mục đích điều tra khảo sát tình hình chăn nuôi trâu bò tại khu

vực Tây Bắc; thu thập một số giống cây thức ăn gia súc bản địa và nhập nội để gây trồng thử nghiệm.Đợt khảo sát được tiến hành từ tháng 9 đến hết tháng 12 năm 2012

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu tình hình chăn nuôi trâu bò, tình hình trồng và sử dụng thức ăn cho gia súc nhai tạikhu vực tỉnh Sơn La và thu thập thông tin về các giống cây thức ăn gia súc nhập nội tại các Viện,Trung tâm tại Hà Nội và các vùng lân cận

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát tình hình tình hình trồng và sử dụng các loài cây làm thức ăn chăn nuôi trâu bò tạikhu vực nghiên cứu

- Thu thập thông tin và đưa ra danh sách các loại cây, cỏ bản địa có khả năng gây trồng, pháttriển làm thức ăn cho trâu bò trong mùa đông

- Điều tra, khảo sát, thu thập thông tin về các giống cây thức ăn gia súc nhập nội tại các viện,

Trang 15

trung tâm, nông trường.

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra, phỏng vấn các nông

hộ chăn nuôi tại 3 huyện Thuận Châu, Mai Sơn và Mộc Châu của tỉnh Sơn La bằng hệ thống câu hỏiđược thiết kế sẵn trong phiếu điều tra, kết hợp quan sát thực tế tại thực địa Đồng thời, tiến hành điềutra, tìm hiểu về các loài cỏ nhập nội tại 3 đơn vị: Trung tâm Nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì – HàNội; Viện Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (NOMAFSI) Phú Thọ; Trung tâm Nghiên cứu pháttriển chăn nuôi miền núi Sông Công - Thái Nguyên

Phương pháp xử lí, phân tích, tổng hợp thông tin: Ghi chép chi tiết các thông tin dựa trên quansát, phỏng vấn để tổng hợp số liệu, đánh giá về việc cung cấp nguồn thức ăn, phương thức chăn nuôi

và nguyên nhân dẫn đến thiếu thức ăn cho trâu bò vào mùa đông Các thông tin được tổng hợp dựatrên kết quả thống kê và phân tích định lượng, định tính để đưa ra được những đánh giá chung về thựctrạng chăn nuôi và sử dụng các loài cây cỏ làm thức ăn cho trâu bò tại khu vực nghiên cứu

3 Kết quả và thảo luận

3.1 Tình hình chăn nuôi gia súc tại địa phương

3.1.1 Quy mô chăn nuôi

Quy mô chăn nuôi được chia thành 3 mức độ: Nuôi ít hơn 5 con; Từ 5 - 10 con và trên 10 con.Kết quả điều tra theo từng huyện được tổng hợp trong Hình 3.1.1

Hình 3.1.1 Biểu đồ quy mô chăn nuôi theo từng huyện

Kết quả điều tra cho thấy, quy mô chăn nuôi có sự khác biệt giữa 3 huyện: Mộc Châu có số hộchăn nuôi quy mô trên 10 con cao nhất với 25% số hộ được phỏng vấn, tỷ lệ này ở Thuận Châu và MaiSơn tương ứng với 15% và 0% Số hộ nuôi dưới 5 con chiếm tỷ lệ cao nhất là huyện Mai Sơn (82,5%;Thuận Châu 47,5%; Mộc Châu 40%), lý do chính Mai Sơn là vùng canh tác Ngô và cây công nghiệpnhư Cà Phê, mía điển hình của tỉnh, không có nhiều bãi chăn thả, diện tích trồng cỏ ít Mặt khác, theo

ý kiến của người dân việc sử dụng tràn làn không kiểm soát thuốc trừ cỏ trong canh tác Ngô, đã gâyngộ độc cho trâu bò khi ăn cỏ tại những khu vực này, nên c ác hộ gia đình thường nuôi nhốt với sốlượng ít Nguồn thức ăn chính cho trâu bò người dân tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp, như thâncây Ngô, ngọn mía, rơm rạ Thuận Châu và Mộc Châu diện tích rừng còn nhiều, nên số hộ nuôi từ 5con trở lên cao hơn, do áp dụng phương thức chăn thả tự do, phụ thuộc vào tự nhiên là chính, mất ítcông chăm sóc

Trang 16

3.1.2 Cơ cấu đàn trâu bò theo từng huyện

Hình 3.1.2 Biểu đồ cơ cấu đàn trâu bò theo từng huyện

Cơ cấu đàn là một chỉ tiêu quan trọng cho biết mục tiêu chăn nuôi lấy sức kéo hay sản xuấtthịt Tại khu vực nghiên cứu, giống trâu bò chủ yếu là giống bản địa, hoàn toàn thích hợp với phươngthức chăn thả tự do Về tỷ lệ đực cái, Mai Sơn có tỷ lệ trâu bò đực cao nhất với 64%, con số này tạiThuận Châu và Mộc Châu là 30% và 36%, với lý do người dân nuôi lấy sức kéo là chính Các huyệnThuận Châu và Mộc Châu, ngoài sử dụng làm sức kéo, các hộ gia đình chăn nuôi trâu bò sinh sản vàlấy thịt, nên cơ cấu đàn tương đối đồng đều

3.1.3 Phương thức chăn nuôi

Hình 3.1.3 Biểu đồ phương thức chăn nuôi theo từng huyện

Phương thức nuôi, đề tài chia thành 3 phương thức: Quảng canh; bán thâm canh và thâm canh.Kết quả điều tra cho thấy, phương thức nuôi quảng canh vẫn là phương thức phổ biến tại khu vựcnghiên cứu, với tỷ lệ cao (88 - 100%) tại 2 huyện Thuận Châu và Mộc Châu, khu vực còn nhiều rừnglàm nơi chăn thả, người dân không có thói quen dự trữ thức ăn cho trâu bò trong mùa đông, đây cũng

là nguyên nhân làm trâu bò chết nhiều do thiếu sức chống chịu Tại Mai Sơn tỷ lệ nuôi quảng canhthấp nhất với 27% số hộ trả lời áp dụng, còn lại là chăn nuôi theo phương thức thâm canh và bán thâmcanh (chăn dắt kết hợp nuôi nhốt) với tỷ lệ tương ứng là 40% và 33%

3.2 Tình hình trồng và sử dụng cây, cỏ làm thức ăn cho trâu bò

3.2.1 Các loài cây, cỏ bản địa

Kết quả điều tra cho thấy, tại khu vực nghiên cứu thành phần các loài thực vật vô cùng đa dạngnên thức ăn tự nhiên của trâu bò theo phương thức chăn thả tự do cũng rất phong phú, nh óm nghiêncứu đã thống kê được 1 0 loài cây cỏ phổ biến và trâu bò thường ăn nhiều, trong đó có 2 loài cây tiềmnăng có khả năng gây trồng là Cỏ Lau và Cỏ Gai

Trang 17

Bảng 3.2.1 Danh mục các loài cây, cỏ bản địa dùng làm thức ăn cho trâu bò

Ngoài các loài cây cỏ tự nhiên thì phụ phẩm nông nghiệp cũng là nguồn thức ăn cho trâu bò,đặc biệt là vào mùa đông, được người dân tận dụng Địa phương sử dụng nhiều nhất là Mai Sơn, dođây là vùng chuyên canh Ngô, Mía điển hình của tỉnh Sơn La Phương pháp xử lý thức ăn tích trữ chomùa đông chủ yếu là dự trữ rơm khô và bổ sung thức ăn xanh b ằng thân cây chuối, ngọn mía, lá tre,

3.2.2 Phụ phẩm nông nghiệp

Bảng 3.2.2 Danh mục một số loài cây cho phụ phẩm làm thức ăn cho trâu bò tại khu vực

thông

1 Đậu tương Glycine max (L.) Merr Người dân sử dụng thân lá sau thu hoạch cho trâu bò

ăn thêm.

2 Cây ngô Zea mays L. Một số hộ sử dụng thân lá cây ngô còn tươi cho trâu

bò ăn.

3 Sắn Manihot esculanta Crantf Thân cây sắn tươi được băm nhỏ cho trâu bò ăn thêm

vào mùa đông.

4 Khoai lang Ipomoea batats L. Thân và lá khoai lang tươi

5 Rơm lúa Oryza sativa L. Rơm khô được tích trữ làm thức ăn dự trữ cho trâu bò

vào mùa đông.

6 Cây chuối Musa cocinea Andr Lá chuối tươi thường làm thức ăn cho trâu bò khi

hiếm thức ăn trong mùa đông.

7 Cây mía Saccharum officinarum Ngọn và lá mía là thức ăn ưa thích của trâu bò, nhưng

chỉ có nhiều ở Mai Sơn.

3.2.3 Các giống cỏ nhập nội

Qua điều tra tại các đơn vị ngoài tỉnh, nhóm nghiên cứu đã thu thập được 14 giống cỏ nhập nội,

đã được nghiên cứu và trồng thử nghi ệm tại nhiều địa phương trong cả nước, trong đó có nhiều loài cỏ

có khả năng thích nghi với điều kiện khô, lạnh của vùng cao như cỏ Voi, Mulato,…

Trang 18

Bảng 3.2.3 Danh mục một số loài cây cỏ nhập nội phổ biến

9 Cỏ Mutalo B ruziziensis x B decumbens x B brizantha

4 Kết luận

- Tình hình chăn nuôi trâu bò tại khu vực nghiên cứu chưa phát triển do người dân chăn nuôichủ yếu theo quy mô nhỏ lẻ, lấy sức kéo, ít đầu tư, nguồn thức ăn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên ;

- Tình hình trồng và sử dụng thức ăn cho gia súc tại khu vực nghiên cứu chưa phổ biến;

- Nguyên nhân gây chết trâu bò vào mùa đông một phần do thiếu thức ăn, công tác phòngchống rét cho trâu bò chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là các bản vùng ca o;

- Có 2 loại cỏ bản địa có tiềm năng cần gây trồng thử nghiệm làm thức ăn cho trâu bò trongmùa đông là Cây Lau và Cỏ Gai;

- 6 giống cỏ nhập nội có đặc tính sinh thái phù hợp với điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứugồm: Cỏ Voi, Mulato, VA06, cỏ Sả, cỏ Pát, cỏ Guatemala, có thể gây trồng ở vùng cao

Lời cám ơn: Chúng tôi gửi lời cám ơn tới Dự án TBU – JICA và các đối tác liên quan đã hỗ trợ

cho nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nghiêm Văn Cường, 2008 Đánh giá khả năng thích nghi của một số loài cỏ trồng nhập

nội trong quy trình thức ăn gia súc tại Công ty Giống bò sữa Mộc Châu , Luận văn thạc sĩ sinh học,

Đại học Thái Nguyên

[2] Nguyễn Thiện, Lê Hòa Bình, 1994 Thức ăn cho gia súc nhai lại kỹ thuật trồng và sử dụng,

Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

[3] Nguyễn Thiện, 2004 Trồng cỏ nuôi bò sữa , Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

[4] Viện Chăn nuôi Quốc gia, 2001 Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc -gia cầm

Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

Trang 19

BREEDING SITUATION AND DEVELOPING POTENTIAL OF SOME PLANTS

USED FOR CATTLE IN SON LA, TBU - JICA PROJECT, 2012

Vu Duc Toan B.A, Nguyen Thi Quyen B.A, Nguyen Thuy Trang B.A,

Nguyen Hoang Phuong M.A, Bui Van Hao B.A

Faculty of Agriculture and Forestry

Abstract: Breeding cattle among ethnic minority communities in the North West area in recent years tend to

decline One of the causes is that cattle often die of cold and lack of food during the winter It is, therefore, necessary to give out some solutions to this problem We have made a survey on the situation to find out the kinds of grass for trial planting and replicate the pattern Also, it will contribute to solve the problems mentioned above The survey results show that in Son La province, Each ethnic group has different ways of husbandry practice but most use the method of free grazing and shepherding, the method of intensive farming is not common There are many species of feeding plants for cattle but the local people mainly make use of 10 species, including Gai and Lau In addition, people often use 7 kinds of agricultural by products for cattle Besides, some exotic kinds of grass have been planted in some areas but not common.

Keywords: Breeding, cattle, local-grass, agricultural products for cattle.

Trang 20

TÌNH HÌNH THU HÁI VÀ TIÊU THỤ NẤM MỐI (TERMITOMYCES

ALBUMINOSUS) TRONG TỰ NHIÊN TẠI TỈNH SƠN LA

ThS Đặng Văn Công, TS Đoàn Đức Lân,

ThS.Trần Quang Khải, CN.Vũ Phương Liên

Khoa Nông Lâm

Tóm tắt: Khảo sát nhằm thu thập các thông tin liên quan đến tình hình thu hái và tiêu thụ nấm Mối trong tự nhiên

phục vụ cho nghiên cứu và nuôi trồng nấm Mối trong điều kiện nhân tạo Khảo sát được tiến hành tại huyện Quỳnh Nhai, huyện Thuận Châu và khu vực Thành phố Sơn La , tỉnh Sơn La trong thời gian từ th áng 4 đến tháng 11 năm 2013 Đ ối tượng được khảo sát đó là người thu hái và người bán nấm Mối Kết quả khảo sát đã cho thấy việc thu hái nấm Mối trong

tự nhiên hoàn toàn dựa theo kinh nghiệm bản địa, sau đó được tiêu thụ ngay tại các chợ địa phương với giá 80.000 150.000 đồng/kg nấm tươi.

-Từ khóa: Nấm Mối, thu hái, tiêu thụ.

1 Đặt vấn đề

Nấm là loại thực vật làm thức ăn rất ngon và nhiều chất bổ dưỡng, nhưng bên cạnh đó nấmcũng đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ngộ độc ở người Hiện nay do người nông dân quá lạm dụngphân bón và thuốc bảo vệ thực vật làm cho cây nấm mọc tự nhiên cũng ảnh hưởng và nhiễm độc hại.Khi thu hái nấm về ăn có thể xảy ra tình trạng ngộ độc cho người sử dụng

Những năm gần đây thời tiết không thuận lợi, nắng nhiều hơn mưa nên nấm mọc giảm hơn sovới các năm trước Đôi khi trong một khu vực mọc nấm Mối thỉnh thoảng cũng có đan xen một vài câynấm trông rất giống nhau nhưng nếu tinh mắt để ý kỹ sẽ thấy khác “loài” Những người chuyên nghiệphái nấm nhiều khi cũng bị nhầm lẫn, vì mắt thường cũng rất khó để phân biệt giữa nấm độc và khôngđộc, đặc biệt là nấm mọc hoang ở vườn, ruộng và nấm hái trong rừng Mặc dù đã có rất nhiều bài viếtcảnh báo về các vụ ngộ độc do ăn nấm dại, nấm rừng nhưng tình trạng này vẫn xảy ra thường xuyêntrong mùa thu hái nấm, nếu không kịp thời cứu chữa có thể dẫn đến tử vong hoặc làm tổn hại đến sứckhỏe

Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần thu thập cơ sở dữ liệu về nấm Mối phục vụ nghiên cứu

nhân giống và nuôi trồng nấm Mối trong điều kiện nhân tạo chúng tôi tiến hành “Khảo sát tình hình

thu hái và tiêu thụ nấm Mối trong tự nhiên tại tỉnh Sơn La”

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2013

- Địa điểm: Huyện Quỳnh Nhai, huyện Thuận Châu; Thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

2.2 Vật liệu nghiên cứu: Giống nấm Mối.

2.3 Nội dung nghiên cứu: Tình hình thu hái và tiêu thụ nấm Mối trong tự nhiên.

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Quan sát trực tiếp: Quan sát tại các khu vực có nấm Mối mọc xác định vị trí mọc nấm

(Rừng, vườn nhà hay nương rẫy)

2.4.2 Phỏng vấn: Sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn bán định hướng với hai đối tượng: các hộ

dân thu hái nấm Mối, người bán nấm Mối ngoài chợ Mỗi đối tượng phỏng vấn 30 phiếu được lựachọn dựa trên thông tin thu thập được từ khảo sát thực địa

Các thông tin cần thu thập:

+ Đối tượng người thu hái nấm Mối: Khu vực mọc nấ m Mối; diện tích tổ nấm Mối; Thời điểm

Trang 21

mọc; Thời gian từ khi thấy nấm Mối mọc lên khỏi mặt đất đến khi thu hái; đặc điểm của tổ nấm Mối;Dụng cụ đào/lấy nấm Mối; độ sâu đào; Thời gian hái nấm Mối; Bộ phận thu hái; Số lượng nấm Mốithu hái được/1 lần; Mục đích sử dụng sau khi thu hái; Cách sử dụng nấm Mối làm thực phẩm; C ảmquan về mùi vị nấm Mối.

+ Đối tượng người bán nấm Mối: T hu mua của người thu hái hay trực tiếp t hu hái được rồimang bán; Địa điểm bán nấm Mối; giá bán/1 kg; Bán cho đối tượng nào; C ách bảo quản và thời gianbảo quản

2.4.3 Thu thập các tài liệu thứ cấp : Thu thập các thông tin về nấm Mối thông qua các báo

cáo khoa học, tài liệu tham khảo, tài liệu trên I nternet

3 Kết quả

3.1 Tình hình thu hái nấm Mối trong tự nhiên tại Sơn La

Bảng 1 Tổng hợp kết quả phỏng vấn người thu hái nấm Mối

được hỏi

3 Thời điểm mọc nấm Mối

6 Thời gian từ khi thấy nấm

Mối mọc lên khỏi mặt đất

đến khi thu hái

Thu hái ngay khi tìm thấy tổ nấm Mối 76,67

7 Phân bố của cây nấm tại tổ

nấm Mối

Nấm mọc rải rác từng cây không đều 73,33

12 Số lượng nấm Mối thu được/

1 lần (kg hoặc số cây nấm)

Khoảng 2 – 3 kg/ tổ/ lần hái Nếu tổ nấm mọc 2 lần/năm thì lần sau thu

được ít hơn lần trước

66,67

15 Mùi, vị khi ăn nấm Mối Ăn có vị ngọt, giòn, không có mùi 100

Hàng năm nấm Mối xuất hiện vào đầu mùa mưa, khoảng từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm.Thường nấm Mối xuất hiện ở nơi đất cao vì mối không thể làm ổ ở nơi đất quá ẩm ướt Nấm Mối chủyếu mọc ở rừng tự nhiên (60%), một số mọc ở vườn cà phê (10%) hoặc nương ngô (30%), do một sốmảnh rừng bị chặt phá để trồng ngô và cà phê

Theo thông tin thu thập từ người dân thì nấm Mối chủ yếu chỉ mọc 1 đợt/năm vào đầu tháng 5

Trang 22

dương lịch (83,33%), một số tổ Mối mọc 2 lần/năm (16,67%): Đợt 1 khoảng đầu tháng 5, đợt 2 vàođầu tháng 7, đợt 2 nấm sẽ ra ít hơn đợt 1.

Kinh nghiệm từ những người thu hái nấm Mối cho biết khi trời nóng bức chuẩn bị có mưa, saukhi mưa xong nấm Mối sẽ mọc (100%) Nấm Mối thường mọc tại những vị trí có tổ Mối (Kiểm trabằng cách: Đào xung quanh vị trí có nấm Mối mọc sẽ phát hiện thấy con Mối, hoặc khi trời mưa sẽthấy Mối cánh bay ra từ khu vực có nấm Mối mọc)

Thời điểm thu hái: Nấm Mối được thu hái vào sáng sớm, khoảng 5 - 6 giờ sáng (23,33%) đối

với các tổ nấm Mối mọc ở vườn nhà hoặc nương ngô gần nhà Tuy nhiên phần lớn nấm Mối được thuhái ngay khi người dân tìm thấy cây nấm Mối mọc (76,67%) vì nếu để lâu thì cây nấm bị già hoặc bịngười khác thu hái mất

Cách thu hái: Việc thu hái nấm Mối diễn ra một cách tự nhiên, người dân vào rừng phát hiện

thấy nấm Mối thì thu hái Một số người có kinh nghiệm thì đ ánh dấu vị trí nấm Mối mọc để năm sau tìmđến thu hái Theo kinh nghiệm của người dân nấm Mối sẽ tiếp tục mọc ra ở vị trí năm trước đã mọc

Khu vực nấm Mối mọc rộng khoảng 3 - 5 m2 Khi phát hiện thấy nấm Mối, nếu như đất mềm

và ẩm thì có thể dùng tay nhổ cả cây (13,33%), nếu như đất cứng thì phải dùng dao hoặc thuổng đàosâu khoảng 20 - 30 cm, sau đó nhổ cây nấm lên (86,67%)

Cây nấm mọc rải rác từng cây phân bố không đều (73,33%) hoặc mọc chụm 2 - 3cây/1 vị trí(26,67%) từ sâu bên trong tổ Mối, nên khi thu hái người dân đào sâu 20 - 30 cm (100%) mới có thể thuhái được cây nấm

Phần lớn người dân thu hái toàn bộ cây nấm từ gốc đến mũ nấm (70%), một số người cho rằngnên để lại phần gốc nấm để làm thức ăn cho Mối, năm sau nấm sẽ mọc nhiều hơn (30%)

Năng suất: Khối lượng nấm Mối thu hái được tùy thuộc vào từng tổ nấm Mối và tùy theo năm Có

những tổ nấm Mối thu hái 2 - 3 kg (66,67%), có tổ chỉ thu hái được khoảng một vài cây nấm (33,33%)

Mục đích thu hái: Nấm Mối sau khi thu hái chủ yếu được mang ra chợ bán (63,33%) do hiện

nay nấm Mối có giá trị cao, một số hộ sử dụng làm thức ăn (36,67%)

Chế biến và mùi vị khi ăn nấm Mối: Nấm Mối có hương vị ngon, vị ngọt, giòn và không có

mùi khó chịu đặc trưng (100%) Sau khi thu hái nấm Mối được mang về nhà rửa sạch để bỏ phần đấtbám bên ngoài, sau đó có thể chế biến thành nhiều món ăn tùy thuộc vào sở thích và điều kiện củatừng gia đình Một số hộ thì nấu canh nấm Mối cùng với rau ngót, một số hộ thì xào với thịt bò, các hộgia đình có điều kiện kinh tế thì cuốn n ấm Mối với thịt rồi nướng, hoặc các món ăn khác

Trang 23

3.2 Tình hình tiêu thụ nấm Mối tại Sơn La

Bảng 2 Tổng hợp kết quả phỏng vấn người bán nấm Mối

hỏi

1 Cách thức thu mua và mang

bán

Thu mua lại của ngườ i thu hái được 40

Bán buôn cho các hộ dân bán rau ở chợ 33,33

4 Khoảng thời gian từ lúc hái

nấm xong đến khi mang bán

Vì nấm Mối chỉ mọc trong tự nhiên nên lượng nấm Mối thu hái được ít Trước đây phần lớnnấm Mối sau khi thu hái về sử dụng trong gia đình, một số hộ dân thu hái được nhiều thì mới đem rachợ bán Nhưng do giá nấm Mối cao nên hiện nay khi có nấm Mối người dân đề u mang nấm ra chợbán (60%) hoặc đi thu mua lại của người dân để bán (40%)

Địa điểm bán: Nấm Mối chủ yếu được bán tại các chợ địa phương (50%), bán buôn cho ngườibán rau ở chợ (33,33%) hoặc bán rong trên đường (13,33%), chỉ có 3,33% người dân bán cho nhàhàng và quán ăn

Cách bảo quản: Đa phần nấm Mối sau khi thu hái được mang đi bán và bán hết trong ngày(80%), tuy nhiên có những thời điểm nấm Mối mọc rộ, không bán hết nên người dân bảo quản để bánvào ngày hôm sau (20%) Khoảng 96,67% người dân bảo quản nấm Mối trong điều kiện thường, đểnơi râm mát, thời gian bảo quản được 1 ngày; C hỉ có 3,33 % người dân bảo quản nấm Mối trong tủlạnh (hộ có điều kiện kinh tế), thời gian bảo quản được 2 ngày

Giá bán: Giá nấm Mối dao động từ 80.000 - 150.000 đồng/kg, tùy vào thời điểm và tùy vàolượng nấm nhiều hay ít Vào đầu mùa, nấm Mối mới mọc nhu sử dụng nấm Mối cao, trong khi lượngnấm Mối thu hái được ít nên bán được giá 100.000 - 150.000 đồng/kg (23,33%) Khi nấm mọc rộ thìgiá bán chỉ còn 80.000 - 100.000 đồng/kg (76,67%) Tuy vậy, nấm Mối vẫn được coi là có giá trị hơnmột số loại nấm trồng hiện nay (nấm Sò, nấm Rơm…)

Nhu cầu tiêu dùng: Nấm Mối rất được ưa thích nên lượng nấm Mối thu hái được không đủ đáp

ứng nhu cầu Khách hàng muốn mua được nấm Mối thì phải đi ra chợ từ rất sớm (khoảng 6 - 7 giờ

sáng), vì lượng nấm Mối ít nếu không đi sớm sẽ không mua được, ngoài ra đi chợ sớm sẽ mua đượccây nấm tươi ngon hơn

4 Kết luận

4.1 Kết luận

Thu hái: Nấm Mối được thu hái trong tự nhiên theo kinh nghiệm bản địa của người dân Sau

khi thu hái nấm Mối được sử dụng để làm thức ăn hoặc mang bán

Tiêu thụ: Nấm Mối được bán tại các chợ địa phương với giá từ 80.000 - 150.000 đồng/kg.

Lượng sản phẩm nấm Mối thu hái được không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường

Trang 24

Lời cảm ơn: Chúng tôi gửi lời cảm ơn tới Dự án TBU – JICA và các đối tác liên quan đã

hỗ trợ cho nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

THE HARVEST AND CONSUME TO SELL (TERMITOMYCES ALBUMINOSUS)

IN NATURE IN SON LA PROVINCE

Dang Van Cong M.A, Dr Doan Duc Lan, Tran Quang Khai M.A, Vu Phuong Lien B.A

Faculty of Agriculture and Forestry

Abstract: The survey aims to collect information related to the collecting and consuming of Termite mushrooms in

nature and cater to research and cultivation Termite mushroom in the artificial conditions The survey was conducted in Quynh Nhai, Thuan Chau and Son La city area, Son La province during the period from April to November 2013, with two objects that are surveyed person harvest and person sell Termite mushroom Survey results showed that Termite mushrooms to harvesting in nature based on local experience, immediately after harvest it is consumed in the local market with prices 80.000 - 150.000/kg of fresh mushrooms.

Key worlds: Termite, harvest, sell.

Trang 25

SÂU HẠI CÀ PHÊ CHÈ VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ SÂU HẠI CHÍNH BẰNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CANH TÁC

ThS Bùi Thị Sửu, TS Vũ Quang Giảng

Khoa Nông Lâm

Tóm tắt: Sâu hại trên cà phê chè tại xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La được nghiên cứu năm 2013 Kết quả

cho thấy, 20 loài côn trùng trên cà phê, tập chung ở 7 bộ côn tr ùng đã được ghi nhận Trong đó, 4 loài côn trùng gây hại chính (Rệp sáp mềm nâu; Sâu đục thân mình trắng; Mọt đục quả; Bọ xít muỗi) Dọn sạch cỏ và quả của năm ngoái làm giảm sự gây hại của rệp sáp mềm nâu (22,2% cây bị hại) và mọt đục quả cả phê (10,2% quả bị hại) Tỉa cành tạo tán đúng kĩ thuật làm giảm

sự gây hại của rệp sáp mềm nâu (2,6 % cây bị hại) và sâu đục thân hại cà phê (5,13% quả bị hại).

Từ khóa: Sâu hại cà phê, rệp sáp mềm nâu, sâu đục thân mình trắng, mọt đục quả, biện pháp canh tác.

1 Đặt vấn đề

Với sự ưu đãi đặc biệt về điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng cùng với sự sôi động của thị trường

cà phê, diện tích cà phê chè ở các tỉnh Tây Bắc đã liên tục tăng mạnh Theo quyết định số 1987/QĐ BNN-TT ngày 21/8/2012 của Bộ NN-PTNT phê duyệt "Quy hoạch ngành cà phê VN đến năm 2020 -tầm nhìn đến 2030" thì đến năm 2020, diện tích cà phê chè ở vùng Tây Bắc được quy hoạch khoảng9.500 ha Trong khi đó, theo báo cáo của Cục Trồng trọt, đến hết năm 2011, tổng diện tích cà phê chè

-ở vùng Tây Bắc (C hủ yếu tại Sơn La và Điện Biên) đã lên tới gần 9.000 ha Tại tỉnh Sơn La, UBNDtỉnh cuối năm 2011 đã phê duyệt quy hoạch diện tích cây cà phê chè đến năm 2020 sẽ ổn định khoảng10.000 ha Tỉnh Điện Biên cũng cho biết, quy hoạch diện tích cà phê của tỉnh này đến năm 2020 sẽkhoảng trên 6.000 ha Như vậy theo “quy hoạch riêng” của Sơn La và Điện Biên thì đến năm 2020,tổng diện tích cà phê chè ở 2 tỉnh này sẽ lên tới trên 16.000 ha, vượt 6.500 ha so với quy hoạch mà BộNN-PTNT phê duyệt

Bên cạnh những thành công kể t rên thì cà phê Việt Nam nói chung cũng như vùng Tây Bắc nóiriêng gặp không ít khó khăn Một trong những khó khăn đó là vấn đề dịch hại liên tiếp gây hại, làmgiảm năng suất và chất lượng cà phê

Biện pháp hóa học là biện pháp có những ưu điểm dập dịch nha nh, dễ sử dụng Biện pháp nàyđược áp dụng rộng rãi để phòng trừ sâu hại cà phê và là biện pháp không thể thiếu để ngăn chặn sựbùng phát về số lượng của dịch hại Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực và cần thiết của thuốc hóahọc thì biện pháp này luôn tồn tại những nhược điểm rất lớn Trước hết, sử dụng thuốc hóa học gây ônhiễm môi trường sống, ảnh hưởng sức khỏe của con người Sau đó, là vấn đề hình thành các nòi sâuchống thuốc; Làm một số loài sâu thứ yếu trở thành loài sâu nguy hiểm hơn; Làm chết nhiều loài côntrùng có ích; Dư lượng trong nông sản làm độc cho người Đặc biệt, việc sử dụng thuốc hóa học vớilượng lớn cho cà phê như hiện nay dễ làm ô nhiễm môi trường sống, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏecủa người dân

Trong khuôn khổ Dự án TBU - JICA, Nhóm nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu “Phòng chống

sâu hại cà phê theo hướng phòng trừ tổng hợp ” với biện pháp canh tác kỹ thuật là biện pháp nền kết

hợp với biện pháp sinh học để đạt hiệu quả phòng trừ cao mà không ảnh hưởng đến con người, môitrường sống Sử dụng thuốc hóa học khi quần thể dịch hại đạt ngưỡng phòng trừ và chọn lựa các loạithuốc phân giải nhanh, ít ảnh hưởng đến con người, môi trường

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại cà phê chè theo hướng phòng trừ tổng hợp

2.1.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thành phần sâu hại cà phê chè tại xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

- Đánh giá hiệu quả khống chế các sâu hại chính trên cà phê của biện pháp làm cỏ dọn vườn

- Đánh giá hiệu quả khống chế các sâu hại chính trên cà phê của biện pháp tỉa cành, tạo tán

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra thành phần sâu hại: Số điểm điều tra không hạn chế Tại mỗi điểm

điều tra 10 cây Trên mỗi cây quan sát, phá t hiện sự có mặt của các loài sâu hại; các dấu vết và triệuchứng bị hại

Trang 26

Phương pháp điều tra các loài sâu hại chính trong các thí nghiệm ngoài thực địa :

- Rệp sáp mềm nâu: Trong mỗi ô thí nghiệm, điều tra theo kiểu cuốn chiếu, 5 cây điều tra 1cây; 5 hàng điều tra 1 hàng Trên mỗi cây bị rệp điều tra 12 cành phân bố đều 3 tầng, 4 hướng Phâncấp cành bị hại Từ đó, xác định các c hỉ tiêu: Tỷ lệ cây bị hại (%); T ỷ lệ cành bị hại (%) và chỉ số hại(%)

- Sâu đục thân: Trong mỗi ô thí nghiệm, điều tra theo kiểu cuốn chiếu, 5 cây điều tra 1 cây; 5hàng điều tra 1 hàng Từ đó, xác định tỷ lệ cây bị hại (%)

- Mọt đục quả: Trong mỗi ô thí nghiệm điều tra 1000 quả ngẫu nhiên Từ đó, xác định tỷ lệ quả

bị hại

Phương pháp bố trí thí nghiệm ngoài thực địa : Bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB);

2 công thức; 3 lần nhắc lại:

- Thí nghiệm 1: Hiệu quả khống chế sâu hại cà phê của biện pháp làm cỏ dọn vườn

+ Công thức 1 (CT1m): Làm sạch cỏ và dọn sạch quả xót lại trên cây (Lần 1: làm cỏ kết hợpdọn các quả còn xót lại trên cây vào đầu tháng 2; Các lần sau: 1 tháng/lần đến khi thu quả)

+ Công thức 1 (CT2m): Làm cỏ theo tập quán của dân (Lần 1: làm cỏ , không dọn tàn dư vàcác quả cà phê còn xót lại trên cây vào đầu tháng 2; Lần 2: Tháng 4 - 5)

- Thí nghiệm 2: Hiệu quả khống chế sâu hại cà phê của biện pháp tỉa cành tạo tán

+ Công thức 1 (CT1h): Tỉa cành tạo tán theo quy trình (Nguyên tắc tỉa theo hình ống khói; Lần1: Sau vụ thu hoạch (Tháng 1) cắt bỏ những cành vượt, cành tăm, cành vòi voi, cành xà gần mặt đ ất, cànhyếu ớt có sâu bệnh, cành cấp 1 cách thân chính dưới 20cm ; Lần 2,3,4,5: Cắt bỏ những cành vượt, cành tăm(tháng 4, 6,8, 11)

+ Công thức 2(CT2h): Tỉa cành tạo tán theo tập quán của dân (Lần 1: Sau vụ thu hoạch; Lần 2:

Tháng 4 - 5)

Phương pháp xử lí, phân tích: Ghi chép chi tiết các thông tin dựa trên quan sát, điều tra để

tổng hợp thông tin, xác định thành phần sâu hại cà p hê, mức độ phổ biến của chúng Qua đó xác địnhcác sâu hại chính trên cà phê chè Tổng hợp các số liệu điều tra và xử lý th ống kê ở độ tin cậy 95% đểxác định hiệu quả khống chế sâu hại cà phê của các biện pháp canh tác áp dụng trên nương cà phê

3 Kết quả và thảo luận

3.1 Thành phần sâu hại cà phê chè và mức độ phổ biến của chúng.

Bảng 3.1 Thành phần sâu hại cà phê chè tại Chiềng Ban - Mai Sơn - Sơn La năm 2013

III Bộ cánh đều (Homoptera)

Trang 27

13 Rệp muội nâu Toxoptera aurantii Fouse Aphididae Lá, cành +

-IV Bộ cánh thẳng (Orthoptera)

16 Dế mèn lớn Brachytrupes portentorus (Licht) Gryllidae Rễ ++

V Bộ mối (Isoptera)

VI Bộ cánh tơ ( Thysanoptera)

-VII Bộ cánh nửa (Hemiptera)

20 Bọ xít muỗi Helopeltis theivora Waterh Miridae Chồi búp +++

Ghi chú: BPBH: Bộ phận bị hại; MĐPB: Mức độ phổ biến.

- : ít gặp < 1% điểm có sâu + : gặp lẻ tẻ từ 1% - 5% điểm có sâu

++ : phổ biến > 5% - 25% điểm có sâu

+++ : nhiều > 25% - 45% điểm có sâu

++++ : Rất nhiều > 45% điểm có sâu

Kết quả điều tra cho thấy, thành phần sâu hại trên cà phê chè rất đa dạng, có 20 loài sâu hại có mặt

trên nương cà phê, tập chung ở 7 bộ côn trùng Bộ Cánh vảy (Lepidoptera) 3 loài chiếm 15% tổng số loài; Bộ Cánh thẳng (Orthoptera) 2 loài, chiếm 10%; Bộ Cánh đều (Homoptera) 7 loài, chiếm 35%;

Bộ Cánh cứng (Coleoptera) 5 loài, chiếm 25%; Bộ Cánh nửa (Hemiptera) 1 loài, chiếm 5% ; Bộ mối (Isoptera) 1 loài, chiếm 5% và Bộ Cánh tơ (Thysanoptera) 1 loài, chiếm 5% Trong các loài trên có 4 loài sâu hại chính: Rệp sáp mềm nâu (Coccus hesperidum Linnaeus); Sâu đục thân mình trắng (Xylotrechus quadripes Chevrolat); Mọt đục quả (Stephanoderes hampei Fer.); Bọ xít muỗi (Helopeltis

theivora Waterh).

3.2 Hiệu quả khống chế sâu hại cà phê của biện pháp làm cỏ dọn vườn

3.2.1 Hiệu quả khống chế rệp sáp mềm nâu (Coccus hesperidum Linnaeus) của biện pháp làm cỏ dọn vườn

Bảng 3.2.1 Tỷ lệ hại và chỉ số rệp hại (%) trên vườn cà phê làm cỏ theo quy trình và vườn làm cỏ

theo tập quán của dân tại Chiềng ban - Mai Sơn - Sơn La năm 2013 Công thức

Tỷ lệ cây rệp

(%)

Tỷ lệ cành rệp

(%)

Chỉ số hại

(%)

Tỷ lệ cây rệp

(%)

Tỷ lệ cành rệp

(%)

Chỉ số hại

(%)

Tỷ lệ cây rệp

(%)

Tỷ lệ cành rệp

(%)

Chỉ số hại

từ cành này sang cành khác, từ cây này sang cây khác nên tỷ lệ cây bị rệp, tỷ lệ cành bị rệp và chỉ sốrệp hại cao

Trang 28

3.2.2 Hiệu quả khống chế sâu đục thân mình trắng (Xylotrechus quadripes Chevrolat) của biện pháp làm cỏ dọn vườn

Bảng 3.2.2 Tỷ lệ cây cà phê bị sâu đục thân mình trắng trên vườn cà phê làm cỏ theo quy trình và vườn làm cỏ theo tập quán của dân tại Chiềng ban - Mai Sơn - Sơn La năm 2013

3.2.3 Hiệu quả khống chế mọt đục quả (Stephanoderes hampei Fer.) của biện pháp làm cỏ dọn vườn

Bảng 3.2.3 Tỷ lệ quả cà phê bị mọt hại trên vườn cà phê làm cỏ dọn vườn theo quy trình và vườn làm cỏ theo tập quán của dân tại Chiềng ban - Mai Sơn - Sơn La năm 2013

Như vậy, làm cỏ dọn vườn đúng kĩ thuật hạn chế sự phát triển, gây hại của rệp sáp mềm nâu và mọtđục quả cả phê

3.3 Đánh giá hiệu quả khống chế sâu hại cà phê của biện pháp tỉa cành tạo tán

3.3.1 Hiệu quả khống chế rệp sáp mềm nâu (Coccus hesperidum Linnaeus) của biện pháp tỉa cành tạo tán

Bảng 3.3.1 Tỷ lệ hại và chỉ số rệp hại trên vườn cà phê tỉa cành theo tập quán của dân và vườn cà

phê tỉa cành quy trình tại Chiềng ban - Mai Sơn - Sơn La năm 2013 Công thức

Tỷ lệ cây rệp (%)

Tỷ lệ cành rệp (%)

Chỉ số hại (%)

Tỷ lệ cây rệp (%)

Tỷ lệ cành rệp (%)

Chỉ số hại (%)

Tỷ lệ cây rệp (%)

Tỷ lệ cành rệp (%)

Chỉ số hại (%) CT1h 20,23a 76,35b 22,25b 24,80a 72.51b 20.40b 24.25a 72.95b 20.83b

CT2h 21,12a 85,87a 33,89a 25,94a 81,32a 25.24a 26.78a 81.67a 43.75a

U 0.05 = 1,96

Trang 29

Kết quả so sánh ở độ tin cậy 95% nhận thấy, tỉa cành tạo tán theo quy trình có thể giảm tỷ lệcây bị rệp (khoảng 2,6 %), tỷ lệ cành bị rệp hại (khoảng 9 %) và chỉ số hại (khoảng 22, 9%) so với tỉacành theo tập quán của dân Lý do chính, tỉa cành tạo tán theo đúng quy trình đã loại bỏ được các cành vôhiệu (chồi vượt, cành tăm, cành không thể cho quả) qua đó loại bỏ chồi có rệp, tạo điều kiện cho cây sinhtrưởng tốt, tăng khả năng chống chịu rệp Mặt khác, tỉa cành tạo tán giúp vườn thông thoáng, thay đổi môitrường sống theo chiều hướng bất lợi cho rệp.

3.3.2 Hiệu quả khống chế sâu đục thân mình trắng ( Xylotrechus quadripes Chevrolat) của biện pháp tỉa cành tạo tán

Bảng 3.3.2 Tỷ lệ cây cà phê bị sâu đục thân mình trắng ( Xylotrechus quadripes Chevrolat) trên công

thức tỉa cành tạo tán theo quy trình và tỉa cành tạo tán theo tập quán của dân

tại Chiềng ban - Mai Sơn - Sơn La năm 2013

3.3.3 Hiệu quả khống chế mọt đục quả (Stephanoderes hampei Fer.) của biện pháp tỉa cành tạo tán

Bảng 3.3.3 Tỷ lệ quả bị mọt đục quả trên công thức tỉa cành tạo tán theo quy trình và tỉa cành tạo

tán theo tập quán của dân tại Chiềng ban - Mai Sơn - Sơn La năm 2013 Công thức

Kết quả cho thấy, tỷ lệ quả cà phê bị mọt đục quả của công thức tỉa cành theo tập quán của dân

và tỉa cành tạo tán theo quy trình ở các 2 công thức là tương đương nhau Qua đó, chúng tôi nhận thấymặc dù tỉa cành theo đúng quy trình nhưng khâu làm cỏ dọn vườn không tốt, không loại bỏ được cácquả khô rụng dưới đất là nơi mọt ẩn náu từ vụ trước sẽ có điều kiện tấn công sang vụ sau

Như vậy, tỉa cành tạo tán đúng kĩ thuật hạn chế sự phát triển, gây hại của rệp sáp mềm nâu và sâuđục thân hại cà phê

Qua đó, chúng tôi nhận thấy để khống chế sự gây hại của các sâu hại chính trên cà phê cần làm cỏdọn vườn kết hợp tỉa cành tạo tán đúng kỹ thuật

- Làm cỏ dọn vườn đúng kĩ thuật hạn chế sự phát triển, gây hại của rệp sáp mềm nâu (22,2% cây)

và mọt đục quả cả phê (10,2% quả)

- Tỉa cành tạo tán đúng kĩ thuật hạn chế sự phát triển, gây hại của rệp sáp mềm nâu (2,6% cây) vàsâu đục thân hại cà phê (5,13% cây)

Trang 30

Lời cảm ơn : Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban quản lý dự án JICA và các chuyên gia Nhật

Bản đã hỗ trợ chúng tôi thực hiện nghiên cứu này Nhóm tác g iả cũng biết ơn những người dân tạiChiềng Ban, Mai Sơn, Sơn La đã cho nhóm sử dụng các nương cà phê để bố trí thí nghiệm, thu thậpcác dữ liệu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Thị Chắt, 1999 Cà phê sâu bệnh, cỏ dại và biện pháp phòng trừ Nxb Nông

nghiệp, tr.19 - 21

[2] Võ Chấp, 1997 Nghiên cứu vai trò của một số biện pháp ký thuật đối với cây cà phê tại Dak Lak đến rệp sáp hại rễ và biện pháp phòng trừ bằng hóa học (Luận văn Thạc sĩ khoa học Nông

nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội )

[3] Vũ Quang Giảng, 2008 Sự phân bố của rệp sáp mềm nâu (Coccus hesperidum L) trên

cây cà phê chè và hiệu lực của một số thuốc hóa học Hội nghị côn trùng học toàn q uốc lần thứ 6 - HN

2008, tr.540

[4] Nguyễn Văn Hành và Ctv, 1999 Một vài suy nghĩ về hường phòng trừ sâu Bore ( Xylotrechus

quadripes Chev) hại cà phê Tạp chí BVTV số 5 - 1990.

[5] Phan Quốc Sủng, 1995 “Những sâu hại chủ yếu ở cà phê Việt Nam và biện pháp phòng trừ đối với sâu đục thân (Xylotrechus quadripes Chev)” Kỷ yếu 10 năm nghiên cứu khoa học (1983 - 1993).

Viện nghiên cứu cà phê, tr.441

INSECT PESTS CATIMOR COFFEE AND EFFECT OF SOME NATURAL

CONTROL FOR MAJOR INSECT PESTS

Bui Thi Suu M.A, Dr Vu Quang Giang

Faculty of Agriculture and Forestry

Abstract: Insect pests on Catimor coffee in Chieng Ban commune, Mai Son district, Son La province were

studied in 2013 Twenty species of insect belong sevent order from coffee gardens are recorded during present study In which, four insect species (Soft brown scales; White coffee stem borer; Coffee berry bore; Mosquito bug) are major pests

on coffee Weeding and removing remnant fruit reduce damage of soft brown scale (22,2% infested plants) and coffee berry bore (10,2% infested berry) Pruning non-fruit branches reduce damage of soft brown scale (2,6% infested plants) and white coffee stem borer (5,13% infested plants).

Keywords: Coffee pests, soft brown scales, white coffee stem borer, coffee berry bore, cultural control.

Trang 31

XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH RƠM LÁ THÔNG MÃ VĨ (PINUS MASONIA LAMB) TẠI MỘT SỐ KHU VỰC

RỪNG TRỒNG THÔNG MÃ VĨ THUỘC TỈNH SƠN LA

ThS Trần Quang Khải, ThS Đào Thị Mai Hồng

Khoa Nông Lâm

Tóm tắt: Trong mấy thập kỷ gần đây, rừng bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng Nguyên nhân

chủ yếu là do công tác bảo vệ rừng, phòng chống sâu bệnh hại chưa được quan tâm đúng mức Để có cơ sở cho việc quản

lý bệnh rơm lá Thông ở hiện tại và trong tương lai, nhằm tạo ra những khu rừng trồng năng suất cao và ổn định, chúng tôi tiến hành điều tra thu mẫu và xác định nguyên nhân gây bệnh để hạn chế tác hại của bệnh đến rừng trồng Thông tại Sơn La Kết quả ng hiên cứu đã xác định được loài Nấm gây bệnh có hai giai đoạn sinh trưởng, phát triển Giai đoạn vô tính là Nấm

Cercosporapini densiflorace Hori et Nambu, giai đoạn hữu tính là Nấm Mycosphaerellaa gibsonni H.EranS gây ra bệnh

rơm lá thông và đề xuất một số biện pháp hạn chế bệnh rơm lá Thông hại theo hướng IPM.

Từ khóa: Rừng Thông, bệnh rơm lá Thông, sâu bệnh hại, bảo vệ rừng.

1 Đặt vấn đề

Sơn La là tỉnh miền núi vùng Tây Bắc, rừng chiếm vị t rí chiến lược và có ý nghĩa phòng hộ,bảo vệ tài nguyên môi trường rất quan trọng Thực tế cho thấy diện tích rừng của Sơn La đã và đang bịtàn phá nghiêm trọng, dẫn đến suy giảm cả về diện tích, trữ lượng, chất lượng và độ che phủ, diện tíchđất trống đồi núi trọc ngày càng tăng cao

Thông mã vĩ là loài cây có khả năng thích ứng rộng với các điều kiện lập địa, sinh trưởng tốt trênđất trống đồi núi trọc, đất feralit nghèo, tầng đất mỏng, tỷ lệ đá lẫn cao Thông mã vĩ có giá trị lớn về mặtkinh tế và môi t rường, chúng cung cấp nguyên vật liệu cho ngành khai thác than, ngành xây dựng GỗThông mã vĩ bền đẹp được sử dụng trong công nghiệp chế biến ván dăm, ván dán và làm đồ trang trí.Nhựa Thông mã vĩ là nguyên liệu cần thiết cho ngành chế biến clophan, dầu T hông mã vĩ dùng trongcông nghiệp tạo sơn, xà phòng, vec -ni, dược liệu và nhiều mặt hàng khác Thông mã vĩ giữ vai trò quantrọng trong bảo vệ môi trường sinh thái, chống xói mòn, bảo vệ đất, giữ và điều tiết nguồn nước, chấtphytonxit trong rừng Thông có tác dụng diệt vi khuẩn gây bệnh Vì vậy, Thông được trồng rộng rãi ởnhiều nước ôn đới và á nhiệt đới Ở Việt Nam, Thông không chỉ được trồng ở Sơn La mà còn được trồng

ở Hòa Bình, Hà Giang, Tuyên Quang, … và phát triển mạnh ở Miền Trung Nhưng do nhiều ng uyênnhân khác nhau dẫn đến chất lượng Thông mã vĩ trồng ở Sơn La không đáp ứng được yêu cầu mục tiêucủa nhà kinh doanh cũng như của người dân Một trong những nguyên nhân không kém phần quan trọng

là công tác bảo vệ rừng, phòng chống sâu bệnh hại chưa đư ợc quan tâm đúng mức

Bệnh cây rừng là một loại tác hại tự nhiên vô cùng phổ biến Bệnh hại thường làm cho câyrừng sinh trưởng kém, lượng sinh trưởng hàng năm của cây gỗ giảm xuống, một số bệnh hại có thểlàm cho cây chết, thậm chí có thể gây chết hàng loạt Trong các loài sâu bệnh hại chủ yếu ở rừng trồngThông mã vĩ phải kể đến bệnh Rơm lá Thông Bệnh hại cả cây con và cây trưởng thành, lá bị hạithường khô không rụng tạo thành búi làm ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây và làm suy giảm giátrị kinh tế, lợi ích sinh thái môi trường Để có cơ sở cho việc quản lý bệnh hại này ở hiện tại và trongtương lai, nhằm tạo ra những khu rừng trồng năng suất cao và ổn định, chúng tôi tiến hành điều tra thumẫu và xác định nguyên nhân gây bệnh làm cơ sở đưa ra một s ố định hướng giảm thiểu ảnh hưởng củabệnh hại đến rừng trồng Thông mã vĩ tại Sơn La

Trang 32

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được nguyên nhân gây bệnh làm cơ sở đ ề xuất các biện pháp phòng trừ Nấm gâybệnh rơm lá trên loài cây Thông mã vĩ

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Xác định nguyên nhân gây bệnh rơm lá Thông ;

- Đề xuất một số biện pháp hạn chế bệnh rơm lá Thông hại theo hướng IPM

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Định loại Nấm thông qua việc mô tả triệu chứng của bệnh ngoài hiện trường Qu an sát và mô

tả tổ chức bị bệnh bằng kính lúp cầm tay ở các điểm điều tra tại khu vực rừng trồng Thông mã vĩ vàthu thập mẫu bệnh điển hình Quan sát sợi Nấm, cơ quan sinh sản của Nấm tại phòng thí nghiệm bằngkính hiển vi soi nổi và kính hiển vi quang học Tiến hành phân lập Nấm bệnh trên môi trường PDA vàthí nghiệm lây bệnh nhân tạo Từ những kết quả nghiên cứu về hình thái và giải phẫu của Nấm bệnhđối chiếu với các chuyên khảo định loại Nấm của các tác giả Zhao Liping(1983), Ainswoth (1973),F.G Brown (1968), Sutton B (1980) và Richard T Hanlin (1990) để định loại Nấm gây bệnh

3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Xác định vật gây bệnh

3.1.1 Mô tả triệu chứng của bệnh đốm đỏ lá Thông

Bệnh rơm lá thông là bệnh phổ biến và nghiêm trọng đối với cây con ở vườn ươ m và rừng mớitrồng Bệnh chủ yếu xuất hiện từ giai đoạn gieo ươm đến khoảng tuổi 10 ở Thông mã vĩ và khoảngtuổi 6 ở các loài Thông khác Bệnh xâm nhiễm trước hết những lá tán dưới của cây rồi lan dần lên trên,bệnh nặng có thể làm cho cây chết Nấm bệnh xâm nhiễm giữa lá, trên lá kim xuất hiện các chấm vàngtừng đoạn sau đó lan dần lên trên đầu lá Bệnh nặng làm cho lá cây có màu vàng (như màu vàng củarơm) và khô, rồi xuất hiện màu nâu sẫm hoặc nâu xám, lá bệnh rủ xuống xoăn lại và không rụng, lábệnh xoăn quấn lại với nhau giống như búi rơm Trên đốm bệnh có nhiều chấm đen tạo thành từngđám, đó là cuống bào tử và bào tử phân sinh Các đám chấm đen không liên tục trên lá

Hình 3.1 Ảnh cây Thông bị bệnh rơm lá 3.1.2 Một số đặc điểm của cơ quan sinh sản Nấm

Sau nhiều lần quan sát đo đếm kích thước các bào tử trên kính hiển vi quang học xác định hình

Trang 33

Bệnh rơm lá Thông do Nấm bào tử đuôi thuộc ngành phụ nấm bất toàn gây ra Chất đệm trên láthường mọc trong xoang khí khổng, cuống bào tử mọc thành bó chìa ra từ khí khổng, màu nâu sẫm, hơiuốn cong, có 2 - 5 vách ngăn, kích thước 10 - 45m x 2 - 2.5m Bào tử đơn bào, mọc đơn lẻ, hình lưỡiliềm, hình que hoặc roi, hơi uốn cong, có 2 - 7 vách ngăn, kích thước có chiều dài 20m - 60m, chiềurộng 3m - 3.7m, không màu hoặc màu vàng nhạt Giai đoạn hữu tính mới được phát hiện.

Hình 3.2 Ảnh bào tử Nấm gây bệnh rơm lá Thông 3.1.3 Kết quả định loại

Trên cơ sở triệu chứng của bệnh, hình thái và kích thước bào tử, cuống bào tử và tham khảo,đối chiếu với các tài liệu phân loại Nấm của các tác giả Zhao Liping(1983), F.G Brown (1968)

+ Giai đoạn vô tính (Anamorph): Nguyên nhân gây bệnh được xác định là do nấm bào tử đuôi

Cercosporapini densiflorace Hori et Nambu, thuộc chi Nấm bào tử sợi ( Cercosporapini), họ Nấm bào

tử sợi (Dematiaceae), bộ Nấm bào tử sợi (Hyphales), lớp Nấm bào tử sợi (Hyphomyectes), ngành phụNấm bất toàn (Deuteromycotina), ngành Nấm thật (Eumycota), giới Nấm (Fungi)

+ Giai đoạn hữu tính (Telemorph): Trên cơ sở hình thái và kích thước bào tử tham khảo, đốichiếu với tài liệu chuyên khảo Nấm túi của Richard T Halin 1990, loài Nấm được xác định là nấm

xoang cầu Mycosphaerellaa gibsonni H.EranS, chi Nấm xoang cầu (Mycosphaerellaa), họ Nấm túi

đệm (Dothideaceae), bộ Nấm túi đệm (Dothidiles), lớp Nấm xoang (Loculoascomycets), ngành phụNấm túi (Ascomycotia), ngành Nấm thật (Eumycota), giới Nấm (Fungi)

3.1.4 Điều kiện phát bệnh

Khi nuôi cấy Nấm trong môi trườ ng PDA nhân tạo, quan sát thấy Nấm không hình thành bào

tử, nhưng khi cho thêm một ít đường, điều chỉnh độ pH: 5 - 6, tiến hành chiếu đèn huỳnh quang liêntục ở nhiệt độ 20 - 250C sau 5 ngày nuôi đã hình thành nhiều bào tử Để bào tử Nấm trong điều kiệnnhiệt độ 180C nảy mầm chậm, tăng nhiệt độ lên 250C sau 4h quan sát thấy bào tử nảy m ầm, Nấm nảymầm thích hợp nhất ở nhiệt độ 24 - 280C và độ ẩm 95%, nếu ở môi trường khô hạn ống mầm của Nấmngừng sinh trưởng, sau 24h nếu cho thêm giọt nước Nấm lại tiếp tục sinh trưởng Chứng tỏ Nấm bệnh

có khả năng chống chịu khô hạn

Nấm tiến hành qua đông bằng sợi Nấm nằm trong mô bệnh Khi lấy lá bệnh vùi trong đất quansát thấy khả năng sống của Nấm tùy theo độ sâu khi vùi, càng sâu thì khả năng sống của Nấm cànggiảm Sau khi qua đông vào mùa sinh trưởng mới Nấm tiến hành lây lan, nếu gặp điều kiện thích hợpNấm hình thành bào tử phân sinh Bào tử lây lan nhờ gió

Trang 34

Cây con gieo ươm 2 năm lá bệnh già, vào mùa xuân hè nhất là tháng 4 - 5 hình thành hàng loạtbào tử và là nguồn xâm nhiễm quan trọng, thán g 8 - 9 bệnh phát triển mạnh nhất, tháng 11 bệnh giảmdần xuống Nhiệt độ và độ ẩm cao rất có lợi cho sự xâm nhiễm của vật gây bệnh.

Cây Thông được gieo ươm mọc trong điều kiện tầng đất mỏng, đất cày thô, giữ nước kém, câytrồng hay gieo ươm với mật độ cao , sinh trưởng kém bệnh thường nặng Vườn ươm liên canh, khôngloại bỏ cây bệnh, đất không cày sâu bệnh cũng rất nặng

Bệnh phát sinh nhiều trên cây Thông nhựa, sau 1 - 2 năm bệnh vẫn nhiều Đối với Thông mã vĩtuy dễ bị bệnh nhưng sau 2 - 3 năm bị bệnh, thậm chí 10 năm vẫn bị bệnh nhưng bệnh nhẹ do sức đềkháng tăng lên Đối với Thông Caribbeae khả năng đề kháng tốt nên ít bị bệnh

3.2 Đề xuất một số biện pháp phong trừ theo hướng IPM

Mục đích cuối cùng của nghiên cứu bệnh cây rừng là phòng trừ bệnh, bảo v ệ sự sinh trưởng vàphát triển của cây rừng, làm tăng thêm lợi ích kinh tế và lợi ích sinh thái môi trường Dựa vào nhữngkết quả nghiên cứu trên và của các tác giả trong và ngoài nước, giải pháp phòng trừ bệnh theo hướng

IPM được đề xuất với việc tuân thủ nguyên tắc: “Phòng là chính, trừ là phụ, lấy biện pháp kỹ thuật

lâm nghiệp là chính, biện pháp hoá học là phụ, lấy phòng bệnh bảo vệ cây kết hợp với các biện pháp làm tăng sản lượng và phẩm chất của gỗ rừng”

Trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp phòng trừ sau:

- Vào các tháng mưa nhiều, độ ẩm lớn (điều kiện thích hợp cho nấm bệnh phát sinh, phát triển)

ta cần tiến hành chặt bỏ cây, cành bị bệnh nặng và làm tốt công tác vệ sinh rừng, chặt tỉa thưa loại bỏnhững cây sinh trưởng kém, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển tốt, nâng cao sức đề khángvới bệnh hại Ngoài ra ta cần phải theo dõi thường xuyên, kịp thời ngăn chặn bệnh không để cho bệnhlây lan và phát triển

- Chọn đất và cây trồng thích hợp v ùng sinh thái với phương châm “ đất nào cây ấy” để nâng

cao tính chống chịu của cây Không nên trồng Thông trên vùng đất quá chua, những lập địa thoát nướckém, bị ngập úng cục bộ trong mùa mưa hay những nơi đất quá nghèo dinh dưỡng

- Sau khi rừng khép tán phải tiến hành tỉa thưa hợp lý, tránh để cây chứa nhiều nước mưa, độ

ẩm cao, tạo điều kiện cho bào tử nấm nảy mầm Mùa tỉa thưa tốt nhất là mùa khô

- Nên trồng rừng hỗn giao để hạn chế sự lây lan và phát triển của bệnh rơm lá Thông Trồngrừng với mật độ phù hợp và thực hiện đúng quy trình kỹ thuật

- Cần tuyển chọn những giống cho năng xuất cao, có tính kháng bệnh và có khả năng chống chịutốt với điều kiện khắc nghiệt của môi trường Nên chọn giống từ những rừng có sức sống cao, sinhtrưởng tốt, không sâu bệnh Đối với những hạt để làm giống thì ta cần phải qua kiểm nghiệm trước

- Tránh lập vườn ươm gần những khu vực bị bệnh, vườn ươm được xây dựng cần cách xa nơirừng trồng cùng loài để tránh sự lây lan của vật gây bệnh từ cây rừng đến cây con

- Làm tốt công tác kiểm dịch, không đem cây con bị bệnh từ vùng này sang vùng khác Khoanhvùng những khu vực có dịch bệnh xuất hiện, không cho chúng lây lan rộng và tích cực áp dụng cácbiện pháp tiêu diệt ngay Nếu bệnh lây lan tới các khu vực mới cần áp dụng các biện pháp khẩn cấp đểtiêu diệt như: chặt bỏ cây, cành bị bệnh, lá bệnh rụng đem đốt hoặc chôn sâu dưới đất Không thu háihạt giống từ những cây mẹ ở vùng bị bệnh và mang cây con bị bệnh đem đi trồng

- Nghiêm cấm các hành vi đốt rừng, chặt phá rừng, chăn thả gia súc bừa bãi vì dễ dẫn đến gâ ytổn thương cơ giới cho cây Đây là cơ hội thụân lợi cho nấm gây bệnh rơm lá Thông xâm nhiễm

Trang 35

- Tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho các cán bộ, người dân ở những khu vực gần rừng.

- Đồng thời cần phun thuốc nước Bordo 1% hoặc Tuzet (Hỗn hợp Mon zet, Zineb, Thiram),hoặc Benlate 0.1%, với chu kỳ phun 5 - 7 ngày phun một lần, phun 3 - 4 lần

4 Kết luận

- Xác định được nguyên nhân gây bệnh: Giai đoạn vô tính ( Anamorph) là do Nấm bào tử đuôi

Cercosporapini densiflorace Hori et Nambu, Giai đoạn hữu tính (Telemorph) là Nấm xoang cầu Mycosphaerellaa gibsonni H.EranS gây ra.

- Đề xuất được một số biện pháp phòng trừ Nấm bệnh dựa trên nguyên tắc tổng hợp (IPM)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Trần Văn Mão, 1997 Bệnh cây rừng Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

[2] Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão, 2001 Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh hại trong lâm nghiệp Nxb nông nghiệp, Hà Nội.

[3] Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão, 2004 Bảo vệ thực vật Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

[4] Ainsworth G.C ,1973 The fungi London, New York.

[5] Brian C Sutton, 1980 The Coleomycetes, Fungi Imperfecri with Pyenidia, Commonwealth

Mycological Institute Printed in Great Bristain

[6] Brown G.F, 1968 Forest tree pests and deseases in plantation London.

[7] Richard T Hanlin, 1990 Illustrated Genera of Ascomycetes, The American Phythopathological

Society St Paul Minesota.

[8] Zhao L.P, 1983 Systema Mycologycum Beijing.

IDENTIFY THE CAUSES OF PINE MAWEI STRAW (PINUS MASONIANA LAMB)

IN SOME PINE MAWEI PLANTATION AREAS IN SON LA PROVINCE

Tran Quang Khai M.A, Dao Thi Mai Hong M.A

Faculty of Agriculture and Forestry

Abstract: In recent decades, forests have been severely reduced in both quantity and quality It is mainly because

forest protection, pest and disease prevention have not been given due attention To have a basis for the disease management of pine needles straw currently and future, from that to create high-yield and stable plantations, we conducted sampling survey and identify causes for mitigate the impacts of the disease in Son La pine plantation The research results have identified pathogenic fungi which has two phases of growth and development Asexual stage is fungus is

Cercosporapini densiflorace Hori et Nambu, sexual stage is fungi cause disease Mycosphaerellaa gibsonni H.EranS which

causes disease for pine straw we also proposed some measures to limit harmful diseases pine straw towards IPM.

Keywords: Forest protection, pest and disease, disease pine leaf straw, forest pine.

Trang 36

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

ThS Hoàng Phúc

Khoa Lý luận Chính trị

Tóm tắt: Giáo dục thế kỷ XXI đang đứng trước sự phát triển nhảy vọt của khoa học và công nghệ, đặc biệt xu thế hội

nhập, toàn cầu hóa đã và đang tác động đến phát triển giáo dục đại học Trước bối cảnh quốc tế đó, triết lý về giáo dục của t hế kỷ XXI có những biến đổi to lớn, trong đó đặc biệt coi trọng đến sự phát triển năng lực tự học của người học, chính hoạt động

tự giác, tích cực của cá nhân trong quá trình tự học đóng vai trò quyết định đến việc hình thành và phát triển nhân cách nghề nghiệp của sinh viên.

Thế kỉ XXI đang chứng kiến sự phát triển nhảy vọt của khoa học và công nghệ, đặc biệt xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, tri thức hóa nền kinh tế đã và đang tác động đến phát triển giáo dục đại học Trước bối cảnh quốc tế đó, triết lý về giá o dục của thế kỷ XXI có những biến đổi to lớn, được thể hiện vào tư tưởng chủ đạo là lấy việc học là học để biết, học để làm, học để chung sống cùng nhau, học để làm người và hướng tới xây dựng một xã hội học tập, học tập suốt đời.

Từ khóa: Tự học, năng lực, năng lực tự học.

1 Đặt vấn đề

Nhận thức chung về xu thế giáo dục đại học thế kỷ XXI : Tại hội nghị Thế giới về “Giáo dục đại học

thế kỉ XXI: Tầm nhìn và hành động ” (5/10/1998 tại trụ sở UNESCO ở Paris) Hội nghị có 115 bộ trưởng và

4300 chuyên gia tham gia Đây là hội nghị thế giới đầu tiên về giáo dục đại học Hội nghị tập trung thảo luận

về giáo dục đại học và để thỏa thuận về một nền giáo dục đại học mà chúng ta cầ n cho thế giới sắp tới, đó là:Nền giáo dục đại học vì ai, do ai và tại sao như vậy, và nền giáo dục đại học đ áp ứng cho một kiểu xã hội vàmột thế giới như thế nào Trong báo cáo bế mạc, hội nghị đã nêu ra bối cảnh những thách thức chủ yếu màgiáo dục đại học phải đối mặt trong thế kỷ XXI Đó là khoa học, công nghệ thông tin và truyền thông, nềnkinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hóa, với những thách thức về hội nhập, hợp tác quốc tế, giữa sự vô hạn về trithức và khả năng có hạn của nhận thức con người để tiếp thu Đặc biệt là một số quan niệm học tập là mộtkho báu tiềm ẩn, học tập suốt đời và xã hội học tập

Thập niên đầu của thế kỷ XXI, giáo dục đại học thế giới phát triển rất nhanh chóng với những xuhướng biểu hiện rõ rệt: đại chúng hóa, thị trường hóa, đa dạng hóa và quốc tế hóa Sứ mạng của giáo dục đạihọc càng được khẳng định: đào tạo những con người có trình độ chuyên môn cao, có trách nhiệm công dân,tạo ra một không gian mở cho đào tạo và học tập suốt đời; thúc đẩy và truyền bá tri thức qua giảng dạy vànghiên cứu; giúp hiểu biết, giải thích, bảo vệ, truyền bá văn hóa dân tộc và khu vực, quốc tế và lị ch sử; đónggóp vào sự phát triển và cải tiến giáo dục nhất là trong việc đào tạo giáo viên…Trong đó, xu thế đào tạo lấymục tiêu phát triển năng lực tự học của người học được xem là một trong những định hướng chủ đạo

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Giáo dục đại học định hướng phát triển năng lực tự học

Trong khoa học giáo dục, chương trình dạy học mang tính hàn lâm còn được gọi là chương trình địnhhướng nội dung dạy học Chương trình định hướng nội dung tồn tại phổ biến trên thế giới cho đến giữa thế kỷ

XX và ngày nay vẫn còn ở nhiều nước Đặc điểm cơ bản của chương trình giáo dục này là chú trọng việctruyền thụ hệ thống tri thức khoa học theo các học phần đã được quy định trong chương trình đào tạo mỗingành Ngày nay, chương trình dạy học định hướng nội d ung không còn thích hợp, do có nhữngnguyên nhân cơ bản sau:

Nội dung tri thức nhanh thay đổi và bị lạc hậu, việc quy định những nội dung chi tiết trong chươngtrình dạy học dẫn đến tình trạng nội dung chương trình dạy học nhanh chóng bị lạc hậu so với tr i thức hiệnđại Do đó việc tự học ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị cho con người có khả năng học

Trang 37

Chương trình dạy học định hướng nội dung dẫn đến xu hướng việc kiểm tra đánh giá chủ yếu dựatrên việc kiểm tra khả năng tái hiện tri thức đã học trên lớp mà không hướng vào đánh giá năng lực vận dụngtri thức trong thực tiễn.

Do phương pháp dạy học mang tính thụ động và ít chú ý đến khả năng ứng dụng nên sản phẩm giáodục là những con người mang tính thụ động cao, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động Do đó chươngtrình giáo dục này không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động mang tính khu vựchóa, toàn cầu hóa đối với người lao động Với yêu cầu về kiến thức, kỹ năng không ngừng thay đổi phát triểnđòi hỏi người lao động phải có khả năng thích ứng nhanh, điều đó đòi hỏi năng lực tự học, tự bồi dưỡng kỹnăng của mỗi cá nhân là vô cùng quan trọng, năng lực này phải được ươm mầm phát triển từ các cơ sở đàotạo, đặc biệt là bậc đại học

2.1.1 Năng lực và năng lực tự học

Khái niêm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng la tinh “competentia” có nghĩa là gặp gỡ Ngày

nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năngthực hiện của cá nhân đối với một công việc Năng lực còn được hiểu là khả năng, công suất của một doanhnghiệp, thẩm quyền pháp lý của một cơ quan

Theo từ điển tâm lý học (Vũ Dũng, 2000) “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm

lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong , tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt đông nhất định” Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử

dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chấ t động cơ, tình cảm đểchiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến

nó thành sở hữu của chính bản thân người học

Như vậy, năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết cáctình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng cách giải quyết vấn đềmột cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt

Với tư cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội t ụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm, hiểu một cách khái quát, năng lực là khả năngthực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huốngkhác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết kỹ năng, kỹ xảo và kinhnghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động

Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mớihoặc tương tự với chất lượng cao cũng như là khả năng thực hiện có hiệu quả hoạt động học tập cả vềchuyên môn và nghiệp vụ

Quá trình đào tạo ở các trường đại học chỉ là sự đào tạo ban đầu, trang bị kiến thức cơ bản nền tảnglàm cơ sở cho quá trình đào tạo tiếp theo Do đó việc tự học, tự đào tạo đóng vai trò quan trọng, quyết địnhcho sự thành đạt của mỗi người

Như vậy, năng lực tự học là năng lực hết sức quan trọng, là điều kiện cần mà sinh viên đại học phải

có, vì nó là chìa khóa tiến vào thế kỉ XXI - thế kỉ với quan niệm học suốt đời, xã hội học tập Có năng lực tự

học mới có thể tự học suốt đời được Vì vậy học tập ở trường đại học, mà quan trọng nhất là học cách học,cách tiếp cận tri thức

2.1.2 Vai trò của tự học đối với sự phát triển nhân cách của người học

Tự học có ý nghĩa quan trọng, quyết định trực tiếp sự phát triển nhân cách sinh viên (SV) Các nhà

Trang 38

Tâm lý học duy vật biện chứng cho rằng: Bản chất của sự hình thành và phát triển tâm lý con người là quátrình tiếp thu, lĩnh hội hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà loài người đã phát hiện, tích lũy và tồn tại dướidạng hệ thống những tri thức khoa học.

Để lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, người học phải tự tìm tòi, tự tổ chức việc chiếmlĩnh những tri thức khoa học của nhân loại, tức là SV phải tự học Điều đó còn có ý nghĩa rất lớn trongmôi trường dạy học ở bậc đại học, vì nếu không có tự học thì SV không thể hoàn thành nhiệm vụ họctập theo phương châm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Nhờ có hoạt động tự học mà

SV có thể hình t hành được những năng lực cơ bản để có thể “ học tập suốt đời” Nó cho phép SV sau

khi ra trường có thể tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng vớinhững yêu cầu mới của xã hội Như vậy, mỗi người đều suốt đời cứ bổ sung, bổ sung mãi cho nhữngkiến thức đã được học ở nhà trường Cuộc sống đòi hỏi rất nhiều kiến thức mà chúng ta phải tự học đểtích lũy tri thức

Sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người có nhiều yếu tố, đó là: yếu tố bẩm sinh ditruyền, yếu tố môi trường, điều kiện xã hội, yếu tố giáo dục và hoạt động tự giác tích lũy kiến thức của cánhân Trong các yếu tố đó thì hoạt động của cá nhân đóng vai trò là yếu tố quyết định sự phát triển nhân cáchcủa người học

Như vậy, hoạt động tự giác, tích cực của cá nhân trong quá trình tự học đóng vai trò quyết địnhđến việc hình thành và phát triển nhân cách nghề nghiệp của SV bậc đại học Vì nhân cách nghề (gồm trithức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp…) chỉ có được trong quá trình tự học, tự rèn luyện củamỗi SV Tuy nhiên, tự học của SV vẫn cần thiết phải có sự hướng dẫn, tổ chức của giảng viên nhằm giúp

SV thực hiện những nhiệm vụ học tập trong quá trình đào tạo ở trường Phương pháp dạy học trong nhàtrường được thực hiện theo đặc trưng từng môn học, dướ i sự tổ chức, điều khiển của người dạy buộcngười học tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của bản thân Hay nói cách khác, muốn hoạt độnghọc tập đạt kết quả thì người dạy phải tổ chức và điều khiển người học hoạt động tự học, tự nghiên cứumột cách có kế hoạch, hệ thống và hoàn toàn chủ động

2.1.3 Một số năng lực tự học cơ bản cần trang bị cho người học trong quá trình dạy học

Phát triển năng lực tự học của mỗi người cần huy động và sử dụng tổ hợp nhiều năng lực, trong đó cócác năng lực cơ bản s au:

Năng lực tự nhận biết tìm tòi và phát hiện vấn đề

Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề hết sức quan trọng đối với SV trong quá trình học tập ởtrường đại học Năng lực này sẽ giúp SV tự làm giàu kiến thức của mình, vừa rèn luyện các kĩ n ăng tư duy,thói quen phát hiện, tìm tòi, những kiến thức mới của môn học

Năng lực này đòi hỏi SV phải quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu khoahọc Trên cơ sở những lý luận và hiểu biết đã có của mình, SV phát hiện ra các khó khăn, những hạn chế, cácđiểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các tri thức muốn khám phá Việc thường xuyên rèn luyệnnăng lực này tạo cho SV thói quen hoạt động trí tuệ, tìm tòi, nhìn nhận các kiến thức trong học tập, thực hành,thực nghiệm, nghiên cứu khoa học một cách sáng tạo

Năng lực tự giải quyết vấn đề

Quá trình học tập của SV là một quá trình tự lĩnh hội, tự phát triển kiến thức thông qua việc giải quyếtcác mâu thuẫn giữa nhu cầu hiểu biết kiến thức và kĩ năng của nghề nghiệp với năng lực tự học của SV Mâuthuẫn này luôn tồn tại, nảy sinh trong học tập, thí nghiệm, rèn kĩ năng dạy học nhưng cũng liên tục được gi ải

Trang 39

quyêt bởi chính bản thân SV Vì vậy ở trường đại học, cần bồi dưỡng cho SV năng lực giải quyết vấn đềtrong học tập, nghiên cứu khoa học để họ có khả năng xử lý tốt các tình huống, các vấn đề nảy sinh trongthực tiễn công tác sau này.

Năng lực tự giải quyết vấn đề bao gồm: Khả năng trình bày vấn đề, xác định cách thức tiếp cậnđối tượng, lập kế hoạch giải quyết vấn đề, thu t hập và xử lý thông tin, đề xuất các nguồn lực, giải phápgiải quyết vấn đề Thực tế cho thấy nhiều SV hoàn toàn bị động, không biết hệ thống hóa và xử líthông tin như thế nào khi tiếp cận một vấn đề mới Để phát triển năng lực này, vai trò hướng dẫn, gi úp

đỡ của giảng viên ngay từ những hoạt động ban đầu khi giải quyết vấn đề của SV là rất cần thiết.Thực tế trong dạy học hiện nay, đa số sinh viên lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch tự học chưa nhiều

và hiệu quả, đa số sinh viên chưa thấy được tầm quan trọng của việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học,

tự nghiên cứu Vì vậy, với chức năng và nhiệm vụ của mình, giảng viên cần hướng dẫn cho sinh viên biếtcách xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học trên cơ sở kế hoạch chung của khoa, nhà trường Kế hoạch đ ượcxây dựng phải có mục đích, nội dung, phương pháp rõ ràng và có tính khả thi cao, phù hợp với năng lực của

cá nhân và thời gian tự học cho phép, phải đảm bảo sự cân đối hợp lý trong việc sử dụng thời gian vào cáchoạt động học tập, lao động, vui chơi, giải trí Đồng thời, có thể dự báo được các tình huống, các biến động

có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến đến việc thực hiện kế hoạch học tập của cá nhân hoặc lớp

Năng lực hệ thống hóa và khái quát hóa tài liệu học tập, tham khảo

Giáo trình và tài liệu tham khảo là nguồn tri thức đa dạng và phong phú, giúp người học mở rộng đàosâu tri thức, tăng vốn hiểu biết của mình và thoả mãn nhu cầu nhận thức của bản thân Tuy nhiên, đọc giáotrình và tài liệu tham khảo phục vụ cho hoạt động tự nghiên cứu của bản thân khô ng đơn giản như đọc sáchbáo mang tính chất giải trí, mà đọc ở đây là học tập, mà muốn đọc hiểu phải có tư duy phân biệt đúng sai, cóthái độ phê phán, có sự tập trung cao độ hay nói cách khác là phải có thái độ nghiêm túc và phương phápkhoa học, phù hợp thì mới mang lại hiệu quả Vì vậy, không phải sinh viên nào cũng dễ dàng thực hiện được,cho nên trong dạy học giảng viên cần hướng dẫn cho sinh viên có kỹ năng đọc sách và tài liệu tham khảo,điều này không chỉ thuận lợi trong quá trình học mà còn có ý ng hĩa to lớn trong những năm tháng sau này đểsinh viên có thể tự học, tự nghiên cứu trau dồi tri thức liên tục trong quá trình công tác

Việc hướng dẫn sinh viên kỹ năng hệ thống hóa, khái quát hóa tài liệu là công việc rất quantrọng, nó giúp người học ph át triển năng lực nhận thức của bản thân, có khả năng khái quát, hệ thốnghoá tài liệu dưới hình thức làm d àn ý, đề cương, sơ đồ, mô hình…V à giúp sinh viên nắm được tàiliệu nghiên cứu một cách tổng quát, toàn diện và có chiều sâu Hiện nay, nhiều sinh viê n chưa thựchiện tốt được kỹ năng này bởi vì để thực hiện được, sinh viên cần phải nỗ lực tư duy ở mức độ cao

để khái quát hệ thống hoá kiến thức những yếu tố cơ bản, có cùng đặc điểm, sắp xếp theo một trật tựlôgíc nhất định bằng những từ ngữ ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ

Trong quá trình đọc, sinh viên phải phân tích, nghiên cứu kỹ tài liệu để hiểu sâu sắc vấn đề thì mớikhái quát được và phải tùy theo khả năng của mình để khái quát hoá, hệ thống hóa vấn đề dưới dạng đềcương, sơ đồ cho phù hợp Để giúp sinh viên có kỹ năng hệ thống hóa, khái quát hóa tài liệu trong hoạtđộng tự học, giảng viên phải giúp các sinh viên hiểu hệ thống hóa, khái quát hóa là gì, được thực hiện dướihình thức, thao tác nào

Hệ thống hoá là năng lực nhận biết được tính lôgíc của nộ i dung đã đọc, tìm ra những điểm tươngđồng và khác biệt của sự vật, hiện tượng để sắp xếp các ý, phần thành một hệ thống chặt chẽ Thực hiệnđược như vậy sẽ giúp người học nắm kiến thức có hệ thống, nhanh chóng, rõ ràng, dễ hiểu hơn

Trang 40

Kỹ năng khái quát hóa vấn đề rất cần thiết đối với mọi môn học của sinh viên Nhờ có kỹ năng này

mà sinh viên có thể khái quát một vấn đề nào đó qua nhiều tài liệu khác nhau để nắm được cái chungnhất, và từ cái chung này khi làm bài kiểm tra có thể triển khai mở rộng ra thành một bài luận hoànchỉnh, mà sinh viên không nhất thiết phải học thuộc lòng một khối lượng lớn tri thức của môn học

Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Việc học tập và rèn luyện của sinh viên đồng thời cũng là quá trình rèn luyện tư duy trong việcphát hiện vấn đề, kỹ năng vận dụng kiến thức đã học trong việc giải quyết vấn đề Kết quả việc học tậpcủa sinh viên được thể hiện ngay trong thực tiễn quá trình học tập, thực hành, khả năng thu thập vàlĩnh hội tri thức

Rèn luyện năng lực vận dụng, là từng bước giúp cho sinh viên có khả năng định hướng vànhanh chóng nắm bắt đúng đối tượng một cách chính xác trong hoạt động trí tuệ, có khả năng xử lýnhạy bén các thông tin trước những tình huống khác nhau (vì bản thân thông tin chưa là tri thức khichưa được xử lý), biết phê phán, phân tích đánh giá các quan điểm, lý thuyết và phương pháp củangười khác để tiếp thu cái hay cái tốt, khắc phục cái lạc hậu, lệch lạc và quan trọng hơn cả là hìnhthành được tính độc lập trong tư duy và huy động được tri thức l ý luận và kinh nghiệm để giải quyếtcác vấn đề thực tiễn đặt ra mà không phụ thuộc vào người khác

Năng lực đánh giá và tự đánh giá

Trong dạy học theo kiểu truyền thống, đề cao quyền uy của người thầy, tính tự chủ của SV bịhạn chế rất nhiều, ít có sự phản hồi trực tiếp với giảng viên về mặt tri thức từ phía SV

Dạy học đề cao vai trò tự chủ của SV, đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích, bắtbuộc SV đánh giá và tự đánh giá … SV phải biết chính xác mặt mạnh, yếu của bản thân mình mới cóthể học tập, có thể tự tin trong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học

Như vậy, các năng lực đã nêu trên đan xen, tác động hỗ trợ với nhau, tạo nên năng lực tự học ở

SV Các năng lực đó cũng chính là năng lực của người nghiên cứu khoa học V iệc rèn luyện được cácnăng lực đó, chính là đặt SV vào vị trí của người nghiên cứu khoa học, cách khác đó là sự rèn luyện đểphát triển năng lục tự học, tự nghiên cứu cho SV

3 Kết luận

Dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học ở bậc đại học đòi hỏi việc dạy không đơn giảng làtruyền thụ kiến thức có sẵn trong chương trình cho SV mà giảng viên phải là người hướng dẫn SV tựnghiên cứu, bản thân bài giảng ở đại học cũng phải là một tài liệu nghiên cứu khoa học Điều này phù hợpvới một trong các khuyến nghị của hội nghị thế giới về giáo dục đại học trong thế kỷ XXI: Tầm nhìn vàhành động (Pari, 10/1998), đó là: Cần đặc biệt chú ý việc nâng cao kiến thức thông qua tự nghiên cứu và sựcần thiết phải có một mô hình mới của giáo dục đại học, đó là giáo dục lấy người học làm trung tâm Học

là phương thức để con người tiếp thu tri thức, hành vi trong cuộc sống Việc học giúp cá nhân lĩnh hộinhững tri thức và được tích lũy trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt hoạt cộng đồng Việc lĩnhhội tri thức của mỗi người chỉ đạt được kết quả khi họ tự học Do vậy phát triển năng lực tự học, tự nghiêncứu có ý nghĩa to lớn trong việc thúc đẩy con người tích lũy kinh nghiệm, tri thức khoa học để năng caonăng lực nhận thức thế giới khách quan vốn luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng

Ngày đăng: 29/02/2016, 12:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1.2. Biểu đồ cơ cấu đ àn trâu bò theo từng huyện - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Hình 3.1.2. Biểu đồ cơ cấu đ àn trâu bò theo từng huyện (Trang 16)
Bảng 3.2.3. Danh mục một số lo ài cây cỏ nhập nội phổ biến - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Bảng 3.2.3. Danh mục một số lo ài cây cỏ nhập nội phổ biến (Trang 18)
Bảng 6. Kết quả đánh giá tổng hợp các DTLS - VH ở tỉnh Quảng Ngãi - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Bảng 6. Kết quả đánh giá tổng hợp các DTLS - VH ở tỉnh Quảng Ngãi (Trang 97)
Bảng 7. S ố lượng du khách đến Lý Sơn giai đoạn 2008 - 2012 - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Bảng 7. S ố lượng du khách đến Lý Sơn giai đoạn 2008 - 2012 (Trang 99)
Hình 2. Tỉ lệ dân đô thị thế giới qua các năm (%) - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Hình 2. Tỉ lệ dân đô thị thế giới qua các năm (%) (Trang 146)
Bảng 3. Tỉ lệ thị dân đô thị  phân theo châu lục giai đoạn 1950 - 2050 (%) ( * Dự báo) - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Bảng 3. Tỉ lệ thị dân đô thị phân theo châu lục giai đoạn 1950 - 2050 (%) ( * Dự báo) (Trang 148)
Bảng 4. Dân cư đô thị thế giới theo các cấp đô thị và nhóm nước qua các năm ( * Dự báo) - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Bảng 4. Dân cư đô thị thế giới theo các cấp đô thị và nhóm nước qua các năm ( * Dự báo) (Trang 149)
Bảng 2. Đa hình SSR ở 26 mẫu giống lúa tẻ nghiên cứu - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Bảng 2. Đa hình SSR ở 26 mẫu giống lúa tẻ nghiên cứu (Trang 167)
Hình 2.  Sự phân bố số alen (A) và chỉ số PIC (B) của 26 mẫu giống lúa tẻ bằng 33 chỉ thị SSR - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Hình 2. Sự phân bố số alen (A) và chỉ số PIC (B) của 26 mẫu giống lúa tẻ bằng 33 chỉ thị SSR (Trang 168)
Hình 3. Phân nhóm 26 mẫu giống lúa tẻ địa phương theo phân tích tương đồng di truyền - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Hình 3. Phân nhóm 26 mẫu giống lúa tẻ địa phương theo phân tích tương đồng di truyền (Trang 170)
Bảng 4. Kết quả tính hàm lượng kim loại đồng, chì cađimi, kẽm trong mẫu rau - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Bảng 4. Kết quả tính hàm lượng kim loại đồng, chì cađimi, kẽm trong mẫu rau (Trang 174)
Bảng 1. Các chỉ số đo mẫu vật của lo ài Megophrys major và Quaspaa verucospinosa - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Bảng 1. Các chỉ số đo mẫu vật của lo ài Megophrys major và Quaspaa verucospinosa (Trang 178)
Hình 1. Bản đồ và ảnh mẫu, sinh cảnh sống - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Hình 1. Bản đồ và ảnh mẫu, sinh cảnh sống (Trang 180)
Hình 1. Tái sinh cây sắn qua các giai đoạn khác nhau. - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Hình 1. Tái sinh cây sắn qua các giai đoạn khác nhau (Trang 185)
Hình 1. Con đường tạo thành RNAi. - Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Hình 1. Con đường tạo thành RNAi (Trang 190)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w