Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bộ NN & PTNT với chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về Bảo tồn đa dạng sinh học, được Nhà nước giao thực hiện các hoạt động bảo tồn, quản lý k
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ HỆ THỐNG KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020,
TẦM NHÌN ĐẾN 2030
DỰ THẢO LẦN 4
(Ngày 28/5/2013)
HÀ NỘI, THÁNG 5-2013
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
Lời tựa của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 4
Mở đầu 6
PHẦN 1 8
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM 8
1.1 Thực trạng hệ thống KBT tại Việt Nam 8
1.2 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý hệ thống KBT 10
1.3 Thực trạng về thể chế chính sách đối với hệ thống KBT 15
1.4 Bài học về việc thực hiện Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt nam 2003 - 2010 23
1.5 Nguy cơ (thách thức) và cơ hội 26
1.6 Những vấn đề cần thực hiện trong giai đoạn chiến lược tới 31
PHẦN 2 QUAN ĐIỂM, TẦM NHÌN VÀ MỤC TIÊU CHIEN LƯỢC 32
2.1 Quan điểm Chiến lược 32
2.2 Tầm nhìn tới năm 2030 33
2.3 Các mục tiêu của chiến lược (tới năm 2020) 33
PHẦN 3: NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC – CHƯƠNG TRÌNH – CÁC HOẠT ĐỘNG ƯU TIÊN, THỜI GIAN VÀ CƠ QUAN CHỊU TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN 36
3.1 Rà soát, điều chỉnh quy hoạch hệ thống các KBT 36
3.2 Thành lập hệ thống KBTTN thống nhất 38
3.3 Quy hoạch và quản lý các khu bảo tồn 40
3.4 Thiết lập và hoàn thiện kế hoạch quản lý các KBTTN 44
3.5 Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý KBT 45
PHẦN 4 TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ GIÁM SÁT CHIẾN LƯỢC 55
4.1 Thành lập một cơ quan đầu mối quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên 55
4.2 Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện triển khai Chiến lược 56
4.3 Trách nhiệm chính của Ban Chỉ đạo là: 56
4.4 Trách nhiệm của các Bộ/ngành là thành viên Ban chỉ đạo thực hiện Chiến lược 57 4.5 Trách nhiệm của UBND cấp tỉnh 57
4.6 Trách nhiệm của Ban quản lý KBT 57
4.7 Giám sát và đánh giá việc thực hiện Chiến lược 57
PHẦN 5 PHỤ LỤC 58
PHẦN 6 TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 65
Trang 3Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Bộ VHTT Bộ Văn hóa thông tin
BTL/NCT Bảo tồn loài/Nơi cư trú
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
CKL Cục Kiểm lâm – Tổng cục Lâm nghiệp – Bộ NN&PTNTCMT Cục Môi trường – Bộ TN&MT
CRES Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường,
Đại học Quốc gia Hà NộiCPTLN Cục Phát triển lâm nghiệp
CBVNLTS Cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản
CTDVMTR Chi trả dịch vụ môi trường rừng
Danida Tổ chức Hỗ trợ Phát triển Quốc tế của Đan Mạch
DEA Chương trình Hỗ trợ Môi trường của Đan Mạch cho Việt NamDVMTR Dịch vụ môi trường rừng
DVHST Dịch vụ hệ sinh thái
ĐHQGHN Đại học quốc gia Hà Nội
ĐHQGTP HCM Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
FFI Tổ chức Động, Thực vật Quốc tế
FIPI Viện điều tra và quy hoạch rừng
FSSP Chương trình Hỗ trợ Ngành Lâm nghiệp
IMA Tổ chức Sinh vật biển Quốc tế
IUCN Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới
KBT TN Khu bảo tồn thiên nhiên
KBT RĐD Khu bảo tồn rừng đặc dụng
KBT VĐNN NĐ Khu bảo tồn vùng đất ngập nước nội địa
KBT ĐNN Khu bảo tồn đất ngập nước
MASPAS Chiến lược Quốc gia quản lí hệ thống khu bảo tồn tại Việt Nam
Trang 4NGOs Các tổ chức Phi Chính phủ
NHNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
GIZ Cơ quan hợp tác quốc tế nước Công hòa liên bang Đức
TFF Quỹ hỗ trợ phát triển ngành lâm nghiệp
TRAFFIC Tổ chức Giám sát Buôn bán Động thực vật Hoang dã UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
UNEP Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
Liên Hợp QuốcVCCI Phòng Thương mại và Đầu tư
Viện ĐTQHR Viện Điều tra Quy hoạch Rừng
Viện KHLN VN Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Viện ST&TNSV Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
Trang 5L i t a c a ời tựa của ựa của ủa B Nông nghi p ộ Nông nghiệp ệp và Phát tri n Nông thôn ển Nông thôn
_
Hơn 50 năm qua, với sự quan tâm của Chính phủ Việt Nam và với những nỗ
lực trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý Nhà nước chuyên ngành về bảo tồn đa dạng sinh học của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng với sự
hỗ trợ của các tổ chức Quốc tế, công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên vàĐDSH ở Việt Nam không ngừng hoàn thiện, Đến nay, các hệ thống KBT thiênnhiên đã được thành lập, phân bố trên địa bàn cả nước, với 164 khu BT RĐD cótổng diện tích 2.198.744 hecta (ha); đã xác định quy hoạch đến năm 2020 gồm: 16KBT Biển (với quy mô diện tích khoảng 270.271 héc ha chiếm 0.24% diện tích biển
cả nước), và 45 KBT vùng nước nội địa Đồng thời với việc quy hoạch phát triểncác hệ thống KBT TN, Nhà nước đã ban hành và từng bước hoàn thiện hệ thốngpháp luật, chính sách về quản lý, bảo vệ các hệ thống KBT TN và bảo tồn ĐDSH;Việt Nam đã và đang tham gia nhiều Công ước Quốc tế có liên quan tới lĩnh vựcnày
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN & PTNT) với chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về Bảo tồn đa dạng sinh học, được Nhà nước
giao thực hiện các hoạt động bảo tồn, quản lý khai thác tài nguyên đa dạng sinh học
theo các hệ sinh thái khác nhau (bao gồm hệ sinh thái Rừng, Biển, đất ngập nước
nội địa, nông nghiệp, thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt…); Với hơn 50 năm thực hiện
chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về bảo tồn đa dạng sinh học, Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn đã đào tạo, xây dựng được một đội ngũ các nhà khoahọc, các chuyên gia, các nhà quản lý lão luyện, có chuyên môn sâu về quản lý, bảotồn đa dạng sinh học; luôn coi trọng công tác quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyênthiên nhiên, đã và đang đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội bền vữngcủa đất nước và giữ gìn các giá trị truyền thống văn hoá của dân tộc
Công trình xây dựng “Chiến lược Quản lý Hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” với sự tài trợ của Cơ quan hợp tác
quốc tế Cộng hòa Liên bang Đức (GIZ), Quỹ hỗ trợ phát triển ngành lâm nghiệp(TFF) và nhiều tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam đã thể hiện rõ ý tưởngchỉ đạo của các Nhà lãnh đạo Chính phủ và sự mong muốn của nhân dân Việt Nam;của các nhà khoa học trong, ngoài nước và cộng đồng Quốc tế về sự cần thiết củaviệc quy hoạch hệ thống KBT thiên nhiên Việt Nam; thống nhất tổ chức quản lý đểbảo tồn có hiệu quả nguồn tài nguyên đa dạng sinh học vô cùng quý giá cho các thế
hệ hôm nay và mai sau Bản Chiến lược này là Khung kế hoạch, xác định nhiệm
vụ công tác trọng tâm của ngành, lĩnh vực trong các kỳ kế hoạch dài hạn và tầm nhìn tới năm 2030; bản Chiến lược cũng là tài liệu hướng dẫn cho các nhà quản lý
ở các cấp, các ngành tăng cường phối hợp, thống nhất về nhận thức và hành độngnhằm thúc đẩy công tác quản lý hệ thống các KBT ở Việt Nam một cách có hiệuquả Đồng thời, giúp cho các cơ quan Chính phủ, các tổ chức trong nước và Quốc tế
dễ dàng xác định được các mục tiêu bảo tồn và các lĩnh vực ưu tiên để thiết kế các
dự án hỗ trợ hiệu quả nhất
Trang 6Hy vọng rằng Chiến lược Quản lý Hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 kế tục và phát huy được những thành quả của Chiến lược quản lý hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010
(được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày 17 tháng
9 năm 2003), sẽ đóng góp một cách tích cực vào các hoạt động về quản lý bảo vệ tàinguyên thiên nhiên và bảo tồn ĐDSH của đất nước, đồng thời tạo điều kiện để kếthợp hài hoà giữa các lợi ích khác
Thay mặt cho Bộ NN & PTNT, Tôi xin cảm ơn Chính phủ Cộng hòa liênbang Đức, Tổ chức hợp tác quốc tế của nước Cộng hòa Liên Bang Đức (GIZ), Quỹ
hỗ trợ phát triển ngành lâm nghiệp (TFF) đã tài trợ và giúp đỡ có hiệu quả trong quátrình xây dựng Chiến lược này; cảm ơn các Nhà khoa học, các Chuyên gia quản lý
đã nỗ lực, lao động nghiêm túc cho sự thành công của Chiến lược Mong rằng với
sự hỗ trợ và cộng tác chặt chẽ của các nhà tài trợ, các tổ chức Phi chính phủ trongnước và quốc tế, các nhà khoa học trong nước và quốc tế; cùng với những nỗ lựccao nhất của Chính phủ Việt Nam, của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vàcác Bộ, ngành liên quan; trong thời gian tới, những khuyến nghị của Chiến lược sẽđược thực hiện thành công
Hà Công Tuấn Thứ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trang 7Mở đầu
Xây dựng chiến lược
Thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Lâm nghiệp (TCLN), Bộ
NN & PTNT đã tổ chức triển khai các hoạt động xây dựng Chiến lược này TCLN đã nhậnthấy có một nhu cầu cấp bách về việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống các chính sách và mụctiêu rõ ràng, thành lập những nguyên tắc và lý luận khoa học về các hoạt động quy hoạch,quản lý, bảo tồn ĐDSH; là cơ sở cho các hành động quản lý trong hệ thống KBT RĐD,KBTB và KBT VNNĐ Từ việc quy hoạch tổ chức, xây dựng các hệ thống KBTTN hiện nay,
sẽ tiến tới được mở rộng và kết hợp tất cả những KBT hiện có (bao gồm hệ thống KBT RĐD,
Hệ thống khu KBT VĐNN NĐ và hệ thống KBTB) thành một hệ thống thống nhất, nhằmđảm bảo các điều kiện để Bộ NN&PTNT thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về Bảo tồn đa dạng sinh học trong thời gian tới.
Nhóm công tác Quốc gia về xây dựng Chiến lược bao gồm các chuyên gia về chínhsách và khoa học thuộc các Viện, Trường và các Bộ, ngành liên quan của Việt Nam làm việc,phối hợp chặt chẽ với Dự án Bảo tồn đa dạng sinh học các Hệ sinh thái rừng Việt Nam do Cơquan hợp tác Quốc tế của nước Cộng hòa liên bang Đức (GIZ), Quỹ hỗ trợ phát triển ngànhlâm nghiệp (TFF) hỗ trợ về chuyên môn kỹ thuật và kinh phí cho quá trình thực hiện việc xâydựng Chiến lược này
Chiến lược này được xây dựng nhằm đáp ứng các nhu cầu của quốc gia để tập trung
chủ yếu thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về Bảo tồn đa dạng sinh học của Bộ NN&PTNT trong hệ thống KBT TN và việc kết nối trực tiếp, mang lại lợiích mà các KBT đem lại đối với người dân Việt Nam, đóng góp cho công cuộc phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước và đóng góp cho cộng đồng quốc tế Chiến lược nhấn mạnh đến sựgia tăng các vấn đề mà quốc gia gặp phải trong quá trình phát triển (như tài nguyên đa dạngsinh học bị khai thác và hủy hoại quá mức, vấn đề ô nhiễm môi trường và thảm họa thiênnhiên do biến đổi khí hậu trái đất gây ra…); đáp ứng giải quyết các áp lực đó theo như Luậtpháp chính sách của Nhà nước là phải đạt được sự hài hòa giữa các mục tiêu song hành: gópphần xóa đói giảm nghèo và xây dựng phát triển các KBT TN cùng với việc bảo tồn những lợiích sinh thái mà hệ thống KBT TN mang lại
Quan trọng hơn, Chiến lược sẽ là một công cụ điều phối thống nhất hành động của các
cấp chính quyền từ TW đến địa phương Thách thức lớn nhất là sự xung đột quyền lợi của
người dân và yêu cầu bảo tồn ĐDSH thuộc hệ thống KBT TN Việt Nam có một cơ hội
thành công trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện Chiến lược, do có thể chế chính trị vữngmạnh, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ và có sự cộng tác, hỗ trợ của cộng đồng quốc tế (trongkhi một số nước đang thất bại), nếu bây giờ các vấn đề được đặt ra và được giải quyết triệt để
Chiến lược này là một công cụ rất quan trọng để trợ giúp quá trình đó Cơ hội này sẽ không
tồn tại trong một vài năm nữa nếu hành động chậm trễ
- Thiết lập một hệ thống khu bảo tồn, tăng diện tích, tỷ lệ bao phủ và điều kiện của hệ
thống, bảo tồn để thực hiện quản lý có hiệu quả các hệ sinh thái, loài, nguồn gen thuộc KBT.
Quy hoạch, xác định ranh giới, cắm mốc ổn định trên bản đồ, trên thực địa và tăng quy môdiện tích hệ thống KBT TN ít nhất bằng 10% diện tích lãnh thổ trên cạn và 0,24% diện tích
Trang 8vùng biển Việt Nam, bao gồm các vùng đại diện thuộc các HST (rừng, biển, đất ngập nước,đảo và ven biển).
- Hệ thống văn bản luật pháp, chính sách và những quy định về quy chế, thể chế liênquan tới công tác quản lý hệ thống KBTTN được sửa đổi hoàn thiện thành các công cụ pháp
lý thống nhất và toàn diện (về quy hoạch, tổ chức, đầu tư, quản lý); được cập nhật, sử dụnghiệu quả và phù hợp, hài hòa với các luật và chính sách ở các lĩnh vực khác về đất đai, tàinguyên nước, tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế,
- Hệ thống KBT phải được quản lý và quản trị bởi các cơ quan chuyên trách nằm trong
một hệ thống tổ chức thống nhất Tất cả các KBT trong hệ thống KBT TN Việt Nam được áp
dụng quy định chung về các tiêu chí phân hạng, phân loại, quy hoạch, kiểm tra và chế độ báo
cáo, giám sát định kỳ theo mẫu chuẩn Đảm bảo rằng cơ sở dữ liệu thông tin sẽ được thành lập, duy trì cập nhật thông suốt Các cơ chế điều hành (Vị trí công tác, phân cấp quản lý điều
hành, tự chủ), quản lý, quản trị KBTTN được áp dụng chính thức và thống nhất trong hệ
thống KBT Có sự tham gia tích cực của các bên có liên quan và của người dân địa phương
trong việc giám sát và quản lý hệ thống KBT
- Đảm bảo các giá trị cảnh quan thuộc hệ thống KBT được gìn giữ; ĐDSH của hệthống KBT thống nhất sẽ tồn tại và phát triển, đặc biệt nhấn mạnh tới các hệ sinh thái và cácloài có nguy cơ tuyệt chủng cao
Nội dung Chiến lược nhằm góp phần giúp cho các Nhà lãnh đạo Chính phủ, chínhquyền các cấp và các nhà lãnh đạo quản lý hệ thống KBT, các bên có liên quan, cũng như cácnhà bảo tồn, NGOs, các nhà tài trợ song phương và đa phương sử dụng cho hoạt động củamình Để đáp ứng được các nhu cầu rất đa dạng đó, Chiến lược được xây dựng trên cơ sởnhững bài học kinh nghiệm tốt đã tiếp thu được và sự đóng góp từ cấp cơ sở, cùng với việctham gia đóng góp, hỗ trợ của các cấp chính quyền, các Bộ, ngành, các cơ quan có liên quannhằm bổ sung cho những điểm cơ bản và thực tiễn
Chiến lược được soạn thảo theo một quy trình toàn diện với sự tham khảo ý kiến củacác bên có liên quan và các nhóm có quan tâm trong nước trong suốt hai năm Bên cạnh đó là
sự đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học trong nước và quốc tế về KBT thuộc Dự án(GIZ) cùng với các cán bộ Văn phòng dự án, và Quỹ hỗ trợ phát triển ngành lâm nghiệp.Việc soạn thảo đã dựa trên một phương thức tiếp cận hợp tác và bổ sung của của các cơ quanthuộc Bộ NN&PTNT (Cục, vụ, viện, trường….) Những tư vấn đó đã tiến hành các góp ý,đánh giá tổng quát hiện trạng và đưa ra những chính sách có liên quan đến các vấn đề đặc biệtquan trọng cho việc xây dựng chiến lược Kết quả của các nghiên cứu đó được thể hiện trongmột loạt các báo cáo kỹ thuật do dự án ấn hành
Do đó, bản dự thảo chiến lược quản lý hệ thống KBT thiên nhiên đến năm 2020, tầmnhìn đên năm 2030 là một sản phẩm của các bên có liên quan và cũng chính là những người
sẽ có trách nhiệm thực thi chiến lược sau này Bản dự thảo chiến lược này sẽ cần được đánh
giá và điều chỉnh lại để phù hợp với những thành công đã đạt được, những chính sách mới được áp dụng và những hoạt động phát triển mới diễn ra Theo kế hoạch tổ chức thực hiện Chiến lược, việc đánh giá giữa kỳ sẽ diễn ra sau năm năm và một cuộc đánh giá tổng thể thông qua việc tổ chức một cuộc hội thảo quốc gia vào giữa năm 2017 để có thời gian hoàn chỉnh cuối cùng nhằm đáp ứng được những yêu cầu của các năm tiếp theo (đến
2020 tầm nhìn đến năm 2030).
Vị trí địa lý tự nhiên - sinh thái đặc biệt của Việt Nam
Việt Nam có diện tích tự nhiên là 329.240 km 2 trải dài gần 15 vĩ độ (từ 8030`
-22022` vĩ độ Bắc) và hơn 7 kinh độ (từ 102010` -109020` kinh độ Đông), Lãnh thổ Việt Namđược xác định thành 8 vùng địa lý tự nhiên - kinh tế trên cạn và 1 triệu km2 lãnh hải và thềm
Trang 9lục địa Bảy mươi lăm phần trăm (75%) diện tích đất liền của Việt Nam là đồi núi, chạy từphía Tây sang Đông, xuống vùng duyên hải hẹp và có hai vùng đồng bằng chính là đồng bằngsông Cửu Long ở miền Nam và đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam có bờ biển dàivới hơn 3.200 km với hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ nằm rải rác dọc bờ biển và có một số quầnđảo ngoài khơi là Quần đảo Trường Sa ở phía Nam và quần đảo Hoàng Sa ở phía Bắc biểnĐông Ngoài ra, ở vùng biển miền Nam còn có hòn đảo lớn gần bờ là đảo Phú Quốc và đảoCôn Đảo nằm cách bờ biển phía Nam khoảng 100 km (Chính phủ Việt Nam, 1994).
Việt Nam bị ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa mưa điển hình ở miền
Nam và thời tiết ôn đới hơn ở miền Bắc Về mặt sinh địa, Việt Nam là giao điểm của vùng
Ấn Độ, Nam Trung Quốc và Malaysia Do đó, đây là một vùng có tính ĐDSH cao, một số khu vực ở Việt Nam được công nhận là những điểm ưu tiên bảo tồn toàn cầu với tính đặc hữu cao.
PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM
1.1 Thực trạng hệ thống KBT tại Việt Nam
1.1.1 Thành lập và phát triển của hệ thống KBT tại Việt Nam
Nhận thức được vai trò và ý nghĩa to lớn của hệ thống KBT là khu vực có chức năng bảotồn nguồn tài nguyên đa dạng sinh học phong phú của đất nước; đã và đang mang lại những lợiích trực tiếp cho con người, đóng góp to lớn cho nền kinh tế trong sản xuất nông, lâm nghiệp vàthủy sản; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (duy trì nguồn gen tạo giống vật nuôi, câytrồng, cung cấp nguyên- nhiên vật liệu cho sản xuất và tiêu dùng của xã hội), đồng thời giúp chocon người hạn chế, khắc phục những hậu quả của thiên tai do biến đổi khí hậu trái đất gây
ra v.v Do đó, Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm đến việc thành lập, phát triển và quản lý hệthống KBT, tạo ra những điều kiện cho hệ thống KBT phát huy có hiệu quả chức năng bảo tồn và
sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước
Trên cơ sở Luật bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Luật Đa dạng sinh học (2008), vàcác văn bản pháp luật liên quan, đã hình thành khái niệm về khu bảo tồn “là một khu vực địa
lý, có các hệ sinh thái đặc trưng tiêu biểu cho vùng sinh thái tự nhiên, được quy hoạch, xácđịnh ranh giới, có các phân khu chức năng dành cho bảo tồn đa dạng sinh học”; đồng thời, đãhình thành một hệ thống tiêu chí phân hạng các KBT, đã được phân thành 04 hạng KBT,gồm: Vườn Quốc gia, Khu Dự trữ thiên nhiên, Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh và Khu bảo vệcảnh quan (Phụ lục 01, bảng 01)
Đến nay, ở Việt Nam đã hình thành 03 hệ thống KBT được thành lập ở cấp quốc giatrước khi ra đời Luật Đa dạng sinh học (2008) là: hệ thống các KBT rừng đặc dụng (theo LuậtBảo vệ và Phát triển rừng 2004), hệ thống các KBT biển (theo Nghị định số 27/2005/NĐ-CPhướng dẫn thực hiện Luật Thủy sản 2003), hệ thống KBT vùng nước nội địa (theo Luật Thủysản, 2003)
Hệ thống các khu bảo tồn đất ngập nước (theo Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày23/09/2003 và Nghị định 65/2010/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2010 ) đến nay chưa đượcquy hoạch và thành lập trên thực tế
Đối với những KBT có ý nghĩa đặc biệt về đa dạng sinh học, về bảo tồn loài, về môitrường - sinh quyển đã và đang được lựa chọn đề nghị Quốc tế công nhận, ghi danh Đến nay,
Quốc tế đã ghi nhận các danh hiệu cho một số KBT là: 02 KBT được ghi nhận “danh hiệu là
Trang 10Khu di sản thiên nhiên thế giới”; 10 KBT RĐD được ghi nhận “danh hiệu là Khu dự trữ sinh quyển” (UNESCO công nhận); 05 KBT RĐD được ghi nhân “danh hiệu là Khu Ramsar”; 04 KBT được ghi nhận “danh hiệu là Khu di sản ASEAN”
Mỗi hệ thống khu bảo tồn nói trên đều có định nghĩa, cách phân hạng và được quản lýriêng rẽ
Vườn quốc gia Cúc Phương được xác định là KBT rừng đầu tiên và được thành lập theoQuyết định 72/TTg ngày 7 tháng 7 năm 1962 của Thủ tướng Chính phủ, đánh dấu sự ra đờikhu rừng đặc dụng (RĐD) đầu tiên, và sau này được nâng cấp trở thành Khu rừng cấm đầutiên của Việt Nam Ngày 9 tháng 8 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã banhành Chỉ thị số 194/CT về việc thiết lập hệ thống RĐD của Việt Nam – là nền tảng hình thành
hệ thống KBT RĐD hiện nay Đến nay, hệ thống này đã thành lập 164 khu RĐD với tổngdiện tích 2.198.744 hecta (ha), trong đó có 30 Vườn Quốc gia (1.077.236 ha), 58 khu dự trữthiên nhiên (1.060.959 ha), 11 khu bảo tồn loài-sinh cảnh (38.777 ha), 45 khu bảo vệ cảnh
quan (78.129 ha), 20 khu rừng dành cho mục đích khoa học và thí nghiệm (10.653 ha)
Ngày 23 tháng 9 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 109/2003/NĐ-CP về bảotồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước, kèm theo một danh sách 69 vùng đất ngậpnước có tầm quan trọng Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có vùng ĐNN nào được Bộ TN&MTquy hoạch xác lập thành Khu bảo tồn trên thực tế
Tại Quyết định số 1479/QĐ-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2008, Chính phủ đã phê duyệt
Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020 với 45 khu (Phụ lục 03),
gồm các loại hình thuỷ vực nội địa tiêu biểu như sông, sông ngầm trong núi các tơ, hồ chứa,
hồ tự nhiên, đầm phá, đầm lầy, cửa sông và ven biển hiện đang lưu giữ các giá trị về đa dạngthuỷ sinh học và tài nguyên thuỷ sản quý, hiếm có giá trị khoa học và ý nghĩa kinh tế
1.1.2 Phân bố các khu bảo tồn thiên nhiên theo vùng sinh thái.
Lãnh thổ trên đất liền của Việt Nam có ¾ diện tích là đồi núi, phần còn lại thuộc về diệntích các đồng bằng lớn (đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long), và vùng đồng bằng sa cátven biển Diện tích biển của Việt Nam rộng gấp 3 lần diện tích đất liền và hơn 3000 đảo lớnnhỏ phân bố tập trung ở vùng biển ven bờ và hai quần đảo ngoài khơi là Hoàng Sa và Trường
Sa Trên lãnh thổ đất liền do sự phân hóa tự nhiên từ sự thừa hưởng các yếu tố khí hậu nhiệtđới gió mùa, đã tạo cho Việt Nam tính đa dạng về cảnh quan, sinh thái và sinh giới, từ đó hìnhthành nên các vùng tự nhiên - sinh thái khác nhau trên lãnh thổ đất liền và trên biển Về mặthành chính, Việt Nam có 63 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, trong đó có 28 tỉnh,thành ven biển với 12 huyện đảo và 242 ngàn dân cư trú trên 66 đảo
Phần lãnh thổ đất liền nước ta được chia ra làm 08 vùng tự nhiên – sinh thái với nhữngđặc điểm khác nhau: vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung bộ, Nam
Trang 11Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Tây Nam bộ Trên 08 vùng tự nhiên sinh thái đãđược quy hoạch xác định 164 KBT RĐD; 45 khu bảo tồn đất ngập nước nội địa (KBT ĐNNNĐ) Sự phân bố các KBT RĐD trong 08 vùng tự nhiên-sinh thái có những khác biệt đáng kể
về số lượng và tổng diện tích được khoanh bảo tồn, và về tỷ lệ giữa các vùng sinh thái, nơi có
tỷ lệ thấp nhất chủ yếu là những vùng đất thấp và ven biển (chi tiết xem phụ lục 01, bảng 03).Đối với các KBT Vùng ĐNN NĐ đang còn có những vướng mắc trong việc xác định ranhgiới chồng lấn với các KBT RĐD, Tuy có khác nhau về số lượng nhưng vì hệ thống này chưatính toán được diện tích, nên chưa thể nói đến sự khác nhau về tổng diện tích và quy mô theovùng
Khác với trên đất liền, phần diện tích biển được chia ra 06 vùng đa dạng sinh học biểnphù hợp với mục đích của hoạt động bảo tồn biển gắn với các HST biển, ven biển tiêu biểu
Đó là: Vùng 1: vịnh Bắc bộ (đến phía nam đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị), Vùng 2: biển ven bờTrung Trung bộ (đến mũi Varella), Vùng 3: biển ven bờ Nam Trung bộ (đến mũi Vũng Tàu ),Vùng 4: biển ven bờ Đông Nam bộ (đến mũi Cà Mau), Vùng 5: biển ven bờ Tây Nam bộ(thuộc vịnh Thái Lan), và Vùng 6: biển khơi (Trường Sa - Hoàng Sa)
Các KBTB trong quy hoạch hệ thống quốc gia hiện nay phân bố chủ yếu ở vùng 1 (06khu), vùng 2 (03 khu), vùng 3 (04 khu), vùng 4 (01 khu), vùng 5 (01 khu) và vùng 6 (01 khu)
Có thể thấy, ở những khu vực biển có tiềm năng bảo tồn cao ở miền Trung và miền Nam lại
có số lượng KBTB ít nhất (1-2 khu) Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đangtiến hành điều tra nguồn lợi thủy sản và đánh giá đa dạng sinh học biển phục vụ phát triểnnghề cá bền vững và quy hoạch mở rộng hệ thống KBTB quốc gia (chi tiết xem phụ lục 01,bảng 04)
là cơ quan của Chính phủ được giao nhiệm vụ tổ chức, quản lý Nhà nước các hệ thống KBThiện có ở Việt Nam; Bộ đã phân cấp cho Tổng cục Lâm nghiệp là cơ quan giúp BộNN&PTNT quản lý nhà nước đối với hệ thống KBT RĐD Và phân cấp cho Tổng cục Thủysản là cơ quan giúp Bộ NN&PTNT quản lý hệ thống KBT biển và KBT Vùng nước nội địa.Ngoài chức năng quản lý nhà nước đối với các hệ thống KBT ( giúp nhà nước ban hành cơchế chính sách pháp luật, giám sát chỉ đạo công tác chuyên môn về bảo tồn .); BộNN&PTNT còn được giao quản lý trực tiếp các Vườn quốc gia, các KBT có phạm vi ranhgiới nằm trên địa bàn từ 2 tỉnh trở lên Đối với các KBT được quy hoạch ranh giới nằm trênđịa bàn của một tỉnh thì đều được phân cấp cho các tỉnh thành phố quản lý; vì vậy, ở cấp tỉnhthành phố cũng đều tổ chức bộ máy quản lý hệ thống KBT thuộc thẩm quyền quản lý củamình
Theo quy định tại Nghị định số 109/2003/NĐ-CP Ngày 23 tháng 9 năm 2003 về bảo tồn
và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước và Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11tháng 6 năm 2010 về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh thì Bộ TN&MT
được Chính phủ giao thành lập khu bảo tồn cấp quốc gia vùng đất ngập nước Tuy nhiên,
đến nay vẫn chưa có KBT ĐNN được thành lập, do đó chưa có tổ chức bộ máy hệ thống KBTĐNN
Trang 121.2.2 Sự bất cập về tổ chức bộ máy quản lý hệ thống KBT
Do chưa có được bộ máy tổ chức quản lý hệ thống KBT thống nhất nên đã phát sinhnhiều bất cập, thiếu tính hệ thống trong các văn bản pháp luật của Nhà nước, chồng chéotrong hoạt động quản lý nhà nước về đa dạng sinh học đối với hệ thống các khu bảo tồn thiên
nhiên; Hiện nay đang có hai cơ quan quản lý nhà nước là: Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng được giao thực hiện một nhiện vụ giống nhau: Cùng thực hiện chức năng quản lý nhà
nước đối với hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên và các loài thực vật rừng, động vật rừng
nguy cấp, quý, hiếm; Cùng thực hiện các hoạt động quản lý trong lĩnh vực quy hoạch, thẩm
định và xác lập hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên và hoạt động quản lý khai thác thực vậtrừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Các thủ tục, trình tự phê duyệt các hoạt động quản lý trong lĩnh vực quy hoạch, thẩmđịnh và xác lập hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên và hoạt động quản lý khai thác thực vậtrừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm … được hướng dẫn và thực hiện theo hai bộ luật
khác nhau nên cũng khác nhau; nhưng do bị trùng lặp về chức năng nhiệm vụ nên gây ra
những khó khăn cho các cấp chỉ đạo điều hành và lực lượng thi hành pháp luật, làm cho
các đơn vị cơ sở lúng túng không biết phải thực hiện theo chỉ đạo của cấp trên như thế nào.Đồng thời, gây ra lãng phí rất lớn về nguồn lực quốc gia (nhân lực, khoa học kỹ thuật, vật tư -tài chính); Đặc biệt là lãng phí về nguồn ngân sách Nhà nước và các nguồn vốn viện trợ đầu
tư không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, thậm trí cả nguồn vốn (ODA) cũng đang được giảingân và đầu tư vào nhiều hoạt động trùng lắp như hoạt động rà soát hệ thống văn bản quyphạm pháp luật; hoạt động tăng cường năng lực quản lý cho các khu bảo tồn …v.v
1.2.3 Thực hiện chức năng nhiệm vụ của hệ thống KBT.)
a) Bảo tồn loài và các giá trị hệ sinh thái tự nhiên tại các KBT
Chức năng nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống KBT là thực hiện việc quản lý, bảo tồn loài
và các giá trị hệ sinh thái tự nhiên tại các KBT; theo thông tin từ Sách Đỏ Việt Nam (năm2007) về các loài quý, hiếm và nguy cấp cho thấy ở Việt Nam có hơn 882 loài bị đe dọa, gồm
418 loài động vật và 464 loài thực vật Trong đó, có 669 loài trên cạn (250 loài động vật và
419 loài thực vật), 54 loài động vật nước ngọt, 125 loài sinh vật biển (119 loài động vật, 6 loàithực vật) Nghị định số 32/2006/CP-NĐ về quản lý các loài động thực vật rừng quý hiếm vànguy cấp liệt kê 151 loài động vật và 52 loài thực vật (Có thể tham khảo chi tiết trong Danhlục đỏ toàn cầu của IUCN (www.redlist.org) )
HST rừng trên núi đá vôi ở các khu RĐD (Ba Bể, Hữu Liên, Cát Bà, Tây Côn Lĩnh, DuGià, Pù Luông, Phong Nha - Kẻ Bàng, Cúc Phương, Vân Long); Rừng ngập mặn (RNM) ởcác VQG Xuân Thủy (Nam Định), Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu), Đất Mũi (Cà Mau) và ở khuRĐD ven biển (Tiền Hải tỉnh Thái Bình, Thạnh Phú tỉnh Bến Tre); Rừng chàm ở Tràm Chim(Đồng Tháp), VQG U Minh Thượng (Kiên Giang), U Minh Hạ (Cà Mau), và ở những KBTnhư Lung Ngọc Hoàng (Cần Thơ); Rừng cận nhiệt đới trên núi có độ cao thấp và trung bình ởHoàng Liên Sơn, Chu Jang Sin, Kon Ka Kinh, và VQG Bidoup-Núi Bà và các KBT như NgọcLinh, Sông Thanh, Kon Cha Răng; Rừng rụng lá được bảo vệ ở VQG Yok Don và KBTK’Rong Trai Là những KBT tiêu biểu cho các HST khác nhau thực hiện chức năng bảo tồncác loài đặc hữu, quý hiếm đại diện của vùng
Hiện chưa có nghiên cứu hay đánh giá toàn diện nào được thực hiện về các loài quýhiếm và nguy cấp trên cạn tại các khu bảo tồn của Việt Nam Tuy nhiên, một số lượng đáng
kể các loài này được tìm thấy tại các khu bảo tồn, như: Voi, Bò rừng, Tê giác một sừng, Bòtót, Sao La, Voọc quần đùi trắng, Voọc mũi hếch, Voọc đầu vàng, Bách xanh núi đá, Thôngnước, Thông hai lá dẹt, Hoàng đàn, Nghiến, Đinh, Cẩm lai, Sâm Ngọc Linh, (xem chi tiết ở
Trang 13phụ lục 01, bảng 06) Theo báo cáo của Wege et al (1999) cho rằng: hiện tại ở Việt Nam,nhiều loài bị đe dọa mức toàn cầu có phân bố cả ở những khu vực rộng lớn bên ngoài hệthống các KBT (xem chi tiết ở phụ lục 01, bảng 07)
Phần lớn các KBT đều thiếu thông tin về ĐDSH, cũng như sự phân bố và trạng tháiquần thể của các loài quý hiếm, nguy cấp Vì vậy, chưa có đủ cơ sở cho việc thực hiện cáchoạt động bảo tồn các loài một cách hợp lý Mặt khác, ngân sách cho hoạt động này thường
không đủ Tuy vây, Một số khu RĐD đã thực hiện được những hoạt động quan trọng như tiến
hành nghiên cứu và giám sát các loài quý hiếm, như: giám sát linh trưởng ở VQG Phong
Nha-Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình; giám sát vọoc đầu trắng ở VQG Cát Bà, Hải Phòng, vọoc mũihếch ở KBT Na Hang, Chạm Chu (tỉnh Tuyên Quang) và Khau Cả (tỉnh Hà Giang); giám sát
Cò thìa ở VQG Xuân thủy, tỉnh Nam Định; Trồng các loài thực vật đang bị tuyệt chủng trong
tự nhiên như Lát hoa (Chukrasia tabularis), Trầm hương (Aquilaria crassna).
Mặc dù đạt được những thành công trong công tác bảo tồn loài nêu trên, nhưng trong
thực tế các loài quý, hiếm và nguy cấp tiếp tục bị suy giảm; Thí dụ, con Tê giác được phát
hiện bị chết ở VQG Cát Tiên năm 2010 có thể là những cá thể cuối cùng ở Việt Nam Tìnhtrạng săn bắn, buôn bán trái phép các loài động vật hoang dã, quý, hiếm vẫn chưa được ngănchặn hiệu quả, Năm 2010, theo thống kê của Cục Kiểm lâm, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn), số lượng động vật hoang dã tịch thu được là 34.721 Kg(12.936 cá thể), trong đó 508 cá thể là các loài quý hiếm Chỉ riêng trong 8 tháng đầu năm
2011 đã ghi nhận được 660 vụ vi phạm liên quan tới quản lý và bảo vệ các loài hoang dã và10.130 vụ về buôn bán và vận chuyển trái phép lâm sản
Do đó, trong những năm qua, đồng thời với việc chú trọng bảo tồn loài tại các KBT,Việt Nam đã quan tâm đến công tác bảo tồn ngoại vi và nhân nuôi bảo tồn đối với một số loàiđộng - thực vật quý hiếm và hoang dã được nêu trong Danh lục đỏ và Sách đỏ Việt Nam(2007), hoạt động bảo tồn ngoại vi được đánh giá là có hiệu quả, thông quan các chương trìnhsinh sản bảo tồn, bảo tồn nguồn gen và các hoạt động như trồng rừng, trồng cây giống , đãmang lại cơ hội cho phát triển kinh tế - xã hội ở một số khu vực, góp phần vào công tác bảotồn các nguồn gen và giảm áp lực khai thác từ thiên nhiên thuộc các KBT (xem phụ lục 01,bảng 08), Tuy vậy, mặt hạn chế là nhiều động vật bị giữ trong thời gian dài và ít được tiếp xúcvới môi trường tự nhiên rộng lớn hơn để kiếm ăn và hòa nhập nên chưa có những thành côngtrong việc tái thả các loài nguy cấp, quý, hiếm
- Trong 05 KBTB đang triển khai các hoạt động quản lý, bảo tồn chưa có nhiều các
hoạt động ưu tiên vào việc quản lý bảo tồn các loài quý hiếm và nguy cấp Rùa biển là nhómloài dành được quan tâm nhất, vì trong số 7 loài rùa biển có vai trò chỉ thị cho môi trườngbiển và ven biển trên thế giới, thì ở Việt Nam đã có 05 loài và đều nằm trong danh sách cácloài có nguy cơ tuyệt chủng Một số hoạt động bảo tồn loài tại các KBT Biển được đánh giá là
có kết quả tốt như: Hành động quốc gia bảo tồn loài rùa biển tại: các KBT Côn Đảo, NúiChúa, vịnh Nha Trang, Bái Tử Long, Phú Quốc, Cù Lao Chàm và Cồn Cỏ; phục hồi một số
loài động - thực vật biển quý hiếm và nguy cấp như Bào ngư (Haliotis sp.), Tu hài (Lutarria
rhynchaena),; Các chương trình nuôi trồng thủy sản; Bảo tồn và giám sát đàn cá Heo tại Bái
Tử Long; bảo vệ và phục hồi loài Bò biển ở Phú Quốc ; Công tác bảo tồn loài đối với cácKBT Biển không chỉ tăng số lượng cá thể và quần thể mà còn hỗ trợ phát triển nuôi trồngthủy sản, đem lại những lợi ích kinh tế quan trọng đối với cộng đồng địa phương và cho nềnkinh tế quốc dân
- Nghị định số 57/2008/NĐ-CP đã xác định các HST điển hình của vùng biển cần đượcbảo tồn là rạn san hô (RSH), thảm cỏ biển, rừng ngập mặn (RNM), HST đầm phá và cửasông Trên thực tế, hệ thống 16 KBTB trong quy hoạch được duyệt, nếu quản lý tốt sẽ bảo tồnđược khoảng 70.000 ha HST rạn san hô, 20.000 ha HST thảm cỏ biển và một phần HST RNM
Trang 14trong các khu RĐD nói trên, cùng với phần lớn các bãi giống, bãi đẻ và nơi cư trú (habitat)của các loài thủy sản kinh tế.
Việc quản lý các HST biển được tiến hành thông qua nhiều hình thức khác nhau, từnhững hoạt động trực tiếp giảm các mối đe dọa đến các hoạt động có tính lâu dài, gián tiếpgóp phần bảo tồn và phục hồi các HST, như: thu nhặt sao biển gai (loài thiên địch nguy hiểmnhất của san hô); lắp đặt phao neo quanh đảo để các tàu du lịch sử dụng, tránh tình trạng thảneo ảnh hưởng trực tiếp đến RSH; xử lý nghiêm các vụ khai thác san hô, thủy sản bằng thuốcnổ; trồng RNM và phục hồi thử nghiệm RSH và thảm cỏ biển; phân vùng quản lý trong KBT;phát triển và áp dụng các mô hình sinh kế cho người dân sống trong và lân cận KBTB, tạonguồn thu nhập thay thế bền vững; quan trắc định kỳ đa dạng sinh học với sự tham gia củacộng đồng; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho các bên liên quan (stakeholder) Các nỗ lực trên đã cho các kết quả khả quan, nhất là tại KBTB vịnh Nha Trang, nơi đãtrải qua hơn 10 năm hoạt động tích cực Tại đây độ phủ của RSH đã tăng lên kéo theo các loàithủy sản cũng sinh sôi nảy nở nhiều hơn; đời sống người dân ở trong khu vực cũng được cảithiện, nhận thức về môi trường biển được nâng cao; RNM không ngừng được trồng mới và
mở rộng; nhiều thảm cỏ biển đã có dấu hiệu phục hồi
Đến nay, chưa có được các nghiên cứu toàn diện sự phân bố của các loài quý hiếm vànguy cấp tại các KBTB Việt Nam Tuy nhiên, hệ thống 16 KBTB quy hoạch hiện tại để quản
lý bảo vệ gần 100 loài đặc hữu và nguy cấp, quý, hiếm đến năm 2020; nhưng trên thực tế sốlượng loài được bảo vệ còn quá ít, chưa đáp ứng nhu cầu Công tác quản lý sinh vật biểnngọai lai xâm hại đã có sự quan tâm bước đầu của quốc tế, nhưng đến nay danh mục và đường
du nhập các loài nhóm này vẫn chưa được xác định rõ Đặc biệt, chưa có đánh giá chính xáctác hại và phạm vi tác động của nó để có căn cứ ban hành chính sách và các giải pháp kỹ thuậtquản lý hiệu quả Việt Nam, gần như chưa có chuyên gia về lĩnh vực sinh vật biển ngoại laixâm hại, trong khi việc phối hợp hoạt động giữa các bộ, ngành còn gặp nhiều khó khăn đã hạnchế cơ bản đến kết quả bảo tồn và quản lý các loài quý hiếm, nguy cấp và loài ngoại lai xâmhại
- Đối với các KBT VNNĐ việc quản lý, bảo tồn các loài thủy sinh nước ngọt quý hiếm
và nguy cấp có giá trị kinh tế cao đã đạt được thành công bước đầu:
- Khoảng 50 giống và 60 loài thủy sinh đã được bảo vệ; gần đây nghiên cứu về chănnuôi nhân tạo đã được thực hiện trên các loài quý hiếm và nguy cấp như loài cá Anh Vũ
(Semilabeo obscurus), Cá Hô (Catlocarpio siamensis), Cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus),
Cá mòi cờ (Clupanodon thrissa); Chương trình phục hồi Loài cá Sấu xiêm (Crocodylus
siamensis) đưa tái thả về tự nhiên tại VQG Cát Tiên Hiện tại, có 5 trại nuôi cá Sấu xiêm đã
đăng ký với Cơ quan CITES và hàng năm có trên 50.000 cá thể cá sấu ở các trại này
Mặc dù đã cố gắng, nhưng công tác quản lý các loài thủy sinh nước ngọt quý hiếm vànguy cấp có giá trị kinh tế cao ở nước ta vẫn còn không ít hạn chế:
- Việc thành lập các KBT VNNĐ có xu hướng ưu tiên các loài trên cạn hơn các loàithủy sinh Tuy nhiên trong số 9 loài được coi là tuyệt chủng ngoài tự nhiên (Sách đỏ Việt
Nam năm 2007) thì 4 loài là thủy sinh nước ngọt, gồm: cá Chép gốc (Procypris merus), cá Chình nhật (Anguilla japonica), cá Lợ thân thấp (Cyprinus multitaeniata), và cầy Rái cá (Cynogale lowei)
Hơn 4.000 loài thủy sinh nước ngọt nội địa được ghi nhận trong danh lục các loài thủysinh nước ngọt nội địa trên cả nước, trong đó có 54 loài được công nhận là quý hiếm và đượcđưa vào Sách Đỏ Việt Nam (1996, 1998, 2000, 2007) Đến nay chưa có nghiên cứu đầy đủ về
sự xuất hiện của những loài này ở các KBT VNNĐ ở Việt Nam, nhưng yêu cầu bảo vệ các
Trang 15loài nước ngọt được xác định trong 02 Nghị định mới ban hành gần đây về các loài có tầmquan trọng đối với bảo tồn
Ngày 17/07/2008, Bộ Trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ký Quyết
định số 82/2008/QĐ-BNN ban hành Danh lục các loài thủy sinh quý hiếm và nguy cấp cần
được bảo vệ, phục hồi và phát triển Danh lục này gồm 71 loài thủy sinh nước ngọt nội địa và
nhìn chung các loài quý hiếm đưa ra trong Quyết định trên đều nằm trong các danh lục cácloài được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam xuất bản các năm 1996, 1998, 2000 và 2007 Tại
Quyết định số 1479/QĐ-TTg ngày 13/10/2008, Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch hệ thống
các khu bảo tồn vùng nước nội địa tới năm 2020 với danh sách gồm 40 loài thủy sinh được
bảo vệ tại các KBT VNNĐ như vậy
Các khu bảo tồn chiếm 7% diện tích đất liền và 0,24% diện tích biển quốc gia; trên quy
mô diện tích được xác định, các khu bảo tồn có chức năng bảo vệ các giá trị tự nhiên, cácHST quan trọng cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, bảo tồn quần thể các loài quý hiếm, nguycấp và các nguồn gen, phần lớn bãi giống, bãi đẻ của các loài có giá trị kinh tế Các khu bảotồn là những vùng an toàn cho rất nhiều loài quan trọng sinh sống, kiếm ăn và phục hồi, đảmbảo quần thể chính để tạo ra hiệu ứng “tràn” có thể sinh sôi ở vùng đất, vùng nước và biểnrộng lớn hơn, đem lại các lợi ích kinh tế quan trọng thông qua hoạt động khai thác bền vững.Đồng thời các khu bảo tồn hỗ trợ tính đa dạng về nguồn gen quan trọng của các loài độngthực vật có giá trị kinh tế, giúp cho việc nuôi trồng và phục hồi các nguồn dược liệu quantrọng; tạo các điều kiện và môi trường “phòng thí nghiệm tự nhiên” cho các chuyên gia trong
và ngoài nước để thực hiện việc nghiên cứu và học hỏi cũng như đem lại các “mẫu sinh thái”quan trọng hỗ trợ việc giám sát những thay đổi trong dài hạn của các HST do ảnh hưởng củacon người
b) Bảo tồn các giá trị văn hóa và tinh thần
Nền văn hóa đa dạng của Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các mối quan hệ giữacon người và tự nhiên Nhiều giá trị văn hóa và tinh thần được lưu giữ và duy trì thông quagìn giữ được các HST ưa thích, những thắng cảnh nổi tiếng và những khu tâm linh hay cácBKT có tầm quan trọng về lịch sử trong trong quá trình dựng nước và giữ nước Một số khurừng ở Việt Nam vẫn lưu giữ được những nét văn hóa địa phương độc đáo với truyền thốngriêng, ngôn ngữ bản địa, kiến thức về bảo tồn dân gian đối với các hệ sinh thái tự nhiên và
quản lý nguồn lực bền vững
Do đó, các KBT là các điểm đến để thư giản, nghỉ ngơi, giải trí của du khách trong vàngoài nước, để trải nghiệm, hưởng ngoạn, nghiên cứu và học hỏi về những HST và phongcảnh độc đáo, kỳ thú Đồng thời du khách cũng có cơ hội thăm quan, tham gia các hoạt độnggiải trí ngoài trời dưới nhiều hình thức, tham gia các khóa đào tạo chính thức và không chínhthức, và thăm quan dưới hình thức nghiên cứu chuyên sâu về tự nhiên và văn hóa của nhữngvùng cụ thể
c) Bảo tồn các giá trị kinh tế, cung cấp các dịch vụ HST
Các KBT đang cung cấp các dịch vụ HST, hỗ trợ sinh kế cho hàng chục triệu người dânsinh sống phụ thuộc chính vào khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ KBT Do đó, cácKBT ngày càng có đóng góp rất lớn vào nền kinh tế quốc dân Theo dự tính của ADB (1999),một số HST vùng bờ biển (RNM, RSH, ĐNN và thảm cỏ biển) ở Việt Nam cho tổng lợinhuận ròng khoảng 60 triệu USD/ha/năm; mang lại cơ hội cho cộng đồng địa phương thamgia vào các hoạt động quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, giúp cho việc tuyêntruyền, giáo dục, tăng hiểu biết của cộng đồng dân cư bản địa và cho mọi thành viên trong xãhội về các giá trị của môi trường tự nhiên, về đa dạng sinh học và tăng cường các mối liên kếtgiữa sinh kế người dân địa phương với công tác bảo tồn
Trang 16Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú từ các KBT cung cấp các dịch vụ môi trườngrừng, dịch vụ HST quan trọng, được xác định tại Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng
9 năm 2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là:
- Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối;
- Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội;
- Hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằngcác biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững;
- Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục
vụ cho dịch vụ du lịch;
- Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từrừng cho nuôi trồng thuỷ sản
Các loại dịch vụ nêu trên ngoài việc đáp ứng các các nhu cầu sản xuất và tiêu dung cho
xã hội, còn là yếu tố chủ yếu giúp cho con người hạn chế, khắc phục những hậu quả của thiên tai(lũ lụt, lũ quét, xói lở đất và bở biển, sa mạc hóa, nước biển dâng, ) do biến đổi khí hậu tráiđất gây ra -
1.3 Thực trạng về thể chế chính sách đối với hệ thống KBT
1.3.1 Khung thể chế và pháp lý hiện hành
a) Đến nay đã có 04 luật được ban hành liên quan tới các khu bảo tồn, nhưng các khái
niệm và cơ chế quản lý khu bảo tồn thiên nhiên trong các luật này còn có điểm chưa thốngnhất Do đó đã gây ra không ít khó khăn trong việc quản lý và phát triển hệ thống các khu bảotồn hiện tại
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004) quy định: Nhà nước quản lý các khu RĐD là loại
rừng được sử dụng cho những mục đích đặc biệt, chủ yếu là bảo tồn đa dạng sinh học, cảnhquan thiên nhiên và nghiên cứu khoa học (Điều 4) Quy định Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn có chức năng và nhiệm vụ quản lý nhà nước về rừng trên phạm vi cả nước (Điều8)
Luật Thủy sản (2003) quy định quản lý nhà nước về quy hoạch và quản lý các KBT
VNNĐ và KBTB (Điều 9) Luật này quy định Bộ Thủy sản nay là Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn có chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy sản trên phạm vi cả nước(Điều 52)
Luật Đất đai (2003) quy định quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai được phân loại đất
theo mục đích sử dụng, trong đó “Đất rừng đặc dụng” thuộc Nhóm đất nông nghiệp; còn “Đấtsông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng” thuộc Nhóm đất phi nông nghiệp(Điều 13)
Luật Đa dạng sinh học (2008) quy định quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển bền
vững đa dạng sinh học Trong đó quy định việc thành lập, quản lý khu bảo tồn thiên nhiên(Mục 1, Chương III) Luật này quy định Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng, nhiệm
vụ quản lý nhà nước về đa dạng sinh học trên phạm vi cả nước (Điều 6) Bộ Tài nguyên vàMôi trường còn được giao quản lý nhà nước về đất ngập nước
Mục c), Khoản 1, Điều 8, Nghị định số 65/NĐ-CP của Chính phú quy định Bộ Tài
nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan lập dự án thành lập khu bảo tồn cấp quốc gia vùng đất ngập nước, núi đá vôi, đất chưa sử dụng và các
Trang 17vùng sinh thái hỗn hợp có diện tích nằm trên địa bàn từ 2 tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương trở lên, không thuộc đối tượng khu bảo tồn cấp quốc gia thuộc khu rừng đặc dụng, vùng
biển có diện tích nằm trên địa bàn từ 2 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên thuộc BộNN&PTNT quản lý Nội dung quy định này của Nghị định 65 không phù hợp với thực tế,Hiện tại trên đất nước Việt Nam không còn vùng đất ngập nước, vùng núi đá vôi, …là đấtchưa quy hoạch sử dụng; đối với những vùng đất ngập nước, núi đã vôi có các hệ sinh thái tựnhiên, đa dạng sinh học tiêu biểu đã được Bộ NN và PTNT quy hoạch đưa vào hệ thống cácKBT để quản lý theo 8 vùng địa lý tự nhiên - sinh thái Do đó, Luật Đa dạng sinh học, Nghịđịnh 65 /2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đã 3 đến 5 năm nhưng hệ thống KBT đất ngậpnước vẫn không thể thành lập được trên thực tế
b) Các văn bản luật pháp nêu trên chưa quy định rõ chức năng nhiệm vụ quản lý Nhà nước tổng hợp về bảo tồn đa dạng sinh học với chức năng nhiệm vụ quản lý Nhà nước chuyên ngành về bảo tồn đa dạng sinh học; vì vậy, đã gây ra sự chồng chéo, bất cập
và lãng phí nguồn lực quốc gia trong tổ chức thực hiện giữa các cấp, các ngành: Theo Luật Đadạng sinh học và các Nghị định số 109/2003/NĐ-CP Ngày 23 tháng 9 năm 2003 về bảo tồn vàphát triển bền vững các vùng đất ngập nước, Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11 tháng 6năm 2010 về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học thì Bộ Tài nguyên vàMôi trường có chức năng nhiệm vụ:
Lập quy hoạch tổng thể đa dạng sinh học, Đây là nhiệm vụ chủ yếu, trọng tâm của
chức năng quản lý Nhà nước tổng hợp về bảo tồn đa dạng sinh học, làm cơ sở cho các cấp,các ngành triển khai thực hiện chức năng quản lý Nhà nước chuyên ngành về bảo tồn đa dạng
sinh học Tuy nhiên, đến nay Chương trình này chưa thể triển khai vì chưa có nguồn lực
(Nhân lưc, Vật tư, khoa học kỹ thuật, tài chính…) Trong khi đó Bộ NN&PTNT và các Bộngành liên quan vẫn phải triển khai thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo tồn đa dạngsinh học theo quy định của pháp luật cho chuyên ngành của mình, đây là cách làm ngược, bấtcập, tồn tại nhiều năm nay chưa được khắc phục
Về nhiệm vụ Tổng hợp và quản lý cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học quốc gia; Để
thực hiện nhiệm vụ này, cần phải xác định rõ vai trò của cơ quan đầu mối quản lý tổng hợp,
và cơ chế phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để tổng hợp các dữ liệu quản lý chuyênngành về bảo tồn đa dạng sinh học (của các Bộ, ngành, các cấp); sắp xếp lại theo trình tự, hệthống, khoa học …., phục vụ cho công tác theo dõi, giám sát quản lý tổng hợp và quản lýchuyên ngành; nhưng hiện tại chưa rõ cách tổ chức triển khai, phân công trách nhiệm giữa các
Bô, ngành và cơ chế phối hợp thực hiện đến đâu, các bước kế hoạch triển khai như thế nào, vìvậy tiến độ công việc cũng không khả quan
Nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với hệ thống khu bảo tồn đất ngập nước… Cho
đến nay trên địa bàn cả nước, các khu vực có hệ sinh thái đất ngập nước có tính đa dạng sinhhọc cao đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy hoạch, thành lập các KBT vàquản lý trong hệ thống các KBT rừng đặc dụng; vì vậy, việc khảo sát quy hoạch hệ thốngKBT đất ngập nước ngoài hệ thống các KBT do Bộ Nông nghiệp và PTNT đang quản lý là
khó có thể thực hiện được trên thực tế; cho nên đến nay chưa thể triển khai thực hiện quy
hoạch xây dưng KBT đất ngập nước
Triển khai quy hoạch làm thủ tục trình Quốc tế công nhận danh hiệu cho các KBT là khu Ramsa.
Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, các KBT được quốc tế công nhậndanh hiệu là khu Ramsar đều đã được Nhà nước giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn đầu tư điều tra, quy hoạch đầy đủ chi tiết từ khi xây dựng dự án thành lập KBT để có căn
cứ quản lý Như vậy, việc quy hoạch làm thủ tục trình Quốc tế công nhận danh hiệu Ramsarcho các KBT này, nếu theo đúng chức năng thì là trách nhiệm của cơ quan chủ quản KBT tức
Trang 18là Bộ NN & PTNT; Nhưng do sự phân cấp không rõ ràng trong các văn bản pháp luật nên BộTN&MT đang thực hiện chức năng này, làm phát sinh sự chồng lấn về công việc; làm thay,làm lại về quy hoạch đối với KBT đã được Bộ NN&PTNT làm rồi, gây ra lãng phí thời gian
và tiền của Ví dụ: (VQG Tràm Chim, VQG Xuân Thủy, VQG Mũi Cà Mau thuộc hệ thốngKBT RĐD do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý, Nhưng Bộ TN&MT lại làmthủ tục trình quốc tế công nhân danh hiệu là các Khu Ramsar)
Nghị định số 27/2005/NĐ-CP đã quy định về phân cấp tổ chức và quản lý KBTB, theođó: “Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống KBTB; ra quyết định thành lập cácVQG, các KBT có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế hoặc liên quan đến nhiều ngành, nằm trênđịa bàn nhiều tỉnh Bộ Thủy sản (nay là Bộ NN&PTNT) xây dựng trình Thủ tướng Chính phủphê duyệt quy hoạch các KBTB; tổ chức quản lý các KBTB do Thủ tướng Chính phủ thànhlập UBND tỉnh quyết định thành lập và tổ chức quản lý các khu bảo tồn biển thuộc phạm vitỉnh
Trên cơ sở pháp lý nêu trên, UBND các tỉnh Khánh Hòa, Quảng Nam, Quảng Trị, KiênGiang và Bình Thuận đã ra quyết định thành lập và tổ chức quản lý các KBTB Vịnh NhaTrang, Cù Lao Chàm, Cồn Cỏ, Phú Quốc và Hòn Cau thuộc phạm vi tỉnh Ở cấp quốc gia,theo đúng thẩm quyền, Chính phủ đã ban hành Quy chế quản lý các KBTB có tầm quan trọngquốc gia, quốc tế (Nghị định số 57/2008/NĐ-CP) và Bộ NN&PTNT đã trình Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Quy hoạch hệ thống các KBTB biển Việt Nam đến năm 2020 (Quyết định số742/QĐ-TTg ngày 26/05/2010) Mục tiêu đến năm 2020 là quy hoạch phát triển và mở rộng
hệ thống KBTB hiện tại; nỗ lực để tới năm 2020 sẽ có hơn 20 KBTB được thành lập và đưavào hoạt động; từng bước đa dạng hóa các loại hình đầu tư để khuyến khích và thu hút cácnhà đầu tư trong nước và nước ngoài, các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế, đồng thời đẩymạnh sự tham gia quản lý của các cộng đồng tại những vùng ven bờ và quần đảo nhằm quản
lý hiệu quả và bền vững các KBTB
Từ năm 2009 đến năm 2011, để thực hiện Quyết định số 1479, Bộ Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn đã xây dựng những kế hoạch chi tiết đối với 5 KBT VNNĐ nhưng chưa kếhoạch nào được đưa vào thực hiện Như vậy, đã thấy có sự sai khác khi chuyển trọng tâm bảo
vệ từ các HST đặc thù (thuộc các vùng ĐNN) có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế, có giá trịĐDSH cao sang trọng tâm bảo vệ, phục hồi, tái tạo nguồn lợi thủy sản quý hiếm, có giá trịkinh tế và khoa học cao (tại các vùng nước nội địa) Mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học bị mờnhạt, khó đáp ứng các tiêu chí của một KBT nếu sau này đưa vào một hệ thống KBT thốngnhất của quốc gia Đặc biệt, vẫn còn bất cập trong nhận thức về bản chất của KBT VNNĐ vàKBT ĐNN, từ đó khiến cho công tác quản lý hai hệ thống KBT này gặp khó khăn, thiếu thốngnhất giữa hai Bộ NN&PTNT và TNMT, trong khi áp lực đối với việc xâm hại và làm mất cácvùng ĐNN quan trọng của quốc gia ngày càng nghiêm trọng
Những bất cập nêu trên cần sớm được điều chỉnh cả về nội dung quản lý, cả về thốngnhất quản lý nhà nước đối với các hệ thống KBTTN hiện tại
1.3.2 Thực hiện các cam kết quốc tế liên quan
Việt Nam đã tích cực tham gia và cam kết thực hiện các công ước và hiệp ước quốc tếliên quan tới bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, mặc dù vậy việc phân công thực hiệncũng như năng lực thực hiện các cam kết quốc tế này còn nhiều hạn chế, thiếu phối hợp hiệuquả
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được giao chủ trì thực hiện Công ước quốc tế
về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) (1979) được Chính phủ ViệtNam phê duyệt ngày 20/1/1994, Công ước Chống sa mạc hóa của Liên hiệp quốc (1992), các
Trang 19Cam kết Thiên niên kỷ về tham gia mạng lưới KBTB toàn cầu được quản lý hiệu quả, về nghề
cá có trách nhiệm,
Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao chủ trì thực hiện 04 cam kết quốc tế là: Côngước đa dạng sinh học (1992), được Chính phủ Việt Nam thông qua vào ngày 16/01/1994;Chương trình làm việc về các khu bảo tồn theo Công ước về đa dạng sinh học và được cácbên áp dụng vào năm 2004; Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế(Công ước Ramsar, 1971) được Chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 20/1/1989; Dự thảoCartagena về An toàn sinh học (2003), Chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 21/1/2004
Ủy ban UNESCO Việt Nam chủ trì thực hiện 01 cam kết là Công ước về Di sản thế giới(1972) được Chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 19/10/1987
1.3.3 Phân khu chức năng và xác định vùng đệm của KBT
a) Để bảo đảm cho công tác quản lý KBT có hiệu quả, phù hợp với các hệ sinh thái tựnhiên kinh tế xã hội trên địa bàn, các KBT phải thực hiện điều tra quy hoạch, xác định thànhcác phân khu chức năng; mỗi hệ thống KBT áp dụng một sơ đồ phân khu khác nhau về sốlượng và tên gọi
Đối với khu RĐD thường phân ra 3 phân khu chức năng: phân khu hành chính, dịchvụ; phân khu phục hồi sinh thái; phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Việc phân khu chức năngtrong KBTB dựa trên các hướng dẫn tại Nghị định số 57/2008/NĐ-CP và được chia ra 04phân khu: Khu bảo vệ nghiêm ngặt, Khu phục hồi sinh thái, Khu phát triển và Vành đai bảo
vệ Năm 2011, trong một số KBT VNNĐ cấp quốc gia (Khu vực ngã ba sông Hồng-Lô-Thao;Cửa sông Hồng; hồ Lắc; Sông Hậu; Vùng ven biển Cà Mau; Cửa sông Tiên Yên) đã chia ra
03 phân khu chức năng chính: Vùng bảo vệ nghiêm ngặt (vùng lõi), Vùng phục hồi sinh thái
và Vùng phát triển (hành lang sinh thái)
Các phân khu chức năng đã được xác định trên thực tế và đưa vào quản lý, bảo vệ Tuynhiên, các hoạt động quản lý hiện vẫn tập trung nhiều vào phân khu hành chính, dịch vụ hoặcphân khu phát triển và chủ yếu là xây dựng các công trình phục vụ quản lý và các hoạt độngdịch vụ khác Đối với phân khu bảo vệ nghiêm ngặt chủ yếu là hoạt động bảo vệ Việc phânchia các phân khu chưa có các tiêu chí cụ thể và còn sai khác về tiêu chí phân khu giữa các hệthống KBT Các phân khu chức năng của KBTB chỉ được xác định cho phần thủy sinh, khôngbao gồm các phần trên cạn, nên không có bộ phận dịch vụ-hành chính như các khu RĐD.Việc dùng phao đóng cột mốc đối với vùng lõi KBTB là cahcs phổ biến trên thế giới, nhưng ở
ta chưa phát huy hiệu quả do ngư dân ngoài khu vực chưa nhận thức đầy đủ về các quy địnhđối với việc thả neo và đánh cá ở mỗi phân khu chức năng Những nguyên nhân trên đã phầnnào ảnh hưởng đến công tác quản lý chung của không ít KBTTN (xem chi tiết ở phụ lục 01,Bảng 09)
b) Xác định vùng đệm của KBT
Các KBT RĐD khi đưa vào hoạt động đều đã xác định vùng đệm ngoài bao quanh, chủyếu là các xã có dân cư sinh sống tiếp giáp với KBT, và xác định các Vùng đệm trong có các
điểm cư dân bản địa sinh sống lâu đời trong vùng lõi Đối với KBTB, vùng đệm được xác
định bao gồm các khu dân cư bao quanh hoặc trên đảo trong KBT, thậm chí chỉ là vùng biểnbao quanh Tuy nhiên, mối liên kết giữa vùng đệm và vùng lõi của một KBT thường khôngchặt chẽ Theo phân cấp hiện tại thì vùng đệm của một KBT thường do chính quyền địaphương quản lý; Ban quản lý KBT chỉ có một số hoạt động như tuyên truyền, vận động ngườidân trong vùng đệm tham gia thực hiện công tác bảo tồn ĐDSH Người dân cũng chưa đượctham vấn đầy đủ về các hoạt động trong KBT Mặt khác, ranh giới của nhiều KBT chưa đượcxác định, cắm mốc rõ ràng trên thực địa, do vậy, sự phối hợp cùng bảo vệ tài nguyên ĐDSHtại KBT thường hạn chế Đối với các VQG do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thành lập thì
Trang 20có quy định xây dựng dự án đầu tư phát triển vùng đệm, còn thì phần lớn vùng đệm củaKBTB chưa được pháp luật chính thức ban hành, chỉ dưới dạng vành đai bảo vệ Trên thực tế,vùng đệm trong của các KBT là những tụ điểm dân cư và nơi canh tác của họ bên trong KBT(trường hợp RĐD) bắt đầu được công nhận từ khi Nghị định số 117 /2010/NĐ-CP Ngày 24tháng 12 năm 2010 của Chính phủ , và các đảo có hoạt động của con người nằm trong KBT(trường hợp KBTB) Các đặc trưng nói trên cần tiếp tục làm rõ về mặt pháp lý (dưới dạngnghị định / thông tư ) để xác định và quản lý vùng đệm hiệu quả hơn trong thời gian tới.
1.3.4 Quản lý dịch vụ hệ sinh thái (dịch vụ môi trường rừng) tại các khu bảo tồn
a) Dịch vụ hệ sinh thái thuộc các KBT là những hoạt động cung ứng các giá trị sửdụng của hệ sinh thái thuộc KBT (nói chung) cho người hưởng lợi, trong đó có dịch vụ du
lịch; Đối với KBT RĐD gọi là dịch vụ môi trường rừng (PFES) được Chính phủ ban hành tại
Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2010 về chinh sách chi trả dịch vụ môitrường rừng, chính sách này được ghi nhận như là cột mốc trong quá trình đổi mới, nhằm xãhội hóa việc bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam, tạo ra nguồnlực tài chính bền vững từ sự đóng góp của mọi thành viên trong xã hội để đầu tư bảo vệ, pháttriển rừng, bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên, sự đa dạng sinh học tại các KBT, tạo việc làm cảithiện đời sống cho người dân sống trên địa bàn rừng núi; đồng thời Chính sách này góp phầngiải quyết các vấn đề quan trọng về Kinh tế, xã hội và môi trường ở Việt Nam
Hiện nay, đã có hơn 20 tỉnh thành lập Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng để quản lý, sửdụng nguồn kinh phí trên Một số tỉnh thực hiện tốt thu phí DVMT và chi trả đến người laođộng bảo vệ rừng Trong năm 2012, cả nước đã thu được 1.200 tỷ đồng từ nguồn chi trả dịch
vụ môi trường rừng, số tiền này đã được chi trả cho người dân bảo vệ rừng ở các địa phươngnhư: tỉnh Lâm Đồng là 95,4 tỷ đồng, Lai Châu khoảng 140 tỷ đồng, Nghệ An khoảng 30 tỷđồng
Hệ thống KBT RĐD cũng đã chú ý đẩy mạnh các hoạt động triển khai thực hiện chínhsách (PFES), phát triển dịch vụ du lịch sinh thái; những khu bảo tồn thiên nhiên có các điềukiện thuận lợi về giao thông, về cơ sở hạ tầng như: VQG Phong Nha-Kẻ Bàng đạt mứcdoanh thu trung bình khoảng 17-tỷ đồng năm 2012, VQG Cúc Phương 3 tỷ đồng/ năm, VQG
Ba Vì đạt 3 tỷ đồng/năm, các VQG như: Tam Đảo, Ba Bể, Bạch Mã, Cát Tiên khi triểnkhai chính sách chi trả DVMT Rừng (PFES) đã thu được kết quả rất đáng kích lệ, tạo đượcnguồn thu tài chính bền vững cho các hoạt động bảo tồn Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn đã có những cố gắng rất lớn để tổ chức triển khai thực hiện Đề án nhằm thực hiện chínhsách chi trả DVMTR; đã xây dựng các thông tư hướng dẫn thi hành chính sách, phối hợp với
tổ chức GIZ viết sổ tay hỏi đáp về chính sách chi trả DVMTR để hướng dẫn thực hiện chínhsách; tổ chức các kênh thông tin, tuyên truyền (Báo, Truyền hình ) để tuyên truyền phố biếnrộng rãi chính sách Từ Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, sẽ tạo ra những tiền đề
để nghiên cứu áp dụng chính sách chi trả dịch vụ các hệ sinh thái khác như: hệ sinh thái đấtngập nước, Hệ sinh thái Biển, Hệ sinh thái vùng nước nội địa trong thời gian tới
b) Do Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là một chính sách mới, nhữngthành công bước đầu là rất khích lệ, nhưng những tồn tại khó khăn vẫn còn nhiều: Các KBT
RĐD khi triển khai chính sách CTDVMTR mới chỉ tập trung vào dịch vụ du lịch sinh thái,
dịch vụ điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội, còn các dịch vụ
khác chưa được xem xét triển khai đầy đủ; cho đến nay, việc tổ chức triển khai Đề án để thựchiện Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng vẫn còn chậm; Việc giao khoán bảo vệ rừng
ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn (để xác định đốitượng cung ứng DVMTR, làm căn cứ để chi trả tiền DVMTR) vẫn còn vướng mắc chậm trễnên có nhiều địa phương tiền chi trả DVMTR đã đưa về Quỹ bảo vệ phát triển rừng cấp tỉnh,nhưng không thể chi trả đến hộ gia đình và người lao động nhận khoán bảo vệ rừng ổn địnhlâu dài được kịp thời; Một số các dịch vụ môi trường rừng quy định tại Nghị định số 99/2010-
Trang 21NĐ-CP như: dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứngnhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừngbền vững; dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước
từ rừng cho nuôi trồng thuỷ sản chưa được tổ chức nghiên cứu triển khai kịp thời, đã làmgiảm đi những nguồn thu rất lớn từ các nguồn dịch vụ này
Vì vậy, thu nhập từ du lịch sinh thái gắn với KBT vẫn còn thấp trong tổng số ngânsách đầu tư cho các khu RĐD Ví dụ, thu nhập từ hoạt động dịch vụ du lịch sinh thái chỉchiếm khoảng 1,66% tại VQG Tam Đảo, 1,38% tại VQG Cúc Phương và 0,62% tại VQG YokĐôn Một số VQG coi hoạt động du lịch sinh thái chỉ là hòa vốn, những tính toán trên đây cóthể không được quan tâm trong dòng lợi ích đem về từ cộng đồng và kinh doanh, chưa xácđịnh được giá trị vô hình từ việc thông qua hoạt động dịch vụ du lịch đã giáo dục nâng cao ýthức của người dân trong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học
Mặt khác cũng phát sinh mâu thuẫn trong việc chia sẻ lợi ích đạt được từ hoạt độngdịch vụ du lịch của KBT, giữa người dân địa phương và người bên ngoài phạm vi KBT Ví
dụ, người dân địa phương (bản địa) ở KBTB Cù Lao Chàm chỉ nhận được 1/3 những lợi íchthu được từ hoạt động dịch vụ du lịch sinh thái, vấn đề bảo hiểm cho du khách khi từ bờ rađảo và trong thời gian lưu trú trên đảo còn chưa được quy định; (2) Mâu thuẫn về nhu cầu chocác sản phẩm du lịch từ các nguồn khác nhau trong KBT Hiện tại, hơn 70% các sản phẩm dulịch ở KBTB Cù Lao Chàm đều có nguồn gốc từ tài nguyên thiên nhiên của biển và rừng,trong khi các sản phẩm thủ công và dịch vụ chỉ chiếm 30%, nên chưa thu hút nguồn nhân lựcđịa phương tham gia để cải thiện sinh kế cho họ;
1.3.5 Nguồn nhân lực trong KBT
Theo ước tính, số cán bộ nhân viên của các KBT cả nước hiện nay gần 5.000 người,trong đó: riêng 27 Vườn quốc gia có đội ngũ cán bộ nhân viên khoảng 2.880 người khoảng1.840 người ở các khu RĐD, số còn lại thuộc các KBTB đang có hoạt động quản lý Các KBTVNNĐ chưa được thành lập và đưa vào hoạt động nên hiện chưa có cán bộ làm việc, ngoạitrừ những khu nằm trong các khu RĐD
Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực để thực hiện công tác bảo tồn còn thấp Cán bộcủa các KBT có trình độ và năng lực phù hợp chủ yếu nhờ vào các dự án quốc tế để đào tạonguồn nhân lực tốt hơn, như các VQG: Cúc Phương, Ba Vì, Bạch Mã, Cát Tiên, KBTB Cát
Bà, Côn Đảo, vịnh Nha Trang, Cù Lao Chàm, Phú Quốc,…So với công tác bảo tồn trên cạn,bảo tồn biển cần nhiều kỹ năng chuyên biệt hơn và chi phí cao hơn (ví dụ như kỹ năng lặn,nổi và giữ phao, tuần tra bằng tàu, thuyền cao tốc, ) Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả củacông tác bảo tồn thiên nhiên (rừng, biển, ĐNN) cần phải có đầu tư thích ứng trong công tácxây dựng năng lực cho cán bộ KBT Yêu cầu này đã và đang được giải quyết một phần thôngqua một dự án do Chính phủ Đan Mạch tài trợ, nhằm mục tiêu phát triển năng lực quản lý vàxây dựng hệ thống KBTB ở Việt Nam
Bên cạnh những thành công bước đầu, nhìn chung đội ngũ cán bộ KBT còn thiếu và yếu
Trang 22rừng, công tác bảo tồn chưa được quan tâm đầu tư cả về nhân lực, về khoa học, vật tư kỹ thuật
và tài chính
- Cán bộ bảo tồn chủ yếu vẫn là lực lượng kiểm lâm hoặc quân đội chuyển sang làmcông tác bảo vệ, thiếu kiến thức về các hoạt động bảo tồn Đặc biệt thiếu các cán bọ có kỹ
năng bảo tồn Biển và ĐNN.
1.3.6 Tài chính đầu tư cho các KBT
a) Nguồn tài chính cho các KBT
Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành một một số chính sách đầu tư quan trọng chocông tác quản lý, bảo vệ RĐD, cho thuê rừng, chính sách chi trả DVMTR, khuyến khích pháttriển du lịch sinh thái (DLST) nhằm tạo thêm nguồn thu, bù đắp chi phí, tăng thu nhập cho lựclượng quản lý, bảo vệ rừng Tuy nhiên, các chính sách đầu tư hiện nay vẫn còn bất cập vàthiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu phức tạp của công tác quản lý và bảo tồn củaRĐD, đồng thời, chưa tạo nguồn tài chính ổn định và bền vững cho việc thực hiện chức năngbảo tồn của các hệ thống KBT ở Việt Nam
Các nguồn đầu tư cho hệ thống KBT RÐD gồm: (1) Ngân sách nhà nước, (2) Tài trợquốc tế, (3) Đầu tư từ cộng đồng và khối tư nhân.Trong đó, các nguồn (1) và (2) được coi làcác nguồn đầu tư chủ yếu cho các KBTB; nguồn (3) là nguồn thu nhập từ hoạt động cung ứngdịch vụ môi trường rừng, dịch vụ hệ sinh thái (trong đó có hoạt động dịch vụ du lịch Nguồnđầu tư tài trợ từ cộng đồng, khối tư nhân còn ở mức thấp, chưa có số liệu thống kê đánh giáhiệu quả tác động của nguồn đầu tư này
- Nguồn ngân sách tài trợ thường xuyên từ Nhà nước thông qua phê duyệt của BộNN&PTNT và các địa phương Ước tính ngân sách cho các KBT năm 2003 khoảng 18 tỷđồng, năm 2010 khoảng 77,9 tỷ đồng, tổng chi phí thường xuyên trong giai đoạn 2003-2010
là 410,6 tỷ đồng, tăng bình quân 13%/năm Trong đó mức chi cho các KBT thuộc trung ươngquản lý cáo gấp đôi so với các KBTTN do tỉnh quản lý Vì ngân sách được tính dựa trên sốlượng nhân viên của từng KBT chứ không phải trên mục tiêu của các KBT dẫn tới việc quản
lý và bảo vệ chưa hiệu quả
- Chi phí đầu tư do Nhà nước cấp cho các KBT gồm chi phí đầu tư thường xuyên và đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng Trong giai đoạn 2003-2010, tổng đầu tư của nhà nước là 616 tỷđồng, bình quân 77 tỷ đồng/năm Tổng chi đầu tư thường xuyên cho các KBT ước tính là 352
tỷ đồng, bình quân là 20.000 đ/ha/năm, chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bình quân là35.000đ/ha/năm Nhu cầu đầu tư được xác định trong kế hoạch đầu tư của KBT không đượcđảm bảo, nhiều chương trình đầu tư thường kéo dài và không trọng điểm Việc phân bổ đầu tưkhông dựa trên các tiêu chuẩn chung hay ưu tiên mà được phân bổ bởi nhiều cấp khác nhauvới nhiều tiêu chí khác nhau, dẫn tới sự không thống nhất và không hiệu quả
- Tài trợ từ các chương trình của Nhà nước: Các KBT nhận được nguồn tài trợ từ cácchương trình của Chính phủ, như: chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, phòng chống cháyrừng, nghiên cứu khoa học, đề án điều tra tổng hợp biển, Ước tính số tiền các KBT nhậnđược khoảng 40-60 tỷ đồng/năm Các nguồn tài trợ này đã hỗ trợ đáng kể công tác bảo tồn,nhưng thường thiếu các chỉ số đánh giá mức độ ưu tiên dẫn tới thiếu đồng nhất trong quá trìnhphân bổ nguồn vốn Thí dụ, với mức chi phí 50.000 đ/ha/năm cho bảo vệ rừng thì tổng số tiềnbảo vệ rừng từ Chương trình 661 cho các KBT khá cao, nhưng mức chi thực tế chỉ bằng 40-70%
Việc thành lập và hoạt động của các KBTB chủ yếu từ các nguồn tài trợ thông qua hợptác quốc tế với kỳ vọng rằng các khu này sẽ tiếp tục hoạt động với sự hỗ trợ từ ngân sách nhànước và nguồn thu từ chính hoạt động của KBTB, đặc biệt là du lịch sinh thái (khoảng 8 triệu
Trang 23USD) Thí dụ, Ban Quản lý KBTB Phú Quốc đã được tỉnh cho phép sử dụng phần lớn khoảnthu từ du lịch sinh thái (90% số kinh phí) xem như nguồn tài chính bền vững và ổn định để sửdụng vào mục đích quản lý, bảo vệ tài nguyên biển Mặt khác, chính các cộng đồng dân cưtrong KBTB cũng được hưởng lợi từ hiệu quả tăng lên trông thấy của việc bảo tồn biển Quỹ bảo tồn RĐD Việt Nam (VCF), một cơ chế tài chính ủy thác từ các nguồn viện trợnước ngoài, đã cung cấp cho khoảng 70 VQG/KBT các khoản tài trợ đáng kể nhằm hỗ trợ tàichính và kỹ thuật để củng cố công tác quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên tại địa bàncác KBT này
Các Nghị định gần đây của Chính phủ như: Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24tháng 9 năm 2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Nghị định 117/2010/NĐ-CPban hành ngày 24/12/2010 về tổ chức quản lý hệ thống RĐD được xem là những chính sáchquan trọng, có tính đột phá, mở đường cho việc huy động, xã hội hóa các nguồn đầu tư, từngbước tạo lập tài chính bền vững cho hoạt động của các VQG/KBT
Ngoài các nội dung đầu tư tập trung vào tăng cường cơ sở hạ tầng, phương tiện và thiết
bị quản lý bảo vệ rừng cho Ban quản lý RĐD, Nhà nước cũng cam kết cấp kinh phí bảo vệrừng ổn định hàng năm, đồng thời hỗ trợ kinh phí cho các cộng đồng thôn, bản vùng đệm đểkhuyến khích họ tham gia phối hợp quản lý RĐD
b) Tồn tại về đầu tư và sử dụng nguồn vốn cho các hệ thống KBT
Nguồn ngân sách đầu tư cho các VQG/KBT thường được cân đối và phân bổ trực tiếphàng năm từ Trung ương hoặc tỉnh, các khoản đầu tư này phần lớn được tập trung vào xâydựng cơ bản Riêng nguồn kinh phí đầu tư thường xuyên được xác định trên cơ sở số lượngnhân viên của KBT, cho nên các KBT thường sử dụng tới 90% nguồn kinh phí này để duy trìhoạt động của bộ máy quản lý; vì vậy, phần kinh phí cần thiết cho các hoạt động bảo tồn đadạng sinh học, hoặc hoạt động hỗ trợ bảo tồn như giáo dục truyền thông, nâng cao nhận thứccủa các bên liên quan còn rất hạn chế
Nguồn vốn tài trợ nước ngoài “(bao gồm cả Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam(VCF)”: chủ yếu được tài trợ cho các vườn quốc gia do trung ương quản lý và thường chútrọng nhiều hơn đến các hoạt động về nghiên cứu khoa học, phát triển cộng đồng, giáo dục vànâng cao nhận thức… ; đối với các khu bảo tồn do địa phương quản lý gặp rất nhiều khókhăn trong việc tiếp nhận nguồn vốn của VCF, do năng lực hạn chế, cơ sở hạ tầng của KBT
và của xã hội thiếu và yếu nên bị khó khăn trong việc tiếp cận cơ hội đầu tư và tài trợ từnguồn vốn này, đặc biệt đối với các Khu rừng đặc dụng nhỏ hơn (diện tích dưới 15.000 ha)
- Đầu tư từ cộng đồng và khối tư nhân, gần đây được Chính phủ ban hành các chínhsách mới như: Nghị đị số 99/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2010 về chính sách chi trảdịch vụ môi trường rừng, Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 về tổ chức quản lý hệthống rừng đặc dụng, Quyết định 24/2012/QĐ-TTg, ngày 01/06/2012 về đầu tư phát triểnrừng đặc dụng được nhằm mở rộng cơ chế thu hút nguồn đầu tư từ các nguồn này cho KBTthông qua các hoạt động liên doanh liên kết, tạo lập tài chính bền vững cho hoạt động của các
VQG/KBT
1.3.7 Hợp tác quốc tế về KBT ở Việt Nam
Thời gian qua, hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên ở nước ta
đã đạt được nhiều kết quả và có sự chuyển biến về chất; nhiều tổ chức quốc tế hoạt độngtrong lĩnh vực bảo tồn có văn phòng hoạt động tại Việt Nam, như: GTZ (GIZ), Winrock,IUCN, WWF, FFI, Carier, EU SIDA Hoạt động của các tổ chức quốc tế đã bám sát đượccác thay đổi về hoạt động bảo tồn tại các vùng trọng điểm của Việt Nam như vùng sinh tháiBắc Trung bộ, Tây Nguyên, dải ven biển và một số đảo ven bờ, một số lưu vực sông gắn vớiĐNN
Trang 24Hỗ trợ từ những dự án quốc tế trong giai đoạn 2003-2010, tổng số vốn nước ngoài đầu
tư cho các KBT là 100-120 tỷ đồng, bình quân 12-14 tỷ đồng/năm và có khoảng trên 20 KBTđược dự án nước ngoài đầu tư tập trung ở các mức độ khác nhau Mức đầu tư ước tính là 6,34triệu đồng/km2/năm đối với 5 KBT trực thuộc Bộ NN&PTNT và 0,79 tr đ/km2/năm cho cácKBT trực thuộc tỉnh
Quỹ Bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam (VCF) đã được thành lập năm 2005, có tổng sốtiền lên đến 15 triệu đôla, là nguồn viện trợ không hoàn lại từ Ngân hàng Thế giới, Quỹ Môitrường toàn cầu và Chính phủ Hà Lan VCF đã hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các dự án tăngcường công tác quản lý các rừng đặc dụng của Việt Nam Quỹ đã hỗ trợ cho khoảng 70 Khurừng đặc dụng thực hiện các hoạt động liên quan đến bảo tồn Đây là hình thức hỗ trợ có hiệuquả tốt, đặc biệt là đối với các KBT nhỏ, nguồn vốn của địa phương có nhiều khó khăn Tuyvậy, nguồn tài chính này sẽ bị kết thúc ( ngừng tài trợ ) trong năm 2013, do đó những thànhquả của VCF đã đầu tư xây dựng tại các KBT trong nhiều năm qua bị ảnh hưởng rất lớn,Nguy cơ là các KBT sẽ khó có thể tiếp tục duy trì và phát huy, những thành quả đã đạt được
vì thiếu nguồn tài chính cho hoạt động tại các KBT
Nhiều dự án lớn liên quan đến bảo tồn đã được triển khai thực hiện tại các KBT, nhiềuchương trình phối hợp điều tra, nghiên cứu giữa các nhà khoa học trong và ngoài nước đãđược thực hiện Việt Nam đã phối hợp với các nước láng giềng như Lào, Cămpuchia, TrungQuốc trong công tác kiểm soát buôn bán động, thực vật hoang dã qua biên giới Cùng với cácnước khác, Việt Nam cũng đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện các công ước quốc tế màChính phủ đã cam kết thực hiện
Các hoạt động hợp tác quốc tế về bảo tồn biển hướng chủ yếu vào các nội dung: ĐDSHbiển và các HST RSH, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, đầm phá; đánh giá tiềm năng bảo tồnbiển ở 20 điểm đại diện cho HST RSH; thành lập và quản lý thí điểm KBTB vịnh Nha Trang,
Cù Lao Chàm, Phú Quốc, Côn Đảo; xây dựng và thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia vềbảo tồn Rùa biển; kiểm soát RSH (ReefCheck); chống suy thoái HST biển Đông; quản lý tổnghợp vùng bờ; quản lý tài nguyên ven biển và quy hoạch sử dụng không gian biển và vùng bờbiển Các nhà tài trợ và đối tác chính thực hiện các nội dung trên là: WB, ADB, GEF, UNEP,Danida, Sida, CIDA, UNDP, IUCN, WWF, FFI, FAO, NOAA, Hà Lan, Pháp, PEMSEA,COBSEA, UNESCO,
1.4 Bài học về việc thực hiện Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt nam 2003 - 2010
Chiến lược quản lý hệ thống các KBT TN Việt Nam đến năm 2010, được Thủ tướngchính phủ phê duyệt tại Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày 17/9/2003 (sau đây gọi tắt làChiến lược 2003)
1.4.1 Mức độ thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của chiến lược 2003
Mục tiêu tổng thể của Chiến lược 2003 là: thiết lập, tổ chức và quản lý có hiệu quả hệ
thống các KBTTN với các HST khác nhau nhằm góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên ĐDSH,cảnh quan phong phú và độc đáo của Việt Nam trong khuôn khổ phát triển bền vững Đồngthời, Chiến lược 2003 đề ra 2 mục tiệu cụ thể là: Quy hoạch hệ thống KBTTN ở các vùngsinh thái khác nhau được thiết lập có căn cứ khoa học và phân loại, xếp hạng theo những tiêuchí thống nhất; Đến 2010 Quy hoạch hệ thống KBTTN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.Chiến lược 2003 cũng đã để ra 7 nhiệm vụ quan trọng để thực hiện các mục tiêu đến năm
2010 là: Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn; Xây dựng khung pháp lý để quản lý hệ thống các
KBT; Tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn ĐDSH và đổi mới cơ cấu của hệ thống quản lý KBT; Những quy định đổi mới để thành lập, tài trợ và đầu tư vào các khu bảo tồn; Kiến thức và kỹ năng về bảo tồn; Tăng cường thông tin-giáo dục-truyền thông và thu hút cộng đồng tham gia vào hoạt động bảo tồn ĐDSH.Tăng cường hợp tác quốc tế
Trang 25Phân tích, đánh giá chung về quá trình thực hiện Chiến lược 2003 có thể thấy rằng; Một số nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ
a) Đến nay, chưa được xây dựng quy hoạch thành lập một hệ thống KBT chung, nhưng
các hệ thống KBT riêng đã được rà soát và hoàn thiện quy hoạch, xếp hạng các hệ thống KBT
ở các vùng địa lý-sinh thái khác nhau (gồm trên cạn, đất ngập nước và biển), trình Thủ tướngthông qua và ra quyết định về hệ thống KBT tại Việt Nam trong bối cảnh mới
- Bộ NN&PTNT đã hoàn thành việc rà soát hệ thống RĐD Kết quả đã xác định được
164 khu RĐD, gồm 30 VQG, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 11 khu bảo tồn loài-sinh cảnh, 45khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng thực nghiệm NCKH Tuy nhiên, danh sách này tới naychưa được Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt
- Bộ Thủy sản (cũ) đã quy hoạch hệ thống 45 KBT VNNĐ đến năm 2020 và đã đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt Tuy nhiên, chưa có khu nào được thành lập
- Bộ Thủy sản (cũ) đã quy hoạch hệ thống 16 KBTB đến năm 2020 và đã được Thủtướng Chính phủ phê duyệt vào năm 2010 Cho tới nay 5 trong số các KBTB trong quy hoạchđược duyệt đã có ban quản lý
Ở cấp quốc gia đã hình thành khung thiết chế tổ chức bao gồm: Tổng cục Lâm nghiệp
và Tổng cục Thủy sản (thuộc Bộ NN&PTNT), Tổng cục Môi trường và Tổng cục Biển và Hảiđảo Việt Nam (thuộc Bộ TNMT) Các cơ quan giúp việc cho các cơ quan nói trên về bảo tồncũng được thành lập, như: Vụ Bảo tồn thiên nhiên (Tổng cục Lâm nghiệp); Cục Bảo tồnĐDSH (Tổng cục Môi trường); Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Tổng cục Thủysản) và Cục Quản lý khai thác biển, hải đảo (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam) Các cơquan này có chức năng quản lý nhà nước về hệ thống RĐD, hệ thống KBTB, hệ thống KBTVNNĐ Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa thành lập được một cơ quan đầu mối cấp quốc gia đểquản lý chung các hệ thống KBT; tuy rằng, về bộ máy tổ chức thì riêng biệt nhưng đôi khivẫn còn chồng chéo về chức năng nhiệm vụ, gây ra những khó khăn trong quá trình triển khaithực hiện
b) Đã xây dựng một khung pháp lý, tạo điều kiện cho công tác bảo vệ và quản lý
ĐDSH tại các khu bảo tồn
Các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH đãđược tiến hành theo nhiều hình thức, đa dạng hơn ở các cấp khác nhau, và đã đạt hiệu quả caohơn Các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sảnliên quan đến hệ thống RĐD, hệ thống KBTB, hệ thống KBT VNNĐ đã được ban hành kháđầy đủ Tuy nhiên, dù Luật Đa dạng sinh học đã được ban hành (2008), nhưng còn thiếu cácThông tư liên tịch giữa Bộ TNMT và Bộ NN&PTNT hướng dẫn thi hành
c) Xây d ng k ho ch đ u t dài h n đ i v i vùng đ m; b sung và hoàn thi nế hoạch đầu tư dài hạn đối với vùng đệm; bổ sung và hoàn thiện ạch đầu tư dài hạn đối với vùng đệm; bổ sung và hoàn thiện ầu tư dài hạn đối với vùng đệm; bổ sung và hoàn thiện ư dài hạn đối với vùng đệm; bổ sung và hoàn thiện ạch đầu tư dài hạn đối với vùng đệm; bổ sung và hoàn thiện ối với vùng đệm; bổ sung và hoàn thiện ới vùng đệm; bổ sung và hoàn thiện ệm; bổ sung và hoàn thiện ổ sung và hoàn thiện ệm; bổ sung và hoàn thiệncác c ch , chính sách và mô hình phát tri n t i vùng đ m ơ chế, chính sách và mô hình phát triển tại vùng đệm ế hoạch đầu tư dài hạn đối với vùng đệm; bổ sung và hoàn thiện ển tại vùng đệm ạch đầu tư dài hạn đối với vùng đệm; bổ sung và hoàn thiện ệm; bổ sung và hoàn thiện
d) Đã triển khai nghiên cứu và đề xuất một tổ chức phù hợp để quản lý hệ thống KBT;
xây dựng và ban hành các quy định về cơ cấu tổ chức và quản lý các loại hình KBT, phânhạng; chỉ định một đơn vị đầu mối chịu trách nhiệm quản lý nhà nước thống nhất các hệ thốngKBT ở Việt Nam Tuy vậy, những ý tưởng và kết quả nghiên cứu chưa được triển khai trongthực tế
đ) Phân bổ nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu của kế hoạch hoạt động, quản lý cho các
KBT được quy định trong hệ thống KBT tới năm 2010
Trang 26Cho tới cuối năm 2010 đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nằm tạo điều kiện cải thiệnnguồn tài trợ cho các KBT Nghị định số 117/2010/NĐ-CP và Nghị định số 99/2010/NĐ-CPcủa Chính phủ đã quy định BQL RĐD được tài trợ từ nguồn ngân sách nhà nước hàng năm,doanh thu từ các dịch vụ, chi trả cho dịch vụ môi trường rừng, hỗ trợ từ các dự án hợp tácquốc tế và các nguồn hợp pháp khác Đối với hệ thống KBTB, Quyết định số 742/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ xác định các đơn vị quản lý KBTB phần lớn được tài trợ từngân sách nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức và cá nhân trong nước, quốc tế Đối với hệ thốngKBT VNNĐ, Quyết định số 1479/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ khẳng định BQL sẽđược tài trợ từ ngân sách nhà nước, các hỗ trợ khác từ những tổ chức và cá nhân tham gia vàohoạt động bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản, bảo vệ HST thủy sinh, hỗ trợ từ các tổ chứcquốc tế trong công tác nghiên cứu khoa học và hoạt động đào tạo
Tuy nhiên những quy định về đầu tư và tài trợ cho các KBT nói trên chưa được thựchiện một cách đồng bộ, thường kéo dài dẫn tới giảm hiệu quả chi phí Ước tính tổng ngânsách nhà nước cấp cho các KBT trực thuộc trung ương (Bộ NN&PTNT) là 33,56 trđ/km2/năm, và tổng ngân sách nhà nước cấp cho các KBT trực thuộc tỉnh bình quân là 12,34
tr đ/km2/năm (số liệu 2006)
Một số cơ chế tài trợ được áp dụng đối với các KBT trong giai đoạn 2003-2010, như:Nguồn ngân sách tài trợ thường xuyên từ Nhà nước thông qua phê duyệt của BộNN&PTNT và các địa phương (tổng chi phí thường xuyên trong giai đoạn 2003-2010 là410,6 tỷ đồng); Nguồn chi phí đầu tư do Nhà nước cấp cho các KBT gồm chi phí đầu tưthường xuyên và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (tổng đầu tư của nhà nước trong giai đoạn2003-2010 là 616 tỷ đồng); Nguồn tài trợ từ các chương trình của Nhà nước (Chương trìnhtrồng mới 5 triệu ha rừng, phòng chống cháy rừng, nghiên cứu khoa học, đề án điều tra tổnghợp biển, Ước tính số tiền đầu tư cho các KBT khoảng 40-60 tỷ đồng/năm); Nguồn hỗ trợ
từ những dự án quốc tế cho các KBT (Trong giai đoạn 2003-2010 khoảng 100 đến 120 tỷđồng); Các nguồn đầu tư khác (Quỹ bảo tồn thiên nhiên Việt Nam có tổng vốn là 300 tỷđồng )
e) Tổ chức các khóa đào tạo về điều tra và giám sát ĐDSH tại các KBT; các kỹ năng
về phát triển và quản lý dữ liệu, thu thập, xử lý và bảo quản mẫu vật; tăng cường các kỹ năngquản lý sinh thái thông qua sử dụng những kỹ thuật hiện đại và công cụ hiện trường để quản
lý và phát triển các KBT
Sau 8 năm thực hiện chiến lược 2003 chưa có chương trình quốc gia về giám sát và
đánh giá các KBT và chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu thống nhất về các KBT ở Việt Nam.
Do đó không thể đánh giá hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học của các KBT
Dữ liệu về công tác đào tạo cán bộ không được xây dựng và cập nhật nên không có cơ
sở để đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu đề ra Tới năm 2006 có gần 44% cán bộ của khoảng
36 KBT có bằng đại học, nhưng kỹ năng và chất lượng nghiệp vụ của cán bộ gần như chưađược nâng cao Phần lớn cán bộ được đào tạo về bảo vệ rừng, rất ít cán bộ được đào tạo vềsinh học, du lịch, kinh tế, quản lý, vi tính, ngoại ngữ là những kỹ năng đang ngày càng quantrọng cho việc lập kế hoạch, quản lý hay kiểm tra đánh giá hoạt động của KBT
Năng lực của các cấp nói chung còn yếu, một nửa bị đánh giá là năng lực thấp hoặc rấtthấp Những lĩnh vực năng lực có thế mạnh liên quan tới quản lý các KBT như tuần tra, giámsát trên hiện trường Những kỹ năng yếu nhất liên quan tới đánh giá và bảo tồn ĐDSH, xâydựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch quản lý và kế hoạch tài chính bền vững KBT và pháttriển du lịch sinh thái
f) Tổ chức đào tạo về quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học ở các khu bảo tồn cho những
người chủ chốt trong cộng đồng sống trong khu bảo tồn và ở vùng đệm
Trang 27Trách nhiệm thực hiện quản lý các KBT là các Ban quản lý KBT, nhưng đến nay vẫn
có khoảng 30% KBT không có Ban quản lý do thiếu nhân sự và kinh phí cho hoạt động hànhchính và sự nghiệp Trong thời gian qua, nhiều BQL các khu RĐD khi triển khai kế hoạch 5năm về đầu tư xây dựng cơ bản KBT, quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và ĐDSH tạiKBT đã đưa ra các giải pháp nâng cao nhận thức, thu hút sự tham gia của người dân địaphương, phát triển du lịch sinh thái, thành lập các trung tâm cứu hộ và nuôi dưỡng động vậthoang dã
Các khóa đào tạo về quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học ở các KBT đã hỗ trợ cho đội ngũcán bộ chủ chốt trong cộng đồng và trong khu bảo tồn nâng cao được năng lực và kỹ nănghoạt động, tạo cơ hội để thu hút cộng đồng dân cư địa phương tham gia cùng với KBT Đểtriển khai thực hiện công tác bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả hơn
1.4.2 Những bài học chủ yếu được rút ra từ quá trình 8 năm thực hiện Chiến lược 2003
- Công tác quản lý và giám sát KBT hiệu quả hơn nếu áp dụng cách tiếp cận dựa trênHST chứ không phải là các đơn vị quản trị và hành chính khác nhau
- Sự hợp tác, phối hợp của các bộ, ngành trung ương trong việc soạn thảo các chínhsách, pháp luật về bảo tồn thiên thiên chưa thực sự gắn kết, dẫn tới còn nhiều chính sách mớiban hành chưa đồng bộ về cơ chế quản lý, chưa thống nhất cả khái niệm, chống chéo về chứcnăng nhiệm vụ dẫn tới khó khăn trong quá trình triển khai và lãng phí tiềm năng, nguồn lựccủa quốc gia
- Nhận thức của xã hội và của chính quyền các cấp về ý nghĩa tác dụng, sự cần thiết, vaitrò của bảo tồn đa dạng sinh học, các HST tự nhiên đối với sự phát triển kinh tế xã hội còn rấthạn chế, do đó nhu cầu tăng cường thông tin - giáo dục- tuyên truyền thu hút cộng đồng thamgia vào hoạt động bảo tồn ĐDSH là rất cấp thiết
- Các KBT được thành lập không chỉ để bảo vệ các loài hoang dã mà còn để duy trì cácHST tự nhiên quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân và đại bộ phận người dân Tuy nhiênphần lớn các KBT không có đủ nhân lực và kinh phí để thực hiện những chức năng này
- Áp lực lên các KBT đang ngày càng tăng cao, đặc biệt dân số tăng nhanh, nhu cầu caođối với các sản phẩm nguồn gốc hoang dã trên cả nước và từ các quốc gia láng giềng, biến đổikhí hậu và đe dọa của các loài ngoại lai xâm hại đang gia tăng Vì thế cần phải có biện phápquản lý hiệu quả
- Chi trả dịch vụ môi trường rừng là một tiến bộ đáng kể và có tiềm năng lớn gắn kếtbảo vệ rừng và ĐDSH với những lợi ích kinh tế Tuy nhiên còn nhiều việc cần phải làm để
mở rộng và đưa hệ thống này vào hoạt động
- Phân bổ các nguồn lực (nhân lực, Khoa học, vật tư kỹ thuật, tài chính) cho hệ thống
KBT chưa được quan tâm đúng mức đến công tác bảo tồn, còn dàn trải, thiếu trọng tâm, chưa
thực hiện một cách đồng bộ và thường kéo dài, dẫn tới giảm hiệu quả đầu tư
- Mặc dù đạt được một số thành quả nhưng cần phải gắn kết hơn giữa cộng đồng và cácbên liên quan thông qua hình thành quan hệ đối tác trong công tác quản lý và bảo vệ các KBT
- Thiếu hệ thống giám sát và đánh giá chung, chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu thốngnhất về các KBT ở Việt Nam, đo đó đã gây khó khăn cho việc đánh giá hoạt động của cácKBT hay những thành tựu trong công tác bảo vệ tính đa dạng sinh học
Trang 281.5 Nguy cơ (thách thức) và cơ hội
1.5.1 Nguy cơ (thách thức)
a) Khai thác trái phép và quá mức các nguồn tài nguyên sinh vật
Hầu hết các loài động thực vật hoang dã và quý hiếm có giá trị kinh tế lớn của đấtnước đều ở các khu bảo tồn Hiện tại, hoạt động khai thác trái phép các loài hoang dã (chomục đích thương mại, giải trí hay mưu sinh) đã làm nhiều loài động vật ở Việt Nam đứngtrước nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên và tạo ra những áp lực nghiêm trọng lên các quầnđàn khác Ví dụ, ước tính hiện nay Việt Nam chỉ còn gần 50 con hổ trong tự nhiên Vào năm
2010, Cục Kiểm lâm đã tịch thu hơn 34.000 Kg động vật hoang dã buôn bán trái phép, baogồm 13.000 cá thể động vật Ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, việc khai thác các cây thuốc cógiá trị để xuất khẩu trái phép qua biên giới rất phổ biến Khai thác quá mức các loài thực vậtcũng gây ảnh hưởng tới đời sống của người dân địa phương tại các vùng nông thôn mà rấtnhiều hộ gia đình phải sống phụ thuộc vào lâm sản để sinh tồn
Rừng ở Việt Nam tiếp tục bị khai thác cho các mục đích thương mại và phi thương mại,dẫn tới sự suy giảm nhanh chóng về diện tích và chất lượng, chỉ còn lại một diện tích rất nhỏrừng nguyên sinh (khoảng 0,5 triệu ha, trải dọc từ Tây Nguyên và Bắc Trung bộ) chủ yếu đãđược quy hoạch thành rừng đặc dụng đưa vào bảo tồn Mặc dù các khu RĐD được bảo vệ khánghiêm ngặt, nhưng áp lực đối với những khu rừng này ngày càng tăng Hàng năm, Cục Kiểmlâm tịch thu hàng nghìn mét khối gỗ khai thác trái phép
Hoạt động du lịch phát sinh nhu cầu đối với mặt hàng đồ lưu niệm dẫn tới việc khai tháccác loài động vật hoang dã như rùa biển, sò, hến và san hô ngày càng tăng Đồng thời cũnggây ra những tác động cơ học do việc thả neo trên rạn san hô và những bất cẩn của khách dulịch Theo Võ Sỹ Tuấn (2002), khoảng 10% diện tích RSH ở vịnh Nha Trang bị tác động bởiviệc thả neo, chủ yếu ở những vùng nhiều tàu thuyền neo đậu để khách du lịch bơi và lặn.RSH còn bị ảnh hưởng do việc xả rác từ tàu du lịch và ngư dân Ở vùng rừng, các khu nghỉdưỡng cho khách du lịch mọc lên xung quanh các VQG ngày càng nhiều, dẫn tới mất sinhcảnh; xây dựng đường xá làm xáo động và xáo trộn đời sống của những loài hoang dã
Việc khai thác quá mức các loài thủy sinh đã dẫn tới sự suy giảm năng suất thủy sản vàtổng lượng thủy sản đánh bắt cũng như quần thể các loài cá nước ngọt quý hiếm và có giá trị
Sử dụng các phương thức đánh bắt cá hủy diệt (như dùng chất nổ, thuốc độc, lưới mắt cáo,lưới vét, điện ) và giảm sút diện tích các HST biển-ven biển (mất 40-70% diện tích) đã khiếncho nguồn lợi hải sản ở vùng biển gần bờ có dấu hiệu bị khai thác quá mức: tổng sản lượnghải sản đánh bắt không ngừng tăng, nhưng sản lượng của một đơn vị đánh bắt (hiệu suất khaithác) giảm từ 0,92 xuống 0,34 tấn/CV/năm (2009); tỉ lệ cá tạp trong một mẻ lưới ngày càngtăng Nguồn lợi hải sản có xu hướng giảm dần về trữ lượng, sản lượng và kích thước cá đánhbắt: trong vòng 10 năm (1984-1994) đã giảm tới trên 30% trữ lượng cá đáy Các bãi cá kinh tếsuy giảm sản lượng, năng suất đánh bắt giảm 2-6 lần Một số đặc sản có nguy cơ suy kiệt nhưbào ngư, tu hài, vẹm xanh Ngoài ra, nguồn giống hải sản tự nhiên cũng giảm sút nghiêmtrọng so với trước đây
b) Hệ sinh thái và nơi cư trú của loài bị chia cắt và suy thoái do thay đổi mục đích
sử dụng đất, mặt nước
- Trong thời gian 36 năm, từ năm 1975 đến năm 2011 dân số Việt Nam tăng từ 47,6triệu người lên 87,84 triệu người; Với sự gia tăng dân số bình quân mỗi năm thêm hơn 1,1triệu người, đã phát sinh nhu cầu lớn về lương thực thực phẩm và các sản phẩm có nguồn gốc
từ Nông - lâm sản, do đó dẫn tới nhu cầu mạnh mẽ phải chuyển đổi đất rừng sang sử dụng chonhu cầu về đất ở, đất trồng cây công nghiệp, cây lương thực thực phẩm là một trong cácnguyên nhân chính gây nên mất rừng tự nhiên; Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX về trước
Trang 29nhiều vùng đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh trung du miền núiphía Bắc, Tây nguyên, vẫn tồn tại những trảng cỏ tự nhiên, và các cánh rừng đại ngàn, rừngđất ngập nước; ngày nay phần lớn những đồng cỏ tự nhiên và nhiều diện tích rừng đại ngànđều bị cải tạo chuyển đổi thành vùng trồng lúa, vùng trồng cây công nghiệp Việc mất đấtrừng, suy giảm về số lượng và chất lượng rừng đã kéo theo những hệ lụy nặng nề đối với bảotồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái tự nhiên bị xâm hại, thay đổi, làm cho những nơi cư trúcủa các loài bị chia cắt là những nguy cơ thách thức lới đối với công tác bảo tồn.
Theo Viện Tài nguyên thế giới (2002, 2008), khoảng 80% tài sản vô giá của biển ViệtNam như các HST RSH, RNM và thảm cỏ biển đang nằm trong tình trạng rủi ro và 50% trong
số chúng được cảnh báo là rủi ro cao Trong 50 năm vừa qua, dải ven biển Việt Nam đã mất
đi khoảng 80% RNM, chủ yếu chuyển mục đích sang nuôi tôm Hơn 60% thảm cỏ biển đã bịmất do khai thác quá mức hoặc do nuôi trồng thủy sản Trồng RNM ở những bãi triều lầy đãgây tác động nghiêm trọng đến sinh cảnh và nơi kiếm ăn của rất nhiều loài chim di cư như Cò
thìa (Ptelea minor)
Khảo sát gần đây đối với khoảng 20 rạn san hô dọc bờ biển Việt Nam cho thấy tỷ lệ cácRSH sống ở miền bắc Việt Nam đã giảm khoảng 25-50% và theo tiêu chí của IUCN về RSHchỉ khoảng 1% các RSH được khảo sát tại miền Nam Việt Nam là còn ở trong tình trạng rấttốt
- Thực hiện các mục tiêu thúc đẩy tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao, và chuyển hướng mụctiêu chiến lược của nền kinh tế sang sản xuất, xuất khẩu đã phát sinh nhu cầu chuyển mụcđích sử dụng đất lâm nghiệp, đất đồng cỏ tự nhiên, mặt nước hồ, ao, đầm, phá để phục vụ choviệc phát triển các khu công nghiệp ( Nhà máy, công xưởng, ngành điện, cơ sở hạ tầng giaothông, khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng ) và cho nhu cầu xây dựng các các khu dân
cư, mở rộng và xây dựng mới các khu đô thị, gây ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới cácsinh cảnh tự nhiên; chia cắt nhiều VQG và khu dự trữ thiên nhiên, cản trở sự phân bố và dichuyển của các loài hoang dã, đồng thời tạo ra các điều kiện thuận lợi cho những mạng lướibuôn bán động thực vật hoang dã khi mở những tuyến đường giao thông chạy qua các KBT
- Các hoạt động khai thác có ý thức và vô ý thức của con người đối với các nguồn tàinguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học (khai thác hầm mỏ, khai thác cát, khai thác mật ong, đốt
gỗ lấy than, làm thủy điên, du canh ), gây ra những vụ cháy rừng, hoặc nhấn chìm xuốnglòng hồ hàng ngàn hecta rừng mỗi năm, gây hậu quả nghiêm trọng lên sinh cảnh sống và cácquần thể của các HST rừng Theo Cục Kiểm lâm, trong giai đoạn 2006-2009, diện tích rừng bịcháy trên cả nước bình quân là 1.400ha/năm Vụ cháy rừng lớn tại VQG Hoàng Liên, tỉnh LàoCai năm 2010 đã thiêu rụi khoảng 200 ha rừng và 700 ha cây bụi Những vụ cháy rừng ởVQG Tràm Chim ở đồng bằng sông Cửu Long vào tháng 4/2010 đã thiêu rụi 200 ha rừng, đedọa tới nơi sinh cư của loài sếu đầu đỏ
c) Ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu:
Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã gây ra những ảnhhưởng nghiêm trọng tới chất lượng nguồn nước, đặc biệt là ở các con sông hạ du, những vùngđất ngập nước và vùng duyên hải
Chất thải từ sản xuất công nghiệp và từ các khu đô thị, chưa được xử lý, không đượckiểm soát, đang xả vào các sông và hồ và môi trường tự nhiên Việc sử dụng quá mức các hóachất nông nghiệp cũng góp phần làm suy giảm các hệ sinh thái quan trọng và những quần thểloài quý hiếm và có tầm quan trọng về mặt kinh tế gây ra những tác động tiêu cực trong trung
và dài hạn Các nguồn ô nhiễm từ đất liền chiếm đến 60% chất gây ô nhiễm ở vùng cửa sông,ven biển và biển Ô nhiễm đã làm thay đổi các sinh cảnh sống trong HST, ảnh hưởng tới chấtlượng của các loài thủy sinh và sinh sống ven biển cũng như sinh cảnh sống của chúng
Trang 30Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất bởi biến đổi khí hậutrái đất đã gây ra những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như: nóng – lạnh bất thường, mưabão, lũ lụt, lũ quét, hạn hán sa mạc hóa, xói lở đất diến ra hàng năm với tần suất ngày càngdồn dập và và quy mô cường độ ngày càng khủng khiếp có thể gây ra những thản họa cướp đisinh mạng của rất nhiều người, tán phá các công trình kinh tế - văn hóa xã hội được tích lũyxây dựng từ nhiều thế hệ; đồng thời gây ra những thảm họa về môi trường, hủy diệt nhữngsinh cảnh sống, các quần thể sinh vật quan trọng và các hệ sinh thái trên đất liền; tác động đặcbiệt nguy hiểm đối với các HST rạn san hô như: gây tổn thất cơ học, lắng phủ bùn lên một sốrạn và mưa lớn làm giảm độ mặn của nước dọc vùng biển ven bờ.
- Biến đổi khí hậu làm cho mực nước biển dâng cao sẽ ảnh hưởng tới các vùng đất ngậpnước ven biển, gây ra sự di chuyển và thay đổi sinh cảnh sống và nguồn thức ăn khiến nhiềuloài động thực vật hoang dã sẽ chịu áp lực ngày càng tăng Các HST bị cô lập và chia cắt vớicác quần thể là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất; đặc biệt đối với các khu rừng ngậpmặn dễ bị tổn thương ở Cà Mau, Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh), Bà Rịa-Vũng Tàu vàNam Định Khi nước biển dâng cao, khoảng một nửa trong số 68 vùng đất ngập nước sẽ bịảnh hưởng nghiêm trọng; nước mặn sẽ tràn vào những vùng đất thấp ven biển, làm chết nhiềuloài động thực vật nước ngọt, ảnh hưởng tới các nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và tưới tiêu ởnhiều vùng ven biển Khoảng 36 KBT, gồm 8 VQG và 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ bị ngậpnước biển
d) Sự du nhập của các loài ngoại lai xâm hại
Đến nay, vẫn chưa có một đánh giá tổng hợp về các loài ngoại lai xâm hại tại Việt Nam.Tuy nhiên, sự quan ngại về nguy cơ gây hại cho ĐDSH, sức khỏe con người và nền kinh tếcủa các loài ngoại lai xâm hại ngày càng tăng
Theo thống kê, hiện nay có khoảng 94 loài thực vật ngoại lai di nhập vào Việt Nam,trong đó có 42 loài xâm hại, 12 loài xâm hại điển hình và đang phát triển nhanh như Bèo
Nhật bản (Eichhornia crassipes) và cây Mai dương lần đầu tiên được phát hiện tại VQG Tràm
Chim (tỉnh Đồng Tháp) năm 1995, nay xâm nhập gần như khắp nơi và đã trở thành một nguy
cơ lớn tại nhiều vùng đất ngập nước trong toàn quốc
Năm 2009, Bộ NN&PTNT đã công bố danh sách 48 loài động vật thuỷ sinh ngoại lai đãxâm nhập vào Việt Nam qua nhiều đường, trong đó có 14 loài gây hại đối với ĐDSH thuỷsản Năm 2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố Danh mục các loài ngoại lai xâmhại với 33 loài ngoại lai xâm hại đã biết và 69 loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại
c) Chưa nhân thức đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của Đa dạng sinh học
và môi trường trong việc phát phát triển kinh tễ xã hội của đất nước
Hơn 20 năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã tập trung ưu tiên phát triển kinh tế và đãgiúp nền kinh tế tăng trưởng nhanh (tốc độ tăng trưởng GDP trên 5%/năm từ năm 1994) Tuynhiên, Trong quá trình xây dựng các chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội, vấn
đề môi trường và đánh giá tác động môi trường của các chương trình, đề án này đã bị xemnhẹ, hầu hết không được xét duyệt một cách cẩn trọng và đúng mức vì vậy khi triển khai thựcthiện đã nảy sinh các hậu quả là: không có các giải pháp bảo vệ, xử lý môi trường kèm theo;các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học bị khai thác thiếu kế hoạch và không bềnvững (chưa đánh giá được hết sự lãng phí và không hiệu quả), môi trường và các hệ sinh thái
tự nhiên bị hủy hoại nghiêm trọng theo chiều tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng kinh tế; nhiềudòng sông, nhiều đầm phá bị biến thành nơi chứa các nguồn chất thải công nghiệp nên các hệsinh thái ở các khu vực này bị bức tử Để phục hồi lại môi trường và các hệ sinh thái tại cáckhu vực này phải tiêu tốn rất nhiều thời gian và tiền của, là cái giá phải trả trong tương laigần
Trang 31Các giá trị của HST tự nhiên, đa dạng sinh học là vô cùng quý giá, riêng giá trị dịch vụmôi trường rừng (DVMTR) ước tính có thể đem lại hàng trăm triệu USD mỗi năm, nhưngviệc nhận thức chung của xã hội về ý nghĩa và giá trị của các dịch vụ này hầu như vẫn chưađầy đủ, nên chưa được công nhận và phản ánh vào hệ thống kế toán, tài chính, chưa hìnhthành một hệ thống giám sát đánh giá trong nền kinh tế quốc dân Chưa phát triển mạnh mẽcác công cụ (chính sách) kinh tế như DVMTR (PFES), DVHST hoặc áp dụng công cụ quản lýmới theo hướng phát triển bền vững (ABS) Việc triển khai các phương thức, giải pháp bảotồn ĐDSH trong hệ thống các KBT còn rất thiếu, thiên về công tác bảo vệ hơn là bảo tồnĐDSH; đặc biệt là các giải pháp bảo tồn ĐDSH dựa trên cộng đồng, tiếp cận nguồn gen, chia
sẻ lợi ích thu được từ ÐDSH, đồng quản lý, chưa được quan tâm thích đáng
Công tác quản lý bảo tồn còn nhiều bất cập, chưa có một thể chế điều phối thống nhất
về bảo tồn ĐDSH Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo tồn ĐDSH được chia sẻ giữa BộNN&PTNT, Bộ TN&MT và UBND các tỉnh còn chồng chéo và mâu thuẫn; thiếu sự phối hợpchặt chẽ giữa các cấp, các ngành, đặc biệt là giữa cấp chính quyến cơ sở với KBT Trong xãhội, ý thức về bảo tồn và nhận thức giá trị thực sự của ĐDSH còn hạn chế, kể cả đối với một
số nhà hoạch định chính sách cấp cao Hệ thống pháp luật, chính sách còn bất cập, thiếu vănbản hướng dẫn Trong một số trường hợp, quy định trong nhiều chính sách và luật còn chồngchéo về trách nhiệm, thiếu rõ ràng và có khi dẫn đến những mâu thuẫn Đặc biệt, hiệu quảthực thi pháp luật chưa cao, nên công tác quản lý nhà nước về bảo tồn ĐDSH chưa đáp ứngyêu cầu thực tế. Lực lượng làm công tác bảo tồn nói chung, ở KBT nói riêng còn thiếu về số
lượng và yếu về năng lực, chưa đủ trang thiết bị cần thiết
1.5.2 Thuận lợi (cơ hội)
a) Chủ trương định hướng.
Nhà nước đã quan tâm đến công tác Bảo tồn, trong điều kiện các nguồn lực còn hạn chếnhưng Nhà nước đã chú trọng ưu tiên giành những khoản đầu tư thỏa đáng đến việc thành lập,phát triển và quản lý hệ thống KBT, tạo ra những điều kiện cho hệ thống KBT phát huy có hiệuquả chức năng bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, đóng góp cho sựphát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trên cơ sở Luật bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Luật Đa dạng sinh học (2008), vàcác văn bản pháp luật liên quan, đã hình thành khái niệm về khu bảo tồn “là một khu vực địa
lý, có các hệ sinh thái đặc trưng tiêu biểu cho vùng sinh thái tự nhiên, được quy hoạch, xácđịnh ranh giới, có các phân khu chức năng dành cho bảo tồn đa dạng sinh học”; đồng thời, đãhình thành một hệ thống tiêu chí phân hạng các KBT, đã được phân thành 04 hạng KBT,gồm: Vườn Quốc gia, Khu Dự trữ thiên nhiên, Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh và Khu bảo vệcảnh quan
b) Tổ chức các hệ thống KBT
Nỗ lực của Việt Nam trong việc tổ chức hệ thống các KBT đã được thể hiện trên những
văn bản quy phạm pháp Luật Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004) quy định: Nhà nước quản
lý các khu RĐD là loại rừng được sử dụng cho những mục đích đặc biệt, chủ yếu là bảo tồn
đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên và nghiên cứu khoa học; Luật Thủy sản (2003) quy
định quản lý nhà nước về quy hoạch và quản lý các KBT VNNĐ và KBTB (Điều 9) Luật nàyquy định Bộ Thủy sản nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có chức năng, nhiệm
vụ quản lý nhà nước về thủy sản trên phạm vi cả nước (Điều 52); Luật Đất đai (2003) quy
định quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai được phân loại đất theo mục đích sử dụng, trong đó
“Đất rừng đặc dụng” thuộc Nhóm đất nông nghiệp; còn “Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và
Trang 32mặt nước chuyên dùng” thuộc Nhóm đất phi nông nghiệp (Điều 13); Luật Đa dạng sinh học
(2008) quy định quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học Trong
đó quy định việc thành lập, quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Mục 1, Chương III) Luật nàyquy định Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về đa dạngsinh học trên phạm vi cả nước (Điều 6) Bộ Tài nguyên và Môi trường còn được giao quản lýnhà nước về đất ngập nước
Đến nay, ở Việt Nam đã hình thành 03 hệ thống KBT được thành lập ở cấp quốc gialà: hệ thống các KBT rừng đặc dụng (theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004), hệ thống cácKBT biển (theo Nghị định số 27/2005/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Luật Thủy sản 2003), hệthống KBT vùng nước nội địa (theo Luật Thủy sản, 2003)
Hệ thống các khu bảo tồn đất ngập nước (theo Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày23/09/2003 và Nghị định 65/2010/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2010) đến nay chưa được quyhoạch và thành lập trên thực tế
Các hệ thống KBT trên đây sẽ là những mô hình thực tế để tổng kết kinh nghiệm, tiếntới thành lập một hệ thống KBT thống nhất, có khả năng tập trung các nguồn lực để thực hiệncông tác bảo tồn hiệu quả
Nguồn nhân lực trong KBT
Các hệ thống KBT đã xây dựng, tổ chức được đội ngũ cán bộ viên chức gần 5.000người, trong đó: riêng 27 Vườn quốc gia có đội ngũ cán bộ nhân viên khoảng 2.880 người(khoảng 1.840 người ở các KBT RĐD), số còn lại thuộc các KBTB đang có hoạt động quản
lý (Các KBT VNNĐ chưa được thành lập và đưa vào hoạt động nên hiện chưa có cán bộ làmviệc, ngoại trừ những khu nằm trong các khu RĐD) Đội ngũ cán bộ nhân viên này là nguồnnhân lực quan trọng, đảm bảo cho việc quản lý và hoạt động của hệ thống các KBT hiện nayđồng thời cũng là nguồn nhân lực chủ yếu để đào tạo bối dưỡng các kỹ năng, kiến thực vềchuyên môn nghiệp vụ của công tác bảo tồn đa dạng sinh học, đáp ứng cho nhu cầu quản lýbaot tồn đa dạng sinh học của các hệ thống KBT trong giai đoạn mới
c) Sự mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế
Việt Nam đã tích cực tham gia và cam kết thực hiện các công ước và hiệp ước quốc tếliên quan tới bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học Chính phủ đã phân công cho Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì thực hiện Công ước quốc tế về buôn bán các loại động,thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) (1979); Công ước Chống sa mạc hóa của Liên hiệp quốc(1992); Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì thực hiện 04 cam kết quốc tế là: Công ước đadạng sinh học (1992), Công ước về đa dạng sinh học năm 2004; Công ước về các vùng đấtngập nước có tầm quan trọng quốc tế (Công ước Ramsar, 1971); Dự thảo Cartagena về Antoàn sinh học (2003); Ủy ban UNESCO Việt Nam chủ trì thực hiện 01 cam kết là Công ước
về Di sản thế giới (1972)
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên ở nước ta đã đạt đượcnhiều kết quả và có sự chuyển biến về chất; nhiều tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vựcbảo tồn có văn phòng hoạt động tại Việt Nam, như: WB, ADB, GTZ (GIZ), Winrock, IUCN,UNDP, GEF, WWF, FFI, Carier, EU SIDA,FFI, FAO, NOAA, Hà Lan, Pháp, PEMSEA,COBSEA, UNESCO, Hoạt động của các tổ chức quốc tế đã bám sát được các thay đổi vềhoạt động bảo tồn tại các vùng trọng điểm của Việt Nam đặc biệt đã hướng các mục tiêu tàitrợ giúp đỡ đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn sâu về khoa học kỹ thuật, ngoại ngữ, kỹ nănghoạt động hiện trường, vận dụng các giải pháp bảo tồn ĐDSH dựa trên cộng đồng, tiếp cậnnguồn gen, chia sẻ lợi ích thu được từ ÐDSH, đồng quản lý ; Hoạt động hợp tác quốc tế đãgiúp cho các KBT có được đội ngũ cán bộ có trình độ và năng lực tốt hơn như các VQG: CúcPhương, Ba Vì, Bạch Mã, Cát Tiên
1.6 Những vấn đề cần thực hiện trong giai đoạn chiến lược tới.
Trang 33Trong thời gian qua, công tác bảo tồn đa dạng sinh học đã thu được nhiều kết quả quantrọng, hệ thống các KBT rừng, biển, đất ngập nước và vùng nước nội địa đã được xác lập vàdần đi vào quản lý ổn định Tuy nhiên, để giải quyết các thách thức, tháo gỡ các khó khăn đãnói trên, để công tác bảo tồn thiên nhiên trong thời gian tới được tiến hành có hiệu quả tốthơn, một số vấn đề sau cần được tập trung giải quyết:
- Quy hoạch, xây dựng hệ thống KBTTN quốc gia thống nhất, bao gồm: hệ thống rừngđặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn đất ngập nước và vùng nước nội địa
- Xây dựng và từng bước hoàn thiện khung pháp lý về quản lý hệ thống KBTTN quốcgia Đồng thời chú trọng xây dựng các thể chế thứ yếu cụ thể hơn liên quan tới tổ chức vàquản lý các KBTTN, như: KBTB, KBT VNNĐ Thí dụ, hiện nay chưa có quy định nào vềthay đổi phân loại, giải thể, kiểm tra, giám sát các KBTB và KBT VNNĐ
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ quan quản lý các KBTTN quốc gia từ Trungương xuống địa phương
- Xây dựng, đổi mới cơ chế đầu tư, cung cấp tài chính ổn định cho các KBTTN quốcgia Mở rộng hệ thống chi trả các dịch vụ môi trường cho các KBTB dựa trên kinh nghiệmcủa các khu RĐD và chú trọng các đặc tính độc đáo của HST biển
- Do nhu cầu ngày càng cao đối với các nguồn tài nguyên biển và mặc dù mục tiêuchính của hệ thống KBTB là bảo tồn ĐDSH, nhưng vẫn cần xây dựng các biện pháp quản lýđối với việc sử dụng bền vững và hợp lý những giá trị mà ĐDSH biển mang lại cho con người
và cho nền kinh tế biển
- Thành lập và đưa vào hoạt động hệ thống các KBT VNNĐ Quy hoạch chi tiết giaiđoạn 2009-2011 đã được thực hiện, sau thời điểm này cần tiếp tục thành lập các KBT VNNĐtheo kế hoạch đã được Chính phủ thông qua
- Xây dựng các tiêu chí rõ ràng được quy định pháp lý đối với việc xác định phân khuchức năng của KBTB, KBT VNNĐ và RĐD theo cách thống nhất Đảm bảo đầu tư nhiều hơnvào hoạt động giám sát các HST và các loài nguy cấp trong KBTTN, đặc biệt trong bối cảnhbiến đổi khí hậu
- Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực cho các KBTTN quốc gia với các hìnhthức đa dạng và lồng ghép với vấn đề giới
- Thực hiện tốt công tác thông tin, giáo dục, truyền thông và thu hút cộng đồng tham giacông tác bảo tồn thiên nhiên, ĐDSH Tiếp tục tăng cường công tác quản lý có sự tham gia củacộng đồng và dựa vào HST cũng như phương thức chia sẻ lợi ích, đặc biệt với các hoạt độngliên quan tới du lịch, giải trí và nghiên cứu khoa học trong các KBTTN
- Thiết lập các cơ chế quản lý liên tỉnh đối với KBT VNNĐ nằm trên địa giới hànhchính của hai tỉnh trở lên
- Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên
- Cải thiện công tác quản lý du lịch trong các KBTTN hướng tới du lịch bền vững
PHẦN 2 QUAN ĐIỂM, TẦM NHÌN VÀ MỤC TIÊU CHIEN LƯỢC
1.1 Quan điểm Chiến lược
2.1.1 Các khu bảo tồn của Việt Nam là tài sản vô cùng quý giá, và có tầm quan trọng quốc gia
và toàn cầu; là đại diện cho các HST điển hình của các vùng khác nhau trên cả nước; Có chức
Trang 34năng bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, là những nguồn lực tạo nền tảng bềnvững, đảm bảo cho sự phát triển kinh tế xã hội và trường tồn của đất nước
2.1.2 Chiến lược Quản lý hệ thống KBT phải phù hợp với Chiến lược của các ngành liên quan(về phát triển kinh tế - Văn hóa - xã hội - môi trường - đa dạng sinh học) của quốc gia tới năm
2020 và tầm nhìn tới năm 2030 Đồng thời phải được lồng ghép trong các chính sách, luậtpháp, các Chương trình mục tiêu, ưu tiên của Nhà nước cho phát triển kinh tế xã hội
2.1.3 Phải bảo đảm quản lý hệ thống KBT được áp dụng các phương thức xã hội hóa, thựchiện các giải pháp bảo tồn ĐDSH của KBT có sự tham gia của cộng đồng, quản lý khai thácbền vững (tiếp cận nguồn gen, chia sẻ lợi ích thu từ DVHST, DVMTR, đồng quản lý, ); ưutiên mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế
2.1.4 Phải đạt được một cơ chế điều hành quản lý thống nhất đối với hệ thống KBT, áp dụngcác tiêu chí phân loại, phân hạng chung; các quy chế, quy tắc, biện pháp quản lý trong việcquy hoạch, quản trị, kiểm tra giám sát và báo cáo đối với các KBT theo các HST (Rừng, Biển,Đất NN)
2.1.5 Nhà nước đảm bảo việc cung cấp các nguồn lực (về nhân lực, kỹ thuật, vật tư và tàichính) cho việc thực hiện hiệu quả về quy hoạch, tổ chức, đầu tư và quản lý hệ thống khu bảotồn Đồng thời Nhà nước tạo điều kiện huy động các nguồn lực khác để tham gia quản lý, khaithác bền vững tài nguyên ĐDSH thuộc hệ thống KBT
2.2 Tầm nhìn tới năm 2030.
Đến năm 2030, Các hệ thống KBT được sáp nhập thành một Hệ thống KBT chung Được quyhoạch, xác định rõ ràng về quy mô diện tích và ranh giới (trên cạn, trên Biển và vùng nước nội địa), được vẽ trên bản đồ và cắm mốc, phao ranh giới rõ ràng trên hiện trường (thực địa)
Có đủ điều kiện để bảo tồn vững chắc các di sản tự nhiên, các hệ sinh thái và tài nguyên đa dạng sinh học của Việt Nam Phải được bảo vệ, bảo tồn, quản lý thống nhất theo các công cụ pháp lý thống nhất và toàn diện về quy hoạch, tổ chức, đầu tư, quản lý và sử dụng hiệu quả
2.3 Các mục tiêu của chiến lược (tới năm 2020)
2.3.1 Mục tiêu một (thiết lập hệ thống khu bảo tồn tăng diện tích, tỷ lệ bao phủ và
điều kiện của hệ thống, bảo tồn để quản lý có hiệu quả các hệ sinh thái, loài, nguồn gen thuộc
hệ thống KBT)
Thiết lập một tổ chức bộ máy hệ thống KBT chung; thống nhất quản lý, chỉ đạo hoạtđộng của các khu bảo tồn thuộc các HST (Rừng, Biển, Đất NN NĐ) để đáp ứng nhu cầu bảo
tồn các hệ sinh thái, tài nguyên đa dạng sinh học tại Việt Nam Quy hoạch, xác ranh giới, cắm
mốc ổn định trên bản đồ, trên thực địa và tăng quy mô diện tích hệ thống KBT ít nhất bằng10% diện tích lãnh thổ trên cạn và 0,24% diện tích vùng biển Việt Nam, bao gồm các vùngđại diện thuộc các HST (rừng, biển, đất ngập nước, đảo và ven biển), đặc biệt là những vùng
có tầm quan trọng về bảo tồn đa dạng sinh học; duy trì sinh cảnh của các loài quý hiếm điển
hình và có tầm quan trọng đối với nền kinh tế Nâng cao chất lượng hệ thống các KBTTN,
đặc biệt chú trọng tăng số lượng và nâng cao chất lượng đối với các KBTTN được công nhậncác danh hiệu Quốc tế (Ramsar; Khu dự trữ sinh quyển, di sản thiên nhiên Thế giới ); Tăng
số lượng cho: 6 khu Ramsar, 2 khu Dự trữ sinh quyển, 3 khu Di sản thiên nhiên Thế giới, 6
khu Di sản ASEAN Ngăn chặn hiệu quả các loài ngoại lai xâm hại và ngăn chặn sự tuyệt
chủng của các loài có tầm quan trọng về bảo tồn; tăng cường cải thiện hiệu quả các hoạt động
bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm Cung cấp các DVHST; thực hiện có hiệu quả chính
Trang 35sách CTDVMTR và được vận dụng, nghiên cứu, áp dụng cho các HSTB và HST ĐNN; gópphần thích nghi, giảm thiểu biến đổi khí hậu.
2.3.2 Mục tiêu hai Cơ sở pháp lý
Đến năm 2020, các văn bản luật pháp, chính sách và những quy định về quy chế, thểchế liên quan tới công tác quản lý hệ thống KBTTN được sửa đổi hoàn thiện thành các công
cụ pháp lý thống nhất và toàn diện (về quy hoạch, tổ chức, đầu tư, quản lý); được cập nhật, sửdụng hiệu quả và phù hợp, hài hòa với các luật và chính sách ở các lĩnh vực khác về đất đai,tài nguyên nước, tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế, đảm bảo việc thành lập, bảo vệ
quản lý và sử dụng hiệu quả hệ thống khu bảo tồn Các định nghĩa, các tiêu chí phân hạng,
phân loại đối với các KBT theo các HST (Rừng, Biển, Đất NN) sẽ được xác định hoàn
thiện, thống nhất và được phổ cập trong tất cả văn bản pháp lý liên quan.
2.3.3 Mục tiêu ba Quản lý và quản trị (cơ chế điều hành)
Đến năm 2020, hệ thống KBT phải được quản lý và quản trị bởi các cơ quan chuyên
trách nằm trong một hệ thống tổ chức thống nhất Tất cả các KBT trong hệ thống KBT TN
Việt Nam được áp dụng quy định chung về các tiêu chí phân hạng, phân loại, quy hoạch,
kiểm tra và chế độ báo cáo định kỳ theo mẫu chuẩn Đảm bảo rằng cơ sở dữ liệu thông tin sẽ được thành lập, duy trì cập nhật thông suốt Các cơ chế điều hành (Vị trí công tác, phân cấp
quản lý điều hành, tự chủ), quản lý, quản trị KBTTN được áp dụng chính thức và thống nhất
trong hệ thống KBT Có sự tham gia của người dân địa phương trong việc quản lý hệ thống
KBT; khai thác, bảo vệ và sử dụng những kiến thức, kinh nghiệm và tập quán, văn hóa củađịa phương vào công tác bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đa dạng sinh họcthuộc KBT cho lợi ích cộng đồng; góp phần thực hiện chính sách Luật pháp của Nhà nước vàcác cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia về xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống chođồng bảo dân tộc bản địa
2.3.4 Mục tiêu bốn Các nguồn lực tài chính
Đến năm 2020, tất cả các khu bảo tồn đều được tiếp nhận nguồn lực tài chính phù hợpvới điều kiện thực tế; được Nhà nước bảo đảm cung cấp các nguồn lực (nhân lực, tài chính,vật tư thiết bị, khoa học kỹ thuật, chính sách luật pháp ) để thực hiện trách nhiệm pháp lýnhằm quản lý hiệu quả hệ thống KBTTN Đồng thời với nguồn kinh phí đầu tư tài trợ từ ngânsách Nhà nước, hệ tống KBT TN còn được tiếp nhận các nguồn tài trợ khác như: tài trợ từ cácnguồn thu nhập tại địa phương, chi trả dịch vụ hệ sinh thái và thông qua hợp tác quốc tế
Các hoạt động DVHST, VDMTR (PFES) được áp dụng triển khai trên tất cả các HST(Rừng, biển, đất ngập nước nội địa ) trong toàn hệ thống KBTH, đạt được nguồn thu mạnh
mẽ hợp pháp và thống suốt để quản lý hệ thống KBT hiệu quả nhất
2.3.5 Mục tiêu 5 chia sẻ lợi ích từ KBT
Đến năm 2020, Hệ thống các KBT có đóng góp hiệu quả vào việc thực thi các chínhsách kinh tế xã hội của nhà nước, trong công tác hỗ trợ và tạo ra sinh kế, cải thiện điều kiệnsống về kinh tế - văn hóa, bình đẳng giới đối với người dân tại địa phương; đặc biệt đối với