Cấp cứu trước bệnh viện nói chung và cấp cứu tai nạn thương tích nói riêng chưa đáp ứng được nhu cầu Theo báo cáo cuối kỳ của Nghiên cứu Quy hoạch tổng thể an toàn giao thông đường bộ tạ
Trang 1HỆ THỐNG CẤP CỨU GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRƯỚC BỆNH VIỆN:
cơ chế điều hành cũng như các phương tiện cấp cứu còn thiếu và chưa đồng bộ Để nâng caonăng lực cấp cứu trước bệnh viện và cấp cứu tai nạn giao thông, chúng ta cần tập trung giảiquyết các vấn đề ưu tiên như: nhân lực, đào tạo, cơ chế chính sách, tăng cường trang thiết bị,truyền thông giáo dục cộng đồng và điều phối thông tin cấp cứu
ABSTRACT
Traffic accident in Vietnam is still an emerging issue, number of traffic accident and itsvictims has not been being reduced significantly This has been creating a serious socialeconomic impact for the country The pre-hospital care and trauma care do not meet the need
of the community Our pre-hospital system is responding only 10-15% of actual need, theproportion of the victim of traffic accident who has been transported by ambulance is still low.Reasons of those limitation may be following: shortage of staff who are professional in pre-hospital care; poor ordination in management of pre-hospital care; equipment for pre-hospitalcare is shorted and incompatible To enhance our capability for pre-hospital care and traumacare, we must focus to some of priorities such as: human resource, pre-hospital training andeducation, policy, equipment, community education and emergency information management
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình hình tai nạn giao thông của Việt Nam hiện nay còn hết sức nhức nhối, số vụ tainạn giao thông cũng như số các nạn nhân của nó chưa giảm một cách có ý nghĩa rõ rệt Điềunày đã đang và sẽ ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế xã hội của đất nước Để góp phần khắcphục hậu quả của tai nạn giao thông, việc phát triển và nâng cao năng lực của hệ thống cấp cứugiao thông là hết sức cần thiết
Đề cập đến hệ thống cấp cứu tai nạn giao thông làchúng ta đang đề cập đến một dâychuyền cấp cứu nhiều giai đoạn, từ những người tiếp cận đầu tiên tới nạn nhân, các nhân viên
y tế cấp cứu ban đầu, cho tới quá trình điều trị, xử trí chuyên sâu tại các bệnh viện Tuy nhiêntrong bài viết này chúng tôi muốn đi sâu, phân tích và bước đầu bàn luận nhằm đề ra định
Trang 2hướng phát triển cho cấp cứu tai nạn giao thông ở giai đoạn cấp cứu trước bệnh viện Nếuchúng ta có thể nâng cao chất lượng cấp cứu trong giai đoạn này, các nạn nhân của tai nạn giaothông sẽ có cơ hội sống cao hơn khi được đưa đến bệnh viện, giảm tỷ lệ tử vong và tàn phế saunày
II TÌNH HÌNH TAI NẠN GIAO THÔNG CHƯA CÓ XU HƯỚNG HẠ NHIỆT VÀ HỆ THỐNG CẤP CỨU TRƯỚC BỆNH VIỆN CHƯA ĐÁP ỨNG ĐƯỢC NHU CẦU CẤP CỨU TAI NẠN GIAO THÔNG
1 Tình hình tai nạn giao thông
Theo thống kê của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia cho thấy, mỗi năm nước ta có
từ 11.000 - 12.000 trường hợp tử vong do tai nạn Trong đó, tai nạn giao thông đường bộ lànguyên nhân chủ yếu, chiếm tới 96,5% số vụ, 97,4% số người chết và 98,7% số người bịthương trong tổng số tai nạn giao thông (2)
Kết quả thống kê số liệu tử vong do tai nạn thương tích năm 2005-2006 của Cục Y tế
dự phòng và Môi trường cho thấy, tai nạn giao thông là nguyên nhân gây tử vong cao nhấttrong các loại hình tai nạn thương tích: Trong một năm, cứ 100.000 dân thì có khoảng 45người bị tử vong do tai nạn thương tích Trong đó có khoảng 20 người tử vong do tai nạn giaothông (3,4)
Một báo cáo thống kê năm 2013 của Tổ chức y tế thế giới WHO, số người tử vong dotai nạn giao thông tại Việt Nam là 11029 người, gây thiệt hại 2,9% GDP (12) Nhận định vấn
đề tai nạn giao thông là vấn đề nóng gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế xã hội, Đảng,Chính phủ đã có những chỉ đạo quyết liệt trên nhiều phương diện nhằm kiềm chế tai nạn giaothông và tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông.Thông báo kết luận của Phó thủ tướng NguyễnXuân Phúc, Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc giatại Hội nghị tổng kết công tác bảođảm trật tự an toàn giao thông năm 2013 và triển khai kế hoạch 2014 cho thấy năm 2013 sốngười chết vì tại nạn giao thông giảm xuống dưới 10000 người, bên cạnh 21 tỉnh thành giảm
số vụ, số người chết vì tại nạn giao thông, vẫn còn 19 tỉnh có số vụ, số người chết vì tai nạngiao thông tăng Thông báo cũng nhận định: “Nhìn chung tình hình vi phạm trật tự, an toàngiao thông vẫn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp Số vụ tai nạn giao thông gây thiệt hại vềngười và tài sản vẫn còn ở mức cao, số người chết vì tai nạn giao thông tuy có giảm nhưngchưa đạt mục tiêu mà Quốc hội và Chính phủ đề ra” (1)
2 Cấp cứu trước bệnh viện nói chung và cấp cứu tai nạn thương tích nói riêng chưa đáp ứng được nhu cầu
Theo báo cáo cuối kỳ của Nghiên cứu Quy hoạch tổng thể an toàn giao thông đường
bộ tại Việt Nam về Chăm sóc y tế trước khi đến bệnh viện đáp ứng với tai nạn giao thông (2)
− Các thông tin về cấp cứu còn chậm, không đáp ứng được nhu cầu về “thời gian vàng”trong cấp cứu chấn thương
− Cấp cứu tại hiện trường còn thấp, phần lớn do cộng đồng thực hiện
− Đánh giá kỹ thuật cấp cứu ban đầu cho thấy: 34,8% không được xử trí cấp cứu và65,2% có được xử trí cấp cứu Các xử trí thông thường chỉ đạt yêu cầu về chuyên môndưới 50%
− Nhiều nạn nhân không được vận chuyển đến bệnh viện bằng các xe cấp cứu chuyêndụng mà bằng các phương tiện khác như xe taxi, xe ôm hoặc thậm chí bằng cả xe tải
do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân do thiếu xe cấp cứu (2)
Trang 3Nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hương và cộng sự năm 2008 cho thấy chỉ 4% các catai nạn thương tích được đưa đến bệnh viện bằng xe cấp cứu, 52% các bệnh nhân không đượccấp cứu ban đầu tại hiện trường Cấp cứu chấn thương được xử trí riêng rẽ giữa trung tâm cấpcứu và các bệnh viện, không có hệ thống thông tin liên lạc giữa trung tâm cấp cứu và các bệnhviện, xe cứu thương và các bệnh viện hoặc giữa các bệnh viện Nghiên cứu này cũng kết luậnrằng tai nạn thương tích là một vấn đề sức khỏe lớn tại Hà Nội nhưng hệ thống cấp cứu trướcbệnh viện thiếu sự phối hợp và một số yếu tố chủ chốt khác (10,11).
Tham gia cấp cứu tại hiện trường theo nghiên cứu của Bệnh viện quân y 103 là: cấp cứu
do người đi đường: 91,9%; tự cấp cứu 3,2% và cấp cứu do cán bộ y tế là 4,9% Như vậy là tainạn giao thông thường xẩy ra trên đường, xa các cơ sở y tế nên nhân dân phải tham gia cấpcứu nạn nhân (2)
Hiện nay các trung tâm cấp cứu 115 trên toàn quốc mới đáp ứng được 10- 15 nhu cầucấp cứu tại địa phương mình, trong đó 80% là cấp cứu nội khoa Số nạn nhân TNGT được vậnchuyển, cấp cứu bằng 115 còn thấp, chỉ chiếm khoảng 10-15% số nạn nhân TNGT đến các cơ
xe cấp cứu chưa gắn bó với nghề, thường chuyển sang bệnh viện hoặc các cơ sở y tế khác khi
có điều kiện Nhiều cán bộ y tế mới ra trường đặc biệt là bác sĩ không muốn phục vụ trong hệthống cấp cứu trước bệnh viện, một số trung tâm cấp cứu trước bệnh viện không tuyển đượcbác sĩ trong vài năm gần đây
Đã có một số dự án tăng cường năng lực cấp cứu tai nạn thương tích và tai nạn giaothông tại cộng đồng, các dự án này đã trang bị kiến thức và một số phương tiện cấp cứu tốithiểu cho các tình nguyện viên là nhân viên y tế thôn bản hoặc người dân, tuy nhiên do thiếucác cơ chế chính sách, kinh phí duy trì và phát triển bền vững nên sau khi dự án kết thúc, cáchoạt động trên dần đi vào thoái trào và không duy trì được hoạt động cũng như chất lượng cấpcứu tai nạn giao thông
Một yếu tố xã hội khác gây ảnh hưởng không nhỏ đến cấp cứu TNGT, đó là còn tồn tạiquan niệm việc cấp cứu tai nạn giao thông là “ công việc của riêng ngành y tế” vì vậy nhữnglực lượng khác như Công an, lái xe… chưa được đào tạo về cấp cứu tai nạn giao thông hoặcchưa nhiệt tình tham gia cấp cứu tai nạn giao thông Nhiều người dân trong cộng đồng tích cựctham gia cấp cứu TNGT, nhưng do hạn chế về kiến thức cấp cứu cơ bản nên đôi khi sự “nhiệttình” này còn dẫn đến tổn thương nặng thêm cho các nạn nhân
Tại một số địa phương, đã có một số “Công ty” cấp cứu tư nhân đã ra đời nhưng cáccông ty này chủ yếu làm dịch vụ vận chuyển cấp cứu, với hoạt động chính là đưa người bệnh
từ bệnh viện về nhà hoặc vận chuyển bệnh nhân giữa các bệnh viện, các công ty này rất ít thamgia vào các trường hợp cấp cứu thực sự đặc biệt là tai nạn giao thông
Theo Quyết định 01/2008/QĐ-BYT về quy chế cấp cứu, hồi sức tích cực và chống độc
do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành, các cơ sở y tế đểu phải có đội cấp cứu cơ động, các xe cấpcứu của các bệnh viện phải tham gia cấp cứu cơ động, nhưng trên thực tế các đội cấp cứu nàychủ yếu được điều động tham gia phục vụ y tế các sự kiện tập trung đông người, hoặc trong
Trang 4các tình huống thảm họa Trong cấp cứu tai nạn giao thông, rất khó điều động các xe cấp cứu,đội cấp cứu cơ động này tham gia
Khi nói đến nhân lực cấp cứu tai nạn giao thông, bên cạnh việc quan tâm đến số lượng,không thể không nói đến trình độ chất lượng của lực lượng này Đây có thể nói là một yếu tốthen chốt cần được quan tâm Nếu muốn công tác cấp cứu tai nạn giao thông thay đổi về chất
và được nâng lên một tầm cao mới chúng ta cần có một lực lượng chuyên nghiệp làm nòng cốtcho cấp cứu trước bệnh viện nói chung và cấp cứu tai nạn giao thông nói riêng
Hiện nay, các bác sỹ của 115 chủ yếu được đào tạo qua các khoa hồi sức cấp cứu củacác bệnh viện tỉnh, bệnh viện trung ương, tuy nhiên các kỹ thuật cấp cứu và tư duy xử trí cấpcứu tại bệnh viện ( vốn đầy đủ các trang thiết bị, nhân lực dồi dào, mặt bằng thuận lợi) thường
ít phù hợp với các tình huống cấp cứu trước bệnh viện vì vậy việc thực hành trên thực tế còngặp nhiều khó khăn
Các nhà quản lý và nhân viên cấp cứu trước bệnh viện còn “sợ” khi phải đối diện vớicác trường hợp cần xử lý quyết liệt để duy trì tính mạng cho bệnh nhân (như sốc điện cấp cứu,đặt nội khí quản, chọc dẫn lưu khí màng phổi cấp cứu…) Nguyên nhân của hiện tượng này là
do thiếu các hướng dẫn thực hành thống nhất, có tính pháp lý để tạo thuận lợi cho người làmcấp cứu có thể thực hiện được thủ thuậttại hiện trường
2 Phương tiện cấp cứu
Nếu tính theo số xe cấp cứu trên đầu người, Tổ chức y tế thế giới khuyến cáo 15 xe/1triệu dân hoặc 1 xe cấp cứu/ 100.000 dân, như vậy nếu lấy Hà Nội làm ví dụ với số dân khoảng
7 triệu người, Hà Nội cần tối thiểu 70 xe cấp cứu trên toàn bộ địa bàn Thành phố nhưng hiệnnay 115 Hà Nội mới có 20 xe chia làm 5 trạm Về lý thuyết, với điều kiện kinh tế của Hà Nộiviệc mua sắm thêm 53 xe cứu thương cùng trang thiết bị không khó nhưng vấn đề là không có
đủ nhân lực để vận hành hết các xe cứu thương này.Ở đây chúng ta có thể thấy một vòng bóbuộc luẩn quẩn dẫn đến ức chế sự phát triển cấp cứu trước bệnh viện: nhân lực yếu nên khôngthể thêm xe cấp cứu, nếu thêm xe chất lượng cấp cứu tất yếu sẽ không đáp ứng được nhu cầu
Mặc dù còn nhiều khó khăn về xe cấp cứu nhưng cộng đồng và nhân dân chưa chấpnhận thậm chí còn quay lưng lại các phương tiện cấp cứu khác như mô tô cấp cứu, xe đạp cấpcứu, xe lam cấp cứu Ở đây cần nhấn mạnh một điều, ngay cả ở các nước phát triển, có hệthống cấp cứu tai nạn giao thông hiện đại bao gồm cả trực thăng, phản lực cấp cứu nhưng họvẫn không bỏ qua vai trò của các đội mô tô cấp cứu hoặc xe đạp cấp cứu (8,9)
Các trang thiết bị cấp cứu trên xe cứu thương còn thiếu đồng bộ, chưa được bảo trì bảodưỡng thường xuyên gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cấp cứu tai nạn giao thông
Bản thân các quan niệm về cấp cứu trước bệnh viện và cấp cứu tai nạn giao thông củanhân dân và cộng đồng cũng là một cản trở không nhỏ đến sự phát triển và hoàn thiện của cấpcứu trước bệnh viện Lấy một thí dụ cụ thể, khi có một trường hợp tai nạn giao thông ngoàihiện trường, khi xe cấp cứu đã có mặt, tâm lý của cộng đồng chỉ muốn đưa nạn nhân đến bệnhviện càng sớm càng tốt, nếu không được thỏa mãn nhu cầu này họ thường tỏ thái độ rất gaygắt, không nghe giải thích và đôi khi tìm mọi cách gây áp lực cho nhân viên y tế phải chuyểnngay đến bệnh viện Đây cũng là một nguyên nhân thất bại của dự án thí điểm xe môtô cấp cứutại Hà Nội trước đây Về cơ bản hiện nay hiểu biết của cộng đồng về hệ thống cấp cứu trướcbệnh viện và cấp cứu tai nạn giao thông còn hết sức thô sơ, hoàn toàn chưa có những nhậnthức cơ bản nhất về vai trò của các thành phần trong hệ thống cấp cứu tai nạn giao thông.Thậmchí ở một số địa phương chỉ có một số ít người trong cộng đồng biết đến sự tồn tại của cấp cứu
115 Kết quả một nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh được công bố năm 2010 cho thấy
Trang 5trong số 2175 người được phỏng vấn, chỉ có 16% số người biết đến dịch vụ cấp cứu 115 và chỉ
có 32% số người này biết 115 là số điện thoại cấp cứu.(5)
3 Thiếu cơ chế điều hành và phối hợp
Thông tin cấp cứu là một yếu tố xương sống của cấp cứu tai nạn giao thông và cần đượcquan tâm hơn nữa chúng ta chưa có các trung tâm điều phối thông tin cấp cứu thực sự, chưa
có thông tin hai chiều giữa trung tâm cấp cứu, xe cấp cứu và các khoa cấp cứu, các bệnh việncác ngành Thêm vào đó sự thiếu thống nhất trong cơ chế phối hợp giữa các bệnh viện và 115,cũng như giữa các bệnh viện, thiếu thống nhất trong phác đồ xử trí cũng là những rào cảnkhông nhỏ đối với cấp cứu trước bệnh viện và cấp cứu tai nạn giao thông
IV CÁC GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC ĐỂ PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CẤP CỨU TAI NẠN GIAO THÔNG
Để phát triển cấp cứu trước bệnh viện nói chung, trong đó có cấp cứu trước bệnh viện,theo ý kiến của các chuyên gia đầu ngành chúng ta cần tập trung vào các giải pháp theo các thứ
tự ưu tiên
1 Giải pháp nhân lực
− Cần khẩn trương bổ xung nhân lực cho hệ thống cấp cứu tai nạn giao thông bằng cách đàotạo kỹ thuật viên cấp cứu theo mô hình Paramedic của các nước phát triển trên thế giới.Thời gian đào tạo kỹ thuật viên cấp cứu không dài ( nếu đào tạo từ điều dưỡng mới ratrường chỉ mất 6 tháng) vì vậy trong thời gian ngắn chúng ta có thể bổ xung lực lượng chocấp cứu tai nạn giao thông (6,10)
− Tiếp tục đẩy mạnh phát triển chuyên ngành bác sĩ cấp cứu và điều dưỡng cấp cứu tại cáctrường đại học cao đẳng và trung học y tế
− Từng bước đưa các lực lượng khác trong xã hội tham gia cấp cứu trước bệnh viện và cấpcứu tai nạn giao thông Đó là người dân, Lái xe, Công an giao thông, sinh viên, giáo viên,lực lượng chữa cháy…
− Xây dựng các đội mô tô cấp cứu, xe đạp, xe lam cấp cứu ứng trực trên các địa bàn trọngđiểm thường xảy ra tai nạn
2 Giải pháp về đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn
− Hình thành các trung tâm đào tạo cấp cứu trước bệnh viện riêng biệt hoặc nằm trong cáctrường đào tạo cán bộ y tế ( đại học cao đẳng y tế, trung cấp y, các trung tâm đào tạo củacác bệnh viện) (6)
− Xây dựng hệ thống kiến thức, sách vở đáp ứng nhu cầu chuyên nghiệp hóa cấp cứu trướcbệnh viện
− Xây dựng và ban hành các hướng dẫn, phác đồ cấp cứu trước bệnh viện, cấp cứu tai nạngiao thông thống nhất toàn quốc
− Từng bước đưa chương trình đào tạo cấp cứu trước bệnh viện và cấp cứu tai nạn giao thông(trình độ sơ cấp) vào trường học, các chương trình đào tạo lái xe, công an, phòng cháy chữacháy
− Thường xuyên tổ chức tập huấn, diễn tập về cấp cứu tai nạn giao thông, đặc biệt các tai nạnnghiêm trọng có nhiều nạn nhân
− Chú trọng phát triển nghiên cứu khoa học về cấp cứu trước bệnh viện và cấp cứu tai nạngiao thông làm cơ sở để nâng cao chất lượng chuyên môn, hoàn thiện tổ chức và hệ thống
− Tích cực giao lưu, học tập, trao đổi kinh nghiệm về cấp cứu trước bệnh viện, cấp cứu tainạn giao thông với các nước có hệ thống cấp cứu phát triển ( như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật) vàcác nước đang phát triển hệ thống cấp cứu trong khu vực ( Thái Lan, Malaixia, Philipin…)
Trang 6− Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhântham gia giao thông về cấp cứu tai nạn giao thông
− Có các văn bản quy định rõ trách nhiệm phối hợp trong cấp cứu giữa các thành phần của hệthống cấp cứu: cấp cứu trước bệnh viện, khoa cấp cứu, giữa các bệnh viện
4 Giải pháp về trang thiết bị
− Tiếp tục trang bị thêm các dụng cụ, trang thiết bị cấp cứu cho toàn hệ thống cấp cứu và chocấp cứu trước bệnh viện
− Lưu ý đến duy tu, bảo dưỡng để các dụng cụ, trang thiết bị này luôn ở trong trạng thái tốt,sẵn sàng phục vụ
− Thường xuyên kiểm tra việc sử dụng trang thiết bị cấp cứu của các đơn vị được cung cấp,nếu được đơn vị đã được trang bị các thiết bị cấp cứu nhưng không sử dụng hoặc sử dụngkhông hiệu quả, đơn vị phải chịu trách nhiệm
− Tiếp tục có các giải pháp để nghiên cứu, thí điểm, sử dụng các phương tiện cấp cứu, vậnchuyển cấp cứu hiệu quả, giá thành thấp, có thể sản xuất trong nước như: mô tô cấp cứu, xeđạp cấp cứu, xe lam cấp cứu, xe buýt cấp cứu …
5 Giải pháp về truyền thông, giáo dục cộng đồng
− Phối hợp với các cơ quan hữu quan, các cơ quan thông tấn báo chí tuyên truyền giáo dục chocộng đồng về vai trò của kỹ thuật viên cấp cứu trước bệnh viện và về hệ thống cấp cứu trướcbệnh viện, cấp cứu tai nạn giao thông
− Có các chương trình giáo dục cộng đồng để người dân phối hợp với lực lượng cấp cứu tại giaothông tại hiện trường
− Xây dựng các chương trình dạy các biện pháp sơ cứu trên truyền hình, trong trường học, công
sở, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng như đoàn Thanh niên, Công đoàn, hội phụnữ… tham gia công tác này
− Đẩy mạnh các chương trình, dự án về phòng ngừa tai nạn thương tích, xử trí sơ cứu tai nạn,bệnh tật dựa vào cộng đồng
6 Giải pháp về điều phối thông tin cấp cứu
− Cần xây dựng thí điểm một trung tâm điều phối thông tin cấp cứu tại một địa phương, sau
đó tổng kết rút kinh nghiệm và nhân rộng toàn quốc
− Trang bị và xây dựng cơ chế trao đổi thông tin cấp cứu giữa các thành phần của hệ thốngcấp cứu bao gồm: trung tâm điều phối thông tin cấp cứu các xe cấp cứu, các khoa cấp cứu
và các bệnh viện
− Xây dựng cơ sở hạ tầng điều phối thông tin cấp cứu dựa vào mạng internet, hệ thống định
vị toàn cầu GPS, Bộ đàm…, có cơ chế giám sát hoạt động của các hệ thống này để bảo đảm
hệ thống điều phối thông tin thực sự làm việc hiệu quả
V ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CẤP CỨU TAI NẠN GIAO THÔNG 2014 -2020, TẦM NHÌN 2030
Trang 7Để có được một hệ thống đáp ứng hiệu quả đối với cấp cứu nói chung trong đó có cấp cứutrước bệnh viện và cấp cứu tai nạn giao thông, đến năm 2030 chúng ta cần hướng tới phát triểnmột hệ thống cấp cứu với đầy đủ các yếu tố then chốt bao gồm:
Yếu Tố Then Chốt số 1: Hệ thống liên lạc và thông tin
− Quản lý xe cứu thương, các đội cấp cứu tại trung tâm hoặc tại các trạm bằng hệ thống định
vị toàn cầu một cách hiệu quả
− Có liên lạc giữa:
+ hiện trường, xe cấp cứu và trung tâm điều phối thông tin
+ khoa cấp cứu, các bệnh viện và hiện trường
+ xe cấp cứu và các bệnh viện
+ giữa các bệnh viện
+ trung tâm điều phối thông tin và các bệnh viện
− Có quy chế, quy định thống nhất về cơ chế thông tin, liên lạc
Yếu Tố Then Chốt số 2: Đáp ứng cấp cứu đa tầng nhiều mức đô
− Tầng 1: cộng đồng, công an giao thông, cứu hỏa, tình nguyện viên ….những người tiếp cậnđầu tiên với nạn nhân, biết cách gọi cấp cứu, phối hợp hỗ trợ nhân viên y tế cấp cứu nếucần
− Tầng 2: Bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên cấp cứu làm cấp cứu trước bệnh viện: xử trí cấpcứu tại hiện trường, vận chuyển và cấp cứu tiếp tục trên đường vận chuyển
− Tầng 3: Các khoa cấp cứu, các bệnh viện, Bác sĩ, điều dưỡng chuyên ngành cấp cứu
− Tầng 4: Các khoa ngoại, hồi sức tích cực chuyên ngành chấn thương, các trung tâm cấpcứu chấn thương
Yếu Tố Then Chốt số 3: Vận chuyển cấp cứu
− Vận chuyển đi kèm xử trí cấp cứu cơ bản và nâng cao trên đường vận chuyển
− Có đầy đủ phương tiện xử trí cấp cứu trên đường vận chuyển
− Thời gian đáp ứng với cấp cứu và thời gian vận chuyển nhanh chóng, có tính đến yếu tốđịa hình và tình hình giao thông
− Nhiều phương tiện tham gia cấp cứu và vận chuyển: xe đạp cấp cứu, mô tô cấp cứu, xelam cấp cứu, xe buýt cấp cứu, trực thăng, ca nô…
Yếu Tố Then Chốt số 4: Các bệnh viện tiếp nhận cấp cứu
− Có khoa cấp cứu tổng hợp tiếp nhận và xử trí các cấp cứu
− Có các bác sĩ chuyên khoa cấp cứu, chuyên khoa ngoại chấn thương ( chấn thương chỉnhhình, phẫu thuật thần kinh …), hồi sức tích cực chấn thương
Yếu Tố Then Chốt số 5:Hướng dẫn xử trí cấp cứu
− Phác đồ cấp cứu thống nhất
− Có thể hướng dẫn cấp cứu qua điện thoại
− Hệ thống sách vở, đào tạo cấp cứu các trình độ
Yếu Tố Then Chốt số 6: Nghiên cứu khoa học và cải tiến chất lượng cấp cứu
− Sẽ không phát triển nếu chúng ta không biết mình đang ở đâu, hoặc những can thiệp đãđược tiến hành có hiệu quả hay không, vì vậy liên tục áp dụng quy trình Đánh giá – cảitiến – đánh giá
Yếu Tố Then Chốt số 7: giáo dục công đồng về cấp cứu và hệ thống cấp cứu
Trang 8Không có sự tham gia của cộng đồng, của nhân dân, chúng ta sẽ thất bại trong việc xây dựngmột hệ thống cấp cứu có hiệu quả Sự tham gia của cộng đồng bao gồm:
− Tham gia phòng chống tai nạn giao thông
− Tham gia hỗ trợ cấp cứu
− Hiểu biết về công việc của những người làm cấp cứu và hỗ trợ(7)
Để có được một hệ thống cấp cứu tai nạn giao thông hiệu quả, chúng ta còn rất nhiềuviệc phải làm và nhiều thử thách trước mắt, tuy nhiên nếu có phối hợp và quyết tâm của hệthống chính trị cũng như sự đoàn kết của toàn xã hội chúng ta sẽ làm được
Tài liệu tham khảo
1 Văn phòng chính phủ số 05/TB-VPCP, ngày 08/01/2014 Thông báo kết luận của Phó thủ tướngNguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia tại Hội nghị tổng kết công tác bảođảm trật tự an toàn giao thông năm 2013 và triển khai kế hoạch 2014 Trang 1-2
2 Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Nhật Bản JICA (2009),
Báo cáo cuối kỳ, Nghiên cứu Quy hoạch tổng thể an toàn giao thông đường bộ tại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đến năm 2020.
3 Nguyễn Thu Huyền (2008), Tình hình tử vong do tai nạn giao thông trên toàn quốc 2005 – 2006,
Cục Y tế dự phòng và Môi trường, Bộ Y tế
4 Trần Thị Ngọc Lan (2009), Báo cáo hoạt động phòng chống tai nạn thương tích trẻ em và xây dựng
cộng đồng an toàn tại Việt Nam, Cục Y tế dự phòng và môi trường, Bộ Y tế.
5 Lê Thanh Chiến, Trần Vĩnh Khanh, Đỗ Văn Dũng, Nguyễn Thái Bình, Huỳnh Thị Thanh Trang, Đoàn Mai Phương, Đặng Hồng Thu, Vũ Kim Tuyến, Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Ngọc Cẩm Tú (2010) Khảo sát kiến thức và thái độ của người dân về dịch vụ cấp cứu 115 TP Hồ Chí Minh Y học Thành phố Hồ Chí Minh; tập 14 số 2
6 Vũ Văn Đính, Nguyễn Thành (2011) Kinh nghiệm ban đầu về đào tạo cấp cứu trước bệnh viện Tạpchí y học thực hành; số 7, trang 3-14
7 Robert Joyce Bảy Nguyên lý then chốt để tổ chức một hệ thống cấp cứu trước bệnh viện (2010) Kỷyếu hội nghị quốc tế về cấp cứu trước bệnh viện, Hà Nội
8 London ambulance service (2014) Motorcycle responder Available on line at
http://www.londonambulance.nhs.uk/calling_999/who_will_treat_you/single_responder/motorcycle_responder.aspx
9 Emergency Medical ServicesLee County Public Safety South West Florida (2014) ParamedicBicycle Response Team Available on line at http://www.lee-ems.com/paramedicbike/Pages/default.aspx
10 T Nguyen, R Jehle Establishment of a Paramedic-based Pre-Hospital Emergency System in
Hanoi, Vietnam Plakat an Kongress der Deutschen Interdisziplinären Vereinigung für Intensiv- und
Notfallmedizin [on line] verfügbar ab
Trang 9http://www.divi2011.de/redaktion/downloads/11_11_17_DIVI 2011_Abstractbuch.pdf P/01/11 seite 36
11 Nguyen Thi Lien Huong, Nguyen Thi Hong Tu, Morita Satoshi, Sakamoto Junichi (2008), “Injury
and pre-hospital trauma care in Hanoi, Vietnam”, Injury, (39), 1026-1033
12 World Health Organization (2013).Global status report on road safety 2013: supporting a decade ofaction Geneva Page 232
Trang 10TÌNH HÌNH CẤP CỨU TAI NẠN GIAO THÔNG TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC
Nguyễn Đức Chính, Trần Tuấn Anh Phạm Thị Thùy, Trịnh Hồng Sơn
Bệnh viện Việt Đức
REMARKS ON INJURED PATIENTS DUE TO REALTED TRAFFIC ACCIDENT TREATED
IN VIETDUC HOSPITAL ABSTRACT
Road traffic injury is a serious issue of publich health and the leading cause of death and disability.Nowadays it is still a serious problem and needs most pay attention in Vietnam We conducted thestudy in Viet Duc Hospital, one of the biggest centers of surgery and trauma care in VietNam duringone period of 2012 and 2014, aiming to evaluate the current situation of road traffic injured patientstreated and to recommend the solutions which to reduce the morbidity and mortaliy
Data from this investigation has shown that the victims of traffic related accident were commonlyamong injured patients treated in hospital There were monstly male and young patients at age between
20 to 40 years-old Numerous head traumas due to no helmet use, or not qualified helmet, or alcoholconsumption when driving, resulting the high proportion of traffic accident and head trauma.Thus themeasures preventing the injury should be focus on the target group with high risk with appropriatedinterventions
Key words: Traffic accidents, Injury, Trauma.
TÓM TẮT
Tai nạn giao thông là vấn đề lớn của sức khỏe cộng đồng, nguyên nhân hàng đầu gây tử vong vàthương tật Đây cũng là vấn đề được quan tâm hàng đầu hiện nay tại Việt Nam Nghiên cứu thực hiệntại bệnh viện Việt Đức trong thời gian từ 2012 đến 2014 với mục đích tìm hiểu tình hình tai nạn giaothông khám cấp cứu tại bệnh viện, qua đó chúng tôi muốn đưa ra một số khuyến nghị nhằm giảm tỷ lệmắc và tử vong do tai nạn giao thông
Nghiên cứu cho thấy tai nạn giao thông chiếm chủ yếu trong số các trường hợp tai nạn thương tích đếnkhám cấp cứu tại bệnh viện Nạn nhân hầu hết là nam giới và tuổi trẻ, đặc biệt trong lứa tuổi từ 20 đến
40 tuổi Nhiều trường hợp chấn thương sọ não do tai nạn giao thông liên quan không đội mũ hoặc do
mũ bảo hiểm bị vỡ, do uống rượu bia khi tham gia giao thông Chúng tôi khuyến nghị các biện phápphòng chống tai nạn giao thông cần tập trung vào các đối tượng có nguy cơ cao và đưa ra các biệnpháp can thiệp phù hợp
Từ khóa : Tai nạn giao thông; Chấn thương; Tai nạn thương tích
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Là một trung tâm đầu ngành về ngoại khoa của cả nước, bệnh viện Việt Đức có nhiệm vụ tiếpnhận và điều trị ngoại khoa, đa số cấp cứu các trường hợp nặng, chấn thương và có biến chứngcủa các địa phương và khu vực Hà Nội Với tổng số giường kế hoạch 1050 (năm 2013) do bộ
Y tế giao, trên 1500 cán bộ, và 28 phòng mổ bệnh viện phục vụ cấp cứu bệnh nhân 24/24.Trung bình mỗi ngày khám gần 1000 trường hợp, trong đó cấp cứu gần 250, riêng cấp cứu dotai nạn thương tích mỗi ngày trung bình 80 trường hợp, cấp cứu do tai nạn giao thông tới 60bệnh nhân [1,2]
Trang 11Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này đánh giá tình trạng thương tích do tai nạn giao thông đếncấp cứu tại bệnh viện, qua đó khuyến nghị một số biện pháp nhằm giảm thiểu tỷ lệ mắc và tửvong liên quan đến tai nạn giao thông
2 SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu hồi và tiến cứu qua giám sát ngẫu nhiên các trường hợp tai nạn thương tích đếnkhám và cấp cứu tại bệnh viện Việt Đức thời gian từ 2012- 2013, và 9 tháng đầu năm 2014,bao gồm các trường hợp tai nạn thương tích xảy ra trong thời gian 30 ngày sau tai nạn
Đánh giá mối liên quan giữa nồng độ cồn máu và chấn thương sọ não của các nạn nhân TNGT.Đối tượng được chọn cho nghiên cứu là những người điều khiển xe máy Nồng độ cồn trongmáu BAC (Blood Alcohol Concentration) được chia làm hai nhóm theo Luật giao thông đường
bộ dành cho người lái xe máy là dưới 50 mg/dl và trên 50 mg/dl
Số liệu được phân tích và xử lý bằng phần mềm SPSS.16.0
3 KẾT QUẢ
Tình hình cấp cứu tai nạn thương tích và tai nạn giao thông.
Biểu đồ 1: Cấp cứu tai nạn thương tích 2012-2013
Trong biểu đồ cho thấy tai nạn giao thông (TNGT) luôn là nguyên nhân hàng đầu của các loạitai nạn thương tích đến khám tại bệnh viện Trong 9 tháng đầu năm 2014 bệnh viện cấp cứu27,677 bệnh nhân, TNGT có 8,809 chiếm tỷ lệ 39% so với các ca cấp cứu chung và chiếm tới75,8% các trường hợp cấp cứu do tai nạn thương tích (TNTT)
Liên quan đến tuổi và giới :
Biểu đồ 2 : Giới tính và tuổi nạn nhân TNGT
Trang 12Nạn nhân chủ yếu là nam giới, chiếm tới trên 75%, đặc biệt là lứa tuổi trẻ, độ tuổi lao động (20đến 59 tuổi ) chiếm 76%
So sánh tai nạn giao thông cấp cứu tại bệnh viện năm 2013 và 9 tháng năm 2014 “:
Bộ phận bị thương tích:
Biểu đồ 3: Bô phận bị thương tích
Bộ phận bị thương tổn nhiều nhất là chấn thương chi, tiếp đến là chấn thương vùng đầu mặt cổ, đặc biệt là chấn thương sọ não (TCSN)
Phương tiện gây tai nạn :
Biểu đồ4 : Phương tiện gây tai nạn
Trên biểu đồ cho thấy phương tiện liên quan chủ yếu đến TNGT vẫn là xe máy
Tai nạn giao thông liên quan đến mũ bảo hiểm
Biểu đồ 5 : Liên quan đến đôi mũ bảo hiểm
Trang 13Tỷ lệ chấn thương liên quan đến mũ bảo hiểm có chiều hướng tăng so với trước Riêng 9 thángnăm 2014 có 3232 CTSN trong đó không đội mũ bảo hiểm là 553
Tai nạn giao thông liên quan đến sử dụng đồ uống có cồn:
Trong nghiên cứu (2013) đã đánh giá được 412 trường hợp TNGT có CTSN và có nồng độcồn máu như sau :
Bảng 1: Tỷ lệ bệnh nhân có BAC vượt ngưỡng cho phép
Liên quan đến tuổi :
Bảng 2: Phân bố nồng đô BAC của bệnh nhân CTSN theo tuổi
Tuổi 50≤BAC<150 150≤BAC<250 BAC≥250 Tổng
Kết quả điều trị
Trang 14Biểu đồ 6 : Kết quả điều trị
Năm 2013 có 569 trường hợp nặng và xin về giảm hơn 10 trường hợp so với năm 2012 9tháng đầu năm 2014 có 272 trường hợp Các bệnh nhân tử vong hoặc nặng về hầu hết là doCTSN hoặc đa chấn thương, riêng CTSN chiếm 72,3%
Đa số các trường hợp được cấp cứu trước viện, được vận chuyến bằng xe cứu thương Tuynhiên trên 10% các trường hợp chưa được cấp cứu ban đầu, 12,5 % vận chuyển bằng cácphương tiện không phải cứu thương
3.BÀN LUẬN:
Tình hình cấp cứu tai nạn giao thông :
Các số liệu thống kê về tình hình cấp cứu TNGT tại bệnh viện Việt Đức gần đây đã cho thấy
số nạn nhân đến bệnh viện đã giảm về số lượng trong năm 2012, tuy nhiên số nạn nhân đặcbiệt là chấn thương nặng tăng trong năm 2013 Số nặng về và tử vong trong thời gian năm
2013 và 2014 còn cao, nguyên nhân tử vong chủ yếu vẫn là do CTSN nặng so sánh với nhữngnăm trước [2,3].
Các nạn nhân hầu hết là nam giới, trẻ tuổi Lứa tuổi từ 19 đến 60 tuổi chiếm đến 75 %, chỉriêng lứu tuổi từ 19 đến 30 theo nhiều tác giả chiếm gần 50% Nghiên cứu của chúng tôi cũngcho thấy từ 20 đến 59 tuổi chiếm 76% (Biểu đồ 2) Nghiên cứu của các tác giả nước ngoàicũng cho thấy nạn nhân TNGT hầu hết nam giới, trẻ tuối [4,5,6]
Tai nạn giao thông liên quan đến xe máy chiếm tỷ lệ lớn tới 72% trong hầu hết các nghiên cứu.Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy TNGT liên quan xe máy chiếm hàng đầu (Biểu đồ 4).Các nguyên nhân gây CTSN, đặc biệt CTSN nặng liên quan đến mũ bảo hiểm: không đội, mũkém chất lượng còn cao, hoặc liên quan đến uống rượu bia cũng còn cao như các báo cáo củacác tác giả gần đây Theo Trần Trung Thuận tỷ lệ nạn nhân có uống rượu bia khi tham gia giaothông bị tai nạn là 22,6%; Trần Thị Ngọc Lan thấy người lái xe máy uống rượu bia cao cấp 2,5lần người không lái xe và CTSN cao gấp 2 lần nhóm không uống rượu bia, nhóm tuổi từ 20đến 20 tuổi chiếm tới 50% Nghiên cứu của Phạm Hồng Thái tại Bến Tre năm 2010 cho thấytới 69% các trường hợp TNGT có sử dụng rượu bia [6,7,8, 9]
Nghiên cứu chúng tôi cho thấy nhóm CTSN có nồng độ cồn máu vượt ngưỡng cho phép caohơn nhóm có nồng độ cồn máu dưới ngưỡng cho phép (Bảng 1,2)
Về bộ phận bị chấn thương, trong nghiên cứu của Trần Trung Thuận thấy CTSN chiếm 14,2%đứng thứ ba sau chấn thương đầu mặt cổ là 21,5% và gãy xương là 26,1% Nghiên cứu củachúng tôi cho thấy kết quả tương tự ( Biều đồ 3)
Trang 15Nghiên cứu của Phạm Hồng Thái [9] cho thấy chỉ có 18% nạn nhân được sơ cứu trước khi đếnviện, 14,6% được vận chuyển bằng xe cứu thương Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trên10% chưa được cấp cứu trước khi đến viện
TNGT không chỉ ảnh hưởng về sức khỏe, làm tăng gánh nặng y tế, mà còn ảnh hưởng đến xãhội và kinh tế Mỗi trường hợp TNGT chi phí từ 5 đến 7 triệu cho khám và điều trị trong thờigian điều trị tại bệnh viện Tuy nhiên chưa thể tính hết các chi phí liên quan như chi phí chămsóc bệnh nhân, chi phí cơ hội của bệnh nhân và người nhà, các thiệt hại khác về kinh tế và xãhội như mất phương tiện đi lại, mất thời gian sống khỏe …
Bên cạnh đó TNGT cũng làm ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của bệnh viện: tăng bệnh nhânkèm theo tăng giường bệnh, tăng nhân viên chăm sóc và các sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh,nguyên nhân gây quá tải bệnh nhân tại các bệnh viện ngoại khoa như Việt Đức, nhất là trongcấp cứu Áp lực công việc, cơ sở vật chất và trang thiết bị chưa đáp ứng do bệnh nhân tăng đãảnh hưởng đển chất lượng điều trị bệnh nhân
Nâng cao chất lượng cấp cứu tai nạn giao thông tại bệnh viện:
Mặc dù được quan tâm nâng cấp, đầu tư trang thiết bị, đào tạo nhân viên y tế, bác sĩ chuyênkhoa có tay nghề và cập nhật các kỹ năng khám cấp cứu chấn thương, tuy nhiên do bệnh nhântăng đông, thiết bị còn thiếu và chưa đồng bộ nên trong cấp cứu nạn nhân chấn thương nóichung, nạn nhân tai nạn giao thông nói riêng còn khó khăn
Tại phòng khám cấp cứu, với số lượng chỉ riêng chấn thương do tai nạn giao thông mỗi ngày
có trên 70 trường hợp, nhiều chấn thương sọ não, đa chấn thương … bệnh nhân cần được hồisức thở máy, theo dòi bằng monitor … song hiện số lượng máy thở luôn phải hoạt động hếtcông xuất, có nghĩa là không có máy dự trữ
Cũng như vậy hiện nay khu hồi sức chính của bệnh viện, thuộc khoa gây mê hồi sức có tổng số
40 giường, tất cả các bệnh nhân nằm điều trị tại đây đều cần được thở máy, tuy nhiên máy thởhoạt động tốt chỉ có 30, còn hầu hết đã cũ hoạt động không hiệu quả
Khi bệnh nhân không được hồi sức và thở máy tích cực, kịp thời nguy cơ tử vong rất cao dophù não, chảy máu trong, suy hô hấp … hoặc để lại di chứng lâu dài mặc dù có được điều trịtích cực sau đó Nhiều trường hợp để duy trì sự sống và điều trị bệnh nhân, các bác sĩ và điềudưỡng phải thay nhau chia các ca để bóp bóng cho bệnh nhân vừa không đảm bảo chuyênmôn, vừa tốn kém lao động
Ngoài máy thở, máy theo dõi (monitor) cũng rất quan trong trong việc theo dõi các chỉ sốsống để điều chỉnh việc xứ trí điều trị phù hợp Tuy nhiên, cũng giống như máy thở, monitorcòn thiếu để phục vụ khám cấp cứu bệnh nhân
Ngoài việc nâng cấp khu vực khám cấp cứu, cơ sở hạ tầng, bổ xung và tăng cường nhân lực,nếu bệnh viện được trang bị tốt các trang thiết bị trong hồi sức cấp cứu, đặc biệt là máy thở vàmonitor sẽ giúp cho việc cấp cứu nạn nhân chấn thương nói chung, nạn nhân do tai nạn giaothông có hiệu quả, giúp giảm thiểu mắc và tử vong
Trang 16Trong nghiên cứu của chúng tôi (Biểu đồ 6) : những trường hợp CTSN nặng là nguyên nhân tửvong hàng đầu, nếu không được cấp cứu điều trị kịp thời Nghiên cứu của Hoàng Minh Đỗ tạibệnh viện Thanh Nhàn cũng cho thấy CTSN là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong của cáctrường hợp TNGT hoặc nghiên cứu tại bệnh viện Việt Đức trước đây [2,10].
4.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
Tai nạn giao thông vẫn là nguyên nhân hàng đầu tỷ lệ mắc và tử vong trong các nạn nhân chấnthương điều trị tại bệnh viện Các TNGT đường bộ liên quan hầu hết là xe máy, người trẻ, namgiới Chấn thương sọ não là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong, do không đội mũ bảo hiểmhoặc chất lượng mũ không đạt yêu cầu, và lạm dụng đồ uống có cồn khi tham gia giao thông
Để góp phần góp phần giảm bớt tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong, chúng tôi xin được có một số kiếnnghị như sau:
1.Tăng cường các biện pháp giám sát, phòng chống TNGT tập trung vào các đối tượng cónguy cơ cao: thanh niên, nam giới Việc cưỡng chế và xử phạt các đối tượng phạm luật cũngcần chặt chẽ hơn mới có tác dụng
2.Đẩy mạnh công tác truyền thông qua thông tin đại chúng, cũng như các hình thức tuyêntruyền, giáo dục cụ thể tại các cơ quan, các trường học, các đơn vị, địa phương nơi có nguy cơcao về TNGT và ngay tại các cơ sở y tế nơi có bệnh nhân điều trị để người dân thấy rõ mốinguy hại gây ra do TNGT Như vậy việc tuyên truyền giáo dục sẽ mang lại hiệu quả
3.Việc cấp cứu trước viện và phối hợp giữa các cơ sở y tế cần được tăng cường Củng cố vàtăng cường các chốt cấp cứu dọc đường giao thông, tăng cường hệ thống 115, đội ngũ tìnhnguyện viên, các phòng khám tư nhân…trong việc cấp cứu nạn nhân ban đầu
4, Tăng cường đầu tư trang thiết bị, đặc biệt là máy thở, monitor cho khu vực cấp cứu và hồisức bệnh nhân
5, Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn về cố vấn chuyên môn (hội thảo, tàiliệu, tập huấn …), cũng như trang thiết bị y tế phục vụ cấp cứu ban đầu
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Hội thảo triển khai chỉ thị và kế hoạch tăng cường công tác phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng giai đoạn 2011-2015, ngày 11/08/2011) Bộ Y tế
2 Nguyễn Đức Chính, Trần Tuấn Anh, Trần Văn Oánh, Nguyễn Xuân Hùng, Nguyễn Thị Kim Nhung, Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Tiến Quyết Tình hình cấp cứu tai nạn thương tích tại bệnh viện
Việt Đức năm 2009 -2010 Y học thực hành số 786-2011, Tr.246-248.
3 Báo cáo năm của bệnh viện Việt Đức về “ Các trường hợp tai nạn giao thông đến cấp cứu tại bệnh viện
” 2010 -2013
4 Rumpa Rani Dey, Sanjay Paul Mô hình thương tích ở người điều khiển mô tô trong tai nạn giao
thông và những vấn đề an toàn ở khu vực thủ đô Dhaka Hội nghị Châu Á thái bình dương lần thứ 2 về phòng chống tai nạn thương tích,4-6/11/2008 Tr 76-79
Trang 175 Xiaojian Liu, Liping Li, Xueyu Liu Mô hình thương tích liên quan đến xe máy tại tỉnh Shantou,
Trung Quốc Hội nghị Châu Á thái bình dương lần thứ 2 về phòng chống tai nạn thương 6/11/2008 Tr 112-114.
tích,4-6 Trần Trung Thuận Đánh giá tình hình cấp cứu tai nạn giao thong tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai
và một số yếu tố liên quan trong 2 năm 2006-2007 Y học thực hành số 786-2011, Tr.56-61.
7 Trần Thị Ngọc Lan, Lương Mai Anh, Nguyễn Thùy Linh, Nguyễn Trường Giang, Nguyễn Quảng Thức Đánh giá tình hình sử dụng rượu bia ở bệnh nhân tai nạn giao thong tại 3 tỉnh Hà Nam, Ninh
Bình, Bắc Giang từ tháng 11/2010 đến tháng 3/2011 Y học thực hành số 786-2011, Tr.45-51.
8 David J.Hanson Alcohol Consumption and Traffic Crashes Sociology Department, state University of
New York, 1997-2009.
9 Phạm Hồng Thái Khảo sát tình hình tai nạn giao thông qua các trường hợp chấn thương do tai nạn
giao thông tại khoa cấp cứu bệnh viện đa khoa Nguyễn Đình Chiểu năm 2010 Y học thực hành
786-2011, Tr.43-45
10 Hoàng Minh Đỗ, Đặng Văn Chính, Đặng Hữu Anh, Phan Minh Trung, Phạm Quang Phúc Đánh
giá kết quả điều trị chấn thương sọ não tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội Báo cáo toàn văn “ Hội nghị Khoa học Quốc tế phòng chống tai nạn thương tích xây dựng cộng đồng an toàn 2006” Tr.65-69
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG RƯỢU BIA - TAI NẠN GIAO THÔNG
Trang 189.369 người, bị thương 29.500 người, 80% số vụ TNGT có nguyên nhân từ bia, rượu Số liệucủa 1453 bệnh nhân bị TNGT đến khám và nhập viện tại 3 tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, BắcGiang cho thấy có 618 (42,5%) đối tượng uống rượu bia, nhiều nhất ở nhóm 20-29 tuổi(44,7%), điều khiển phương tiện có sử dụng rượu bia là 87,8%, TNGT ở người lái xe máy có
sử dụng rượu bia (83,0%) Để góp phần phòng chống uống rượu bia, lái xe, ngành y tế đã triểnkhai nhiều hoạt động như: xây dựng và ban hành các văn bản của ngành y tế; tổ chức các hoạtđộng thông tin giáo dục, truyền thông; giám sát TNGT khám, nhập viện liên quan sử dụngrượu bia, thí điểm mô hình tư vấn phòng chống uống rượu – lái xe tại bệnh viện, triển khai môhình xây dựng cộng đồng an toàn phòng chống uống rượu lái xe và TNGT Để làm tốt công tácphòng chống uống rượu bia, lái xe trong thời gian tới, ngành y tế sẽ tiếp tục tập trung vào một
số hoạt động như đánh giá kết quả triển khai các văn bản quản lý nhà nước; tăng cường côngtác tuyên truyền về hậu quả của việc uống rượu, bia và lái xe, tập huấn kỹ năng xét nghiệmnồng độ cồn trong máu; tiếp tục giám sát, nghiên cứu khoa học đánh giá việc giảm thiểu tỉ lệ
tử vong TNGT liên quan đến rượu bia; hoàn chỉnh và mở rộng các mô hình can thiệp tại bệnhviện, cộng đồng; và tăng cường chia sẻ kinh nghiệm trong nước và quốc tế
ABSTRACT
Road traffic morbidity and mortality are the leading cause in all types of injury globally,drink-driving is a leading reason 29,385 crashes occurred in 2013, 9,369 deaths, 29,500injured people, 80% of cases were caused by driving and drinking beer/wine Collecting datafrom 1453 road traffic hospitalized victims in three provinces of Ha Nam, Ninh Binh and BacGiang showed that 618 (42.5%) patients drank alcohol, 44,7% in the age group 20-29, 87.8%relating to drinking and driving, 83.0% motorcyclists victims with alcohol use In order toprevent drinking-driving, health sector has implemented many activities such as developedand issued related legal documents in health sector; IEC activities; developed hospitalized roadtraffic patients including alcohol examinations, pilot counseling model on drink - drivingprevention in the hospitals, developed pilot safe communities anti drinking-driving and roadtraffic accidents To prevent drinking and driving in the future, the health sector will continue
to focus on a number of activities such as evaluating the results of legal documentsimplementation; strengthen propaganda on the consequences of drinking and driving; trainingskills on alcohol concentration test in blood; continue monitoring, scientific research andevaluate mortality rates of alcohol-related traffic accidents; complete and extend theintervention model in hospital and community; and enhance the sharing of experience ondrinking and driving prevention
1 Đặt vấn đề:
Tai nạn giao thông đã và đang là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong y tế công cộngvới tỷ lệ mắc là tử vong cao nhất trong các loại hình tai nạn thương tích toàn cầu Khoảng 1,2triệu người chết và hàng triệu người bị thương tích hoặc tàn tật vì tai nạn giao thông hàng năm.Nguyên nhân hàng đầu của tai nạn giao thông là do uống rượu-lái xe
Theo Tổ chức Y tế thế giới, sử dụng rượu bia dù chỉ một lượng rất nhỏ cũng làm tăng nguy
cơ tai nạn giao thông đặc biệt đối với người điều khiển phương tiện giao thông và người đi bộ.Rượu bia không chỉ làm giảm tầm nhìn, thời gian xử lý mà còn tác động đến việc phán đoántình huống và các yếu tố liên quan đến hành vi nguy cơ khi tham gia giao thông như vượt quátốc độ, không đội mũ bảo hiểm, không thắt dây an toàn Những người uống nhiều rượu có khảnăng bị TNGT cao gấp 4,4 đến 5 lần những người không uống rượu [8]
Trên thế giới, hầu hết các nước có mức thu nhập cao, khoảng 20% lái xe bị thương tích dẫnđến tử vong có lượng cồn trong máu vượt quá giới hạn cho phép Ngược lại, nghiên cứu ở
Trang 19những nước có mức thu nhập thấp và trung bình cho thấy từ 33-69% lái xe bị thương tích tửvong và 8-29% và các lái xe bị các chấn thương không tử vong có sử dụng chất có cồn trướckhi xảy ra va chạm [2]
Tại Mỹ, nửa triệu người bị thương và 17.000 người bị chết mỗi năm do các vụ va chạm giaothông liên quan đến sử dụng chất có cồn khi lái xe Hâu hết 40% trong tổng số trường hợpthanh niên tử vong do giao thông đường bộ có liên quan trực tiếp tới việc tiêu thụ chất có cồn[6]
Tại Thái Lan, 1 nghiên cứu sâu gần 1000 vụ đâm xe máy chỉ ra rằng chất có cồn là một yếu
tố trong 36% các vụ đâm xe Tại Thái Lan, tổng chi phí của các vụ va chạm đường bộ đượcước tính vào khoảng 3 tỉ đô la Mỹ [1] Những ước tính gần đây về sự liên quan của chất có cồntại quốc gia này chỉ ra rằng có ít nhất 30% số vụ va chạm có liên quan tới chất có cồn, điều đó
có nghĩa chất có cồn là 1 yếu tố gây ra thiệt hại 1 tỉ đô la Mỹ tại Thái Lan Có rất ít số liệu sẵn
có về chi phí của những vụ va chạm liên quan đến sử dụng chất có cồn
Tại Việt Nam, Luật giao thông đường bộ 2009 quy định: nghiêm cấm người “điều khiển xe ô
tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”, còn
đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy thì nồng độ cồn trong máu hoặc trong hơi thở
không được “vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở ” Như vậy,
với những đối tượng điều khiển ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường, do mức độnguy hiểm cao hơn nên Luật quy định nghiêm cấm sử dụng đồ uống có cồn (rượu, bia ); đốivới người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy trên đường, tuy Luật không cấm nhưng quy địnhnồng độ cồn thấp hơn so với quy định của Luật năm 2001 và là mức 35 nước trên thế giới ápdụng [4,8] Tuy nhiên tình hình tai nạn giao thông liên quan đến rượu bia vẫn chưa có xuhướng giảm
2 Tình hình sử dụng rượu bia và tai nạn giao thông
Theo báo cáo của Ủy ban An toàn giao thông (ATGT) quốc gia, tình hình tai nạn giao thôngnăm 2013 xảy ra 29.385 vụ, làm chết 9.369 người, bị thương 29.500 người So với cùng kỳnăm 2012 giảm 1.610 vụ (giảm 5,19%), giảm 55 người chết (giảm 0,58%) và giảm 3.045người bị thương (giảm 9,36%) Chỉ trong 9 ngày Tết 2012, cả nước đã xảy ra 393 vụ TNGT,làm 317 người chết và 380 người bị thương Điều đáng nói là trong đó số vụ TNGT do nguyênnhân từ bia, rượu chiếm đến 80%
Số liệu của Cục cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt từ năm 2000-2004, tỷ lệ ngườitham gia giao thông bị xử phạt vì sử dụng rượu bia cho thấy càng về cuối tuần, tỷ lệ người sửdụng rượu bia tham gia giao thông càng tăng lên
Theo nghiên cứu ”Đánh giá tình hình lạm dụng rượu bia tại Việt Nam” của Viện Chiến lược
và Chính sách y tế năm 2006, tỷ lệ tham gia giao thông có sử dụng rượu bia nhiều nhất thuộc
về những người điều khiển xe máy Tại Sơn La, bệnh nhân bị tai nạn giao thông do sử dụngrượu bia nhập vào khoa ngoại của Bệnh viện đa khoa tỉnh chiếm từ 7-10% Tại bệnh viện đakhoa tỉnh Bình Định, hàng năm có từ 15-20% bệnh nhân nhập viện do tai nạn giao thông, 2/3trong số đó khi nhập viện hơi thở có cồn (chiếm 5-7% tổng số bệnh nhân) Nghiên cứu cũngchỉ ra rằng càng về cuối tuần, tỷ lệ người sử dụng rượu bia tham gia giao thông càng tăng lên.Theo kết quả điều tra hộ gia đình, có 3,6% những người sử dụng rượu cho biết họ đã bị tai nạngiao thông do uống rượu [4]
Nghiên cứu của Hiệp hội An toàn Đường bộ Toàn cầu (GRSP) về tình trạng sử dụng biarượu khi tham gia giao thông được thực hiện từ tháng 11/ 2008 đến tháng 5-2009 tại bệnh viện
Trang 20Việt Đức và Xanh pôn, cho thấy tình trạng sử dụng bia rượu ở bệnh nhân bị tai nạn giao thôngkhá phổ biến, tỷ lệ đối tượng điều tra có cồn trong máu lên tới 56,4%, trong đó 33,4% có nồng
độ cồn vượt quá quy định theo Luật GTĐB năm 2008 [9]
Theo số liệu nghiên cứu giám sát đo nồng độ cồn trong máu của bệnh nhân tai nạn giaothông nhập viện ở 5 bệnh viện chấn thương tại Bệnh viện Việt Đức, Yên Bái, Đà Nẵng, BìnhDương, TP Hồ Chí Minh và từ tháng 8 đến tháng 10/2009 của Cục Quản lý môi trường y tế, có
3774 bệnh nhân tai nạn giao thông được xét nghiệm nồng độ cồn trong máu Trong đó, trungbình 67,5% bệnh nhân có nồng độ cồn trong máu, từ 41% ở Bệnh viện Việt Đức và 95% ởBình Dương Trong số bệnh nhân xét nghiệm có cồn trong máu, có tới 58,5% bệnh nhân cómức giới hạn trên 50mg/dl Trên 95% lái xe là nam giới [9]
Kết quả nghiên cứu gần đây nhất của Cục Quản lý môi trường y tế năm 2011 tại 3 tỉnh HàNam, Ninh Bình, Bắc Giang về nồng độ cồn trong máu của bệnh nhân bị tai nạn giao thôngđến khám và nhập viện cho thấy:Trong 1453 trường hợp TNGT, có tới 618 đối tượng uốngrượu bia, chiếm 42,5% Kết quả sử dụng rượu bia nhiều nhất ở nhóm tuổi 20-29 (44,7%), vàcao tương đương ở 2 nhóm tuổi 30-39 và 40-49 (19,7% và 13,6%) Những người ở nhóm tuổi20-29 có xu hướng sử dụng rượu bia và bị TNGT cao gấp 1,9 lần so với các nhóm tuổi khác.Nhóm tuổi lái xe uống rượu với nồng độ cồn rượu cao từ 50 - > 300 mg/dl chủ yếu tập trung ởnhóm tuổi 20-29 chiếm 45,8% Trong 618 đối tượng có sử dụng rượu bia trước khi bị tai nạngiao thông, có tới 95,1% là nam giới, còn lại 4,9% là nữ giới Tỉ lệ tai nạn giao thông ở namgiới có sử dụng rượu bia cao gấp 12.9 lần so với nữ giới Nam giới lái xe uống rượu bia cónồng độ cồn trong máu cao trên 50 mg/dl - > 300 mg/dl chiếm 98,3% Sử dụng rượu bia ở đốitượng điều khiển phương tiện chiếm tỉ lệ cao: 87,8% Tỉ lệ tai nạn giao thông ở người lái xemáy (83,0%) có sử dụng rượu bia cao gấp 2,5 lần so với những người không lái xe máy có sửdụng rượu bia (17 %) Theo thời gian bị tai nạn giao thông, tỉ lệ tai nạn giao thông sử dụngrượu bia nhiều nhất vào thời gian từ 11h30-16h30, chiếm 32,5%, tiếp theo là thời gian từ19h30-6h30, chiếm tới 32,3% so với các khoảng thời gian khác Thời gian bị tai nạn chiếm tỉ
lệ lớn đối với bệnh nhân tai nạn giao thông có sử dụng rượu bia là từ 11h30-16h30 (chiếm32,5%); 19h30-6h30 (32,3%) Tỉ lệ lái xe bị TNGT trong khoảng thời gian từ 19h30-6h30 cónồng độ cồn trong máu < 50 mg/dl chiếm 33,3%, trên 50 mg/dl cũng chiếm tỉ lệ 33,3% Sau đóđến khoảng thời gian từ 11h30-16h30 có lái xe có nồng độ cồn trong máu bị TNGT đứng thứhai: chiếm 29,47% với nồng độ cồn < 50 mg/dl, 32,8 với nồng độ cồn trong khoảng > 50mg/dl
Tỉ lệ bệnh nhân tai nạn giao thông bị chấn thương sọ não với nồng độ cồn trong máu có tới
313 trường hợp/ 618 trường hợp, chiếm tới 50,6% so với các bệnh nhân tai nạn giao thông cónồng độ cồn trong máu Người có sử dụng rượu bia có nguy cơ bị chấn thương sọ não gấp2,015 lần so với người không sử dụng rượu bia
3 Hoạt động của ngành y tế trong phòng chống uống rượu bia, lái xe
3.1 Các văn bản của ngành y tế
- Quyết định 170/QĐ-BYT ngày 17/01/2006 về việc hướng dẫn xây dựng cộng đồng an toànphòng chống TNTT tại cộng đồng
- Chỉ thị 04/2007/CT-BYT ngày 08/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc thực hiện triểnkhai Nghị quyết 32/2007/NQ-CP của Chính phủ ngày 29/6/2007 của Chính phủ về một số giảipháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông,
Trang 21- Quyết định 1356/QĐ-BYT ngày 18/4/2008 của Bộ Y tế về ghi chép biểu mẫu tình hình tainạn giao thông tại bệnh viện
- Quyết định 933/QĐ-BYT ngày 23/3/2010 của Bộ Y tế về quy định hướng dẫn đo nồng độcồn trong máu của bệnh nhân TNGT tại bệnh viện để xác định nồng độ cồn (Ethanol) trongmáu phục vụ cho việc chẩn đoán xác định tai nạn giao thông có sử dụng rượu, bia Kết quả này
sẽ là cơ sở pháp lý để xét bảo hiểm y tế cho các bệnh nhân bị tai nạn giao thông (với nhữngtrýờng hợp không vi phạm luật An toŕn giao thông) Mặt khác, Quy trình này giúp cảnh sát xử
lý các vấn đề khác liên quan đến tai nạn giao thông
- Quyết định số 244/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 12/2/2014 về Chính sách quốcgia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020;
- Thông tư liên tịch số 26/2014/TTLT-BYT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng
Bộ Y tế ngày 23/7/2014 về việc Quy định về xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của ngườiđiều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
- Quyết định số 3179/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 22/8/2014 về việc Ban hành Kếhoạch tổ chức thực hiện Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống cócồn đến năm 2020 của Bộ Y tế;
3.2 Thông tin giáo dục, truyền thông:
Bộ Y tế đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức xây dựng, in ấn và phân phát các tàiliệu truyền thông về PCTNTT, biên dịch và phân phối các ấn phẩm về PCTNTT của WHO,xây dựng và duy trì website PCTNTT trên website của Bộ Y tế, biên soạn, in ấn ít nhất 2 sốthư tin PCTNTT/năm với hàng trăm bản, tổ chức nhiều hoạt động hưởng ứng Ngày sức khỏethế giới 7/4, Thập kỷ an toàn giao thông đường bộ 2011-2010, Tuần lễ An toàn giao thôngđường bộ
Phân phối và tuyên truyền các tờ rơi, poster về thông tin uống rượu – lái xe, xây dựng các tàiliệu phòng chống uống rượu lái xe cho thanh thiếu niên, tài liệu tư vấn cho bệnh nhân vềphòng chống TNGT- rượu bia (sử dụng cho bác sĩ)
Tổ chức tuyên truyền tại cộng đồng thông qua mạng lưới cán bộ y tế thôn bản Xây dựng cácgóc truyền thông tại trường học, bệnh viện
3.3 Giám sát các trường hợp TNGT đến khám và nhập viện bao gồm cả thông tin về sử dụng rượu bia:
Việc ghi chép và thu thập thông tin về tai nạn giao thông tại 100 bệnh viện thực hiện theoQuyết định số 1356/QĐ-BYT ngày 18/4/2008 của Bộ Y tế về ghi chép biểu mẫu tình hình tainạn giao thông tại bệnh viện đã ghi chép được 5 năm ( 2008-2013)
Kết quả báo cáo năm 2013 cho thấy tổng số trường hợp mắc TNGT đến cấp cứu của 32/100bệnh viện là 77.501, chiếm 27,2% tổng số các trường hợp TNTT Số trường hợp tử vong vànặng xin về là 2.326 chiếm 3,0%, tỉ lệ này giảm so với năm 2012 với 2,3%
Về chấn thương sọ não (CTSN) do TNGT: 19.448 trường hợp (chiếm 25,1%) tăng so vớinăm 2012, trong đó 77,9% là nam giới Tỉ lệ dưới 14 tuổi bị CTSN là 6,8%, tăng 6,2% so vớicủa năm 2012 Số trường hợp TNGT có dùng rượu bia chiếm 7,9% trong tổng số các trườnghợp TNGT, nam chiếm 90,6%, lứa tuổi 15-19 liên quan đến rượu bia cao 11,2%; Các trườnghợp TNGT có nồng độ cồn trong máu chiếm 5% số trường hợp TNGT (