MỤC LỤC Trang Báo cáo đề dẫn Đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Quan hệ biện chứng của kinh tế hộ và kinh tế hợp t
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Báo cáo đề dẫn
Đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa
bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Quan hệ biện chứng của kinh tế hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn
nước ta
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế hợp tác và ý nghĩa của nó trong đổi mới hợp tác
xã nông nghiệp hiện nay ở nước ta
Tiêu thụ thuỷ sản nuôi trồng ở Thừa Thiên Huế
Áp dụng phương pháp mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để đánh giá các yếu tố
tác động đến hành vi sau tiêu dùng của hành khách việt nam đi máy bay
Việt nam đã cải thiện năng lực cạnh tranh trước những thách thức của WTO?
Nghiên cứu so sánh và kiểm định thống kê chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI
Tăng cường liên kết địa phương để phát triển du lịch bền vững - trường hợp chuỗi
cung ứng rau xà lách ở Thừa Thiên Huế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thừa Thiên Huế 20 năm đổi mới (1986 – 2005)
Sinh kế, nghèo đói và vấn đề giới vùng đầm phá tam giang - cầu hai, Thừa Thiên
Huế
Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại các tỉnh bắc miền trung
Tình hình vốn kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp ở Thừa Thiên Huế trong
giai đoạn hiện nay
Xây dựng hệ thống quản lý điểm và hồ sơ sinh viên áp dụng cho phòng giáo vụ và
quản lý sinh viên của Trường Đại học Kinh tế Huế
Thực trạng phát triển kinh tế vùng gò đồi huyện Hương Thủy
So sánh sự hài lòng về công việc của cán bộ công nhân viên giữa Ngân hàng thương
mại Nhà nước và Ngân hàng cổ phần thương mại ở Thừa Thiên Huế
Vốn FDI ở tỉnh Thừa Thiên Huế - nhìn từ góc độ chính sách thu hút đầu tư
Thị trường chứng khoán Việt Nam sau gần 7 năm hình thành và phát triển
Phân tích những thay đổi căn bản của hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong các
đơn vị hành chính sự nghiệp theo quyết định 19/2006/QĐ - BTC
Nghiên cứu tình hình vận dụng chuẩn mực kế toán số 21 “trình bày báo cáo tài
chính” và chuẩn mực kế toán số 24 “báo cáo lưu chuyển tiền tệ” tại một số doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Lượng giá giá trị kinh tế chủ yếu của phá Tam Giang
Mức độ hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam
Thừa Thiên Huế
Trang 2Kính thưa quý vị đại biểu,
Kính thưa toàn thể quý thầy cô giáo và cán bộ trong toàn trường,
Trước hết, đựợc sự uỷ nhiệm của đồng chí Hiệu trưởng cho phép Tôi thay mặt lãnh đạo nhà trường, nhiệt liệt chào mừng quý vị đại biểu và các thầy cô giáo trong toàn trường đã tham dự Hội nghị nghiên cứu khoa học lần thứ II của Trường Đại học Kinh tế- Đại học Huế, Kính chúc quý vị đại biểu sức khỏe và chúc hội nghị thành công tốt đẹp
Kính thưa quý vị đại biểu,
Kính thưa toàn thể hội nghị,
Hoạt động khoa học và công nghệ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, sống còn của các trường đại học Nghiên cứu khoa học tạo điều kiện cho giảng viên, các nhà nghiên cứu và sinh viên vận dụng các phương pháp nghiên cứu cũng như các thành tựu khoa học kinh tế và quản lý tiên tiến trên thế giới để giải quyết các vấn đề
mà thực tiễn cuộc sống đặt ra góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao vị thế của Nhà trường đối với xã hội Các trường đại học danh giá hàng đầu thế giới đều được gọi một cách trân trọng là đại học nghiên cứu Nghĩa là danh tiếng và thương hiệu của họ trước hết và chủ yếu là do giá trị các công trình nghiên cứu khoa học mà họ đã đóng góp cho sự phát triển nhân loại Trong Hội nghị tổng kết hoạt động khoa học công nghệ của Bộ giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2001-2005, Phó thủ tướng,
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân đã khẳng định sắp đến sẽ tiến hành phân loại các trường Đại học, trước hết là xếp loại các trường Đại học nghiên cứu, và coi đó là một tiêu chí quan trọng để xác định qui mô đào tạo và các chỉ tiêu liên quan khác cho các trường đại học ở nước ta Với nhận thức như vậy, trong những năm qua công tác nghiên cứu khoa học của Trường đại học Kinh tế - Đại học Huế đã được lãnh đạo Nhà trường, các đơn vị và cá nhân hết sức quan tâm Điều đó được thể hiện thông qua số lượng đề tài khoa học các cấp đã được thực hiện trong giai đoạn 2002-2007của cán bộ, giáo viên và sinh viên không ngừng tăng lên về quy mô lẫn chất lượng Cụ thể:
- Đối với các nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp Bộ, toàn Trường đã triển khai thực hiện 45 đề tài Toàn bộ các đã tài mang mã số B2002, 2003, 2004, 2005, 2006 đến nay đã được nghiệm thu ở hội đồng cấp cơ sở và nghiệm thu chính thức ở hội đồng cấp Bộ
Trang 3- Đối với các đề tài NCKH cấp Trường, toàn Trường đã thực hiện 280 đề tài, trong đó 124 đề tài của giáo viên và 156 đề tài của sinh viên Kết quả nghiệm thu cho thấy hầu hết các đề tài đều được xếp loại khá trở lên và nghiệm thu đúng hạn
- Số lượng đề tài hợp tác quốc tế, hợp tác với các địa phương cũng như doanh nghiệp trên địa bàn Miền Trung và Tây Nguyên cũng tăng đáng kể với hơn 30 dự án
đã và đang được triển khai
Về nội dung nghiên cứu, nếu như trước năm 2002, các đề tài chỉ tập trung chủ yếu vào lĩnh vực có thế mạnh truyền thống của Trường là kinh tế nông nghiệp, nông thôn và quản trị kinh doanh tổng hợp thì trong giai đoạn 02-07, các đề tài nghiên cứu
đã được mở rộng với sự đa dạng và phong phú về nội dung nghiên cứu như: doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh tế môi trường, đầu tư, du lịch, tài chính, kế toán, thị trường
và marketing Đây là những vấn đề mới mang tính thời sự được đặt ra trong bối cảnh của sự hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng ở nước ta đặc biệt sau khi gia nhập WTO Nhiều nghiên cứu được triển khai dựa trên đơn đặt hàng của các địa phương, doanh nghiệp cũng như các tổ chức quốc tế Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học đã được các các nhân và nhóm nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí trong nước, quốc tế là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị trong giảng dạy, học tập và cho những nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách
Cuối năm 2006, chúng ta đã tổ chức hội nghị tổng kết công tác khoa học công nghệ giai đoạn 2001-2005 và đề ra kế hoạch tổ chức Hội nghị khoa học để thông báo các kết quả nghiên cứu trong năm 2007 nhưng vì nhiều lý do khác nhau, đến nay hội nghị mới được tổ chức
Trong hội nghị lần này, sẽ thông báo một số kết kết quả nghiên cứu của các cán
bộ, giáo viên đã hoàn thành trong giai đoạn 2002-2007 đã được công bố và trình bày trong các Tạp chí khoa học Đại học Huế (số 36, 40, 43) và Kỷ yếu nghiên cứu khoa học của Trường ĐH Kinh tế lần thứ II với tổng số 47 công trình và bài viết Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian nên BTC chỉ có thể chọn ra những đề tài tiêu biểu đại diện cho các đơn vị, các lĩnh vực nghiên cứu để trình bày trước hội nghị
Các đề tài được trình bày liên quan đến các lĩnh vực như:
- Lượng hóa giá trị kinh tế chủ yếu của đầm phá Tam Giang;
- Việt nam đã cải thiện năng lực cạnh tranh trước những thách thức của WTO? Nghiên cứu so sánh và kiểm định thống kê chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI);
Trang 4- Tăng cường liên kết địa phương để phát triển du lịch theo hướng bền vững - trường hợp chuỗi cung ứng rau xà lách ở tỉnh Thừa Thiên Huế;
- Tình hình vốn kinh doanh của các HTX Nông nghiệp ở tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay;
- Quan hệ biện chứng của kinh tế hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn nước ta;
- Áp dụng phương pháp mô hình phương trình cấu trúc (sem) để đánh giá các yếu tố tác động đến hành vi sau tiêu dùng của hành khách Việt Nam đi máy bay
Từ kết quả của hội nghị này, Hy vọng rằng hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ được đẩy mạnh hơn nữa và thật sự trở thành sức sống, sức sáng tạo góp phần vào sự phát triển chung của Nhà trường cũng như có những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội của các địa phương khu vực Miền Trung và Tây Nguyên
Đồng thời hội nghị lần này sẽ tạo tiền đề để chúng ta tiến tới tổ chức Hội nghị khoa học của giáo viên trẻ và sinh viên vào cuối năm 2008; tích cực chuẩn bị cho việc
tổ chức Hội nghị khoa học lần thứ III nhân dịp kỷ niệm 40 năm truyền thống của Trường đại học Kinh tế trong năm 2009; hướng tới hoàn thành nhiệm vụ khoa học công nghệ của trường giai đoạn 2006-2010
Cuối cùng, nhân dịp năm mới và xuân Mậu tý, một lần nữa thay mặt lãnh đạo Trường đại học Kinh tế cho phép Tôi gửi đến quý vị đại biểu, các thầy cô giáo những lời chúc tốt đẹp nhất, chúc quý vị năm mới dồi dào sức khỏe, an khang và thịnh vượng Chúc hội nghị thành công
Xin trân trọng cám ơn!
Trang 5ĐÁNH GIÁ NHU CẦU SỬ DỤNG DỊCH VỤ KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
THỪA THIÊN HUẾ
đối tượng nộp thuế, là căn cứ cho việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế
Trong nền kinh tế thị trường và trong xu thế hội nhập, kế toán trở thành một nghề độc lập, có tổ chức riêng, có chuyên môn, kỹ thuật riêng và là một môn khoa học riêng Luật Kế toán 2003 qui định tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo qui định của pháp luật có quyền hành nghề kế toán và tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế và các đơn vị hành chính sự nghiệp được quyền thuê các doanh nghiệp dịch kế toán hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ kế toán để làm kế toán hoặc làm kế toán trưởng
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường dịch vụ nói riêng, hoạt động cung cấp dịch vụ kế toán không còn là mới mẻ tại Việt Nam Số người hành có chứng chỉ hành nghề kế toán ngày càng nhiều, chất lượng dịch vụ ngày càng đáp ứng cao nhu cầu của nền kinh tế Điều đó chứng tỏ các doanh nghiệp đã bước đầu có thói quen tìm đến các chuyên gia về kế toán để đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của doanh nghiệp Do đó nhu cầu này chắc chắn sẽ tăng trong tương lai, hứa hẹn sự phát triển của một thị trường dịch vụ mạnh không những chỉ trong nước
mà còn trong khu vực Đông Nam Á
Tuy nhiên, trên thị trường Thừa Thiên Huế hiện nay chưa có sự xuất hiện của các doanh nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ kế toán cũng như các cá nhân có đăng ký hành nghề kế toán Điều đó đặt ra một câu hỏi là “ các doanh nghiệp tại đây chưa có nhu cầu và thói quen sử dụng dịch vụ kế toán hay ngược lai đây lại là một thị trường
Trang 6đầy tiềm năng nhưng chưa được khai thác?” Đây cũng chính là câu hỏi mà chúng tôi muốn trả lời thông qua nghiên cứu này
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu tài liệu và kết quả từ khảo sát thực tế tại 30 doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Thừa Thiên Huế, chúng tôi nhận thấy rằng trên thị trường Thừa Thiên Huế hiện nay chưa có sự xuất hiện của các doanh nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ kế toán cũng như các cá nhân có đăng ký hành nghề kế toán Tình trạng khá phổ biến hiện nay ở đây là các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê các tổ chức, cá nhân chưa đủ điều kiện hành nghề cung cấp dịch vụ ghi sổ và lập báo cáo tài chính (BCTC) Các cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh vẫn tiếp nhận các BCTC của các doanh nghiệp được lập bởi các tổ chức, cá nhân chưa đủ điều kiện hành nghề
Nguyên nhân của các tồn tại trên là do các cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh, các bên đi thuê, làm thuê kế toán chưa nắm được các qui định về hành nghề kế toán và chưa biết được các tổ chức, cá nhân nào được phép cung cấp dịch vụ
kế toán Danh sách các tổ chức, cá nhân đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề kế toán chưa được công khai Khái niệm hành nghề kế toán còn khá xa lạ với các doanh nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp, cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh
Đánh giá chung về thị trường dịch vụ kế toán trên địa bàn thành phố Huế thông qua kết quả điều tra
Tuy đã cố gắng tìm hiểu và tham khảo ý kiến trong việc lập phiếu điều tra ý kiến của các doanh nghiệp về việc sử dụng dịch vụ kế toán nhưng do một số hạn chế
về thời gian và điều kiện thực tế tại các doanh nghiệp nên thông tin thu thập được chưa thật sự đầy đủ, mới chỉ phản ánh được một phần ý kiến của các doanh nghiệp trên địa bàn Trên cơ sở kết quả phân tích từ số liệu điều tra được, tôi có thể khái quát một số kết luận sau:
Thứ nhất, nhu cầu tìm hiểu về dịch vụ kế toán của doanh nghiệp là rất lớn Thứ hai, đối với các doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ họ đều tỏ ra hài lòng đối với dịch vụ mà mình nhận được và cho rằng chi phí mà doanh nghiệp họ trả cho những lần sử dụng đó là hợp lý chứ không hề cao
Thứ ba, số ý kiến đều cho rằng việc tạo lập một thị trường công khai về cung cấp dịch vụ kế toán với sự xuất hiện của các các nhân và doanh nghiệp có đăng ký với
Trang 7cơ quan có thẩm quyền là vấn đề khả thi và cần được tạo lập, quản lý, phát triển trên địa bàn thành phố hiện nay
Thứ tư, hiện nay khả năng tiếp cận của đơn vị đối với dịch vụ này còn nhiều hạn chế Việc doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng dịch vụ nhất là lần đầu tiên thì kênh thông tin chủ yếu cung cấp cho họ là bạn bè
Thứ năm, mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng theo các DN được phỏng vấn, số DN đồng ý rằng việc tạo lập một thị trường dịch vụ kế toán trên địa bàn với các tổ chức và cá nhân có đăng ký hành nghề là khả thi
Một số giải pháp phát triển thị trường dịch vụ trên địa bàn thành phố Huế
Dịch vụ kế toán dường như đã không còn xa lạ đối với các doanh nghiệp Có thể sự hiểu biết đó chỉ mới dừng lại ở góc độ nhận thức hay đó là sự trải nghiệm của bản thân doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong cả nước, số lượng doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế xuất hiện ngày càng nhiều Sự phát triển của các doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển của dịch vụ kế toán là điều tất yếu Có thể nói thói quen sử dụng dịch vụ kế toán tại các doanh nghiệp vẫn chưa phổ biến trên địa bàn thành phố Huế hiện nay nói riêng và trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung Nhưng có thể khẳng định loại hình dịch vụ này sẽ rất phát triển trong tương lai
Để thị trường này phát triển lành mạnh thì trước hết là yêu cầu đặt ra đối với các nhà cung cấp cần phải có chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp Vì vậy các nhà quản lý trên địa bàn cần quản lý chặt chẽ việc đăng ký kinh doanh của các tổ chức cá nhân cung cấp dịch vụ
Để có thể tạo lập một thị trường dịch vụ kế toán phát triển bên cạnh chú ý đến các nhà cung cấp dịch vụ còn phải giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nhận thấy tầm quan trọng cũng như những lợi ích mà doanh nghiệp nhận được thông qua dịch
vụ này với tư cách như một công cụ hỗ trợ đối với doanh nghiệp
Kế toán với tư cách là một ngành, một lĩnh vực thương mại dịch vụ được quan tâm và hội nhập khá toàn diện Thương mại dịch vụ nói chung, thương mại dịch
vụ kế toán nói riêng đã trở thành ngành kinh tế quan trọng và chiếm tỷ trọng đáng kể trong thương mại của từng quốc gia và toàn cầu Tự do hoá thương mại dịch vụ, tự do hoá dịch vụ kế toán đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia , nhất là các nước phát triển
Trang 8Một vấn đề đặt ra đối với dịch vụ kế toán trên địa bàn hiện nay là đã có sự xuất hiện của những cá nhân cung cấp dịch vụ nhưng có thể do nhiều lý do khác nhau mà các cá nhân này chưa có sự đăng ký với các cơ quan ban ngành, các DN sử dụng dịch
vụ của những cá nhân này đã vô tình gây nên sự lộn xộn của thị trường Số cá nhân cung cấp dịch vụ trên dịa bàn có thể là không ít, nhưng họ chưa quan tâm đến chứng chỉ hành nghề,chưa quan tâm đến việc đăng ký kinh doanh và đăng ý nộp thuế …
Sự lộn xộn trên thị trường dịch vụ kế toán như nêu trên, tất yếu dẫn đến hậu quả là chất lượng của dịch vụ kế toán không cao; đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề kế toán chưa được quản lý; quy định về quyền và trách nhiệm của người làm dịch vụ kế toán không được tôn trọng
Hiện nay dịch vụ kế toán chủ yếu được cung cấp chi các doanh nghiệp có quy
mô nhỏ, thường là những doanh nghiệp chưa có thói quen sử dụng dịch vụ cũng như ý thức được tầm quan trọng của dịch vụ Họ chú ý đến loại hình dịch vụ này dường như chỉ đơn giản do đơn vị chưa thể tổ chức được bộ máy kế toán
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ
Dịch vụ kế toán dường như đã không còn xa lạ đối với các doanh nghiệp Có thể sự hiểu biết đó chỉ mới dừng lại ở góc độ nhận thức hay đó là sự trải nghiệm của bản thân doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong cả nước, số lượng doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế xuất hiện ngày càng nhiều Sự phát triển của các doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển của dịch vụ kế toán là điều tất yếu Có thể nói thói quen sử dụng dịch vụ kế toán tại các doanh nghiệp vẫn chưa phổ biến trên địa bàn thành phố Huế hiện nay nói riêng và trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung Nhưng có thể khẳng định loại hình dịch vụ này sẽ rất phát triển trong tương lai
- Để thị trường này phát triển lành mạnh thì trước hết là yêu cầu đặt ra đối với các nhà cung cấp cần phải có chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp Vì vậy các nhà quản lý trên địa bàn cần quản lý chặt chẽ việc đăng ký kinh doanh của các tổ chức cá nhân cung cấp dịch vụ
- Để có thể tạo lập một thị trường dịch vụ kế toán phát triển bên cạnh chú ý đến các nhà cung cấp dịch vụ còn phải giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nhận thấy tầm quan trọng cũng như những lợi ích mà doanh nghiệp nhận được thông qua dịch
vụ này với tư cách như một công cụ hỗ trợ đối với doanh nghiệp
Trang 9Kế toán với tư cách là một ngành, một lĩnh vực thương mại dịch vụ được quan tâm và hội nhập khá toàn diện Thương mại dịch vụ nói chung, thương mại dịch
vụ kế toán nói riêng đã trở thành ngành kinh tế quan trọng và chiếm tỷ trọng đáng kể trong thương mại của từng quốc gia và toàn cầu Tự do hoá thương mại dịch vụ, tự do hoá dịch vụ kế toán đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia , nhất là các nước phát triển
Một vấn đề đặt ra đối với dịch vụ kế toán trên địa bàn hiện nay là đã có sự xuất hiện của những cá nhân cung cấp dịch vụ nhưng có thể do nhiều lý do khác nhau mà các cá nhân này chưa có sự đăng ký với các cơ quan ban ngành, các DN sử dụng dịch
vụ của những cá nhân này đã vô tình gây nên sự lộn xộn của thị trường Số cá nhân cung cấp dịch vụ trên dịa bàn có thể là không ít, nhưng họ chưa quan tâm đến chứng chỉ hành nghề,chưa quan tâm đến việc đăng ký kinh doanh và đăng ý nộp thuế …
Sự lộn xộn trên thị trường dịch vụ kế toán như nêu trên, tất yếu dẫn đến hậu quả là chất lượng của dịch vụ kế toán không cao; đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề kế toán chưa được quản lý; quy định về quyền và trách nhiệm của người làm dịch vụ kế toán không được tôn trọng
Hiện nay dịch vụ kế toán chủ yếu được cung cấp chi các doanh nghiệp có quy
mô nhỏ, thường là những doanh nghiệp chưa có thói quen sử dụng dịch vụ cũng như ý thức được tầm quan trọng của dịch vụ Họ chú ý đến loại hình dịch vụ này dường như chỉ đơn giản do đơn vị chưa thể tổ chức được bộ máy kế toán
Từ thực tế đó tôi xin đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần phát triển thị trường dịch vụ kế toán trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và trên địa bàn thành phố Huế nói riêng
Kiến nghị đối với các cá nhân, đơn vị có nhu cầu cung cấp dịch vụ kế toán
Xuất phát từ đặc điểm và tính chất của hoạt động kế toán, những người hành nghề kế toán trong cơ chế kinh tế mới, theo tôi trước hết cần phải có tính chuyên nghiệp cao, tâm huyết và trách nhiệm với nghề Chỉ có như vậy mới có thể cung cấp những dịch vụ có chất lượng theo yêu cầu của các đối tượng sử dụng dịch vụ trong nền kinh tế phát triển nhanh như hiện nay
Các đơn vị cá nhân cung cấp dịch vụ cần có những hiểu biết cần thiết về pháp luật, đặc biệt là hiểu biết và khả năng tuân thủ, giải thích các quy định pháp lý về kinh
Trang 10tế-tài chính Từ đó có thể tuân thủ các yêu cầu về mặt pháp luật đối với việc đăng ký kinh doanh, cũng như đối với số liệu kế toán.
Về năng lực chuyên môn, phải có sự hiểu biết, có năng lực, trình độ tổ chức, điều hành công việc, có kỹ năng và sự nhậy cảm, sáng tạo trong xử lý nghiệp vụ, đặc biệt là năng lực xử lý các nghiệp vụ kinh tế tài chính trong một nền kinh tế năng động
và hội nhập Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên để đảm bảo được các yêu cầu đề ra của khách hàng cũng như xây dựng lòng tin đối với
họ Có kiến thức tốt về kinh tế, tài chính, hiểu biết sâu về các quy định kế toán và kiểm toán Có khả năng tổ chức công việc thu thập, xử lý và tổng hợp thông tin kinh
tế tài chính theo yêu cầu quản lý Tham mưu về quản trị doanh nghiệp, trong các quyết định kinh doanh, trong chiến lược đầu tư và kinh doanh
Về Phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp: trung thực, khách quan và bản lĩnh nghề nghiệp Bản lĩnh nghề nghiệp đòi hỏi người làm kế toán phải tôn trọng sự thực
và tính khách quan của hoạt động kinh tế, các ý kiến và thái độ trước thông tin kinh tế tài chính phải thể hiện trách nhiệm và sự vững vàng về chuyên môn, sự tin cậy và xác thực của bằng chứng, sự mềm mại trong ứng xử và thuyết phục
Kiến nghị đối với các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng dịch vụ kế toán
Phải tuân theo quy định của pháp luật về việc sử dụng các cá nhân tổ chức cung cấp dịch vụ kế toán, phải thuê các đơn vị cung cấp dịch vụ có đăng ký kinh doanh và đủ các tiêu chuẩn theo quy định hiện hành
Các đơn vị sử dụng dịch vụ kế toán cần phải nhân thấy rằng sử dụng dịch vụ
kế toán để giúp cho các nhà quản trị đơn vị nắm được những thông tin kế toán chính xác và hiệu quả chứ không hải là một cách để các nhà quản lý sử dụng dịch vụ kế toán
để đối phó với pháp luật
Kiến nghị đối với các Sở, ban ngành có liên quan
Cần có cơ chế chính sách thông thoáng hơn để nhiều người có điều kiện thành lập doanh nghiệp dịch vụ kế toán, chẳng hạn: Nên quy định những người có bằng Thạc sỹ kinh tế tài chính - kế toán, thì không cần chứng chỉ hành nghề cũng được phép thành lập; hoặc đối với người có bằng Đại học tài chính kế toán, thì không cần quy định phải qua 2 năm thực tế công tác tại lĩnh vực tài chính kế toán là được phép thi tuyển lấy chứng chỉ hành nghề Đồng thời, có chính sách ưu đãi đối với dịch
vụ kế toán
Trang 11Có chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ kế toán khi vi phạm pháp luật
Có thể giao cho Sở Tài chính hoặc Hiệp hội kế toán các tỉnh, thành phố mở lớp thi tuyển cấp giấy chứng chỉ hành nghề
Thành lập cơ quan chuyên xét xử (tòa án kinh tế) ở địa phương huyện, tỉnh , thành phố để xét xử khi có khiếu tố, kiến nghị, tranh chấp…
Tuyên truyền sâu rông trên các kênh thông tin về dịch vụ kế toán để các doanh nghiệp hiểu về lợi thế khi thuê người làm kế toán hay kế toán trưởng
Nếu các kiến nghị trên được thực hiện , dịch vụ kế toán sẽ ổn định và phát triển tốt trong tương lai
-
SUMMARY
Assessing the needs of accouting services in small and micro scalle enterprises
in Thua Thien Hue province
Along with the development of economy in general and service in particular, the applying activities accounting services is not new in Viet Nam The need of accounting services will increase surely in the future, promising the development of service market in our country and South –East Asia
However, in Thua Thien Hue market, this service has not developed yet According to the researching result with 30 enterprises, we conlude that: (1) the need
of accounting services of business in research area is very high, 100% of enterprises confirm this, (2) some enterprises used service is rather pleasured with the service and cost level, (3) accessing ability accounting services is still limited because of many reasons, (4) 83% of responders confirm that establishing the public accounting service market is high necessary and feasable
Trang 12QUAN HỆ BIỆN CHỨNG CỦA KINH TẾ HỘ VÀ KINH TẾ HỢP TÁC TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN NƯỚC TA
Trần Xuân Châu
Hộ nông dân (HND) là tế bào kinh tế - xã hội trong phát triển sản xuất hàng hóa ở nông thôn (NT) Nói như Lê-nin, điều kiện cần thiết đố là: "Một chủ trại tự do trên mảnh đất tự do" Vì vậy, trong thực tế mọi thành công và thất bại trong phát triển kinh
tế đều bắt nguồn từ việc xác định địa vị pháp lý và hình thức tổ chức kinh tế của hộ gia đình ND Kinh tế ND là một hình thức kinh tế phức tạp, gắn bó hữu cơ với gia đình họ Đó là một loại xí nghiệp lao động gia đình sống theo những quy luật của nó Trong kinh tế gia đình, người nông dân vừa là chủ, vừa là người lao động Mục đích sản xuất trước hết của họ không phải vì lợi nhuận mà là để thỏa mãn những nhu cầu của gia đình Khi vượt ra khỏi kinh tế tự cung tự cấp, người ND bắt đầu nhận thấy rõ
sự cần thiết của tín dụng, kỹ thuật, thị trường và công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, các quá trình thuần túy sinh học lại đòi hỏi một sự chăm sóc của từng cá nhân và điều đó
đã hạn chế sự phát triển theo chiều rộng của kinh tế HND Do vậy và từ đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, lối sản xuất tập thể, hình thức HTX (HTX) sản xuất thường là không phù hợp
Xét về các mặt sở hữu, tổ chức quản lý, quan hệ phân phối, kinh tế HND tự chủ là đặc thù thích hợp trong nông nghiệp, nông thôn (NN, NT) Do đó, kinh tế HND đã, đang và sẽ tồn tại bền vững ở hầu hết quốc gia có sản xuất nông nghiệp và là hạt nhân chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp, từ các nước kém phát triển Ở các nước kém phát triển, kinh tế HND chủ yếu là tiểu nông, tỷ suất hàng hóa thấp Ở các nước đã phát triển, đã tiến hành công nghiệp hóa, hộ tiểu nông đã chuyển thành nông trại, sử dụng máy móc và công nghệ hiện đại, năng suất cao, sản lượng lớn sản phẩm hàng hóa là chủ yếu Từ kinh tế tiểu nông chuyển lên kinh tế nông trại là một quá trình lâu dài Ở Việt Nam hiện nay, trong NN và NT đang diễn ra quá trình chuyển từ kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ sang kinh tế thị trường Việc phát triển và đẩy nhanh quá trình đó, một mặt, phải phát triển mạnh kinh tế hộ, mặc khác, cần có sự tác động tích cực của kinh
tế hợp tác và vai trò của Nhà nước
ông không tuyệt đối hóa kinh tế tiểu nông đó, vì đối với "nghề nông hợp lý" thì hoặc
Trang 13là phải có "bàn tay của người tiểu nông sống bằng lao động của mình" hoặc là phải có
"sự kiểm soát của những người sản xuất lên kết với nhau" Tức là, trong hoạt động kinh tế - theo Mác mỗi ngành có một giới hạn tối ưu cần thiết, và khi giới hạn tối ưu
đó vượt quá khuôn khổ kinh tế của gia đình ND, lúc đó họ tìm cách hợp tác với nhau
để đạt tới giới hạn tối ưu mới Như vậy, một mặt, HND vẫn là đơn vị kinh tế tự chủ,
có sự liên kết các quá trình, khâu, ngành ở những mức độ và hình thức khác nhau, tạo thành kinh tế hợp tác, và kinh tế hợp tác ấy dần dần biến thành kinh tế HTX ở nông thôn
Kinh tế hợp tác, đại thể có hai cấp độ: hợp tác đơn giản, chưa thành tổ chức kinh tế và hợp tác chặt chẽ với tư cách là một tổ chức kinh tế Từ đó thấy rằng: kinh tế hợp tác là khái quát hóa các loại hình, các lĩnh vực hợp tác, liên kết giữa các HND, các thành phần kinh tế trên cơ sở thõa thuận tự nguyện, tự quản, không phân biệt quy
mô tổ chức, trình độ kinh doanh và hình thức sở hữu Kinh tế hợp tác không xóa nhòa, không ảnh hưởng đến bản chất và cản trở sự phát triển của các thành phần kinh tế Nhưng nó tạo ra cơ sở, tạo ra sự hợp tác nhằm tận dụng và nâng cao sức sản xuất Hợp tác chỉ là một phương thức hoạt động, một hình thức tổ chức kinh tế, chứ không phải
là mục đích tự thân HTX càng không phải là hình thức kinh tế duy nhất như quan niệm trước đây Trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước, mỗi vùng quyết định sự hình thành các hình thức hợp tác, thích hợp trong từng thời gian Khi chuyển sang sản xuất hàng hóa, ND cần có sự tác động của nhiều hình thức hợp tác khác nhau, từ việc thõa thuận một vài khâu, ký hợp đồng kinh tế, mua bán vật tư và nông sản với các cơ
sở đến việc tổ chức ra các HTX
Ở nước ta hiện nay, phần lớn HND là hộ tiểu nông, sau khoán 10 ( 1988) đã có bước phát triển mới HIện nay, hệ thống kinh tế tập thể đã thu hút được 12,5 triệu lao động có ảnh hưởng đến dời sống của gần 50 triệu dân, chủ yếu là tầng lớp dân cư có thu nhập thấp Tuy nhiên kinh tế HND còn bộc lộ nhiều hạn chế:
- Hiện nay, trong cả nước có khoảng 56% (của tổng số 12 triệu) số hộ thuộc loại nghèo (thu nhập bình quân dưới 55000đ/người/tháng) Nhiều hộ phải đi vay nặng lãi để sản xuất và sinh hoạt, khoảng cách giữa hộ giàu và hộ nghèo ngày càng xa ra
- Các hộ lao động chủ yếu bằng công cụ thủ công, do thiếu vốn nên đầu tư ít và chậm đưa tiến bộ khoa học - công nghệ vào quá trình sản xuất nên lao động cực nhọc, năng suất thấp và tỷ suất hàng hóa thấp
Trang 14- Sản xuất tuy có đa dạng về cây trồng, vật nuôi, ngành nghề, nhưng còn manh mún, nặng tính thuần nông, chủ yếu lo cái ăn cho gia đình, cho nên thu nhập thấp, trong khi mức độ sử dụng ruộng đất và lao động lại cao
- Dân số tăng nhanh nhưng ruộng đất có hạn; mặt khác, việc phân chia ruộng đất bình quân manh mún, hạn chế quá trình tích tụ và tập trung để đẩy nhanh sản xuất hàng hóa
- Trình độ dân trí thấp nên việc tiếp cận thông tin gặp nhiều khó khăn, không quen mua bán kinh doanh, thường bị tư thương ép giá khi muốn tiêu thụ sản phẩm ngay hoặc muốn có vật tư kịp thời để sản xuất sinh hoạt Tình hình đó đòi hỏi phải có sự hợp tác từng mặt hay nhiều mặt giữa các hộ với nhau trên cơ sở tương trợ, tự nguyện, dân chủ, không bóc lột, cùng có lợi
Sau thất bại của phong trào hợp tác hóa từ những năm 60-80, ở nước ta đang diễn ra quá trình xây dựng HTX kiểu mới và các hình thức kinh tế hợp tác đa dạng trong NN, NT HTX (và các tổ chức kinh tế hợp tác) ra đời trước hết là do nhu cầu kinh tế của các HND Họ tự nguyện xây dựng các tổ chức hợp tác để tạo nên sức mạnh lớn hơn, sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, chống lại độc quyền, lũng đoạn, chèn ép Về mặt lịch sử, trước khi nền sản xuất hàng hóa TBCN ra đời, trong NN, NT
đã có các hình thức hợp tác tương trợ giản đơn giữa những người lao động, giữa các HND để tiến hành sản xuất theo những quy ước mà hai bên thỏa thuận Từ kinh tế tiểu nông chuyển sang sản xuất hàng hóa, đó cũng chính là quá trình đi đôi với sự ra đời của các tổ chức, các hình thức kinh tế hợp tác gắn liền với kinh tế hộ Về mặt kinh tế -
xã hội cũng như bản chất của sở hữu, kinh tế HND - về thực chất - là một cơ sở kinh
tế khép kín, là một đơn vị kinh tế tổng hợp (vừa trồng trọt, vừa chăn nuôi, có khi cả nghề rừng và nghề cá, vừa chế biến, vừa làm nghề thủ công, lại có khi kiêm cả buôn bán và tín dụng) A.V.Trai-a-nốp, nhà kinh tế nông nghiệp Nga nổi tiếng, cho rằng: HTX NN là sự bổ sung cho kinh tế HND; thiếu kinh tế HND HTX sẽ không có ý nghĩa Do đó, về bản chất, HTX và các hình thức kinh tế hợp tác chính là hình thức liên kết của những người lao động, những hộ gia đình ở những khâu, những lĩnh vực
mà từng hộ không làm được hoặc làm kém hiệu quả Kinh tế hợp tác trong thời kỳ đổi mới khác với mô hình kinh tế tập thể hóa trước đây ở chỗ, nền kinh tế này bao gồm hai bộ phận cấu thành; kinh tế hộ và kinh tế tập thể Hai bộ phận này có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau Sự phát triển của bộ phận này là điều kiện cho sự phát triển
Trang 15của bộ phận kia và ngược lại, trong đó kinh tế nông hộ là cái có trước, cái quyết định cho sự ra đời và phát triển của kinh tế tập thể, Những đặc điểm, trình độ phát triển của kinh tế nông hộ quyết định đặc điểm, trình độ phát triển của kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể Thực tế phát triển của kinh tế hợp tác trong thời gian qua cho thấy, kinh tế tập thể đã không đứng vững được khi tổ chức nó ở trình độ cao hơn trình độ phát triển của kinh tế nông hộ và không trên cơ sở phát triển kinh tế nông hộ Ngược lại, khi các nông hộ có nhu cầu hợp tác, thì dù chưa có sự giúp đỡ bên ngoài, ND cũng tự tổ chức thành những tổ chức kinh tế hợp tác giữa họ với nhau Tính đến cuối năm 2006, cả nước có 320.000 tổ hợp tác, tăng 35% so với năm 2001 Trong đó, tổ hợp tác nông – lâm nghiệp chiếm 34%, tổ hợp tác tín dụng chiếm 23%, tổ hợp tác thuỷ sản chiếm 4,5%,… và đã có 120 tổ hợp tác đã phát triển thành HTX1 Như vậy, căn cứ vào nhu cầu kinh tế (và trong chừng mực nhất định nào đó là cả nhu cầu xã hội của nông hộ)
mà tổ chức nên những loại hình hợp tác thích hợp với những nhu cầu đó
Tóm lại, hợp tác là nhu cầu tất yếu của kinh tế hộ, nó trước hết phải xuất phát
từ tiền đề tất yếu kinh tế của kinh tế hộ Do đó, muốn phát triển kinh tế hợp tác thì
điều đầu tiên phải làm cho HND thật sự trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, tức là đã bắt
đầu sản xuất hàng hoá như điều kiện cần, nếu chưa được như thế thì họ cũng không
có nhu cầu hợp tác Trái lại, kinh tế hợp tác cùng tồn tại với kinh tế hộ, không hạn chế hay loại trừ kinh tế hộ mà hỗ trợ cho kinh tế hộ phát triển Đây chính là biện chứng của sự phát triển
Ở nước ta hiện nay, có một vấn đề rất phức tạp là, ở nhiều vùng khó khăn lạc hậu có nhiều gia đình nông dân yếu kém, hoặc hộ gia đình chính sách, trong bước chuyển sang kinh tế thị trường, bản thân họ không thể hoặc không có điều kiện để vươn lên Do đó, khoảng cách kinh tế giữa họ với các nhóm hộ khác ngày càng lớn Nhu cầu cấp bách của họ là xóa đói giảm nghèo Đây cũng là một nhu cầu thực tiễn của quá trình hợp tác, nhằm mục đích tương trợ, tương thân, tương ái, trong bước chuyển sang nền kinh tế thị trường ở
NT nước ta Đặc thù này chính là biện chứng xã hội của sự phát triển các hình thức hợp tác trong
NN, NT Việt Nam hiện nay
Rõ ràng, trong sự phát triển của kinh tế hộ và kinh tế hợp tác - xét một cách tổng thể - thì: quy luật phát triển của kinh tế hàng hóa đòi hỏi phải tách dần các hoạt động kinh tế vốn là tổng hợp trong từng HND thành những chức năng độc lập thông
Trang 16qua con đường hợp tác hóa HTX tổ chức thực hiện những chức năng được tách ra từ kinh tế hộ để họ có thể chuyên môn hóa một hay một vài hoạt động nào đó có hiệu quả kinh tế nhất
Mỗi chức năng được tách ra có thể tương ứng với một loại hình HTX nhất định Các chức năng khác nhau được tách ra và do những tổ chức hợp tác đảm nhiệm sẽ tạo thành sức mạnh tác động trở lại hoạt động của các nông hộ và đưa lại hiệu quả kinh tế cao hơn Như vậy, hợp tác phải đưa lại nhiều lợi ích hơn cho HND Hợp tác hóa không phải là mục đích tự thân, càng không phải để thực hiện mục tiêu phi kinh tế Chừng nào mà sự tồn tại của HTX không tăng thêm lợi ích cho người lao động, thì chừng đó, nhân dân vẫn thấy tính chất lao động tổng hợp của hộ gia đình là ưu việt hơn Một điều góp phần lý giải thái
độ của ND đối với HTX kiểu cũ trước đây là, trong quá trình hợp tác hóa, người ta chỉ để lại cho ND các hoạt động sản xuất nông nghiệp và một phần thủ công nghiệp, còn những hoạt động khác như buôn bán, tín dụng, chế biến - là những khâu có lãi nhiều - thì không cho ND làm để họ bù vào phần thu nhập có hạn từ khâu hoạt động sản xuất Cho nên, hợp tác hóa là một quá trình hoàn toàn tự nguyện, là quá trình kinh tế là chính, chứ không phải
là quá trình chính trị thuần túy Đó cũng chính là quá trình phát triển tự nhiên của phân công lao động xã hội hướng vào các khâu: tín dụng, cung ứng, chế biến, tiêu thụ, tư vấn, chuyên lo dịch vụ sản xuất phục vụ cho sản xuất NN Và, đây là lý do quan trọng nhất của việc thành lập các HTX kiểu mới đòi hỏi trước hết phải là các HTX cổ phần, dựa trên
sở hữu tư nhân, cá thể kết hợp với sở hữu tập thể nhằm đảm bảo cho cả đôi bên cùng có lợi
Đó là sự phủ định của sự liên kết kinh tế hộ và kinh tế hợp tác để thúc đẩy sản xuất trong
NN, NT phát triển nhanh hơn
năm qua có thể rút ra một số kết luận sau nhằm luận chứng thêm cho mối quan hệ biện chứng đã giải trình ở các phần trên:
- Cơ sở để hình thành và phát triển kinh tế hợp tác trong NN, NT là kinh tế HND; hợp tác là nhu cầu tất yếu của HND
- HTX trong NN đã ra đời, tồn tại, phát triển và ngày càng hoàn thiện, xuất phát từ yêu cầu khách quan của sản xuất hàng hóa và đời sống của quần chúng nhân dân Tuy nhiên, HTX không phải là mục tiêu cuối cùng của tổ chức sản xuất mà chỉ là hình thức tổ chức và biện pháp nhằm thúc đẩy kinh tế hộ phát triển HTX cũng là con
Trang 17đường để xã hội hóa nền sản xuất NN, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam
- Hợp tác hóa phải xuất phát không chỉ từ tất yếu kinh tế mà còn trên cơ sở của tính tự nguyện, ý thức hợp tác, quản lý dân chủ, tương trợ, không bóc lột và cùng có lợi Đặc biệt, phải nâng cao ý thức hợp tác và đổi mới cách làm HTX
- Do những đặc thù của sản xuất NN mà HTX trong NN, về cơ bản, không phải
là các HTX sản xuất Nó chỉ làm chức năng dịch vụ cho sản xuất NN Còn việc trực tiếp sản xuất, hạch toán kinh doanh do các hộ thực hiện, không cần có sự can thiệp của HTX Đây là đặc thù trong mối quan hệ giữa kinh tế hộ và kinh tế hợp tác trong
NN, NT
- Tùy trình độ và quy mô, điều kiện cụ thể của từng vùng, mỗi hộ - trong điều kiện kinh tế thị trường - có thể tham gia vào một hay nhiều HTX khác nhau, không phân biệt địa giới hành chính, theo đúng quy định của Luật HTX
- Về cơ bản, trong mối quan hệ của kinh tế hộ và kinh tế hợp tác, các HTX được hình thành không phải trên cơ sở tập thể hóa, mà theo con đường góp vốn, góp công và phân chia lợi ích Nó không những không động chạm đến quyền sở hữu của từng hộ gia đình mà còn tạo điều kiện tăng thêm năng lực sản xuất và lợi ích của từng
hộ Chính điều này làm cho người ND dễ dàng tham gia và chấp nhận một cách tự nguyện Kinh tế hợp tác và kinh tế HTX do vậy, là sự cộng sinh tất yếu, làm động lực thúc đẩy kinh tế hộ phát triển
- Khi đã phát triển, các HTX thường liên kết với nhau thành các hiệp hội (hệ thống) ở từng địa phương Các hiệp hội này có tính chất tập trung hóa theo chiều dọc đấy chính là thực chất của hợp tác hóa NN, là kết quả kết hợp kinh tế hộ và sức mạnh hợp tác, là xu hướng tất yếu, phổ biến của quá trình hợp tác hóa trong NN, NT và trong cả nước Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào các hợp tác kinh doanh của hộ
và HTX, mà chỉ tác động gián tiếp, kiểm tra, kiểm soát, giám sát các hoạt động kinh tế theo pháp luật Các liên hiệp HTX cấp toàn quốc có quyền thay mặt các xã viên HTX
để tham gia với Nhà nước trong việc nghiên cứu và ban hành các chính sách bảo vệ
quyền lợi của kinh tế hộ và các tổ chức hợp tác Đây là điều đặc biệt quan trọng ở
nước ta hiện nay Nếu trước đây cơ chế đó là Nhà nước - HND tập thể hóa, thì bây giờ Nhà nước - HTX - thị trường - HND, hoặc Nhà nước - thị trường - HTX (trạm nghiên cứu) - HND HTX ở đây, ngoài chức năng hỗ trợ kinh tế trực tiếp cho kinh tế hộ, còn
Trang 18đóng vai trò như một trạm nghiên cứu, thông tin cho các cấp chính quyền, trực tiếp đề xuất vấn đề, còn HND là nơi ứng dụng trực tiếp Đây cũng là đặc điểm phù hợp nhất tạo thêm mối quan hệ và nâng cao tính hiệu quả của sự kết hợp, liên kết của kinh tế
ND và Nhà nước trong cơ chế thị trường Có thể thấy rằng ngày nay, trong NN, NT, nếu không có sự trợ giúp đắc lực của nhà nước thì kinh tế hợp tác, và nhất là HTX khó hoạt động hiệu quả Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách tích cực, nhưng đến nay mới có 1/3 số tỉnh, thành phố trên cả nước có biện pháp hỗ trợ phát triển HTX nông nghiệp2
- Đứng trước cơ hội và thách thức hoà nhập WTO, trong NN, NT phải nhanh chóng xúc tiến và nâng cao hiệu quả của hợp tác 5 nhà: Nhà nông, Nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà băng (tín dụng, ngân hàng), trong đó phải lấy kinh tế
hộ nông dân làm đối tượng phục vụ Mặt khác, bản thân HND cũng phải vươn lên để thật sự trở thành hộ kinh tế tự chủ, trở thành đối tác lợi ích nhiều chiều đối với các đối tác Có vậy mới đảm bảo một liên kết kinh tế bền vững, lâu dài, nâng cao sức cạnh tranh với bên ngoài
Như vậy, trong mối quan hệ biện chứng của kinh tế hộ và kinh tế hợp tác, hộ và tổ chức hợp tác là hai chủ thể kinh tế tồn tại song trùng, không đối lập nhau: trong đó, kinh tế hộ là tiền
đề trực tiếp còn HTX kiểu mới là tổ chức kinh tế thuộc loại hình xí nghiệp cổ phần, HND tương tự như những cổ đông Dĩ nhiên, sở hữu và quan hệ kinh tế trong HTX có sự khác biệt
so với sở hữu công ty3
: Thành viên của công ty là những chủ doanh nghiệp, còn thành viên của HTX là những người nông dẫn trực tiếp sản xuất và kinh doanh nhỏ
Việc góp vốn của xã viên là nhằm hình thành một tổ chức kinh tế chung Kinh tế HTX có chức năng trước hết là hỗ trợ các thành viên – không chỉ là kinh tế mà còn trong đời sống của họ
Tính cộng đồng (tương trợ, bình đẳng) là đặc trưng riêng có của tổ chức kinh tế hợp tác
Nhà nước có vai trò hỗ trợ đặc biệt, thúc đẩy sự ra đời và phát triển của loại hình
sở hữu này Do vậy, trên bề mặt của đời sống kinh tế, có sự đan xen giữa thể chế kinh tế nhà nước, thể chế kinh tế thị trường và thể chế cộng đồng
2 Tạp chí lý luận chính trị 4/2007
Trang 19Hoạt động của các tổ chức kinh tế hợp tác chỉ tập trung vào những khâu, những lĩnh vực đòi hỏi phải có sức mạnh tập thể, có sự hợp tác mới đem lại hiệu quả, nhằm khắc phục những mặt hạn chế và giới hạn của kinh tế hộ và đẩy nhanh sự phát triển của cả hai thực thể: kinh tế hộ và kinh tế hợp tác trong NN, NT nước ta hiện nay
Từ đặc thù sản xuất nông nghiệp và địa bàn nông thôn, hộ nông dân tự chủ là đơn vị kinh tế thích hợp nhất Trong quá trình phát triển, hợp tác là nhu cầu tất yếu của kinh tế hộ nông dân, nhất là khi vượt qua khuôn khổ, điều kiện, khả năng của họ
Kinh tế hợp tác và kinh tế hộ là hai thực thể kinh tế, có cùng các nguyên tắc hợp tác với nhau Sự phát triển của bộ phận này là điều kiện cho sự phát triển của bộ phận kia, trong đó kinh tế hộ là cái có trước, là hạt nhân, quyết định cho sự ra đời và phát triển của kinh tế hợp tác Kinh tế hợp tác chỉ trở thành một thực thể kinh tế đích thực khi kinh tế hộ đã bắt đầu sản xuất hàng hoá Kinh tế hợp tác có vai trò hỗ trợ, thúc đẩy kinh tế hộ phát triển hiệu quả hơn, từ đó giải quyết các vấn đề xã hội
Muốn phát triển kinh tế hợp tác, ngoài nhu cầu kinh tế và ý thức hợp tác của hộ nông dân, cần có sự trợ giúp đắc lực của nhà nước, của các tổ chức xã hội, trong đó phải lấy hộ nông dân làm đối tượng phục vụ
SUMMARY THE DIALECTICAL RELATIONSHIP BETWEEN INDIVIDUAL ECONOMY AND COOPERATIVE ECONOMY
IN THE AGRICULTURE AND RURAL AREAS IN VIETNAM
The college of economics
Tran Xuan Chau
The self-supporting farmer family is the most appropriate economic units due
to its agricultural characters and rural areas Cooperation is the indispensable demand for individual economy to overcome their difficulties
Cooperatives and individuals are two economic factors which share the same principles The development of one factor provides conditions for the other Individuals that appear first determine the appearance and development of cooperatives Only when individuals start its production of goods do cooperatives become a real economic entity Cooperatives play an important role in supporting, encouraging individual economy to develop, which solve social issues
Besides economic demand and farmers’ cooperative consciousness, it is hard support from the State and social organisations that help cooperative develop
Trang 20TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KINH TẾ HỢP TÁC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG ĐỔI MỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG
NGHIỆP HIỆN NAY Ở NƯỚC TA
Trần Xuân Châu - Đại học Kinh tế Huế
Trong suốt thời kỳ hoạt động cách mạng, vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc nhất trong lý luận cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời cũng là vấn đề được Người vận dụng thành công rực rỡ trong hoạt động thục tiễn ở cả hai giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng XNCH, có lẽ là vấn đề nông dân, nông nghiệp Có thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam Theo Người khi xem xét vấn đề nông dân phải kết hợp chặt chẽ vấn đề chính trị với vấn đề gốc rễ của nó là kinh tế nông nghiệp Trong thời gian lưu lại ở Matxcơva (năm 1923), Người đã nghiên cứu “vấn đề ruộng đất ở Châu Á” và rất quan tâm luận điểm của Mác “việc không có chế độ tư hữu ruộng đất quả thật là chiếc chìa khoá để hiểu toàn bộ phương Đông” Vì vậy, trong giai đoạn giành chính quyền, vấn đề “độc lập dân tộc” và “người cày có ruộng” được Người quan tâm háng đầu Ngay trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (năm 1927) Hồ Chủ tịch đã viết:”Đảng cộng sản cầm quyền, tổ chức ra Chính phủ công, nông binh, phát đất cho dân cày … Ra sức tổ chức kinh tế mới”(1) Trong giai đoạn phát triển đất nước, lợi ích kinh tế của nông dân và của nhân dân nói chung được đặt lên hàng đầu Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế Phép biện chứng giữa kinh tế và chính trị thể hiện trong luận điểm của Người:”Nếu nước độc lập
mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập dân tộc cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2) Tư tưởng ấy được chứng minh bằng thắng lợi to lớn trong chính sách của Đảng, thể hiện tư tưởng chỉ đạo của Bác năm 1955 – 1960 – đây là thời kỳ khôi phục
và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, bắt đầu từ nông nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng đặc điểm to lớn của nước ta trong thời kỳ quá độ (TKQĐ)
là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển TBCN Vì vậy, Người đã viết và phát biểu nhiều các vấn đề nông dân nông nghiệp, trong đó, nổi bật là tư tưởng kinh tế hợp tác và HTX trong nông nghiệp, nông thôn Thời kỳ bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã tiếp cận tư tưởng của Mác:
Trang 21đối với “nghề nông hợp lý” thì hoặc là phải có “bàn tay của người tiểu nông sống bằng lao động của mình” hoặc là phải có “sự kiểm soát của những người sản xuất liên kết với nhau” – đây là cơ sở tư tưởng đầu tiên về một chế độ hợp tác trong nông nghiệp mà Mác chưa kịp hoàn chỉnh Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ sức mạnh của hợp tác, liên kết, nhưng làm thế nào để tổ chức ra sự hợp tác, liên kết đó nhất là trong nông thôn lạc hậu, nông nghiệp yếu kém, manh mún như nước ta Theo Người:”Sửa cái xã hội cũ đã mấy nghìn năm (trì trệ, lạc hậu, nhân dân không có ruộng đất, canh tác manh mún) làm xã hội mới (XHCN), ấy là rất khó Nhưng biết cách làm, biết đồng tâm hợp lực mà làm thì chắc chắn làm được”(3) Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà trong tác phẩm “Đường cách mệnh” người đã trang trọng dành một chương bàn về
“HTX” với rất nhiều nội dung (lịch sử, mục đích, lý luận, loại hình HTX (và các tổ chức từng loại), tác dụng của HTX, cách tổ chức của HTX)
Về lịch sử, HTX đầu tiên xuất hiện đầu tiên ở nước Anh Năm 1791, mấy người thợ dệt vải rủ nhau lập ra một cái hội “làm vải cho tốt và bán giá trung bình trong xóm” Người còn chỉ ra các HTX ở Nga, Pháp, Đan mạch (nông dân hợp tác), Đức (ngân hàng hợp tác) và “Ở Nhật Bản, có một hội khi mới thành lập ra chỉ có 1480 đồng vốn, sau 8 năm đã có 370.000 đồng”
Về mục đích của các tổ chức hợp tác “tuy cách làm có khác nhau ít nhiều nhưng mục đích thì nước nào cũng như nhau”, đó là mưu lợi cho những người tham gia hợp tác, giúp đỡ tương trợ nhau, hạn chế bóc lột của tư bản và đế quốc
Về lý luận, Người nêu:tục ngữ Việt Nam có câu:”Nhóm lại thành giàu, chia ra thành khó” và “một cây làm chẳng nên non, nhiều cây cụm lại nên hòn núi cao” Lý luận TX đều ở trong những điều ấy” Đáng chú ý là lý luận HTX và kinh tế hợp tác của những Người giản dị, dể hiểu, dễ vận dụng Người nói:”nếu chúng ta đứng riêng
ra, thì sức nhỏ mà làm không nên việc Thí dụ, mỗi người mang một cái cột, một tấm tranh ở riêng một người một nơi, thì lều chẳng ra lều, nhà chẳng ra nhà Nhóm những cột ấy, tranh ấy, sức ấy làm ra một cái nhà rộng rãi bề thế rồi ăn chung, ở chung với nhau Ấy là hợp tác”(4) Sau này, khi đến thăm nông dân HTX nông nghiệp Cầu Thành (Đại từ, Thái Nguyên) ngày 2/3/1958, Người đã nói:”Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hon núi cao Muốn làm hòn núi cao, phải vào tổ đổi công và HTX, vì nhiều người hợp tác lại làm được nhiều, được tốt”
Trang 22Về loại hình, Người đưa ra bốn loại hình: HTX tiền bạc (tín dụng), HTX mua – bán, HTX sinh sản (sản xuất) và giải thích: HTX khác hội buôn bởi hội buôn lợi riêng, HTX lợi chung và HTX tuy là để giúp đỡ nhau nhưng không giống các hội từ thiện Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyên tắc chung của HTX, ngoài tự nguyện, cùng có lợi, dân chủ, còn mang tính chất tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau và chống sự bóc lột Người cũng đã giải thích nội dụng hoạt động của mỗi loại hình HTX, trong đó nhấn mạnh trước hết là HTX tín dụng, coi đó là “ngân hàng của nhân dân”, là nơi cung tiêu vốn cho sản xuất và đời sống Người còn chỉ ra việc tạo vốn, cách quay vòng vốn và tạo uy tín của tín dụng trong nông thôn, chỉ ra vai trò và tác dụng của HTX thương nghiệp, nhấn mạnh tính chất hợp tác – là nhằm có lợi cho nông dân khi mua hoặc khi bán, chứ chưa nhấn mạnh tính chất kinh doanh thuần tuý của HTX thương nghiệp
Đối với HTX sản xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh ví dụ: người trồng bông nhưng không có bàn đánh bông, không có đồ kẹp sợi, cho nên phải đem bông bán giá rẻ Nếu góp nhau thành HTX, mua đủ đồ mà làm, thì công ít mà lợi nhiều”(5) Có thể nói, thiên tài của Người không chỉ là đưa ra một lý thuyết về HTX và kinh tế hợp tác, mà còn thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, với một tình nhân ái, nhân văn sâu sắc đối với người nông dân bao đời sống dưới ách phong kiến thực dân, còng lưng làm việc dưới roi vọt Có lẽ vì vậy mà ngay từ khi viết “Đường cách mệnh” để tuyên truyền tư tưởng cách mạng giành độc lập dân tộc Hồ Chí minh đã chuẩn bị con đường, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trong nông nghiệp, nông thôn Người chỉ rõ:”HTX để giúp nhau làm ăn…HTX là rất có lợi nên dân các nước làm nhiều lắm”(6) Sau ngày miền bắc hoàn toàn giải phóng, với cải cách ruộng đất – thành quả có ý nghĩa quan trọng là đã giải phóng HND và nền sản xuất nông nghiệp khỏi sự cùm trói của phương thức bóc lột phong kiến ngự trị ở nông thôn trong nhiều thế kỷ, đưa nông dân nô lệ, làm thuê lên vị trí người nông dân tự do làm chủ Trong lịch sử tiến hoá của giai cấp nông dân, đây là bước nhảy vọt có ý nghĩa cách mạng Trong những năm 1955 – 1957, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chủ tịch, Đảng và Chính phủ đã ban hành 8 chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp trong đó có chính sách “đẩy mạnh phong trào đổi công, giúp đỡ nhau phát triển rộng rãi hình thức tổ chức đổi công”(7) và đây là một trong những động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Các Hội nghị đổi công toàn quốc (lần thứ nhất – tháng 5/1955,lần thứ hai – tháng 3/1956 lần thứ ba – tháng 5/1957) đã
có tác dụng thiết thực trong việc hướng dẫn, vận động nông dân phát huy yếu tố tích
Trang 23cực của hình thức hợp tác lao động giản đơn Thời kỳ này, Hồ Chủ tịch đã bắt tay trực tiếp chỉ đạo phong trào hợp tác hoá Sau đó là sự ra đời “điều lệ HTX”
Trong hội nghị đổi công toàn quốc (từ ngày 6 – 18 tháng 5 năm 1955) Hồ Chủ tịch đã đến tham gia và nói chuyện về phương châm, nguyên tắc, phương pháp tổ chức đổi công, theo Người, “nguyện vọng của nông dân khi chưa có ruộng đất thì muốn có ruộng đất, khi có ruộng đất rồi thì muốn sản xuất nhiều để được ấm no Đó là mục đích của tổ chức đổi công”(8) .Vì vậy, không thể lý luận suông, chính trị suông, người dân “ chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(9) Nói chuyện trong phiên họp đầu tiên của Uỷ ban kiến quốc (năm1945).Hồ chủ tịch đã nêu 4 nhiệm vụ “cần làm ngay” là phải cho dân có ăn, có mặc, có ở, được học hành.(10)
Về phương châm, theo Người , cần phải phát triển tổ đổi công từng vụ, từng
việc, tiến tới tổ đổi công thường xuyên, đổi công mùa này sang mùa khác Về nguyên tắc tổ đổi công, Người nhấn mạnh” một là, không được cưỡng ép ai hết; hai là, làm sao cho những gia đình trong tổ đều có lợi; ba là, quản trị phải dân chủ Đặc biệt, Người rất quan tâm phương pháp tổ chức đổi công và đã chỉ ra: một là, chớ ham làm mau, làm rầm rộ, đi bước nào vững vàng, chắc chắn bước ấy; hai là, phải thiết thực;
ba là, phải làm từ nhỏ đến lớn Tư tưởng này cho thấy, Hồ Chí Minh đã vận dụng khéo léo các nguyên tắc hợp tác hoá (HTH) của Lênin vào hoàn cảnh nông thôn Việt Nam vốn nhỏ lẻ, manh mún, lạc hậu Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc phát triển kinh tế hợp tác – các tổ đổi công ở nông thôn Theo Người, ở chặng đầu của TKQĐ lên CNXH, Việt Nam cần lấy phát triển nông nghiệp là chính Ngay từ năm 1946, Người đã chỉ ra:”Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân ta giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”(11) Để phát triển nông nghiệp, Người nhắc: ra sức xây dựng tổ đổi công tốt để đẩy mạnh sản xuất và tiết kiệm, cần làm cho mọi người hiểu rằng có tổ đổi công tốt thì sản xuất mới có thể gia tăng Kinh tế nông thôn mới có thể phát triển, đời sống nhân dân mới có thể ấm no, mọi việc khác mới có thể thi hành Trong buổi nói chuyện với Hội nghị tổng kết nông – lâm – ngư nghiệp tháng 4 – 1956, Hồ Chủ tịch còn nhắc lại:”muốn sản xuất tốt, phải xây dựng tổ đổi công cho tốt…tổ đổi công là một hình thức tiến dần lên xã hội XHCN”(12) và muốn xây dựng tổ đổi công, HTX
Trang 24được tốt, phải đoàn kết, phải làm cho mọi người tự nguyện tham gia, phải bàn bạc dân chủ và tính toán cho công bằng hợp lý”(13) Như vậy, đối với Hồ Chủ tịch, kinh tế HTX và HTX không phải là mục đích tự thân mà chỉ là phương tiện để thúc đẩy kinh
tế phát triển, phải có lãi thì mới nên làm và phải tính toán cẩn thận “cái gì ra, cái gì vào, việc gì phải làm ngay, việc gì chờ , hoãn, hay bỏ, món gì đáng tiêu, người nào đáng dùng”(14) Có thể coi đây là một ý tưởng khoa học quản lý kinh tế mẫu mực trong TKQĐ lên CNXH ở nước ta, nhất là những năm 60 của thế kỷ XX ở Việt nam Thấy được trình độ non kém trong công tác tổ chức quản lý của cán bộ ta, nhất là tư tưởng nóng vội, chủ quan, duy ý chí trong việc phát triển kinh tế hợp tác ở nông thôn, trong bài nói tại Hội nghị tổng kết phòng trào HTH nông nghiệp tháng 9 – 1959, Hồ Chủ tịch nói rõ:”Chúng ta tổ chức HTX trước hết nhằm mục đích nâng cao đời sống nhân dân, phát triển HTX một cách chắc chắn, không nên chạy theo số lượng”, bởi vì “nông dân cần trông thấy lợi ích thiết thực, lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cục”(15) Cho nên “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại cho dân phải hết sức tránh”(16)
Khi đặt vấn đề đẩy lên một bước thành lập HTX, Hồ Chủ tịch đặt ra câu hỏi:
trước hết ta cần nhận rõ mục đích của việc tổ chức HTX là gì? Và Người trả lời luôn –
là để cải thiện đời sống nhân dân, làm cho nông dân được ấm no, mạnh khoẻ, được học tập, làm cho dân giàu nước mạnh Đó là mục đích riêng và mục đích chung của việc xây dựng HTX
Chúng ta cũng cần chú ý rằng, ngay từ năm 1927, Hồ Chủ tịch đã đặt vấn đề HTX (dành trọn một chương trong “Đường cách mệnh” trình bày về HTX) nhưng
trong chỉ đạo thực tiễn những năm 1955 – 1960, Người mới chỉ nhấn mạnh tổ đổi
công - một hình thức kinh tế hợp tác - hợp tác đơn giản (cấp thấp của HTX) Và khi
đề cập đến HTX bậc cao, Người cũng rất dè dặt Theo chúng tôi, tư tưởng về kinh tế hợp tác được Hồ Chí minh đặt trong mối quan hệ tổng thể với các thành phần kinh tế khác, cũng đang rất non yếu trong TKQĐ Về quyền sở hữu tư liệu sản xuất, theo Người có các hình thức sở hữu của Nhà nước, sở hữu của HTX, sở hữu của Người lao động riêng lẻ, sở hữu của nhà tư bản Các hình thức sở hữu này cùng tồn tại và hoạt động đồng thời trong TKQĐ(17) Trong sự vận động đó, việc thành lập HTX trước hết
là do nhu cầu kinh tế - xã hội và liên kết một cách đa dạng, thậm chí không nhất thiết phải theo địa giới hành chính Người nói, “Không phải làng nào cũng phải lập mỗi
Trang 25làng một HTX Cũng không phải mỗi làng phải lập cả mấy HTX Cũng không phải lập HTX này thì không lập được HTX kia Chẳng qua theo hoàn cảnh nơi nào lập được HTX nào, và có khi 2 HTX – mua và bán - lập chung cũng được Nếu nhiều nơi
đã thành lập HTX như nhau thì các HTX ấy nên liên lạc với nhau, thế lực ngày càng mạnh hơn Hoặc khi 2 HTX tính chất khác nhau thì cũng nên liên kết với nhau như một HTX”(18) Đây là tư tưởng về HTX liên hiệp, vừa là kết quả vừa là tiền đề tất yếu
về mặt tổ chức trong sự phát triển kinh tế hợp tác trong nông thôn, trên cơ sở sự đa dạng của nền kinh tế nhiều thành phần Đây cũng chính là cống hiến quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư tưởng kinh tế hợp tác, bổ sung sang tạo lý luận HTH của Lênin HTX kiểu mới hiện nay chính là sự trở lại tư tưởng về kinh tế hợp tác của chủ tịch Hồ CHí Minh
Hồ Chủ tịch cũng đã đề ra nguyên tắc đối với thành viên là xã viên HTX:”HTX chỉ có hội viên mới được hưởng lợi, chỉ có hội viên mới có quyền” và việc hưởng lợi theo nguyên tắc hạch toán độc lập:”những việc kỹ thuật như tính toán, xem hàng hoá, cầm máy,… thì có thể cho phép mướn người ngoài” và “đã vào hội thì bất kể góp nhiều, góp ít, vào trước, vào sau, ai cũng bình đẳng như nhau”(19) Người còn nhấn mạnh: Muốn xoá bỏ được nghèo nàn, lạc hậu, không chỉ phát triển kinh tế nhiều thành phần, phát triển kinh tế quốc doanh, mà nhà nước cần khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ cho kinh tế HTX phát triển”(20)
Tóm lại, điều đáng chú ý trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế hợp
tác (tổ đổi công, hợp tác và HTX) trong nông nghiệp, nông thôn là: luôn luôn vì lợi ích của quần chúng nông dân, vì mục đích của dân giàu, nước mạnh và nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ, tương trợ, không bóc lột trong việc xây dựng các tổ chức đổi công hợp tác
Có thể thấy rằng, những năm 1955 – 1960, ở miền bắc, nông nghiệp, nông thôn
đã có những bước phát triển đáng kể So sánh năm 1960 với năm 1955, năng suất lao động nông nghiệp tăng 1,4 lần, sản lượng tăng 1,5 lần Sản phẩm hàng hoá tăng 1,5 lần 80% số HND đạt mức trung nông Đó là kết quả của nhiều chủ trưởng chính sách của Đảng và Nhà nước ta phù hợp với nông dân, trong đó có chính sách về kinh tế
hợp tác Đây cũng là thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo phong trào
HTH Tiếc rằng tư tưởng tổ đổi công, về kinh tế hợp tác của Người đã không được vận dụng trong lãnh đạo kinh tế thời kỳ 1960 – 1980 vã đã phạm một số sai lầm:
Trang 26không coi kinh tế hợp tác và HTX chỉ là một hình thức kinh tế, đã tuyệt đối hoá HTH thành tập thể hoá; coi nhẹ phát triển nông nghiệp hàng hoá nhiều thành phần, coi nhẹ kinh tế gia đình; các nguyên tắc HTH (như tự nguyện, quản lý dân chủ, đi từng bước vững chắc v.v…) đã được thay bằng phương pháp tập thể hoá với quy mô lớn, tốc độ nhanh, không mang tính tự nguyện thật sự của nông dân Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý như: đoàn kết nông thôn trong và ngoài HTX để gia tăng sản xuất, tiết kiệm, chống tham ô, chống lãng phí, chống phân phối bình quân v.v… đã được thay bằng chế độ bao cấp, phân phối bình quân và quản lý bằng mệnh lệnh, quan liêu Vì vậy, sau chiến tranh chống Mỹ thắng lợi, cho đến những năm 80, nông thôn và nông nghiệp nước ta không còn động lực phát triển, trở nên trì trệ, khủng khoảng và những hậu quả đó còn kéo dài đến nhiều năm sau
Hơn 20 năm đổi mới vừa qua, trên cơ sở xác định HND là đơn vị kinh tế tự chủ (hộ tiểu nông) cũng như gắn sự phát triển kinh tế gia đình nông dân với nhiều loại hình hợp tác trong sản xuất và lưu thông - thực chất là trở lại tư tưởng của Lênin và
Hồ Chí Minh về kinh tế hợp tác, sản xuất nông nghiệp ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, bộ mặt nông thôn và đời sống nông dân đã có chuyển biến và thay đổi đáng kể Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương xây dựng một chế
độ HTX kiểu mới và phù hợp với kinh tế thị trường định hướng XHCN Hơn 80 năm qua, từ lý thuyết HTX trong “Đường cách mệnh” đến những tư tưởng về kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, (nhất là những năm
1955 – 1960) vẫn là những chỉ dẫn mẫu mực cho sự đổi mới và phát triển tổ đổi
công, kinh tế hợp tác và HTX nông nghiệp Vì vậy, thiết nghĩ, cần tiếp tục nhận thức
và vận dụng ở trình độ cao tư tưởng về kinh tế hợp tác của Người, thúc đẩy kinh tế hộ cùng với kinh tế hợp tác, làm lực đẩy cộng sinh cho quá trình phát triển toàn diện kinh
tế - xã hội trong nông thôn nước ta hiện nay
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Hồ Chí minh toàn tập, T1, NXB ST, H, 1980, tr254
(2) Sdd, T4, H, 1984, tr35
(3), (4), (5), (6) Sdd, T1, tr290 – 300
(7) Nhiều tác giả, Hợp tác hóa nông nghiệp Việt Nam, NxbST, H, 1992, tr22
(8) Lâm Quang Huyên, Kinh tế nông hộ… Nxb KHXH, TP HCM, 1995, tr22
Trang 27(9), (10) Nhiều tác giả, Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Bộ tư pháp, NXBST,1993, tr 281 – 282
(11).Hồ Chí minh toàn tập, T4, NXB ST, H, 1984, tr124
(12), (13) Lâm Quang huyên, Sdd, tr23
(14) Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Sdd, tr152
ra và giải quyết các nội dung về hợp tác xã: lịch sử, mục đích, lí luận, loại hình, tác dụng, cách tổ chức hợp tác xã Sau năm 1954, chủ tịch HCM đã trực tiếp chỉ đạo phong trào hợp tác hoá ở nông thôn miền Bắc, thu được nhiều kết quả quan trọng Trong quá trình xây dựng và phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới hiện nay, những phân tích và chỉ dẫn của chủ tịch HCM vẫn là những chỉ dẫn quí báu đối với chúng ta
HCM’S THOUGHT ABOUT COOPERATIVE ECONOMYAND ITS MEANINGS IN THE INNOVATION OF AGRICULTURAL CO-
OPERATIVES IN VIETNAM NOWADAYS
The college of economics
Tran Xuan Chau
The most important issue of Vietnamese revolution was that of agriculture-rural areas In “Revolution’s path” (1927), HCM president set up and solved a series of problems relating to cooperatives such as its history, purpose, reasoning, type and structure After 1954, HCM president directly led the cooperative movement in the northern rural areas which received important achievements HCM’s analysis and instructions remain precious to VN in the process of developing modern cooperatives
Trang 28farmers-TIÊU THỤ THUỶ SẢN NUÔI TRỒNG Ở THỪA THIÊN HUẾ
Hầu hết các sản phẩm của ngư dân đều phụ thuộc vào khả năng tiêu thụ của các doanh nghiệp tư nhân và các nhà thu gom nhỏ ở địa phương nên hiện tượng ép giá, ép cấp xảy ra; Hệ thống các cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc chế biến và bảo quản sản phẩm còn rất hạn chế; ý thức trong vấn đề bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều vấn đề bất cập; Việc tiếp cận với hệ thống thông tin thị trường của người nông dân hạn chế; Quan hệ hợp tác giữa các hộ nông dân với các nhà thu gom và giữa nhà thu gom với các doanh nghiệp và công ty chế biến xuất khẩu còn nhiều vấn đề bất cập Những vấn đề trên đặt ra một nhu cầu khách quan là cần thiết phải có một nghiên cứu toàn diện về vấn đề tiêu thụ thuỷ sản nuôi trồng của tỉnh TTH làm cơ sở cho việc
đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của nghề nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi đã chọn đề tài:”Tiêu thụ thuỷ sản nuôi
trồng ở Thừa Thiên Huế” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuỷ sản của tỉnh
Trong 5 năm, từ 2001 đến 2005, tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng từ
3566 ha lên 5226 ha, tốc độ tăng bình quân 10%/năm; tổng sản lượng tăng từ 2551 tấn lên 6296 tấn, tốc độ tăng bình quân 25,3%
Trong cơ cấu các loại, tôm là loại thuỷ sản nuôi trồng có diện tích và sản lượng lớn nhất chiếm 66% diện tích và 53% sản lượng (năm 2005) Tốc độ tăng bình quân 5 năm là 3,55% về diện tích và 18,6% về sản lượng
Tuy nhiên, tốc độ tăng về diện tích và sản lượng của tôm so với các loại thuỷ sản khác chậm, thậm chí có xu hướng giảm Trong khi đó cá nước ngọt và các loại khác có xu hướng tăng nhanh
Trang 29Trong các huyện của tỉnh Phú Vang, Phú Lộc và Quảng Điền là những huyện
có diện tích và sản lượng nuôi trồng lớn nhất Trong đó, Phú Vang chiếm 36,7% diện tích, 32,3% sản lượng; Phú Lộc chiếm tỷ trọng thấp hơn, 23,9% diện tích và 23% sản lượng; Quảng Điền chiếm 13,8% diện tích và 13,4% sản lượng
Mặc dù diện tích và sản lượng tôm chỉ chiếm 66% diện tích và 53% sản lượng nhưng giá trị sản lượng của tôm chiếm đến 86,45% giá trị sản lượng của ngành nuôi trồng thuỷ sản Điều đó chứng tỏ giá trị to lớn về kinh tế của nuôi tôm Tuy nhiên, xuất khẩu thuỷ sản của tỉnh lại gặp nhiều khó khăn Từ năm 2002 trở về trước, xuất khẩu thuỷ sản là thế mạnh của tỉnh, chiếm 64,9% 4tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu Tuy nhiên, từ năm 2003 trở lại đây, xuất khẩu thuỷ sản giảm sút trầm trọng So với năm 2001, hải sản đông giảm 66,2%, hải sản khô giảm 88,1% Trong đó, mực lột da chiếm đến 99% lượng xuất khẩu
Như vậy, mặc dù tôm sú là loại sản phẩm có lợi thế phát triển nhưng lại không đóng vai trò gì trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của tỉnh
2 Tình hình tiêu thụ tôm của các hộ gia đình nông dân
Do sản phẩm thuỷ sản nuôi trồng ở TTH rất đa dạng: nuôi tôm cá nước lợ trên khu vực phá Tam Giang - Cầu hai, nuôi nhuyễn thể, nuôi cá nước ngọt ở các khu vực đồng bằng và trung du Trong số các sản phẩm trên, tôm sú chiếm tỷ trọng cao nhất về mặt giá trị và diện tích (66% về diện tích và 53% về sản lượng) Vì thế, đề tài tập trung phân tích chuỗi cung sản phẩm tôm sú từ người sản xuất qua các trung gian và đến người tiêu dùng cuối cùng Căn cứ vào kết quả phân tích để đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng tiêu thụ tôm nói riêng và tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản nuôi trồng nói chung trên địa bàn tỉnh TTH
Để tìm hiểu tình hình tiêu thụ tôm của các hộ gia đình nông dân ở TTH, chúng tôi đã sử dụng phương pháp phân tích chuỗi cung Số liệu của đề tài được thu thập từ các hộ gia đình nông dân, các nhà thu gom ở 3 huyện Phú Vang, Phú Lộc và Quảng điền; các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh và một số Công ty Chế biến xuất khẩu thuỷ sản ở Đà Nẵng Kết quả điều tra có thể khái quát trên sơ đồ sau (trang sau):
2.1 Kênh cung cấp các yếu tố đầu vào
Tôm giống
Trang 30
Giống tôm được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau: các trại tôm giống ở Đà nẵng, Nha Trang và Huế Theo số liệu điều tra, có khoảng 80% lượng tôm giống được mua từ ngoài tỉnh
Thức ăn nuôi tôm: Hiện ở địa bàn tỉnh có đến 20 loại thức ăn cho tôm Hầu hết
trong số đó được cung cấp từ các nhà máy sản xuất thức ăn của TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…Các nhà cung cấp thức ăn cho tôm là các đại lý hoặc các nhà bán lẻ; Họ có thể chỉ là người thuần tuý bán thức ăn, cũng có thể là các nhà đầu tư các yếu tố đầu vào và tiêu thụ các sản phẩm đầu ra cho các hộ nông dân
Dầu chạy máy: Dầu chạy máy được mua trực tiếp từ các đại lý xăng dầu của tư
nhân hoặc công ty xăng dầu TTH
Vôi: Do nhu cầu vôi chỉ xuất hiện vào đầu vụ nhằm xử lý ao hồ nên lượng mua
không nhiều Hơn nữa nguồn cung dồi dào nên việc mua vôi không gặp khó khăn gì Nhìn chung, kênh cung cấp các yếu tố đầu vào (ngoại trừ tôm giống) khá ổn định, không có sự cạnh tranh mạnh giữa các đại lý trong mỗi địa phương Giá cả các điểm bán thường ít chênh lệch và quan hệ hợp tác giữa người mua và người bán khá chặt chẽ
2.2 Kênh tiêu thụ tôm nuôi
Kênh tiêu thụ tôm nuôi của các hộ đi theo 2 kênh chính:
Kênh thứ nhất, Hộ nông dân - Thu gom nhỏ - Người bán lẻ - Người tiêu dùng
Sau khi thu mua từ các hộ gia đình nông dân, tôm sẽ được đem đi tiêu thụ theo 3 nhánh nhỏ sau:
- Thứ nhất, các thu gom nhỏ bán lại cho thu gom lớn trong địa bàn (Chiếm 60 -
70% lượng tôm mua được của các thu gom nhỏ)
- Thứ hai, thu gom nhỏ đem bán cho các nhà bán lẻ hoặc các nhà hàng ở Huế
- Thứ ba, các thu gom nhỏ bán trực tiếp cho người tiêu dùng ở địa phương hoặc
các chợ trên địa bàn tỉnh TTHuế
Lượng tôm bán theo kênh này không nhiều chỉ chiếm 20% lượng tôm sản xuất trong tỉnh
Kênh thứ hai: Các hộ nông dân bán sản phẩm cho nhà thu gom lớn
Kênh này tiêu thụ 80% sản lượng tôm sản xuất của các hộ Theo kênh này, tôm nuôi của các hộ sẽ đi theo các kênh nhỏ sau:
Kênh 1: Thu gom lớn bán tôm cho các tư thương ở các tỉnh phía Bắc (Nghệ An,
Trang 31Thanh Hoá)
Vào đầu vụ tôm Xuân, các nhà thu gom lớn ở Huế thường bán tôm tươi, sống cho các nhà thu gom tôm ở các tỉnh phía Bắc Nguyên nhân các thu gom ở các tỉnh phía Bắc mua tôm của Huế là do vào lúc này tôm ở các tỉnh phía Bắc chưa đến kỳ thu hoạch
Loại tôm họ mua thường to (40, 30 và 20 con/kg) Giá tôm bán 120 - 150 và
200 ngàn đồng/kg tuỳ kích cỡ Do bán tôm sống và to nên lượng bán tôm ở giai đoạn này không nhiều chiếm khoảng 5% tổng lượng tôm của các thu gom lớn
Theo kênh này, tôm lại tiếp tục được đem phân phối cho các nhà hàng, khách sạn
và bán lẻ ở các tỉnh phía Bắc phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa
Kênh 2: Thu gom lớn bán tôm cho các DNTN ở Huế
Sau khi mua tôm của các hộ, các thu gom lớn bán lại tôm cho các DNTN ở Huế (DNTN Thanh Tin, Dung Diệp, Ngọc Linh, Bé Ba …) Kênh này được thực hiện chủ yếu đối với các thu gom không có đủ điều kiện (về cơ sở vật chất, hoặc về quan
hệ với các doanh nghiệp khác) để đưa tôm đi bán ở tỉnh khác Từ các DNTN, tôm sẽ tiếp tục được đưa đi tiêu thụ ở các công ty Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản ở các tỉnh phía Nam (Đà nẵng, Khánh hoà và TP HCM) và phía Bắc (Nghệ An, Thanh Hoá)
Kênh 3: Các thu gom lớn trực tiếp bán tôm cho các công ty Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản ở các tỉnh phía Nam (Đà Nẵng, Khánh Hoà và TP HCM)
Kênh này được thực hiện bởi các thu gom lớn ở xã, những người có đủ điều kiện
về cơ sở vật chất kỹ thuật để vận chuyển và bảo quản tôm đi xa
Tôm sau khi được chế biến tại các công ty này sẽ được xuất khẩu sang Nhật dưới dạng tôm đông lạnh
Trang 32Hình 3 : Sơ đồ chuỗi cung sản phẩm tôm sú và tỷ lệ khối lượng
HỘ NUÔI TÔM
DNTN ở Huế
NGƯỜI TIÊU DÙNG
Trong tỉnh Ngoài tỉnh Nước ngoài
Cty chế biến thuỷ sản ở các tỉnh phía Nam và Bắc
trị bệnh
Thu gom Thanh Hoá Bán buôn ở Đà
Nẵng, Hà Tĩnh
Nhà hàng Bán buôn Bán lẻ Bán lẻ
Trang 33Kênh 4: Bán tôm cho tư thương ở chợ Cồn và chợ Hàn
Một số thu gom lớn bán trực tiếp cho các tư thương ở chợ Hàn và chợ Cồn Từ các tư thương này, tôm sẽ được bán lại cho các nhà bán lẻ ở các chợ xung quanh thành phố Đà nẵng Sau đó, lại được phân phối cho các nhà hàng, cho người bán lẻ khác hoặc bán trực tiếp cho người tiêu dùng
3 Phân tích chuỗi
3.1 Quá trình tạo giá trị
Khảo sát toàn bộ chuỗi cung cho thấy, giá trị của tôm được tăng lên trong quá trình tiêu thụ dưới các dạng:
- Chi phí thu hoạch và bảo quản tôm: bình quân 1 kg tôm chịu một khoản chi phí
1000 – 1500 đồng/kg cho việc thu hoạch và bảo quản tôm
- Chi phí vận chuyển tôm: Bình quân chi phí vận chuyển 1 kg tôm từ Huế vào Đà nẵng hết 500 đồng/kg5 Nếu vận chuyển ra Nghệ an hết 1000 – 1500 đồng/kg6
Như vậy, giá trị của tôm đã tăng lên từ 2000 đến 3000 đồng/kg cho việc thu hoạch, bảo quản và vận chuyển tôm từ hộ gia đình nông dân đến các Công ty chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Tuy nhiên, chất lượng của tôm trong giai đoạn này không tăng mà lại có xu hướng giảm do tôm bị ngâm vào nước đá quá lâu
3.2 Quan hệ hợp tác trong chuỗi
Chuỗi đã tập trung vào người tiêu dùng để phục vụ Các bộ phận trong chuỗi đã
có sự hợp tác Tuy nhiên, mức độ hợp tác chưa chặt chẽ và con mang tính cơ hội Hình thức hợp tác phổ biến là hỗ trợ vốn và bao tiêu sản phẩm, các hình thức hợp tác trong bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm chưa hề được đặt ra
Sự cạnh tranh trong chuỗi đã bắt đầu xuất hiện dưới dạng cạnh tranh mua giữa các thu gom trong cùng một địa bàn, giữa các DNTN trong tỉnh với nhau Cạnh tranh về giá, về phương thức thanh toán là hình thức cạnh tranh chủ yếu
3.3 Chênh lệch giá
Xét về hình thức, giá bán của hộ nông dân thường bằng hoặc cao hơn so với giá bán của các thu gom bán cho các DNTN từ 3 đến 5 giá Sự giảm giá này được áp dụng đối với các loại tôm đã ngâm nước đá
Tuy nhiên, đối với tôm tươi sống, giá của tôm lại chênh lệch khá lớn từ người
Trang 34sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng Giá bán loại tôm này thường chênh lệch từ
10 đến 20 giá tuỳ loại
BẢNG: CHÊNH LỆCH GIÁ BÁN TÔM TỪ HỘ ĐẾN CÁC DNTN
Loại tôm
(con/kg)
Hình thức bảo quản
Giá bán của ND cho thu gom (1000 đ/kg)
Thu gom bán cho DNTN hoặc nhà hàng
(1000 đ) Chênh lệch
40
giảm 5 giá Tôm tươi
Tăng 10 - 15 giá
100
giảm 5 giá Tôm tươi
Tăng 5 đến
10 giá
Nguồn: Số liệu điều tra
3.4 Phương thức thanh toán
Hình thức thanh toán bằng tiền mặt là chủ yếu đối với tất cả các thành phần trong chuỗi Tuỳ thuộc vào các mối quan hệ giữa các thành phần trong chuỗi mà thời gian thanh toán và phương thức thanh toán khác nhau
3.5 Dòng thông tin trong chuỗi
Người nông dân là thành phần trong chuỗi có khả năng thu thập thông tin kém nhất
4 Những cơ hội và thách thức đối với tiêu thụ tôm ở TTH
- Việt Nam gia nhập WTO là cơ hội lớn để con tôm có thể xuất khẩu nhiều hơn Thu nhập của người dân trong nước ngày càng cao cũng thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ tôm trong nước tăng nhanh
- Chính sách đất đai và chính sách khuyến khích phát triển nuôi trông thuỷ sản của nhà nước tạo cơ hội cho các hộ nông dân mở rộng quy mô, đầu tư thâm canh nhằm làm tăng nguồn cung tôm
- Chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân đã tạo nhiều cơ hội cho các thành phần kinh tế tham gia vào tiêu thụ thuỷ sản nhờ đó đầu ra của con tôm thuận lợi hơn
- Trong xu thế hội nhập hiện nay, yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm được đặt lên hàng đầu Trong khi đó, ở Huế đã xuất hiện hiện tượng ngâm tôm vào đá, bơm đông sương vào đầu tôm, cho hàn the vào tôm với mục tiêu làm tăng trọng lượng con
Trang 35tôm đã làm cho chất lượng của tôm bị ảnh hưởng nghiêm trọng
- Hiểu biết của nông dân, các nhà thu gom ở xã về công tác quản trị chất lượng sản phẩm còn rất nhiều hạn chế
- Cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc nuôi trồng thuỷ sản nói chung và nuôi tôm nói riêng của TTH còn rất yếu kém Trong khi đó quy mô nuôi trồng nhỏ, mang tính
tự phát, thiếu quy hoạch, việc sử dụng thức ăn tươi tràn lan… đã làm cho môi trường nuôi trồng bị ô nhiễm dễ gây dịch bệnh
- Khẩu độ của chuỗi cung tôm dài đã làm cho chi phí marketing tăng lên Thu nhập của người nông dân giảm đi do tôm phải qua nhiều khâu trung gian
- Sự hợp tác giữa các bộ phận trong chuỗi chưa thật sự chặt chẽ
5 Giải pháp thúc đẩy tiêu thụ thuỷ sản
5.1 Các giải pháp nhằm tăng cung và chất lượng thuỷ sản
- Mở rộng quy mô diện tích, nâng cao năng suất nuôi trồng thuỷ sản
- Vốn đầu tư cho nuôi trồng thuỷ sản
- Nâng cao trình độ kỹ thuật của người nuôi tôm nói riêng, nuôi trồng thuỷ sản nói chung
- Các địa phương trên cơ sở quy hoạch tổng thể, nhanh chóng hoàn thiện quy hoạch chi tiết vùng nuôi trồng thuỷ sản của địa phương nhằm tạo ra khu vực nuôi đảm bảo yêu cầu
- Như đã phân tích ở phần trước, hiện TTH mới chỉ đảm bảo cung cấp khoảng
10 – 14% lượng tôm giống cho sản xuất
- Đa dạng hoá các loại sản phẩm nuôi trồng bằng việc nuôi xen ghép các loại thuỷ sản khác nhau nhằm tận dụng thức ăn, mặt nước, hạn chế tính thời vụ, giảm thiểu rủi ro
- Chú trọng nâng cao nhận thức của người nông dân, các nhà thu gom lớn và nhỏ ở địa phương về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm
5.2.Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiêu thụ
- Tăng cường công tác xuất khẩu thuỷ sản
- Kích thích tiêu dùng trong nước
- Tăng cường công tác thông tin thị trường
- Tăng cường qua hệ hợp tác giữa nông dân và các doanh nghiệp
Trang 36CONSUMING AQUATIC PRODUCT IN THUA THIEN HUE
PROVINCE
Dr Phung Thi Hong Ha
Base on data collected from farms, collectors (middlemen), private enterprises
in TTH province and some aquatic product processing and export companies in DaNang, topic described supply chain of shrimp product of farmers Topic also gave problems should be solved They are: Long supply chain; infrastructure of processing and export has not developed; Knowledge on food safety of farm and middlemen is limited; cooperation between components of supply chain is not close From that, some solutions were given in order to improve situation
Trang 37ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH PHƯƠNG TRÌNH CẤU TRÚC (SEM) ĐỂ ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI SAU TIÊU DÙNG CỦA HÀNH KHÁCH VIỆT NAM
ĐI MÁY BAY
ThS Võ Thị Mai Hà Trường Đại học Kinh tế
1 Đặt vấn đề
Trong thực tiễn hoạt động nghiên cứu, việc ứng dụng các kỹ thuật mô hình nhằm hỗ trợ cho việc giải thích vấn đề đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp quan tâm Mô hình phương trình cấu trúc (Structural equation modeling
- SEM) là phương pháp thống kê đa biến nâng cao được áp dụng cho các vấn đề về kinh tế và xã hội nhằm giải thích mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân
tố Với khả năng giải quyết nhiều mối quan hệ phức tạp giữa các biến độc lập và phụ thuộc, SEM thực sự là một phương pháp ưu việt thay thế cho những phương pháp thống kê đa biến thông thường khác
Trên thế giới, các nghiên cứu ứng dụng SEM đã xuất hiện thường xuyên trên các tạp chí khoa học quốc tế SEM đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực khác nhau như ngân hàng, y tế, quản lý công nghệ thông tin, logistic, marketing, tâm lý học
và quản lý du lịch Tại Việt Nam, phương pháp này vẫn còn khá mới mẻ và chưa được nhiều người biết đến Vì thế, việc tìm hiểu, tiếp cận và áp dụng các phương pháp mới như SEM, cùng với các phần mềm xử lý tiên tiến , thay cho các phương pháp và công nghệ truyền thống là hết sức cần thiết trong xu thế hội nhập và phát triển ngày nay
Nhằm giúp cho các nhà nghiên cứu hiểu biết hơn về công cụ thống kê hữu ích này, bài viết trình bày một trường hợp ứng dụng SEM Cụ thể, chúng tôi tiến hành điều tra các nhân tố chính ảnh hưởng, tác động đến hành vi sau tiêu dùng của hành khách đi máy bay.Trên cơ sở đó, một mô hình được thiết lập và kiểm định, liên quan đến khuynh hướng hành vi tiêu dùng của khách hàng trong môi trường hàng không Việt Nam Quy trình chi tiết và đầy đủ của SEM là khá phức tạp Tuy nhiên, phân tích SEM trong bài viết này chủ yếu mang tính giới thiệu về phương pháp cũng như cách thức và quy trình đánh giá mô hình đo lường và mô hình cấu trúc tổng thể
Từ cách đặt vấn đề với những mục tiêu như trên, bài viết của chúng tôi đưa ra các nội dung chính như sau:
Trang 38- Giới thiệu tổng quát về phương pháp mô hình phương trình cấu trúc (SEM)
- Trình bày kết quả nghiên cứu: Xây dựng một mô hình về mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ, độ thỏa mãn, giá trị khách hàng nhằm dự báo khuynh hướng hành
vi sau tiêu dùng của hành khách máy bay trong vận tải hàng không, dưới góc nhìn của hành khách Việt Nam
- Đưa ra một số kiến nghị về lý luận và thực tiễn, trên cơ sở phân tích kết quả nghiên cứu
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Mô hình phương trình cấu trúc
Một trong những mục tiêu bạn đầu của thống kê đa biến là tăng cường hiệu quả
và khả năng giải thích vấn đề nghiên cứu Phương pháp hồi quy bội, phân tích nhân
tố, phân tích phương sai đa biến, phân tích discriminant và các phương pháp phân tích khác trong thống kê đa biến đều cung cấp cho chúng ta công cụ hữu hiệu để giải quyết một loạt những vấn đề về lý thuyết cũng như quản lý Tuy nhiên, tất cả các phương pháp đó đều có chung một hạn chế là mỗi phương pháp chỉ có thể kiểm định hay xem xét một mối quan hệ đơn trong một lần phân tích Ngay cả những phương pháp cho phép phân tích nhiều biến phụ thuộc như phương pháp phân tích đa biến về phương sai và phương pháp phân tích canonical vẫn chỉ dừng lại ở mỗi một quan hệ đơn giữa biến độc lập và biến phụ thuộc
Trong thực tiễn, nhà quản lý cũng như nhà nghiên cứu thường phải đối mặt với các vấn đề liên quan lẫn nhau Chẳng hạn, những nhân tố nào quyết định đến cảm nhận về chất lượng dịch vụ của khách hàng? Làm thế nào chất lượng dịch vụ kết hợp với những nhân tố khác để tác động đến quyết định mua hàng và sự thỏa mãn của khách hàng đối với dịch vụ đó? Và cuối cùng, làm thế nào sự thỏa mãn dẫn đến sự trung thành lâu dài của khách hàng? Hàng loạt những vấn đề này đều có tầm quan trọng cả về mặt lí luận và thực tiễn nhưng các phương pháp đa biến khác lại không thể giải quyết cùng lúc Vì lý do đó, kể từ cuối năm 1980, phương pháp mô hình phương trình cấu trúc (SEM) được áp dụng và ngày càng trở nên phổ biến trên phạm vi quốc
tế SEM là sự mở rộng của nhiều phương pháp đa biến, trong đó đáng chú ý nhất là
mở rộng phương pháp hồi quy bội (multiple regression) và phân tích nhân tố (factor analysis)
Trang 39SEM đánh giá đồng thời cùng lúc nhiều mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Cách tiếp cận này đặc biệt hữu ích khi một biến phụ thuộc lại trở thành một biến độc lập trong một chuỗi các quan hệ phụ thuộc nhau Một bộ các quan hệ này, mà mỗi quan
hệ có các biến độc lập và biến phụ thuộc, chính là cơ sở của SEM
Công thức cơ bản của SEM ở dạng phương trình như sau:
Y1 = X11 + X12 + X13 + + X1n
Y2 = X21 + X22 + X23 + + X2n
Ym = Xm1 + Xm2 + Xm3 + + Xmn Nói chung, SEM có những ưu điểm chính so với các phương pháp đa biến truyền thống là:
- Giải quyết đồng thời nhiều mối quan hệ phu thuộc lẫn nhau trong khi vẫn mang lại hiệu quả về mặt thống kê
- Đánh giá các quan hệ tương quan, nhân quả một cách sâu và rộng; ngay cả các quan hệ tác động trung gian
- Chuyển từ phân tích tìm nhân tố mới (exploratory factor analysis-EFA) sang phân tích xác nhận lại các nhân tố đã được thiết lập (confirmatory factor analysis-CFA)
Sự chuyển dịch này đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn nữa trong tất cả những lĩnh vực nghiên cứu đối với việc phát triển quan điểm của vấn đề một cách hệ thống hơn và hoàn hảo hơn Những ưu điểm đó hỗ trợ cho việc kiểm định một loạt các giả thiết trong một mô hình quy mô lớn, ngay cả khi đó là một bộ các nguyên tắc cơ bản hoặc toàn bộ một lý thuyết
Nhìn chung, một nhà nghiên cứu sử dụng SEM thông thường phải trải qua hai giai đoạn phân tích:
- Giai đoạn 1- mô hình đo lường: Sử dụng phân tích nhân tố xác nhận (CFA)
để phân tích mô hình đo lường, là mô hình biểu thị mối quan hệ giữa các biến ẩn và biến quan sát tương ứng Qua đó, cho phép chúng ta kiểm tra tính hợp thức và độ tin cậy của phép đo
- Giai đoạn 2 - mô hình giả thiết: Phân tích mô hình phương trình cấu trúc tổng thể đánh giá được tính hợp thức của mô hình tổng quát so với dữ liệu; đồng thời kiểm định ý nghĩa thống kê của các giả thiết đưa ra
Ở mỗi giai đoạn thường có năm bước sau:
Trang 40(1) Xác định mô hình (Model specification)
(2) Ước lượng tham số (Estimation)
(3) Đánh giá mức độ phù hợp với dữ liệu (Evaluation of fit)
(4) Xác định lại mô hình (Respecification of the model), nếu không phù hợp với dữ liệu
(5) Giải thích kết quả (Interpretation)
2.2 Mô hình nghiên cứu
Mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu được mô hình hóa thể hiện các giả thiết nghiên cứu đưa ra (Hình 1) Theo Hình 1, có 9 giả thiết, trong đó các giả thiết 1,2 và
3, được phân nhánh thành 5 giả thiết nhỏ cho mỗi giả thiết Mối quan hệ trong mỗi giả thiết là quan hệ thuận cùng chiều, biểu thị sự tác động trực tiếp của biến độc lập lên biến phụ thuộc
Hình 1 Mô hình nghiên cứu được thiết lập để kiểm định
2.3 Đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu
Các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ được đo lường theo mô hình SERVPERF (service performance), một mô hình rút gọn của công cụ SERVQUAL (service quality) do Parasuraman và cộng sự thiết lập năm 1988, bao gồm năm yếu tố:
Hành vi sau tiêu dùng
Chất lượng dich
vụ tồng thể
Giá trị nhận được
GT2