1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Học tập theo phương pháp POWER cho sinh viên năm thứ nhất

13 344 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 510,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự chuẩn bị tâm thế này, SV có thể chủ động tự đặt trước cho mình một số câu hỏi liên quan đến nội dung sẽ được đặt trên lớp, thậm chí có thể tự tạo cho mình một cái “khung tri thức”

Trang 1

Học tập theo phương pháp P.O.W.E.R

cho sinh viên năm thứ nhất

Từ "Power" ở đây vừa có nghĩa là sức mạnh, năng lực, vừa là tên gọi của một phương pháp học tập ở bậc đại học do GS Robert Feldman (ĐH Massachusetts) đề xướng nhằm hướng dẫn SV, đặc biệt là SV năm 1, cách học tập có hiệu quả nhất Phương pháp POWER bao gồm 5 yếu tố cơ bản

là chữ viết tắt ghép thành POWER: Prepare , Organize, Work, Evaluate,

Rethink

1 Prepare (chuẩn bị sửa soạn)

Quá trình học tập ở đại học không phải chỉ bắt đầu ở giảng đường khi

SV nghe thầy giáo giảng bài hoặc trao đổi, tranh luận với các bạn cùng học

Quá trình này chỉ thật sự bắt đầu khi SV chuẩn bị một cách tích cực các điều kiện cần thiết để tiếp cận môn học như: đọc trước giáo tr ình, tìm tài liệu có liên quan

Sự chuẩn bị tư liệu này càng trở nên hiệu quả hơn khi đi liền với nó là một sự chuẩn bị về mặt tâm thế để có thể tiếp cận kiến thức một cách chủ động và sáng tạo Với sự chuẩn bị tâm thế này, SV có thể chủ động tự đặt trước cho mình một số câu hỏi liên quan đến nội dung sẽ được đặt trên lớp, thậm chí có thể tự tạo cho mình một cái “khung tri thức” để trên cơ sở đó

có thể tiếp nhận bài học một cách có hệ thống

Với cách chuẩn bị tích cực này, tri thức mà SV có được không phải là một tri thức được truyền đạt một chiều từ phía người dạy mà còn do chính

SV tự tạo ra bằng cách chuẩn bị các điều kiện thực thể và tâm thể thuận lợi cho sự tiếp nhận tri thức

Nói “học là quá trình hợp tác giữa người dạy và người học” có

nghĩa là như vậy

2 Organize (tổ chức)

Sự chuẩn bị nói trên sẽ được nâng cao hơn nữa khi SV bước vào giai đoạn thứ hai, giai đoạn người SV biết tự tổ chức, sắp xếp quá trình học tập của mình một cách có mục đích và hệ thống

3 Work (làm việc)

Một trong những sai lầm của việc học tập cũ là tách rời việc học tập ra khỏi làm việc Trong khi làm việc chính là một quá trình học tập có hiệu quả nhất

Trong giai đoạn này SV phải biết cách làm việc một cách có ý thức và

có phương pháp ở trong lớp và trong phòng thí nghiệm, thực hành

Các hình thức làm việc trong môi trường đại học rất đa dạng,

Trang 2

phong phú: Lắng nghe và ghi chép bài giảng, thuyết trình hoặc thảo luận, truy cập thông tin, xử lí các dữ liệu, bài tập, thực tập các thí

nghiệm tất cả đều đòi hỏi phải làm việc thật nghiêm túc, có hiệu quả

4 Evaluate (đánh giá)

Ngoài hệ thống đánh giá của nhà trường, SV còn phải biết tự đánh giá chính bản thân mình cũng như sản phẩm do mình tạo ra trong quá trình học tập

Chỉ có qua đánh giá một cách trung thực,SV mới biết mình đang đứng

ở vị trí, thứ bậc nào và cần phải làm thế nào để có thể cải thiện vị trí, thứ bậc đó Tự đánh giá cũng là một hình thức phản tỉnh để qua đó nâng cao trình độ và ý thức học tập

5 Rethink (suy nghĩ lại - luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một cách khác)

Khả năng suy nghĩ lại này giúp SV luôn biết cách cải thiện điều kiện, phương pháp và kết quả học tập của mình Về bản chất, tư duy đại học không phải là một thứ tư duy đơn tuyến, một chiều mà đó chính là hình thức tư duy đa tuyến, phức hợp đòi hỏi người học, người dạy, người nghiên

cứu phải có tính sáng tạo cao, luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một

cách khác, soi sáng vấn đề từ những khía cạnh chưa ai đề cập đến

Khả năng suy nghĩ lại này cũng gắn liền với khả năng làm lại (redo)

và tái tạo quá trình học tập trên căn bản nhận thức mới đối với vấn đề và kết quả đã đặt ra

Cuối cùng, chữ R của giai đoạn thứ năm này cũng có nghĩa là

Recreate (giải lao, giải trí, tiêu khiển), một hoạt động cũng quan trọng

không kém so với các hoạt động học tập chính khóa

Ở đây cần nhớ rằng: Ai không biết cách nghỉ ngơi, giải trí, tiêu

khiển thì người đó cũng không biết cách học tập hoặc học tập không có kết quả cao

Trang 3

PHƯƠNG PHÁP SQ3R

3 R's:

S = Survey: Khảo sát

Q = Question: đặt câu hỏi Read = đọc

Review = đọc lại Recite = ghi nhớ

Trước khi

đọc, khảo

sát bài đọc

Survey

 Tiêu đề, đề mục chính và phụ

 Chú thích dưới hình ảnh, và đồ thị

 Xem lại câu hỏi, hoặc các hướng dẫn đọc của giáo viên

 Xem đoạn đầu và cuối

 Xem phần tóm tắt

Khi đang

khảo sát,

hãy đặt

những câu

hỏi sau:

Question

 Biến tiêu đề thành câu hỏi

 Đọc các câu hỏi ở cuối bài

 Nhớ lại những gì giáo sư nói khi giao bài cho bạn

 Mình đã biết gì về vấn đề này rồi?

Lưu ý:

Nếu cần hãy viết ra và suy ngẫm Phương pháp này gọi là SQW3R

Khi bắt

đầu đọc

Read

 Tìm câu trả lời cho các câu hỏi đã nêu

 Trả lời các câu hỏi đầu và cuối chương

 Đọc lại chú thích dưới tiêu đề, biểu đồ, hình minh hoạ…

 Chú ý tất cả các từ in đậm hay in nghiêng

 Học các hướng dẫn về biểu đồ

 Đọc chậm lại khi gặp đoạn khó

 Dừng lại để đọc kĩ những chỗ khó hiểu

 Đọc từng phần một và ghi nhớ khi kết thúc một phần

Ghi nhớ

sau khi

đọc hết

một phần

Review

 Chỉ đặt câu hỏi về những gì mới đọc Hoặc tóm tắt bằng lời của riêng mình

 Ghi chú thông tin từ bài đọc, nhưng diễn đạt thông tin

đó bằng lời của mình

 Gạch dưới ý quan trọng

 Dùng phương pháp học thuộc hiệu quả nhất cho mình Mẹo: bạn càng dùng nhiều giác quan khi học, thì càng nhớ nhanh và nhớ lâu

Học công hiệu gấp ba: Nhìn, nói, nghe Học công hiệu gấp tư: Nhìn, nói, nghe, viết

Trang 4

Dò lại bài,

một quá

trình lâu

dài

Recite

Ngày 1:

Đặt ra những câu hỏi cho ý chính bạn đã ghi chú

Ngày 2:

Đọc lại để "kết thân" với những khái niệm quan trọng Che phần thông tin, đọc câu hỏi và cố trả lời từ trí nhớ của mình Dùng các biện pháp ghi nhớ hữu dụng Làm những thẻ nhớ (flashcard), hoặc các công cụ học bài tương tự

Ngày 3, 4, 5:

Luân phiên học bằng flashcard, và từ những bài ghi chú

Cuối tuần:

Dùng sách học, làm một bản biểu nội dung, trong đó liệt kê toàn bộ tiêu đề, đề mục chính phụ Làm một bản đồ thông tin Tập nhớ lại và nói to bài học trong lúc nhìn vào bản đồ thông tin

 Thường xuyên lặp lại các bước trên Được vậy, bạn sẽ không cần nhồi nhét khi kỳ thi đến

Tài liệu lấy của Robinson, Francis Pleasant, (1961, 1970) Học hiệu quả

(xuất bản lần thứ 4.), Harper & Row, New York, NY

Trang 6

PHƯƠNG PHÁP PRESP ĐỌC SÁCH TOÁN VÀ KHOA HỌC

(để trở thành người đọc năng động và hiệu quả)

Người đọc năng động đọc với bút, giấy, đặt ra những câu hỏi,

sắp xếp thông tin và làm bài tập

Phương pháp đọc PRESP Xem qua chương - Preview the Chapter

Đọc lời giới thiệu của chương

Nhìn qua tiêu đề chính và liếc qua các hình vẽ

Đọc qua các câu hỏi và các từ khóa, tóm tắt ở cuối chương

Đọc qua các bài tập về nhà

Dự định chỗ để ghi nhớ thông tin

Đưa các câu hỏi để tạo ra sự chú ý của mình và ý thức được những gì là quan trọng

Đặt kế hoạch học tập Chia chương thành 2 hay 3 khối A, B, C (có thể nhiều hơn (ND))

Đọc Phần A - Read Chunk A

Xác định các định luật, định nghĩa, định lý lớn; ghi chú chúng ở bên lề sách

Sử dụng giấy nháp để ghi lại các định nghĩa, định luật, và phương trình

Đối với các phương trình và các định luật, xét các trường hợp đặc biệt, chẳng hạn,

x0, x 

Xử lý ví dụ - Examples Làm hầu hết các ví dụ mẫu

Đóng khung các lời giải và thực hành cách giải của bạn

Cần sử dụng giấy nháp

Kiểm tra cách giải của bạn với sách giáo khoa

Đảm bảo chắc chắn rằng bạn có thể làm được các ví dụ đó rồi mới tiếp tục

Lập tóm tắt - Summarize

Bắt đầu một trang tóm tắt có nhiều khối –tầng, gồm các định luật, định nghĩa, định lý; cũng như bất cứ điều gì quan trọng vào 1 tờ giấy nháp

Giải bài tập – Problems Làm bài tập về nhà liên quan đến phần A

Dùng tờ tóm tắt của bạn trước khi xem sách

Dùng cách giải của bạn, đọc lại sách khi cần thiết

Tìm những định nghĩa, chi tiết mới, thêm chúng và bản tóm tắt

Nếu bạn bị tắc ở một bài tập nào đó, hãy đặt thời gian tối đa cho nó

Lặp lại như thế với mỗi đoạn, nhìn qua một chút, đọc, giải bài tập, tóm tắt, và giải bài tập

Lập một bản tóm tắt nhiều khối – tầng mới với chương hiện thời Thường xuyên xem lại

Người dịch: T V B

Đánh dấu vào sách thế nào

Đừng phủ lên hay gạch dưới những điểm chính khi bạn đọc Rất nhiều SV đánh dấu quá nhiếu Chờ đến khi bạn kết thúc một đoạn, một phần, hay một bài rồi hãy đánh dấu

Đánh dấu vào văn bản và vào lề để phác thảo cấu trúc của chương Đối với mỗi khái niệm, định luật hay phương trình chính, chỉ ra nó đến từ đâu, các chứng

cứ, các ví dụ, các bước, chứng minh, mối liên hệ với các điểm, định nghĩa khác cũng như với những điều của riêng bạn …

Người dịch: TVB

Trang 7

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE

2012, Vol 57, No 5, pp 32-38

HƯỚNG DẪN SINH VIÊN ĐỌC TÀI LIỆU TOÁN VÀ KHOA HỌC

Tô Văn Ban

Học viện Kĩ thuật Quân sự

Email: tvban_hvkt@yahoo.com.vn

Tóm tắt Hướng dẫn đọc sách có hiệu quả đang được kêu gọi như là một sứ mệnh

cực kỳ quan trọng của ngành giáo dục Một quy trình hướng dẫn đọc sách đúc rút từ những kinh nghiệm giảng dạy của chúng tôi có đối chiếu, so sánh với các phương pháp tiên tiến trên thế giới và tính đến những điều kiện cụ thể của sinh viên (SV) trong nước được giới thiệu

Từ khóa: Tài liệu toán, hướng dẫn, sinh viên, khoa học.

1 Đặt vấn đề

Dung lượng cao của môn toán cũng như các môn tự nhiên khác, kiến thức tiếp nhận không hề giảm là những khó khăn chính đầu tiên cho SV Schell (trong Reehm & Long, 1996) nêu lên rằng, bài giảng về toán có thể chứa nhiều khái niệm trong một dòng, trong một câu và một đoạn hơn bất kì bài giảng nào khác Theo Holliday (1991), một học phần

về hóa học cao cấp có thể chứa tới 3000 thuật ngữ mới, nhiều hơn lượng SV học được trong một khóa ngoại ngữ

Hơn nữa, việc đọc sách toán và khoa học đòi hỏi SV những kỹ năng đặc biệt, có thể không sử dụng khi đọc các lĩnh vực khác Cùng với đọc hiểu đoạn dẫn, SV cần giải mã và hiểu sâu rất nhiều dấu, chỉ số, ký hiệu, đồ thị, SV cũng cần đọc và miêu tả thông tin biểu diễn dưới những dạng không quen thuộc, chẳng những từ trái qua phải, mà còn từ phải qua trái, trên xuống dưới và ngược lại, và thậm chí là chéo SV phải học bài giảng được

bố trí khác kiểu so với các môn khác; chẳng hạn, đôi khi bài giảng bắt đầu bằng những khái niệm, định nghĩa rất trừu tượng, tổng quát, rồi kết thúc bằng vài tính chất liên quan

SV trưởng thành từ học sinh phổ thông hấp thu một nền giáo dục thi cử chú trọng vào làm bài tập, học và đọc các cuốn sách luyện thi, mà ít được rèn luyện kĩ năng đọc sách Việc đọc báo cũng coi như một công việc tuỳ thích, chưa có hướng dẫn, gây khó khăn cho việc đọc sách sau này của họ Nhiều SV các năm học đầu phải vật lộn với các trang giáo trình; kí hiệu, thuật ngữ không hiểu ngày một chất chồng, dẫn đến nhanh chóng giảm tinh thần học tập ban đầu Người ta chỉ làm tốt, có hiệu quả những công việc yêu thích Chính

vì thế, hiện tượng "mù chữ chức năng" (đọc nhưng không hiểu gì mình đọc) ở các mức độ khác nhau vẫn xảy ra với một tỷ lệ khá cao ở cả các SV năm cuối

32

Trang 8

Hướng dẫn sinh viên đọc tài liệu Toán và Khoa học

Gần đây, xuất hiện nhiều bài viết liên quan đến đọc sách cho SV [1,3,4,5,6,9] nhất

là sách toán và khoa học [7,8,12,13] Dạy cho SV biết cách đọc sách có hiệu quả là bổn phận của giảng viên (GV) Theo chúng tôi, tự học của SV, trước hết là tự đọc, là khâu đột phá để giải quyết nhu cầu vượt qua những khó khăn của học hành "Trách nhiệm cơ bản nhất của nhà trường là dạy cho SV đọc" [10]

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Vai trò của GV trong việc hướng dẫn SV đọc tài liệu toán và khoa học

Phương pháp đọc chỉ có thể hình thành và phát triển trên cơ sở sự tìm tòi, nỗ lực, rút kinh nghiệm của bản thân ngay trong quá trình đọc Không đọc thì không bao giờ có phương pháp cả Tuy nhiên, GV hoàn toàn có thể can thiệp vào quá trình này để người học nhanh chóng hoàn thiện kĩ năng đọc của mình Sau đây là một số biện pháp mà các GV

có thể dùng để giúp SV trở thành người yêu thích giáo trình cũng như các tài liệu khoa học khác

a Kích hoạt những kiến thức liên quan.

Vacca, R.T và Vacca, J.L (1999) nhận xét rằng kiến thức liên quan khơi nguồn của

SV là đầu vào quan trọng nhất để học bài giảng mới Đọc và học là một quá trình suy diễn: Mỗi người học đào xới trong kiến thức cũ của mình để sáng tạo ra thông tin mới Càng nhiều kiến thức và kĩ năng mà SV được khêu gợi lúc vào bài, họ sẽ học được và nhớ được càng tốt hơn Kiến thức sẵn có của những SV năng động tạo cho họ những mối liên kết logic, suy diễn thành kết luận và tiếp thu những ý tưởng mới

b Cùng đọc sách với SV.

Ta phân tích sâu hơn về hướng dẫn đọc kĩ, đọc thấu hiểu Vào giai đoạn đầu của việc đọc, GV có thể đề nghị SV ghép cặp hoặc chia họ thành nhóm nhỏ [13] Với giáo trình của mỗi người học, GV nên chọn ra những đoạn ngắn, nội dung có tính then chốt, khó tự đọc để cùng đọc với cả lớp Đó là những định nghĩa, đôi khi là chứng minh định

lí, có thể là chú ý , nơi mỗi chi tiết, thuật ngữ, kí hiệu đều quan trọng và cần tư duy ở mức sâu sắc Khi GV chưa thạo việc hướng dẫn đọc thì chỉ nên dành hai lần trong một học phần Khi thuần thục, GV có thể hơn hướng dẫn đọc nhiều hơn Mỗi lần GVdành ra khoảng 5 - 10 phút cùng đọc

Cần xác định tư tưởng thật tốt cho người học: Những điều thầy dạy cho là hữu hạn, nếu biết tự đọc, kiến thức trở thành vô tận [2]

GV thường căng thẳng trong những phút cùng tự đọc với SV Phải bắt nhịp: “Đến đoạn A”, “Kết thúc đoạn A, chuyển sang công thức (b)”, “Tại sao lại thế này?”, “Tại sao

có dấu bằng ở công thức (c)?” Khi cùng đọc trong lớp, thày có thể gắn kết với các thủ thuật sư phạm khác như: lí giải những chỗ dùng phép tương tự, tổng quát hóa; bình luận hình vẽ đẹp, trình bày hay, dễ hiểu; chỉ ra những khiếm khuyết, thậm chí là sai lầm của tác giả

33

Trang 9

Tô Văn Ban

Cần dừng lại tại những chỗ định trước, có thể là tại cuối đoạn hay cuối trang, để hỏi

SV một ký hiệu hay thuật ngữ "lạ" (đã xuất hiện ở trước hay ở học phần khác) có ý nghĩa

gì Phát hiện được càng nhiều những điểm giống, khác nhau so với các kiến thức cũ thì càng tốt Tại điểm dừng, mỗi thành viên của nhóm cần "nói gì đó" (Short Harste, 1996) với những thành viên còn lại GV nên giảng lại sau một, hai lần cùng đọc đầu

Khi đọc có thể bỏ qua một từ, một cụm từ, thậm chí một đoạn quá khó hiểu Sa lầy vào đọc mọi từ hay cố gắng hiểu hết mọi điểm có thể ảnh hưởng xấu đến hiểu thấu đáo

Cố gắng thu nhận mọi thứ có thể tạo ra tình trạng mà người đọc thực tế không hiểu gì Việc bỏ qua đôi khi làm người đọc dễ hiểu hơn trong lần đọc lại và làm tăng đáng kể tốc

độ đọc Luôn khích lệ SV để họ đọc với tốc độ cao hơn năng lực họ có

Đôi khi có thể yêu cầu SV phát biểu bằng lời một công thức nào đó Chẳng hạn sau khi yêu cầu SV dùng lời để diễn đạt công thức V ar(aX) = a2

V ar(X), đưa ra diễn đạt khác: "Có thể đưa hằng số nhân ra ngoài dấu phương sai nhưng phải bình phương nó lên!" Phát biểu này làm cho không khí lớp học bớt căng thẳng và SV nhớ dễ dàng Chỉ rõ cho các em mọi sách đều chứa những phần, đoạn không mang thông tin cốt yếu, có tính chất câu dẫn, hiểu mức nào cũng được

c Nắm bắt thuật ngữ.

Tài liệu toán và khoa học chứa đựng nhiều thuật ngữ trừu tượng Tra từ điển và nhớ định nghĩa của chúng không giúp người học hiểu biết thỏa đáng các khái niệm mới này

GV cần tạo ra ý niệm để giúp SV nắm bắt được những khái niệm Ví như khi dạy tích phân mặt thì mặt định hướng là cái gì, liên quan gì đến mặt, mặt liên tục, mặt trơn, mặt trơn từng mảnh mà họ đã biết từ trước

Vì nhiều lí do khác nhau, tác giả các sách khoa học và toán học có thể không tuân thủ nguyên tắc viết như SV ngành ngôn ngữ vẫn học Chẳng hạn, trong ngành ngôn ngữ,

SV được học rằng, ý tưởng chính của tác giả thường xuất hiện ở đoạn giới thiệu hoặc câu đầu của đoạn Với môn toán, ý chính có thể không xuất hiện ở phần đầu của bài giảng Một lí do khác làm cho SV không hứng thú với toán và khoa học là các tác giả suy diễn mà không giải thích thứ tự và mối tương tác giữa các ý tưởng, đưa ra một lúc quá nhiều khái niệm và kiến thức mới liên hệ mờ nhạt với kiến thức sẵn có của người đọc, với thực tiễn Một số tác giả khác lại dùng từ ám hiệu và các cụm từ như "thứ nhất", "cách khác", "chẳng hạn như", "và hơn nữa" để chỉ ra mối liên kết

Một khó khăn SV hay gặp là với cùng một khái niệm lại có nhiều kí hiệu, thuật ngữ thể hiện rất khác nhau ở những tài liệu khác nhau Chẳng hạn, để kí hiệu kỳ vọng người

ta dùng MX, EX, E(X), E[X], với phương sai thì dùng DX, V ar(X), V [X] thậm chí

σ2 Tiêu chuẩn D’Alembert, tiêu chuẩn Cauchy về sự hội tụ của chuỗi số dương ở tài liệu này thì ở tài liệu khác lại dùng là tiêu chuẩn tỉ số, tiêu chuẩn căn Chỉ có một cách để ứng

xử với tình trạng này là chấp nhận nó GV nên cung cấp càng nhiều sự khác biệt cho SV càng tốt (tất nhiên, cần dùng thống nhất kí hiệu, thuật ngữ chính trong một khóa học, một giáo trình)

34

Trang 10

Hướng dẫn sinh viên đọc tài liệu Toán và Khoa học

Tự viết lại những điều đã biết trước đó làm cho khái niệm trừu tượng mới trở nên

dễ dàng hơn, học những hậu tố mà các thuật ngữ dựa vào Ví dụ có thể liên hệ: đơn liên, nhị liên (liên - đường, đơn - một, nhị - hai), tích phân (gộp các phần nhỏ lại), định hướng từng mảnh (mỗi mảnh của mặt là định hướng được, phải “khớp với nhau”) Nhiều sách cung cấp thông tin này cạnh những từ mới Nhiều từ khoa học khó phát âm vì nó thường dựa vào tiếng Hy lạp và La tinh cổ hay tiếng Hán Việt Nếu ta biết một chút về từ hậu

tố sẽ dễ hiểu hơn nhiều Phát âm mỗi từ và viết ra định nghĩa của nó để liên kết với các từ

cũ Theo nghĩa này, việc học từ như là học ngoại ngữ [13]

d Nghiên cứu khái niệm.

Dù là bất cứ lĩnh vực nào, hiểu biết khoa học thấu đáo đòi hỏi sự tưởng tượng tốt Chúng ta có thể sử dụng ý tưởng về sự nhận thức thông qua hình ảnh một hiện tượng để học một khái niệm mới

Ví dụ với khoa học môi trường, để hiểu khái niệm nhiễm bẩn không khí có thể vẽ nhiều cách để chỉ chất ô nhiễm thâm nhập vào không khí và chúng tác động thế nào đến con người, thực vật và động vật; viết ra tên của các khái niệm, rồi vẽ mũi tên liền kề khái niệm liên quan đến nó

Dùng hình vẽ có thể hiểu cấu trúc của những phân tử phức tạp như axit axetic Chẳng hạn, sơ đồ với quả cầu đen biểu diễn hydro, quả cầu vàng biểu diễn carbon, gạch nối nhỏ biểu diễn mối liên kết giữa các nguyên tử có thể làm phân tử trở nên dễ hiểu hơn

Sự miêu tả phi ngôn ngữ cũng giúp SV hình thành ý niệm, làm sâu sắc hiểu biết của

họ, và gợi lại những kiến thức để dùng sau này (Marzano, Pickering, & Pollock, 2001) Ví

dụ, thông lượng được ví như lượng vật chất (chất lỏng, điện, từ, nhiệt ) truyền qua (chảy qua) một mặt định hướng trong một đơn vị thời gian; mật độ xác suất có thể hình dung như là "độ đậm đặc" của khả năng xuất hiện của biến ngẫu nhiên tại điểm quan tâm Vì thế, các khái niệm này có thể mô tả bằng hình ảnh cho ngôn ngữ theo những cách khác nhau

e Đọc trước nội dung bài học tới.

Chuẩn bị trước bài thày sẽ giảng cho buổi học sau là cần thiết, giúp SV dễ dàng hình dung và tiếp thu tốt bài giảng Bản thân điều đó cũng là cách rèn luyện tốt cho kĩ năng tự đọc sách Tuy nhiên, một số tác giả [9] lại rất khắt khe về việc chuẩn bị bài trước:

Họ yêu cầu SV thường xuyên phải đọc cẩn thận bài khóa, trả lời một số câu hỏi, các câu trả lời phải nộp mỗi khi lên lớp hoặc qua email và được chấm điểm dạng 0, 1 hay dạng -1,

0, 1 Theo chúng tôi, buộc SV chuẩn bị kĩ thường xuyên như trên trở nên nặng nề, dễ làm

họ chán nản, chưa phù hợp với SV chúng ta hiện nay Một học kì chỉ nên dành ra một đến hai lần chuẩn bị kĩ như vậy

2.2 Quy trình hướng dẫn đọc sách

Dựa vào những phân tích trên và một số cách đọc sách khác [11,12], chúng tôi đưa

ra quy trình hướng dẫn SV đọc sách toán và khoa học sau đây Chúng tôi đang tiến hành

35

Ngày đăng: 29/02/2016, 09:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w