Tại sao cần xây dựng mạng lưới khu bảo tồn biển Các kết quả nghiên cứu khoa học của các chuyên gia trong và ngoài nước đã đưa ra minh chứng để bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý hiệu q
Trang 1ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI CÁC KHU BẢO TỒN
BIỂN TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
1 Tại sao cần xây dựng mạng lưới khu bảo tồn biển
Các kết quả nghiên cứu khoa học của các chuyên gia trong và ngoài nước đã đưa ra minh chứng để bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý hiệu quả nguồn lợi, chúng
ta nhất thiết phải thiết lập được các hệ thống khu bảo tồn đại diện chiếm từ 20 – 30% diện tích biển và đại dương (IUCN, 2007) Các mạng lưới này có thể khác biệt về giá trị sử dụng và mức độ bảo vệ, nhưng tất cả đều phải thiết kế được các khu vực bị cấm khai thác Đại diện cho các hệ sinh thái, sinh cảnh và quần xã khác nhau và đa dạng của môi trường sống ở biển và đại dương của chúng ta
Hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ chỉ mới bắt đầu xây dựng các khu bảo tồn biển có kích cỡ nhỏ Điều không thực tế nếu chúng ta kỳ vọng rằng việc xây dựng
hệ thống các khu bảo tồn biển có thể đạt được chỉ thông qua một bước duy nhất Thay vào đó, các nhà hoạch định trông đợi việc phát triển từng bước một cách có chiến lược để từ đó có thể thực hiện một mạng lưới đầy đủ
Bước khởi đầu, các quốc gia và vùng lãnh thổ cần tập trung nguồn lực để phát triển một vài khu bảo tồn được quản lý tốt, mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng địa phương Các khu vực này có thể được sử dụng nhằm mô hình hóa các lợi ích của một mạng lưới lớn hơn cho các nhà hoạch định chính sách và công chúng ở mức độ rộng lớn hơn Trong tất cả các trường hợp, mạng lưới các khu bảo tồn biển cần phải được xem xét một cách thực tế và trong một bối cảnh cụ thể Chúng không thể giải quyết được các vấn đề thiếu hụt lớn trong quản lý đại dương hoặc quản lý nguồn lợi
1.1 Mạng lưới khu bảo tồn biển là gì?
Một mạng lưới các khu bảo tồn biển (KBTB) là một tập hợp có tổ chức của các KBTB đơn lẻ, được thiết kế để liên kết các khu vực đơn lẻ lại với nhau vàđại diện cho toàn bộ các thuộc tính củađời sống sinh vật biển Các cam kết quốc tế với các mạng lưới KBTB nhận ra rằng, mạng lưới KBTB đáp ứng một cách đầy đủ các mục tiêu về sinh thái và xã hội mà một KBTBđơn lẻ không thể đạt được Với sự khó khăn của các hành động phối hợptrong nhiều quốc gia cùng một lúc, một hệ thống toàn cầu KBTB rất có thể sẽ bao gồm các hệ thống KBTB ở cấp quốc gia vàkhu vực được phân bố trên toàn cầu.Một mạng lưới các khu bảo tồn biển do đó có thể được định
nghĩa là:Một tập hợp các KBTB đơn lẻ có các hoạt động hiệp đồng hợp tác chặt chẽ
ở phạm vi không gian khác nhau với các mức độ bảo vệ khác nhau, nhằm đáp ứng các mục tiêu về sinh thái một cách hiệu quả và toàn diện hơn các KBTB đơn lẻ Mạng
Trang 2lưới cũng sẽ hiển thị được cỏc lợi ớch xó hội và kinh tế, những lợi ớch đú sẽ chỉ cú thể đạt được một cỏch đầy đủ thụng qua một khoảng thơi gian nhất định khi cỏc hệ sinh thỏi được phục hồi
Cỏc khu vực được bảo vệ một cỏch đầy đủ là cỏc khu vực khụng cú bất kỳ một hành động nào như đỏnh bắt cỏ hoặc khai thỏc nguồn lợi được phộp thực hiệnlà một phần của bất kỳ mạng lưới KBTB nào Cỏc khu vực này hoạt động như cỏc điểm trỡnh diễn cho việc đỏnh giỏ hiện trạng mụi trường và thành cụng của cỏc phương thức quản lý được ỏp dụng Chỳng cú vai trũ hết sức quan trọng đối với phục hồi và bảo vệ cỏc hệ sinh thỏi biển Cỏc khu BTB được bảo vệ đầy đủ cú sự khỏc biệt với cỏc khu BTB cú mức độ bảo vệ thấp trong cựng mạng lưới phụ thuộc vào mức độ bảo
vệ và khả năng phục hồi tài nguyờn biển
Mạng lưới cỏc KBTB cú những đúng gúp thiết thực cho phỏt triển bền vững, thụng qua việc tăng hiệu quả quản lý tổng hợp đại dương và vựng bờ biển ở cỏc khớa cạnh
Một mạng l-ới các KBTB là hai hay nhiều KBTB mà liên kết với nhau để đạt
đ-ợc các mục đích sau:
Bảo tồn đa dạng sinh học – Một nhúm cỏc KBTB được lựa chọn dựa trờn sự phõn bố
về địa lớ của động, thực vật và cỏc sinh cảnh sống đại diện cũng như sự hiện diện của cỏc loài và quần thể cỏc loài đặc biệt (cỏc loài bị đe doạ, dễ bị tổn thương) hoặc
Bảo tồn đa dạng sinh học và nõng cao sản lượng khai thỏc – một nhúm cỏc KBTB được lựa chọn dựa trờn:
Kớch thước của cỏc vựng dự trữ cần thiết để bảo vệ cỏc sinh cảnh sống cú thể tồn tại độc lập
Sự hiện diện của cỏc loài mục tiờu (cú thể khai thỏc được)
Cỏc giai đoạn dễ bị tổng thương của một số loài được chọn
Mối liờn hệ giữa cỏc vựng dự trữ và liờn kết giữa cỏc hệ sinh thỏi
Cung cấp cỏc dịch vụ của hệ sinh thỏi cho con người
2.2 Cỏc thuộc tớnh của mạng lưới khu bảo tồn biển
Liên kết sinh thái
Các KBTB trong một mạng l-ới liên kết và t-ơng tác thông qua các mối liên kết sinh thái bao gồm:
Trang 3 Các sinh cảnh sống xung quanh hoặc liên tiếp (các rạn san hô và các thảm cỏ biển)
Sự phát tán ấu trùng trong các vùng n-ớc giữa và bên trong các KBTB
Sự phát tán và lắng xuống của ấu trùng từ KBTB này đến các KBTB khác
Sự di chuyển các các sinh vật biển tr-ởng thành trong các nơi c- trú từ vùng này
đến vùng khác phụ thuộc vào các sinh cảnh sống hoặc do hiệu quả phát tán ngẫu nhiên hoặc định kì từ các KBTB
Một mạng l-ới luôn đề cập đến các khía cạnh xã hội (giao tiếp và điều phối giữa các bên liên quan trong việc lập kế hoạch và hành chính) và các khía cạnh sinh thái
(liên kết tự nhiên giữa và trong cùng các điểm riêng biệt mà làm tăng các chức năng sinh thái và lợi ích cho vùng khác) Cả hai đều quan trọng trong mạng l-ới các KBTB
Những lợi ớch của mạng lưới cỏc KBTB
Những thuận lợi của mạng lưới cỏc KBTB trong từng KBTB hoặc cỏc KBTB bất kỡ bao gồm:
Sinh thỏi
Đảm bảo rằng cỏc sinh cảnh sống quan trọng nhất được bảo vệ, ớt nhất là một phần nào đú
Đảm bảo rằng cỏc loài bị khai thỏc quỏ mức, hoặc dễ tổn thương hoặc bị đe doạ trong những vựng nhất định sẽ cú cỏc sinh cảnh sống phự hợp để tiếp tục sinh sản
Đảm bảo rằng một số ấu trựng phỏt tỏn từ một KBTB cú thể lắng xuống trong vựng phỏt tỏn của nú
Nõng cao sản lượng khai thỏc cho một vựng quản lớ nhất định nhpwf vào hiệu quả phỏt tỏn ấu trựng và cỏ được tăng cao thụng qua cỏc kế hoạch
Xó hội
Nõng cao năng lực quản lớ cỏc KBTB thụng qua cỏc cỏ nhõn, cỏc bờn quản lớ KBTB
Tạo ra một cơ sở thụng tin chia sẻ cho tất cả cỏc KBTB trong vựng hoặc mạng lưới để giỳp thực hiện những lựa chọn quản lớ
Cung cấp nguyờn nhõn lụ-gic cho cỏc nhà quản lớ KBTB riờng rẽ và cỏc bờn liờn quan để điều phối và chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau
Trang 4 Khả năng phối hợp về hành chính và tài chính giữa các bên quản lí KBTB riêng lẽ với các cơ quan và lĩnh vực khác trong cùng mạng lưới
Mạng lưới các KBTB chức năng
Một mạng lưới KBTB sẽ có cả các chiều hướng sinh thái và xã hội mà có thể gắn chặt với nhau trong việc hình thành mạng lưới chức năng Dưới đây là danh sách các tiêu chí cho một mạng lưới KBTB chức năng:
1 Các KBTB riêng lẽ nên có một mức độ quản lí hiệu quả nhất định
2 Bước đầu tiên trong việc lập kế hoạch một mạng lưới KBTB đòi hỏi sự phân tích các sinh cảnh quan trọng, khai thác thuỷ sản, hải dương học và các KBTB hiện có trước khi tìm các địa điểm KBTB tiềm năng mới
3 Trong một KBTB nên có từ 5-10% sinh cảnh sống quan trọng được nằm trong vùng lập kế hoạch
4 Các bên quản lí KBTB cần có khả năng liên kết với các ban quản lí KBTB khác trong vùng cũng như chính quyền địa phương và những tổ chức hỗ trợ khác
5 Một mạng lưới KBTB nên được đặt trong bối cảnh của các kế hoạch ICM của vùng
Cách tiếp cận toàn cầu
Cách tiếp cận toàn cầu được đề xuất cho các quốc gia làm theo lời kêu gọi hình thành các KBTB cho:
Một mạng lưới trọng tâm các KBTB được bảo vệ hoàn toàn hoặc các vùng cấm để bảo vệ các vùng có đa dạng sinh học quan trọng
Một mạng lưới rộng lớn hơn các KBTB sử dụng đa mục tiêu mà cho phép một
số hoạt động của con người trong đó, nhưng duy trì các chức năng và các quá trình sinh thái quan trọng
Mạng lưới tổng thể các KBTB quốc gia được gắn vào trong các chương trình
quản lí vùng bờ quốc gia
2 Các nguyên tắc thiết lập và vận hành mạng lưới khu bảo tồn biển
Trang 5Với việc áp dụng các nguyên tắc dưới đây trong quá trình thiết kế và xây dựng mạng lưới, các nhà hoạch định có thể tạo ra được mạng lưới KBTB đáp ứng tối đa các lợi ích về môi trường, kinh tế, xã hội kèm theo
Xác định rõ mục tiêu xây dựng mạng lưới
Ngay từ đầu, các nhà hoạch định mạng lưới KBTB cần phải xác định rõ mục tiêu trong 3 lĩnh vực:
+ Sinh thái học: tìm kiếm các giải pháp bảo vệ, quản lý và phục hồi các hệ sinh thái biển và các hợp phần kèm theo của chúng
+ Kinh tế: các mục tiêu đặt ra cần phải xác định được những lợi ích mà địa phương thu được và nhóm người sẽ bị tác động tiêu cực về lợi ích kinh tế
+ Văn hóa – xã hội: mục tiêu đặt ra bao gồm đầy đủ các lợi ích mà đa dạng sinh học mang lại, đặc biệt những tác động trực tiếp tới sức khỏe và sự phồn thịnh của cộng đồng Cơ quan chủ quản cần đảm bảo rằng tất cả các mục tiêu đặt ra của mạng lưới KBTB được đưa ra một cách cởi mở, minh bạch và cân bằng bao gồm các bên sử dụng tài nguyên, các đại diện cơ quan chính phủ và các nhóm khác có cùng quan tâm trong khu vực.Kế hoạch cho việc đạt được các mục tiêu và kỳ vọng cần phù hợp, thực tế và cảnh báo về những sai lầm có thể vấp phải
Xây dựng được ý chí và cam kết chính trị
Cam kết chính trị bắt buộc phải được xây dựng trong giai đoạn sớm của cả quá trình và cần được duy trì trong suốt thời gian Ở một số khu vực, ý chí chính trị và các nguồn lực cần thiết để thực thi các hợp phần của mạng lưới có thể đã tồn tại Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, việc triển khai mạng lưới KBTB sẽ mất rất nhiều thời gian, cho nên ý chí chính trị và cam kết kèm theo cho mạng lưới và các hợp phần của nó nhất thiết cần phải xây dựng Cácviên chức chuyên mônnếu càng nhận thức rõ hơn lộ trình quy hoạch và vai trò hỗ trợ cộng đồng, họ càngsẽ hỗ trợ mạng lưới trong quá trình lập kế hoạch, thực hiện và hơn thế nữa
Ở một số nơi trên thế giới, khuôn khổ pháp lýthường là cách duy nhất để đảm bảo tính nhất quán hoặc để tránhkhái niệm về một "khu bảo tồn biển danh nghĩa"-có nghĩa là, một KBTB đã được công bố hoặc được chỉ định, nhưng không thực sự được
hỗ trợ các hoạt động thực thi Sự ủng hộ một cách tình nguyện có thể gây ảnh hưởng tới những thay đổi trong ưu tiên chính trị buộc các chính phủ tập trung vào những ưu tiên ngắn hạn chocác chi phí của lợi ích lâu dài và rộng hơn choxã hội nói chung
Khuyến khích sự tham gia của các bên liên quan
Trang 6Phát triển mạng lưới khu bảo tồn biển có hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham gia củacác bên liên quan ngay từ đầu.Các bên liên quan tham gia tăng cường trao đổithông tin, thúc đẩy trách nhiệm giải trình của các chuyên gia vàcơ quan, làm giảm sự thiếu tin cậy trong quá trình ra quyết định và cho phép các bên liên quan hợp tác và tìm kiếm các giải pháp.Cởi mở, quá trình có sự tham gia cũng thúc đẩy một cảm giácquyền sở hữu và thành tích giữa các nhómtham gia, qua đó tăng cường hỗ trợ và ý chí chính trị cho mạng lưới KBTB Cùng với thời gian, quá trình tham vấn kế hoạch BTB hoạt động ở quy mô không gian có ý nghĩaquan trọng đối với thành công.Các hoạt động bao gồm các cuộc họp của cộng đồng bản địa do các nhà lãnh đạo truyền thống, các
cơ hội do chính phủ bảo trợ thông tinchia sẻ và bình luận, hoặc các cuộc họp liên chính phủ về lập kế hoạch
Tận dụng tối đa nguồn thông tin sẵn có
Thay vì chờ đợi cho dữ liệu hoàn hảo, bên liên quanphải sử dụng các thông tin tốt nhất có sẵn cho phân tích các khoảng dữ liệu còn trống, lập kế hoạch và ra quyết định Thông tin không nên chỉ bao gồm các dữ liệu khoa học và kinh tế xã hội, nó phải bao gồm truyền thống và kiến thức sinh thái của người bản địavà các nhóm địa phương đã đạt được về mộthệ sinh thái của khu vực, tích lũy kinh nghiệm và lưu truyền qua các thế hệ Dữ liệu mới xuất hiệntrong và sau khi quá trình lập kế hoạch
có thể được áp dụngthông qua quản lý thích ứng Sự trì hoãn về thiết kế và thực hiện hiếm khi mang lại bất kỳ lợi ích bảo tồn biển nào
Xây dựng khung quản lý tổng hợp
Điều quan trọng là thiết lập một hệ thống các quy hoạchvà quy mô quản lý, từ khuôn khổ quy hoạch quốc gia cho tới vùng và địa phương Không gian dựa vào hệ thống lập kế hoạch sẽ giúp phối hợp và cải thiệnquản lý, tách bạch sử dụng trái ngược nhau và đảm bảo dành cáckhoảng không gian thích hợp cho ngành công nghiệp, động vật hoang dãvà sức khỏe của các hệ sinh thái Khi ranh giới về sinh thái học không tồn tại với luật pháp hoặc ranh giới chính trị, các nhà hoạch định có thể giúp đảm bảo tính nhất quánqua khu vực pháp lý bằng cách tạo ra các chiến lược quản lýphản chiếu lẫn nhau trong hầu hết các khía cạnh, chẳng hạn nhưquy tắc và quy định, nhưng vẫn giữ lại các khía cạnh pháp lý độc đáo
Sử dụng kỹ thuật quản lý thích ứng
"Quản lý thích ứng" có nghĩa là bằng cách sử dụng tốt nhấtthông tin có sẵn để phát triển mạng lưới KBTB và tạo ra hệ thống giám sát và đánh giáđể kiểm tra tính hiệu quả của phương pháp quản lývà tinh chỉnh chúng theo thời gian Quản lý thích ứngtrao quyền cho các nhà quản lý để đánh giá sự thành công của họ với nỗ lực và
Trang 7thích ứng phương pháp của họ như điều kiệnvà thay đổi kiến thức.Quản lý thích ứng
có thể được sử dụng để cải thiệnnăng lực quản lý và hiệu quả, đặc biệtthông qua các chương trình phát triển chuyên môn cho người quản lý mạng và chuyên viên Khả năng thúc đẩy cơ hội để thu hút và cung cấpgiám định bổ sung, nguồn lực và công nghệ cho mạng lưới KBTB
3 Lịch sử nghiên cứu quy hoạch và vận hành hệ thống khu bảo tồn biển của Việt Nam
Ở Việt Nam công tác nghiên cứu cơ sở khoa học để thiết lập các KBTB được bắt đầu từ những năm 1993 - 1995 với sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật và lý luận của WWF, Viện Hải dương học Nha Trang và Viện Tài nguyên và Môi trường Biển đã tiến hành khảo sát đánh giá đa dạng sinh học và tiềm năng bảo tồn tại 7 vùng rạn san
hô biển nước ta Ngoài ra, một số các đề tài cấp Nhà nước thuộc Chương trình biển (KT-03, KHCN - 06), Chương trình Biển Đông - Hải đảo cũng đã được thực hiện trong giai đoạn 1991 - 2005
Năm 1998 - 1999 Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường kết hợp với Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng (nay là Viện Tài nguyên và Môi trường Biển) đã tiến hành nghiên cứu tổng thể nguồn lợi đa dạng sinh học biển Qua các số liệu nghiên cứu, bước đầu tiến hành đề xuất 15 khu bảo tồn biển để trình Chính phủ xem xét và sau đó hệ thống KBTB này lại được Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tiếp tục đề xuất vào năm 2004 (bảng 1)
Bảng 1 Thứ tự ưu tiên thiết lập 15 khu bảo tồn biển Việt Nam
STT Tên gọi các khu bảo tồn biển Tổng số điểm Xếp hạng ưu
tiên
7 KBTB Sơn Chà – Hải Vân (Thừa Thiên
Huế)
(Nguồn: Nguyễn Chu Hồi và nnk, 2004)
Trang 8Để xếp loại theo thứ tự ưu tiên các KBTB, các nhà nghiên cứu đã tiến hành thiết lập các bảng ma trận cho điểm theo các tiêu chí về giá trị bảo tồn như đa dạng sinh học, nghề cá, du lịch, tầm quan trọng quốc tế (tích cực) và đe dọa: mức độ đô thị hoá, khu công nghiệp, ảnh hưởng khác (tiêu cực) Từ phân hạng ưu tiên theo bảng 1sẽ đề xuất các KBTB trọng điểm cần được quan tâm đầu tư theo thứ tự thời gian
Năm 2005 - 2007, Viện Tài nguyên và Môi trường biển thực hiện dự án quy hoạch tổng thể các khu bảo tồn biển Hải Phòng Dự án này không chỉ quan tâm đến các khu bảo tồn biển MPA mà còn quan tâm đến các đối tượng khu dự trữ sinh quyển, các khu rừng sinh thái và đặc dụng ven biển, danh thắng ven biển, đất ngập nước ven biển.v.v
Năm 2007 - 2009 Viện Nghiên cứu Hải sản đã tiến hành thực hiện đề tài khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà nước thuộc chương trình KC.09.04/06-10 (Bộ Khoa học & Công nghệ) "Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội các KBTB trọng điểm (Cồn Cỏ, Bạch Long Vĩ, Phú Quốc, Côn Đảo) phục vụ cho xây dựng và quản lý", kết quả của đề tài đã bổ sung và cập nhật các thông tin về điều kiện tự nhiên
và môi trường, kinh tế - xã hội của các đảo trọng điểm từ đó đề xuất định hướng xây dựng và quản lý các KBTB của Việt Nam
Nhìn chung các kết quả nghiên cứu của các đề tài với những sản phẩm đã đạt được sẽ là những tài liệu quan trọng giúp cho việc thực hiện công tác quy hoạch chi tiết và vận hành có hiệu quả hệ thống các KBTB của Việt Nam trong tương lai Những đề tài nghiên cứu đó đã tạo cơ sở khoa học rất quan trọng cho việc xây dựng
và ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ sau này
Ngày 26 tháng 5 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 742/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch hệ thống Khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm
2020 Theo Quyết định này, từ giai đoạn 2010 đến 2015 sẽ tiến hành quy hoạch và đưa vào hoạt động 16 KBTB (bảng 2, hình1)
Bảng 2 Danh sách các KBTB Việt Nam đến năm 2015
(Ban hành kèm theo Quyết định số 742/QĐ/TTg ngày 26 tháng 5 năm 2010
của Thủ tướng Chính phủ)
STT Tên gọi các KBTB Tổng diện tích (ha) Diện tích biển
(ha)
3 KBTB Bạch Long Vĩ/Hải Phòng 20.7000 10.900
Trang 98 KBTB Cù Lao Chàm/Quảng Nam 8.265 6.716
Hình 1 Sơ đồ hệ thống các KBTB Việt Nam
Quá trình thiết lập và đưa các KBTB trong hệ thống vào hoạt động có thể tóm tắt như sau:
Khu BTB Hòn Mun – nay là khu BTB vịnh Nha Trang là khu BTB được thành lập đầu tiên ở Việt Nam vào năm 2001 do sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới và chính phủ Đan Mạch Hiện nay khu BTB vịnh Nha Trang được xem như một trong hai khu BTB trình diễn được Hợp phần Sinh kế bền vững bên trong và xung quanh các khu bảo tồn biển (LBTB) thuộc Chương trình Môi trường, hợp tác Việt Nam - Đan Mạch (DCE) do DANIDA tài trợ (2005-2010) hỗ trợ từ năm 2006 Trên cơ sở đó khu BTB
Trang 10mới sẽ được thành lập với mục đích là mở rộng và phát triển mạng lưới các khu BTB
ở Việt Nam
Lần lượt các khu BTB khác được thiết lập tiếp theo: Năm 2006, KBTB Cù Lao Chàm được Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam ký quyết định chính thức thành lập Vào năm 2007, khu BTB Phú Quốc được UBND tỉnh Kiên Giang chính thức thành lập Vào giữa năm 2008, với sự đề xuất của UBND tỉnh Ninh Thuận, Hợp phần LBTB đã bắt đầu hỗ trợ cho Vườn quốc gia Núi Chúa các hoạt động BTB Gần đây nhất khu BTB Cồn Cỏ đi vào hoạt động cuối năm 2008 và khu BTB Cù Lao Cau đi vào hoạt động cuối năm 2010 Cho đến nay, cả nước có hơn 5 khu BTB đã được đi vào hoạt động trên tổng số 16 khu BTB theo quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ Giai đoạn 2012 -2015 dự kiến tiến hành quy hoạch chi tiết, thành lập và đưa vào hoạt động 11 khu BTB, giai đoạn 2006 – 2012 tiến hành đề xuất mở rộng hệ thống, bổ sung thêm vào mạng lưới một số khu BTB đạt tiêu chuẩn
4 Các thách thức trong công tác quản lý hệ thống khu bảo tồn biển
ỞViệt Nam, hiện đã có 5 khu bảo tồn biển (KBTB) đã được thành lập và đi vào hoạt động, 5 khu bảo tồn biển khác đã được quy hoạch chi tiết và đềxuất thành lập Với kết hoạch đã được phê duyệt, đến hết 2015, mạng lưới 16 khu bảo tồn biển Việt Nam sẽđược hình thành và đi vào hoạt động Giai đoạn tiếp theo 2016-2020 sẽtập trung vào mởrộng mạng lưới các khu bảo tồn biển Việt Nam để đảm bảo đến hết 2020 sẽcó khoảng trên 20 khu bảo tồn biển được thành lập và đi vào hoạt động
Vềthểchế, đã có nhiều văn bản pháp lý ban hành liên quan đến thành lập và quản lýKBTB, tuy nhiên cần phải bổsung các văn bản như:
+ Thông tưhướng dẫn vềquản lý khu bảo tồn biển tại Việt nam (từTW đến địa phương); hiện đã xây dựng xong đang trình Bộ trưởng ký và ban hành;
+ Quyết định vềquy chếquản lý khu bảo tồn biển cấp tỉnh; hiện đang trình để
ký ban hành
+Hướng dẫn vềtiêu chí lựa chọn thành lập và quản lý khu bảo tồn biển: hiện đã soạn thảo xong bản dự thảo, chuẩn bị trình ký ban hành;
+Xây dựng tiêu chuẩn, định mức kinh tếkỹthuật cho đầu tưxây dựng một khu bảo tồn biển cấp quốc gia và 1 khu bảo tồn biển cấp tỉnh (chưa triển khai);
+ Đềxuất Chính phủbổsung phí bảo tồn biển vào Quyết định ban hành phí và lệphí vềbảo vệnguồn lợi thủy sản (chưa triển khai)
Các thách thức cho quản lý các KBTB bao gồm: