Chẳng hạn, họ cho con đi du học tự túc bằng mọi giá, bất chấp khả năng thực tế về học tập của con; hay bằng mọi cách tạo áp lực buộc con theo học những ngành thời thượng nhưng không phù
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**********
HÀ VĂN TÁC
VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**********
HÀ VĂN TÁC
VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số: 60.22.80.05
LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Đặng Hữu Toàn
2 PGS.TS Vũ Văn Gầu
TP HỒ CHÍ MINH – 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án này là kết quả của quá trình tìm tòi, nghiên cứu và phân tích các tài liệu của tôi Các số liệu trong luận án là trung thực Công trình này chưa được công bố ở bất cứ tài liệu nào Nếu sai sự thật, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật
Người cam kết
Hà Văn Tác
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH VÀ VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC……… 14
1.1 Lý luận chung về gia đình……… 14
1.2 Nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa ……… 42
1.3 Vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa……… 58
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM GIA ĐÌNH, THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÒ GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA DO BIẾN ĐỔI GIA ĐÌNH TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TP HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY……… ……… 71
2.1 Đặc điểm gia đình TP Hồ Chí Minh……… ……….… 71
2.1.1 Khái quát về TP Hồ Chí Minh……….…… 71
2.1.2 Đặc điểm gia đình TP Hồ Chí Minh……… …….…… 73
2.2 Thực trạng phát huy vai trò gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở TP Hồ Chí Minh hiện nay ……….…… 78
2.2.1 Gia đình với việc thực hiện chức năng chăm sóc sức khoẻ nguồn nhân lực……… 78
2.2.2 Gia đình với việc thực hiện chức năng nâng cao trình độ học vấn cho các thành viên gia đình 85
2.2.3 Gia đình với việc thực hiện chức năng phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, đào tạo nhân tài…… ……… 93
2.2.4 Gia đình với việc thực hiện chức năng định hướng, đào tạo nghề nghiệp cho các thành viên gia đình……… …96
2.2.5 Gia đình với việc thực hiện chức năng giáo dục đạo đức, tác phong cho các thành viên gia đình ……… ….102
Trang 52.3 Biến đổi gia đình và những thách thức đối với việc phát huy vai
trò gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở TP Hồ Chí Minh hiện nay ……… 107
2.3.1 Những biến đổi gia đình ở TP Hồ Chí Minh hiện nay ……… 107 2.3.2 Những thách thức đối với việc phát huy vai trò gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở TP Hồ Chí Minh hiện nay 112
Chương 3 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TP HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY ……… 128
3.1 Quan điêểm và phương hướng phát huy vai trò gia đình trong
phát triển nguồn nhân lực ở TP Hồ Chí Minh hiện nay………….128
3.1.1 Quan điêểm phát huy vai trò gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở TP Hồ Chí Minh hiện nay……… … 128 3.1.2 Phương hướng phát huy vai trò gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở TP Hồ Chí Minh hiện nay……….…137
3.2 Một số giải pháp cơ bản để phát huy vai trò gia đình trong phát
triển nguồn nhân ở TP Hồ Chí Minh hiện nay ……… … 140
3.2.1 Nâng cao nhận thức về vai trò gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ……….………… 140 3.2.2 Gia tăng phát triển kinh tế gia đình……… … 144 3.2.3 Tăng cường phát triển văn hóa – xã hội ……… 148 3.2.4 Đổi mới thể chế chính trị – xã hội Thành phố gắn với phát huy vai trò gia đình……….……….152 3.2.5 Tăng cường giáo dục, vận động mọi tầng lớp nhân dân Thành phố tham gia xây dựng gia đình văn hóa……… 158 3.2.6 Tăng cường xây dựng mạng lưới dịch vụ; thực hiện chính sách
ưu tiên và trợ giúp xã hội; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về gia đình……….…… 160
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trên phạm vị toàn thế giới, sự phát triển với tốc độ như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã khiến cho tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam vừa có những thời cơ, thuận lợi, vừa phải đương đầu với những thử thách, khó khăn Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi chúng ta phải phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, huy động mọi nguồn lực cùng hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Nguồn lực quan trọng nhất đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nguồn nhân lực Nguồn nhân lực này được tạo ra từ các thiết chế xã hội hiện hành, trong đó thiết
chế có ảnh hưởng trực tiếp là gia đình Bởi lẽ, với tư cách “tế bào của xã
hội”, “hạt nhân của xã hội” hay “xã hội thu nhỏ”, gia đình và việc “xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”, thật sự trở thành “tổ ấm của mỗi người”, thành “tế bào lành mạnh của xã hội” chính là môi trường quan trọng bậc nhất cho việc hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt của gia đình trong phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát triển học thuyết về
Trang 72
chủ nghĩa xã hội khoa học, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt những năm tháng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và Đảng ta trong những năm tháng lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong hơn 20 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã luôn nói tới vai trò quyết định của gia đình trong việc phát triển nguồn lực con người – nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng xã hội mới
Có thể khẳng định, quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về gia đình và vai trò của gia đình là cơ sở lý luận nền tảng, là phương pháp luận chủ đạo để chúng ta xác định chủ trương, chính sách xây dựng gia đình “ấm
no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” và đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc phát huy vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Song, để có thể vận dụng sáng tạo quan niệm, tư tưởng, quan điểm đó một cách phù hợp với bối cảnh mới ở nước ta hiện nay, chúng ta cần phải có sự nghiên cứu chuyên sâu với những nhạân thức mới, đúng đắn
Trong thời đại ngày nay, cùng với sự nỗ lực về nhiều phương diện của mỗi cá nhân, có thể khẳng định, gia đình, nhà trường và xã hội là những tác nhân chủ yếu hình thành các phẩm chất, năng lực quy định bản chất của người lao động, của nguồn nhân lực Mỗi tác nhân này đều có những ưu thế riêng của nó trong quá trình phát triển nguồn nhân lực, kể từ khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển thể lực đến phát hiện năng khiếu, truyền thụ tri thức, nâng cao học vấn, bồi dưỡng nhân tài, hướng nghiệp, dạy nghề, giáo dục đạo đức, tác phong, lối sống,…
Trang 83
Giữa các tác nhân gia đình, nhà trường và xã hội vừa có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, vừa có sự độc lập tương đối của nó trong việc phát triển nguồn nhân lực Chính vì thế, sự kết hợp đồng bộ giữa các tác nhân này sẽ tạo ra sức mạnh to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực Ngược lại, nếu thiếu sự đồng bộ, đồng thuận giữa các tác nhân này có thể sẽ dẫn đến sự phân lực, gây lãng phí xã hội, làm chậm quá trình phát triển đất nước
Kinh nghiệm thực tiễn của một số nước phát triển trên thế giới đã cho chúng ta thấy chính sách đúng đắn để phát huy vai trò của gia đình trong việc tổ chức quản lý và phát triển xã hội là một bí quyết quan trọng dẫn đến thành công Bởi lẽ, gia đình là một thiết chế xã hội có khả năng rất lớn và hết sức đặc biệt trong quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực hành động cho con người mà không một thiết chế xã hội nào có thể thay thế được
Thế nhưng, ở nước ta hiện nay, việc phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vẫn chủ yếu dựa vào ngành giáo dục và đào tạo, còn gia đình thì lại chưa được thực sự quan tâm một cách đúng mức Chúng ta không chỉ thiếu sự định hướng và chỉ đạo chặt chẽ, mà còn thiếu cả các chính sách có hệ thống, mang tầm chiến lược của Nhà nước nhằm tác động vào gia đình để giúp gia đình trở thành một chủ thể tự giác trong việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xã hội Dường như, mọi hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cho các thành viên gia đình trở thành người hữu dụng chủ yếu vẫn do các gia đình tiến hành một cách tự phát, tuỳ tiện theo kinh nghiệm của mình Đã có hiện tượng chạy theo những giá trị ảo, sai lệch trong việc đầu tư, chăm
Trang 94
sóc và giáo dục con cái trong một bộ phận gia đình hiện nay Chẳng hạn, họ cho con đi du học tự túc bằng mọi giá, bất chấp khả năng thực tế về học tập của con; hay bằng mọi cách tạo áp lực buộc con theo học những ngành thời thượng nhưng không phù hợp với năng lực, sở thích của con… Một bộ phận không nhỏ, thậm chí có thể nói là nhiều gia đình chưa ý thức được sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta sẽ cần những gì ở con cái họ và có lẽ cũng do đó mà họ chưa biết được mình cần phải làm gì và làm như thế nào cho đúng trong việc đầu tư chăm sóc, giáo dục con cái để con cái họ có được những phẩm chất, năng lực cần thiết, đủ sức đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội
Thực tiễn những năm thực hiện chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta đã cho thấy vấn đề nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực vẫn còn nhiều bất cập về chất lượng và hiện đang là một trong những vấn đề bức xúc, nan giải cho sự phát triển của Việt Nam không chỉ trong những năm trước mắt, mà còn trong nhiều thập niên tới
Việc nghiên cứu các khả năng, điều kiện, những vấn đề đặt ra cũng như các phương hướng và giải pháp để phát huy vai trò của gia đình trong việc phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng là cách để khai thác nguồn nội lực, phát huy sức mạnh tổng hợp toàn xã hội vì sự nghiệp phát triển đất nước
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Phát triển nguồn nhân lực bảo đảm thực hiện thắng lợi tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là trách nhiệm của toàn xã hội, của mọi gia đình và mỗi thành viên gia đình, của tất cả các địa phương trong cả nước,
Trang 10Với tất cả những suy nghĩ trên, chúng tôi chọn vấn đề “Vai trò
của gia đình đối với sự phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở TP Hồ Chí Minh” làm đề tài cho luận án
tiến sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Con người là chủ thể của hoạt động sản xuất, là yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, yếu tố quyết định năng suất lao động xã hội và đại diện cho năng lực xã hội Do đó, bàn đến vị trí và vai trò của con người trong sản xuất chính là đề cập đến nguồn nhân lực Do tính chất quan trọng đặc biệt này của nguồn nhân lực, của việc phát triển nguồn nhân lực, trong những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực để từ đó, đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân
Trang 116
lực nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Xung quanh vấn đề nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực cho
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, đã có một số công
trình nghiên cứu tương đối quy mô, như: “Vấn đề con người trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (Nghiên cứu xã hội học)” do
GS,TS Phạm Minh Hạc (Chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1996; “ Vấn đề tạo nguồn lực tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do
GS,TSKH Vũ Hy Chương (Chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2002; “ Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo - kinh
nghiệm Đông Á” của tác giả Lê Thị Ái Lâm, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2003; “ Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của TS Nguyễn Hữu Dũng, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội, 2003; “Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam – lý luận và thực tiễn” do GS,TS Nguyễn
Trọng Chuẩn, PGS,TS Nguyễn Thế Nghĩa và PGS,TS Đặng Hữu Toàn (Đồng chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002; v.v
Nhìn tổng thể, có thể nói, các công trình trên đây đều tập trung làm rõ tầm quan trọng, tính tất yếu của việc phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đồng thời nêu lên một cách khái quát những đặc điểm của nguồn nhân lực hiện nay ở Việt Nam Trong đó, nhiều công trình đã không chỉ nhấn mạnh các phẩm chất đáng quý, những ưu điểm vốn có của con người Việt Nam, của nguồn nhân lực, mà còn chỉ ra và phân tích một cách khá thấu đáo, sâu sắc những hạn chế, yếu kém của con người Việt Nam, của nguồn nhân lực, nhất là những hạn chế, yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn,
Trang 127
nghiệp vụ để từ đó, khẳng định cần đổi mới và phát triển giáo dục và đào tạo, coi giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu”, là ngành đóng vai trò quyết định trong việc phát triển nguồn nhân lực cho công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Song, trong những công trình này, các tác nhân khác có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến sự phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực, đến số lượng, chất lượng cần có của nguồn nhân lực, như gia đình thì lại chưa đề cập một cách chuyên sâu; và nếu có, như trong
công trình “Vấn đề tạo nguồn lực tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá”, thì vấn đề vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực
cũng mới chỉ được đề cập đến một cách sơ lược, trên một phương diện và theo một khía cạnh nào đó
Ởû Việt Nam những năm gần đây cũng đã có một số công trình
nghiên cứu về gia đình Các công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu
về giáo dục gia đình; về tình trạng bạo hành, ly hôn, về vai trò người phụ nữ trong gia đình; về văn hoá, lối sống gia đình… Đặc biệt, gần đây nhất là các công trình của Trung tâm Nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam Các công trình này đã đề cập đến gia đình một cách khá đầy đủ theo các phương diện đã nói trên Song, về đại thể có thể nói, vấn đề gia đình và vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chủ yếu mới chỉ được xem xét từ góc độ xã hội học Chúng ta có
thể kể đến các công trình, như: “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất
nước đổi mới” của GS Lê Thi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; “Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hoá,
Trang 138
hiện đại hoá đất nước” của nhóm tác giả Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn,
Nguyễn Linh Khiếu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; v.v
Ngoài ra, về những vấn đề này, chúng ta còn có thể kể đến các
công trình, như: “Hôn nhân và gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh (nhận
diện và dự báo)” của tác giả Nguyễn Minh Hoà, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, 1998; “Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam” của
nhiều tác giả, do tác giả Tương Lai (Chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1991; “Gia đình trong tấm gương xã hội học” của nhiều tác giả, do tác giả Mai Quỳnh Nam (Chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002;
“Trẻ em - Gia đình - Xã hội” của nhiều tác giả, do tác giả Mai Quỳnh
Nam (Chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004
Cùng với những công trình kể trên, ở Việt Nam trong những năm
gần đây cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vai trò của gia đình
đối với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển nguồn nhân lực Các công trình này, khi tập trung nghiên cứu về xây dựng gia đình văn hoá, về giáo dục gia đình; về tệ nạn bạo hành trong gia đình và tình trạng gia tăng các vụ ly hôn; về vai trò người phụ nữ trong gia đình; về văn hoá, lối sống gia đình… cũng đã ít nhiều xem xét vai trò của gia đình đối với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá; đối với vấn đề phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đó chúng ta có thể
kể đến các công trình, như: “Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát
triển nhân cách trẻ em” của tác giả Võ Thị Cúc, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 1997; “Gia đình Việt Nam thời mở cửa” của tác giả Nguyễn Thị Oanh, Nxb Trẻ, 1998; “Phát huy nguồn lực trí thức Việt Nam trong sự
Trang 149
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của TS Đỗ Thị Thạch, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2005; “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của TS Nguyễn Thanh, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2005
Tuy nhiên, khi đề cập đến gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, các tác giả của những công trình đã kể trên chỉ đề cập đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá như là bối cảnh làm chuyển biến gia đình về cấu trúc, chức năng, chứ chưa đề cập đến những nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự đáp ứng của gia đình đối với các nhu cầu đó ra sao Thêm nữa, chưa có công trình nào trong số các công trình đó vạch ra một cách đầy đủ, có hệ thống về những đóng góp của gia đình cho việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay và sắp tới Và, hơn nữa, cũng chưa có công trình nào trong số các công trình đó đề xuất và luận giải một cách thấu đáo phương hướng và các giải pháp để nâng cao vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực trên phạm vi cả nước nói chung, ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Từ góc độ triết học, nghiên cứu về gia đình và xây dựng gia đình trên phạm vi cả nước nói chung, ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong khuôn khổ của một Luận án Tiến sĩ, ở nước ta trong những năm gần đây, cũng đã được một số nghiên cứu sinh lựa chọn, thực hiện Trong số những Luận án Tiến sĩ đã được bảo vệ về đề tài này, chúng ta có thể kể đến Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Tiến Vững (2005) và Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Lê Quang (2010)
Trang 15Trong Luận án “Gia đình trong quá trình đô thị hoá ở Thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay”, nghiên cứu sinh Nguyễn Tiến Vững đã đưa ra và
luậân giải sự biến đổi gia đình về quy mô, đặc điểm, vị trí và vai trò trước những tác động của quá trình đô thị hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm đầu đổi mới và từ đó, đưa ra những giải pháp để xây dựng gia đình bền vững, phù hợp và đáp ứng được quá trình đô thị hoá ngày một gia tăng ở Thành phố này
Còn trong Luận án “Xây dựng gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh
trong sự nghiệp đổi mới”, nghiên cứu sinh Phạm Lê Quang cũng đã đưa
ra và luận giải tính khả thi của một số giải pháp cho việc xây dựng gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay trên cơ sở làm rõ lý luận chung về gia đình và những yếu tố tác động đến gia đình ở Thành phố này trong những năm đổi mới vừa qua
Ngoài những Luận án kể trên, ở nước ta trong những năm gần đây, chưa có một Luận án Tiến sĩ triết học nào được thực hiện với đề tài “Vai trò của gia đình đối với sự phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh”
Như vậy, có thể nói, cho đến nay, vấn đề nghiên cứu trong đề tài này vẫn còn là một vấn đề hoàn toàn mới, vừa có ý nghĩa lý luận bức thiết, vừa có ý nghĩa thực tiễn thiết thực
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án này là làm rõ cơ sở lý luận về gia đình và vai
trò của gia đình đối với sự phát triển nguồn nhân lực; luận giải thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và những vấn đề đang được đặt ra đối với việc phát huy vai trò này của gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện
Trang 16nay để trên cơ sở đó, xác định quan điểm, phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ của luận án này là:
Thứ nhất, luận giải cơ sở lý luận về gia đình và vai trò của gia
đình đối với sự phát triển nguồn nhân lực qua việc phân tích nội hàm các khái niệm: gia đình, chức năng gia đình, nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực
Thứ hai, phân tích thực trạng phát huy vai trò của gia đình đối với
việc phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, những yếu tố ảnh hưởng và những vấn đề hiện đang được đặt ra
Thứ ba, xác định quan điểm, phương hướng và đề xuất một số
giải pháp để nâng cao hơn nữa vai trò của gia đình đối với sự phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án này là quan niệm của các nhà sáng lập
chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về gia đình và vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng gia đình và phát huy vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 17Các phương pháp được sử dụng để thực hiện luận án này là: Phương
pháp phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, khái quát hoá lý luận và tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học, thống kê, so sánh và đối chiếu
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án này là những vấn đề lý luận và
thực tiễn xung quanh vai trò của gia đình, của nguồn nhân lực và phát huy vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực
Phạm vi nghiên cứu của luận án này được giới hạn ở những kết quả
điều tra, khảo sát thực tiễn thực hiện chức năng gia đình và phát huy vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Thành phố Hồ Chí
Minh trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua
6 Cái mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, trên cơ sở của lý thuyết tiếp cận hệ thống, luận án đã
trình bày một cách tương đối có hệ thống và luận giải một cách có căn cứ các quan điểm lý luận về gia đình, khi đặt gia đình trong mối quan hệ với phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thứ hai, khi xem xét gia đình với tư cách một thiết chế xã hội,
luận án đã chỉ ra tầm quan trọng, những khả năng to lớn của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, ở Việt Nam nói chung
Thứ ba, luận án đã khẳng định quan điểm, xác định phương hướng
và đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực cho tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Trang 187 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về phương diện khoa học, luận án đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận
và phương pháp luận cho việc nghiên cứu về gia đình và vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực nói chung, ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Về phương diện thực tiễn, luận án đã làm rõ thực trạng biến đổi gia
đình và vai trò của gia đình trong phát triển nguồn nhân lực ở Thành phố Hồ Chí Minh trong hơn 20 năm đổi mới, từ đó xác định định hướng và đề xuất những giải pháp có tính khả thi đối với sự phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Nội dung và những kết quả đã đạt được của luận án có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong hoạch định chủ trương, chính sách xây dựng gia đình, phát triển nguồn nhân lực ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, trên phạm vi cả nước nói chung
Luận án cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề có liên quan đến gia đình, đến con người, phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử,…
8 Kết cấu của luận án
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài luận án và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 19Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH VÀ VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH
TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
1.1 Lý luận chung về gia đình
Gia đình, với các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, là vấn đề mà
ngay từ đầu, đã được các ông dành cho một sự quan tâm đặc biệt Nhận thức rõ tầm quan trọng của gia đình, nhất là với việc sản sinh ra con người, chăm sóc, nuôi dưỡng, đào tạo và phát triển con người, qua đó góp phần tạo ra nguồn lực xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển, các ông đã dành không ít công sức để nghiên cứu, làm rõ vị trí, vai trò và chức năng vốn có của gia đình trong đời sống xã hội Mặc dù không dành riêng một tác phẩm nào để chuyên bàn về gia đình, song trong nhiều tác phẩm, kể cả trong những tác phẩm đầu tay, các ông đã dành không ít trang để viết, để nói về gia đình
Trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, gia đình là
tế bào của xã hội; gia đình tham gia vào mọi quá trình sản xuất, từ sản
xuất hàng hoá đến sản xuất ra đời sống văn hoá-tinh thần, từ việc tạo ra
con người đến việc đào tạo, bồi dưỡng con người, phát triển nguồn lực xã hội Với quan niệm này, các ông đã xem xét gia đình với tư cách một xã
hội thu nhỏ, xem xét các hình thức lịch sử của gia đình, mối quan hệ giữa gia đình với các thiết chế xã hội khác Không chỉ thế, các ông còn nghiên
cứu gia đình trong quan hệ tính giao - vấn đề hôn nhân, và gia đình với tư
cách yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất trong lịch sử phát triển xã hội
Trang 20Trong một tác phẩm nổi tiếng – “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác và Ph
Ăngghen đã cho rằng, quan hệ gia đình “tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển của lịch sử: hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái” [55, tr.41] Với quan niệm này, trong một tác phẩm mà có lẽ là duy nhất bàn về nguồn gốc của gia
đình trong mối quan hệ với chế độ tư hữu và nhà nước – “Nguồn gốc của
gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, Ph Ăngghen còn cho rằng,
“những danh hiệu như cha con, anh em và chị em không phải chỉ đơn thuần là những danh hiệu tôn kính, mà còn bao hàm những nghĩa vụ hoàn toàn rõ rệt và rất nghiêm túc của người ta đối với nhau và toàn bộ những nghĩa vụ đó hợp thành một bộ phận trọng yếu trong chế độ xã hội của những người dân đó” [58, tr.56]
Như vậy, theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, với tư cách tế bào của xã hội, thành tố cấu thành lực lượng sản xuất, gia đình chính là cái nôi nuôi dưỡng, bồi dưỡng và phát triển con người, ươm mầm tài năng và qua đó, góp phần phát triển nguồn lực con người - nguồn nhân lực với tư cách thành tố giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện cả quan hệ sản xuất
Không chỉ thế, với quan niệm duy vật về lịch sử, khi xem xét về gia đình với tư cách là tế bào của xã hội, thành tố cấu thành lực lượng sản xuất và nghiên cứu mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác còn đặc biệt lưu ý rằng, mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, cũng như sự phát triển của mối quan hệ này, cần phải
được xem xét trên hai phương diện Một mặt, là sự tác động của xã hội,
Trang 21của đời sống xã hội đến sự hình thành và phát triển của gia đình, của quan hệ gia đình, đến kết cấu, vị trí, vai trò và các chức năng của gia
đình trong đời sống xã hội Mặt khác, là sự tác động của gia đình, của
quan hệ gia đình đến xã hội, đến đời sống xã hội Và, khi cho rằng, nhân tố quyết định trong lịch sử nhân loại, suy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống vật chất, các ông đã khẳng định vai trò quyết định của các yếu tố kinh tế, xã hội, của đời sống kinh tế-xã hội đối với sự hình thành và phát triển của gia đình
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của
nhà nước”, Ph Ăngghen đã chỉ rõ: Theo quan điểm duy vật, nhân tố
quyết định trong lịch sử, suy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp (đời sống vật chất) Thế nhưng, bản thân sự sản xuất này lại luôn bao gồm hai mặt Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những vật phẩm tiêu dùng thiết yếu ấy; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống Rằng, trong những trật tự xã hội mà ở đó, các cộng đồng người của mỗi thời đại lịch sử nhất định, của mỗi quốc gia nhất định đang sinh sống, một mặt, là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác, là do trình độ phát triển của gia đình [ Xem: 58, tr.44]
Khẳng định sự tồn tại và phát triển của xã hội luôn dựa trên hai cơ sở nền tảng là tái sản xuất ra của cải vật chất và tái sản xuất ra bản thân con người, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác còn cho rằng, việc tái sản xuất ra con người, ra các thế hệ tương lai, một mặt, đáp ứng nhu cầu tất yếu của xã hội, của sự phát triển xã hội; mặt khác, đáp ứng và thoả mãn nhu cầu của các thành viên gia đình, bảo đảm niềm vui và hạnh phúc gia
Trang 22đình và qua đó, bảo đảm cho chính nhu cầu phát triển gia đình Do vậy, theo các ông, chức năng tái sản xuất ra con người và cùng với nó là chức năng nuôi dưỡng, giáo dục con cái, tạo điều kiện để con cái và các thành viên khác trong gia đình phát triển toàn diện, trởû thành những người lao động có đủ những phẩm chất và năng lực mà xã hội đòi hỏi - đó là chức năng hết sức quan trọng của gia đình Chức năng này của gia đình, theo
Ph Ăngghen, chỉ được chuyển giao cho xã hội khi các tư liệu sản xuất đã chuyển thành tài sản chung của toàn xã hội, bởi khi đó, “gia đình cá thể sẽ không còn là đơn vị kinh tế của xã hội nữa” và do vậy, “việc nuôi dạy con cái trở thành công việc chung của xã hội” [58, tr.118] Nghĩa là, theo
Ph Ăngghen, chỉ khi nào xã hội cộng sản chủ nghĩa mà ở đó, chế độ gia đình không còn lệ thuộc vào quan hệ sở hữu, không còn bị quan hệ sở hữu chi phối nữa, được thiết lập, thì khi đó, chức năng nuôi dạy con cái, phát triển con người mới không còn là chức năng của gia đình nữa, mới trở thành chức năng của xã hội, còn trong xã hội xã hội chủ nghĩa, chức năng đó vẫn là chức năng quan trọng, không thể thay thế của gia đình
Nhấn mạnh chức năng tái sản xuất ra con người, nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển nhân cách con người, phát triển nguồn lực xã hội của gia đình, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác còn khẳng định một chức năng khác cũng hết sức quan trọng của gia đình – đó là chức năng tái sản xuất
ra của cải vật chất và những sản phẩm tinh thần cho xã hội, cho gia đình Theo các ông, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, gia đình có thể trở thành một đơn vị kinh tế cơ sở, hoạt động độc lập và tự chủ, hoặc tham gia với những mức độ nào đó vào các hoạt động kinh tế -xã hội của xã hội Để duy trì và phát triển gia đình, ngày càng nâng cao đời sống
Trang 23gia đình, trong bất cứ điều kiện nào, gia đình cũng phải đảm bảo thoả mãn cả nhu cầu vật chất lẫn tinh thần cho mỗi thành viên gia đình Thông qua đó, gia đình tham dự vào quá trình tái sản xuất ra của cải vật chất và những sản phẩm tinh thần cho xã hội Không chỉ thế, khi trở thành một đơn vị tiêu dùng, với những nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về của cải vật chất lẫn sản phẩm tinh thần, gia đình đã gián tiếp trở thành yếu tố thúc đẩy tiến trình sản xuất vật chất và tinh thần của cả xã hội phát triển Thêm nữa, với chức năng tổ chức đời sống gia đình, quản lý mọi hoạt động gia đình, bất cứ gia đình nào cũng cần đến việc xây dựng môi trường văn hoá gia đình, bảo đảm sự cân bằng về tâm – sinh lý, thoả mãn các nhu cầu tình cảm giữa các thành viên gia đình để củng cố sự bền vững của gia đình và tạo điều kiện cho gia đình phát triển Thông qua đó, gia đình đã góp phần tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển của xã hội
Coi gia đình là một tế bào của xã hội, là thiết chế cơ sở đầu tiên cho sự hình thành xã hội, xã hội được hình thành bởi nhiều gia đình, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác còn cho rằng, gia đình tồn tại ổn định, bền vững và phát triển thì xã hội cũng tồn tại ổn định, bền vững và phát triển Trong hệ thống cơ cấu tổ chức của xã hội, gia đình là thiết chế cơ sở đặc thù, là cầu nối giữa cá nhân và xã hội Bằng các hoạt động tổ chức đời sống gia đình, mỗi cá nhân, mỗi gia đình đều có thể tiếp nhận, chịu sự tác động và có thể phản ứng lại sự tác động của xã hội, của các tổ chức và thiết chế xã hội khác, cũng như các chính sách xã hội do nhà nước ban hành Sự đồng thuận hay không đồng thuận với những tác động đó, gia đình đã góp phần tạo nên sự đồng thuận hay không đồng thuận của cả
Trang 24cộng đồng xã hội và qua đó, góp phần tạo nên sự ổn định hay không ổn định, phát triển hay không phát triển của xã hội Là một thiết chế xã hội, gia đình luôn có tính độc lập tương đối của nó so với các thiết chế xã hội khác, với xã hội Gia đình có thể duy trì, bảo tồn và phát triển nhiều yếu tố truyền thống trong quan hệ gia đình, trong đó có cả những yếu tố tiến bộ, tích cực lẫn những yếu tố lạc hậu, tiêu cực Với quan niệm này, khi nhắc lại quan niệm của C.Mác về “sự giống nhau giữa thiết chế gia đình với những hệ thống chính trị, pháp luật, tôn giáo và triết học”, trong tác
phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, Ph
Ăngghen đã khẳng định rằng, mọi thiết chế xã hội khác đều có thể thay đổi theo những điều kiện kinh tế khách quan, nhưng “chỉ khi nào gia đình đã thay đổi hoàn toàn thì những hệ thống ấy mới hoàn toàn thay đổi” [58, tr.57]
Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, giữa gia đình và xã hội luôn tồn tại mối quan hệ biện chứng, luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau; sự hình thành và phát triển của gia đình luôn chịu sự quy định của tiến trình hình thành và phát triển xã hội, của đời sống kinh tế- xã hội, song gia đình, sự hình thành và phát triển của gia đình cũng có sự tác động trở lại đối với sự hình thành và phát triển của xã hội, của đời sống kinh tế – xã hội Với tư cách thiết chế cơ sở đặc thù trong hệ thống cơ cấu tổ chức của xã hội và là một tế bào của xã hội, là xã hội thu nhỏ, gia đình đã trở thành một thành tố không thể thiếu và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội nói chung, thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế – xã hội nói riêng Với chức năng hết sức quan trọng là tái sản xuất ra con người, nuôi dưỡng và giáo dục
Trang 25con cái, phát triển nhân cách con người, gia đình đã trở thành thành tố góp phần trực tiếp và tham gia một cách tích cực, chủ động vào việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực – nguồn lực xã hội cho sự phát triển xã hội và qua đó, thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cùng phát triển
Là người đầu tiên đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ đầu, đã đặc biệt quan tâm tới vấn đề gia đình, tới việc xây dựng gia đình Việt Nam mới Theo Người, “Gia đình có nghĩa cũ và mới, nghĩa hẹp và nghĩa rộng “Gia” là nhà “Đình” là sân Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ giới hạn hẹp hòi trong cái nhà, cái sân Nghĩa là chỉ lo cho cha mẹ, vợ con trong nhà mình ấm no, yên ổn, ngoài
ra ai nghèo khổ mặc ai Như thế là ích kỷ, không tốt Theo nghĩa mới thì gia đình rộng rãi hơn Ví dụ, những người lao động trong nhà máy, trong một cơ quan, trong một hợp tác xã… đều phải đoàn kết yêu thương nhau như anh em một nhà” [67, tr.258] Không chỉ xác định gia đình theo đúng nghĩa của nó, Người còn luôn khẳng định vai trò lớn lao của gia đình đối với sự phát triển của xã hội Người nhấn mạnh, việc chúng ta “Rất quan tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú
ý hạt nhân cho tốt” [65, tr.523]
Đánh giá cao vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu chúng ta phải quan tâm tới đời sống của mỗi gia đình, của mỗi thành viên trong gia đình, trước hết là phụ nữ và trẻ em Với phụ nữ, Người yêu cầu phải giải phóng phụ nữ, giảm bớt
Trang 26những công việc gia đình cho phụ nữ để họ có nhiều thời gian và điều kiện tham gia công tác xã hội, bởi “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” [65, tr.523] Không chỉ thế, Người còn yêu cầu phụ nữ cũng phải tự giải phóng mình và muốn thế, “phụ nữ phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; xoá bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập” [67, tr.259] Với trẻ em, với thế hệ trẻ, Người yêu cầu chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục trẻ em, chăm sóc thế hệ trẻ để đào tạo thế hệ tương lai này trở thành những công dân tốt cho xã hội và nhất là, phải coi đó là công việc, là trách nhiệm của toàn xã hội Người chỉ rõ: “Vì tương lai con em chúng ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt” [66, tr.731]; “Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà Vì vậy, chăm sóc và giáo dục các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân” [68, tr.468]
Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận nền tảng, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta không chỉ nhiều lần nói về gia đình, vai trò của gia đình đối với sự nghiệp đổi mới, mà còn dành cho việc xây dựng gia đình Việt Nam mới một sự quan tâm
đặc biệt Ngay trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội”, Đảng ta đã khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã
hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách Các chính sách của Nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình ấm no, hoà thuận, tiến bộ
Trang 27Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người” [16, tr.15] Không một Đại hội Đảng nào sau đó, Đảng ta không quán triệt quan điểm này Gần đây nhất, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, một lần nữa, Đảng ta lại khẳng định chủ trương “xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống
tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực (chúng tôi nhấn mạnh - H.V.T.) phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [20, tr.103 – 104]
Nói đến quan niệm hiện đại về gia đình và vai trò của gia đình
trong phát triển nguồn nhân lực, phát triển xã hội, trước hết, chúng tôi muốn nói rằng, gần đây Tổ chức Văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra định nghĩa: Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống chung và ngân sách chung Định nghĩa này đã nhấn mạnh hai chức năng cơ bản của gia đình là chức năng sinh đẻ (huyết thống) và chức năng kinh tế Khái niệm “gia đình” ở đây được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống, phản ánh mối quan hệ cùng chung sống giữa cha mẹ, con cái, họ hàng, đồng thời gắn liền với nó là chức năng kinh tế của gia đình Theo trình độ phát triển của xã hội, gia đình ngày càng tỏ rõ vai trò là một đơn vị kinh tế cơ sở; chính hoạt động kinh tế chủ động và tự chủ này tạo nên sự bền vững của gia đình
Ở Việt Nam, khi bàn tới khái niệm “gia đình”, một số tác giả cũng đã đưa ra những định nghĩa khác nhau, tuỳ theo góc độ tiếp cận Theo
Đại từ điển tiếng Việt, “gia đình là tập hợp những người có quan hệ hôn
Trang 28nhân và huyết thống sống chung trong cùng một nhà” [141, tr.719]
Trong cuốn “Tâm lý học gia đình”, tác giả Ngô Công Hoàn đã đưa ra
khái niệm: “Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội, có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm sinh lý, có chung các giá trị vật chất, tinh thần, ổn định trong các thời điểm lịch sử nhất định [31, tr.9] Cũng từ góc
độ tâm lý học, trong cuốn “Tâm lý gia đình”, tác giả Nguyễn Khắc Viện
đã đưa ra định nghĩa: “Gia đình, đó là sự chung sống của hai nhóm người, cha mẹ và con cái, có cùng một mối quan hệ là những người sinh
ra và những người nối dõi” [133, tr.20] Dưới góc độ luật học, nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Tuấn lại cho rằng: Gia đình là một tập hợp dựa trên các quan hệ về hôn nhân và huyết thống và về nuôi dưỡng đã gắn bó những người có quan hệ với nhau bởi các quyền và nghĩa vụ về tài sản và nhân thân, bởi sự cộng đồng về đạo đức và vật chất, để tương trợ nhau, cùng làm kinh tế chung và nuôi dạy con cái” [125, tr.15- 16] Khi bàn đến khái niệm gia đình, tác giả Lê Thi viết: “Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội, ngoại) Đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống Các thành viên trong gia đình gắn bó về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm), giữa họ có những điều ràng buộc có tính pháp lý, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật Hôn nhân và gia đình của nước ta) Đồng thời, trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên” [103, tr.20-21]
Trang 29Với quan niệm đó, tác giả Lê Thi đã xem gia đình vừa như một nhóm tâm lý – tình cảm xã hội đặc thù, vừa như một thiết chế xã hội Tác giả đã làm rõ mặt nổi bật của gia đình là nhóm tâm lý – tình cảm xã hội đặc thù Gia đình được kết cấu, duy trì và củng cố bởi các mối quan hệ nội tại giữa các thành viên, bắt nguồn từ các quan hệ huyết thống ruột thịt và quan hệ tình cảm Quan hệ giữa họ là huyết thống, tình cảm, là trách nhiệm và sự quan tâm thường xuyên, gắn bó lâu dài, để tạo nên sự bền vững gia đình
Mặt khác, gia đình là một thiết chế xã hội Nó tồn tại như là một bộ phận cùng với các thiết chế khác để cấu trúc nên xã hội; chịu sự chi phối và quản lý của xã hội Cùng với tác động về mặt kinh tế, xã hội còn chi phối gia đình bằng sự thừa nhận, phê chuẩn và bảo vệ sự chung sống của hôn nhân – gia đình thông qua các quy định có tính pháp lý, nhất là luật hôn nhân và gia đình
Rõ ràng, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề gia đình, tuỳ theo mục đích, đối tượng nghiên cứu của từng ngành khoa học, của các quan điểm nhận thức Do vậy, sẽ không thể có một định nghĩa gia đình duy nhất cho mọi nền văn hoá, mọi chế độ xã hội, mọi thời kỳ lịch sử
Trong những công trình, bài viết khác, một số tác giả Việt Nam đã quan niệm: Gia đình là tế bào của xã hội, một thiết chế xã hội tồn tại bền vững, gắn bó với nhau trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới của bố mẹ, thông qua hôn nhân không cùng huyết thống để tái sản xuất nòi giống; hoặc thông qua quan hệ nuôi dưỡng (con nuôi…) cùng làm kinh tế, nuôi dạy con cái trưởng thành, trở thành những người con hiếu thảo, biết thương yêu, có trách nhiệm chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh em, họ hàng;
Trang 30luôn nhớ về cội nguồn, thờ phụng tổ tiên; trở thành người công dân tốt, có tư cách, đạo đức, học vấn, nghề nghiệp, văn hoá; biết bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá dân tộc, văn hoá hiện đại; tích cực phòng chống các tệ nạn xã hội… tạo dựng cuộc sống gia đình no ấm, hoà thuận, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững, góp phần xây dựng quê hương đất nước Với các tác giả này, gia đình là một phạm trù lịch sử, thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội
Gần đây, trên thế giới và ở Việt Nam đã xuất hiện dịch vụ mang thai hộ, nhưng đứa trẻ được sinh ra và người mang thai không được pháp luật và tập quán thừa nhận là một gia đình, mặc dù giữa họ có quan hệ máu mủ Quả thực, gia đình là một khái niệm rất lỏng lẻo, rất khó có định nghĩa bao quát được mọi trường hợp để bảo đảm trùng khớp giữa nội hàm và ngoại diên của khái niệm gia đình Mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi xã hội có quan niệm khác nhau về gia đình
Từ cách hiểu trên, với cách tiếp cận lý thuyết hệ thống, cấu trúc – chức năng, và với phương pháp lôgíc-lịch sử, trình bày một cách khái
quát, chúng tôi quan niệm: Gia đình là một tế bào, là một thiết chế xã hội,
trong đó các thành viên cùng sinh sống dựa trên mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nhận nuôi, cùng có chung những giá trị vật chất và tinh thần, cùng thực hiện các chức năng khách quan phù hợp với yêu cầu, đặc điểm của mỗi giai đoạn lịch sử nhất định
Thiết chế gia đình là một tập hợp bền vững các giá trị xã hội,
những quy ước, luật lệ, vị thế xã hội, vai trò xã hội, nhóm xã hội và những điều kiện vật chất cần thiết do xã hội và nhà nước đặt ra có liên
Trang 31quan trực tiếp đến gia đình để tác động lên các thành viên trong quá trình tồn tại và phát triển xã hội
Theo các cách tiếp cận lý thuyết hệ thống, cấu trúc – chức năng,
vai trò, chức năng của gia đình là một trong những nội dung then chốt
của việc nghiên cứu gia đình
Vai trò gia đình là khái niệm chỉ tầm quan trọng, cần thiết nói
chung của gia đình đối với cá nhân và xã hội Gia đình có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống cá nhân và xã hội Sự ra đời, tồn tại của gia đình từ ngàn đời nay và tính phổ biến của nó, cũng như vị trí của nó trong hệ thống các thang bậc giá trị xã hội cơ bản của xã hội ngày nay (các nước Á Đông, trong đó có Việt Nam, luôn coi gia đình là một giá trị hàng
đầu) đã đủ nói lên tầm quan trọng của nó rồi Trong Luật Hôn nhân gia
đình Việt Nam năm 2000, câu đầu tiên của Lời nói đầu đã nói lên vai trò
quan trọng của gia đình: “Gia đình là tế bào xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt” Gia đình còn được coi là nền tảng xã hội, nó là một trong 4 thiết chế xã hội cơ bản, không thể thiếu trong bất cứ xã hội nào trong thời đại ngày nay, đó là các thiết chế: gia đình; kinh tế; chính trị; văn hoá-xã hội
Chức năng gia đình là sự cụ thể hoá vai trò của gia đình Chức
năng gia đình là cách thức cơ bản để thoả mãn các nhu cầu sống, sinh hoạt và phát triển của gia đình trong quan hệ với xã hội Các nghiên cứu về gia đình – dù xét trên cấp độ vĩ mô (trong mối quan hệ với xã hội tổng thể), hay xét ở cấp độ vi mô (trong mối quan hệ tương quan và tác
Trang 32động qua lại giữa các thành viên) - đều khẳng định gia đình có những chức năng cụ thể, đặc trưng Gia đình được tạo lập, tồn tại và phát triển chính là do nó có sứ mệnh đảm đương những chức năng đặc biệt mà xã hội và tự nhiên đã trao cho, không một thiết chế xã hội nào thay thế được Quan hệ giữa gia đình và xã hội cũng như quan hệ giữa các thành viên và các thế hệ trong gia đình đều phải thông qua việc thực hiện các chức năng gia đình
Mặt khác, gia đình là một phạm trù lịch sử Mỗi thời đại lịch sử cũng như mỗi chế độ xã hội đều sản sinh ra một loại gia đình tương ứng, xây dựng một kiểu gia đình lý tưởng phù hợp với những chức năng xã hội
của nó Ở thời tiền sử, như C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ trong “Hệ tư
tưởng Đức”, gia đình “là quan hệ xã hội duy nhất” Khi đó, gia đình có
vai trò vừa là cộng đồng lao động, vừa là cộng đồng sinh hoạt, là khuôn khổ tồn tại của xã hội; chức năng của gia đình cũng đồng thời là chức năng của xã hội (gia đình – xã hội sơ khai), thực hiện chức năng gia đình cũng là thực hiện chức năng xã hội và ngược lại Lúc này, chức năng gia đình không thể khác hơn là kiếm sống và duy trì nòi giống Về sau, khi dân số tăng lên, nhiều nhu cầu mới đã xuất hiện Khi nhu cầu của con người phát triển lại xuất hiện những quan hệ xã hội mới làm cho gia đình từ chỗ “là quan hệ duy nhất” trở thành “quan hệ phụ thuộc” [55, tr.41] Sự chuyển biến này gắn liền với quá trình phân công lao động xã hội, với quá trình phát triển xã hội, dẫn đến có sự độc lập tương đối của gia đình đối với xã hội, thậm chí có sự đối lập giữa gia đình và xã hội Trong các xã hội thị tộc, bộ lạc, sự đối lập giữa gia đình và xã hội rất mờ nhạt Sự đối lập đó chỉ có thể trở thành “quan hệ phổ biến” khi có sự hình thành
Trang 33phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Với sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự biến đổi chức năng của gia đình là kết quả của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá
Khi bàn đến chức năng gia đình, bên cạnh những ý kiến thống nhất, vẫn còn ý kiến khác nhau trong việc trình bày về số lượng chức năng, trật tự trước sau của những chức năng này, hay các khía cạnh cụ thể trong từng chức năng của gia đình Chẳng hạn, có tác giả đã phân chia các chức năng của gia đình thành: Chức năng tái sản xuất ra con người; chức năng giáo dục; chức năng kinh tế; chức năng thoả mãn nhu cầu sinh lý, tình cảm; chức năng xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
Trong các phân tích, đánh giá, tác giả này đã nhấn mạnh chức năng xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và coi đây là chức năng tổng hợp quan trọng nhất, bởi nó làm rõ mục đích, giá trị mà gia đình cần hướng tới
Còn theo GS Lê Thi, ngoài các chức năng tái sản xuất ra con người; làm kinh tế; nuôi dạy, giáo dục con cái; thoả mãn nhu cầu tình cảm, cân bằng tâm lý, gia đình còn có chức năng bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ người ốm, người già, phụ nữ, trẻ em [104, tr 46] Đây là một chức năng mà ít tài liệu nói tới TS Lê Ngọc Văn lại cho rằng, gia đình có ba chức năng
cơ bản: chức năng kinh tế; chức năng sinh đẻ và chăm sóc sức khoẻ gia đình; chức năng giáo dục – xã hội hoá [6, tr.114-115] Khi đề cập tới các chức năng này, TS Lê Ngọc Văn đã chú ý làm rõ sự khác biệt trong việc thực hiện các chức năng gia đình giữa gia đình nông thôn và gia đình đô thị qua một số nội dung, như vai trò hoạt động kinh tế của gia đình; sự thay đổi
Trang 34về nhận thức và nhu cầu trong thực hiện chức năng sinh đẻ và chăm sóc sức khoẻ gia đình; những khó khăn, thuận lợi và xu hướng trong việc thực hiện chức năng giáo dục – xã hội hoá của gia đình
Trong giáo trình môn “Chủ nghĩa xã hội khoa học” hiện hành, các
tác giả lại trình bày tách riêng chức năng sản xuất (kinh tế) và chức năng tiêu dùng ra làm hai chức năng độc lập
Trong nội dung chức năng giáo dục của gia đình, có tác giả không trình bày rõ quan hệ giữa các thành viên trong việc nuôi dưỡng vật chất, sinh học, mà chủ yếu chỉ trình bày mặt giáo dục Có tác giả đồng nhất chức năng tiêu dùng với chức năng kinh tế; chức năng sinh đẻ với tái sản
xuất ra con người… Đúng ra, tiêu dùng bao gồm cả mặt vật chất và mặt tinh thần, nên không thể đồng nhất chức năng tiêu dùng với chức năng kinh tế; chức năng tái sản xuất ra con người cũng rộng hơn (bao gồm cả nuôi dưỡng, giáo dục, tự phát triển) so với chức năng sinh đẻ, duy trì nòi giống
Qua tham khảo nhiều cách tiếp cận khác nhau và bằng sự nghiên cứu, phân tích của mình, chúng tôi chia các chức năng của gia đình thành
6 chức năng chủ yếu trong sự liên hệ với thực trạng gia đình ở nước ta hiện nay, như sau:
Một là, chức năng sinh đẻ (tái sản xuất ra con người)
Gia đình bắt đầu hình thành khi thực hiện nhu cầu hôn nhân (trong đó có quan hệ tình dục giữa cha và mẹ – hai nhân vật chính đầu tiên kiến tạo nên gia đình), từ đó thực hiện chức năng sinh sản, duy trì nòi giống, tái sản xuất ra con người Tái sản xuất ra con người, theo nghĩa hẹp, là
Trang 35con người của gia đình Việc tái sản xuất ra thế hệ tương lai, một mặt, đáp ứng yêu cầu cung cấp lực lượng lao động mới cho xã hội; mặt khác,
đáp ứng và thoả mãn nhu cầu của chính gia đình Con cái trở thành chỗ dựa, nguồn tình cảm của ông bà, cha mẹ và của cả dòng tộc
Trong xã hội nông nghiệp, chức năng này của gia đình luôn được đề cao Quá trình sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có lực lượng lớn lao động, nhất là lao động của người đàn ông Gia đình càng đông con thì lực lượng lao động càng lớn và điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, cách thức tổ chức lao động sản xuất, đến các quan hệ họ hàng, quan hệ xã hội Với các quan niệm “nhiều con hơn nhiều của”, “sinh con trai để nối dõi tông đường”, gia đình truyền thống Việt Nam đặc biệt coi trọng chức năng sinh đẻ Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, với xu hướng chuyển sang xã hội công nghiệp, quan hệ gia đình, họ hàng, quan hệ xã hội đã có những thay đổi, người ta chú ý nhiều hơn đến chất lượng gia đình và con người Trong gia đình, điều quan trọng không phải là số lượng thành viên nhiều hay ít, mà quan trọng là ở chất lượng của các thành viên
Hai là, chức năng kinh tế (sản xuất các giá trị vật chất và tiêu dùng)
Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, gia đình trở thành một đơn vị kinh tế Gia đình là một đơn vị gồm những cá nhân có chung tài sản, trước hết về mặt vật chất, và sáng tạo ra các tài sản đó
Trang 36thông qua hành vi sản xuất, làm kinh tế Đây là nền tảng vật chất không thể thiếu của gia đình Tất nhiên, mức độ biểu hiện của chức năng này rất khác nhau trong tiến trình lịch sử
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, đơn vị kinh tế gia đình gắn liền với nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ, kinh tế hàng hoá chưa phát triển, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo Ở đó, nặng về tư tưởng “trọng nông, ức thương”, tự cung, tự cấp Với phương châm tự cung, tự cấp, trước khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, chưa có một triều đại phong kiến nào cho phép thương nhân trong nước ra nước ngoài buôn bán, nhiều lắm cũng chỉ là mở cửa biển cho tàu buôn nước ngoài đến Nhiều triều đại của nhà nước phong kiến Việt Nam đã chủ trương phát triển nông nghiệp và coi lao động nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân như là một yếu tố để đảm bảo đời sống của từng gia đình và đồng thời, là một nhân tố cơ bản để phát triển kinh tế quốc gia
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khi kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của cuộc sống, do còn sản xuất hàng hoá, còn nhiều thành phần kinh tế, thì kinh tế gia đình (tồn tại dưới hình thức hộ gia đình cá thể, tiểu chủ) là điều cần thiết Kinh tế gia đình vừa tăng thêm thu nhập cho gia đình, vừa góp phần tạo ra nhiều của cải cho xã hội Hoạt động kinh tế gia đình có những mức độ và hình thức thể hiện khác nhau, nhưng đều vì mục đích tăng thu nhập, làm giàu chính đáng, tạo điều kiện để thực hiện các chức năng khác của gia đình, góp phần phát triển gia đình và xã hội Vì vậy, kinh tế gia đình là một bộ phận có tiềm năng to lớn, có vị trí quan trọng lâu dài Ở nước ta hiện nay, mặc dù chúng ta đã chuyển sang giai đoạn đổi mới đất nước theo định hướng xã hội
Trang 37chủ nghĩa, thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và công cuộc đổi mới đó đã trải qua một chặng đường hơn 20 năm, chúng ta vẫn xác định gia đình vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị dịch vụ, tiêu thụ Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại và chủ trương phát triển mạnh thành phần kinh tế này
Trong hoạt động sống, gia đình luôn thực hiện việc tiêu dùng của cải gia đình để đáp ứng các nhu cầu hằng ngày về ăn, uống, mặc, ở, đi lại, học hành, giải trí… của các thành viên gia đình Gia đình không chỉ là một đơn vị sản xuất, mà còn là một đơn vị tiêu dùng Gia đình trở thành nơi nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, tổ chức việc tiêu dùng vật chất và hưởng thụ các sản phẩm văn hoá sau giờ lao động
Nếu trong xã hội nông nghiệp lạc hậu, chức năng này có thể mờ nhạt, thì ngày nay, trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, với xu hướng phát triển của xã hội công nghiệp, với mức sống ngày càng cao, con người càng chú ý nhiều hơn đến nhu cầu tiêu dùng, giải trí Mặc dù xã hội hiện đại có những hệ thống dịch vụ, phúc lợi xã hội ngày càng mở rộng và phát triển để đáp ứng nhu cầu của con người, nhưng chức năng tiêu dùng của gia đình để đáp ứng nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần đa dạng, độc đáo của các thành viên vẫn không có hình thức nào khác thay thế được Chức năng tiêu dùng của gia đình có ưu thế là đi vào chiều sâu, đáp ứng những nhu cầu tinh tế, phong phú và duy trì sắc thái, sở thích sinh hoạt riêng của từng gia đình và của các thành viên trong gia đình, hướng các thành viên gia đình vào tiêu dùng hợp lý, văn minh
Trang 38Ba là, chức năng bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ
em, người già, người ốm đau, tàn tật
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, cho đến lúc này, gia đình ở Việt Nam có thể ví như cơ sở bảo đảm an sinh xã hội cho các thành viên trong gia đình Dân gian Việt Nam có câu: “trẻ cậy cha, già cậy con” hay “sẩy cha còn chú, sẩy mẹ, bú dì” Trong xã hội truyền thống, gia đình gần như đảm nhận hết chức năng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, người già, người ốm đau, tàn tật Ngày nay, tuy đã có những thiết chế xã hội khác chia sẻ, song, tất cả những thiết chế đó vẫn không thể hoàn toàn thay thế được chức năng này của gia đình
Bốn là, chức năng giáo dục để hình thành nhân cách cá nhân
Gia đình là nơi nuôi dưỡng và là trường học đầu tiên có ảnh hưởng và tác động đến con người về nhiều mặt (thể chất, văn hoá, trí tuệ, xã hội, lao động…)
Giáo dục xã hội và giáo dục nhà trường là những yếu tố quyết định để định hướng sự phát triển nhân cách Tuy nhiên, giáo dục gia đình lại có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc hình thành và phát triển nhân cách cá nhân Nội dung giáo dục gia đình bao gồm các yếu tố của văn hoá gia đình, văn hoá cộng đồng, nhằm tạo lập và phát triển nhân cách của con người, như đạo đức, lối sống, phương thức ứng xử, tri thức, lao động, kỹ năng, kỹ nghệ và khoa học… Giáo dục gia đình được thực hiện trong suốt quá trình sống của con người với những hình thức và nội dung giáo dục cụ thể, phong phú
C.Mác từng chỉ ra rằng, con người là một động vật xã hội; sau khi lọt lòng mẹ, nếu đứa trẻ không được sống trong môi trường gia đình,
Trang 39không được sự giáo dục của gia đình, của xã hội, sẽ không thể trở thành một con người đúng nghĩa Quá trình chuyển biến của đứa trẻ, từ lúc lọt lòng mẹ đến lúc trưởng thành, từ một thực thể sinh học - tự nhiên thành một thực thể xã hội mang bản chất xã hội, trước hết là nhờ sự nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình Đứa trẻ sống được, lớn lên từng ngày, trước hết nhờ sự nuôi dưỡng, chăm sóc của cha mẹ chúng Thế mạnh đặc trưng, vốn có của gia đình là mối quan hệ tình cảm ruột thịt giữa cha mẹ và con cái, tạo nên một sự cảm hoá to lớn và có tác động mạnh mẽ tới đứa trẻ
Trong xã hội nông nghiệp Việt Nam, theo quan niệm giáo dục Nho giáo, giáo dục gia đình chủ yếu thiên về giáo dục đạo đức, giáo dục phẩm hạnh, giáo dục “đối nhân xử thế” trong quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm… Những quan điểm như “tam cương, ngũ thường”, “tam tòng tứ đức”, “danh phận”… trong xã hội phong kiến được các gia đình chấp nhận và tuân thủ một cách khá chặt chẽ Mô hình “người quân tử”, “kẻ tiểu nhân” được coi như một công thức định sẵn và được các gia đình đưa vào giáo dục gia đình một cách phổ biến
Ngày nay, trong gia đình hiện đại, chức năng nuôi dưỡng, giáo dục gia đình đã được phát triển lên một trình độ mới Một bộ phận lớn trẻ em được ăn uống, được chăm sóc sức khoẻ hàng ngày, được giáo dục ở nhà trẻ, lớp mẫu giáo… Giáo dục gia đình luôn gắn liền với giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội để hình thành các nhân cách phát triển toàn diện Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, giáo dục gia đình trở thành một bộ phận quan trọng của giáo dục quốc gia Việc kết hợp chặt chẽ giáo dục gia đình với giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội là điều kiện cơ bản,
Trang 40thường xuyên để thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Năm là, chức năng thoả mãn nhu cầu tâm – sinh lý
Trong quá trình sống của con người, nhiều vấn đề tâm – sinh lý thuộc giới tính, thế hệ… luôn diễn ra trong phạm vi gia đình mà trước hết, là trong quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái Bởi vậy, sự hiểu biết tâm – sinh lý cá nhân, sở thích của nhau để ứng xử phù hợp, tế nhị, chân thành, tạo nên không khí tinh thần lành mạnh, ổn định, hài hoà là vấn đề quan trọng mà gia đình phải và có thể đảm nhận
Trong xã hội phong kiến, với quan niệm “tam tòng, tứ đức”, “trai năm thê, bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng”…, gia đình có khi chưa
phải là một “tổ ấm”, mà chỉ là nơi sống chung của các “số phận” do hoàn cảnh đưa đẩy tạo nên Với chế độ phụ quyền và ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, người phụ nữ luôn chịu thiệt thòi, có khi trở thành vật hy sinh, kẻ nô lệ cho chồng và gia đình chồng Những nhu cầu riêng, cần thiết của cá nhân người phụ nữ, nhất là các nhu cầu tâm – sinh lý, ít được đáp ứng
Ngày nay, trong xã hội xã hội chủ nghĩa, các thành viên trong gia đình có điều kiện quan tâm đến nhau nhiều hơn Gia đình ngày càng chú
ý hơn đến cuộc sống riêng tư của mỗi thành viên Xu thế dân chủ hoá đời sống xã hội đã có ảnh hưởng tích cực đến sự bình đẳng, dân chủ trong quan hệ gia đình, nhất là quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái… Với sự hiểu biết về đời sống tâm - sinh lý của con người và trên thực tế, luôn cố gắng thoả mãn nhu cầu tâm – sinh lý của các thành viên gia đình, đa số gia đình Việt Nam hiện nay đã thật sự là tổ ấm của các thành viên