Vì vậy, TPH, HSH, và PTPH, PHSH hành vi XPTTQLKT là những biện pháp thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước đối với tội phạm kinh tế, nội dung thể hiện quan điểm thu hẹp hay mở rộng ph
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
TỘI PHẠM HÓA, PHI TỘI PHẠM HÓA; HÌNH SỰ HÓA, PHI HÌNH SỰ HÓA NHỮNG HÀNH VI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN
LÝ KINH TẾ TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 62.38.40.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Độ
TP HỒ CHÍ MINH - 2012
Trang 5MỞ ĐẦU 01
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỘI PHẠM HÓA, PHI TỘI PHẠM
HÓA; HÌNH SỰ HÓA, PHI HÌNH SỰ HÓA HÀNH VI XÂM PHẠM
1.2 Những yếu tố quyết định phạm vi và mức độ tội phạm hóa, phi
tội phạm hóa; hình sự hóa, phi hình sự hóa
43
1.3 Khái quát về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong
chính sách hình sự
55
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỘI PHẠM HÓA, PHI TỘI PHẠM HÓA;
HÌNH SỰ HÓA, PHI HÌNH SỰ HÓA HÀNH VI XÂM PHẠM TRẬT TỰ
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG TỘI PHẠM HÓA,
PHI TỘI PHẠM HÓA; HÌNH SỰ HÓA, PHI HÌNH SỰ HÓA HÀNH VI
XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ
133
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế trong
thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
133
3.2 Phương hướng tội phạm hóa, phi tội phạm hóa; hình sự hóa, phi
hình sự hóa hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế thời gian tới
142
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Bảo vệ trật tự quản lý kinh tế bằng PLHS là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với bất kỳ Nhà nước nào bởi chính sự tồn tại, phát triển của hệ thống những quan hệ xã hội trong lĩnh vực này có ý nghĩa góp phần quyết định đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế đất nước
Tội phạm trong lĩnh vực kinh tế nói chung, tội phạm XPTTQLKT nói riêng đã và đang diễn biến hết sức phức tạp ở nước ta trong những năm gần đây Báo cáo tổng kết hằng năm của Cơ quan Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án đều nhận định số lượng các vụ án cũng như bị can về các tội XPTTQLKT không tăng đột biến nhưng phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi Tội phạm xảy ra phổ biến, nghiêm trọng trên các lĩnh vực, các ngành, nhất là những ngành và lĩnh vực trọng điểm Thực tế đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự quản lý kinh tế của đất nước, là rào cản tới sự ổn định, phát triển của nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình tội phạm về kinh tế nói chung, tội XPTTQLKT nói riêng như do công tác quản lý của các cơ quan chức năng, cơ chế quản lý, chính sách kinh tế của Nhà nước còn sơ hở, thiếu sót Công tác đấu tranh, xử lý tội phạm XPTTQLKT còn nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao Sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền còn hạn chế, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp trong phòng ngừa, đấu tranh, xử lý… Đặc biệt, trong giải quyết một
số vụ án XPTTQLKT giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn mâu thuẫn, lúng túng, không thống nhất về quan điểm khi định tội danh, khi xác định ranh giới giữa tội phạm với không phải là tội phạm, cũng như khi quyết định hình phạt
Về mặt lý luận, trong những năm qua PLHS đã liên tục được nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với chính sách hình sự của Nhà nước
ta qua mỗi thời kỳ Chính sách hình sự là quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm bằng nhiều biện pháp khác
Trang 7nhau, trong đó biện pháp PLHS là cốt lõi nhằm đảm bảo an ninh chính trị và trật
tự, an toàn xã hội Hoàn thiện chính sách hình sự nói chung, chính sách PLHS nói riêng là quá trình diễn ra song song hai xu hướng TPH, HSH, và PTPH, PHSH Vì vậy, TPH, HSH, và PTPH, PHSH hành vi XPTTQLKT là những biện pháp thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước đối với tội phạm kinh
tế, nội dung thể hiện quan điểm thu hẹp hay mở rộng phạm vi xử lý hình sự thông qua hoạt động lập pháp
Giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm kinh tế đang tiếp tục có nhiều biến động phức tạp do những thay đổi về điều kiện khách quan của kinh tế -
xã hội Thực tiễn cho thấy trong quá trình phát triển kinh tế, lợi dụng chính sách khuyến khích sự năng động, sáng tạo của các chủ thể tham gia các quan
hệ kinh tế nên xuất hiện một số hành vi vi phạm pháp luật, thể hiện tính nguy hiểm rất lớn cho xã hội, có nơi, có lúc diễn biến nghiêm trọng nhưng chưa được quy định trong BLHS là tội phạm Ngược lại, cũng từ hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng cho thấy, một số hành vi không còn mang tính nguy hiểm cho xã hội đến mức đáng kể, không còn phù hợp trong điều kiện nền KTTT hiện nay, thể hiện nhiều năm qua rất ít xảy ra, thậm chí chúng ta không xử lý về hình sự nên cần được nghiên cứu để PTPH Hệ thống hình phạt quy định trong các tội XPTTQLKT nói chung đã nghiêm khắc và đáp ứng được mục đích trừng trị, giáo dục người phạm tội Tuy nhiên quy định về hình phạt trong một số tội phạm cụ thể còn mâu thuẫn với phần chung Mức chế tài quy định trong một số điều luật cụ thể còn thể hiện sự bất hợp lý khi so sánh trong mối tương quan chung, chưa tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, đặc biệt kể từ sau sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới đã mở ra cho chúng ta những thời cơ, thuận lợi để phát triển Tuy nhiên, thách thức, khó khăn và những hệ quả tiêu cực kéo theo là không nhỏ Dự báo tình hình tội phạm nói chung, tội phạm XPTTQLKT nói riêng trong thời gian tới còn tiếp tục tăng, phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi và gây khó khăn hơn trong điều tra, xử lý tội phạm Giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tiếp
Trang 8tục công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN Một trong những yêu cầu đặt ra đối với công tác tư pháp được đề cập tại Nghị quyết số 08 Bộ Chính trị là: Công tác tư pháp phải ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, bảo vệ trật tự, kỷ cương; bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân Chính vì vậy, đẩy mạnh xây dựng pháp luật, giải thích, hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là những công việc hết sức cần thiết Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng đề ra một trong những phương hướng quan trọng, đó là hoàn thiện chính sách PLHS phù hợp với nền KTTT định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Trên cơ sở những định hướng lớn của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm, nghiên cứu quy định trong BLHS hiện hành, cũng như Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 về các tội XPTTQLKT chúng tôi thấy còn những khoảng trống, bất cập về lý luận
Vì vậy, nghiên cứu chính sách hình sự, lý luận về TPH, PTPH; HSH, PHSH trong mối quan hệ với chính sách hình sự; nghiên cứu thực trạng TPH, PTPH; HSH, PHSH hành vi XPTTQLKT; nghiên cứu quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế trong thời gian tới, từ đó xác định
cơ sở, yêu cầu, đề xuất phương hướng TPH, PTPH; HSH, PHSH góp phần hoàn thiện các quy định của PLHS về các tội XPTTQLKT là vấn đề có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn, góp phần hoàn thiện chính sách hình sự Xuất phát từ những lý do
trên, tác giả chọn vấn đề: “Tội phạm hóa, phi tội phạm hóa; hình sự hóa, phi
hình sự hóa những hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chính sách hình sự, trong đó có vấn đề TPH, PTPH; HSH, PHSH là nội dung được nhiều nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước đề cập Tội phạm kinh tế nói chung, tội phạm XPTTQLKT nói riêng luôn là vấn đề mang tính thời sự xuất phát từ tính “động” của nền kinh tế Đặc biệt là tình hình
Trang 9kinh tế - xã hội nước ta những năm qua với nhiều bước ngoặt lớn trong quan điểm về chính sách của Nhà nước càng làm cho lĩnh vực này luôn được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà lý luận cũng như thực tiễn Vì vậy, những công trình nghiên cứu về chính sách hình sự, về tội phạm kinh tế nói chung khá nhiều, có thể ở góc độ LHS hoặc tội phạm học Tác giả sắp xếp theo từng nhóm loại công trình có liên quan đến luận án như sau:
- Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về chính sách hình sự, về các tội
XPTTQLKT dưới dạng tài liệu chuyên khảo, tham khảo, giáo trình, bình luận khoa học Đây là những tài liệu mang tính chất phổ biến cung cấp những tri thức lý luận cơ bản nhất liên quan đến đề tài tác giả nghiên cứu Có thể kể đến một số tài liệu cụ thể như:
Một số công trình của các nhà nghiên cứu Xô Viết trước đây như:
“Luật Hình sự và Xã hội học”, NXB Sách pháp lý, Matxcơva năm 1970 của tác giả Ghersengiôn A.A; “Tội phạm học và chính sách hình sự”, NXB Trường Đại học Tổng hợp Xvertlôv năm 1980 của Kôvalev M.I và Vôrônhin Iu.A; “Những vấn đề xã hội học của Luật Hình sự”, NXB Khoa học, Matxcơva năm 1983 của Babaev M.M; “Các căn cứ của điều cấm về hình sự”, NXB Khoa học, Matxcơva năm 1978 của Kuđriavtxev Những năm gần đây, vấn đề này tiếp tục được nghiên cứu ở các góc độ khác nhau Chẳng hạn công trình: “Chính sách hình sự và tình trạng phạm tội: Những vấn đề và các con đường giải quyết”, NXB Kiến thức, Matxcơva năm 1991 của Traađaev X.G; “Nhiệm vụ của chính sách hình sự Tội phạm - hiện tượng xã hội tiêu cực” Matxcơva, Nxb Infra - M, 2008 của Franz Von Listz; “Luật Hình sự Nga Phần Chung” Matxcơva, năm 2005 do tác giả L.L Kruglikov làm chủ biên Các công trình này nghiên cứu về chính sách hình sự dưới những góc
độ khác nhau như luật hình sự, tội phạm học, hoặc xã hội học Vì vậy các tác giả đã thể hiện những quan điểm khác nhau về chính sách hình sự, về mối tương quan giữa chính sách hình sự với chính sách xã hội, chính sách phòng ngừa tội phạm Đặc biệt, vấn đề TPH, PTPH; HSH, PHSH - biện pháp để thực hiện chính sách hình sự được nghiên cứu trong một số công trình như:
“Luật hình sự liên bang nga Tập bài giảng Hai tập, Tập 1, Phần Chung”,
Trang 10Máxcơva, 2004 của tác giả Na-u-mốp A.V bàn về khái niệm tội phạm hoá, phi tội phạm hoá; cơ sở của hình sự hoá;“Căn cứ của biện pháp cấm mang tính chất pháp lí hình sự: Tội phạm hoá và phi tội phạm hoá” của tác giả A.M Iakôvlép; “Xu hướng chính sách hình sự của Nga thời kì hậu Xô Viết”, Tóm tắt luận án tiến sỹ luật học Cheliabinsk, 2005 của tác giả Nhe-đốt-kô IU.V;
“Quan niệm về mô hình hoá pháp luật hình sự trong lĩnh vực kinh tế” của Trung tâm nghiên cứu kinh tế và pháp luật, (trên cơ sở Uỷ thác của tổng thống Liên bang Nga, Uỷ thác số 3169 ngày 28.11.2009), phân tích cơ sở của việc tội phạm hoá nói chung, tội phạm hoá trong lĩnh vực kinh tế nói riêng và nêu ra các nguyên tắc tội phạm hoá trong lĩnh vực quan hệ kinh tế Có thể nói đây là những công trình nghiên cứu lý luận về TPH, PTPH; HSH, PHSH trong lĩnh vực kinh tế của các nhà nghiên cứu nước ngoài làm cơ sở để tác giả tiếp cận, kế thừa trong luận án
Một số công trình của các nhà nghiên cứu trong nước như:
Sách chuyên khảo: “Tội phạm học, Luật hình sự và Luật Tố tụng hình
sự Việt Nam” của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật do TS Đào Trí Úc chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 1995, từ trang 109 đến trang
119 về chính sách hình sự, trong đó tác giả phân tích TPH, PTPH; HSH, PHSH - những biện pháp để thực hiện chính sách hình sự;
Sách chuyên khảo: “Một số vấn đề cơ bản về chính sách hình sự dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng” của PGS.TS Hồ Trọng Ngũ, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2002 Tác giả công trình nghiên cứu về chính sách hình sự trên quy mô rộng, trong đó phân tích quan điểm của Đảng và Nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đối với các tội phạm
về kinh tế ở mức độ khái quát;
Sách chuyên khảo Sau đại học: “Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật Hình sự” của PGS.TSKH Lê Văn Cảm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2005, từ trang 25 đến trang 140 tác giả nghiên cứu về Chính sách hình sự trong đó có phân tích nội dung của quá trình TPH, PTPH; HSH, PHSH;
Sách chuyên khảo: “Chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam” do TS Phạm Văn Lợi chủ biên, NXB Tư Pháp, năm 2007 Đây là cuốn
Trang 11sách nghiên cứu về chính sách hình sự, là tư liệu có giá trị khoa học và thực tiễn, khắc họa những vấn đề lý luận cơ bản cho việc hoạch định chính sách pháp luật và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên thực tế trong giai đoạn tới
Chuyên đề “Luật Hình sự của một số nước trên thế giới”, năm 1998 và Chuyên đề “Những vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới”, năm 2002 - tập thể tác giả, Bộ Tư pháp đã cung cấp thông tin về luật hình sự của một số nước trên thế giới trong đó có tội phạm kinh tế Đây
là cơ sở để tác giả nghiên cứu, đối chiếu, so sánh với luật pháp hình sự Việt Nam về tội phạm kinh tế nói chung, tội XPTTQLKT nói riêng
Ngoài ra, các tài liệu liên quan đến luận án còn là hệ thống giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, bình luận khoa học Bộ luật Hình sự đề cập đến tội phạm kinh tế nói chung, tội XPTTQLKT nói riêng như: Giáo trình LHS Việt Nam năm 2010 của Trường Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình LHS Việt Nam năm 2003 của Trung tâm đào tạo từ xa Trường Đại học Huế; Giáo trình LHS Việt Nam của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Giáo trình LHS của Học viện Cảnh sát nhân dân…Trong tất cả các giáo trình này đều dành những chương viết về các tội XPTTQLKT trên cơ sở phân tích dấu hiệu pháp lý đặc trưng, yếu tố CTTP cụ thể ở mức độ khái quát;
Sách tham khảo dành cho bậc đào tạo Sau Đại học của Trường Đại học Luật Hà Nội “Luật hình sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn” NXB Công an nhân dân, năm 1997, có bài “Hoàn thiện các quy định của LHS
về các tội phạm kinh tế trong điều kiện hiện nay” của TS Trần Văn Độ nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm kinh tế và tập trung phân tích cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn để sửa đổi, bổ sung BLHS 1985 về các tội phạm kinh tế;
Sách “Bình luận khoa học BLHS Việt Nam năm 1999” của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2008 do tập thể tác giả biên soạn đã đề cập tới các tội XPTTQLKT tại Chương 16 Đây là công trình nghiên cứu về cấu thành các tội phạm cụ thể mang tính chất chuyên sâu dưới góc độ khoa học LHS, phân tích từng tội danh với những yếu tố cấu thành về khách thể, mặt khách quan, chủ thể và
Trang 12mặt chủ quan của tội phạm Hoặc “Bình luận chuyên sâu (tập VI)” của tác giả Đinh Văn Quế, NXB TP HCM, năm 2004 Ngoài việc phân tích dấu hiệu pháp lý các tội XPTTQLKT, lịch sử lập pháp của từng tội danh, tác giả của công trình đã đưa ra, phân tích lý luận gắn với những ví dụ thực tế sinh động;
Sách chuyên khảo: “Tội phạm kinh tế thời mở cửa” do PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm, PGS.TS Nguyễn Hòa Bình làm chủ biên, NXB Công an nhân dân, năm 2003 Đây là cuốn sách chuyên khảo viết về tội phạm kinh tế và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế (theo nghĩa rộng) trong điều kiện đất nước hội nhập Tuy nhiên các tác giả nghiên cứu về tội phạm kinh tế dưới góc độ tội phạm học Vì vậy, những nội dung chính được đề cập trong cuốn sách này là tình hình, nguyên nhân và kết quả đấu tranh, phương hướng
và các giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế trong các ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm; vai trò của cơ quan Công an và các cơ quan bảo vệ pháp luật, các doanh nghiệp trong đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế
- Thứ hai, là các công trình nghiên cứu thể hiện qua hệ thống các luận
án tiến sĩ Đây là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Một số công trình liên quan đến đề tài như:
Luận án Tiến sĩ của tác giả Bùi Minh Thanh: “Vi phạm pháp luật và đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay” (năm 2003) Đây là luận án tiến sĩ nghiên cứu về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế nói chung Các tội XPTTQLKT được tác giả nghiên cứu ở mối liên hệ chung với tội phạm kinh tế, các vi phạm pháp luật kinh tế khác Đồng thời tác giả tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật nên không nghiên cứu sâu ở góc độ LHS;
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thư: “Chính sách hình sự và việc thực hiện chính sách hình sự ở nước ta” (năm 2004) nghiên cứu vấn đề lý luận về chính sách hình sự, chính sách về tội phạm và hình phạt, nghiên cứu về chính sách tổ chức đấu tranh phòng ngừa chống tội phạm Chính sách về tội phạm
và hình phạt đối với các tội XPTTQLKT chỉ được tác giả đề cập rất khái quát trong tổng thể các tội phạm của BLHS 1999;
Trang 13Luận án Tiến sĩ của tác giả Mai Thế Bày: “Đấu tranh phòng chống các tội XPTTQLKT” (năm 2006) Đây là đề tài nghiên cứu về các tội XPTTQLKT dưới góc độ tội phạm học Vì vậy nội dung luận án là phân tích thực trạng, nguyên nhân và đưa ra các giải pháp phòng chống đối với những hành vi XPTTQLKT;
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Nam: “TNHS đối với các tội XPTTQLKT trong LHS Việt Nam” (năm 2007) Đây là đề tài nghiên cứu TNHS đối với các tội XPTTQLKT, tác giả nghiên cứu quy định của PLHS
về các tội XPTTQLKT và thực tiễn xét xử nhóm tội phạm này tại Việt Nam
từ năm 2000 đến 2005 Gần với hướng và nội dung nghiên cứu của đề tài nhất, song mục tiêu, phạm vi nghiên cứu của tác giả không trùng lắp với luận án này
- Thứ ba, các công trình nghiên cứu thể hiện qua những bài viết trên
các Tạp chí chuyên ngành, Hội nghị, Hội thảo Đây là nguồn tài liệu phong phú nhất Những công trình nghiên cứu này chủ yếu được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành luật có uy tín như Tạp chí Tòa án, Tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học pháp lý, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Dân chủ pháp luật, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Công an nhân dân…Có thể kể ra một vài công trình ở dạng này như:
- Tội phạm kinh tế và vấn đề đấu tranh với nó trong nền kinh tế thị trường ở nước ta PGS.TS Phạm Hồng Hải, Tạp chí Luật học, số 6/1996
- Một số suy nghĩ về tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, PGS.TS Trần Văn Độ, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 23/2004
- Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế đấu tranh chống tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, Th.sĩ Mai
Bộ, Tạp chí Toà án nhân dân số 7/2004
- Thực trạng xét xử các vụ án về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế, Đinh Văn Quế, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 24/2004
Trang 14- Hình phạt áp dụng cho các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế Những vướng mắc và giải pháp hoàn thiện, TS Dương Tuyết Miên, Tạp chí Tòa án nhân dân số 19/2004
- Về vấn đề “HSH các quan hệ kinh tế, dân sự trong thực tiễn pháp lý ở nước ta hiện nay”, Hồ Trọng Ngũ, Tạp chí Công an nhân dân, số 2/2004
- Trách nhiệm hình sự đối với hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, Th.sĩ Mai Bộ, Tòa án Quân sự Trung ương, Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 22/2006
- Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và vấn đề truy tố đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, Th.s Trần Đại Thắng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 23/2006
XPTTQLKT quy định trong BLHS 1999, Mai Thế Bày, Tạp chí Kiểm sát,
số 1/2007
- Bàn về các quy định của BLHS về các tội XPTTQLKT và những vấn
đề cần hoàn thiện, Th.s Nguyễn Văn Trượng, Tòa án Quân sự Trung ương, Tạp chí Kiểm sát, số 11, tháng 6/2008
xét xử, Đinh Văn Quế, Chánh tòa Hình sự, TANDTC, Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ 2 tháng 1/2009
- Cần hoàn thiện quy định của BLHS về tình tiết định khung và hình phạt đối với nhóm tội phạm XPTTQLKT, Th.s Nguyễn Văn Trượng, Tòa án Quân sự Trung ương, Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ 1, tháng 3/2009
- Cơ sở thực tiễn của việc quy định trách nhiệm hình sự của tổ chức, pháp nhân PGS.TS Trần Văn Độ, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2011
Nhìn chung đây là những công trình nghiên cứu tội phạm cụ thể (chủ yếu thể hiện nội dung lý luận, sau đó phân tích lý luận kết hợp thực tiễn, chỉ
ra bất cập và giải pháp hoàn thiện luật); hoặc nghiên cứu về TNHS, hình phạt đối với các tội XPTTQLKT Một số bài viết nghiên cứu về tội phạm kinh tế dưới góc độ tội phạm học thể hiện qua việc phân tích tình hình tội phạm, xác định nguyên nhân và đề xuất hướng phòng ngừa, đấu tranh
Trang 15Như vậy, hiện nay các công trình khoa học nghiên cứu về chính sách hình sự nói chung, về các tội XPTTQLKT ở các góc độ khác nhau khá nhiều Quy định về tội phạm kinh tế luôn thể hiện tính thích ứng, phù hợp giữa sự phát triển, tác động của kinh tế xã hội đối với pháp luật hình sự ở những giai đoạn, những thời điểm nhất định Chính vì vậy, mặc dù đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về vấn đề này, song vẫn còn những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu, nhất là khi Việt Nam đang và sẽ có những bước chuyển mình quan trọng về kinh tế trong thời gian tới đây
Quá trình thu thập, sưu tầm, nghiên cứu tài liệu để hoàn thiện đề tài, tác giả nhận thấy hiện nay ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề TPH, PTPH; HSH, PHSH những hành vi XPTTQLKT
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở nhận thức về chính sách hình sự, luận án làm rõ lý luận cơ bản về TPH, PTPH; HSH, PHSH, phân tích thực trạng TPH, PTPH; HSH, PHSH hành vi XPTTQLKT, từ đó đề xuất phương hướng TPH, PTPH; HSH, PHSH hành vi XPTTQLKT, góp phần hoàn thiện quy định của BLHS hiện hành
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung
trong thực tiễn áp dụng PLHS thời gian qua
- Những vướng mắc, bất cập trong quy định và áp dụng pháp luật hình sự đối với hành vi XPTTQLKT
Trang 16- Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế và yêu cầu, phương hướng TPH, PTPH; HSH, PHSH hành vi
XPTTQLKT thời gian tới góp phần hoàn thiện PLHS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu lý luận và thực tiễn TPH, PTPH; HSH, PHSH những hành vi XPTTQLKT trong PLHS Việt Nam
- Về nội dung: Dưới góc độ chuyên ngành luật hình sự, đề tài nghiên cứu lý luận về TPH, PTPH; HSH, PHSH; thực trạng TPH, PTPH; HSH, PHSH hành vi XPTTQLKT qua các giai đoạn lập pháp hình sự và kết quả hoạt động này trong áp dụng PLHS; quan điểm, phương hướng TPH, PTPH; HSH, PHSH những hành vi XPTTQLKT trong thời gian tới
- Về thời gian: Thời gian khảo sát thực tiễn của đề tài là từ năm 2000 đến năm 2010
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta thể hiện trong Chính sách hình sự về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, tội phạm kinh tế nói riêng qua các thời kỳ phát triển khác nhau của đất nước
Trên cơ sở các tài liệu tham khảo, số liệu về các tội XPTTQLKT của
Cơ quan Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án cung cấp, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, lịch sử, thống kê, so sánh, khảo sát thực tiễn…
6 Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của luận án
- Đây là luận án Tiến sĩ đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về vấn đề TPH, PTPH; HSH, PHSH những hành vi XPTTQLKT trong khoa học Luật hình sự Việt Nam Cụ thể là:
+ Trên cơ sở nhận thức về chính sách hình sự, luận án phân tích nội dung TPH, PTPH; HSH, PHSH trong mối liên hệ với chính sách hình sự và khẳng định đây là những biện pháp đầu tiên có ý nghĩa quyết định các biện
Trang 17pháp khác để thực hiện chính sách hình sự, là sự thể hiện chính sách hình sự thông qua con đường lập pháp
hành vi XPTTQLKT thể hiện qua lịch sử lập pháp đối với các tội phạm kinh
tế trong PLHS Việt Nam (từ BLHS 1985 trở về trước), tội phạm XPTTQLKT (từ BLHS 1999 đến nay)
việc đánh giá thực tiễn áp dụng PLHS đối với hành vi XPTTQLKT trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2010, chỉ ra những bất cập trong lập pháp, trong
áp dụng pháp luật khi xác định hành vi phạm tội cũng như hệ thống chế tài đối với những hành vi này
+ Trên nền tảng chính sách phát triển kinh tế và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm XPTTQLKT trong giai đoạn tới của Đảng và Nhà nước ta, luận
án xác định cơ sở, yêu cầu và phương hướng TPH, PTPH; HSH, PHSH hành vi XPTTQLKT nhằm hoàn thiện PLHS về các tội XPTTQLKT
- Với những đóng góp mới về mặt khoa học như trên, luận án có ý
nghĩa nhất định trong nghiên cứu lý luận cũng như hoạt động thực tiễn Về lý luận, kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, tài liệu tham khảo về các tội XPTTQLKT trong LHS Việt Nam Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận án với những phân tích, nhận định đưa ra có thể giúp các nhà lập pháp tham khảo trong quá trình hoàn thiện PLHS nói chung, hoàn thiện các tội XPTTQLKT nói riêng
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 3 chương:
Chương 1 Lý luận cơ bản về tội phạm hóa, phi tội phạm hóa; hình sự
hóa, phi hình sự hóa hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Chương 2 Thực trạng tội phạm hóa, phi tội phạm hóa; hình sự hóa, phi
hình sự hóa hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Chương 3 Quan điểm và phương hướng tội phạm hóa, phi tội phạm
hóa; hình sự hóa, phi hình sự hóa hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Trang 18Trong Tiếng Việt, chính trị và chính sách là hai khái niệm tuy rất gần nhau nhưng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với nhau Theo Đại từ điển Tiếng Việt, chính trị là “những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước hoặc những hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền
điều hành Nhà nước…” [116, tr 369] Còn theo Từ điển Luật học, “chính trị
là toàn bộ những hoạt động liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của Nhà nước; sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước Chính trị liên quan đến quyền lợi của giai cấp và Nhà nước…Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chính trị trước hết là bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hiệu lực quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội” [26, tr.141] Còn chính sách là “chủ trương và các biện
Trang 19pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã
hội…” [116, tr 368]
Kể từ khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta luôn coi pháp luật là một công cụ sắc bén trong xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ và củng cố các quan hệ xã hội Toàn bộ công tác xây dựng pháp luật, áp dụng và thi hành pháp luật cũng như giáo dục, tuyên truyền pháp luật đều được tiến hành trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng Đường lối đó thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện
và tổ chức thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
ở nước ta hiện nay được tiến hành trước hết trên nền tảng chính sách pháp luật phù hợp Vì vậy, chính sách pháp luật được hiểu là tổng thể các đường hướng, các hình thức, nhiệm vụ, nội dung và mục đích hoạt động của Nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện và sử dụng pháp luật để điều chỉnh các
quan hệ xã hội Nói cách khác, đó là tổng thể những quan niệm, quan điểm
của Đảng cầm quyền về việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội
Các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh tồn tại trên từng lĩnh vực
cụ thể và tương ứng với mỗi lĩnh vực là một chính sách pháp luật phù hợp như chính sách pháp luật trên lĩnh vực dân sự; chính sách pháp luật trên lĩnh vực hành chính nhà nước; chính sách pháp luật trên lĩnh vực kinh tế tài chính, tín dụng, ngân hàng, chứng khoán; chính sách pháp luật trên lĩnh vực đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, với tư cách là một bộ phận hợp thành không thể thiếu của chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung, chính sách pháp luật có nội hàm là tổng hợp những nguyên tắc, đường hướng cơ bản về xây dựng, hoàn thiện và sử dụng pháp luật, được hoạch định nhằm tạo lập cơ sở đúng đắn cho việc xây dựng và sử dụng một cách có hiệu quả các khả năng điều chỉnh của pháp luật, xác định một cách khoa học mô hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật cho cộng đồng Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc hoạch định chính sách pháp luật, xây dựng và hoàn thiện các chế định, các
Trang 20thiết chế tổ chức pháp lý Hệ thống pháp luật không ngừng được hoàn thiện, ngày càng trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý xã hội
Lý luận về chính sách hình sự là lý luận về sự kết hợp những nhân tố chính trị vào trong các biện pháp pháp luật để đảm bảo tính hệ thống, sự nhất quán của cơ chế bảo vệ và điều chỉnh bằng pháp luật các mối quan hệ xã hội trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm phù hợp với bản chất và mục đích của Nhà nước Khái niệm chính sách hình sự đã được sử dụng từ rất lâu, vào khoảng năm 1800 [119, tr 862] Đây là vấn đề luôn được các Đảng cầm quyền, các Nhà nước với chế độ chính trị, xã hội khác nhau quan tâm Đảng cầm quyền khi đề ra các chính sách, đường lối của mình trước hết phải xuất phát từ lợi ích của giai cấp mà Đảng đó là hạt nhân lãnh đạo Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng từ trước đến nay về lý luận vẫn chưa có nhận thức chung thống nhất về khái niệm chính sách hình sự cũng như chưa có tiếng nói chung về nội hàm của nó
Ở Liên Xô trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu chính sách hình
sự dưới các góc độ như: chính trị học, xã hội học pháp luật, LHS, tội phạm học… Ngày 26/3/1928, Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô
đã ban hành Nghị quyết “Về chính sách hình sự và thực trạng của nó trong thi hành án hình sự” [103, tr 320] Mặc dù nghị quyết không đưa ra khái niệm và
nội hàm của chính sách hình sự nhưng bước đầu đã đề ra những định hướng
cơ bản liên quan đến việc thực hiện chính sách hình sự trong thi hành án hình
sự, đặt nền tảng quan trọng cho việc nghiên cứu vấn đề Tuy nhiên, trong một
khoảng thời gian dài, vấn đề chính sách hình sự không được quan tâm nghiên cứu Mãi tới thập kỷ 60, nhiều công trình nghiên cứu về chính sách hình sự của giới khoa học pháp lý hình sự và tội phạm học Xô Viết mới xuất hiện rộng rãi Quan điểm về chính sách hình sự được thể hiện ở các góc độ khác nhau Có quan điểm cho rằng: Chính sách hình sự bao gồm không chỉ những biện pháp chuyên ngành (pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học, thi hành án hình sự, điều tra hình sự) mà còn là những biện pháp mang tính xã hội (về kinh tế, tư tưởng, y học…) [118, tr 179]; Hoặc coi chính sách hình sự
là phương hướng hoạt động của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện các
Trang 21biện pháp chính trị - xã hội, kinh tế và soạn thảo các phương pháp tối ưu về mặt pháp luật hình sự nhằm mục đích xóa bỏ tình trạng phạm tội [dẫn theo
30, tr 32]; chính sách trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm không chỉ là chính sách pháp luật hình sự mà còn bao gồm cả chính sách xét xử, chính sách phòng ngừa xã hội các vi phạm pháp luật và chính sách cải tạo lao động [122, tr 223] Dưới góc độ xã hội học, tội phạm học có quan điểm nhận định chính sách phòng ngừa tội phạm là một dạng của chính sách xã hội trong việc xóa bỏ tình trạng phạm tội, tồn tại độc lập bên cạnh chính sách hình sự Các phương pháp, phương tiện của chính sách hình sự và chính sách phòng ngừa tội phạm ở trong sự xung đột nhất định, vì chính sách hình sự đấu tranh với cái ác và trừng phạt cái ác, còn chính sách phòng ngừa tội phạm theo đuổi xu thế hướng thiện [120, tr.12]; hay: chính sách hình sự là sự tác động một cách
có chiến lược và định hướng đến tội phạm, dựa trên việc nhận thức tình hình
và khuynh hướng thực tế của tội phạm, lấy các biện pháp pháp lý làm cơ sở
và với mục đích tối thiểu hóa mức độ tội phạm đến mức có thể [125, tr 110]…Hiện nay, theo quan điểm của đa số các nhà nghiên cứu lý luận pháp
lý hình sự của Nga cho rằng: “chính sách hình sự - chiến lược và sách lược đấu tranh chống tội phạm do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, gồm
có các biện pháp pháp lý hình sự cũng như các biện pháp tố tụng hình sự, tội phạm học và những biện pháp khác nhằm hạn chế tội phạm, giảm thiệt hại
do tội phạm gây ra” [121] Như vậy chính sách hình sự được hiểu là quan điểm, tư tưởng chiến lược của Nhà nước trong đấu tranh chống tội phạm nhằm mục đích cuối cùng là ngăn ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm có hiệu quả Chính sách hình sự bao gồm các biện pháp pháp lý hình sự, tố tụng
hình sự và các biện pháp khác
Tại Cộng hòa Liên bang Đức, khoa học pháp lý hình sự và tội phạm
học là những ngành khoa học phát triển rất mạnh mẽ từ thập niên 60 Vấn đề chính sách hình sự nói chung, chính sách về tội phạm và chính sách về trách nhiệm hình sự được các nhà khoa học Đức dành sự quan tâm đặc biệt Một số nhà khoa học cho rằng, chính sách hình sự đồng nghĩa với chính sách phòng,
chống tội phạm hoặc chính sách về tội phạm, coi chính sách hình sự là chính
Trang 22sách về PLHS [119, tr 861] Quan niệm như vậy về chính sách hình sự không được thừa nhận một cách rộng rãi, bởi chính sách hình sự không thể được hiện thực hóa chỉ trên cơ sở của LHS mà để cấu thành nó, ngoài chính sách về PLHS còn có chính sách về pháp luật tố tụng hình sự, chính sách về các thiết chế của tư pháp hình sự… đều là các bộ phận cấu thành của chính sách hình sự
Tại Việt Nam, vấn đề chính sách hình sự từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn Thuật ngữ “chính sách hình sự” xuất hiện trong khoa học pháp lý từ những năm đầu của thập kỷ 90 Thời gian đầu chính sách hình sự được nhắc đến trong khuôn khổ của khoa học LHS nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản, quan trọng của Luật hình sự, thể hiện trong một số bài viết khoa học bằng việc phát hiện, nêu vấn đề có tính chất phương pháp luận chung Trong một
số Nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước ta đã chứa đựng những nội dung của chính sách hình sự Tuy nhiên, tất cả những văn bản này chưa đề cập một cách cụ thể và có hệ thống nội hàm của chính sách hình sự Đến nay chính sách hình sự vẫn là vấn đề lý luận chưa hoàn toàn có sự thống nhất trong khoa học pháp lý
- Có quan điểm cho rằng chính sách pháp luật là chính sách xây dựng
và sử dụng pháp luật, và một trong những bộ phận quan trọng của chính sách pháp luật là chính sách hình sự [104, tr 120 - 121] Xuất phát từ quy định tại Điều 4 của BLHS, trách nhiệm đấu tranh phòng và chống tội phạm là trách nhiệm đặc biệt của Cơ quan công an, Viện kiểm sát, Tòa án Đồng thời cũng
là trách nhiệm của tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và của mọi công dân Công tác đấu tranh phòng và chống vi phạm nói chung, tội phạm nói riêng có nền tảng vững chắc là chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước
Vì vậy, việc đấu tranh nhằm phòng ngừa và chống tội phạm đòi hỏi phải có nhiều hình thức và biện pháp, trong đó có những biện pháp cưỡng chế và pháp lý của các cơ quan chuyên trách Trên cơ sở đó tác giả cho rằng chính sách hình sự là chính sách xây dựng và sử dụng PLHS Chính sách hình sự là một bộ phận quan trọng trong chính sách pháp luật, đồng thời là một bộ phận
Trang 23của chính sách phòng và chống tội phạm Đó là đường lối, chiến lược, sách lược và những nguyên tắc do Nhà nước đề ra trong việc xây dựng và sử dụng các biện pháp pháp lý hình sự để đấu tranh chống tội phạm
- Quan điểm khác thì cho rằng, nghiên cứu chính sách hình sự phải bắt đầu từ việc nghiên cứu chính sách xã hội nói chung Khi nghiên cứu các vấn
đề của chính sách xã hội tác động đến an ninh xã hội thì chính sách hình sự giữ một vị trí then chốt trong toàn bộ các chính sách bảo đảm an ninh xã hội nhằm giải quyết các vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm Trong đó chính sách bảo đảm an ninh xã hội là một bộ phận của chính sách xã hội Trong toàn
bộ chính sách bảo đảm an ninh xã hội thì chính sách hình sự đóng vai trò cốt lõi [64, tr 25] Chính sách hình sự là toàn bộ những nguyên tắc, những phương châm chỉ đạo và các biện pháp đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung, trong đó bằng các biện pháp pháp luật chỉ là một bộ phận Phạm vi của chính sách hình sự rất rộng, nó bao hàm toàn bộ những quan điểm về tội phạm, nguyên nhân, điều kiện của tội phạm cũng như những phương châm, nguyên tắc đấu tranh phòng chống được thể hiện trong xây dựng pháp luật về hình sự, công tác điều tra, truy tố, xét xử, cải tạo và giáo dục người phạm tội [65, tr 18] Qua phân tích, tác giả của quan điểm này cho rằng: Chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là chính sách xã hội trong lĩnh vực đời sống chính trị - pháp lý, là hệ thống những quan điểm, tư tưởng chiến lược, tổng thể về tội phạm như một hiện tượng lịch sử xã hội của xã hội có giai cấp và về những vấn đề cơ bản nhất (mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc, phương pháp và
tổ chức lực lượng) bảo đảm cho cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả trên tất cả các phương diện chính trị, xã hội, pháp lý và kinh tế được ghi nhận trong các văn bản của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Trên cơ sở phân tích những thuộc tính và giá trị xã hội của chính sách hình sự, khi đề cập đến tính pháp lý của chính sách hình sự tác giả cho rằng:
“chính sách hình sự được thể hiện rõ nét trong lập pháp hình sự hay cụ thể hơn trong xây dựng các văn bản PLHS, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự Chính trên phương diện này chính sách hình sự đã trùng với chính sách xây dựng PLHS, nên quan niệm “chính sách hình sự là một bộ phận của chính
Trang 24sách pháp luật” là hợp lý [65, tr 46]
Như vậy, theo quan điểm này, phạm vi cũng như nội hàm của chính sách hình sự được hiểu rộng hơn Bao gồm công tác phòng ngừa tội phạm, khắc phục và loại trừ các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, công tác xây dựng PLHS, công tác điều tra, truy tố và xét xử, cải tạo và giáo dục người phạm tội Chính sách hình sự là một nội dung của chính sách phòng ngừa tội phạm Chính sách phòng ngừa tội phạm là một bộ phận cấu thành nên chính sách xã hội Quan điểm này xuất phát từ nhận thức về sự thống nhất của toàn
bộ quá trình đấu tranh chống tội phạm, của việc quản lý quá trình đó trên một nền tảng thống nhất Song dưới góc độ hẹp, trên phương diện lập pháp, tác giả cũng đồng nhất với quan điểm khẳng định chính sách hình sự là một bộ phận của chính sách pháp luật, trong đó bao gồm chính sách xây dựng PLHS
- Quan điểm khác cho rằng chính sách hình sự liên quan đến các chính sách khác như chính sách phòng ngừa tội phạm, chính sách tố tụng hình sự, chính sách pháp luật thi hành án hình sự nên nghiên cứu về chính sách hình
sự phải bắt đầu từ việc nghiên cứu hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội phạm Chính sách hình sự là một bộ phận của chính sách xã hội nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Chính sách hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền là một phần của chính sách xã hội nói chung, đồng thời là chính sách pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình
sự nói riêng và bao gồm tổng thể bốn chính sách (chính sách phòng ngừa tội phạm, chính sách PLHS, chính sách pháp luật tố tụng hình sự, chính sách pháp luật thi hành án hình sự) Nói cách khác: “chính sách hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền là những phương hướng có tính chất chỉ đạo, chiến lược của nhà nước trong lĩnh vực tội phạm và hình phạt nhằm xây dựng, hoàn thiện PLHS, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự cũng như thực tiễn áp dụng chúng, đồng thời soạn thảo và triển khai các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm… và suy cho cùng chính sách hình sự là chính sách đấu tranh phòng chống tội phạm nhằm biến các nguyên tắc chung của nhà nước pháp quyền vào thực tế cuộc sống”[30, tr 35]
Qua một số quan điểm trên cho thấy các nhà khoa học đã nghiên cứu
Trang 25chính sách hình sự từ nhiều góc độ với cách nhìn nhận khác nhau Mỗi quan điểm đều thể hiện cơ sở khoa học, thực tiễn và tính đúng đắn của nó
Chúng tôi cho rằng mục tiêu quan trọng nhất của chính sách pháp luật trong bất kỳ nhà nước nào cũng là bảo vệ chế độ chính trị - xã hội hiện hành, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Một trong những nhiệm vụ để thực hiện được mục tiêu đó là đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bởi tội phạm là hành vi nguy hiểm cho giai cấp thống trị trong một xã hội nhất định, vì nó xâm hại đến “điều kiện tồn tại” của giai cấp ấy, và “tội phạm là hành vi của cá nhân riêng biệt đấu tranh chống lại mối quan hệ thống trị chứ không phải phát sinh
từ một ý muốn đơn thuần” [56, tr 531] Vì vậy nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm phải được xây dựng, triển khai trên cơ sở quan điểm chính trị, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị xã hội Từ đó, có thể hiểu: Chính sách hình sự là chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, chứa đựng các nguyên tắc, phương hướng, các hình thức và phương pháp đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, được thực hiện trên nền tảng pháp luật Trong hệ thống các biện pháp đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm thì chính sách hình sự giữ vị trí trung tâm bởi vì chính sách hình sự xác định những giới hạn của hành vi phạm tội; tạo nên cơ sở của TNHS và quyết định những mức độ trách nhiệm có thể đối với những tội phạm đã xảy ra, cũng như xác định những điều kiện để không phải chịu TNHS Chính sách hình sự còn quy định giới hạn đối với hoạt động của cơ quan bảo vệ pháp luật nhằm đảm bảo cho sự hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Là một hiện tượng xã hội đặc biệt, tội phạm có nguyên nhân và điều kiện xã hội, thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm là nhiệm vụ của toàn xã hội, với nhiều loại biện pháp khác nhau, như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, truyền thống Do đó, chính sách đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm phải là những định hướng tổng hợp liên quan đến nhiều chính
Trang 26sách khác nhau, như chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chính sách giáo dục, đào tạo, chính sách pháp luật Các giải pháp trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, suy cho cùng đều ảnh hưởng đến hiệu quả cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Tuy nhiên, không phải giải pháp nào cũng
nhằm mục đích trực tiếp đấu tranh với tội phạm, mà mỗi giải pháp có mục
tiêu cụ thể khác nhau, đó có thể là mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội Mục tiêu chủ yếu của chính sách hình sự là tính hiệu quả của việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cho nên chính sách hình sự phải là định hướng sử dụng PLHS cũng như các ngành luật liên quan như tố tụng hình sự, thi hành
án hình sự và tổ chức đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm Mặc dù PLHS
là cơ sở pháp lý quan trọng bậc nhất cho chính sách hình sự, nhưng để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm thì các biện pháp được áp dụng không chỉ dựa trên cơ sở của PLHS mà còn có cơ sở là các ngành luật khác có liên quan như pháp luật hành chính, pháp luật thương mại, pháp luật tài chính, ngân hàng, tín dụng, pháp luật đất đai, pháp luật về môi trường
Vì những lẽ trên, tác giả cho rằng, tiếp cận theo nghĩa rộng thì chính sách hình sự là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng chiến lược, tổng thể về tội phạm của Đảng và Nhà nước ta đảm bảo cho cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm có hiệu quả trên mọi phương diện và được ghi nhận trong các văn bản của Đảng, pháp luật của Nhà nước Hiểu theo nghĩa hẹp chính sách hình
sự là chính sách PLHS, là quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, nhà nước ta về tội phạm và hình phạt, thể hiện trong quá trình xây dựng, áp dụng PLHS và nâng cao ý thức trình độ luật pháp của nhân dân Cách tiếp cận khái niệm theo nghĩa hẹp cũng được thể hiện trong Từ điển Luật học như sau: “chính sách hình sự là chính sách của Nhà nước đối với việc đấu tranh phòng, chống tội phạm bằng biện pháp PLHS nhằm đảm bảo an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội Chính sách hình sự có thể mang tính chất đường lối, chiến lược lâu dài như “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo”… nhưng cũng
có thể mang tính chất sách lược được thực hiện trong những giai đoạn nhất định cũng như đối với những loại tội phạm hoặc đối tượng nhất định…” [26, tr 138]
Trang 27Mặc dù có thể tiếp cận chính sách hình sự dưới các góc độ, phạm vi rộng, hẹp khác nhau, nhưng rõ ràng nói đến chính sách hình sự là nói đến hệ thống tư tưởng, chủ trương, quan điểm mang tính chất chỉ đạo thông qua các Nghị quyết hoặc các văn bản của Đảng để giải quyết các vấn đề hình sự trong xây dựng, sử dụng pháp luật hình sự vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
Thuộc về chính sách hình sự có thể là đường lối chiến lược lâu dài trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và cũng có thể là sách lược đấu tranh phòng chống tội phạm ở giai đoạn nhất định, đối với một loại tội phạm nhất định Chính sách hình sự được “hiện thực hoá” ở nhiều loại văn bản khác nhau nhưng ở Việt Nam hiện nay, chính sách hình sự được thể hiện tập trung nhất, rõ nhất và cụ thể nhất trong BLHS hiện hành Tất cả các điều luật của BLHS đều thể hiện ở các cấp độ khác nhau chính sách của Nhà nước Việt Nam về đấu tranh phòng chống tội phạm Đồng thời, BLHS cũng là cơ
sở pháp lí để giải thích, tuyên truyền và thực hiện chính sách hình sự trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm
Nội dung cốt lõi của chính sách hình sự đó là chính sách đấu tranh phòng, chống tội phạm bằng pháp luật hình sự Vì vậy, chính sách hình sự được thể hiện ở hai phương diện cơ bản là: chính sách về tội phạm, hình phạt
và chính sách về tổ chức đấu tranh phòng chống tội phạm Phương diện thứ nhất phản ánh mức độ phản ứng của Nhà nước, của xã hội đối với tội phạm và người phạm tội thông qua việc xác định hành vi nào là tội phạm và tính chất, mức độ, hình thức xử lý trách nhiệm hình sự Phương diện thứ hai là đường hướng triển khai (những quan điểm đánh giá của Nhà nước về tội phạm và hình phạt) trên thực tế thông qua việc tổ chức đấu tranh phòng và chống tội phạm Hai nội dung này của chính sách hình sự có mối quan hệ gắn bó trong một thể thống nhất, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, cái này là tiền đề của cái kia và ngược lại Chính sách hình sự đúng đắn phải là sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách về tội phạm, hình phạt và chính sách về tổ chức đấu tranh phòng chống tội phạm
Trang 28Chính sách về tội phạm là quan điểm của Nhà nước trong việc xem xét, đánh giá chủ quan dưới góc độ pháp luật những hành vi nguy hiểm xảy ra một cách khách quan trong xã hội Để có được một cơ sở khách quan cho việc xác định hành vi này hay hành vi khác là tội phạm, cần xem xét toàn diện nhiều vấn đề Từ đó có những chủ trương, giải pháp thích hợp, đúng đắn để xác định phạm vi cần và đủ của sự điều chỉnh bằng pháp luật hình sự
Nói đến tội phạm không thể không nói đến hình phạt Mối liên hệ chặt chẽ giữa tội phạm và hình phạt thể hiện qua việc khẳng định tính chịu hình phạt là một thuộc tính của tội phạm Rõ ràng, nếu không để xác định trách nhiệm hình sự và hình phạt thì việc quy định tội phạm sẽ là vô nghĩa Như vậy chính sách về tội phạm gắn liền với chính sách về trách nhiệm hình sự và hình phạt Chính sách về hình phạt là hệ quả tất yếu của chính sách về tội phạm, có nghĩa là đánh giá như thế nào về tội phạm sẽ có mức độ xử lý về trách nhiệm hình sự như thế ấy Chính sách về hình phạt thể hiện thái độ, sự phản ứng của Nhà nước và xã hội trong xử lý đối với người thực hiện hành vi hành vi nguy hiểm cho xã hội Chính sách về hình phạt có thể là nghiêm trị,
có thể là khoan hồng Tuy nhiên mức độ, phạm vi nghiêm trị hay khoan hồng cũng phải phản ánh được thuộc tính khách quan của tội phạm, phản ánh được mục đích của hình phạt
Chính sách về tổ chức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm là chủ trương, đường hướng của Đảng và Nhà nước về việc tổ chức, về các giải pháp, về phương pháp đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Đây là bộ phận không thể thiếu được của chính sách hình sự bởi lẽ nếu chỉ dừng lại ở chính sách về tội phạm và hình phạt thì chính sách hình sự dù có đúng đắn đến đâu cũng chỉ dừng lại ở những ý tưởng, kế hoạch, dự định mà không có hiệu quả thực tế Chính sách về tổ chức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm được thể hiện rõ nét qua tình hình tội phạm và hoạt động áp dụng pháp luật trong thực tiễn của các cơ quan bảo vệ pháp luật Kết quả của những hoạt động này kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp phương hướng quan điểm chỉ đạo trong chính sách về tội phạm và hình phạt
Trang 29Để thể hiện những nội dung trên, chính sách hình sự được thực hiện qua ba hình thức cơ bản là: lập pháp hình sự, thi hành áp dụng pháp luật hình
sự và nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân Những thay đổi hay điều chỉnh chính sách hình sự nhằm đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội của đất nước trong bất cứ giai đoạn nào cũng phải được thực hiện trước tiên ở hoạt động lập pháp Hoạt động lập pháp của Nhà nước có vị trí hàng đầu bởi
vì các hình thức thể hiện khác của chính sách hình sự đều phát sinh từ hoạt động này Quá trình áp dụng pháp luật cũng như phát triển ý thức pháp luật của công dân chỉ có thể được triển khai khi các văn bản luật thực định đã được cơ quan lập pháp thông qua phản ánh ý chí của Nhà nước, phản ánh tối
đa được tình hình và nhu cầu xã hội
Chính sách về tội phạm và hình phạt chỉ có thể được cụ thể hoá, pháp luật hoá trong lập pháp hình sự bằng quá trình TPH, PTPH; HSH, PHSH Tội phạm hoá hay phi tội phạm hoá một hành vi nào đó là quá trình xác định hành
vi nguy hiểm cho xã hội đến mức như thế nào cần phải xử lý bằng PLHS Việc xác định phải dựa vào tầm quan trọng của các quan hệ xã hội, về định hướng phát triển loại quan hệ xã hội đó trong từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch
sử Những yếu tố được xác định trên nền tảng điều kiện kinh tế, xã hội và từ
đó quy định thái độ, sự phản ứng của nhà nước đối với những hành vi xâm phạm các quan hệ xã hội cũng như đường lối đánh giá, xử lý Nói cách khác, quá trình thực hiện TPH, PTPH; HSH, PHSH chính là công cụ, phương tiện
để thể chế hoá chính sách hình sự - quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tội phạm trong mỗi thời kỳ Quá trình này tạo cơ sở pháp lý cho việc vận dụng, thực hiện chính sách đó trong đời sống xã hội Chẳng hạn, trước đây trong điều kiện phải đấu tranh với giai cấp tư sản nhằm củng cố cơ sở kinh tế, xã hội cho chính quyền mới, Đảng và Nhà nước chủ trương tiến hành cải tạo XHCN đối với các thành phần kinh tế tư bản tư nhân Để giải quyết nhiệm vụ
đó, Nhà nước ta đã xử lý rất nghiêm khắc đối với những người hoạt động phá hoại chính sách cải tạo XHCN Đến thời kỳ đổi mới, tình hình kinh tế xã hội
có nhiều thay đổi, nhiệm vụ cải tạo XHCN các thành phần kinh tế tư bản tư nhân không còn đặt ra Để thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành
Trang 30phần và đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, chính sách hình
sự của Nhà nước ta có nhiệm vụ thể hiện được quan điểm ấy Chính vì vậy trong lập pháp hình sự phải nghiên cứu để loại bỏ những quy định trái với chủ trương của Đảng Trong BLHS năm 1999 các tội xâm phạm sở hữu đã được quy định trong một chương, không phân biệt hình thức sở hữu Nhiều hành vi
vi phạm về kinh tế đã được TPH, PTPH thể hiện trong sự bổ sung mới hoặc sửa đổi các yếu tố trong CTTP cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội vào thời điểm đó Rõ ràng thông qua lập pháp, thông qua việc mở rộng hay thu hẹp phạm vi điều chỉnh bằng PLHS đối với những hành vi nhất định đã thể hiện quan điểm chiến lược, định hướng của Đảng ta về tội phạm và hình phạt
Để tiến hành TPH, PTPH; HSH, PHSH có căn cứ và cơ sở khoa học nhằm xây dựng một chính sách toàn diện, đầy đủ và có hiệu quả cần tổ chức tốt công tác thống kê tội phạm, đánh giá tình hình tội phạm qua thực tiễn áp dụng PLHS Thực tiễn áp dụng PLHS là sự thể hiện chính sách hình sự trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Việc đưa các quy phạm PLHS vào đời sống xã hội được các cơ quan áp dụng pháp luật thực hiện thông qua khả năng vận dụng các quy phạm, khả năng đánh giá, áp dụng các quy phạm tuỳ nghi và khả năng giải thích pháp luật hình sự trong xử lý tội phạm cụ thể
Rõ ràng quá trình tác động của PLHS có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật khác Tình hình tội phạm trong xã hội ở một chừng mực nào đó là tấm gương phản ánh hiệu quả vận hành của cơ chế điều chỉnh bằng pháp luật hình sự Vì vậy nhận thức đúng quy luật vận động của tình hình tội phạm, sự thay đổi của tình hình tội phạm phụ thuộc vào các nhân
tố xã hội sẽ giúp cho công tác dự báo được tình hình tội phạm của một loại tội, nhóm tội trong tương lai theo xu hướng tăng hay giảm Lúc đó việc dự báo tình hình tội phạm có tác dụng ngược trở lại với hoạt động lập pháp hình
sự Quá trình hoàn thiện quy định của BLHS sẽ có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc nếu có sự hỗ trợ từ công tác dự báo tội phạm
Như vậy, một trong những hình thức thể hiện không thể thiếu của chính sách hình sự là hoạt động lập pháp hình sự Và nội dung của hoạt động này, đồng thời cũng là nội dung chủ yếu nhất của chính sách hình sự là vấn đề
Trang 31TPH, PTPH; HSH, PHSH Nói cách khác, TPH, PTPH; HSH, PHSH là hình thức thể hiện, là một trong những nội dung, biện pháp cơ bản của quá trình xây dựng, hoàn thiện PLHS nói riêng và chính sách hình sự nói chung
1.1.2 Lý luận về tội phạm hóa, phi tội phạm hóa; hình sự hóa, phi hình sự hóa
Khoa học pháp lý hình sự đã khẳng định TPH, PTPH cũng như HSH, PHSH là những vấn đề thuộc thẩm quyền của nhà lập pháp Bởi vì, việc đánh giá một hành vi nào đó là nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, đáng bị trừng phạt và cần được quy định trong BLHS, cũng như việc quyết định đưa ra khỏi các đạo luật hình sự hành vi nào đó từng được coi là tội phạm; quy định tăng nặng TNHS và hình phạt hoặc giảm nhẹ TNHS và hình phạt chỉ thuộc thẩm quyền của nhà lập pháp
LHS là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của nhà nước ta PLHS thực hiện nhiệm vụ của mình bằng cách quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội Như vậy, có thể thấy rằng tội phạm và hình phạt là hai vấn đề trọng tâm của LHS, của khoa học LHS Hoàn thiện BLHS cũng là việc hướng tới hoàn thiện những quy phạm PLHS thể hiện hai nội dung này Là một
bộ phận hợp thành của kiến trúc thượng tầng chính trị - pháp lý, pháp luật nói chung cũng như PLHS nói riêng luôn thay đổi bởi sự tác động của cơ sở hạ tầng Đường lối phát triển nền KTTT theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước mà Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo ngày càng có nhiều quan hệ xã hội mới nảy sinh Bên cạnh những quan hệ xã hội mới phát sinh đòi hỏi cần được bảo vệ bằng biện pháp hình sự thì có những quan hệ xã hội trước đây từng được bảo vệ bằng biện pháp hình sự nay không còn cần thiết được bảo vệ bằng biện pháp này nữa Có những hành vi vi phạm pháp luật trước đây bị coi là tội phạm
và được xử lý bằng biện pháp hình sự nhưng đến nay không còn tính chất và mức độ nguy hiểm đáng kể nữa cho nên không bị coi là tội phạm
Tuy nhiên, hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có việc đánh giá đúng đắn và chính xác, cụ thể những hành vi nguy hiểm cho xã hội Chính vì vậy cần phải phân hóa các loại hành vi trong các đạo luật, đồng thời phải thường xuyên theo dõi,
Trang 32bổ sung, sửa đổi kịp thời (trong những giới hạn cho phép của hoạt động lập pháp) những quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội Quá trình sửa đổi bổ sung đó thường được thực hiện theo hai xu hướng trái ngược nhau: một mặt, quy định bổ sung những hành vi mới được coi là tội phạm hoặc gia tăng mức
độ nghiêm khắc của hình phạt đối với một số loại hành vi nguy hiểm cho xã hội nào đó Ngược lại, trên một phương diện khác, loại bỏ khỏi BLHS những hành vi đã được coi là tội phạm hoặc giảm thiểu các biện pháp và mức độ nghiêm khắc của hình phạt đối với hành vi nào đó Hai xu hướng này thể hiện
sự thống nhất chặt chẽ, biện chứng trong một quá trình mà khoa học LHS gọi là: xu hướng TPH, HSH và xu hướng PTPH, PHSH Cả hai xu hướng này song song tồn tại và gắn liền không thể tách rời nhau trong quá trình hoàn thiện PLHS
1.1.2.1 Tội phạm hóa
Tội phạm hóa là việc thông qua một hình thức văn bản pháp lý hình sự, nhà làm luật qui định hành vi nào đó là tội phạm “Tội phạm hoá - là quá trình công nhận một hành vi là tội phạm và quy định các dấu hiệu của nó trong luật hình sự, xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi đó” [123, tr 161] Theo
Từ điển Luật học thì “TPH là xác định trong luật hành vi nhất định là tội phạm TPH là hoạt động thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp Cơ quan này có trách nhiệm xác định những hành vi bị coi là có tính nguy hiểm đáng
kể cho xã hội và quy định những hành vi đó trong LHS là tội phạm” [26, tr 789] Quy định tội có nghĩa là coi một loại hành vi này hay hành vi khác là tội phạm hay không phải là tội phạm, tức xác định sự cần thiết phải xử lý bằng các biện pháp hình sự
Như vậy, TPH khác với định tội danh, vì định tội danh là một trong những công việc của hoạt động áp dụng pháp luật do các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử tiến hành Các cơ quan này, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của một hành vi cụ thể mà xác định hành vi đó có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm (CTTP) hay không Còn TPH là việc quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm, xác định CTTP trong LHS -
Trang 33thể chế hóa đường lối, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước thành quy phạm PLHS
Nhà lập pháp tội phạm hoá qua việc quy định các tội phạm mới [94] hoặc bổ sung hành vi phạm tội Quá trình TPH có tính bổ sung có thể là:
- Xác định và quy định tiếp trong luật loại hành vi cụ thể là tội phạm do loại hành vi này mới phát sinh hoặc do thực tiễn đòi hỏi cần phải xử lý bằng biện pháp TNHS;
- Mở rộng phạm vi xử lý bằng biện pháp TNHS của một loại hành vi hoặc một nhóm hành vi đã được quy định là tội phạm qua việc giảm bớt dấu hiệu hoặc hạ thấp yêu cầu của dấu hiệu CTTP, hoặc mở rộng phạm vi chủ thể của tội phạm…
Nội dung của quá trình TPH thể hiện trước hết qua việc nhà làm luật ghi nhận trong PLHS một hành vi là tội phạm và quy định TNHS đối với người thực hiện nó Khi nhà làm luật quy định hành vi nào đó trong BLHS là tội phạm đã chứng tỏ trong giai đoạn phát triển tương ứng của xã hội nếu không quy định TNHS đối với hành vi vi phạm ấy thì pháp luật không đủ sức ngăn chặn, không bảo vệ được quan hệ xã hội nhất định Mặt khác, cũng thông qua việc TPH nhà làm luật cho chúng ta thấy, có những hành vi mới xuất hiện nhưng do tính nguy hiểm cao cho xã hội, xảy ra tương đối phổ biến trong đời sống, bị xã hội lên án, phản ứng nên cần được quy định là tội phạm
Tội phạm hóa được thực hiện ở các mức độ khác nhau Đó có thể là việc nhà làm luật quy định một tội phạm mới hoàn toàn trong BLHS hoặc chỉ
bổ sung một hành vi, một số hành vi trong tội danh đã được quy định từ trước Chẳng hạn, trong BLHS Việt Nam năm 1999, nhà làm luật đã bổ sung thêm nhiều CTTP mới mà trong BLHS năm 1985 trước đây chưa quy định như: các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin (các Điều 224, 225, 226); Tội vi phạm quy định sử dụng lao động trẻ em (Điều 228); Tội vi phạm các quy định
về an toàn vận hành công trình điện (Điều 241); Tội phá thai trái phép (Điều 243); Tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có (Điều 251); các tội phạm về môi trường v.v Hoặc trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009, nhà làm luật đã bổ sung một số tội phạm mới như: Tội vi
Trang 34phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 182a), Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 182b), Tội khủng bố (Điều 230a), Tội tài trợ cho khủng bố (Điều 230b) …vv
Bên cạnh đó, quá trình TPH còn thể hiện qua việc nhà làm luật quy định theo hướng mở rộng khả năng có thể xử lý bằng biện pháp PLHS bằng cách sửa đổi các yếu tố CTTP, mở rộng diện chủ thể có khả năng phải chịu TNHS, giảm bớt dấu hiệu hoặc hạ thấp yêu cầu của dấu hiệu CTTP Chẳng hạn, trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 đã sửa đổi,
bổ sung Điều 119 Tội mua bán phụ nữ thành Tội mua bán người để có cơ sở trừng trị những hành vi buôn bán người diễn ra ngày càng phổ biến ở nước ta những năm gần đây và tạo thuận lợi cho quá trình hợp tác quốc tế; hoặc sửa đổi Điều 185 Tội nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất không đảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường thành Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam với nội dung xử lý về hình sự đối với cả những người lợi dụng việc nhập khẩu công nghệ máy móc, thiết bị, phế liệu hoặc hóa chất, chế phẩm sinh học hoặc bằng thủ đoạn khác đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam…
Như vậy, thông qua quá trình TPH có thể thấy được quan điểm của Nhà nước trong việc bảo vệ những quan hệ xã hội cần thiết bằng PLHS Trong quá trình lập pháp hình sự, TPH có vai trò khẳng định ý nghĩa, giá trị xã hội của pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
1.1.2.2 Phi tội phạm hóa
Phi tội phạm hóa là quá trình ngược lại của quá trình TPH Phi tội phạm hoá là quá trình “xác định một hành vi không phải là tội phạm và loại trừ các dấu hiệu của tội phạm ra khỏi pháp luật hình sự, bãi bỏ trách nhiệm hình sự đối với việc thực hiện hành vi đó (có thể đi kèm với việc xác định các loại trách nhiệm pháp lí khác như trách nhiệm hành chính)” [123, tr 161] Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì “PTPH là việc bãi bỏ TNHS đối với những hành vi này hay hành vi khác nguy hiểm cho xã hội trước đây
bị coi là tội phạm” [52]; Từ điển Luật học cũng có cách giải thích tương tự, theo đó: “PTPH là việc xóa bỏ tội phạm nhất định đã được quy định trong luật PTPH thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp, quá trình này bao gồm: 1
Trang 35Xóa bỏ loại hành vi cụ thể đã được quy định là tội phạm do không còn xảy ra hoặc do thực tiễn không còn đòi hỏi cần phải xử lý hành vi này bằng biện pháp TNHS; 2 Thu hẹp phạm vi xử lý bằng biện pháp TNHS của một loại hành vi hoặc nhóm hành vi qua việc thêm dấu hiệu hoặc nâng cao yêu cầu dấu hiệu của CTTP hoặc thu hẹp phạm vi chủ thể của tội phạm” [26, tr 789]
Bản chất của quá trình PTPH là việc nhà lập pháp xác định một hành
vi vi phạm không còn mức nguy hiểm cho xã hội cần thiết phải sử dụng biện pháp hình sự, tức là hành vi đó xâm phạm đến những quan hệ xã hội mà chỉ cần điều chỉnh bằng qui phạm của các ngành luật khác hay bằng các biện pháp giáo dục Nói cách khác, PTPH là loại trừ khỏi PLHS hiện hành một hành vi nào đó (mà trước đây đã bị coi là tội phạm) và hủy bỏ TNHS đối với người thực hiện nó; hoặc thu hẹp phạm vi xử lý bằng biện pháp TNHS của một loại hành vi hay nhóm hành vi Theo quan điểm của tác giả Nhe-đốt-kô IU.V thì: “Phi tội phạm hoá được tiến hành với điều kiện giảm đáng kể mức
độ nguy hiểm của hành vi trước đây bị coi là tội phạm, cũng như đi kèm với khả năng đấu tranh có hiệu quả với những hành vi đã bị phi tội phạm hoá thông qua các biện pháp khác nhẹ hơn các biện pháp mang tính chất hình sự” [124, tr 9]
Như vậy, bằng việc PTPH chứng tỏ trong giai đoạn phát triển tương ứng của xã hội có những hành vi mặc dù trước đây đã bị coi là tội phạm nhưng nay do sự thay đổi của các yếu tố khách quan (như các điều kiện cụ thể của đất nước về kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa, hoặc pháp luật v.v…), hành vi đó tuy vẫn còn nguy hiểm, nhưng tính nguy hiểm không đáng kể nên chỉ cần áp dụng chế tài pháp lý của ngành luật tương ứng khác ít nghiêm khắc hơn LHS là đủ sức ngăn chặn Cũng có những hành vi mặc dù trước đây bị coi là tội phạm nhưng nay đã hoàn toàn mất đi tính nguy hiểm cho xã hội nên cần được loại ra khỏi lĩnh vực điều chỉnh của PLHS Chẳng hạn, trong quá trình pháp điển hóa lần thứ hai BLHS Việt Nam năm 1999, do sự thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội, nhà làm luật đã PTPH đối với một số hành vi mà trước đây BLHS năm 1985 quy định là tội phạm như: Tội chống nhà nước XHCN anh em (Điều 86); Tội phá hủy tiền tệ (Điều 98); Tội lạm sát gia súc
Trang 36(Điều 184); Tội sản xuất hoặc tội buôn bán rượu, thuốc lá trái phép (Điều 183); v.v Hoặc trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm
2009 Nhà nước ta đã PTPH đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 199) xuất phát từ việc coi người nghiện ma túy không chỉ là người vi phạm pháp luật mà còn là người bệnh, là nạn nhân của tệ nạn ma túy…vv
Phi tội phạm hóa không chỉ được thực hiện bằng việc loại bỏ tội phạm
ra khỏi BLHS mà trong những trường hợp nhất định, nhà làm luật có thể tiến hành PTPH từng phần Chẳng hạn, trong lịch sử lập pháp hình sự trước đây
có thời kỳ Nhà nước ta cho phép chuyển những “tội hình sự nhỏ” sang phạm trù các vi phạm hành chính1 Hoặc trong BLHS 1999 nhà làm luật đã PTPH một số hành vi bằng cách nâng cao yêu cầu của CTTP như: hành vi trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 500.000 đồng không coi là tội phạm theo quy định tại Điều 138, 139 BLHS năm 1999 Cũng bằng cách đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 đã tiếp tục PTPH những hành vi này qua việc nâng mức định lượng tối thiểu để truy cứu TNHS là từ 2 triệu đồng trở lên mới CTTP; PTPH đối với hành vi ở lại nước ngoài trái phép được quy định tại Điều 274 BLHS năm 1999…
Phi tội phạm hóa từng phần còn được thể hiện quy định những điều kiện bổ sung để coi một hành vi nào đó là tội phạm Chẳng hạn, đối với những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực an toàn lao động và sử dụng các phương tiện kỹ thuật, thông thường chỉ những hành vi đã gây ra hậu quả
nghiêm trọng như làm chết người, hư hại nhiều về tài sản v.v mới bị coi là
1 Trước đây, theo Sắc lệnh số 51 ngày 17-4-1946 ấn định thẩm quyền của các Tòa án và Pháp lệnh ngày
23-3-1961 quy định cụ thể về tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao và các tòa án nhân dân địa phương thì trong luật hình sự có khái niệm “tội hình sự nhỏ” tức là tội phạm hình sự ở mức ít nguy hiểm nhất Nghị định số 32
của Bộ Tư pháp ngày 6-4-1952 và Thông tư số 1071-TC ngày 7-9-1965 của Tòa án nhân dân tối cao đã quy định phân xử những việc hình sự nhỏ không phải mở phiên tòa Điều lệ phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định số 143-CP ngày 27-5-1977 của Hội đồng Chính phủ ban hành, đã quy định cụ thể những việc xử phạt về
vi cảnh và giao cho những cán bộ, chiến sĩ công an đang làm nhiệm vụ quản lý trật tự, an toàn xã hội, các trưởng, phó công an xã, các cán bộ công an từ cấp trưởng, phó công an huyện, quận trở lên, các cán bộ có
thẩm quyền phạt hành chính của các ngành kiểm lâm, thủy sản, thương nghiệp, y tế, giao thông vận tải, trong
khi thừa hành công vụ có quyền phạt vi cảnh đối với những việc phạm pháp trực tiếp liên quan đến những ngành đó Như vậy, trong pháp luật hình sự của ta không còn khái niệm “tội hình sự nhỏ”, những hành vi đó không còn là tội phạm mà là những vi phạm hành chính BLHS Việt Nam hiện hành thể hiện tinh thần này tại Điều 8 Khoản 4
Trang 37tội phạm Ở một số CTTP nhà làm luật quy định những điều kiện bắt buộc như tái phạm, đã bị phạt hành chính, đã được giáo dục v.v mà còn vi phạm
là căn cứ định tội danh
Việc PTPH còn được thể hiện ở một số chế định của Phần chung BLHS nếu có nội dung quy định theo hướng thu hẹp phạm vi xác định TNHS Chẳng hạn, BLHS 1999 quy định chỉ áp dụng TNHS đối với trường hợp chuẩn bị phạm một tội nghiêm trọng (khác với trước đây, TNHS được
áp dụng đối với mọi trường hợp chuẩn bị phạm tội); bổ sung Khoản 2 Điều
22 loại trừ TNHS đối với hành vi không tố giác tội phạm của một số người trong gia đình (quy định này không áp dụng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc một số tội đặc biệt nghiêm trọng khác do luật định) mà trước đây họ bị truy cứu TNHS theo quy định tại Điều 19 BLHS năm 1985 v.v…
vệ của xã hội đối với những hành vi xâm phạm điều kiện tồn tại của nó, không kể đó là những điều kiện như thế nào” [ 56, tr 531].Trong thực tế, chỉ TPH hành vi vi phạm pháp luật này hay hành vi vi phạm pháp luật khác thì chưa hoàn toàn tạo được một cơ chế để xử lý tội phạm khác với cơ chế xử lý các vi phạm pháp luật nếu không có việc qui định hình phạt tương ứng đối với mỗi tội phạm và kèm theo là các thủ tục tố tụng cần thiết Vì vậy, đây là những quá trình đối lập nhưng có mối liên hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau
Hình sự hóa là việc nhà lập pháp qui định hình phạt hay xác định loại hình phạt, khung hình phạt, điều kiện quyết định hình phạt đối với tội phạm này hay tội phạm khác Trong Từ điển luật học có nêu: “HSH là việc biến một hành vi vốn không bị pháp luật xử lý hoặc chỉ bị xử lý bằng một chế tài khác
và nhẹ thành một hành vi có tính tội phạm và bị pháp luật xử lý bằng chế tài
Trang 38hình sự - loại chế tài nặng nhất” [26, tr 631] và “cơ sở của hình sự hoá là việc đánh giá lại tính chất nguy hiểm của hành vi nào đó” [123, tr 162] Như vậy, khi đề cập đến HSH một loại hành vi được hiểu là trước đây hành vi đó không
bị PLHS cấm, hoặc dù bị PLHS cấm nhưng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi chưa đến mức phải áp dụng loại chế tài nặng hơn, thì trong hoàn cảnh mới, khi tình hình kinh tế - xã hội thay đổi, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi tăng lên Vì vậy chính sách của Nhà nước cần phải điều chỉnh, chế tài áp dụng phải được nghiêm khắc hơn Đó là lúc mà việc HSH được đặt ra, tiến hành Rõ ràng, TPH và HSH là hai quá trình gắn chặt với nhau trong khi xây dựng, hoàn thiện LHS Sẽ là vô nghĩa nếu trong hoạt động lập pháp hình sự chỉ diễn ra quá trình TPH mà không có quá trình HSH Đồng thời quá trình HSH cũng không thể diễn ra nếu không có những căn cứ quan trọng để xác định các tội phạm - là kết quả của quá trình TPH
Từ cách nhận thức như trên có thể rút ra nội dung chủ yếu của quá trình HSH thể hiện:
Một là, nhà làm luật quy định trong Phần các tội phạm BLHS chế tài hình sự (hình phạt) đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội nào đó mà nay mới
bị coi là tội phạm
Hai là, nhà làm luật quy định mở rộng phạm vi trấn áp về hình sự theo hướng tăng nặng hơn loại hoặc mức hình phạt đối với một số tội phạm mà trước đây đối với những tội phạm đó nhà làm luật đã quy định loại hoặc mức hình phạt nhẹ hơn Chẳng hạn, trong lần pháp điển hóa thứ hai - BLHS năm
1999, nhà làm luật nước ta quy định tăng nặng hơn mức tối thiểu hoặc tối đa của hình phạt trong một loạt chế tài đối với những tội phạm được ghi nhận tại các điều 93, 97, 100, 120, 135 - 137, 141, 147, 159, 163, 171, 195 - 196, 198,
204 - 205, 208, 211, 214 - 215, 218 - 219, 236, 239, 245, 248 - 249, 265, 269,
274, 283, 289 - 290, 293 - 303, 310, 314, 335 - 337
Ba là, nhà làm luật quy định theo hướng mở rộng trong Phần chung BLHS phạm vi của sự trấn áp về hình sự ở một số chế định nào đó Chẳng hạn BLHS năm 1999 đã bổ sung thêm quy định về việc không được coi là tình tiết giảm nhẹ lần thứ hai đối với tình tiết giảm nhẹ đã được quy định là
Trang 39dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt (Khoản 3 Điều 46); Bổ sung quy định về việc không được áp dụng chế định thời hiệu truy cứu TNHS (Điều 24) và thi hành bản án hình sự (Điều 56) đối với các tội xâm phạm
an ninh quốc gia; Sửa đổi quy định về việc không cho phép coi là đương nhiên xóa án tích đối với người được hưởng án treo mà không phạm tội mới trong thời gian 3 năm kể từ ngày hết thời gian thử thách (Điều 64) …
Như vậy, HSH với tư cách là một quá trình của hoạt động xây dựng PLHS cho thấy trong giai đoạn phát triển tương ứng của xã hội nếu Nhà nước tiếp tục áp dụng chế tài pháp lý của các ngành luật khác ít nghiêm khắc hơn LHS, thì không còn đủ sức ngăn chặn đối với hành vi tiêu cực nào đó Hoặc là, có hành vi tuy mới xuất hiện, nhưng do tính nguy hiểm cao cho xã hội, xảy ra tương đối phổ biến trong đời sống, bị
dư luận xã hội phản ứng mạnh mẽ nên cần phải quy định các biện pháp cưỡng chế về hình sự tương ứng
Những nội dung của quá trình HSH trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự đã thể hiện rõ ràng quan điểm của Nhà nước
ta cần răn đe và trừng trị nghiêm khắc đối với một số hành vi phạm tội ở thời điểm nhất định Tuy nhiên, thực tiễn xã hội - lịch sử trong đấu tranh phòng và chống tội phạm lại khẳng định rằng hiệu quả của các quy phạm PLHS đạt được không hoàn toàn bằng sự mở rộng phạm vi áp dụng hoặc tăng nặng hình phạt, mà phải bằng việc phân hóa tối đa TNHS để đảm bảo nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng trong LHS và đảm bảo nguyên tắc quan trọng trong tố tụng hình
sự là mọi hành vi phạm tội đều bị trừng trị Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cho những nhà lập pháp khi cân nhắc có HSH một hành vi nào đó hay không, đồng thời cũng hoàn toàn phù hợp với quan điểm của C Mác khi chứng minh sự cần thiết của việc phải giảm nhẹ sự trấn áp
về hình sự đối với những người phạm tội, ông cho rằng: “nhà làm luật thông minh là phải ngăn ngừa tội phạm để khỏi phải trừng phạt
vì nó và đừng biến thành tội phạm hành vi nào chỉ mang tính vi cảnh.” [57, tr 125]
Trang 401.1.2.4 Phi hình sự hóa
Phi hình sự hóa là quá trình ngược lại của HSH Quá trình này cũng diễn ra tương ứng với quá trình PTPH PHSH là quá trình thu hẹp phạm vi tác động của LHS hoặc làm nhẹ hơn TNHS Thể hiện qua việc nhà làm luật loại
bỏ hình phạt mà trước đó đã áp dụng đối với một hành vi tội phạm, nay hành
vi đó được xác định không còn tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội nữa và không được coi là tội phạm; hoặc thay thế một hình phạt nặng bằng hình phạt nhẹ hơn, hoặc giảm mức tối đa của hình phạt Phi hình sự hóa thể hiện một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, nhà làm luật thu hẹp trong Phần chung BLHS phạm vi (giới hạn) của sự trấn áp về hình sự đối với một hoặc một số tội phạm Chẳng hạn, BLHS năm 1999 đã quy định bổ sung một trường hợp miễn TNHS mới, đó là miễn TNHS khi có văn bản đại xá (Khoản 3, Điều 25); Bổ sung vào chế định miễn chấp hành hình phạt hai trường hợp mới, đó là miễn chấp hành hình phạt khi có văn bản đặc xá hoặc văn bản đại xá (Khoản 2 Điều 57); Loại trừ hình phạt tước quyền đảm nhiệm cương vị phụ trách trong các tổ chức xã hội (Điều 39) mà trước đây được quy định tại Khoản 1 Điều 31 BLHS năm 1985; v.v
Thứ hai, nhà làm luật loại trừ khỏi Phần các tội phạm BLHS chế tài hình sự (hình phạt) đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà trước đây bị coi là tội phạm, nhưng nay không bị coi là tội phạm nữa Những hành vi này chỉ bị coi là hành vi trái đạo đức, hoặc là vi phạm pháp luật khác nên đối với người thực hiện hành vi ấy không cần áp dụng bất kỳ chế tài pháp lý nào, hoặc chỉ cần áp dụng chế tài trong các ngành luật phi hình sự ít nghiêm khắc hơn là đã đủ sức ngăn chặn
Thứ ba, nhà làm luật quy định theo hướng giảm nhẹ hơn loại hoặc mức hình phạt đối với một số tội phạm Chẳng hạn, trong BLHS năm 1999 nhà làm luật quy định giảm nhẹ hơn mức tối thiểu hoặc tối đa của hình phạt trong một loạt chế tài đối với những tội phạm được ghi nhận tại các điều 114, 139,
142, 144, 153, 158, 160, 162, 164, 166, 169, 173, 177, 181, 188, 190, 193,
202, 203, 208, 209, 212, 213, 216, 217, 229, 247, 250, 253, 255, 259, 262,