1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020

134 351 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

7 CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT Thuật ngữ viết tắt Thuật ngữ tiếng Anh Diễn giải AIS Automatic Identification System Hệ thống nhận dạng tự động ASP Application Service Provider Nhà cung cấp d

Trang 1

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

CỤC HÀNG HẢI VIỆT NAM

-o0o -

BÁO CÁO CUỐI KỲ

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN

HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020

Trang 2

2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 6

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT 7

I TỔNG QUAN 11

I.1 Tổng quan về vùng biển đảo Việt Nam 11

I.2 Sự cần thiết xây dựng quy hoạch cho ngành Hàng hải 13

I.3 Các căn cứ xây dựng quy hoạch 14

I.4 Nguyên tắc xây dựng quy hoạch 18

I.5 Mục tiêu xây dựng quy hoạch 18

I.6 Phạm vi quy hoạch 19

I.7 Đối tượng quy hoạch 20

II HIỆN TRẠNG 21

II.1 Hiện trạng hệ thống thông tin duyên hải 21

II.1.1 Hiện trạng hạ tầng 21

II.1.2 Hiện trạng các dịch vụ thông tin trên biển: 39

II.1.3 Hiện trạng tai nạn hàng hải: 46

II.2 Hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin của ngành hàng hải: 48

II.2.1 Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật: 48

II.2.2 Các hệ thống thông tin và CSDL lớn 50

II.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ cơ quan nhà nước trong ngành hàng hải 50

II.2.4 Ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp 55

II.2.5 Đánh giá nguồn nhân lực CNTT hàng hải: 56

II.2.6 Đánh giá sự phối hợp chuyên ngành giữa cơ quan quản lý nhà nước ngành Hàng hải và các ngành khác về CNTT 57

II.2.7 Hiện trạng ứng dụng CNTT tại các doanh nghiệp trong ngành Hàng hải 57

II.2.8 Đánh giá chung về hiện trạng ứng dụng CNTT trong ngành Hàng hải 59

II.3 Đánh giá các tồn tại trong cơ chế chính sách đối với lĩnh vực thông tin duyên hải và công nghệ thông tin ngành hàng hải 60

III DỰ BÁO XU HƯỚNG VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 61

III.1 Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam 61

III.2 Định hướng phát triển kinh tế cảng biển 63

III.3 Kinh tế VTB 64

III.4 Khai thác nguồn lợi hải sản 65

IV XU HƯỚNG CÔNG NGHỆ VÀ DỰ BÁO 69

IV.1 Xu hướng các công nghệ sử dụng trong thông tin hàng hải: 69

Trang 3

3

IV.1.1 Xu hướng phát triển hệ thống thông tin sóng vô tuyến điện 69

IV.1.2 Xu hướng phát triển hệ thống thông tin vệ tinh Inmarsat 70

IV.1.3 Xu hướng phát triển hệ thống thông tin vệ tinh Cospas Sarsat 71

IV.2 Kinh nghiệm triển khai các hệ thống thông tin hàng hải trên thế giới 72

IV.2.1 Kinh nghiệm triển khai LRIT quốc tế 72

IV.2.2 Kinh nghiệm triển khai AIS quốc tế 75

IV.2.3 Kinh nghiệm triển khai VTS quốc tế 81

IV.2.4 Các quy định quốc tế liên quan đến triển khai VTS, LRIT, AIS: 81

IV.3 Xu hướng ứng dụng CNTT 82

IV.3.1 Điện toán đám mây 82

IV.3.2 Xu hướng về chính phủ điện tử 83

IV.3.3 Thương mại điện tử và chứng thực điện tử 88

IV.3.4 Xu hướng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực công nghệ thông tin 90

IV.3.5 Định hướng phát triển CNTT tại Việt Nam 94

IV.4 Dự báo xu hướng phát triển của hệ thống TTDH và CNTT Hàng hải 94

V QUAN ĐIỂM QUY HOẠCH 96

VI MỤC TIÊU QUY HOẠCH 97

VI.1 Mục tiêu chung: 97

VI.2 Mục tiêu cụ thể: 97

VI.2.1 Mục tiêu phát triển hệ thống thông tin duyên hải: 97

VI.2.2 Mục tiêu phát triển công nghệ thông tin ngành hàng hải 98

VII NỘI DUNG QUY HOẠCH 99

VII.1 Nội dung phát triển hệ thống thông tin duyên hải 99

VII.1.1 Phát triển hạ tầng hệ thống thông tin duyên hải 99

VII.1.2 Phát triển các dịch vụ thông tin trên biển 100

VII.1.3 Phát triển nguồn nhân lực 100

VII.1.4 Định hướng lĩnh vực pháp chế và hợp tác quốc tế 100

VII.2 Nội dung phát triển công nghệ thông tin ngành hàng hải 101

VII.2.1 Phát triển hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin 101

VII.2.2 Xây dựng các cơ sở dữ liệu lớn 101

VII.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp 101

VII.2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác điều hành, quản lý 102

VII.3 Các dự án ưu tiên đầu tư 102

VII.3.1 Các dự án phát triển hệ thống TTDH: 105

VII.3.2 Các dự án liên quan đến ứng dụng CNTT ngành hàng hải: 106

VIII CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH 108

VIII.1 Các giải pháp về cơ chế chính sách 108

VIII.2 Các giải pháp về khoa học - công nghệ 108

Trang 4

4

VIII.3 Các giải pháp về tài chính 108

VIII.4 Các giải pháp về nguồn nhân lực 109

VIII.5 Giải pháp về hợp tác quốc tế 109

IX ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 110

X TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH 112

X.1 Bộ Giao thông vận tải 112

X.2 Bộ Kế hoạch và Đầu tư 112

X.3 Bộ Tài chính 113

X.4 Bộ Quốc phòng 113

X.5 Bộ Y tế 113

X.6 Bộ Thông tin và Truyền thông 113

X.7 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 114

X.8 Bộ Tài nguyên và Môi trường 114

X.9 Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ven biển 114

X.10 Các doanh nghiệp của ngành hàng hải 114

XI PHỤ LỤC I: CÁC NHÓM DỰ ÁN TRỌNG ĐIỂM 115

XI.1 Nhóm dự án trọng điểm 115

XI.2 Mô tả chi tiết nhóm dự án trọng điểm: 116

XI.2.1 Nhóm dự án nâng cấp, hoàn thiện, phát triển hạ tầng mạng lưới TTDH 116

XI.2.2 Nhóm dự án đầu tư, nâng cấp hạ tầng và ứng dụng CNTT trong ngành hàng hải 118 XI.2.3 Nhóm dự án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 119

XI.2.4 Nhóm dự án về lĩnh vực pháp chế và hợp tác quốc tế 119

XII PHỤ LỤC II: BẢNG PHÂN CHIA PHỔ TẦN SỐ CHO CÁC NGHIỆP VỤ 121

XIII PHỤ LỤC III: DANH SÁCH CÁC THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN TRONG NGÀNH HÀNG HẢI 126

XIV PHỤ LỤC IV: BẢNG KHẢO SÁT NGUỒN NHÂN LỰC CNTT NGÀNH HÀNG HẢI 131

XV PHỤ LỤC V: BẢNG KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG ỨNG DỤNG CNTT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH HÀNG HẢI 133

Trang 5

5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Dự báo lượng hàng qua cảng theo vùng lãnh thổ qua các năm: 63

Bảng 2 Dự báo nhu cầu hàng hóa vận tải qua đường biển của Việt Nam và nhu cầu lượt tàu cậ cảng Việt Nam cho các giai đoạn: 65

Bảng 3 Thống kê các loại tàu cá 66

Bảng 4 Quá trình triển khai hệ thống LRIT trên thế giới 72

Bảng 6 Các TTHC được cung cấp ở mức 1 tại Cục Hàng hải 126

Bảng 7 Các TTHC được cung cấp ở mức 2 tại Cục Hàng hải 126

Bảng 8 Các TTHC công được cung cấp ở mức 1 tại các Chi cục Hàng hải 128

Bảng 9 Các TTHC công được cung cấp ở mức 2 tại các Chi cục Hàng hải 129

Bảng 10 Các TTHC công được cung cấp ở mức 2 tại các Cảng vụ Hàng hải 130

Bảng 11 Các TTHC công được cung cấp ở mức 3 tại các Cảng vụ Hàng hải 130

Bảng 12 Hiện trạng nguồn nhân lực CNTT tại các Cảng vụ 131

Bảng 13 Hiện trạng nguồn nhân lực CNTT tại các doanh nghiệp vận tải và dịch vụ hàng hải 131

Bảng 14 Hiện trạng nguồn nhân lực CNTT tại các doanh nghiệp cảng biển 132

Bảng 15 Hiện trạng hạ tầng CNTT tại các doanh nghiệp vận tải và dịch vụ hàng hải 133

Bảng 16 Hiện trạng hạ tầng CNTT tại các doanh nghiệp cảng biển 133

Bảng 17 Hiện trạng ứng dụng phần mềm trong quản lý tại các doanh nghiệp vận tải và dịch vụ hàng hải 134

Bảng 18 Hiện trạng ứng dụng phần mềm trong quản lý tại các doanh nghiệp cảng biển 134

Trang 6

6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1 Hệ thống thông tin vệ tinh Inmarsat 22

Hình 2 Hệ thống thông tin vệ tinh Cospas-Sarsat 23

Hình 3 Vùng phục vụ của hệ thống thông tin duyên hải 24

Hình 4 Mô hình mạng thông tin duyên hải 25

Hình 5 Bản đồ Hệ thống các Đài Thông tin Duyên hải Việt Nam 25

Hình 6 Bản đồ Vùng trách nhiệm VNMCC 42

Hình 7 Kiến trúc hệ thống mạng của Cục Hàng hải Việt Nam 49

Hình 8 Xu hướng phát triển của hệ thống vệ tinh Cospas Sarsat 72

Hình 9 Xu hướng phát triển của Hệ thống TTDH 95

Hình 10 Xu hướng ứng dụng CNTT trong ngành HH 95

Trang 7

7

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT Thuật ngữ viết tắt Thuật ngữ tiếng Anh Diễn giải

AIS Automatic Identification System Hệ thống nhận dạng tự động ASP Application Service Provider Nhà cung cấp dịch vụ ứng

dụng BGAN Broadband Global Area Network

Dịch vụ băng rộng phủ sóng toàn cầu cung cấp bởi hệ thống

Inmarsat CCTV Closed-Circuit Television Camera Camera truyền hình giám sát COMSAR

Sub-Committee on Radiocommunciations and Search

tin liên lạc

CV Chevaux Vapeur Đơn vị tính mã lực của Pháp

DGPS Differential Global Positioning

System

Hệ thống định vị toàn cầu vi

sai DSC Digital selective calling Phương thức gọi chọn số

DWT DeadWeight Tonnage Đơn vị đo năng lực vận tải an

toàn của tàu thủy tính bằng tấn EDI Electronic data interchange Trao đổi dữ liệu điện tử

ELT Emergency Locator Transmitter Thiết bị phát tín hiệu vị trí

khẩn cấp dùng cho hàng không ENC Electronic Navigational Chart Hai đồ điện tử

EPIRB Emergency Position Indicating

Radio Beacon

Thiết bị phát tín hiệu vị trí khẩn cấp dùng cho hàng hải F2M Fix to Mobile Dịch vụ điện thoại tàu – bờ

của Inmarsat

Fal-65 Convention on Facilitation of

International Maritime Traffic, 1965

Công ước về tạo thuận lợi cho giao thông hàng hải quốc tế

năm 1965

Dịch vụ băng rộng cung cấp bởi hệ thống Inmarsat dánh cho tàu thuyền GEOSAR System The Cospas Sarsat Geostationary

Search and Rescue System

Hệ thống vệ tinh tìm kiếm và cứu nạn ở quỹ đạo địa tĩnh GIS Geographic information system Hệ thống thông tin địa lý GMDSS Global Maritime Distress Safety

System

Hệ thống thông tin an toàn và cứu nạn toàn cầu GPS Global Positioning System Hệ thống định vị toàn cầu (của

Hoa Kì)

Trang 8

IDC International LRIT Data Centre Trung tâm dữ liệu LRIT quốc

tế IDE International Data Exchange Hệ thống chuyển mạch quốc tế IMN Inmarsat Mobile Number Số điện thoại Inmarsat

IMO International Maritime Organization Tổ chức hang hải quốc tế

IP Internet Protocol Giao thức Internet

ISDN Integrated Services Digital Network Mạng viễn thông số tích hợp đa dịch vụ ISN Inmarsat Serial Number Số sê-ri Inmarsat

ISP Inmarsat Service Provider Nhà cung cấp dịch vụ Inmarsat ISPS Code International Ship & Port Security

Code

Bộ luật Quốc tế về An ninh Tàu và Bến cảng ITU International Telecommunication

Union Liên minh viễn thông quốc tế LAN Local area network Mạng máy tính cục bộ

LESO Land Earth Station Operator Nhà vận hành trạm mặt đất

khu vực LRIT Long-range identification and

tracking

Hệ thống nhận dạng và truy

theo tầm xa LUT Local User Terminals Đầu cuối cho người dùng khu

vực MCC Mission Control Centre Trung tâm kiểm soát nhiệm vụ MEOSAR System Medium Altitude Earth Orbit Search

and Rescue System

Hệ thống vệ tinh tìm kiếm và cứu nạn ở quỹ đạo tầm trung

MMSI Maritime Mobile Service Identity Số định danh dịch vụ di động

hàng hải MPLS Multiprotocol Label Switching Chuyển mạch nhãn đa giao

thức MSI Maritime Safety Information Thông tin an toàn hàng hải NBDP Narrow Band Direct Printing Phương thức truyền chữ băng

hẹp

Trang 9

9

NCS National Communications System Hệ thống truyền thông quốc

gia NCS Network Co-ordination Station Trạm phối hợp mạng lưới NOS Network Operations Centre Trung tâm vận hành mạng lưới PLB Personal Locator Beacon Thiết bị phát tín hiệu vị trí

khẩn cẩ dùng trên đất liền PSTN Public switched telephone network Mạng điện thoại chuyển mạch

công cộng R/CDC Regional or Co-operative LRIT

Data Centre

Trung tâm dữ liệu LRIT khu vực và phối hợp

RCC Regional Control Centre Trung tâm kiểm soát khu vực RCC Rescue Co-ordination Centre Trung tâm phối hợ cưu nạn

RF Radio Frequency Tần số vô tuyến điện

RTP Radio TelePhony Điện thoại vô tuyến

SAR-79 International Convention on

Maritime Search and Rescue, 1979

Công ước quốc tế về tìm kiếm cứu nạn hàng hải năm 1979 SART Search and Rescue Transponder Bộ hát đá sử dụng trong tìm

kiếm và cứu nạn

Dịch vụ băng rộng cung cấp bởi hệ thống Inmarsat dánh cho máy bay

SOLAS 74 International Convention for the

Safety of Life at Sea, 1974

Công ước của hội nghị quốc tế

về an toàn sinh mạng trên biển

năm 1974 SPOC Search and rescue Point Of Contact Đầu mối liên hệ tìm kiếm và

cứu nạn SSAS Ship Security Alert System Hệ thống báo động an ninh tàu

biển S-VDR Simplified Voyage Recorder Máy ghi hải trình giản lược TCP Transmission Control Protocol Giao thức kiểm soát truyền

dẫn TEU Twenty-foot Equivalent Unit Đơn vị đo của hàng hóa được

côngtenơ hóa UDP User Datagram Protocol Giao thức truyền dữ liệu người

dùng

VISHIPEL Vietnam maritime communication

VSAT Very Small Aperture Terminal

Ăng-ten thu có khẩu độ mở nhỏ/ Tên của một dịch vụ thông tin vệ tinh

Trang 10

10

VTS Vessel traffic service Hệ thống quản lý lưu thông

hàng hải WRC World Radiocommunication

Conference

Hội nghị truyền thông vô tuyến thế giới

Trang 11

11

I TỔNG QUAN I.1 Tổng quan về vùng biển đảo Việt Nam

Nước ta giáp với biển Đông ở hai hía Đông và Nam Vùng biển Việt Nam là một phần biển Đông

Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang Như vậy

cứ l00 km2 đất liền thì có l km bờ biển (trung bình của thế giới là 600km2 đất liền/1km bờ biển) Biển Việt Nam có vùng nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km2

(gấp 3 diện tích đất liền: l triệu km2

/330.000km2) Trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và 2.577 đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển

Biển Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng: nối liền Thái Bình Dương với

Ấn Độ Dương Giao lưu quốc tế thuận lợi, phát triển ngành biển; có khí hậu biển

là vùng nhiệt đới tạo điều kiện cho sinh vật biển phát triển, tồn tại tốt; có tài nguyên sinh vật và khoáng sản hong hú, đa dạng, quý hiếm

Vùng biển Việt Nam có tiềm năng to lớn trên các lĩnh vực kinh tế cũng như quốc phòng:

- Về kinh tế

+ Hải sản: Ở vùng biển nước ta đến nay có khoảng 2.040 loài cá gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có giá trị kinh tế cao khoảng 110 loài Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 3 triệu tấn/năm

+ Rong biển: Trên biển nước ta có trên 600 loài rong biển là nguồn thức ăn có dinh dưỡng cao và là nguồn dược liệu phong phú + Khoáng sản: Dưới đáy biển nước ta có nhiều khoáng sản quý như: thiếc, ti tan, đi-ri-con, thạch anh, nhôm, sắt, măng gan, đồng, kền

và các loại đất hiếm Muối ăn chứa trong nước biển bình quân 3.500gr/m3

+ Dầu mỏ: Vùng biển Việt Nam rộng hơn l triệu km2 trong đó có 500.000km2 nằm trong vùng triển vọng có dầu khí Trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền Nam Việt Nam có thể chiếm 25% trữ lượng dầu dưới đáy biển Đông Có thể khai thác từ 30-40 ngàn thùng/ngày (mỗi thùng 159 lít) khoảng 20 triệu tấn/năm Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10

tỷ tấn quy dầu Ngoài dầu Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khoảng ba nghìn tỷ m3/năm

+ Giao thông: Bờ biển nước ta chạy dọc từ Bắc tới Nam theo chiều dài đất nước, với 3.260km bờ biển có nhiều cảng, vịnh… rất thuận liện cho giao thông, đánh bắt hải sản Nằm trên trục giao thông đường biển quốc tế từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, trong tương lai sẽ là tiềm năng cho ngành kinh tế dịch vụ

Trang 12

+ Biển-đảo nước ta có tầm quan trọng hết sức lớn lao đối với sự phát triển trường tồn của đất nước

Vùng biển nước ta có trên 4000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó:

- Vùng biển Đông Bắc có trên 3.000 đảo

- Bắc Trung Bộ trên 40 đảo

- Còn lại ở vùng biển Nam Trung Bộ, vùng biển Tây Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

- Căn cứ vào vị trí chiến lược và các điều kiện địa lý kinh tế, dân cư, thường người ta chia các đảo, quần đảo thành các nhóm:

+ Hệ thống đảo tiền tiêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo

vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta Đó là các đảo, quần đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ

+ Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển

KT-XH Đó là các đảo như: Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc

+ Các đảo ven bờ gần có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà, huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang)

+ Việt Nam có hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa

Vùng biển và hải đảo nước ta có vị trí chiến lược hết sức to lớn, có ảnh hưởng trực tiế đến sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa

xã hội, có liên quan trực tiế đến sự phồn vinh của đất nước

Với tính chất quan trọng như vậy, việc đảm bảo nhu cầu thông tin liên lạc, an ninh an toàn, TKCN cho các hương tiện hoạt động trên vùng biển Việt Nam

Trang 13

13

cũng như đảm bảo cho hoạt động quản lý trong lĩnh vực HH của cơ quan chuyên ngành được thực hiện một cách hiệu quả có ý nghĩa rất lớn

I.2 Sự cần thiết xây dựng quy hoạch cho ngành Hàng hải

a) Quy hoạch phát triển Hệ thống thông tin duyên hải

Quy hoạch phát triển hệ thống TTDH (sau đây gọi tắt là HTTTDH) đã được phê duyệt tại quyết định số 269/TTg ngày 26/04/1996 của Thủ tướng Chính phủ được lập cho thời đoạn đến 2000, định hướng đến 2010 do đó đã hết hiệu lực vì vậy cần thiết phải lập mới quy hoạch phát triển để đá ứng yêu cầu quản lý

b) Hạn chế, tồn tại của HTTTDH và Công nghệ thông tin (sau đây gọi tắt là CNTT) ngành hàng hải (HH):

Trong những năm qua được sự quan tâm của Nhà nước, HTTTDH và CNTT ngành HH đã được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm cung cấp dịch vụ

đá ứng yêu cầu quản lý điều hành, cấp cứu, an toàn, tìm kiếm cứu nạn hàng hải (sau đây gọi tắt là TKCNHH), hoạt động khai thác, kiểm soát và quản lý các hương tiện hoạt động trên biển và cảnh báo và giữ gìn an ninh quốc gia trên biển, tuy nhiên HTTTDH và CNTT ngành HH còn tồn tại những hạn chế sau:

- HTTTDH được đầu tư, khai thác đã lâu nên năng lực phủ sóng của các đài còn hạn chế, chưa đồng đều giữa các khu vực do nhu cầu của xã hội ngày càng gia tăng Các đài trong HTTTDH sử dụng sóng mặt đất hiện

đa hần sử dụng băng thông hẹp vì vậy rất khó phát triển các dịch vụ Chất lượng thông tin bị suy giảm do chịu tác động, ảnh hưởng của các nguồn nhiễu công nghiệp, nhiễu điện, thời tiết

- Các hệ thống thông tin trợ giúp hành hải chưa được quy hoạch, định hướng đầy đủ vì vậy việc đầu tư còn nhỏ lẻ, chưa mang tính hệ thống

- Hệ thống CNTT sau một thời gian hoạt động liên tục nên phần lớn các thiết bị phần cứng đã lạc hậu, có cấu hình, tốc độ xử lý thấp, khai thác kém hiệu quả; hệ thống phần mềm phục vụ công tác quản lý điều hành trong nội bộ ngành HH cũng như cung cấp dịch vụ công phục vụ người dân và doanh nghiệ chưa được đầu tư đồng bộ, chưa đá ứng nhu cầu công việc cũng như yêu cầu của người dân, doanh nghiệp

- Hoạt động phối hợp giữa các đơn vị có liên quan trong lĩnh vực thông tin duyên hải (TTDH), việc sử dụng, chia sẻ một phần cơ sở hạ tầng và

dữ liệu giữa ngành HH với các ngành khác như: Hải quan, Biên phòng, Thủy sản và Tìm kiếm cứu nạn (TKCN) chưa hiệu quả, do thiếu một quy hoạch dài hạn dẫn đến hiệu quả đầu tư, khai thác sử dụng chưa cao

c) Môi trường pháp lý liên quan đến lĩnh vực thông tin hàng hảỉ có sự thay đổi

- Quy hoạch Vận tải biển (VTB)Việt Nam đến năm 2020 định hướng đến năm 2030, Quy hoạch hệ thống các cảng biển Việt Nam đến năm 2020 định hướng đến năm 2030 đã được phê duyệt và triển khai do đó cần

Trang 14

Do vậy, việc cho phép nghiên cứu lậ đề án quy hoạch phát triển HTTTDH

và CNTT ngành HH là hợp lý và cần thiết

I.3 Các căn cứ xây dựng quy hoạch

a) Căn cứ lập đề án quy hoạch:

Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006; Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Thủ tướng Chính Phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 về việc lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội(sau đây gọi tắt là KT-XH);

Quyết định 281/2007/QĐ-BKH ngày 26/3/2007 của Bộ Kế hoạch - Đầu tư về việc ban hành định mức chi phí cho lập, thẩm định quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, quy hoạch ngành và quy hoạch các sản phẩm chủ yếu;

Thông tư số 03/2008/TT-BKH ngày 01/7/2008 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ sửa đổi

bổ sung một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH và Quyết định số 281/QĐ-BKH ngày 26/3/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành định mức chi phí cho lập, thẩm định và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, quy hoạch ngành và và quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ yếu;

Quyết định số 1179/QĐ-BGTVT ngày 07/5/2009 của Bộ Giao thông vận tải ban hành Quy định về phân công nhiệm vụ trong công tác lập và quản lý quy hoạch giao thông vận tải;

Quyết định số 2196/QĐ-BGTVT ngày 05/09/2011 của Bộ Giao thông vận tải

về việc cho phép lậ Đề án quy hoạch phát triển HTTTDH và CNTT ngành HH đến năm 2020, định hướng sau năm 2020;

Quyết định số 361/QĐ-BGTVT ngày 21/02/2012 của Bộ Giao thông vận tải

về việc phê duyệt Đề cương, dự toán chi phí khảo sát, lậ Đề án quy hoạch phát triển HTTTDH và CNTT ngành HH đến năm 2020, định hướng sau năm 2020;

b) Các tiền đề xây dựng quy hoạch:

*) Các văn bản quốc tế:

Căn cứ Công ước quốc tế SOLAS-74 về an toàn sinh mạng con người trên biển;

Trang 15

15

Căn cứ Bổ sung, sửa đổi 1988 của Công ước quốc tế SOLAS-74 về việc thiết lập hệ thống thông tin an toàn và cứu nạn toàn cầu GMDSS

Căn cứ Bổ sung, sửa đổi 2002 của Công ước quốc tế SOLAS-74 kèm theo

Bộ luật ISPS về an toàn sinh mạng con người trên biển và an ninh tàu và cảng biển mà Việt Nam đã chấp thuận thông qua tại Quyết định số 191/2003/QĐ-TTg ngày 16/09/2003 của Thủ tướng Chính phủ;

Căn cứ Bổ sung sửa đổi Công ước SOLAS-74 về việc thiết lập hệ thống nhận

dạng và truy theo tầm xa (LRIT - The Long range Identification and Tracking of

Ships) ngày 19/5/2006 của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO), có khả năng nhận

dạng và dõi theo hành trình tàu biển trên phạm vi toàn cầu Những sửa đổi này

sẽ có hiệu lực bắt buộc từ ngày 01/01/2008;

Căn cứ Công ước quốc tế về TKCNHH SAR-79 được IMO thông qua ngày 27/4/1979, có hiệu lực từ ngày 22/6/1985 trong đó Việt Nam là thành viên Công ước từ ngày 15/4/2007;

Căn cứ Hiệ định Cospas-Sarsat quốc tế và các tài liệu Cospas-Sarsat

Thông báo ngày 25/06/2002 của IMO về việc Tổ chức Cospas-Sarsat quốc tế

đã chính thức công nhận Việt Nam là một thành viên với tư cách Cơ quan khai thác thành phần mặt đất kể từ ngày 26/06/2002

Công ước về tạo điều kiện thuận lợi trong giao thông hàng hải quốc tế (Công ước FAL 65);

*) Các văn bản quản lý về Viễn thông và CNTT:

Căn cứ Luật Viễn thông ngày 23 tháng 11 năm 2009;

Căn cứ Luật tần số vô tuyến điện ngày 23/11/2009;

Căn cứ Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006;

Căn cứ Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Căn cứ Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/04/2007 của Chính phủ, vềỨng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước;

Căn cứ Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/08/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của nhà nước giai đoạn 2011 - 2015”;

Căn cứ Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTTT ngày 26/10/2007 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc phê duyệt quy hoạch phát triển nguồn nhân CNTT Việt Nam đến năm 2020;

Căn cứ Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến 2020;

Căn cứ quyết định 125/2009/QĐ-Tg ngày 23 tháng 10 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phổ tần số vô tuyến điện quốc gia;

Trang 16

16

Căn cứ các tiêu chuẩn liên quan đến lĩnh vực Viễn thông và CNTT

*) Các văn bản về phát triển kinh tế biển và quy hoạch ngành hàng hải:

Căn cứ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa X, 9/2/2007) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” xác định mục tiêu nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển;

Căn cứ Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020;

Căn cứ Quyết định số 278/QĐ-BGTVT ngày 29/01/2008 của Bộ Giao thông vận tải về việc ban hành Chương trình hành động của Bộ Giao thông vận tải và Quyết định số 107/QĐ-CHHVN ngày 21/02/2008 của Cục Hàng hải Việt Nam

về việc ban hành Chương trình hành động của Cục Hàng hải Việt Nam về thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trong đó chú trọng nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống các Đài TTDH nhằm đảm bảo thông tin liên lạc hàng hải đồng thời kết nối liên thông với các hệ thống thông tin của ngành thủy sản, trung tâm dự báo khí tượng thủy văn và hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức liên quan

Căn cứ Quyết định số 1601/QĐ-TTg ngày 15/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển VTB Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2030;

Căn cứ Quyết định số 2190/QĐ-TTg ngày 24/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020

Căn cứ Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg ngày 11/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm

2010 và định hướng đến năm 2020;

Căn cứ Quyết định số 346/QĐ-TTg ngày 15/03/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống cảng cá, bến cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

Trang 17

17

*) Các văn bản về thông tin duyên hải:

Căn cứ Quyết định số 269/TTg ngày 26/04/1996 của Thủ tướng Chính phủ

về việc quy hoạch hệ thống các Đài TTDH Việt Nam đến năm 2000 và định hướng đến năm 2010;

Căn cứ Quyết định số 597/TTg ngày 30/07/1997 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án khả thi đầu tư xây dựng Hệ thống các Đài TTDH Việt Nam đến năm 2000 và định hướng sau năm 2000;

Căn cứ Quyết định số 137/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007 Phê duyệt Đề án tổ chức thông tin phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên biển;

Căn cứ Quyết định số 1041/QĐ-TTg ngày 22/7/2009 Phê duyệt Đề án đảm bảo mạng lưới thông tin biển, đảo;

Căn cứ Quyết định số 264/2006/QĐ-TTg ngày 16/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế báo tin động đất, cảnh báo sóng thần;

Căn cứ Quyết định số 17/2011/QĐ-TTg ngày 14/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế báo Áp thấp Nhiệt đới, bão, lũ;

Căn cứ Quyết định số 78/2007/QĐ-TTg ngày 29/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế phòng chống động đất, sóng thần Theo đó, hệ thống các Đài TTDH Việt Nam thường trực nhận và phát tin cảnh báo kịp thời

Căn cứ Quyết định số 06/2009/QĐ-TTg ngày 15/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch thực hiện Công ước quốc tế về tìm kiếm cứu nạn hàng hải năm 1979 (SAR-79);

Căn cứ Quyết định số 133/2009/QĐ-TTg ngày 03/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế thông tin cảnh báo, dự báo thiên tai trên biển Theo đó,

hệ thống các Đài TTDH Việt Nam thuộc hệ thống truyền phát bản tin cảnh báo,

dự báo thiên tai trên biển;

Căn cứ Thông tư số 15/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/03/2011 của Bộ trưởng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Ban hành “Quy chế thông tin đối với tàu cá hoạt động trên biển”;

Căn cứ Quyết định số 373/QĐ-TTg ngày 23/03/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam;

Căn cứ Nghị định số 95/2010/NĐ-CP ngày 16/09/2010 của Chính phủ quy định về việc Cấp phép và Phối hợp hoạt động TKCN nước ngoài tại Việt Nam;

Trang 18

18

Căn cứ Quyết định số 15/2007/QĐ-BTTT ngày 15/06/2007 của Bộ trưởng

Bộ Bưu chính - Viễn thông nay là Bộ Thông tin và Truyền thông về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển CNTT và truyền thông vùng kinh tế trọng điểm Bắc

Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; trong đó có quyết định nội dung quy hoạch Phát triển và hiện đại hoá HTTTDH Nâng cao tốc độ, chất lượng các đường truyền của hệ thống các Đài TTDH trong vùng Xây dựng mạng thông tin chuyên dùng phục vụ công tác quản lý, điều hành trên biển

I.4 Nguyên tắc xây dựng quy hoạch

- Phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH của đất nước, của ngành HH và các ngành kinh tế biển (KTB) trong từng thời kỳ; tuân thủ pháp luật của Việt Nam và các quy định của điều ước quốc

tế mà Việt Nam là thành viên

- Phù hợp với xu hướng phát triển thông tin liên lạc của ngành HH, tạo điều kiện để ứng dụng công nghệ mới trong thông tin ngành HH

- Bảo đảm việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, khai thác và sử dụng hạ tầng mạng thông tin chuyên ngành HH một cách hiệu quả, đồng

bộ, tiết kiệm và đúng mục đích

I.5 Mục tiêu xây dựng quy hoạch

- Đá ứng nhu cầu phát triển của ngành HH, cũng như quy hoạch phát triển KTB trong giai đoạn tới

- Phát triển mạng lưới TTDH và CNTT ngành HH thành một kế hoạch dài hạn cùng các giải pháp cụ thể

- Làm cơ sở bổ sung, nâng cấp hoàn thiện hệ thống thông tin để khắc phục các điểm hạn chế còn tồn tại, đá ứng các yêu cầu mới, phù hợp với chiến lược biển của Việt Nam, đá ứng các yêu cầu bổ sung, sửa đổi của các tổ chức quốc tế và công ước quốc tế có liên quan (các bổ sung, sửa đổi của Công ước SOLAS 74, các khuyến cáo của IMO, ITU, ICAO…)

- Hoàn chỉnh hệ thống quản lý thông tin phục vụ công tác an toàn, an ninh HH; phòng chống giảm nhẹ thiên tai và TKCN trên biển

- Thực hiện xây dựng mô hình chính phủ điện tử tại Cục Hàng hải Việt nam và các đơn vị trực thuộc tại các khu vực cảng biển

- Định hướng xây dựng cơ chế chính sách phối hợp giữa ngành HH với các cơ quan quản lý chuyên ngành tại cảng biển (Hải quan, Biên phòng, Kiểm dịch) về việc ứng dụng CNTT trong giải quyết thủ tục hành chính

- Định hướng phát triển công nghệ thông tin cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hàng hải

- Quy hoạch tổng thể các hệ thống công nghệ của ngành hàng hải trên cơ

sở sử dụng, chia sẻ một phần cơ sở hạ tầng (gọi tắt là CSHT) và dữ liệu

Trang 19

19

trong ngành HH cũng như giữa ngành HH với các ngành khác như: Hải quan, Biên phòng, Khai thác thủy sản và TKCN quốc gia)

I.6 Phạm vi quy hoạch

a) Quy hoạch phát triển hệ thống TTDH:

- Các đối tượng chịu tác động của quy hoạch:

o Tàu vận tải, tàu hàng

o Các hương tiện khác hoạt động trên biển (tàu cá, giàn khoan, tàu nghiên cứu, …)

o Cơ quan quản lý chuyên ngành HH

o Các cơ quan hối hợp TKCN, cấp cứu khẩn cấp và an toàn an ninh trên biển, bảo vệ môi trường biển (Biên phòng, Cảnh sát biển, Thủy sản, Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn, Viện vật lý – địa cầu, Bảo đảm an toàn hàng hải, Trợ giúp y tế,….)

o Các tỉnh, thành phố ven biển

b) Quy hoạch CNTT ngành HH:

- Hạ tầng CNTT ngành HH

o Các hệ thống cơ sở dữ liệu (gọi tắt là CSDL)

o Hệ thống thiết bị phần cứng (mạng LAN, kết nối, máy chủ, thiết bị mạng)

- Các dịch vụ công phục vụ người dân và doanh nghiệp

- Các hệ thống thông tin phục vụ tác nghiệp trong nội bộ ngành HH (thư điện tử, phần mềm quản lý văn bản và điều hành )

- Các hệ thống thông tin phục vụ quản lý điều hành trong các lĩnh vực:

o Về quản lý cảng biển, luồng HH, các khu neo đậu tàu biển, quản lý quy hoạch xây dựng cơ sở sửa chữa và đóng mới tàu thuyền

o Về quản lý tàu biển, thuyền viên, hoa tiêu và nguồn nhân lực hàng hải khác

o Về VTB và dịch vụ HH

Trang 20

o Các cơ quan quản lý chuyên ngành tại các Cảng biển

o Các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực HH: cảng biển, VTB, đại lý hàng hải, đóng tàu…

o Người dân

I.7 Đối tượng quy hoạch

Quy hoạch tập trung chủ yếu vào các cơ quan quản lý nhà nước về hàng hải

và các cơ quan quản lý nhà nước khác có liên quan, đối với các đối tượng là các doanh nghiệp (doanh nghiệp vận tải và doanh nghiệp cảng biển) quy hoạch chỉ mang tính định hướng

Về thời gian: Quy hoạch có thời hạn đến năm 2020, sau năm 2020 mang tính định hướng

Về không gian: Người và hương tiện hoạt động trên vùng biển, đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam; tàu thuyền Việt Nam hoạt động trong các vùng biển quốc tế

Trang 21

21

II HIỆN TRẠNG II.1 Hiện trạng hệ thống thông tin duyên hải

II.1.1 Hiện trạng hạ tầng

II.1.1.1 Hệ thống các đài TTDH

1 Hiện trạng đầu tư hệ thống đài TTDH

a) Chức năng nhiệm vụ của hệ thống Đài TTDH Việt Nam:

- Cung cấp dịch vụ phục vụ cho mục đích cấp cứu, an toàn và TKCN HH (theo các tiêu chuẩn của Hệ thống Thông tin Cấp cứu và An toàn Hàng hải Toàn cầu GMDSS – Globail Maritime Distress and Safety System),

- Phục vụ thông tin liên lạc cho hoạt động HH và các hoạt động khác trên biển (khai thác hải sản, nghiên cứu biển ), thông tin phục vụ khai thác, điều hành, kiểm soát và quản lý các hương tiện hoạt động trên biển,

- Phối hợp với các đơn vị chức năng khác thực hiện công tác TKCN HH, hàng không trên biển và góp phần trong việc cảnh báo và giữ gìn an ninh quốc gia trên biển

b) Hạ tầng các Đài TTDH sử dụng sóng vô tuyến mặt đất:

Bao gồm 29 đài TTDH và 01 trung tâm xử lý thông tin HH có chức năng cung cấp dịch vụ thông tin cấp cứu, cứu nạn, an toàn HH,…qua sóng vô tuyến mặt đất, hoạt động trên các dải tần VHF, MF, HF có tầm phủ sóng rộng, bao phủ các vùng biển trong nước và quốc tế (A1, A2, A3 và A4)

- 02 Đài TTDH loại I đặt tại: Hải Phòng và Tp Hồ Chí Minh

- 03 Đài TTDH loại II đặt tại: Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu

- 08 Đài TTDH loại III đặt tại : Móng Cái, Cửa Ông, Hòn Gai, Cửa Lò, Huế, Quy Nhơn, Cần Thơ, Kiên Giang

- 16 Đài TTDH loại IV tại: Bạch Long Vĩ, Vũng Áng, Thanh Hoá, Cửa

Việt, Dung Quất, Quảng Ngãi, Phú Yên, Cam Ranh, Phan Rang, PhanThiết, Bạc Liêu, Cà Mau, Côn Đảo, Thổ Chu, Phú Quốc, Hà Tiên

Sử dụng các công nghệ đang được quốc tế áp dụng trong ngành HH hiện nay:

- Gọi chọn số DSC với hương thức phát xạ F1B, J2B, G2B;

- Truyền chữ băng hẹp NBDP với hương thức phát xạ F1B, J2B;

- Thông tin thoại với hương thức phát xạ J3E, H3E và G3E

- Trang bị các máy phát vô tuyến điện có công suất lớn từ 50 W đến 5

kW

c) Đài Thông tin Vệ tinh mặt đất Inmarsat (LES) tại Hải Phòng

Mạng viễn thông vệ tinh Inmarsat là mạng viễn thông di động vệ tinh toàn cầu, mang đến cho người sử dụng giải pháp thông tin liên lạc mọi lúc, mọi nơi,

Trang 22

22

trong mọi điều kiện thời tiết với chất lượng và độ tin cậy cao và là giải há đặc biệt hữu hiệu cho những nơi mà các mạng thông tin thông thường không thể phủ sóng được như các vùng đại dương, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Mạng viễn thông vệ tinh Inmarsat cung cấp các dịch vụ viễn thông phục vụ cho mục đích cấp cứu và an toàn HH theo GMDSS, thông tin báo động an ninh tàu biển (SSAS), hoạt động giao thông vận tải, quản lý hương tiện giao thông, trợ giú điều hành bay, thăm dò dầu khí, đánh bắt hải sản, kiểm soát và lấy dữ liệu từ xa, thông tin trong công tác phòng chống thiên tai bão lụt, hỏa hoạn, động đất,

Đài LES Hải Phòng là đài Thông tin Vệ tinh mặt đất Inmarsat duy nhất ở Việt Nam và là một trong 31 đài LES trên thế giới với các chức năng chính là trực canh báo động cấp cứu chiều tàu - bờ, bờ - tàu, thông tin phối hợp TKCN, thông tin quảng bá an toàn HH và thông tin liên lạc thông qua hệ thống vệ tinh địa tĩnh Inmarsat Đài làm việc qua vệ tinh I3F1 tại tọa độ 64O

E hay trong vùng IOR

Hình 1 Hệ thống thông tin vệ tinh Inmarsat

d) Đài vệ tinh LUT/MCC thuộc hệ thống vệ tinh Cospas-Sarsat

Hệ thống COSPAS – SARSAT được chia thành các phần chính sau:

- Các phao vô tuyến cấp cứu: thiết bị phát vị trí khẩn cấp Emergency Locator Transmitter, dùng trong ngành hàng không), Phao

(ELT-vô tuyến chỉ báo vị trí khẩn cấp (EPIRB-Emergency Position Indicating

Trang 23

- Trạm thu mặt đất (LUT-Local User Terminal): thu và xử lý các tín hiệu được chuyển xuống từ vệ tinh để tạo nên các báo động cấp cứu

- Trung tâm điều hành (MCC-Mission Control Centre) thu các báo động cấp cứu được cung cấp từ các trạm LUT liên đới và chuyển tới các RCCs, SPOCs, hoặc các MCCs khác

Hình 2 Hệ thống thông tin vệ tinh Cospas-Sarsat

Việt Nam là một thành viên trong tổ chức Cospas-Sarsat với thành phần mặt đất bao gồm 01 đài LEOLUT trong số 58 đài LEOLUT trên toàn thế giới có chức năng thu nhận và xử lý tín hiệu báo động cấp cứu trên tần số 406MHz chuyển tiếp xuống từ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp từ đó tính toán xác định vị trí bị nạn; 01 trung tâm điều hành MCC trong tổng số 31 trung tâm điều hành MCC trên toàn thế giới có chức năng thu thập và xử lý và cung cấp thông tin cấp cứu

và dữ liệu vị trí tới các RCC/SPOC liên đới và tới các MCC khác phục vụ cho công tác TKCN

Kể từ ngày 1/8/2008, hệ thống VNLUT/MCC đã được tổ chức Cospas-Sarsat quốc tế công bố hoạt động chính thức đảm nhiệm một vùng rộng lớn (Vùng trách nhiệm VNMCC) về tiếp nhận, xử lý, phân phối dữ liệu báo động và vị trí cấp cứu Qua đó, vùng trách nhiệm của VNMCC đã được mở rộng bao gồm toàn

bộ lãnh thổ Việt Nam; vùng biển Việt Nam, bao gồm toàn bộ khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; toàn bộ lãnh thổ Campuchia và lãnh thổ Lào Theo đó,

Trang 24

24

VNMCC không chỉ hỗ trợ các hoạt động TKCN trong nước mà còn đảm nhận trách nhiệm tiếp nhận, xử lý và phân phối dữ liệu báo động cấp cứu Cospas-Sarsat cho các SPOC của Lào và Campuchia phục vụ công tác phối hợp TKCN

d) Vùng phục vụ của Hệ thống các Đài TTDH

- Vùng biển A1: Phạm vi phủ sóng của hệ thống VHF với bán kính đến

30 hải lý;

- Vùng biển A2: Phạm vi phủ sóng của hệ thống MF với bán kính 200 hải

lý không kể vùng biển A1;

- Vùng biển A3: Phạm vi phủ sóng của hệ thống HF và hệ thống Inmarsat

từ vĩ tuyến 70ON đến vĩ tuyến 70OS không kể vùng biển A1 và A2

- Vùng biển A4: Phạm vi phủ sóng của hệ thống HF và hệ thống Sarsat từ vĩ tuyến 70ON trở lên và từ vĩ tuyến 70OS trở xuống là các vùng cực của trái đất không kể vùng biển A1, A2 và A3

Cospas-Hình 3 Vùng phục vụ của hệ thống thông tin duyên hải

Trang 25

25

Hình 4 Mô hình mạng thông tin duyên hải

Hình 5 Bản đồ Hệ thống các Đài Thông tin Duyên hải Việt Nam

2 Đánh giá hiện trạng phát triển hạ tầng hệ thống Đài TTDH

Trước năm 1996, Hệ thống thông tin duyên hải của Việt Nam gồm 05 Đài TTDH đăng ký quốc tế bao gồm các Đài TTDH Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu và Đài TTDH Hồ Chí Minh; 04 đài TTDH quốc gia bao gồm Đài TTDH Quảng Ninh, Bến Thủy, Quy Nhơn và Cần Thơ được chuyển từ Tổng công ty Bưu chính Viễn thông sang Cục Hàng hải Việt Nam phục vụ thông tin liên lạc trên biển cho đội tàu vận tải cũng như dịch vụ “điện báo” trong nước với cơ sở hạ tầng cũ và xuống cấp, hệ thống máy móc, thiết bị lạc hậu, khai thác không hiệu quả… một số Đài hải dừng hoạt động do thiết bị cũ hỏng không có linh kiện thay thế

Thực hiện Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng người trên biển 1974 (Solas-74) mà Việt Nam là thành viên, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định

số 269/TTg ngày 26/04/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy

Trang 26

a) Kết quả thực hiện quy hoạch theo Quyết định 269/TTg:

Về quy mô hệ thống: đã triển khai nâng cấp và xây dựng mới 32 Đài

TTDH theo tiêu chuẩn GMDSS, bao gồm:

- 02 Đài TTDH loại I đặt tại: Hải Phòng và Tp Hồ Chí Minh

- 03 Đài TTDH loại II đặt tại: Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu

- 08 Đài TTDH loại III đặt tại: Móng Cái, Cửa Ông, Hòn Gai (Hạ Long),

Bến Thuỷ, Huế, Quy Nhơn, Cần Thơ, Kiên Giang;

- 16 Đài TTDH loại IV bao gồm: Bạch Long Vĩ, Thanh Hóa, Hòn La,

Cửa Việt, Dung Quất, Lý Sơn, Phú Yên, Cam Ranh, Phan Rang, Phan Thiết, Bạc Liêu, Côn Đảo, Cà Mau, Hà Tiên, Thổ Chu, Phú Quốc;

- 01 Đài kiểm soát;

- 01 Đài Thông tin Vệ tinh mặt đất Inmarsat (LES);

- 01 Đài vệ tinh LUT/MCC thuộc hệ thống vệ tinh Cospas-Sarsat

Về vùng phủ sóng:

- 29 Đài hủ sóng vùng A1 theo tiêu chuẩn GMDSS tại hầu hết các khu vực cảng biển của 20/28 tỉnh thành ven biển, trong đó có 13 Đài TTDH phủ sóng được cả vùng A2 và 05 Đài TTDH hủ sóng cả vùng A3 theo tiêu chuẩn GMDSS;

- Đảm bảo thông tin vệ tinh Inmarsat trực tiếp trong vùng IOR;

- Đảm bảo thông tin vệ tinh Cospas-Sarsat phủ sóng trên các vùng biển A1, A2, A3, A4 theo tiêu chuẩn GMDSS

mà loại tàu này có lưu lượng hoạt động lớn và đủ năng lực đảm bảo cung cấp thông tin khẩn cấp, cấp cứu, an toàn và tìm kiếm cứu nạn cho ngành hàng hải

Trang 27

27

b) Đánh giá chung về thực hiện quy hoạch theo Quyết định 269/TTg:

Trong giai đoạn 1996 – 2000 đến năm 2006, đã thực hiện được mục tiêu quy hoạch là phát triển được hệ thống các Đài thông tin Duyên hải Việt Nam đá ứng các quy định của Hệ thống cấp cứu và an toàn hàng hải toàn cầu – GMDSS

Để phù hợp với nhu cầu phát triển thực tế, khi triển khai các dự án trong từng giai đoạn đã có sự điều chỉnh để đá ứng được mục tiêu của quy hoạch, cụ thể

bổ sung thêm các Đài TTDH loại III tại Cửa Ông và Huế; các Đài TTDH loại IV tại Bạch Long Vỹ, Lý Sơn, Phú Yên, Phan Rang, Thổ Chu và Hà Tiên đã tập chung phủ sóng tại các khu vực cảng biển với 29 vị trí tại 20/28 tỉnh thành ven biển Triển khai xây dựng Đài vệ tinh LUT/MCC, thiết lập hệ thống nhận dạng

và truy theo tầm xa (LRIT),…

Hệ thống các Đài TTDH Việt Nam hát huy được hiệu quả KT-XH, đảm bảo các thông tin cấp cứu, khẩn cấp, an toàn theo GMDSS góp phần tăng cường an ninh, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Năm 2008, Cơ quan Hợp tác Quốc Tế Nhật Bản (JICA) đã tổ chức đoàn khảo sát tiến hành kiểm tra thực tế hoạt động của hệ thống các Đài TTDH Việt Nam cũng như đối tượng thụ hưởng và đã đánh giá xế công trình đạt hạng A, là hạng cao nhất theo thang xếp hạng của tổ chức này với các tiêu chí đánh giá như tính hù hợp, hiệu suất, hiệu quả/tác động và tính bền vững

Tóm lại các nội dung các mục tiêu chủ yếu trong thời đoạn của quy hoạch đã được triển khai thực hiện Trong thời hạn tiếp theo, cần thiết phải quy hoạch hệ thống thông tin duyên hải nhằm đá ứng các nhu cầu theo tiêu chuẩn quốc gia cũng như xu hướng phát triển theo các khuyến nghị của các tổ chức quốc tế c) Các hạn chế, tồn tại của hệ thống Đài TTDH Việt Nam

Hệ thống Đài TTDH Việt Nam đã được thiết kế, xây dựng theo tiêu chuẩn GMDSS với dung lượng thông tin chủ yếu đảm bảo thông tin liên lạc cho đội tàu vận tải biển, ngoài ra còn phục vụ các hương tiện hoạt động trên biển khác như giàn khoan, tàu công vụ, tàu cá,

Thực tế trước những năm 2007, có rất ít các hương tiện hoạt động trên biển khác ngoài tàu vận tải liên lạc, tiếp nhận và nhập sự trợ giúp của hệ thống các Đài TTDH, nguyên nhân là do các đối tượng này thường không được trang bị thiết bị thông tin hoặc nếu có thì không đá ứng tiêu chuẩn GMDSS, người đi biển không được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ thông tin hàng hải

Do không được tiếp cận thông tin về an toàn, thiên tai và trợ giúp cấp cứu vì vậy các hương tiện này thường xuyên bị thiệt hại khi hoạt động trên biển, đặc biệt là đối tượng tàu cá

Để trợ giú ngư dân hoạt động trên biển, ngày 21/8/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 137/2007/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổ chức thông tin phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên biển, trong đó xác định Hệ thống các Đài Thông tin duyên hải được xác định là thành phần chủ đạo (luồng thông tin chính thức) tiếp nhận và xử lý thông tin tìm kiếm cứu nạn trên biển

Trang 28

28

Để phục vụ tàu cá, Hệ thống các Đài TTDH đã sử dụng các kênh tần số quốc gia 7903 kHz và 7906 kHz dành riêng cho gọi và trợ giúp thông tin an toàn, cứu nạn cho đối tượng này Thường xuyên tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn ngư dân

về nghiệp vụ vô tuyến điện, cách thức liên lạc khi xảy ra sự cố trên biển Bên cạnh đó, thực hiện ký biên bản thảo thuận giữa Đài TTDH với Ủy ban nhân dân

và Bộ đội biên phòng các tỉnh, thành phố ven biển về hợp tác hỗ trợ ngư dân hoạt động trên biển Kết quả, số lượng tàu cá liên lạc và nhận trợ giúp qua hệ thống các Đài TTDH tăng lên nhanh theo từng năm, theo thống kê hiện có khoảng 13.000 tàu thường xuyên liên lạc qua hệ thống Đây mới chỉ là phần nhỏ trong tổng số tàu cá đang hoạt động của Việt Nam hiện nay (hiện cả nước có khoảng 126.458 chiếc, trong đó có 24.970 chiếc có công suất trên 90CV) Với

sự quan tâm của Chính phủ cùng các Bộ, ngành trong việc hỗ trợ cho ngư dân bám biển, đồng thời nhận thức của ngư dân về an toàn sinh mạng cũng ngày càng được nâng cao cho nên xu hướng ngày càng có nhiều tàu cá được trang bị thiết bị thông tin liên lạc qua hệ thống các Đài TTDH và Hệ thống thông tin duyên hải Việt Nam cũng cần định hướng để đá ứng nhu cầu của đối tượng này

Hơn nữa, sau hơn 20 năm công bố áp dụng trên toàn cầu, Hệ thống GMDSS

đã bộc lộ một số hạn chế cần phải cập nhật sửa đổi bổ sung để phù hợp với xu hướng phát triển của khoa học công nghệ, cung cấp nhiều dịch vụ hỗ trợ cho người đi biển hơn, tin cậy và thân thiện với người dùng hơn Hiện IMO và ITU

đã thành lập nhóm nghiên cứu, tổ chức đánh giá, điều chỉnh khái niệm các chức năng thông tin GMDSS, xem xét đánh giá một số thiết bị và công nghệ mới có thể triển khai trong hiện đại hóa GMDSS theo các lộ trình 2013-2017 Một số giải pháp phát triển dịch vụ và công nghệ đã và đang được định hình có thể hướng tới cho việc hiện đại hóa hệ thống GMDSS như: hệ thống truyền dữ liệu

và email trên dải HF (số hóa); hệ thống NAVDAT (Navigational Data); Hệ thống VDES (hệ thống trao đổi dữ liệu trên dải VHF), e-Navigation, hệ thống MEOSAR, Inmarsat thế hệ I4 và I5,….các thiết bị đầu cuối EPIRB-AIS (EPIRB tích hợp thêm AIS); Man Over Board (MOB thiết bị dành cho thuyền viên rời tàu như thiết bị AIS),…qua đây cũng cho thấy đang có xu hướng sự tích hợp giữa hệ thống hỗ trợ hàng hải với hệ thống thông tin

IMO cũng đã đưa ra các khuyến nghị cho các quốc gia thành viên về áp dụng các quy định trang bị thiết bị thông tin liên lạc theo định hướng GMDSS trên tàu đánh bắt hải sản, cụ thể là trang bị các thiết bị thông tin VHF, HF, MSI (thuộc GMDSS)

Tóm lại, Hệ thống các Đài TTDH Việt Nam cần phát triển để giải quyết một

số hạn sau:

(i) Năng lực hệ thống các Đài TTDH hiện nay tuy đã đá ứng được nhu cầu của ngành hàng hải nhưng trong giai đoạn tới cũng cần phát triển để đá ứng nhu cầu phát triển ngày càng gia tăng của các hương tiện hoạt động trên biển đặc biệt là tàu cá, cụ thể:

Trang 29

29

- Cần bổ sung thêm năng lực về công suất, kênh thông tin nhằm đá ứng nhu cầu thông tin liên lạc, an toàn, an ninh, cấp cứu cho các hương tiện hoạt động trên biển theo tiêu chuẩn quốc gia (không theo tiêu chuẩn GMDSS);

- Tiếp tục phát triển mở rộng vùng phủ sóng A1 đá ứng nhu cầu phát triển;

- Bổ sung mở rộng Đài đến các tỉnh, thành phố ven biển có lưu lượng tàu cá lớn để tăng cường phối hợp với chính quyền địa trong công tác quản lý tàu cá, theo hương châm 4 tại chỗ trong phòng tránh, ứng phó khi có sự

cố thiên tai, lụt bão trên địa bàn;

(ii) Công nghệ sóng vô tuyến điện mặt đất (Analog) tuy hiện vẫn phù hợp với ngành hàng hải nhưng do hạn chế băng thông hẹp, tốc độ truyền dữ liệu thấp, vì vậy khó phát triển dịch vụ ứng dụng trên nền tảng công nghệ này Hiện IMO và ITU đã quy hoạch lại một số dải tần số VHF/MF/HF để định hướng chuyển sang sử dụng công nghệ số

(iii) Các Đài TTDH sử dụng nền tảng là các thiết bị thu phát sóng vô tuyến điện mặt đất hoạt động ở các dải tần MF/HF theo hương thức phát xạ J3E, H3E,…với cự ly liên lạc xa nhưng việc sử dụng công nghệ này cũng tồn tại nhược điểm như chất lượng thông tin bị tác động, suy giảm do chịu tác động của các nguồn nhiễu như thời tiết, nhiễu công nghiệ ,…

(iv) Nhiệm vụ của hệ thống các Đài TTDH là hải đảm bảo trực canh cấp cứu, khẩn cấp, an toàn, an ninh liên tục 24/7 trong mọi tình huống thời tiết vì vậy nhằm đảm bảo sẵn sàng cao, giảm thiểu mọi rủi ro tất cả các Đài TTDH trong hệ thống đều phải phối hợp hiệ đồng trong việc tiếp nhận và xử lý tin thông tin cấp cứu, khẩn cấp, an toàn - an ninh; tuy nhiên hiện các Đài TTDH chưa có sự kết nối hạ tầng, việc xử lý hiệ đồng giữa các Đài TTDH mới chỉ theo hương thức thông thường qua các kênh thoại, fax, email,…

(v) Một số Đài TTDH vẫn sử dụng hương thức truyền dẫn kết nối bằng viba cần thiết phải chuyển đổi hoặc dự phòng bằng đường truyền với công nghệ truyền dẫn có độ tin cậy cao hơn như cá quang, vệ tinh,…

(vi) Hệ thống Cospas Sarsat:

Hiện tổ chức Cospas-Sarsat sử dụng 02 hệ thống vệ tinh hoạt động ở 2 quỹ đạo khác nhau: hệ thống vệ tinh quỹ đạo tầm thấp (LEO) và hệ thống vệ tinh quỹ đạo địa tĩnh (GEO) Cả hai hệ thống này tuy là đang hoạt động ổn định và

hỗ trợ tốt cho hoạt động TKCN toàn cầu nhưng cả hai hai hệ thống này đều tồn tại một số hạn chế, cụ thể:

- Hệ thống LEOSAR (hệ thống Việt Nam đang sử dụng):

+ Số lượng vệ tinh LEOSAR hạn chế: 06 vệ tinh

+ Vùng bao phủ của vệ tinh hẹp và không liên tục;

+ Thời gian trễ trong việc cung cấp thông tin vị cấp cứu: để xác định vị trí cấp cứu của phao 406MHz hệ thống phải mất tối thiểu khoảng 15 phút, thậm chí 100 phút;

Trang 30

+ Không bao phủ toàn cầu: các vệ tinh địa tĩnh GEOSAR chỉ bao phủ vùng cố định từ 76 vĩ độ Bắc đến 76 vĩ độ Nam, không bao phủ 2 vùng cực của Trái đất

+ Việc cung cấp thông tin vị trí hoàn toàn phụ thuộc vào vị trí được

mã hóa trong phao

Để khắc phục các hạn chế của cả hai hệ thống LEOSAR và GEOSAR, tổ chức Cospas Sarsat dự kiến sử dụng các vệ tinh quỹ đạo tầm trung (MEO) để lắp đặt thiết bị SAR 406MHz Hệ thống đã được triển khai thử nghiệm vào tháng 1/2013 và dự kiến đi vào hoạt động chính thức vào năm 2015 Chính vì vậy Việt Nam cũng cần phải có kế hoạch nâng cấp Trạm thu mặt đất (LUT-Local User Terminal) nhằm tương thích với hệ thống vệ tinh mới (MEOSAR) của tổ chức Cospas Sarsat

(vii) Đài Thông tin vệ tinh mặt đất Inmarsat Hải Phòng được đầu tư, đưa vào hoạt động từ năm 2001 với các dịch vụ thông tin cơ bản như thoại, fax, truyền

dữ liệu tốc độ thấ ,… Với xu thế ứng dụng, phát triển các dịch vụ trên nền tảng băng thông rộng trong lĩnh vực thông tin vệ tinh, hệ thống chưa đá ứng nhu cầu phát triển và cần đầu tư chuyển đổi trạm cổng để tương thích với công nghệ

VTS được ứng dụng để cung cấp thông tin hành hải trong các luồng và vùng biển an toàn và hiệu quả, an toàn sinh mạng trên biển và bảo vệ môi trường Hệ thống VTS được quy định tại Chương V, của Công ước về an toàn sinh mạng trên biển Khuyến nghị 12 (Regulation 12) cùng với sự hướng dẫn về các dịch vụ của VTS tại Giải pháp số A.857 kỳ họp thứ 20 đã được thông qua ngày 27/11/1997 bởi IMO

Hệ thống VTS bao gồm các thành phần cơ bản thiết bị như radar, camera giám sát (CCTV), thiết bị VHF và hệ thống nhận dạng tự động AIS để giám sát

và truy theo vị trí của tàu, tính toán được hướng, tốc độ và sự di chuyển của tàu,

Trang 31

31

từ đó dự đoán được các khả năng và nguy cơ có liên quan như đâm va, mắc cạn… v.v để đưa ra các trợ giúp về hành hải cho thuyền trưởng, hoa tiêu thông qua hệ thống thông tin VHF

b) Các dịch vụ cung cấp:

- Dịch vụ thông tin, là dịch vụ đảm bảo rằng các thông tin cần thiết phải sẵn sàng kịp thời để ra các quyết định về lái tàu kịp thời Các thông tin này được cung cấp bằng cách phát quảng bá rộng rãi vào các thời điểm với chu kỳ cố định hoặc theo yêu cầu của tàu thuyền, và có thể bao gồm cả các thông báo về vị trí, nhận dạng và các dự định của tàu khác, thông tin về luồng, thông tin thời tiết, các nguy hiểm, các thông tin có thể ảnh hưởng đến việc quá cảnh của tàu …

- Dịch vụ tổ chức lưu lượng giao thông, là dịch vụ để ngăn sự phát sinh tình huống lưu thông HH nguy hiểm và cung cấp cho an toàn, di chuyển hiệu của của các tàu thuyền Dịch vụ này liên quan đến quản lý khai thác lưu thông và chuyển tiếp các thông tin về di chuyển của tàu để ngăn chặn sự tắc nghẽn và tình huống nguy hiểm và có liên quan đến mật độ lưu thông cao hoặc khi sự di chuyển của hương tiện mà ảnh hưởng lớn đến lưu lượng giao thông trên biển Dịch vụ này cũng bao gồm việc thiết lập và vận hành hệ thống để đảm bảo thông thoáng lưu lượng hoặc kế hoạch di chuyển hoặc cả hai để đặt ưu tiên cho việc di chuyển, phân bổ khoảng trống (space), thông báo bắt buộc về di chuyển, tuyến phải theo, giới hạn về tốc độ và chuẩn bị các hương tiện khác phù hợp được xem xét và chỉ huy bởi cơ quan VTS Dịch vụ này đặc biệt quan trọng trường hợp thời tiết hoặc dẫn đường khó Dịch vụ này đá ứng yêu cầu của tàu hoặc bởi Cơ quan quản lý hệ thống VTS thấy cần thiết phải thực hiện

+ Hệ thống có khả năng bao trùm toàn bộ khu vực luồng từ vùng đón trả hoa tiêu tới bến cảng;

+ Hệ thống có khả năng hát hiện tất cả các mục tiêu trong luồng và nhận dạng được tất cả các mục tiêu có trang bị AIS;

+ Hệ thống có khả năng hiển thị được hướng, tốc độ, dự báo đâm va;

+ Hệ thống có khả năng vẽ và lưu vết đường đi của hương tiện trong luồng;

+ Hệ thống được trang bị trạm bờ AIS, có khả năng giám sát, nhận dạng và gửi thông tin tới các hương tiện có trang bị AIS một cách chính xác và dễ dàng;

+ Hệ thống cho phép các giám sát viên của Cảng vụ có thể liên lạc bằng điện thoại vô tuyến VHF, điện văn tới các hương tiện di chuyển trong luồng;

+ Hệ thống được trang bị các máy đo gió, đo nhiệt độ;

+ Hệ thống được trang bị thiết bị S-VDR, có thể lưu trữ các tín hiệu hình ảnh radar, AIS và các tín hiệu thông tin liên lạc trên kênh thoại VHF, các dữ liệu này có thể được giám sát trực tiế cũng như truy xuất sử dụng lại khi cần thiết

Trang 32

32

c) Hiện trạng triển khai

Hiện Việt Nam mới có 02 khu vực cảng trang bị hệ thống VTS để phục vụ điều khiển giám sát hành hải là Hải Phòng và Sài Gòn Vũng Tàu

Quy mô hệ thống VTS giám sát luồng Sài Gòn-Vũng Tàu, bao gồm 04 trạm Radar chính được đặt tại các khu vực quận 7, Nhà Bè, Núi Lớn-Vũng Tàu và Cái Mép-Thị Vải, kết hợp với hệ thống AIS, CCTV truyền thông tin về 02 trung tâm điều khiển, thực hiện chức năng điều hành, giám sát toàn bộ tuyến Sài Gòn-Vũng Tàu

Hệ thống VTS Hải Phòng là 01 VTS độc lậ được đặt tại Cát Hải với khả năng hủ sóng khu vực luồng từ vùng đón trả hoa tiêu tới bến cảng Đình Vũ Hệ thống kết hợp với các thiết bị khác AIS, CCTV, VHF, SDVR,… thực hiện các chức năng quản lý, điều hành các hương tiện hoạt động trong khu vực cảng Hiện Cảng vụ hàng hải Hải Phòng đang xin chủ trương xây dựng hệ thống VTS hiện đại bao phủ toàn bộ luồng hàng hải tại Hải Phòng

Ngày 19/11/2012, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đã có Quyết định số 2987/QĐ-BGTVT phê duyệt kế hoạch tổng thể thực hiện đề án phát triển bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm

2030, theo đó đã hê duyệt Dự án đầu tư xây dựng hệ thống quản lý tàu thuyền VTS và phát triển hệ thống nhận dạng tự động AIS Việt Nam với 467,9 tỷ đồng triển khai trong giai đoan 2013-2020 Dự án dự kiến đầu tư 08 hệ thống VTS tại các luồng Hòn Gai – Cái Lân, Hải Phòng, Đà Nẵng, Dung Quất, Đầm Môn, Vân Phong, Sài Gòn – Vũng Tàu, Cái Mé – Thị Vải, Kênh Tắt – Trà Vinh

2 Hệ thống AIS

Bổ sung sửa đổi 2002 của Công ước SOLAS-74 (có hiệu lực toàn phần kể từ ngày 01/07/2004) đưa ra các quy định yêu cầu trang bị một số thiết bị cần thiết cho tàu/ bến cảng nhằm tăng cường và bảo đảm an toàn HH Cụ thể là các tàu bắt buộc phải trang bị thiết bị nhận dạng tự động (AIS) và các ngành liên quan đến HH phải tuân thủ Bộ luật an ninh tàu và cảng biển (ISPS Code)

Ngày 16/9/2003, Chính phủ Việt Nam đã chấp thuận thông qua Công ước quốc tế về về an toàn sinh mạng trên biển SOLAS - 74 sửa đổi 2002 và Bộ luật

an ninh tàu và cảng biển ISPS Code tại Quyết định số 191/2003/QĐ/TTg Theo

đó, Việt Nam có nghĩa vụ phải thiết lập hệ thống thông tin cấp cứu an toàn HH theo tiêu chuẩn GMDSS và trang bị một số thiết bị cần thiết cho tàu, bến cảng nhằm tăng cường, đảm bảo an toàn HH

Hệ thống tự động nhận dạng tự động AIS đóng vai trò như những ngọn hải đăng số, cho phép ghi nhận và báo thông tin về tàu thuyền, truyền phát thông tin

về 1 báo hiệu HH giữa các trạm AIS với nhau và giữa những trạm kiểm soát trên

bờ với những tàu thuyền có kết nối mạng AIS Các thành phần của hệ thống AIS gồm: (a) AIS trang bị trên tàu; (b) AIS trang bị trên máy bay tìm kiếm cứu nạn; (c) AIS trợ giúp hành hải và (d) AIS đài bờ

Trang 33

Các AIS trạm bờ cũng được đầu tư trang bị tại các Cảng vụ hàng hải Hải Phòng, Vũng Áng, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Vũng Tàu; các Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Miền Bắc, Hoa tiêu 1,

Ngoài ra, năm 2012 Công ty TNHH MTV Thông tin Điện tử HH Việt Nam

tự đã đầu tư trang bị hệ thống AIS gồm 25 trạm bờ phủ sóng các khu vực cảng biển chính của Việt Nam, cùng hệ thống máy chủ và phần mềm quản lý cho phép theo dõi, hiển thị thông tin tàu và nhóm tàu hoạt động trong khu vực cận

bờ và tuyến luồng HH (khoảng 25 đến 40 hải lý) Dự kiến, trong các năm tiếp theo Công ty sẽ tiếp tục đầu tư tăng thêm mật độ các trạm AIS để tăng cường phủ sóng và chất lượng Hệ thống đã hủ sóng được hầu hết các khu vực có lưu lượng tàu qua lại nhiều trên toàn quốc Hiện hệ thống đã thu hút khoảng hơn

1150 người sử dụng phần lớn là các chủ tàu, đại lý; các cơ quan quản lý Nhà nước như Cảnh sát biển và Hải quan

Về hệ thống AIS trên các báo hiệu HH, ngày 19/11/2012, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đã hê duyệt Dự án đầu tư xây dựng hệ thống nhận dạng tự động AIS trên các báo hiệu HH với tổng mức đầu tư 362,2 tỷ đồng tại Quyết định số 2987/QĐ-BGTVT về phê duyệt kế hoạch tổng thể thực hiện đề án phát triển bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm

2030

3 Hệ thống nhận dạng và truy theo tầm xa LRIT

a) Tổng quan yêu cầu hệ thống:

Ngày 19/5/2006, IMO đã thông qua Nghị quyết MSC.202(81) (có hiệu lực bắt buộc từ ngày 01/01/2008), bổ sung sửa đổi Công ước SOLAS-74 về việc thiết lập hệ thống nhận dạng và truy theo tầm xa (LRIT - The Long range Identification and Tracking of Ships), có khả năng nhận dạng và dõi theo hành trình tàu biển trên phạm vi toàn cầu Qua đó, tất cả các quốc gia thành viên tham gia Công ước SOLAS-74 đều phải tuân theo các quy định trong Nghị quyết này

và phải thiết lập một hệ thống dữ liệu LRIT trung tâm nhằm quản lý và lưu trữ

dữ liệu LRIT của các tàu treo cờ quốc gia mình

 Đối tượng và thời điểm bắt buộc phải trang bị thiết bị LRIT:

Các loại tàu bắt buộc phải trang bị thiết bị LRIT bao gồm các tàu đóng từ ngày 31/12/2008 trở đi; hoặc

Các tàu đóng trước ngày 31/12/2008 có chứng chỉ hoạt động vùng biển A1, A2 và A1, A2, A3 không quá thời điểm đợt khảo sát lắ đặt thiết bị vô tuyến đầu tiên sau ngày 31/12/2008; hoặc

Trang 34

34

Các tàu đóng trước ngày 31/12/2008 có chứng chỉ hoạt động vùng biển A1, A2, A3, A4 không quá thời điểm đợt khảo sát lắ đặt thiết bị vô tuyến đầu tiên sau ngày 01/07/2009

Đối với những tàu chỉ hoạt động trong vùng A1 có trang bị thiết bị AIS phù hợp với yêu cầu, không phải tuân theo điều khoản này

 Hệ thống LRIT bao gồm các thành phần cơ bản sau:

Thành phần trên tàu

Thiết bị phát thông tin LRIT lắp trên tàu (Thiết bị LRIT): Ngoài các yêu cầu phục vụ cho mục đích cấp cứu và an toàn hàng hải toàn cầu (GMDSS) và các thiết bị dẫn đường, thiết bi trên tàu phải có các yêu cầu tối thiểu sau:

- Có khả năng tự động phát thông tin LRIT trong khoảng thời gian 6 giờ 1 lần về trung tâm dữ liệu

- Có khả năng cấu hình từ xa để thay đổi khoảng thời gian phát thông tin LRIT

- Có khả năng hát thông tin LRIT khi nhận được lệnh poll

- Có giao diện kết nối trực tiếp với hệ thống thiết bị dẫn đường vệ tinh hoặc thiết bị có tích hợp khả năng xác định vị trí

- Tương thích với nguồn điện chính và nguồn điện dự phòng trên tàu

- Phải được kiểm tra khả năng tương thích điện từ theo khuyến nghị của IMO

Thành phần trên bờ

 Hệ thống thông tin liên lạc:

(1) Hệ thống cung cấp dịch vụ ứng dụng (ASP - Application Service Provider): Cung cấp giao thức liên lạc giữa hệ thống cung cấp thông tin liên lạc

CSP và trung tâm dữ liệu LRIT để đảm bảo các chức năng tối thiểu sau: chèn thêm các thông tin cần thiết vào bức điện LRIT, quản lý, giám sát và định tuyến các thông tin dữ liệu đầu vào, đảm bảo các thông tin LRIT được thu thậ , lưu trữ

và định tuyến một cách an toàn và bảo mật

(2) Hệ thống cung cấp thông tin liên lạc (CSP - Communication Service Provider): Cung cấp các dịch vụ kết nối giữa thiết bị LRIT lắp trên tàu với ASP,

sử dụng các giao thức liên lạc đảm bảo tính bảo mật khi truyền thông tin LRIT

Hệ thống này đang được xây dựng và phát triển dựa trên các hệ thống thông tin

vệ tinh, vô tuyến điện hàng hải hiện có (Một CSP cũng có thể cung cấp các dịch

Trang 35

35

phù hợp dựa trên các thông tin định tuyến được lấy từ LRIT Data Distribution Plan

(2) Trung tâm dữ liệu LRIT (LRIT Data Centre): Trong hệ thống LRIT có

03 loại trung tâm dữ liệu: Trung tâm dữ liệu LRIT quốc gia (NDC - National LRIT Data Centre) do quốc gia tham gia công ước thành lập và công bố; Trung tâm dữ liệu LRIT khu vực hoặc Trung tâm dữ liệu LRIT hợp tác (R/CDC - Regional or Co-operative LRIT Data Centre) do một số quốc gia thành lập lên

và việc thông báo về sự hoạt động của Trung tâm này phải được sự thống nhất giữa các quốc gia tham gia thành lập; Trung tâm dữ liệu LRIT quốc tế (IDC - International LRIT Data Centre) do Uỷ ban An toàn hàng hải quốc tế thành lập

b) Hiện trạng triển khai:

Ngày 29/10/2010 , Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đã có Quyết định số 3215/QĐ-BGTVT phê duyệt Dự án đầu tư Thiết lập hệ thống nhận dạng tự động

và truy theo tầm xa (LRIT); dự án có tổng mức đầu tư 80,1 tỷ đồng, sử dụng vốn NSNN Hiện dự án đang trong giai đoạn triển khai thực hiện, dự kiến sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2014 Dự án triển khai các hạng mục bao gồm:

- Lắ đặt thiết bị tại Đài Thông tin vệ tinh mặt đất Inmarsat Hải phòng (Đài LES Hải Phòng)

- Xây dựng Trung tâm tích hợp dữ liệu đặt tại Hải Phòng

- Kết nối với Hệ thống CSDL tàu thuyền đặt tại Văn hòng Cục Hàng hải Việt Nam Địa chỉ: Số 8, Phạm Hùng, Q Cầu Giấy, Hà Nội

- Kết nối với một số các đài LES khác trên thế giới như: Telenor (Na uy); Sentosa (Singapore); Yamaguchi (Nhật bản); Satamatics (Anh); Skywave (Canada); Iridium (Mỹ)

- Kết nối tới các Hệ thống dữ liệu LRIT trung tâm của các quốc gia; Hệ thống chuyển mạch quốc tế IDE tại Mỹ; Trung tâm phân phối dữ liệu DDP tại Anh

- Kết nối tới các đơn vị TKCN

- Kết nối tới các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan như: Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Quốc phòng; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Cục Hàng hải Việt Nam; …

4 Đánh giá hiện trạng các hệ thống thông tin trợ giúp hàng hải:

a) Các hệ thống VTS, AIS, LRIT mới chỉ bước đầu được đầu tư đưa vào sử dụng tại Việt Nam Hệ thống VTS hiện đại, đồng bộ hiện mới chỉ được đầu tư xây dựng tại luồng Sài gòn – Vũng tàu và Hải Phòng, Đối với các Cảng, các luồng hàng hải quan trọng, có mật độ lớn giao thông lớn chưa được đầu tư tương xứng với quy hoạch phát triển cảng này, nhằm giảm thiểu tai nạn hàng hải cũng như giám sát toàn bộ tàu thuyền hoạt động trên luồng đảm bảo an ninh hàng hải

Trang 36

36

b) Các trạm AIS đài bờ đã được nhiều đơn vị đầu tư lắ đặt phục vụ công tác quản lý nhưng vùng phủ sóng chỉ trong phạm vi hẹp, phần mềm quản lý còn đơn giản Hệ thống AIS của Công ty TNHH MTV Thông tin Điện tử Hàng hải Việt Nam được đầu tư 25 trạm với vùng phủ sóng rộng bao phù phần hầu hết vùng biển A1 ven bờ của Việt Nam vùng biển, phần mềm quản lý cho phép truy cập theo dõi thông qua mạng Internet

Tuy nhiên để hệ thống AIS thực sự hát huy được hiệu quả cao, khả năng

đá ứng dữ liệu với độ chính xác cao nhằm chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý cho nhiều ngành khác nhau (Hàng hải, Cảnh sát biển, Hải quan, Biên hòng,…) thì Cục Hàng hải Việt Nam cần chủ trì xây dựng hệ thống AIS quốc gia theo phê duyệt của Bộ Giao thông vận tải, trên cơ sở tích hợp và mở rộng các trạm bờ AIS hiện có, đồng thời xây dựng CSDL cùng phần mềm quản lý hiện đại trên nền tảng hải đồ điện tử ENC

c) Hệ thống thông tin trợ giúp hàng hải như VTS, AIS, LRIT chưa được xây dựng để cung cấp nguồn dữ liệu đầu vào quan trọng cho việc tích hợp chia sẻ thông tin phục vụ quản lý cũng như là cơ sở để hình thành môi trường hành hải điện tử e-Navigation

II.1.1.3 Các hệ thống thu phát sóng vô tuyến điện ngoài ngành hàng hải

Để phát huy hiệu quả và năng lực của hệ thống các Đài TTDH đảm bảo nhiệm vụ thông tin cho các công tác quản lý, điều hành của ngành Thủy sản đối với tàu cá, Quyết định số 137/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã hê duyệt “Dự án Xây dựng hệ thống thông tin quản lý nghề cá giai đoạn I” trong đó

có hạng mục “Đầu tư nâng cấ 18 đài thuộc Hệ thống các đài thông tin duyên hải” do Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản – Tổng Cục Thủy sản – Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn làm Chủ đầu tư Dự án đầu tư các hạng mục chính sau:

- Nâng công suất hát thông tin lên 500 W cho 14 Đài TTDH sau: Móng Cái, Cửa Ông, Hòn Gai, Thanh Hóa, Bến Thủy, Huế, Quy Nhơn, Phú Yên, Phan Rang, Phan Thiết, Cam Ranh, Cần Thơ, Cà Mau, Kiên Giang phục vụ thông tin liên lạc cho ngư dân, hát các bản tin chuyên ngành

Trang 37

Ngoài hệ thống Thông tin duyên hải, Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản – Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn còn triển khai Dự án xây dựng

“Hệ thống quan sát tàu cá, vùng đánh bắt và nguồn lợi thủy sản bằng công nghệ

vệ tinh”, dự án trang bị thiết bị kết nối vệ tinh cho 3000 tàu cá, nhằm theo dõi hoạt động của tàu cá và cung cấp các bản tin về ngư trường Hiện dự án đang trong giai đoạn triển khai lắ đặt thiết bị, dự kiến đến hết quý I/2014 dự án hoàn thành

Dự án lắ đặt 28 trạm bờ HF&GPS đặt tại Chi cục Khai thác bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại các tỉnh (hiện đã lắ đặt được 18 trạm) và lắ đặt thiết bị đầu cuối dự kiến cho khoảng 5.000 tàu cá đăng ký hoạt động xa bờ theo Quyết định 48/2010/QĐ-TTg ngày 13/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ Hệ thống HF&GPS cũng hục vụ yêu cầu xác định vị trí tàu cá nhằm giúp cho công tác quản lý Nhà nước chuyên ngành thủy sản đối với tàu cá, bảo vệ, hỗ trợ và khuyến khích ngư dân ra vào hoạt động trên các vùng biển xa

2 Hệ thống thông tin của Bộ đội Biên phòng

Hiện có 83 Đài canh nghe vô tuyến điện tại các đơn vị biên phòng dọc bờ biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang phục vụ thông tin liên lạc cho công tác nghiệp vụ cũng như quản lý Nhà nước của Bộ đội biên hòng, trong đó có kiểm soát các tàu cá hoạt động ra vào đất liền

Trong thời gian qua, các Đài TTDH đã ký thỏa thuận hợp tác với một số đồn biên phòng nhằm tăng cường công tác phối hợp phòng chống thiên tai, TKCN,

an toàn an ninh trên biển cũng như tuyên truyền hướng dẫn ngư dân về khai thác thiết bị thông tin liên lạc, về cách xử lý tình huống an toàn trên biển, hỗ trợ hoạt động cho các hương tiện hoạt động trên biển

3 Các hệ thống tự phát

Ngoài các hệ thống thông tin chính thống của Nhà nước, tại một số địa hương ven biển miền trung đã hình thành một số đài vô tuyến điện của bà con ngư dân tự thiết lậ để phục vụ liên lạc cho hoạt động đánh bắt xa bờ

Trang 38

38

Hoạt động của các đài vô tuyến điện này đã làm can nhiễu ảnh hưởng tới hoạt của các hệ thống viễn thông khác do sử dụng tần số không tuân theo quy định Mặt khác, do công suất máy thấp và chỉ trực canh trên một dải tần số vì khả năng liên lạc rất thấp

Hoạt động này còn làm cho thông tin tàu-bờ không tập trung vào những đầu mối trực canh thông tin quy định (Đài TTDH, Đài trực canh Bộ đội Biên Phòng, ), gây khó khăn cho các cơ quan có trách nhiệm trong việc kịp thời nắm bắt những thông tin liên quan đến an toàn hương tiện và hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển một cách nhanh chóng, chính xác để có những biện pháp can thiệp kịp thời, hiệu quả khi cần thiết

4 Đánh giá các hệ thống thu phát sóng VTĐ ngoài ngành hàng hải

a) Các hệ thống thu phát sóng phục vụ cho ngành thuỷ sản và hệ thống thông tin của biên phòng hiện đang hoạt động đồng bộ, phối hợp tốt với các đài Thông tin duyên hải trong công tác phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, an toàn an ninh trên biển, cũng như hỗ trợ lẫn nhau trong công tác quản lý chuyên ngành b) Một số hệ thống thông tin tự hát do người dân tự thiết lậ , chưa được quy hoạch tần số, gây can nhiễu tới hoạt động của hệ thống viễn thông khác, ảnh hưởng tới công tác đảm bảo an toàn an ninh, hoạt động thông tin liên lạc của các đài Thông tin duyên hải Các hệ thống thông tin tự phát này cần phải được quy hoạch, quản lý để không ảnh hưởng đến hoạt động của các hệ thống thông tin vô tuyến điện

II.1.1.4 Đánh giá hiện trạng thiết bị đầu cuối của phương tiện trên biển

Đối với tàu vận tải biển, theo quy định của Công ước Solas-74 và các sửa đổi

bổ sung tất cả là các tàu khách, tàu hàng có dung tải 300GT trở lên đóng mới sau ngày 1/2/1995 chạy tuyến quốc tế phải hoàn toàn trang bị hệ thống GMDSS

và phải được đăng kiểm kiểm tra cấp giấy chứng nhận hàng năm Ngày 30/7/2012, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 28/2012/TT-BGTVT về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trang bị

an toàn tàu biển, trong đó quy định cụ thể về thiết bị vô tuyến điện lắ đặt trên tàu Thực tế đối tượng này do kiểm tra, kiểm soát thường xuyên của chính quyền cảng cho nên việc trang bị thiết bị là đầy đủ và được kiểm tra định kỳ hàng năm Các đối tượng như tàu thủy nội địa chạy trên tuyến luồng hàng hải, ven biển hoặc từ đất liền ra đảo, tàu công vụ, phần lớn tàu cá… chưa được trang bị thiết

bị thông tin liên lạc hoặc có trang bị nhưng nhưng không liên lạc qua hệ thống Đài TTDH để sử dụng các dịch vụ về khẩn cấp, an toàn, an ninh, TKCN và phòng chống lụt bão,… do chưa biết đến hệ thống Đài TTDH hoặc do chưa nhận thức đúng về lợi ích, vai trò của các Đài TTDH Hiện cả nước có khoảng 25.000 tàu đánh bắt xa bờ trong khi đó chỉ có khoảng hơn 13.000 tàu cá thường xuyên liên lạc qua hệ thống Đài TTDH Đối với các hương tiện thủy nội địa hoạt động trên các tuyến luồng HH, các tuyến ven biển hiện chưa có quy định bắt buộc phải trang bị thiết bị thông tin trên tàu cũng như huấn luyện về thông tin an toàn đã dẫn đến lúng túng trong công tác phối hợp TKCN, thiếu kịp thời

Trang 39

Theo xu hướng phát triển của công nghệ, các định hướng phát triển và khuyến nghị của các tổ chức quốc tế về HH thì hệ thống các thông tin duyên hải

sẽ đầu tư, nâng cấp phát triển công nghệ tuy nhiên việc chuyển đổi này sẽ theo

lộ trình, có tính kế thừa và luôn đản bảo tương thích với các thiết bị đầu cuối được trang bị trên các hương tiện

II.1.2 Hiện trạng các dịch vụ thông tin trên biển:

II.1.2.1 Dịch vụ TTDH cho các tàu thuyền trang bị theo GMDSS

Hệ thống TTDH đảm bảo việc cung ứng các dịch vụ thông tin liên lạc theo quy định của IMO cho các tàu thuyền vận tải và các hương tiện khác hoạt động trên các vùng biển được trang bị các thiết bị thông tin theo GMDSS, bao gồm: dịch vụ thông tin cấp cứu, khẩn cấp và dịch vụ thông tin an toàn hàng hải

a) Thông tin duyên hải về cấp cứu, khẩn cấp, an toàn, an ninh

Hệ thống Đài TTDH Việt Nam trực canh 24/24 giờ, 7 ngày/ tuần kể cả các ngày lễ tết, sẵn sàng cho việc thu nhận và xử lý các thông tin liên quan đến báo động cấp cứu từ tất cả các tàu thuyền, hương tiện gặp nạn hoặc có sự cố trên biển, trên không, trên đất liền qua các hương thức thông tin:

 Thông tin trực canh cấp cứu DSC (Thu nhận, xử lý báo động cấp cứu

theo phương thức DSC)

- DSC là một hương thức kết nối thông tin mới và là một phần công nghệ quan trọng của Hệ thống thông tin cấp cứu an toàn hàng hải toàn cầu (GMDSS) trên các dải sóng HF, MF và VHF Chức năng DSC trên các thiết bị thu hát VHF/ MF/ HF được sử dụng để tàu phát tín hiệu cấp cứu tới bờ cũng như bờ phát xác nhận điện cấp cứu tới tàu

- Khi tàu gặp nạn, khai thác viên trên tàu gửi các thông tin ngắn gọn về tình trạng của tàu theo mẫu điện sẵn có trên máy thông tin VHF/ MF/

HF Nội dung của bức điện cấp cứu hát đi gồm các thông tin tên tàu gọi, quốc tịch tàu, vị trí, thời gian bị nạn, tính chất bị nạn và hương thức liên lạc tiế theo… Khi gửi điện DSC, tàu có thể lựa chọn gửi điện tới một Đài TTDH, hoặc tới một nhóm Đài TTDH, hoặc tất cả các Đài TTDH trong một khu vực địa lý Trong trường hợp khẩn cấp, không còn thời gian để gửi thông tin, khai thác viên có thể nhấn nút cấp cứu trên thiết bị để gửi các thông tin cơ bản của tàu cho Đài TTDH

- Thời gian phát mỗi bức điện DSC từ tàu đến Đài TTDH mất khoảng 0.6 giây trên sóng VHF và khoảng 7 giây trên sóng MF/ HF

Trang 40

40

- Bức điện DSC Đài TTDH thu nhận được là một bức điện ngắn tương tự như tin nhắn SMS trên điện thoại di động Trường hợ là điện cấp cứu hoặc khẩn cấp, chuông báo hiệu reo liên tục tại Đài TTDH cho tới khi Khai thác viên tại Đài TTDH thực hiện thao tác báo nhận bức điện Các thông tin về tàu bị nạn như tên tàu, vị trí tàu, tính chất tai nạn và yêu cầu trợ giúp của tàu ngay lập tức được Đài TTDH chuyển tới các cơ quan chức năng về tìm kiếm cứu nạn để phối hợp thực hiện công tác TKCN cho tàu

- Các tần số quốc tế DSC Đài TTDH trực canh: 2187.5 kHz; 4207.5 kHz; 6312 kHz; 8414.5 kHz; 12577 kHz; 16804.5 kHz; Kênh 70 VHF

 Thông tin trực canh cấp cứu phương thức thoại

- Dịch vụ trực canh thông tin cấp cứu thoại theo tiêu chuẩn GMDSS thực hiện nhiệm vụ trực canh tiếp nhận các cuội gọi cấp cứu hương thoại trên kênh 16 VHF Phương thức vô tuyến thoại VHF là hương thức liên lạc ở cự ly ngắn (khoảng trên dưới 30 hải lý) thuộc phân hệ sóng mặt đất Trong các trường hợp cấp cứu, việc sử dụng hương thức này vừa đảm bảo yếu tố kết nối thông tin đơn giản vừa đem lại hiệu quả cao Chính vì vậy, theo GMDSS thiết bị vô tuyến thoại VHF là một trong những điều bắt buộc phải trang bị trên tàu

- Hệ thống Đài TTDH Việt Nam luôn đảm bảo trực canh 24/7 trên kênh

16 VHF để thu nhận và xử lý các báo động cấp cứu Bằng hương thức này, hệ thống đã thu nhận và chuyển tiế thông tin đến các cơ quan TKCN liên quan Từ đó gó hần cứu sống hàng ngàn người và hương tiện

- Trong các tình huống khẩn cấ , hương thức thoại VHF không chỉ được coi là hương thức báo động ban đầu mà còn có thể sử dụng để liên lạc các thông tin tiếp theo

- Ngoài việc báo nạn bằng hương thức thoại trên MF/HF, các tàu cũng được khuyến cáo phát tín hiệu báo nạn bằng hương thức thoại VHF để các tàu lân cận biết và trợ giúp

 Trực canh cấp cứu Inmarsat (Thu nhận, xử lý báo động cấp cứu qua hệ thống vệ tinh Inmarsat)

- Hệ thống Đài TTDH Việt Nam thu nhận và xử lý báo động cấp cứu phát

đi từ các thiết bị Inmarsat B, Inmarsat-C

- Hệ thống Inmarsat thiết kế một kênh thông tin vệ tinh ưu tiên riêng trong các trường hợp cấp cứu, khẩn cấp Mỗi thiết bị Inmarsat-B, C đều

có khả năng tạo một bức điện yêu cầu với mức ưu tiên cấp cứu với cách thức khá đơn giản cho người sử dụng Chỉ cần nhấn nút được thiết kế sẵn trên thiết bị, khai thác viên trên tàu có thể chuyển bức điện cấp cứu tới Đài Thông tin vệ tinh Inmarsat (Đài LES) đã được chọn sẵn trong máy

Ngày đăng: 29/02/2016, 06:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Hệ thống thông tin vệ tinh Inmarsat - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Hình 1. Hệ thống thông tin vệ tinh Inmarsat (Trang 22)
Hình 2. Hệ thống thông tin vệ tinh Cospas-Sarsat - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Hình 2. Hệ thống thông tin vệ tinh Cospas-Sarsat (Trang 23)
Hình 3. Vùng phục vụ của hệ thống thông tin duyên hải - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Hình 3. Vùng phục vụ của hệ thống thông tin duyên hải (Trang 24)
Hình 4. Mô hình mạng thông tin duyên hải - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Hình 4. Mô hình mạng thông tin duyên hải (Trang 25)
Hình 6. Bản đồ Vùng trách nhiệm VNMCC - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Hình 6. Bản đồ Vùng trách nhiệm VNMCC (Trang 42)
Bảng 1. Dự báo lượng hàng qua cảng theo vùng lãnh thổ qua các năm: - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Bảng 1. Dự báo lượng hàng qua cảng theo vùng lãnh thổ qua các năm: (Trang 63)
Bảng 2. Dự báo nhu cầu hàng hóa vận tải qua đường biển của Việt Nam và nhu cầu lượt tàu - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Bảng 2. Dự báo nhu cầu hàng hóa vận tải qua đường biển của Việt Nam và nhu cầu lượt tàu (Trang 65)
Bảng 3. Thống kê các loại tàu cá - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Bảng 3. Thống kê các loại tàu cá (Trang 66)
Hình 8. Xu hướng phát triển của hệ thống vệ tinh Cospas Sarsat - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Hình 8. Xu hướng phát triển của hệ thống vệ tinh Cospas Sarsat (Trang 72)
Hình 9. Xu hướng phát triển của Hệ thống TTDH - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Hình 9. Xu hướng phát triển của Hệ thống TTDH (Trang 95)
Bảng 6. Các TTHC được cung cấp ở mức 1 tại Cục Hàng hải - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Bảng 6. Các TTHC được cung cấp ở mức 1 tại Cục Hàng hải (Trang 126)
Bảng 8. Các TTHC công được cung cấp ở mức 1 tại các Chi cục Hàng hải - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Bảng 8. Các TTHC công được cung cấp ở mức 1 tại các Chi cục Hàng hải (Trang 128)
Bảng 9. Các TTHC công được cung cấp ở mức 2 tại các Chi cục Hàng hải - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Bảng 9. Các TTHC công được cung cấp ở mức 2 tại các Chi cục Hàng hải (Trang 129)
Bảng 10. Các TTHC công được cung cấp ở mức 2 tại các Cảng vụ Hàng hải - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Bảng 10. Các TTHC công được cung cấp ở mức 2 tại các Cảng vụ Hàng hải (Trang 130)
Bảng 14. Hiện trạng nguồn nhân lực CNTT tại các doanh nghiệp cảng biển - QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN DUYÊN HẢI VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGÀNH HÀNG HẢI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG SAU NĂM 2020
Bảng 14. Hiện trạng nguồn nhân lực CNTT tại các doanh nghiệp cảng biển (Trang 132)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w