10: Phân bố bệnh nhân theo địa chỉ của nhóm nghiên cứu Biểu đồ 3.. 20: Phân bố bệnh nhân theo yếu tố khởi phát nhóm nghiên cứu Biểu đồ 3.. Nhằm tìm kiếm một phương pháp tập luyện có cơ s
Trang 1ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HỒ CHÍ MINH
HUỲNH TẤN VŨ
“ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA NĂM ĐỘNG TÁC DƯỠNG SINH TRÊN BỆNH NHÂN HEN SUYỄN BẰNG CÁC CHỈ SỐ HÔ HẤP”
LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA 2
TP.Hồ Chí Minh - Năm2006
Trang 2ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HỒ CHÍ MINH
HUỲNH TẤN VŨ
“ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA NĂM ĐỘNG TÁC DƯỠNG SINH TRÊN BỆNH NHÂN HEN SUYỄN
BẰNG CÁC CHỈ SỐ HÔ HẤP”
Chuyên ngành: Y Học Cổ Truyền Mã số:
LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA 2
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS LÊ THỊ TUYẾT LAN
TP.Hồ Chí Minh - Năm2006
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
HUỲNH TẤN VŨ
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ, sơ đồ
Mở đầu
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 4: BÀN LUẬN
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5N = Số ca (số trường hợp)
% = Tỉ lệ phần trăm
YHCT = Y học cổ truyền
YHHĐ = Y học hiện đại
l/ph = Lần/phút
Tiếng Anh
ERV = Expiratory Reserver Volume
FEV1 = Forced Expiratory Volume in first Second
FEV1/ VC = chỉ số Tiffeneau
FRC = Functional Residual Capacity
IC = Inspiratory Capacity
IRV = Inspiratory Reserver Volume
PEF = Peak Expiratory Flow
Trang 6cải biên năm 2000
Bảng 1.2: Phân loại hen và tắc nghẽn đường thở theo Rackemann cải biên, Pauwels và cộng sự, 2001
Bảng 1.3: Phân loại hen theo lâm sàng
Bảng 1.4: Phân bậc hen dựa vào lâm sàng và hô hấp ký
Bảng 1.5: Phác đồ 4 bậc của hen kết hợp với sử dụng thuốc
Bảng 1.6: Mục tiêu kiểm soát hen triệt để và kiểm soát tốt theo GOAL
Bảng 3.7: Chỉ số %VC sau điều trị giữa 2 nhóm hen
Bảng 3.8: Chỉ số %FEV1 sau điều trị giữa 2 nhóm hen
Bảng 3.9: Chỉ số %FEV1/VC sau điều trị giữa 2 nhóm hen
Bảng 3.10: Chỉ số %PEF sau điều trị giữa 2 nhóm hen
Bảng 3.11: So sánh cải thiện thông số hô hấp sau điều trị giữa 2 nhóm hen
Trang 7HÌNH
Hình 2 1: Giữ hơi, mở thanh quản
Hình 2 2: Xem xa xem gần
Hình 2 3: Co tay rút ra phía sau
Hình 2 4: Để tay sau gáy
Hình 2 5: Bắt chéo tay sau lưng
Hình 2 6: Để tay giữa lưng nghiêng mình
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3 1: Phân bố bệnh nhân theo giới của nhóm chứng
Biểu đồ 3 2: Phân bố bệnh nhân theo giới nhóm nghiên cứu
Biểu đồ 3 3: Phân bố bệnh nhân theo tuổi nhóm chứng
Biểu đồ 3 4: Phân bố bệnh nhân theo tuổi nhóm nghiên cứu
Biểu đồ 3 5: Phân bố bệnh nhân theo cân nặng của nhóm chứng
Biểu đồ 3 6: Phân bố bệnh nhân theo cân nặng nhóm nghiên cứu
Biểu đồ 3 7 : Phân bố bệnh nhân theo chiều cao nhóm chứng
Biểu đồ 3 8: Phân bố bệnh nhân theo chiều cao nhóm nghiên cứu
Biểu đồ 3 9: Phân bố bệnh nhân theo địa chỉ nhóm chứng
Biểu đồ 3 10: Phân bố bệnh nhân theo địa chỉ của nhóm nghiên cứu
Biểu đồ 3 11: Phân bố bệnh nhân theo trình độ học vấn ở nhóm chứng Biểu đồ 3 12: Phân bố bệnh nhân theo trình độ học vấn ở nhóm nghiên cứu
Trang 8Biểu đồ 3 15: Phân bố bệnh nhân theo lý do khám của nhóm chứng
Biểu đồ 3 16: Phân bố bệnh nhân theo theo lý do đến khám nhóm nghiên cứu
Biểu đồ 3 17: Phân bố bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh của nhóm chứng Biểu đồ 3 18: Phân bố bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh nhóm nghiên cứu Biểu đồ 3 19: Phân bố bệnh nhân theo yếu tố khơiû phát nhóm chứng
Biểu đồ 3 20: Phân bố bệnh nhân theo yếu tố khởi phát nhóm nghiên cứu Biểu đồ 3 21: Phân bố bệnh nhân về việc điều trị của nhóm chứng
Biểu đồ 3 22: Phân bố bệnh nhân về việc điều trị của nhóm nghiên cứu Biểu đồ 3 23: Phân bố bệnh nhân theo tiền căn cá nhân của nhóm chứng Biểu đồ 3 24: Phân bố bệnh nhân theo tiền căn cá nhân nhóm nghiên cứu Biểu đồ 3 25: Phân bố bệnh nhân theo tiền căn gia đình nhóm chứng
Biểu đồ 3 26 :Phân bố bệnh nhân theo tiền căn gia đình nhóm nghiên cứu Biểu đồ 3 27 :Phân bố bệnh nhân theo test dãn phế quản của nhóm chứng Biểu đồ 3 28: Phân bố bệnh nhân theo test dãn phế quản nhóm nghiên cứu Biểu đồ 3 29 : Phân bố bệnh nhân theo Dung tích sống của nhóm chứng Biểu đồ 3 30 : Phân bố bệnh nhân theo Dung tích sống nhóm nghiên cứu Biểu đồ 3 31 : Phân bố bệnh nhân theo FEV1 của nhóm chứng
Biểu đồ 3 32 : Phân bố bệnh nhân theo FEV1 của nhóm nghiên cứu
Biểu đồ 3 33 : Phân bố bệnh nhân theo FEV1/VC của nhóm chứng
Biểu đồ 3 34 : Phân bố bệnh nhân theo FEV1/VC của nhóm nghiên cứu Biểu đồ 3 35 : Phân bố bệnh nhân theo PEF của nhóm chứng
Trang 9Biểu đồ 3 38 : Phân bố của % VC nhóm chứng sau 2 tháng
Biểu đồ 3 39 : Phân bố của %FEV1 nhóm chứng lần đầu
Biểu đồ 3 40 : Phân bố của %FEV1 của nhóm chứng sau 2 tháng Biểu đồ 3 41 : Phân bố của %FEV1/VC nhóm chứng lần đầu
Biểu đồ 3 42 : Phân bố của %FEV1/VC nhóm chứng sau 2 tháng Biểu đồ 3 43: Phân bố của %PEF nhóm chứng lần đầu
Biểu đồ 3 44 : Phân bố của %PEF nhóm chứng sau 2 tháng
Biểu đồ 3 45: Phân bố của %VC nhóm nghiên cứu lần đầu
Biểu đồ 3 46 : Phân bố của %VC của nhóm nghiên cứu sau 2 tháng Biểu đồ 3 47 : Phân bố của % FEV1 nhóm nghiên cứu lần đầu
Biểu đồ 3.48 : Phân bố của %FEV1 nhóm nghiên cứu sau 2 tháng Biểu đồ 3 49 : Phân bố của %FEV1/VC nhóm nghiên cứu lần đầu Biểu đồ 3 50 : Phân bố của %FEV1/VC nhóm nghiên cứu sau 2 tháng Biểu đồ 3 51 : Phân bố của %PEF nhóm nghiên cứu lần đầu
Biểu đồ 3 52 : Phân bố của %PEF của nhóm nghiên cứu sau 2 tháng
Trang 10Sơ đồ 1.2: Nguyên nhân gây hen
Sơ đồ 1.3: Cơ chế hen atopi (sớm, muộn)
Sơ đồ 1.4 : Cơ chế Cytokin trong hen atopi
Sơ đồ 1.5: Cơ chế ISC&LABA tác dụng hiệp đồng trong điều trị hen cấp
Sơ đồ 1.6: Cơ chế tập Dưỡng sinh và sử dụng thuốc trong điều trị hen
Trang 11MỞ ĐẦU
Hen là bệnh viêm đường hô hấp mạn tính có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người [37] Hen là một vấn đề lớn trên thế giới, độ lưu hành cao và ngày càng gia tăng tại nhiều nước từ năm 1960, trung bình 6-12% trẻ dưới 15 tuổi, 6-8% người lớn
Những con số này thay đổi theo giới, tuổi, bộ tộc, dân tộc, trình độ xã hội, môi trường, đặc biệt lứa tuổi học sinh Tỉ lệ theo giới nam / nữ là 1,5-3,5 [56].3/4 số người mắc bệnh hen có cơn đầu tiên trước tuổi 20
Độ lưu hành hen cao nhất ở đảo Tristan de Cunha, Nam Đại Tây Dương: 32% dân số đảo; Độ lưu hành hen thấp nhất 0,3% ở bộ tộc Papous
ở New Zealand
Ởû Hoa Kỳ, độ lưu hành hen cứ 10 năm tăng 50%, theo số liệu ở Phần Lan năm 1989, độ lưu hành hen tăng gấp đôi so với 1965
Độ lưu hành hen thấp nhất ở một số nước: Đông Aâu (3,5%), Hy Lạp (3,35%), Trung Quốc (4%), Aán Độ (3,5%) và cao nhất ở Anh (16,13%), Australia (21,04%), New Zealand (21,39%)
Hiện nay trên thế giới có khoảng 300 triệu người bị hen, đến năm
2025 con số này tăng lên 400 triệu người.[4], [54].
Đông Nam Á là khu vực có độ lưu hành hen gia tăng với mức độ nhanh nhất Việt Nam (5%), Malaixia (9,7%), Indonexia (8,2%), Philippin (11,6%), Thái Lan (9,23%), Singapore (14,33%)
Tỉ lệ hen trẻ em tăng rất nhanh ở các nước khu vực Đông Nam Á, trong 10 năm (1984 1995)
Trang 12 Tình hình kinh tế xã hội
Các bệnh nhiễm trùng tuổi nhỏ
Các dị nguyên
Chế độ dinh dưỡng và béo phì
Ô nhiễm môi trường, sống và lao động trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hoá
Gánh nặng do hen còn thể hiện ở mức độ tử vong do hen: trên phạm
vi toàn cầu, tỉ lệ tử vong do hen có xu hướng gia tăng rõ rệt Mỗi năm có 200.000 trường hợp tử vong do hen [1], [2]
Ơû Hoa Kỳ tỉ lệ tử vong do hen tăng khá nhanh Năm 1977 có 1674 trường hợp tử vong do hen (0,8/10 vạn dân) Năm 1986 tăng lên 3955 (1,6/10 vạn dân) Năm 1988 tăng lên 4.580 Năm 2000 tăng lên 6000
Tỉ lệ tử vong do hen ở Pháp, Anh, Đức khá cao Năm 1980, ở Pháp có 1480 trường hợp tử vong do hen (4/10 vạn dân) Năm 1990 con số này tăng lên 1900 và năm 2000, có 3000 trường hợp
Trang 13Những trường hợp tử vong do hen ở Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Đức xảy ra chủ yếu ở người da đen và trên 65 tuổi, ngoài ra là trẻ dưới 15 tuổi [50] Tuy nhiên 85% trường hợp tử vong do hen có thể loại trừ, nếu chẩn đoán sớm, điều trị đúng và kịp thời, tiên lượng đúng diễn biến của bệnh Gánh nặng toàn cầu do hen phụ thuộc nhiều vào yếu tố nguy cơ gây bệnh
Yếu tố chủ thể là những yếu tố làm dễ phát bệnh hen, làm bệnh tiến triển, trong đó có yếu tố di truyền, cơ địa và thể tạng dị ứng (2001) Đại hội hen toàn cầu (Chicago, 2001) đã nhấn mạnh yếu tố di truyền trong
cơ chế bệnh sinh của hen
Yếu tố môi trường sống và lao động bao gồm hàng vạn dị nguyên, yếu tố ô nhiễm trong môi trường sống và các yếu tố nghề nghiệp trong môi trường lao động[48]
Gánh nặng toàn cầu do hen còn thể hiện ở chi phí do hen ngày một tăng, tính theo đầu người, bao gồm chi phí trực tiếp (tiền thuốc, xét nghiệm, viện phí) và chi phí gián tiếp (ngày nghỉ việc, nghỉ học, giảm năng suất lao động, tàn phế chết sớm) Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới, bệnh hen gây tổn phí cho nhân loại lớn hơn chi phí cho 2 căn bệnh hiểm nghèo của thế kỷ là lao và HIV/AIDS cộng lại[3], [54]
Theo báo cáo của hội hen dị ứng và miễn dịch lâm sàng Ở Việt Nam có khoảng 4 triệu người mắc bệnh hen, mỗi năm nước ta phải mất tới hàng chục tỉ USD chi phí trực tiếp cho việc điều trị hen, trung bình phí tổn cho một bệnh nhân hen là 301USD, chiếm 6-15% thu nhập của gia đình bệnh nhân Từ 1961 đến nay, tỉ lệ mắc bệnh tăng từ 2 lên đến 5% dân số,
do quá trình đô thị hoá và sử dụng thuốc bừa bãi, hoá chất[5] Ts Lê Văn
Trang 14Khang, trưởng khoa dị ứng và miễn dịch lâm sàng Bệnh viện Bạch Mai cho biết số bệnh nhân hen tại Khoa hiện tăng 2,5 lần so với năm 1990, tỉ lệ bệnh nhân nặng lên tới 82% [36]
Nhân ngày toàn cầu phòng chống hen (2004), Bộ Y Tế đã yêu cầu ngành y tế: tập trung đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nhằm phổ biến kiến thức cho người dân biết cách phòng ngừa bệnh hen và tiếp cận các dịch vụ y tế điều trị căn bệnh này; xây dựng phác đồ điều trị chính thức để kiểm soát bệnh hen tại cộng đồng và trong các cơ sở y tế phát triển mạng lưới phòng chống hen trên toàn quốc, đặc biệt đầu tư cho vùng khó khăn, người nghèo và dân tộc ít người; nâng cao năng lực chuyên môn phòng chống hen cho cán bộ y tế
Ở Việt Nam hơn 90% số người bị hen chưa hiểu biết về cách phòng ngừa và điều trị bệnh [3]
Có nhiều cách phòng và cắt cơn hen của y học hiện đại cũng như Y học cổ truyền
Đã có công trình nghiên cứu cũng như phương pháp điều trị hen trong Y học cổ truyền như:
Nghiên cứu sự thay đổi của một số chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng
ở người tập Dưỡng sinh theo phương pháp Bs.Nguyễn Văn Hưởng Ts Phạm Huy Hùng đã giải thích sự thuyên giảm ở một số bệnh nhân hen trong các lớp Dưỡng sinh[16], [18]
Công trình nghiên cứu Dưỡng sinh của Ts.Phạm Huy Hùng: bao gồm tập 5 động tác (Thở 4 thời, Ưỡn cổ, Chiếc tàu, Xem xa xem gần, Bắt chéo tay sau lưng) và cứu 9 huyệt (Thái uyên, Túc tam lý, Phong long, Chiên
Trang 15trung, Trung phủ, Định suyễn, Phế du, Thận du, Tỳ du) giúp cho người bị hen giảm thuốc, giảm cơn, giảm mức độ nặng, tăng cảm giác dễ chịu, tăng lưu lượng đỉnh.[17]
Ngoài ra việc châm cứu (chủ yếu huyệt: Phế du, Thiên đột, Chiên trung….), xoa bóp (chủ yếu vùng cổ gáy, ngực), khí công (chủ yếu cách thở), và dược liệu (Ma hoàng, Hạnh nhân, Thạch cao, Cam thảo, Tô tử, Quế …) ăn uống tiết chế, cũng góp phần chăm sóc và điều trị hen theo Y học cổ truyền[7], [13], [20]
Nhằm tìm kiếm một phương pháp tập luyện có cơ sở khoa học, dễ làm, phù hợp với các đặc điểm của bệnh hen, có thể tập mọi lúc, mọi nơi, giúp ngừa cơn hen, cải thiện thông khí, giảm bớt chi phí cho bệnh nhân, cho xã hội, với cơ sở lý luận cơ chế và ứng dụng Dưỡng sinh vào bệnh hen, các động tác tập luyện trong giáo trình giảng dạy Dưỡng Sinh tại khoa Y học cổ truyền theo phương pháp Bs Nguyễn Văn Hưởng Chúng tôi chọn 5 động tác Dưỡng sinh thở thể dục 4 thời đưa vào nghiên cứu lâm sàng và thông qua đó đánh giá tác dụng của 5 động tác này bằng các chỉ số hô hấp
đo đạc được với hô hấp ký
Trang 16MỤC TIÊU ĐỀ TÀI:
Mục tiêu tổng quát:
Đánh giá tác dụng của năm động tác Dưỡng sinh trên bệnh nhân hen suyễn bằng các chỉ số hô hấp
Mục tiêu chuyên biệt:
Đánh giá tác dụng mức độ cải thiện các chỉ số hô hấp trước và sau 2 tháng dùng thuốc phòng cơn ở bệnh nhân hen không tập luyện bằng hô hấp ký (nhóm chứng)
Đánh giá tác dụng mức độ cải thiện các chỉ số hô hấp trước và sau 2 tháng dùng thuốc phòng cơn ở bệnh nhân hen có tập năm động tác Dưỡng Sinh bằng hô hấp ký (nhóm nghiên cứu)
So sánh kết quả mức độ cải thiện các chỉ số hô hấp giữa 2 nhóm chứng và nhóm nghiên cứu sau 2 tháng dùng thuốc và dùng thuốc có tập luyện bằng hô hấp ký
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 QUAN NIỆM Y HỌC HIỆN ĐẠI VỀ HEN :
Hen là một trong những bệnh lâu đời nhất, phổ biến nhất hiện nay, độ lưu hành của hen ngày càng gia tăng, nhưng chẩn đoán và điều trị chưa đạt kết quả mong đợi, hen trở thành gánh nặng toàn cầu
1.1.1 Lịch sử và định nghĩa bệnh hen :
Avicene, người thầy thuốc Trung cổ (980-1037) đã nêu vai trò co thắt và yếu tố thần kinh trong hen
Maimonide (1135-1204) thông báo về nguyên nhân gây hen là lông lạc đà và yếu tố di truyền trong gia đình có người mắc bệnh hen
Ambroise Paré (1509- 1590) thông báo lông mèo có khả năng gây hen ở người Và sau đó Mattioli (1501-1577) đã chứng minh nếu nuôi mèo trong phòng của người bệnh sẽ xuất hiện cơn hen
Botallo (1530-1571) phát hiện viêm mũi và hen do hoa hồng
Paracelse (1493-1541) thông báo cơn khó thở ở công nhân mỏ
Trang 18Nhiều nhà y học các thế kỷ XVII, XVIII, XIX đã góp phần tìm hiểu nguyên nhân, mô tả, phân loại các cơn hen như Van Helmont (1579-1644), Floyer (1641-1734), Râmzzini (1633-1703), Borel là người đầu tiên test da với dị nguyên biểu bì lông súc vật (chó, mèo, ngựa v.v ) để chứng minh đó là những nguyên nhân gây hen
Willis (1621-1675) ở Anh nhấn mạnh vai trò hệ thần kinh trong bệnh sinh của hen Và đến Cullen (1710-1790) xác nhận hen do co thắt phế quản có nguồn gốc thần kinh
Boisier de Sauvage ở Pháp (1706-1777) phân biệt 20 loại hen
Thế kỷ XVIII là thời kỳ mở đầu của miễn dịch học với công trình tiêm chủng của Jenner
Thế kỷ XIX, ghi nhận nhiều công trình nghiên cứu về hen
Laennec (1782- 1826) sử dụng ống nghe để nghe phổi, phát hiện ở ngực người có ran rít, ran ngáy Và năm 1819 đã mô tả đờm “hạt trai” và gọi
“Hen phế quản” để phân biệt với các bệnh khác của phế quản cũng gây khó thở
Salter (1823-1871) nhận xét tính gia tăng đáp ứng phế quản ở người hen
Erhlich (1854-1915) phát hiện mastocyte và eosinophile và các tế bào chủ yếu trong các phản ứng dị ứng và viêm trong hen; phát hiện vòng xoắn Curschmann và tinh thể Charcot Leyden trong đờm người hen
Turner (1795-1833) đã công bố chuyên khảo về bệnh hen nghề nghiệp
Trang 19Năm 1851 Hecht ở Strasbourg bảo vệ luận án về hô hấp ký trong chẩn đoán hen.[10], [14], [55], [56].
Thế kỷ XX đã ghi nhận những tiến bộ vượt bậc nghiên cứu cơ chế, chẩn đoán và điều trị hen
Công trình sốc phản vệ của Riche và Portier năm 1902 đã mở đầu nghiên cứu về cơ chế hen và bệnh dị ứng Pirquet đề xuất thuật ngữ atopi và dị ứng vào năm 1906, nhấn mạnh yếu tố dị ứng trong hen Năm 1921, Prausnitz chứng minh các kháng thể dị ứng trong hen Năm 1935 Landsteiner đã giải thích bằng cách nào formaldehyde đã trở thành kháng nguyên Cooke và các tác giả Hoa Kỳ thông báo khả năng sử dụng các test
da để chẩn đoán các yếu tố gây hen Phát hiện IgE của Ishizaka và Johansson năm 1966 đã mở ra thời kỳ mới nghiên cứu cơ chế hen
Năm 1910, Dale phát hiện Histamin là chất trung gian đầu tiên gây
co thắt phế quản, tiếp sau đó Staub (1937), Halpern (1942), Bovet (1946) đã tìm ra nhiều đối kháng anti H1 (kháng Histamin) thế hệ đầu tiên như: Néoantergan, Prometazin v v…
Nhờ Cohen (1900) lịch sử các thuốc chữa hen bắt đầu với Adrenalin, Kossel (1937) với Theophyllin, Caryerr (1950) với Cortison, Gelfand (1951) đề xuất Corticoid khí dung
Cox và Altounyan (1967) phát hiện Cromone đầu tiên chữa hen là Cromoglycate de solium Từ năm 1969 xuất hiện nhiều loại thuốc điều trị hen có hiệu quả như Salbutamol khí dung đầu tiên là Ventoline (1969), Terbutalin (Bricanyl) năm 1971, Corticoid khí dung Beclometason (Becotide), Budesonide (Pulmicort) và năm 1993 xuất hiện Corticoide khí
Trang 20dung loại mới Fluticason (Flixotide) Các thuốc cường tác dụng dài được ứng dụng năm 1988 như Salmeterol (Serevent) Formoterol (Foradil) dẫn đến hình thành thuốc phối hợp LABA + ISC như Seretide, Symbicort là những thuốc hiệu quả trong điều trị dự phòng hen
Những năm cuối thế kỷ XX, bắt đầu từ năm 1992, đã mở đầu thời kỳ thay đổi với những tiến bộ to lớn trong phòng chống hen toàn cầu với công ước quốc tế chẩn đoán và quản lý hen (1993), chương trình toàn cầu kiểm soát hen (Global Intiative for Asthma : GINA) năm 1998, hoàn chỉnh năm
Định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (1974): Hen là một bệnh với những cơn khó thở do nhiều chất kích thích hoặc do gắng sức gây ra, dẫn đến các biểu hiện tắc nghẽn đường thở (tắc nghẽn hoàn toàn hoặc từng phần) do các cơ chế miễn dịch hoặc không miễn dịch tạo nên
Định nghĩa của Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ (1975): Hen là một bệnh với đặc điểm gia tăng đáp ứng đường thở với nhiều chất kích thích, dẫn đến khó thở và tự hồi phục hoặc do điều trị
Trang 21Định nghĩa của Hội Phổi Hoa Kỳ (1987): Hen là hội chứng lâm sàng có sự gia tăng đáp ứng đường thở với nhiều chất kích thích, dẫn đến các triệu chứng: khó thở, khò khè, ho, các biểu hiện này có thể thay đổi mức độ nặng nhẹ do điều trị hoặc tự hồi phục
Ba định nghĩa trên đây nhấn mạnh sự thay đổi đáp ứng đường thở, nhưng chưa giải đáp nhiều vấn đề trong chẩn đoán và điều trị hen Vì sao càng dùng nhiều loại thuốc giãn phế quản để cắt cơn hen, bệnh ngày càng nặng? Do vậy nhiều người cho rằng hen là một bệnh không điều trị được?
Năm 1992, 18 nhà y học thế giới đã họp tại viện quốc gia Tim, Phổi, Huyết học Hoa kỳ tại Bethesda, bang Maryland Hoa kỳ đã thống nhất quan niệm “Hen là viêm mạn tính đường thở” Quan niệm mới này đã tạo nên những thay đổi to lớn trong chẩn đoán và điều trị hen, trên cơ sở những định nghĩa mới về hen: “Hen là một bệnh viêm mạn tính đường thở, với sự tham gia của nhiều tế bào và yếu tố tế bào” Tình trạng viêm mạn tính nói trên dẫn đến sự gia tăng đáp ứng đường thở với các đợt khò khè,
ho và khó thở lặp đi lặp lại Giới hạn đường thở lan toả, thay đổi và thường có hồi phục hoàn toàn
Định nghĩa trên này do 18 chuyên gia đề xuất và được công bố với sự bảo trợ của Bộ y tế Hoa kỳ năm 1992, trong định nghĩa này đáng lưu ý:
Lâm sàng là cơ sở của định nghĩa khó thở là triệu chứng chính, xuất hiện từng cơn vào ban đêm hoặc sáng sớm Các triệu chứng khác của hen (khò khè, ho) đều có thể biến đổi, đảo ngược Tự hồi phục hoặc do điều trị
Trang 22Chức năng hô hấp, tình trạng tắc nghẽn phế quản cũng có thể biến đổi, đảo ngược Đó cũng là cơ sở nữa của chẩn đoán hen thông qua hô hấp ký, FEV1 (thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên)
Sự phục hồi được xác nhận khi FEV1 tăng 12-15% sau khí dung 200µg-400 µg phế quản tác dụng nhanh (salbutamol)
Tính gia tăng đáp ứng phế quản cũng là một đặc điểm của hen
Về phương diện sinh lý bệnh, tình trạng viêm đường thở là quá trình bệnh lý chủ yếu của hen Có tác giả xác định thêm: hen là viêm đường thở có nhiều eosinophil chính viêm mạn tính đường thở với nhiều tế bào ái toan là nét phân biệt tình trạng viêm trong hen với tình trạng viêm trong bệnh lý khác của hệ hô hấp Hiện tượng viêm này là nền tảng của tất cả biểu hiện lâm sàng của hen: nó gây ra những bất thường quan trọng về mặt sinh lý, đó là hiện tượng quá mẫn đường thở Sự nhạy cảm quá mức của đường thở đối với các dị nguyên trong môi trường dẫn đến hậu quả là hẹp đường thở, khò khè và khó thở
Tình trạng viêm cũng gây nên những triệu chứng quan trọng khác như ho, nặng ngực Các chất trung gian gây viêm trong hen được sinh ra với số lượng nhiều hơn bình thường trên những bệnh nhân hen, tạo nên nét sinh lý bệnh học điển hình trong bệnh hen Co thắt cơ trơn phế quản thoát huyết tương và phù nề, giãn mạch, tăng tiết chất nhày và hoạt hoá đầu tận cùng thần kinh cảm ứng
1.1.2 Hiểu biết mới về cơ chế của hen
Phát minh sốc phản vệ của Richet và Portier này 14/2/1902- giải Nobel
1913 đã mở đầu thời kỳ nghiên cứu cơ chế của hen và các bệnh dị ứng
Trang 23Năm 1910 Dale tìm ra histamin là chất trung gian gây co thắt cơ trơn (phế quản, ruột v.v…), đây là cơ sở của thuyết vạn năng của histamin trong
cơ chế dị ứng, trong đó có bệnh hen, dẫn đến hình thành thế hệ 1 các kháng histamin (1937) mà các tác giả đầu tiên là Staub, Bovet và Halpern (1942) Từ năm 1956, phát hiện hàng loạt chất trung gian mới trong cơ chế hen và dị ứng (Serotonin, Bradykinin, SRS-A (Slow Reacting Substance of Anaphylaxis), Acetylcholin v.v… ) cho đến những năm 70 của thế kỷ trước Với quan niệm về cơ chế của hen có nguyên nhân co thắt cơ trơn, nên đã có nhiều thuốc giãn phế quản cắt cơn hen (adrenaline, ocriprenalin, salbutamol, terbutalin, fenoterol.v.v….) đưa vào sản xuất Sự lạm dụng thuốc giãn phế quản đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho người bệnh, điển hình là các vụ dịch hen ở New Zeland và Australia những năm
60 và 70 của thế kỷ 20 Vào đầu những năm 90 đã tích luỹ được nhiều sự kiện trên thực nghiệm và lâm sàng về vai trò chủ đạo của bệnh lý viêm mạn tính đường thở trong bệnh hen nên cuối năm 1992 hội nghị chuyên đề về hen tại Viện Quốc Gia Tim, Phổi, Huyết học (Hoa Kỳ) tại bang Maryland, các nhà y học đã thống nhất đề xuất thuyết mới về cơ chế của hen là viêm mạn tính đường thở
Những nghiên cứu mới nhất về hen cho thấy cơ chế phát sinh bệnh này rất phức tạp, có sự tham gia của :
Nhiều quá trình bệnh lý: Viêm mạn tính đường thở
Co thắt cơ trơn đường thở Gia tăng đáp ứng đường thở
Trang 24Nhiều tế bào viêm: đại thực bào, Th0 Th2 , tế bào mast, eosinophils, basophils, lymphocytes, tế bào biểu mô, tế bào nội mô
Nhiều yếu tố thể dịch: các chất trung gian tiên phát (histamin, serotonin, bradikinin, PAF, ECF, v.v ); các chất trung gian thứ phát (leucotrien, prostaglandin, các neutropeptids); các cytokines (interleukin từ
1 đến 18); GMCSF, TNF, TGF, IFN
Các phân tử kết dính (Adhesion molecules): ICAM1, ICAM2, VCAM1.v.v
Nhiều enzymes (histaminase, trytase, chymase.v.v….)[4], [42], [44]
1.1.2.1 Cơ chế trong định nghĩa hen
Sơ đồ 1.1: Cơ chế hen theo định nghĩa
Yếu tố nguy cơ (làm phát sinh bệnh hen)
Yếu tố nguy cơ (gây cơn hen cấp)
Trang 251.1.2.2 Những nguyên nhân gây hen
Sơ đồ 1.2: Nguyên nhân gây hen
Đáp ứng miễn dịch
Th2, IgE, IgG4, IgG1
Gen, cơ địa
ozone 2
Trang 261.1.2.3 Hen atopi (sớm, muộn)
Sơ đồ 1.3: Cơ chế hen atopi (sớm, muộn)
IL5
Histamin Tryptase PGD2, LTC4
LTC4MBP ECP EPO
Eo
Mast cell
Eo
Mast
cell
Trang 271.1.2.4 Cytokin trong hen Atopi
Sơ đồ 1.4 : Cơ chế Cytokin trong hen atopi Viêm
ECP EPO LTC4Biểu mô
APC
Trang 281.1.2.5 Vai trò phân tử kết dính
Trong cơ chế của hen, có vai trò của các phân tử kết dính Các phân tử kết dính hoạt hoá tế bào viêm (eosinophils, basophils) và vận chuyển các tế bào viêm theo đường tuần hoàn đến vị trí viêm
Những phần tử kết dính chủ yếu là glucoprotein, chủ yếu là:
ICAM1 (intercellular adhesion molecule 1)
ICAM2 (intercellular adhesion molecule 2)
VCAM1 (vasculer cell adhesion molecule 1)
LFA-1 (lymphocyte function related antigen 1)
1.1.2.6 Tóm tắt
Trong cơ chế của hen, có các tế bào viêm như:
Tế bào mast với các mediators: IL4 , IL5 , TNF, Histamine, PGD2, Tryptase, Chymase
Eosinophile với các mediators: IL3 , IL5 ,IL6, TNF,IL13, MBP, GMCSF, ECB
Lymphocyte: GMCSF, IL4 , IL5 ,IL9, IL13, RANTES,
Đại thực bào: IL1 , IL6, IL8, GMCSF
1.1.3 Phân loại hen:
Các tác giả có nhiều ý kiến khác nhau về cách phân loại hen,
vì không xác định được nguyên nhân trong các thể hen Đáng lưu ý mấy phân loại sau đây:
Trang 291.1.3.1 Phân loại hen theo Rackemann (1947) sau được Pauwels, Holgate và Platt, Mills cải biên năm 2000
Bảng 1 1: Phân loại hen theo Rackemann, Pauwels, Holgate và Platt, Mills cải biên năm 2000
Hen atopi
Nồng độ cao IgE, bệnh nhân mẫn cảm với nhiều dị nguyên, tiền sử dị ứng với cá nhân và gia đình
Hen không atopi sớm Thường là hen nặng dai dẳng
Hen không atopi muộn
Thường có hội chứng tăng tế bào ái toan, polyp mũi, viêm xoang
Hen kết hợp với một
số bệnh phổi khác
Thành phần hen trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, khí thủng phổi
Hen kết hợp viêm
động mạch Hội chứng hen, viêm nút quanh động mạch
Hen do gắng sức Thường gặp trẻ dưới 15 tuổi
Hen dạng ho Ho khan mạn tính
Hen do Aspirin
Hen có 3 biểu hiện : bất dung nạp với aspirin, viêm mũi, polip mũi
Hen nghề nghiệp
Hen do phơi nhiễm với một số hơi, khí ở nơi sản xuất
Trang 301.1.3.2 Phân loại hen và tắc nghẽn đường thở theo Rackemann cải biên, Pauwels và cộng sự, 2001
Bảng 1.2: Phân loại hen và tắc nghẽn đường thở theo Rackemann cải biên, Pauwels và cộng sự, 2001
Trẻ ≤ 2 t
Viêm tiểu phế quản (khò khè, cơn đơn lẻ hoặc nhiều cơn) viêm phổi phế quản
Mẹ hút thuốc lá, phổi hẹp từ khi sinh
3 Hen nội sinh muộn
4 Các hình thái khác tắc nghẽn đường thở
- Mẫn cảm với dị nguyên nội thất
- IgE cao, tăng bạch cầu ái toan
- polyp mũi, viêm xoang Tăng thông khí,
> 45tuổi
Khò khè liên tục Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
FEV1 giảm do hút thuốc lá kéo dài
1.1.3.3 Phân loại hen : dị ứng và không dị ứng (Ado, 1960)
Hen không dị ứng do:
Rối loạn nội tiết
Yếu tố môi trường
Rối loạn tâm thần
Trang 31 Gắng sức
Aspirin và các thuốc chống viêm không steroid (NSAID)
Hen dị ứng do nhiều nguyên nhân trong môi trường sống và lao động
Không nhiễm trùng:
+ Bụi nhà, bụi thư viện, bụi đường phố
+ Nhiều loại phấn hoa (cây cỏ) như Ambrosia, Hướng dương + Lông vũ
+ Biểu bì lông súc vật (chó, mèo, ngựa v.v.) + Thực phẩm (sữa, trứng, cá v.v )
+ Thuốc
Hen dị ứng nhiễm trùng do
+ Một vài loại vi khuẩn + Một số virus (Arbovirus, Adenovirus, VRS, Rhinovirus, Coronavirus)
+ Một số nấm, mốc (Alternaria, Cladosporium, Aspergillus,
…)
[4],[5],[43], [44]
Trang 321.1.3.4 Phân loại theo biểu hiện lâm sàng:
Bảng 1.3: Phân loại hen theo lâm sàng
Khó thở Khi đi lại Khi nói, ngồi,
Mạch (l/ph) < 100 100-120 > 120, mạch đảo Chậm
Trang 33Bảng 1.4: Phân bậc hen dựa vào lâm sàng và hô hấp ký
Triệu chứng ban ngày Triệu chứng
ban đêm
%PEF hay FEV1
%thay đổi PEF
> 80%
< 20%
Bậc I Không thường xuyên
> 1 lần/ tuần nhưng ≤ 1lần/
ngày các cơn có thể ảnh
hưởng đến hoạt động
>2 lần/tháng
> 80%
20 - 30%
Bậc II Nhẹ Dai dẳng
Mỗi ngày phải dùng thuốc
cắt cơn tác dụng ngắn
Cơn liên tục, giới hạn hoạt
động thể lực
< 60%
>30%
Bậc IV Nặng, dai dẳng
1.1.4 Triệu chứng hen điển hình:
Cơn hen xuất hiện đột ngột, thường về đêm, thời gian xuất hiện phụ thuộc vào nhiều yếu tố Có tiền triệu là ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mắt, nước mũi, ho từng cơn, bồn chồn hoảng sợ, đầy bụng…, nhưng không phải lúc nào cũng có Tuy nhiên các tiền triệu chứng này vẫn có một giá trị đặc biệt đối với bệnh nhân hen Sau cơn khó thở chậm, khó thở ở thì thở ra xuất hiện nhanh Trong cơn hen, lồng ngực bệnh nhân căng ra, sử dụng các
cơ hô hấp phụ, vẻ mặt, cơ thể tím tái Nhịp thở chậm tiếng thở rít kéo dài,
Trang 34đứng xa có thể nghe thấy tiếng thở rít của bệnh nhân Nếu nghe phổi sẽ thấy tiếng ran ngáy, nhất là tiếng ran rít Trong trường hợp co thắt phế quản nhiều, thời thở ra rất dài và khi đó, nghe phổi khó thấy tiếng rít Cơn khó thở này kéo dài hoặc ngắn tuỳ từng bệnh nhân
Sau vài phút đến vài giờ, đến giai đoạn viêm long, báo hiệu sắp hết cơn, bệnh nhân khạc nhổ rất khó khăn, ra được một ít đờm đặc, quánh, có những hạt nhỏ trông như hạt trai Lúc này nghe phổi có thể thấy nhiều tiếng ran ẩm Xem vi thể chất đờm thấy có nhiều bạch cầu ưa acid cùng các tinh thể Charcot-Leyden do các chất lysophospholipase từ bạch cầu ưa acid và các sợi xoắn Crushmann Khạc đờm nhiều báo hiệu cơn hen đã hết
Nếu X quang lồng ngực lúc lên cơn hen, thấy lồng ngực căng phồng, hai bên phế trường quá sáng, các khoang liên sườn giãn rộng, xương sườn nằm ngang, và cơ hoành 2 bên bị đẩy xuống thấp
Giữa các cơn, các triệu chứng trên không còn Lúc này khám lâm sàng người bệnh thấy bình thường Tuy nhiên, nếu làm một số thử nghiệm như nghiệm pháp gắng sức mạnh, nghiệm pháp dùng acetylcholin hoặc methoscholine thì vẫn phát hiện tình trạng tăng hoạt tính của các phế quản
Trên đây là những cơn biểu hiện của một cơn hen điển hình Sau đó, tuỳ theo từng trường hợp và sự tiến triển của cơn hen mà có những dạng khác nhau
Sự tái phát tuỳ theo chu kỳ riêng của từng bệnh nhân, phụ thuộc vào sự tiếp xúc với các dị nguyên trong các trường hợp hen dị ứng Hoàn cảnh
Trang 35xuất hiện cơn hen và các nhịp điệu cơn giúp tìm nguyên nhân của hen Những cơn hen cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố kích phát khác nhau như
ô nhiễm môi trường, sương mù, các chất kích thích phế quản hoặc đôi khi
do yếu tố tâm lý hoặc nội tiết ( hành kinh, có thai….) Khi nhiều cơn hen liên tiếp nhau, không có lúc nào trở lại bình thường giữa các cơn gọi là cơn hen kịch phát, có thể do tình trạng nhiễm khuẩn thêm vào hoặc do dị ứng quá nặng Cần phân biệt với cơn hen ác tính, một ca cấp cứu nguy hiểm do rối loạn thông khí
Tuỳ theo tần suất cơn, chia mức độ nặng nhẹ hen như sau :
Loại I : Thỉnh thoảng mới lên cơn, thường trên tháng có một cơn Loại II : Có nhiều cơn trong một tháng, nhưng mỗi tuần chỉ có một cơn
Loại III : Có nhiều cơn trong tuần
Loại IV : Lên cơn hàng ngày và nhiều khi có bệnh cảnh của một bệnh hen có cơn khó thở liên tục[10]
Việc xếp loại như trên xác định mức độ nặng của bệnh trong một thời điểm nhất định của cả quá trình bệnh Tuy nhiên, trong quá trình mắc bệnh, vẫn có thể những biến động tự phát bị hen từ nhỏ nhưng giảm dần và có thể hết hẳn ở tuổi trưởng thành rồi lại tái hiện ở tuổi già Việc sắp xếp này còn cho phép xác định được hiệu quả điều trị
Hen có thể phối hợp với các biểu hiện bệnh lý khác của đường hô hấp, khiến chẩn đoán bệnh có thể gặp khó khăn, nhất là hen ở hàng thứ yếu hoặc quá nặng làm cho các bệnh khác có thể bỏ qua Đó là những biểu hiện dị ứng của đường hô hấp trên: chảy nước mũi, ngạt mũi thường
Trang 36là tiền triệu của các cơn hen điển hình Nếu thăm khám kỹ có thể thấy một vài tiếng rên rít kín đáo ở phổi, chứng tỏ tình trạng dị ứng xuống cả các phần đường hô hấp phía dưới
Viêm thanh quản co thắt với các triệu chứng ho thành cơn, kiểu như
ho gà, không xảy ra về ban đêm cũng có thể gây chẩn đoán bỏ qua hen phối hợp
Viêm phế quản mạn tính thường ở người hen lâu năm Vì vậy, trong các trường hợp bệnh nhân có những cơn khó thở kịch phát, không nên chỉ dừng lại ở chẩn đoán viêm phế quản mạn tính co thắt mà phải cố tìm trong tiền sử bệnh để phát hiện bệnh hen
Trước một bệnh nhân bị hen thầy thuốc phải xác định được nguyên nhân và những phối hợp có khả năng ảnh hưởng đến diễn biến, cách điều trị bệnh Muốn vậy, phải có một loạt những xét nghiệm cận lâm sàng Việc lựa chọn các xét nghiệm dựa trên sự hiểu biết thật chính xác các nguyên nhân đã gây bệnh hen
Hen chia thành 2 nhóm chính: Dị ứng (ngoại lai ) và nội tại
1.1.4.1 Hen dị ứng (ngoại lai):
Đặc điểm chủ yếu của hen dị ứng là cơn hen xuất hiện khi tiếp xúc với một chất làm cho bệnh nhân mẫn cảm Cơn khó thở xuất hiện vài phút sau khi tiếp xúc với các chất này là do xuất hiện các kháng thể phản vệ kiểu IgE Cơn khó thở cũng có thể xuất hiện muộn hơn, độ vài giờ sau Cơ chế bệnh sinh của sự co thắt phế quản muộn này hiện nay chưa hiểu rõ
Yếu tố lâm sàng làm nghĩ đến đến hen dị ứng:
Trang 37 Cơ địa dị ứng: thường có ở bản thân bệnh nhân bị chàm thể tạng, mày đay, viêm mũi co thắt, phù Quincke; trong gia đình, có anh hoặc em bị hen, đó là tư liệu chắc chắn làm nghĩ đến tình trạng quá mẫn
Hoàn cảnh xuất hiện cơn hen: cơn khó thở trong hen dị ứng xuất hiện khi tiếp xúc với dị nguyên Cần có phương pháp hỏi để xác định được nơi chốn, giờ giấc, chu kỳ trong năm Phải hỏi hoàn cảnh, tiền sử trong đó cơn hen xuất hiện
Các xét nghiệm sinh học có thể giúp ích phần nào để hướng về một nguyên nhân dị ứng: bạch cầu ưa acid trong máu tăng trên 4000/ mm3 máu, có bạch cầu ưa acid trong chất khạc nhổ hoặc trong nước mũi, tỉ lệ IgE trong huyết thanh tăng cao Từ kết quả xét nghiệm trên, cùng với việc phân lập các bệnh cảnh lâm sàng, có thể làm thêm một số thăm dò chức năng hô hấp
Hen do dị ứng nguyên đường hô hấp:
Các dị nguyên đường hô hấp trong nhà thường là nguyên nhân chính như bụi nhà, các loại mạt nhà, bụi chăn nệm, lông các loại gia súc Hen ở đây thường xảy ra hằng năm, cơn thường về đêm và thường có kèm theo các biểu hiện bệnh lý ở tai, mũi, họng Các biểu hiện bệnh lý trên sẽ hết khi bệnh nhân ra khỏi nhà
Các vật chủ thường của các chăn nệm phát triển mạnh ở nhiệt độ tối ưu
250C và độ ẩm cao Lông, vảy da, chất tiết của các loại gia súc cũng gây nên hen dị ứng : cần hỏi xem có tiếp xúc với các loại cho,ù mèo, chuột, thỏ, v v hay không
Trang 38Các dị nguyên trong khí quyển có thể là phấn hoa và nấm mốc:
Hen do phấn hoa có 2 đặc điểm : về lâm sàng, hầu như bao giờ cũng phối hợp với viêm mũi co thắt, viêm kết mạc mắt, rất ít khi hen đơn thuần Về thời điểm, bệnh thường xảy ra theo mùa trong năm, thường là mùa tương ứng với cơn “mưa” phấn hoa và bệnh nhân đã bị mẫn cảm
Hen do nấm mốc trong khí quyển như loại nấm Cladosporium thì tính chu kỳ theo mùa không được rõ như đối với phấn hoa Thường các nấm mốc gây hen ở ngay nơi ở của người bệnh : nấm Pénicillium, nấm Aspergillus funigatus, nấm Stemphyllium thường có ngay trong căn nhà ẩm thấp Cơn hen cũng xảy ra hàng năm nhưng cũng lại hết đi khi bệnh nhân chuyển sang sống xa nhà
Chẩn đoán xác định hen do nấm bằng cách phát hiện thấy nấm Aspergillus funigatus trong chất khạc ra, có biểu hiện mẫn cảm dị ứng ngoài da theo kiểu tức thì hoặc nửa chậm đối với kháng nguyên nấm Aspergillus
Các dị nguyên đường hô hấp do nghề nghiệp cũng rất khác nhau Nếu chỉ có các dị nguyên do nghề nghiệp đơn thuần, nghĩa là không có mẫn cảm với các dị nguyên trong nhà thì cơn hen chỉ xuất hiện khi làm việc Ví dụ hen ở công nhân làm việc trong phân xưởng dệt, trong các lò bánh mì, nếu chuyển công việc khác những người này sẽ khỏi hen
Hen do các dị nguyên đường ăn uống:
Nếu là món ăn có tính ngẫu nhiên như các loại tôm, cua, so,ø hến,… Thì căn cứ lời khai bệnh nhân tìm ra loại thức ăn gây bệnh Nhưng nếu là loại thức ăn thường dùng như cà chua, rau quả, trứng, sôcôla… Thì tìm
Trang 39nguyên nhân bằng loại trừ dần Một số phẩm nhuộm thực phẩm như chất Tactrazin, acid cacminic,.v v….cũng có thể là nguyên nhân gây hen
Trong hen do các dị nguyên đường ăn uống cần chú ý đến Aspirin, khoảng 2-4% những người bị hen do thuốc này Chẩn đoán chủ yếu dựa vào xuất hiện cơn hen sau khi uống Aspirin
Hen do dị ứng với các yếu tố nhiễm khuẩn khác nhau :
Nhiễm khuẩn có thể xảy ra trong khi có cơn hen nặng, kéo dài Có 2 kiểu liên quan giữa hen và nhiễm khuẩn hô hấp: lên cơn hen do nhiễm virus đường hô hấp thường gặp trẻ em, nhưng cũng có thể gặp ở người lớn tuổi; Hen do quá mẫn với vi khuẩn hay vi nấm Đây là lĩnh vực chưa được làm sáng tỏ nhưng người ta biết rõ rằng có một số vi khuẩn có khả năng kích thích sản xuất IgE
1.1.4.2 Hen nội tại:
Thường gặp nhóm bệnh này ở tất cả mọi trường hợp hen mà mọi xét nghiệm sinh học cẩn thận nhất cũng không phát hiện được vai trò của dị ứng một cách rõ rệt Có 2 loại :
Tăng hoạt tính của phế quản không đặc hiệu
Những người trên 50 tuổi bị viêm phế quản đối với một số chất kích thích hít phải như khói thuốc lá, thuốc lào, bụi khói, ô nhiễm trong không khí (như khí SO2, NO2), khói bếp lò và các khí trong công nghiệp Cũng có khi kích thích do các chất ăn uống như rượu vang, các vật phẩm bảo quản thực phẩm do chúng phóng thích ra SO2 trong cơ thể và được thải trừ ra khỏi cơ thể qua đường hô hấp Các bệnh cảnh này thường được mô tả bằng
Trang 40thuật ngữ: “Viêm phế quản co thắt” Thực ra, ranh giới rất khó phân biệt với hen dị ứng vì 2 loại này thường xen kẽ vào nhau
Hen và viêm mạch máu: hen có thể là biểu hiện báo trước một trong nhiều triệu chứng của viêm động mạch hoại tử
Các yếu tố ảnh hưởng đến tiến triển của hen: có rất nhiều yếu tố dễ làm xuất hiện các cơn hen hoặc làm nặng thêm các cơn hen đã có Việc điều chỉnh và phân lập được các yếu tố này là rất quan trọng cho tương lai người bị hen
Hen và gắng sức: về thể lực, gắng sức có thể làm xuất hiện các cơn hen sau 5-10 phút, vận động thể lực mạnh, tình trạng khó thở xuất hiện và nặng lên rất nhanh trong những phút tiếp theo và sau đó cũng mất rất đi nhanh Nếu gắng sức rất ngắn và không đủ mạnh, cơn hen thường không xuất hiện Một vài môn thể thao như chạy bộ, nhất là chạy cự ly vừa thường rất hay gây cơn hen Điều quan trọng là sau giai đoạn khó thở, bao giờ cũng có giai đoạn trơ kéo dài 2-3giờ Trong lúc đó, có thể vẫn gắng sức mà không có cơn khó thở
Nhiều cơ chế được đưa ra để giải thích sự xuất hiện cơn hen khi gắng sức: phản xạ thần kinh phế vị do sự kích thích các thụ thể khí-phế quản hay thực quản; vai trò của việc thở mạnh làm giảm CO2 trong máu, tăng acid lactic trong máu Gần đây bằng việc cho thở không khí lạnh, Mac Fadden đã chứng minh được rằng chính khí lạnh đã gây nên cơn hen
Hen và các yếu tố nội tiết: rất nhiều nhận xét lâm sàng chứng tỏ rằng có mối liên quan giữa các thời kỳ của đời sống tình dục với hen: ở tuổi dậy thì, bệnh hen đã mắc từ bé có thể bớt đi hoặc hết hẳn, nhất là các em trai