SỞ Y TẾ TỈNH KON TUM TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIẾN THỨC CHĂM SÓC SỨC KHỎE THIẾT
Trang 1SỞ Y TẾ TỈNH KON TUM TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIẾN THỨC CHĂM SÓC SỨC KHỎE THIẾT YẾU CỦA NGƯỜI DÂN
TỈNH KON TUM NĂM 2014
Chủ nhiệm đề tài: Y Dêch Buôn-yă
Trang 2
SỞ Y TẾ TỈNH KON TUM TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG - GDSK
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIẾN THỨC CHĂM SÓC SỨC KHỎE THIẾT YẾU CỦA NGƯỜI DÂN
TỈNH KON TUM NĂM 2014
Trang 3MỤC LỤC
Trang
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 9
3.2 Kiến thức chăm sóc sức khỏe thiết yếu của đối tượng nghiên cứu 10-12
4.1 Kiến thức chăm sóc sức khỏe thiết yếu của đối tượng nghiên cứu 14-17
PHỤ LỤC
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho người dân, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu có vị trí đặc biệt quan trọng, nó góp phần giảm tỷ lệ tử vong, giảm tỷ lệ bệnh tật cho người dân
Trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, người dân biết chủ động tự bảo
vệ, chăm sóc sức khỏe cho mình và gia đình là vấn đề then chốt
Để cho người dân biết, có kiến thức đúng, trước hết chúng ta cần phải đẩy mạnh công tác truyền thông về chăm sóc sức khỏe thiết yếu cho mọi người dân Kiến thức về chăm sóc sức khỏe thiết yếu bao gồm các kiến thức về thực hành vệ sinh cơ bản; kiến thức về phòng chống dịch bệnh; kiến thức về phòng chống các bệnh không lây nhiễm; kiến thức về dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe trẻ em; kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, và nhiều lĩnh vực khác
Muốn cho hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe có hiệu quả chúng ta cần nắm thực trạng hiểu biết của người dân về chăm sóc sức khỏe, cũng như những vấn đề liên quan khác như nguồn cung cấp thông tin về chăm sóc sức khỏe; mức độ thường xuyên của thông tin được nhận; các đặc điểm về vùng miền, dân tộc, trình độ học vấn… của người dân
Mặt khác, Sở Y tế đã ban hành Kế hoạch thực hiện “Chương trình hành động truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn 2011-2015” của Bộ Y tế, trong
đó hàng năm yêu cầu đánh giá hiệu quả của hoạt động truyền thông, thông qua các chỉ số cụ thể
Để tìm hiểu kiến thức của người dân về chăm sóc sức khỏe thiết yếu nhằm đánh giá việc thực hiện “Chương trình hành động truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn 2011-2015”, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng kiến thức về chăm sóc sức khỏe thiết yếu của người dân tỉnh Kon Tum năm 2014”, với các mục tiêu cụ thể như sau:
1 Xác định tỷ lệ người dân tỉnh Kon Tum năm 2014 có kiến thức đúng về chăm sóc sức khỏe thiết yếu
2 Tìm hiểu nguồn thông tin về chăm sóc sức khỏe mà người dân nhận được
3 Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến kiến thức về chăm sóc sức khỏe thiết yếu của người dân
Trên cơ sở đó, đề ra những định hướng về công tác phối hợp và đẩy mạnh các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe trên địa bàn tỉnh Kon Tum
Trang 5I TỔNG QUAN
Hội nghị quốc tế về chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) được tổ chức
từ ngày 06 đến 12/9/1978 tại Alma - Ata, Kazakhstan, do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) bảo trợ, với 134 nước (trong đó có Việt Nam) và 67 tổ chức quốc tế tham dự Hội nghị đưa ra Bản Tuyên ngôn nổi tiếng về CSSKBĐ là Tuyên ngôn Alma - Ata, gồm 10 điểm, là chiến lược y tế toàn cầu nhằm đạt mục tiêu “Sức khỏe cho mọi người”
Trước Alma - Ata, 1978, WHO nhận định: 80% dân chúng không được chăm sóc sức khỏe một cách thỏa đáng và tình trạng sức khỏe nói chung là không thể chấp nhận được; Nhân sự, kinh phí và trang thiết bị phân phối không công bằng - tập trung chủ yếu ở đô thị trong khi đa số dân chúng sống ở vùng nông thôn; Hệ thống y tế dựa vào điều trị, vào bệnh viện với kỹ thuật học cầu
kỳ, tốn kém, không quan tâm đến bối cảnh kinh tế văn hóa và nếp sống của người dân địa phương; Đào tạo theo kiểu cũ, không phù hợp; Môi trường xã hội
và thiên nhiên thay đổi Nhiều bệnh tật mới xuất hiện, phức tạp, phản ánh tình trạng kinh tế - xã hội - chính trị, nên không thể giải quyết vấn đề đơn thuần bằng cách tiếp cận lâm sàng, cá thể như trước
CSSKBĐ là nền tảng triết lý và chính sách y tế của WHO, nhằm xây dựng một hệ thống y tế phù hợp, đáp ứng tình hình mới với sự thay đổi nhanh chóng
về mô hình bệnh tật, về dân số học và về kinh tế - xã hội
Từ Hội nghị Alma - Ata 1978 đến nay, đã có 4 hội nghị quốc tế khác xem xét lại toàn bộ chiến lược CSSKBĐ để điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới
Tại Madrid, 2003, Hội nghị đã đưa ra những định hướng chiến lược cho CSSKBĐ nhằm đạt Mục tiêu Sức khỏe cho mọi người ở thế kỷ 21 và Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ do Liên hợp quốc đề ra
Tại Argentina, tháng 8/2007, Hội nghị quốc tế về Sức khỏe cho Phát triển của WHO khẳng định CSSKBĐ là chìa khóa để đạt mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ với cơ hội và thách thức
WHO The World Health Report 2008 - khẳng định một lần nữa: “Primary health care - Now more than ever”, có nghĩa là “Chăm sóc sức khỏe ban đầu - Bây giờ hơn bao giờ hết”
Mục đích tối hậu của CSSKBĐ hiện nay là làm sao cho sức khỏe của mọi người được tốt hơn một cách công bằng và bình đẳng qua các giải pháp: cải thiện mạng lưới y tế cơ sở; tổ chức hệ thống y tế gần dân, đáp ứng nhu cầu và mong đợi (cung cấp tốt dịch vụ y tế); lồng ghép sức khỏe với các lãnh vực khác (cải thiện chính sách công) và tiếp tục các mô hình hợp tác liên ngành với sự tham gia của các tổ chức quần chúng, cộng đồng [1]
Thuật ngữ CSSKBĐ
Chăm sóc sức khỏe ban đầu được định nghĩa: “… là sự chăm sóc sức khỏe thiết yếu, dựa trên những phương pháp và kỹ thuật học thực tiễn, có cơ sở khoa học và được chấp nhận về mặt xã hội, phổ biến đến tận mọi cá nhân và gia đình
Trang 6trong cộng đồng, qua sự tham gia tích cực của họ với một phí tổn mà cộng đồng
và quốc gia có thể đài thọ được ở bất cứ giai đoạn phát triển nào, trên tinh thần
tự lực và tự quyết Nó là một bộ phận hợp thành vừa của hệ thống y tế Nhà nước
- mà trong đó, nó giữ vai trò trọng tâm và là tiêu điểm chính - vừa của sự phát triển chung về kinh tế xã hội của cộng đồng Nó là nơi tiếp xúc đầu tiên của người dân với hệ thống y tế, đưa sự chăm sóc sức khỏe đến càng gần càng tốt nơi người dân sống và lao động, trở thành yếu tố đầu tiên của một quá trình chăm sóc sức khỏe lâu dài” (Tuyên ngôn Alma - Ata, 1978)
Để hiểu rõ thuật ngữ trên, cần chú ý các điểm: Chăm sóc là gì? Đó là sự đáp ứng nhu cầu Sức khỏe là gì? Năm 1946, WHO định nghĩa: “Sức khỏe là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh hay tật” Ban đầu là gì? Từ “Ban đầu” này dễ gây nhầm lẫn là “sớm, mới đầu, còn nhỏ, sơ bộ, cơ sở…”, thực ra không phải vậy
mà bao gồm những ý nghĩa như sau: Đó là sự chăm sóc sức khỏe: Thiết yếu; Kỹ
thuật học thực tiễn, khoa học, được xã hội chấp nhận; Phổ biến đến tận cá nhân
và gia đình; Tự lực, tự quyết; Tham gia tích cực; Phí tổn vừa phải; Gần gũi nơi người dân sống và lao động; Nằm trong sự phát triển chung về kinh tế - xã hội của địa phương [1]
Như vậy, Chăm sóc sức khỏe thiết yếu là thành phần đầu tiên trong thuật ngữ CSSKBĐ
Nội dung của CSSKBĐ theo Alma - Ata có 8 yếu tố chính: Giáo dục sức
khỏe; Dinh dưỡng; Môi trường - Nước sạch; Sức khỏe bà mẹ trẻ em - Kế hoạch
hóa gia đình; Tiêm chủng mở rộng; Phòng chống bệnh dịch địa phương; Chữa bệnh và chấn thương thông thường; Thuốc thiết yếu
Ngoài 08 yếu tố trên, mỗi quốc gia đề thêm các yếu tố cần thiết khác theo tình hình thực tiễn của mình Việt Nam đề thêm 02 yếu tố sau đây (trở thành 10 yếu tố CSSKBĐ của Việt Nam): Quản lý sức khỏe và Xây dựng và củng cố mạng lưới y tế cơ sở [1]
Như vậy, Chăm sóc sức khỏe thiết yếu là yếu tố đầu tiên trong nội dung CSSKBĐ
Việc thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe thiết yếu sẽ mang lại hiệu quả rất lớn cho cộng đồng Nhận thức của người dân về tự chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng tăng lên, hạn chế những rủi ro lớn nhất có thể do bệnh tật gây ra, sức khỏe và tuổi thọ được nâng cao
Với ngành y tế, việc thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe thiết yếu sẽ đem lại nhiều hiệu ứng tích cực Người dân hiểu hơn về các chính sách của Nhà nước về y tế, về quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân khi tham gia khám, điều trị bệnh… Đồng thời, khi có dịch bệnh xảy ra, công tác dập dịch đạt hiệu quả cao nhất nhờ sự hợp tác tích cực của người dân và cộng đồng
Đối với một đất nước, khi công tác chăm sóc sức khỏe thiết yếu được quan tâm đầu tư đúng mức và thực hiện có hiệu quả, tình trạng dịch bệnh ít xảy ra… sẽ mang lại sự ổn định cần thiết cho đất nước, hạn chế sự can thiệp không
Trang 7cần thiết của nguồn ngân sách Thay vào đó là giành kinh phí đầu tư cho phúc lợi xã hội, phát triển kinh tế Đồng thời, nó cũng là nền tảng triết lý và chính sách y tế của một quốc gia nhằm xây dựng một hệ thống y tế phù hợp, đáp ứng tình hình mới với sự thay đổi nhanh chóng về mô hình bệnh tật, về dân số học
và về kinh tế - xã hội
Chăm sóc sức khỏe thiết yếu đã thật sự đóng vai trò quan trọng và mang lại lợi tích cực, tác động sâu sắc đến người dân Tuy nhiên, để thực hiện có hiệu quả công tác CSSKBĐ nói chung và chăm sóc sức khỏe thiết yếu có thể lựa chọn 02 giải pháp hoặc là đầu tư cho đào tạo nhiều loại hình cán bộ y tế để mở rộng thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân hoặc cung cấp kiến thức, nâng cao trình độ hiểu biết để mọi người có thể tự chăm sóc lấy sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng [2] Thực tế cho thấy, các cá nhân, gia đình, cộng đồng đưa ra hầu hết quyết định tự chăm sóc sức khỏe chứ không phải cán
bộ y tế Chính vì vậy, giải pháp đầu tư vào công tác truyền thông được chú trọng, một mặt do phù hợp với quyết định của người dân, một mặt vì giá thành đầu tư thấp [2]
Việt Nam là một trong các nước đã tham dự và cam kết thực hiện các mục tiêu của Tuyên ngôn Alma - Ata về CSSKBĐ vào năm 1978 Kể từ đó, công tác CSSKBĐ được Đảng, Nhà nước ta nhận định là một phần rất quan trọng của Chiến lược phát triển của đất nước, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân [3]
Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, với nguyên tắc cơ bản là đảm bảo phục vụ nhân dân tốt nhất và có hiệu quả cao, các cơ sở y tế đã có khả năng đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe thiết yếu cho nhân dân Đảng và Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân như: Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989, Pháp lệnh Phòng chống HIV/AIDS năm 1995, Pháp lệnh An toàn vệ sinh thực phẩm năm 2003, Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001- 2010, Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2001- 2010, Chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001- 2010, Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm (phòng chống sốt rét, phòng chống lao, phòng chống sốt xuất huyết, phòng chống phong, phòng chống bướu cổ, tiêm chủng mở rộng, bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng Đặc biệt, ngày 07/6/2011 Bộ Y tế ban hành Quyết định về việc phê duyệt
“Chương trình hành động công tác truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn
2011 - 2015” trong đó đề cập đầy đủ về các nội dung chăm sóc sức khỏe thiết yếu bao gồm: Các kiến thức về phòng chống dịch bệnh; kiến thức về phòng chống các bệnh không lây nhiễm; kiến thức về dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe trẻ em; kiến thức về thực hành vệ sinh cơ bản và y học thường thức; kiến thức
về vệ sinh an toàn thực phẩm Đây là tiền đề quan trọng để thúc đẩy và thực hiện có hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe thiết yếu Thực tế, các chương trình này đã và đang được triển khai thực hiện bằng nội lực của toàn ngành y tế
và được sự quan tâm lãnh đạo của tổ chức Đảng và chính quyền các cấp, sự tham gia tích cực của các đoàn thể quần chúng và nhân dân, sự giúp đỡ của các
Trang 8tổ chức quốc tế Nhân dân ngày càng được chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, dịch vụ y
tế ngày càng phát triển, nhiều dịch bệnh nguy hiểm được khống chế, đẩy lùi, các chỉ tiêu về y tế, sức khoẻ không ngừng được cải thiện Nhận thức của người dân
về tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng
Tuy nhiên, việc đánh giá công tác chăm sóc sức khỏe thiết yếu hiện nay ở nước ta chưa có nhiều Sau 03 năm thực hiện “Chương trình hành động truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn 2011-2015”, nhiều công trình nghiên cứu về đánh giá kiến thức, thực hành đúng của người dân trong phòng bệnh, chữa bệnh
và nâng cao sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng đã được nhiều tác giả công bố nhưng ở phạm vi hẹp, chưa mang tính tổng quát và đánh giá cụ thể kiến thức, thái độ, hành vi của người dân trong chăm sóc sức khỏe cho bản thân và cộng đồng Trong số các đề tài đã công bố, đề tài của tác giả Nguyễn Văn Lên (Bà Rịa - Vũng Tàu) [4] có phạm vi nghiên cứu khá rộng Với 17 bệnh hoặc chủ
đề được lựa chọn, đề tài đã đánh giá được kiến thức của người dân về dự phòng các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm; thực hành sức khỏe cơ bản và phòng chống các dịch bệnh thường gặp; an toàn vệ sinh thực phẩm; phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em… Đề tài còn giúp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đánh giá được việc thực hiện các chỉ tiêu thuộc mục tiêu nâng cao kiến thức, thực hành đúng của người dân trong phòng bệnh, chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng của Chương trình hành động truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn 2011-2015
Tại tỉnh Kon Tum, tính đến nay Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe tỉnh vẫn chưa có số liệu về tỷ lệ người dân hiểu biết đúng về phòng chống dịch bệnh thường gặp; tỷ lệ người dân hiểu biết đúng về phòng chống các bệnh không lây nhiễm; tỷ lệ người dân hiểu biết đúng về dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe trẻ em; tỷ lệ người dân hiểu biết đúng về thực hành vệ sinh cơ bản và y học thường thức; tỷ lệ người dân có hiểu biết đúng về vệ sinh an toàn thực phẩm…; hoàn toàn chưa có căn cứ khoa học để xác định kiến thức về chăm sóc sức khỏe thiết yếu của người dân có tăng (hay giảm) so với năm trước để làm cơ sở đánh giá, xây dựng kế hoạch, quy hoạch chiến lược nâng cao nhận thức của người dân
về tự chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng trong các giai đoạn tiếp theo
Năm 2011, Sở Y tế tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định về việc“Quy hoạch phát triển sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2020” Trong đó, nêu rõ những khó khăn thách thức trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và chăm sóc sức khỏe thiết yếu nói riêng như: Hệ thống y tế đổi mới chậm, chưa thích ứng với sự phát triển; chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, đa dạng của nhân dân; cơ sở hạ tầng (CSHT), trang thiết bị (TTB) đầu tư chưa đồng bộ; đội ngũ cán bộ y tế (CBYT) hạn chế về chất lượng, cơ cấu chưa hợp lý [5] Đặc biệt công tác truyền thông giáo dục sức khỏe thiếu sự quan tâm đầu tư đúng mức nên nhận thức của người dân về phòng chống dịch bệnh chưa cao Đòi hỏi phải xác định hướng đi cho việc phát triển y tế nói chung và công tác truyền thông giáo dục sức khỏe nói riêng một cách hợp lý, có hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân [5]
Trang 9Nguyên nhân chính của khó khăn trên là do công tác truyền thông giáo dục sức khỏe chưa được các cấp, các ngành, các đơn vị quan tâm đầu tư thỏa đáng Đội ngũ làm công tác truyền thông giáo dục sức khỏe còn thiếu về số lượng và yếu về kỹ năng ở tất cả các tuyến đặc biệt là tuyến xã Trang thiết bị truyền thông đã hỏng và thiếu so với nhu cầu Trong khi đó, sự chuyển biến về nhận thức và hành vi sức khỏe của người dân còn chậm và thiếu bền vững; người dân có thói quen xem ti-vi như một phương tiện giải trí, ít quan tâm đến các chương trình giáo dục sức khỏe được phát trên các kênh truyền hình Trung ương
Do vậy, việc tổ chức khảo sát thực trạng kiến thức về chăm sóc sức khỏe thiết yếu ở người dân trên địa bàn tỉnh Kon Tum theo đúng phương pháp nghiên cứu khoa học là rất cần thiết, có giá trị cho ngành Y tế tỉnh Kon Tum trong việc đánh giá công tác truyền thông giáo dục sức khỏe trên địa bàn tỉnh
Trang 10II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu: Người dân trong độ tuổi từ 18 đến 60, không
phân biệt trình độ học vấn, tôn giáo, nghề nghiệp
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian: Từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2014
- Địa điểm: Tại 100 thôn/làng/tổ dân phố trên địa bàn toàn tỉnh dựa theo kết quả chọn mẫu
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
- Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng cho một tỷ lệ
2
2
) 1 (
C
p p Z
Trong đó:
N: Cỡ mẫu cần chọn
Z: Hệ số tin cậy (với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96)
p: Tỷ lệ kiến thức đúng về chăm sóc sức khỏe thiết yếu (do trước đây tỉnh Kon Tum chưa từng nghiên cứu nên ước tỷ lệ kiến thức chăm sóc sức khỏe thiết yếu ở đối tượng nghiên cứu là 50% p = 0,5 )
C: Sai số cho phép ±5%, nên C = 0,05
Thay các giá trị ta có: 384
05 , 0
) 5 , 0 1 ( 5 , 0 96 , 1
+ Chọn hộ gia đình: Dựa trên tổng số hộ gia đình của 100 cụm được chọn, chúng tôi tính ra số hộ trung bình trong 100 cụm Từ số hộ trung bình, chúng tôi tính được số hộ cần phỏng vấn cho mỗi thôn/làng/tổ dân phố
+ Chọn đối tượng: Mỗi hộ gia đình chọn 01 người có độ tuổi ≥18 và ≤60
để phỏng vấn Không phân biệt trình độ học vấn, tôn giáo, nghề nghiệp Đối với
Trang 11hộ đồng bào dân tộc thiểu số, ngoài tiêu chuẩn về độ tuổi, ưu tiên chọn đối tượng có khả năng giao tiếp tốt bằng Tiếng Việt
2.4 Thu thập thông tin:
Sử dụng bộ câu hỏi được chuẩn bị sẵn để thu thập thông tin Cấu trúc bộ câu hỏi gồm 2 phần chính:
- Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu, bao gồm: tuổi, dân tộc, địa chỉ, trình độ học vấn, nghề nghiệp…
- Câu hỏi kiến thức 20 bệnh hoặc chủ đề khác nhau bao gồm: (1) sốt rét, (2) sốt xuất huyết, (3) tay chân miệng, (4) tiêu chảy, (5) lao, (6) phong, (7) cúm A(H5N1), (8) cúm A(H1N1), (9) HIV/AIDS, (10) tiểu đường, (11) tâm thần, (12) ung thư, (13) hen phế quản, (14) tăng huyết áp, (15) ngộ độc thực phẩm, (16) tiêm chủng mở rộng, (17) suy dinh dưỡng trẻ em, (18) tai nạn thương tích trẻ em, (19) tác hại của thuốc lá và (20) tác hại của rượu
Mỗi bệnh, cấu trúc câu hỏi phổ biến là: (1) câu hỏi về tác nhân gây bệnh, (2) câu hỏi về đường lây, (3) câu hỏi về dấu hiệu của bệnh và (4) câu hỏi về cách phòng bệnh Khi tính tỷ lệ kiến thức đúng, chúng tôi lấy giá trị trung vị
Trong bộ câu hỏi, có 03 loại câu hỏi thường được sử dụng: Câu hỏi đóng (đối tượng chỉ trả lời “có” hoặc “không”), câu hỏi chỉ có 01 đáp án duy nhất và câu hỏi có nhiều đáp án đúng Đối với dạng câu hỏi có nhiều đáp án đúng, để đánh giá tỷ lệ đối tượng có kiến thức đúng, chúng tôi lấy giá trị trung vị từ các đáp án đúng trong câu hỏi đó Như vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi không đánh giá kiến thức đúng của một đối tượng cụ thể nào mà là đánh giá kiến đúng của cả mẫu nghiên cứu (800)
2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
Trang 12III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
nông
Buôn bán lẻ