Hay nói một cách khác, nghiên cứu ngữ nghĩa biểu hiện của các phát ngôn trong ngôn cảnh, là một xu hướng nghiên cứu phổ biến, được đặc biệt chú ý trong ngôn ngữ học hiện đại.. Trên cứ li
Trang 1BÙI VĂN NĂM
SO SÁNH PHƯƠNG THỨC NỐI
TRONG VĂN BẢN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 62.22.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2 10
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
l ệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong một công trình nào khác.
Tác giả luận án
Bùi Văn Năm
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2010
Trang 33 Phạm vi nghiên cứu 10
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài 11
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 18
5.1 Phương pháp nghiên cứu 18
5.2 Nguồn ngữ liệu 19
6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 19
7 Cấu trúc luận án 21
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 23
1.1 Câu, phát ngôn, đơn vị nối liên kết 23
1.2 Văn bản, diễn ngôn 26
1.2.1.Văn bản 26
1.2.2 Diễn ngôn 29
1.3 Liên kết, mạch lạc, phép nối 30
1.3.1 Liên kết 32
1.3.2 Mạch lạc 34
1.3.3 Phép nối 39
1.4 Phương thức liên kết 45
1.5 Tiểu kết 49
Chương 2 QUAN HỆ GIỮA PHÉP NỐI, MẠCH LẠC VÀ VĂN BẢN 51
2.1 Phép nối và thể loại văn bản 51
2.2 Cấp độ nối liên kết và mạch lạc 60
2.2.1 Nối trong phát ngôn 61
2.2.2 Nối ngoài phát ngôn 68
2.3 Quan hệ giữa liên kết và mạch lạc 72
2.4 Quan hệ giữa phép nối và mạch lạc 76
2.5 Quan hệ giữa mạch lạc và văn bản 82
2.6 Tiểu kết 84
Chương 3 CẤU TẠO TỪ NGỮ NỐI VÀ QUAN HỆ NGỮ NGHĨA, NGỮ PHÁP CỦA PHÉP NỐI 85
3.1 Cấu tạo và nghĩa ngữ pháp của các từ ngữ nối 85
3.1.1 Phép nối sử dụng các từ ngữ nối có một tiếng 100
3.1.2 Phép nối sử dụng các từ ngữ nối có hai tiếng 101
3.1.3 Phép nối sử dụng các từ ngữ nối từ ba tiếng trở lên 102
3.2 Quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn trong phép nối tiếng Việt 104
3.2.1 Nhận diện 104
Trang 43.2.2 Phân loại các kiểu quan hệ nghĩa phổ biến trong phép nối tiếng Việt 113
3.3 Các kiểu quan hệ ngữ pháp qua phép nối 139
3.3.1 Quan hệ liên hợp 143
3.3.2 Quan hệ chính phụ 146
3.4 Phép nối với vấn đề liên kết nội dung 149
3.4.1 Phép nối với liên kết chủ đề 150
3.4.2 Phép nối với liên kết logic 152
3.5 Tiểu kết 154
Chương 4 MỘT SỐ ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT CỦA PHÉP NỐI TRONG VĂN BẢN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 156
4.1 Về sự tương đồng 157
4.1.1.Tương đồng về việc thể hiện trình tự diễn đạt 157
4.1.2 Tương đồng về mặt tổ chức văn bản 159
4.1.3 Tương đồng về đặc điểm quan hệ 161
4.2 Về sự khác biệt 172
4.2.1 Hình thức cấu tạo 172
4.2.2 Phương diện ngữ dụng 173
4.2.3 Quan hệ nghĩa 176
4.3 Phép nối và việc đối dịch Anh – Việt, Việt – Anh 181
4.3.1 Phép nối với đối dịch 181
4.3.2 Một số nguyên tắc đối dịch 182
4.3.3 Chức năng và quan hệ của từ ngữ nối trong đối dịch 183
4.4 Tiểu kết 191
KẾT LUẬN 193
-TÀI LIỆU THAM KHẢO 198
-DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐƯỢC CÔNG BỐ 209 -PHẦN NGỮ LIỆU VÀ CỨ LIỆU I -PHẦN PHỤ LỤC XXIII
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU BẢNG
Mở đầu
Bảng 1.: Hệ thống các phương thức liên kết văn bản tiếng Việt …… 16
Chương 1 Một số vấn đề chung Bảng 1.2.: Tóm tắt đặc trưng của văn bản theo Diệp Quang Ban…… .……… 28
Sơ đồ 1.4.a: Phân loại phương thức liên kết theo Trần Ngọc Thêm………… … ….47
Sơ đồ 1.4.b: Phân loại phương thức liên kết theo M.A.K Halliday ……… …… …….48
Chương 2 Quan hệ giữa phép nối, mạch lạc và văn bản Bảng 2.1.a: Thống kê số liệu từ ngữ nối trong ba thể loại văn bản 52
Biểu đồ 2.1.b: Tỉ lệ về tần suất từ ngữ nối giữa ba thể loại văn bản …….… … 53
Bảng 2.2.a : Phân loại câu ghép có quan hệ từ và không có quan hệ từ……… … 63
Bảng 2.2.b :Ý nghĩa của những cặp kết từ hô ứng gián cách trong câu ghép.… ….66
Sơ đồ 2.2.c : Sơ đồ các mặt liên kết phát ngôn trong văn bản … …… … … 69
Sơ đồ 2.2.d : Sơ đồ liên kết phát ngôn và liên kết đơn vị lớn hơn phát ngôn 70
Sơ đồ 2.2.e : Sơ đồ quan hệ ngữ nghĩa và quan hệ ngữ pháp giữa các câu… … … 71
Bảng 2.4 : Tính mạch lạc thể hiện qua bảng phân lập hành động ngôn ngữ… … 80
Chương 3 Cấu tạo từ ngữ nối và quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp của phép nối Bảng 3.1.a: Liệt kê một số từ ngữ nối trong văn bản tiếng Việt … 90
Bảng 3.1.b: Cấu tạo một số từ ngữ nối có ba tiếng trở lên 93
Bảng 3.1.c: Tổng hợp về cấu tạo và định danh ngữ pháp của các từ ngữ nối …… 94
Bảng 3.1.d: Tóm tắt một số điểm khác biệt giữa liên từ và kết tố trong tiếng Anh… 95
Bảng 3.1.e: Liệt kê một số từ ngữ nối trong văn bản tiếng Anh…… …… … 96
Bảng 3.2.a: Phân loại quan hệ ngữ nghĩa-logic qua phép nối…… … 107
Sơ đồ 3.2.b: Sơ đồ quan hệ nghĩa trong phép nối theo M.A.K Halliday…… … … 109
Sơ đồ 3.2.c: Sơ đồ quan hệ nghĩa trong phép nối theo Trần Ngọc Thêm…… … 111
Bảng 3.2.d: Tổng hợp các quan hệ nghĩa qua phép nối tiếng Việt 139
Sơ đồ 3.3.a: Sơ đồ phép nối trong văn bản có hai đoạn văn …… … ….….141
Bảng 3.3.b: Các kiểu quan hệ ngữ pháp qua phép nối .………… ………….… …149
Chương 4 Một số điểm tương đồng và khác biệt qua phép nối Bảng 4.1.a: So sánh sự tương đồng về quan hệ trình tự diễn đạt 158
Bảng 4.1.b: So sánh sự tương đồng về quan hệ trình tự diễn đạt 159
Bảng 4.1.c.: So sánh kiểu quan hệ nghĩa và từ ngữ nối 164
Bảng 4.1.d: So sánh một số từ ngữ nối trong văn bản tiếng Việt và tiếng Anh … 170
Bảng 4.3.a: Bảng minh họa nghĩa ngữ cảnh của từ ngữ nối 185
Bảng 4.3.b: Bảng minh họa sự tương đương về nghĩa của từ ngữ nối … 188
Bảng 4.3.c: Bảng minh họa sự không tương đương về nghĩa của từ ngữ nối … 190
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngữ pháp truyền thống xem câu là đơn vị lớn nhất, trên câu không có một đơn
vị nào khác, do vậy, trước những hiện tượng tuy bị khuôn định trong phạm vi câu như
các từ ngữ nối (TNN): nói tóm lại, trước hết, kế đến hoặc các đơn vị qui mô lớn hơn
câu như chỉnh thể trên câu, đoạn văn, chương, phần… thì chưa được chú ý đến Vì vậy, ngữ pháp văn bản (NPVB) và phân tích diễn ngôn (PTDN) ra đời như một tất yếu của quá trình nghiên cứu ngôn ngữ học (NNH), để giải quyết những vấn đề ngôn ngữ trong hành chức mà do nhiều lý do ngữ pháp câu chưa vươn tới
Những công trình đặt nền móng cho NNH văn bản đ xuất hiện vào những năm
501 của thế k Nhưng lúc bấy giờ có ít người quan tâm đến sự tồn tại của ngành học này Bước sang những năm 70 của thế k , NNH văn bản đ nhanh chóng đạt tới thời k phát triển nở rộ Việt Nam, sau đó, từ những năm 80 của thế k , các thành tựu nghiên cứu ngành học này, bước đầu, được đưa ra giảng dạy ở trường phổ thông và đ thu được những kết quả nhất định
Các nhà NNH hiện đại như J L Austin(1962)2, quan niệm rằng, giao tiếp bằng ngôn ngữ, thực chất là một hành động tương tác giữa con người với nhau Đó là một phát hiện độc đáo về chức năng của ngôn ngữ, giúp các nhà ngữ học đánh giá đúng bản chất mọi mặt biểu hiện của giao tiếp lời nói Khi bàn đến giao tiếp lời nói thì phải nói tới phát ngôn3 (câu) và diễn ngôn (văn bản) Và do đó mà E Benveniste đ có nhận định rằng “câu là sự sáng tạo không cùng, sự đa dạng không có giới hạn, chính là đời sống của ngôn ngữ đang hành chức” Càng ngày các nhà NNH càng nhận thấy rằng nghiên cứu VB và diễn ngôn thì không thể tách rời các phát ngôn một cách đơn lẻ Và, như vậy thì chưa giải quyết triệt để được vấn đề phân tích mọi khía cạnh ngữ nghĩa của
Trang 8lời nói, của phát ngôn “Nếu xem xét bản thân m i phát ngôn riêng lẻ sẽ không thể giải thích nhiều hiện tượng biểu hiện trong phạm vi phát ngôn, nhưng lại liên quan tới nhiều khía cạnh ngoài phát ngôn, ngoài câu” [108, tr 13] Những nhà NNH VB như P Hartmann (1968) và W.Dressler (1970) đ thừa nhận VB là đơn vị lớn nhất có chức năng giao tiếp Nó đ thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành học khác nữa, trong đó có NNH
Những năm 70 của thế k , nhiều công trình lý luận về NPVB đ đến với
các nhà Việt ngữ học Nhiều thành tựu NPVB đ được ứng dụng vào việc nghiên cứu tiếng Việt Nhờ đó, nhiều cuốn sách, bài viết nghiên cứu về NPVB tiếng Việt, đ được xuất bản hoặc được giới thiệu khá phong phú trên tạp chí chuyên ngành Và cũng từ
đó, việc nghiên cứu tiếng Việt có thêm những khám phá mới, nhất là khi có vận dụng những thành tựu của NPVB và PTDN vào để miêu tả tiếng Việt
Ngày nay, việc khảo sát lời nói đặt trong chu i phát ngôn, đặt trong VB là một vấn đề có tính nguyên tắc, khi phân tích ngữ nghĩa của phát ngôn, trong các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Hay nói một cách khác, nghiên cứu ngữ nghĩa biểu hiện của các phát ngôn trong ngôn cảnh, là một xu hướng nghiên cứu phổ biến, được đặc biệt chú ý trong ngôn ngữ học hiện đại Và trong thực tế, NNH hiện đại – với những thành tựu xuất sắc của ngữ dụng học - đ đem lại ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn lao về lĩnh vực này NPVB trở thành một chuyên ngành NNH, theo chúng tôi, vẫn còn đặt ra nhiều đề tài hấp dẫn cho những ai quan tâm đến nó
Liên kết (LK; tiếng Anh: cohesion) trong VB là một hiện tượng luôn được đề cập và khảo sát trước tiên trong NPVB Vấn đề này đ được nhiều nhà NNH xem xét với những phạm vi và mức độ khác nhau Bởi vì, nếu quan sát các phát ngôn trong giao tiếp, ta sẽ thấy bên cạnh những phát ngôn có ý nghĩa hiển ngôn, còn có những phát ngôn mà nếu chúng ta tách riêng ra để tìm hiểu thì nhiều khi chúng ta thấy nó trở nên
Trang 9mơ hồ, có khi tối nghĩa Trong một ngữ đoạn, có thể có phát ngôn chỉ là một từ, một ngữ, thậm chí một từ tình thái
H y quan sát các ví dụ sau:
(1) Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng tự
nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!” Không ai lên tiếng cả Tức thật! Ồ, thế này thì tức
thật! Tức chết đi được mất!
[26, NC, CP]
(2) Có một người đi chơi xa, dặn con là có ai hỏi thì nói là bố đi vắng Cẩn thận hơn, ông liền viết vào giấy để nếu con có quên thì đưa tờ giấy để khách biết Cậu con cầm tờ giấy bỏ vào túi áo Tối đến, sẵn có ngọn đèn, nó tò mò mở giấy ra xem, chẳng may vô ý để giấy cháy mất
Hôm sau, có người đến chơi hỏi:
- Thầy cháu có nhà không?
Nó ngẩn người Sực nhớ ra, nó sờ vào túi và hốt hoảng:
Nếu chúng ta tách riêng các phát ngôn được in nghiêng trên đây để khảo sát về
ngữ pháp – ngữ nghĩa: trước hết, chúng là những phát ngôn chưa có đủ các thành phần 'nòng cốt' (chủ ngữ - vị ngữ), là những phát ngôn 'đặc biệt' và biểu thị ý nghĩa không trọn vẹn, không rõ ràng Nhưng trong hoạt động giao tiếp, có rất nhiều phát ngôn mà không thể quy về các mô hình câu hay quy về hình thức của mô hình cấu trúc cú pháp nào Ngữ pháp truyền thống (ngữ pháp câu) coi đó là những hiện tượng không chuẩn mực, không điển hình Nhưng trong giao tiếp, đó chính là những biểu hiện phong phú
về biểu đạt Đó là nét đẹp, sự linh hoạt, sự đa dạng trong cách diễn đạt của các nhà văn,
là sự uyển chuyển trong hoạt động ngôn ngữ của con người Đây chính là thực tiễn giao tiếp sinh động, là cái hay và đồng thời cũng là cái phức tạp dưới góc độ phân tích
Trang 10ngữ pháp - ngữ nghĩa, PTDN, dưới ánh sáng của NNH hiện đại N D Arutjunova đ viết: “Ra khỏi phạm vi của những câu kinh điển, người nghiên cứu rơi vào một đại dương rộng mở và không bờ bến của những câu … rất ít được quy phạm hóa về mặt hình thức” [108, tr 14]
Thực tiễn giao tiếp cho thấy rõ ràng, phát ngôn chỉ là một yếu tố trong tổng thể diễn ngôn Nó không phải tồn tại một cách cô lập mà giữa chúng có một chu i quan hệ
về nghĩa, về chức năng Nói khác đi, chúng hình thành nên một hệ thống LK Những thành tựu nghiên cứu về phương thức LK văn bản, đ gợi mở và thúc đẩy chúng tôi tiếp tục khảo sát, nghiên cứu theo hướng đi sâu vào một phương thức LK cụ thể trong
hệ thống LK VB tiếng Việt
Qua thực tế giảng dạy ngữ văn ở trường trung học phổ thông, nhất là giảng dạy môn tiếng Việt và môn tập làm văn, chúng tôi nhận thấy còn nhiều giáo viên lúng túng khi gặp phải những vấn đề mà nếu chỉ dựa vào ngữ pháp truyền thống thì không thể nào lý giải một cách thuyết phục Còn học sinh thường không nắm vững lý thuyết về nối LK4, thường mắc l i về hành văn, l i lập luận, l i mạch lạc trong bài làm, nhất là trong tập làm văn Nếu học sinh hiểu một cách đầy đủ hơn về các phép LK câu, LK đoạn văn thì chắc chắn sẽ có thể tạo ra những câu văn sáng sủa, những đoạn văn, bài văn mạch lạc, khúc chiết hơn nhiều (xem phụ lục số 1 và phụ lục số 2)
Nghiên cứu ngôn ngữ gắn liền với hoàn cảnh sử dụng, gắn với con người sử dụng chính là khuynh hướng chủ yếu của các nhà ngôn ngữ học hiện đại Có thể kể như NNH tri nhận (cognitive linguistics), NNH chức năng (functional linguistics), NNH tâm lý (psychological linguistics)… Riêng NNH văn bản, như ta đ biết là một
ngành khoa học lúc đầu gồm có ba bộ phận: i thuyết n b n đại cư ng ii hong
cách h c n b n iii g pháp n b n Trong đó vấn đề 'liên kết' thuộc bộ phận
NPVB, là hiện tượng được các nhà ngữ pháp học chú ý nghiên cứu đầu tiên và nhiều
Trang 11nhất Vì người ta đ khẳng định rằng, “văn bản không phải là một phép cộng đơn thuần giữa các câu mà giữa chúng có những sợi dây liên hệ chặt chẽ, trong đó m i câu riêng biệt gắn bó chặt chẽ với những câu còn lại” 98 M.A.K Halliday và R Hassan (1976) cũng đ viết: "These non-structural resourses for discourse are what are referred to by the term cohesions Có thể tạm dịch: “Những nguồn lực phi cấu trúc của diễn ngôn là những điều được xác định bởi những phương thức LK” Trên cứ liệu tiếng Anh, hai tác giả này là những người đầu tiên nghiên cứu ngữ pháp văn bản theo khuynh hướng mở rộng, trong đó LK giữa các phát ngôn đ được các tác giả mô hình hoá một cách khái quát
Trên cứ liệu tiếng Việt, về mặt khái quát, hệ thống LK đ được xác định (Trần Ngọc Thêm 1985, Nguyễn Thị Việt Thanh 1999) Và một số phương thức LK cụ thể cũng đ được nghiên cứu (Phạm Văn Tình 2002, Nguyễn Phú Thọ 2008) Tuy nhiên,
có thể nói rằng đó mới chỉ là bước đầu Nhiều đề tài nghiên cứu về một phương thức
LK cụ thể vẫn còn mới mẻ Chỉ riêng về phương thức nối - hay phép nối (PN) đ đặt ra
nhiều vấn đề cần được lý giải: (i) PN được sử dụng trong các thể loại VB như thế nào ?
(ii) PN có liên quan gì đến quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp và mạch lạc của các phát
ngôn, của VB, của diễn ngôn ? (iii) Đặc điểm về cấu tạo và định danh ngữ pháp của các phương tiện ngôn ngữ được dùng trong PN? (iv) Sự thể hiện PN trong văn bản
tiếng Việt và tiếng Anh có những điểm tương đồng và dị biệt như thế nào? Bấy nhiêu vấn đề tiềm ẩn đó, đ thôi thúc chúng tôi suy nghĩ để chọn một đề tài nghiên cứu
cho mình Từ tất cả những điều kể trên, khiến chúng tôi chọn vấn đề “So sánh phư ng
thức nối trong n b n tiếng Việt à tiếng Anh” làm đề tài cho luận án (LA) này
2 Mục đích nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này LA đặt ra những mục đích nghiên cứu như sau:
(i) Lý giải về vai trò tất yếu của PN trong việc tạo ra mạch lạc trong VB nói
chung, trong lập luận nói riêng
Trang 12(ii) ác lập bản chất ngôn ngữ của PN tiếng Việt, có so sánh với tiếng Anh LA
tập trung khảo sát chủ yếu trên hai bình diện: cấu tạo của TNN và vai trò của chúng trong việc thiết lập các quan hệ ngữ nghĩa và ngữ pháp qua PN
(iv) Đi tìm sự tương đồng và khác biệt trên hai bình diện đ xác định của PN
trong tiếng Anh – một ngôn ngữ biến hình và trong tiếng Việt – một ngôn ngữ đơn lập
(v) Từ các kết quả này, thông qua khảo sát thực tế, LA đề xuất một số biện pháp
về giảng dạy và đối dịch Anh – Việt, Việt – Anh về PN
3 Phạm vi nghiên cứu
PN là một phương thức LK VB phổ biến và được coi là một trong những điều kiện cần thiết để tạo ra mạch lạc, để tổ chức VB, diễn ngôn PN không chỉ có chức năng LK các phát ngôn với nhau mà còn LK cả những đơn vị lớn hơn như: các đoạn văn, các chương, các phần khác nhau của văn bản, của diễn ngôn để tạo nên một khối thống nhất chặt chẽ về cấu trúc và ý nghĩa Vì vậy, nó cần phải được xem xét trước hết với tư cách một phương thức LK độc lập, đồng thời, cần được đối chiếu, xác lập chức năng LK, quan hệ ngữ nghĩa, giá trị ngữ pháp, trong hệ thống LK văn bản tiếng Việt
Và chúng ta đ biết, PN có thể xuất hiện trong một phát ngôn và giữa các phát
ngôn và các cấp độ lớn hơn phát ngôn LA này chỉ tập trung kh o sát gi a các phát
ngôn Dựa theo cách biện giải của Trần Ngọc Thêm (1985) có thể hình dung:
- Gọi U 1 là phát ngôn, U 2 là phát ngôn kế cận, c là yếu tố LK thì PN có thể được
hình dung bằng một mô hình tổng quát5 sau đây:
U 1 c U 2 (U: utterance; c: connector)
(3) Tôi vội vàng bước ra khỏi nhà Và nó cũng nối gót theo sau
U 1 c U 2
Trang 13Trong đó c là từ ngữ nối (TNN), thực hiện chức năng nối Đây là mô hình có
tính chất điển hình, trong thực tế còn có các dạng:
(4) Thoạt đầu thì người vợ chính ngạc nhiên Rồi thì tức tối Sau cùng thì nhẫn nại,
phải nhẫn nại là hơn, nếu hắn về thì cũng thế
Đây là kiểu nối không có TNN (nối zêrô)6 Dù rằng, tác giả không dùng TNN và
(hay một TNN nào khác), nhưng về mặt nguyên tắc, ta có thể xác lập quan hệ nghĩa và
lựa chọn những TNN tương thích để tạo ra PN giữa hai phát ngôn trên đây
Trong phần lớn các trường hợp, LA chỉ tập trung khảo sát ở mô hình điển hình,
sau đó là mô hình ở (i), còn ở (ii) chỉ xem xét khi thật cần thiết, nhất là khi cần biện
giải cho PN và các phép LK liên quan
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Các câu trong VB thường có ‘sợi dây liên hệ chặt chẽ’ tạo ra sự gắn kết giữa câu
với câu, trong đó PN là một phương thức LK hình thức trong hệ thống LK trong VB
Việc nghiên cứu về PN trong VB tiếng Việt, trong thực tiễn, còn đặt ra nhiều vấn đề
cần phải tiếp tục bàn sâu, làm rõ Sau đây chúng tôi thử điểm qua những công trình
nghiên cứu về các phương thức LK trong VB nói chung và việc nghiên cứu PN nói
riêng
Trên thế giới, các công trình đầu tiên, đặt nền móng và khẳng định sự ra đời của
NPVB bắt đầu xuất hiện vào cuối những năm 40 của thế k Các nhà NNH đều
Trang 14nhận thấy phải mở rộng phạm vi nghiên cứu ngôn ngữ M A K Halliday (1976), nhận định, đơn vị cơ bản khi chúng ta sử dụng ngôn ngữ không phải là từ hay câu mà là VB Nguyễn Quang Ninh, 1989 viết “ cần dành một vị trí riêng cho chu i hoàn chỉnh các câu có chung ý nghĩa và là một chỉnh thể cú pháp – ngữ nghĩa nhất định”
Cùng nhận định về đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ tương đối mới mẻ này,
H Harmann (1965) cũng cho rằng, các ký hiệu ngôn ngữ chỉ bộc lộ mình, chừng nào chúng là những cái gắn bó với nhau trong VB…Mọi người chỉ nói bằng VB, chứ không phải bằng các từ và bằng các câu, ít ra cũng bằng các câu làm thành từ các từ nằm trong VB W Dressler (1970) cũng thống nhất ý kiến rằng, trong thời đại chúng ta mọi người thừa nhận rằng đơn vị ngôn ngữ cao nhất, ít lệ thuộc nhất, không phải là câu mà là VB
NPVB là một bộ môn chỉ thực sự được biết đến một cách rộng r i từ những năm
1970, sau thời k cực thịnh của ngữ pháp và ngữ nghĩa tạo sinh Tuy nhiên, sau khi ra đời, NPVB đ tỏ ra có những ứng dụng hết sức thiết thực trong việc đề ra các phương pháp xây dựng, phân tích, tóm tắt, biên tập và hiệu đính VB Nhờ vậy, nó đ nhanh chóng được phổ biến và phát triển mạnh mẽ NNH VB đ trải qua những giai đoạn khác nhau trong nhận diện đối tượng nghiên cứu O I Moskalskaja 71 ghi nhận rằng, thời k đầu người ta coi đối tượng nghiên cứu của NNH VB là chỉnh thể cú pháp trên câu ( còn gọi là thể thống nhất cú pháp) Từ những năm 1981 về sau, người ta chú ý đến toàn VB Vậy, sự ra đời của NPVB không phải là một hiện tượng đột biến mà do yêu cầu tất yếu, là kết quả logic của quá trình nghiên cứu ngôn ngữ và cả những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn sử dụng ngôn ngữ NPVB không hề đối lập với ngữ pháp truyền thống mà kế tục, hoàn thiện và mở ra những bình mới, đầy hứa hẹn của ngữ pháp học
Nói đến NPVB là nói đến các phương thức LK VB Trong đó PN có một vị trí đặc biệt, góp phần tạo nên VB
Trang 15Trên cứ liệu tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm có công rất lớn trong việc giới thiệu và nghiên cứu về NPVB, xác lập hệ thống LK tiếng Việt, trong đó có PN Theo Diệp Quang Ban (2003) - một trong những nhà Việt ngữ học rất quan tâm nghiên cứu NPVB tiếng Việt nhận định rằng, “các mối quan hệ xuyên câu thì mờ ảo hơn nhiều so với các mối quan hệ nội câu Những khái niệm do cú pháp tìm ra không còn đủ để giải quyết những vấn đề ngữ pháp câu nữa Do vậy, chúng ta cần phải quan tâm, sử dụng đến cả những bộ môn ngoài NNH, logic học, dụng học, tâm lý học…”
Bên cạnh tên gọi ‘PTDN’, nhiều người cũng nhắc đến tên gọi ‘phân tích VB’ Thực tế đó cho chúng ta thấy rằng, NNH hiện đại quan tâm nghiên cứu một cách tổng hợp về NNH VB Trần Ngọc Thêm 98 khẳng định, nếu chúng ta dừng lại ở ranh giới câu, thì NNH truyền thống gây cho mọi người ấn tượng rằng chỉ cần biết thật nhiều từ
và nắm vững các mô hình cấu tạo câu là có thể giao tiếp được Vì vậy, muốn có một
VB hình như chúng ta chỉ cần ghép các câu đúng ngữ pháp lại với nhau
Cái gì là nhân tố có tác dụng biến một chu i câu trở thành VB? Đó chính là những mối liên hệ qua lại phức tạp về nội dung cũng như về hình thức giữa các câu văn, giữa các đoạn văn, là mạng lưới các mối liên hệ giữa các câu trong một VB, là tính LK của VB Do vậy, hiện tượng đầu tiên được các nhà NNH VB chú ý đến là vấn
đề tính LK của VB, trong đó có PN
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ biến hình và quan tâm xem xét các mối LK giữa các phát ngôn, ngoài M.A.K Halliday (1970, 2004), M.A.K Halliday và R Hassan (1976) và những nhà NNH tiên phong, còn có thể kể đến Wolfgang Dressler (1982), Patricia L Carrell (1982), Gillian Brown and George Yule (1983), Regina Blass (1986), Kim S Campbell (1995), Wolfram Bublitz (2000), … Một số tác giả khác còn
nghiên cứu mở rộng LK như iên kết hội thoại (On Dialogue Cohesion) của Jeanne Mari Conte (1999), g pháp diễn ngôn à oại hình h c (Discourse Grammar and
Trang 16Typology) của Abraham, Werner, Talmy Givón and Sandra A Thompson (1994),
Chuyển tiếp mạch lạc à liên kết (Coherence Continuity and Cohesion) của Kim S
Campbell (1995), …
Việt Nam, về NPVB, PTDN tiếng Việt, cho đến hôm nay, vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu, khả dĩ đáp ứng mong mỏi cho những người quan tâm đến vấn
đề này - nhất là các giáo viên ngữ văn
Theo các nhà Việt ngữ học, ở Việt Nam, NPVB đ được đưa vào nghiên cứu và giảng dạy ở Trường Đại học tổng hợp Hà Nội (nay thuộc ĐHQG Hà Nội) từ năm 1978 Những năm tiếp theo, có nhiều trường ĐHSP và Cao đẳng sư phạm, đ quan tâm đến lĩnh vực mới này Tiếp sau đó, các Trường ĐHSP Hà Nội I, Viện khoa học giáo dục, ĐHSP Qui Nhơn, ĐHSP Vinh, ĐHSP Huế …, rất chú ý đến lĩnh vực NPVB Tài liệu
tham khảo và giảng dạy lúc bấy giờ có Hệ thống liên kết n b n tiếng Việt (1985) của Trần Ngọc Thêm, g pháp n b n à iệc dạy làm n (1985) của Nguyễn Trọng Báu – Nguyễn Quang Ninh – Trần Ngọc Thêm Nguyễn Quang Ninh (1989), có Ng
pháp n b n (Phục vụ chương trình CCGD) Đ Hữu Châu (1994) biên soạn cuốn
g pháp n b n - Tài liệu sử dụng Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên cấp 2 phổ
thông Trần Ngọc Thêm – Trịnh Sâm (1989) có g pháp n b n Hỏi – Đáp do trường CĐSP Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành … Sách dịch có tác phẩm V n b n ới
tư cách đối tượng nghiên cứu của ngôn ng h c của I P.Gal’perin (1987), Ng pháp
n b n của I.O Moskalskaja do Trần Ngọc Thêm dịch và chú giải…
Nhìn chung các công trình NPVB tiếng Việt trên đây đều có đề cập đến PN Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu về PN thì chưa thật hệ thống Giáo trình NPVB và việc dạy tập làm văn của nhóm tác giả Nguyễn Trọng Báu – Nguyễn Quang Ninh – Trần Ngọc Thêm (1985) có xem xét PN như một phương thức LK riêng biệt Các tác giả chỉ đề
cập đến PN thông qua Chương hai với đề mục ' iên kết liên câu' [9, tr 15-24] Nguyễn
Trang 17Hữu Chỉnh 26 có bài nghiên cứu về quan hệ ng pháp trong n b n Lương Đình Dũng (Ngôn ngữ (6), 2005, tr 38-47) có ' hép nối à một ài suy nghĩ ề phư ng pháp
dạy phép nối trong tiếng Việt' Trong bài này, tác giả đ đưa ra một số quan niệm về
LK, PN và đưa ra sáu kiểu quan hệ nghĩa của PN Ngoài ra, gần đây còn có một số luận văn của học viên, LA của nghiên cứu sinh về LK, liên từ và PN Nhưng, nhìn chung, công trình nghiên cứu về các phương thức LK cũng chưa thật sự phong phú Các phép
LK trong VB tiếng Việt thật sự được nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm hơn
Trần Ngọc Thêm (1985) với Hệ thống liên kết n b n tiếng Việt có thể coi là
người đi tiên phong ở lĩnh vực này trong số các nhà NPVB tiếng Việt Với công trình trên đây, tác giả đ đi sâu nghiên cứu các phương thức LK phổ biến về hình thức ngôn ngữ cũng như về nội dung trong VB tiếng Việt Thành tựu này có tác dụng gợi mở cho nhiều công trình khác về phép LKVB tiếng Việt sau này, đ đặt ra nhiều đề tài cho các nghiên cứu sinh thực hiện thành công các LA của mình, xung quanh việc tìm hiểu về phép LK và PN trong VB tiếng Việt
Lịch sử NNH cho ta thấy rằng hiện tượng LK được người ta chú ý khảo sát từ rất sớm, trước hơn cả những biện pháp tu từ như ‘lặp, điệp’ Ngoài hiện tượng ‘lặp’,
‘điệp’ người ta còn chú ý đến hiện tượng khác mang chức năng LK như việc sử dụng quán từ, từ nối, sử dụng thời, thể của các động từ, sử dụng câu hỏi tu từ, các hiện tượng tỉnh lược, song hành cú pháp Trật tự từ trong câu và ngữ điệu cũng được xem là phương thức có chức năng LKVB Tất cả những hiện tượng đó được gọi chung là các phương tiện LKVB
Như đ nói ở trên, vấn đề ‘LK hình thức và LK nội dung’ trong VB đ được
trình bày rất hệ thống, sáng tạo và chặt chẽ trong Hệ thống liên kết n b n tiếng Việt
Các phương tiện LK gắn liền với các loại phát ngôn có thể được tóm tắt trong bảng dưới đây:
Trang 18sử dụng
3- Phép thế đồng nghĩa 3- Phép thế đồng nghĩa 3- Phép thế đồng nghĩa 4- Phép liên tưởng 4- Phép liên tưởng 4- Phép liên tưởng
5- Phép tuyến tính 5- Phép tuyến tính 5- Phép tuyến tính
6- Phép thế đại từ 6- Phép thế đại từ 7- Phép tỉnh lược yếu 7- Phép tỉnh lược yếu
8- Phép nối lỏng 8- Phép nối lỏng
9- Tỉnh lược mạnh
10- Phép nối chặt
Bảng 3 : Hệ thống các phương thức liên kết văn bản tiếng Việt
(i) hát ngôn tự nghĩa: là phát ngôn hoàn chỉnh về nội dung và đầy đủ về cấu
trúc, vì vậy nó mang tính độc lập lớn nhất
(ii) hát ngôn hợp nghĩa: là phát ngôn không hoàn chỉnh về nội dung, tuy vẫn
đầy đủ về cấu trúc, vì vậy nó không mang tính độc lập về mặt nghĩa
(iii) g trực thuộc: là phát ngôn không hoàn chỉnh về nội dung và không đầy
đủ về cấu trúc, vì vậy nó không độc lập cả hai phương diện nội dung và cấu trúc câu
M A K Halliday và R Hassan (1976) cho rằng các phương thức LK tạo ra trong tiếng Anh là: quy chiếu (reference), thay thế (substitution), tỉnh lược (ellipsis),
phép nối (conjunction) và liên kết từ vựng ( lexical cohesion) Và các tác giả này
cũng đ xem xét PN ở nhiều bình diện khác nhau, nhất là quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn, được tạo ra bởi các TNN Qua cách phân loại các phương thức LK, ch hai quan niệm gặp nhau chủ yếu là các phương tiện LK cụ thể được xem xét
Như trên đ thấy phép LK, PN là vấn đề rất cơ bản trong NPVB và thực tế còn đặt ra nhiều phương diện cần được các nhà ngữ học tiếp tục nghiên cứu và làm rõ Các nhà Việt ngữ học khác cũng đ có những chuyên đề và công trình nghiên cứu thành công xung quanh vấn đề PN và các phương thức LK khác trong VB tiếng Việt
Diệp Quang Ban đ có nhiều bài nghiên cứu đăng trên Tạp chí gôn ng và các công trình nghiên cứu về NPVB được xuất bản như Kh n ng xác lập mối liên hệ gi a
Trang 19phân đoạn ng pháp à phân đoạn thực tại câu tiếng Việt (1989), VB à liên kết trong Tiếng Việt, (1999), Giao tiếp – VB - Mạch lạc – iên kết - Đoạn n (2003), Giao tiếp diễn ngôn à Cấu tạo VB (2009)… Đ Hữu Châu và Nguyễn Thị Ngọc Diệu (1996) có Giáo trình gi n yếu ề NPVB Nguyễn Thị Việt Thanh (1999) có Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt Nguyễn Hữu Chỉnh (2002) có bài viết Quan hệ ng pháp trong VB
Phạm Văn Tình (2002) với LA tiến sĩ, hép tỉnh lược à ng trực thuộc tỉnh lược
trong tiếng Việt Võ Văn Cương (2004) với chuyên luận iên kết hồi qui trong NNH
VB Lương Đình Khánh (2006), hư ng thức liên kết nối à quan hệ nghĩa các phát ngôn (LA tiến sĩ) Các giáo trình nghiên cứu về Tiếng Việt thực hành của Nguyễn Đức
Dân, Bùi Minh Toán – Lê A – Đ Việt Hùng, Nguyễn Minh Thuyết – Nguyễn Văn Hiệp, Hà Thúc Hoan, Trịnh Sâm… hầu hết đều có đề cập đến các phương thức LK và
PN Diệp Quang Ban 2003, trong Giao tiếp – VB – mạch lạc – iên kết – Đoạn n,
PN cũng chỉ được đề cập đến một cách khái quát Tác giả có nói đến các 'từ ngữ nối kết' (tr 248-249) và 'quan hệ nghĩa qua PN' (tr 251-260) M.A.K Halliday và R
Hassan (1976) đề cập đến PN trong một chương của công trình Cohesion in English
(tr 226-273) Có thể nói, các công trình nghiên cứu NPVB tiếng Việt nói trên đều có
đề cập đến PN, trong cách quan sát tổng thể các phương thức liên kết khác Nhưng theo quan sát của chúng tôi, chưa có một công trình nghiên cứu sâu về PN
Trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt, bước đầu PN đ được khảo sát trong mối tương quan với các phương thức LK khác Tuy nhiên, nói không quá, tất cả các công trình vế PN còn khá khiêm tốn, còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về LK và mạch lạc như đ nói ở trên, Phạm Văn Tình (2002) đ đi sâu tìm hiểu một phép LK cụ thể, một phương thức LK cơ bản
Đó là ‘Phép tỉnh lược’ (ellipsis) và ngữ trực thuộc trong tiếng Việt Với công trình này, tác giả đ đóng góp quan trọng và lý giải sâu sắc về những vấn đề hết sức ý nghĩa của
Trang 20NPVB tiếng Việt Đó là việc xác định ý nghĩa và chức năng của ‘phần dư’ trong VB tiếng Việt
Như vậy có thể thấy, trên cứ liệu tiếng Anh, tiếng Đức và cả tiếng Việt, PN
được coi là một phư ng thức K mang tính phổ quát, một thành phần trong hệ thống
LK của một ngôn ngữ đ được chú ý và bước đầu đ xác lập được quan hệ ngữ nghĩa
do biện pháp LK này tạo nên Nhưng rõ ràng, với tư cách là một PTLK độc lập và có đối sánh giữa các ngôn ngữ thì theo quan sát của chúng tôi, về PN, chưa có công trình nào đề cập đến một cách chuyên sâu, toàn diện
LA này trên cơ sở kế thừa thành quả của các công trình đi trước sẽ tiến hành
kh o cứu một cách có hệ thống à toàn diện h n Đặc biệt là nghiên cứu quan hệ
ngữ nghĩa và ngữ pháp của PN trong tiếng Việt và có những so sánh đối chiếu với tiếng Anh – một ngoại ngữ đa dụng ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các thủ pháp như sưu tập, nhận diện, phân loại, miêu tả, LA sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp PTDN (discourse analysis method): xem xét các ngữ liệu, gắn liền với ngữ cảnh, sử dụng phân tích cả hai quá trình: từ trên xuống (top-down process)
và từ dưới lên (bottom-up process), trong đó việc tạo lập VB/ngôn bản từ nội dung đến hình thức, cũng như việc nhận diện VB từ hình thức nắm bắt nội dung, đều được xem xét
- Phương pháp thống kê (statistics method): bên cạnh các nhận định mang tính định tính, nhằm minh họa và thuyết minh có các nhận xét, chúng tôi sẽ dùng phương pháp thống kê định lượng
Trang 21- Phương pháp so sánh đối chiếu (comparative-contrastive method): nhằm tìm ra
sự tương đồng và khác biệt về một số phương diện của PN như cấu tạo hình thức các TNN, chức năng ngữ nghĩa của các quan hệ do chúng tạo ra giữa tiếng Việt và tiếng Anh, LA có sử dụng phương pháp này
-Phương pháp hệ thống hóa (systematized method): các đặc điểm cụ thể của các hiện tượng ngôn ngữ nói chung, PN nói riêng cần phải xem xét trong một chỉnh thể toàn diện Do vậy, phương pháp hệ thống hóa được vận dụng, để một mặt tìm ra các đặc trưng có tính chi phối, mặt khác để thấy mối quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống, và, rõ ràng quan hệ khác nhau, ý nghĩa và chức năng sẽ khác nhau
Trên đây là những phương pháp chủ yếu trong quá trình nghiên cứu khoa học Bên cạnh đó, người viết cũng thực hiện một số thủ pháp như trắc nghiệm, thăm dò thông qua các biểu mẫu, với đối tượng là học sinh trung học phổ thông
5.2 Nguồn ngữ liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành sưu tập một nguồn ngữ liệu gồm
1500 đơn vị LK nối7, từ các VB tiếng Việt, chủ yếu từ các tác phẩm văn học được sử dụng trong nhà trường
Đối với tiếng Anh, LA cũng sưu tập một số ngữ liệu tương đương với tiếng Việt (1500 đơn vị nối) Do nhiều lý do khác nhau, ngữ liệu này có nguồn gốc từ nhiều phong cách và thể loại khác nhau, nhưng nhiều nhất vẫn là văn học nghệ thuật Trên cơ
sở đó, chúng tôi nghĩ là có thể tiến hành so sánh đối chiếu các ngữ liệu với nhau theo những chủ điểm đ xác định
6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
PN, một trong những phương thức LK logic (bên cạnh phép tuyến tính) là vấn
đề được các nhà ngôn ngữ học đi trước có những giải thuyết khác nhau Đặc trưng về
Trang 22phương tiện ngôn ngữ thể hiện trong PN là việc sử dụng các TNN (linking ords, connectors…) Chính điều này làm cho PN trong văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng Anh có sự tương đồng M A K Halliday gọi là ‘conjunction’ (This type of cohesion is known as conjunction) [62, tr 303]
Trong hoạt động hành chức của ngôn ngữ cho thấy, TNN trong tiếng Việt cũng như trong tiếng Anh rất phức tạp, một mặt chúng thể hiện mối quan hệ trên bề mặt VB, nhưng mặt khác chúng chứa đựng những quan hệ ngữ nghĩa-logic ngầm ẩn Đặc biệt khi giữa các phát ngôn là quan hệ ngược logic thì bắt buộc phải dùng các TNN để diễn đạt vì phép tuyến tính không có khả năng này
PN là một trong các phép LK ( 5 phép LK: phép thế, phép tỉnh lược, phép lặp từ vựng, phép liên tưởng và phép so sánh) được đưa vào các bài học về LK câu ở Sách tiếng Việt lớp 10 (Sách tiếng Việt lớp 10, Nxb GD, năm 2000, tr 89) Tuy nhiên, mức
độ nội dung kiến thức, phương pháp thực hành, ứng dụng còn rất hạn chế
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hy vọng góp thêm tiếng nói về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn nghiên cứu, thực hành, vận dụng PN trong việc tổ chức VB nói chung và tập làm văn nói riêng
Về ý nghĩa lý luận, LA hướng tới xây dựng một hệ thống các tiêu chí lý luận
cần thiết để nhận diện, phân loại PN trong văn bản tiếng Việt Những kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung vào lĩnh vực lý luận NPVB và PTDN, chỉ ra phương pháp phân tích ngữ nghĩa của phát ngôn được nhìn từ nhiều góc độ như kết học, nghĩa học
và dụng học
Về ý nghĩa thực tiễn, kết quả của LA góp phần nâng cao việc dạy và học tiếng
Việt, dạy và học tập làm văn, đối dịch Việt - Anh, Anh - Việt Trong một chừng mực nào đó, những kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng vào việc phân tích câu văn,
Trang 23đoạn văn, đọc hiểu VB, mà cụ thể là việc xử lý các trường hợp đang còn là vấn đề cần được nghiên cứu trong cú pháp học, ngữ nghĩa học văn bản
7 Cấu trúc luận án
LA gồm phần mở đầu, phần nội dung (có bốn chương), phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, ngữ liệu và phần phụ lục
Chương 1 Một số vấn đề chung
Trong chương này, chúng tôi sẽ đề cập đến những tiền đề lý luận liên quan đến
PN Đó là vấn đề lý luận cơ bản, có liên quan trực tiếp tới đề tài nghiên cứu PN là một hiện tượng mang tính phổ quát với mọi ngôn ngữ Nhưng trong m i ngôn ngữ nó lại có những cách thức thể hiện khác nhau Chúng tôi cố gắng hệ thống lại một số luận điểm chính yếu dựa trên NNH văn bản, lý thuyết phân tích diễn ngôn làm cơ sở lý luận cho việc triển khai các nội dung tiếp theo
Chương 2 Quan hệ giữa phép nối, mạch lạc và văn bản
Nội dung của chương này làm sáng tỏ về vai trò của các cấp độ nối LK liên quan tới PN Mặt khác, chương này nhấn mạnh vai trò của PN trong mối quan hệ với mạch lạc – là yếu tố thứ nhất trong việc tạo lập VB
Chương 3 Cấu tạo từ ngữ nối và quan hệ nghĩa, ngữ pháp của phép nối
Qua việc khảo sát, thống kê các TNN được sử dụng trong PN tiếng Việt, chúng tôi đề xuất cách phân loại, góp phần làm sáng tỏ về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa và cấu tạo của các TNN và các yếu tố được nối
Cũng trong chương này, qua việc thống kê, khảo sát nhiều VB khác nhau và trên
cơ sở thừa hưởng các thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi đề xuất một hệ thống các quan hệ ngữ nghĩa và quan hệ ngữ pháp – các quan hệ làm nên bản thể của PN
Trang 24Chương 4 Một số điểm tương đồng và khác biệt của phép nối trong
văn bản tiếng Việt và tiếng Anh
Cũng như nhiều ngôn ngữ, tiếng Việt và tiếng Anh đều có hiện tượng nối LK
Và PN trong hai ngôn ngữ đều có sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nối kết LA không phân tích sự khác nhau về quan niệm và cách lý giải khác nhau của các nhà NNH về PN trong VB của hai ngôn ngữ Bằng cách so sánh, đối chiếu về chính PN của hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, LA chỉ nêu lên một số điểm tương đồng và dị biệt giữa chúng Những đặc điểm so sánh được rút ra chủ yếu từ phương diện cấu tạo ngữ nghĩa và ngữ pháp và một ít về mặt ngữ dụng Trên cơ sở này, LA cũng mạnh dạn
đề xuất một số thủ pháp đối dịch Anh – Việt, Việt – Anh
Trang 25Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
Nói đến LK là đề cập đến những đơn vị giao tiếp cụ thể, gắn liền với ngữ cảnh
cụ thể, thậm chí có thể hình dung ra những vai nghĩa cụ thể Điều này hoàn toàn khác với cách làm của NNH truyền thống Để có cơ sở miêu tả ở các chương sau, chương này sẽ bàn đến những vấn đề lý thuyết mà khi đề cập đến PN không thể không nhắc đến
1.1 Câu, phát ngôn, đơn vị nối liên kết
Về mặt học thuật câu và phát ngôn đ được tìm hiểu với nhiều quan niệm khác
nhau Có nhiều định nghĩa về câu đến n i mà “không dễ gì kiểm điểm lại” 3, tr 106 Việc xác định nội hàm và ngoại diên của các thuật ngữ này nhằm để xác định rõ ràng hơn về cơ sở và đối tượng khảo sát của LA
Như đ nói, trong giới NNH tồn tại rất nhiều định nghĩa về câu, nhưng có thể
lược qui về 3 cơ sở: (i) nội dung, đó là một nội dung thông báo trọn vẹn hoặc tương đối trọn vẹn (ii) cấu trúc, câu phải đầy đủ thành phần, hai thành phần nòng cốt câu, là chủ ngữ và vị ngữ và thường ít được định nghĩa về 2 yếu tố này, (iii) hình thức, nếu là
ngôn ngữ nói, câu thường gắn liền với những ngữ điệu; nếu là viết, câu bắt đầu bằng một chữ cái viết hoa và kết thúc bằng một dấu câu mà phổ biến nhất là dấu chấm
Ngữ pháp nhà trường Việt Nam trước đây, có một thời gian rất dài coi câu là đơn vị cao nhất, thực hiện chức năng thông báo, chứ chưa đề cập đến chức năng tổ chức VB, cho nên câu thường được định nghĩa là một đơn vị ngôn ngữ, và:
-có nghĩa hoàn chỉnh (hoặc tương đối hoàn chỉnh – tiêu chí về nội dung)
-có những kiểu cấu tạo nhất định (tiêu chí cấu trúc)
Trang 26-có những dấu hiệu hình thức nhất định như ngữ điệu, dấu câu…(tiêu chí hình thức)
Nhưng trong thực tế ngôn ngữ hành chức, không phải câu nào cũng bộc lộ đủ ba tiêu chí đó Đặc biệt là có vô số những kiểu câu không đáp ứng về tiêu chí cấu trúc, thiếu thành phần ‘nòng cốt’ mà có lúc còn nhiều người đ cho rằng đó là câu sai ngữ pháp ( còn được gọi là phần dư, phần thừa) Và có một thời gian dài nhà trường không cho phép học sinh hành văn theo những kiểu câu đó trong khi làm văn
Đây đúng tình trạng mà N.D Aruchiunova đ nói một cách hình tượng:
“Ra khỏi phạm vi của những câu ‘kinh điển’, người nghiên cứu rơi vào một đại dương rộng mở và không bờ bến của những câu … rất ít được qui phạm hoá
về mặt hình thức Các câu này là cái ‘phần dư’ còn lại … Đây chính là trung tâm tranh luận của vấn đề ở mọi ngôn ngữ”
[98, tr 41-42]
Khi mở rộng phạm vi quan sát hành chức của phát ngôn, bên cạnh tính chất luôn gắn liền với ngữ cảnh, mặt nội dung, đặc biệt là về cấu trúc được nhìn nhận một cách uyển chuyển, cách tiếp cận này không thừa nhận phát ngôn đặc biệt Và như đ giải thích, cơ sở để xem xét PN trong LA này chính là phát ngôn Như vậy về mặt số lượng, tối thiểu phải có ít nhất từ hai phát ngôn trở lên, mới có thể có PN Đương nhiên PN cũng có thể xảy ra trong nội bộ từng phát ngôn, nhưng không thuộc phạm vi quan sát của LA, như đ trình bày ở 2.2.1
Về mặt lý thuyết, câu thường đối lập với phát ngôn Nếu đơn vị trước được hiểu
là một đơn vị ngôn ngữ có chất tĩnh tại, thường tách khỏi ngữ cảnh giao tiếp thì đơn vị sau là một đơn vị của lời nói, rất năng động, gắn liền với từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể Có thể thấy cách hình dung về câu với 3 tiêu chí vừa nhắc qua ở trên có tính chất
Trang 27qui phạm Thực tế sử dụng mách bảo số lượng câu đáp ứng tương đối đầy đủ các yêu
cầu trên là rất ít Do vậy cái mà ngữ pháp truyền thống gọi là 'câu đặc biệt', thể hiện sự
bất lực hay ít nhất là chưa thật sự nghiêm ngặt về phân loại
Phát ngôn là đối tượng khảo sát của nhiều phân ngành NNH, trong đó quan
niệm gắn liền với hành động ngôn ngữ của ngữ dụng học, nổi lên như một xu hướng
triết học NNH Trong nhận thức của chúng tôi, phát ngôn là đơn vị nhỏ nhất của VB
Nó thực chất là câu trong VB Điều đó có nghĩa là khi nói tới phát ngôn là nói đến sự
tương tác giữa nó và các phát ngôn khác chung quanh Nó chịu sự tác động của đặc
điểm kế thừa thông báo Phát ngôn mở đầu là ch dựa cho các phát ngôn sau Đến lượt
nó, các phát ngôn sau là ch dựa cho các phát ngôn sau nữa, cứ thế chúng dựa vào
nhau để tồn tại
Về mặt cấu trúc, phát ngôn có thể đầy đủ thành phần hoặc không đầy đủ thành
phần; về mặt nội dung, có thể hoàn chỉnh hoặc không hoàn chỉnh; về mặt hình thức thì
thì giống như đơn vị câu đ xác định ở trên Tại đây phần lớn ngữ liệu là ngôn ngữ
viết, cho nên cái dấu hiệu hình thức bắt đầu bằng một chữ cái viết hoa và kết thúc bằng
một số dấu câu là những thuộc tính mà chúng tôi đưa ra như một tiêu chí để nhận định
Do vậy, khi khảo sát, coi phát ngôn là đơn vị nối, LK tối giản trước hết là mối
quan hệ giữa hai phát ngôn nằm cạnh nhau Đương nhiên nối ở đây là nối giữa hai phát
ngôn Cần thấy ngữ pháp chức năng hệ thống mà đứng đầu là M.A.K Halliday coi cú
mới là đơn vị cơ sở của LK 48, tr 492 Một cú thường bao gồm đề (theme) – thuyết
(rheme) LA này xem phát ngôn như vừa minh định bên trên là đơn vị của nối LK Do
vậy, khi nghiên cứu về phát ngôn thì “không được nghiên cứu tách rời, biệt lập với văn
cảnh, ngữ cảnh, ngữ nghĩa mà đi vào các hiệu dụng đa dạng trong bối cảnh giao tiếp,
hiệu quả giao tiếp, trong các mối quan hệ liên nhân giữa người nói và người nghe”
[102, tr 195]
Trang 28Khái niệm phát ngôn được sử dụng ở đây như là đơn vị cơ sở để khảo sát về PN
trong VB
1.2 Văn bản, diễn ngôn
1.2.1.Văn bản
VB thực sự là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành NNH hiện đại Từ L
Hjelmslev (1953), M.A.K Halliday (1960), H Harmann (1965), H Wienrich (1966),
đến W Dressler (1970), người đ đầu tiên xuất bản những công trình khá hoàn chỉnh
về NNH VB … thì hầu như người ta thống nhất rằng: “ trong thời đại chúng ta mọi
người thừa nhận rằng đơn vị ngôn ngữ cao nhất, ít lệ thuộc nhất, không phải là câu, mà
là VB”
Trong thực tế, VB đ trải qua một quá trình định danh với những nội dung ý
nghĩa không giống nhau Trước đây các nhà ngôn ngữ dùng thuật ngữ ‘VB’ để chỉ tất
cả các trường hợp ghi lại hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Nhưng hiện nay, nhiều
nhà ngôn ngữ thống nhất rằng, ‘VB’ là sản phẩm thể hiện bằng văn viết; ‘ngôn bản’ là
sản phẩm ngôn ngữ thể hiện qua lời nói
Còn ‘diễn ngôn’ là khái niệm bao gồm cả VB và ngôn bản Tuy nhiên, để đi đến
một định nghĩa về VB, chủ yếu để tiện làm việc, chúng tôi cũng trình bày một số quan
niệm khác để tham khảo
VB cũng có khá nhiều định nghĩa khác nhau:
(i) VB được xét như một lớp phân chia được thành các khúc đoạn
(L Hjelmslev, 1953)
(ii) VB được hiểu ở bậc điển thể là phát ngôn bất k có kết thúc và có LK, có
tính độc lập và đúng về ngữ pháp (W Koch, 1966)
Trang 29(iii) VB “là chu i nối tiếp các đơn vị ngôn ngữ được làm thành bởi một dây
chuyền của các phương tiện thế có 2 trắc diện” - trục dọc và trục ngang
(R Harweg, 1968)
(iv) Nói một cách chung nhất, VB là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ
là phần tử Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống VB còn có cấu trúc Cấu trúc của VB chỉ ra vị trí của câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn VB nói chung Sự LK là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy (Trần Ngọc Thêm, 1985)
VB/ngôn bản là một sản phẩm trong sử dụng Do tính đa dạng của phong cách
và thể loại trong hành chức nên việc xác định nó là cái gì quả không đơn giản, nói như W.A.M Carsteris (1997) khi dùng bao quát cái hiện thực ngôn ngữ - VB vào trong một định nghĩa hoàn chỉnh thì thật khó xác định cái biên giới của đơn vị ấy
Tuy nhiên, bước đầu có thể liệt kê thành các đặc điểm chung nhất của VB Theo R.D Beaugrande & W Dressler (1981), VB phải gồm các đặc điểm sau:
Trang 30Diệp Quang Ban 2003, cho rằng VB có nhiều đặc trưng và có thể tóm tắt bằng
sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 1.2 : Tóm tắt đặc trưng của văn bản theo Diệp Quang Ban
VB có 5 đặc trưng:
(i) Có đề tài hay chủ đề xác định (có yếu tố nội dung)
(ii) Có cách tổ chức hình thức và cách tổ chức nội dung phù hợp với phong cách
chức năng và thể loại văn (có cấu trúc)
(iii) Có sự nối kết đúng về nghĩa, về logic và về chức năng giữa các bộ phận bên
trong một VB và với ngữ cảnh bên ngoài VB Có thể sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để diễn đạt một số quan hệ nối kết nhất định giữa các bộ phận khác nhau bên trong một VB (có mạch lạc và LK)
(iv) Gồm nhiều câu /phát ngôn nối tiếp nhau thường xuất hiện nhiều hơn trong
Có mạch lạc và liên kết
Có yếu
tố chỉ lượng
Có định biên (tính trọn vẹn)
Trang 31- VB có thể tồn tại ở dạng nói hoặc dạng viết
- VB có thể dài, có thể ngắn
- Cấu trúc của VB bao gồm cả cấu trúc hình thức lẫn cấu trúc nghĩa
- VB chuyển tải một nội dung nhất định
- VB có những dấu hiệu LK, có những PTLK
- VB có những kiểu loại khác nhau
- VB có tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức
Như vậy, VB là một sản phẩm của lời nói tồn tại dưới dạng viết hay nói, mang tính hoàn chỉnh, chuyển tải một nội dung nhất định, nhắm đến một đối tượng giao tiếp nhất định
Hiển nhiên, có thể cách nhận diện này chưa bao quát, chủ yếu là để tiện việc nghiên cứu
1.2.2 Diễn ngôn
Vấn đề tên gọi diễn ngôn trong sự phân biệt với khái niệm VB cũng không đơn giản, thuần nhất trong nghiên cứu và giảng dạy NNH Có hai tên gọi khác nhau: VB (tiếng Anh: text; tiếng Pháp: texte); diễn ngôn (tiếng Anh: discourse; tiếng Pháp: discours) Trong quá trình nghiên cứu NNH nói chung có những tình hình sử dụng hai khái niệm VB và diễn ngôn không giống nhau
Trong thời gian đầu, một số nhà NNH dùng khái niệm gọi VB như để chỉ chung
cho những sự kiện nói bằng chữ viết, có mạch lạc và LK G Brown và G Yule (1983)
đ dùng cách gọi ‘PTDN’ (Discourse Analysis) để chỉ chung cho thao tác phân tích VB
Trang 32nói và viết Ngoài ra còn có: G Cook (1989): Diễn ngôn (Oxford University Press), M Coulthard (1977): Một dẫn luận PTDN, P Chen (1990): Suy nghĩ ề sự phát triển của
PTDN trong nh ng n m 90 …
Sau đó, người ta lại có xu hướng dùng khái niệm VB để chỉ sự kiện nói bằng chữ viết, còn diễn ngôn để chỉ sự kiện nói miệng Còn hiện nay, người ta coi khái niệm diễn ngôn được dùng như VB ở giai đoạn đầu, tức là được dùng chung cho cả hiện tượng nói miệng, lẫn sự kiện nói bằng chữ viết
Cách định nghĩa sau đây của D Nunan (1998) có tính chất dung hợp việc duy trì
sự phân biệt một bên là sự kiện nói là VB và sự kiện nói là diễn ngôn: VB và diễn ngôn cùng tồn tại trong tất cả các sự kiện nói Theo tác giả, thuật ngữ VB là chỉ bất k cái điều gì ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp Sự kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói (Ví dụ: Một bài thuyết giáo, một cuộc thoại, một cuộc giao dịch mua bán ) hoặc ngôn ngữ viết (Ví dụ: một bài thơ, một tiểu thuyết ) Thuật ngữ diễn ngôn lại để chỉ việc giải quyết những sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh…
Trong LA này, VB được hiểu như là một đ n ị giao tiếp hoàn chỉnh, bao gồm
nh ng đ n ị lớn h n câu, được thể hiện dưới dạng nói hoặc iết, được thể hiện bằng nhiều phư ng thức K khác nhau Trong việc phân tích chúng tôi hướng tới VB với tư
cách là một đơn vị giao tiếp có tính chất điển hình, tức nó có một tổ chức phức tạp, thường bao gồm nhiều phát ngôn, nhiều đoạn, Còn thực tế giao tiếp, có thể có những đơn vị tối giản tương đương với phát ngôn, thậm chí nhỏ hơn phát ngôn
Trang 33sâu sắc Tuy nhiên, vượt ra ngoài phạm vi câu thì các đặc điểm của nó chưa được đúc kết Tại tiểu mục này, LA sẽ xem xét các đặc điểm như LK, mạch lạc và PN
Trên kia có đề cập đến đặc điểm của VB Dù có tiếp cận từ góc độ nào thì LK vẫn được các nhà NNH thuộc các trường phái khác nhau đề cập đến
giai đoạn đầu, LK thường được coi là biện pháp có tính chất hình thức, được
đánh dấu bằng các phương tiện ngôn ngữ Ví dụ về phép lặp: (i) nếu phương tiện liên kết là từ thì có phương thức lặp từ; (ii) nếu phương tiện LK là âm thì có phương thức lặp âm; (iii) nếu phương tiện LK là cú pháp thì có phương thức lặp ngữ pháp
Thật vậy, nếu thuần túy dựa vào mặt hình thức thì LK rất dễ nhận diện và miêu
tả Cũng vào giai đoạn này, các nhà NPVB thường sử dụng những phản chứng đó có
LK hình thức mà vẫn không trở thành một VB hoàn chỉnh Phương pháp này bị các nhà NNH trên thế giới phê phán Vì trong thực tế giao tiếp không có VB kiểu này mà thường bao giờ ít nhiều cũng có LK về nghĩa
Từ một góc độ khác, khi gắn liền với ngữ cảnh, có những trường hợp trên bề mặt của VB hầu như chúng không có quan hệ gì về mặt hình thức
H y khảo sát một ví dụ trong tiếng Anh (hầu như sách NPVB, PTDN nào cũng đều có đề cập đến):
- Chồng: - Có điện thoại
- Vợ: - Em đang tắm
Có thể xem đây là một VB trọn vẹn Nó đ sử dụng nhiều tiền giả định VB này
có mạch lạc là nhờ vào ngữ cảnh Và cần lưu ý rằng trên bề mặt VB hầu như không có hình thức LK nào
Trang 34Từ đây một vấn đề khác được nảy sinh: đó là mạch lạc (coherence) Mạch lạc thường được coi là quan hệ về nội dung, về mặt nghĩa Cùng với PTDN và ngữ dụng học, cuối thế k , các nhà NNH lại tập trung chú ý đến đặc điểm này và có xu hướng bao trùm: nói đến mạch lạc là nói đến nghĩa Thoạt nhìn vấn đề tưởng đơn giản:
LK là hình thức, còn mạch lạc là nội dung Nhưng xét về mặt lý luận và cả thực tiễn sử dụng thì không phải lúc nào hai phạm trù này cũng tách bạch một cách rạch ròi Bởi vì nói đến LK là nói đến mạch lạc, là nói đến sự tương tác Trước hết là trong phạm vi nội chỉ (endophoric), nhưng nó lại liên quan rất nhiều đến sự chi phối có tính chất ngoại chỉ (exophoric)
LA sẽ khảo sát những vấn đề phức tạp này Chúng tôi hình dung LK là bao gồm
cả mạch lạc Nói khác, LK là LK cả hình thức lẫn nội dung Trong đó ngữ cảnh có thể coi là nền tảng cơ sở cho việc phát ngôn và thụ ngôn
đề quan yếu của VB
M A K Halliday 48 cho rằng, để tạo ngôn bản, chúng ta cần phải thiết lập các mối quan hệ bổ sung trong ngôn bản không lệ thuộc vào những hạn chế này (những mối quan hệ trong cú phức) Điều này không thể thực hiện được bằng cấu trúc ngữ
Trang 35pháp; nó phụ thuộc vào một nguồn lực thuộc kiểu khác Đó là những nguồn lực phi cấu
trúc để kết cấu ngôn bản, cái được gọi là LK
David Nunan [75] khi nói về LK và mạch lạc trong VB thì cho rằng, những VB
mạch lạc - nghĩa là những chu i câu có vẻ như ‘mắc vào nhau’ - chứa đựng cái được
gọi là phương thức tạo thành VB Đây là những từ và tổ hợp từ làm cho người viết
hoặc người nói có thể thành lập các mối LK xuyên qua biên giới câu hoặc phát ngôn và
chúng giúp buộc các câu lại với nhau trong một VB
Trên website có địa chỉ: http://www.en.wikipedia.org/wiki/cohesion (5-2005)
bàn về LK như sau: “Cohesion is the grammatical and lexical relationship ithin a text
or a sentence Cohesion can be defined as the links that hold a text together and give it
meaning”.(LK là mối liên hệ ngữ pháp và từ vựng trong một VB hoặc trong một câu
LK có thể được định nghĩa như là những sự nối kết để tổ chức văn bản và tạo ra ý
nghĩa cho VB)
Theo Diệp Quang Ban (2003), phép LK là thứ quan hệ giữa hai yếu tố ngôn ngữ
nằm trong hai câu (Câu ở đây được dùng trong nghĩa là câu dùng trong giao tiếp, tức là
câu phát ngôn chứ không phải câu cấu trúc) Nói cụ thể hơn, LK là thứ quan hệ nghĩa
giữa hai yếu tố ngôn ngữ mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này phải tham khảo
nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu chứa chúng LK được với nhau (Hiện
tượng này cũng gặp trong những khúc đoạn lời nói lớn hơn câu)
Các nhận diện trên đây đều có điểm chung là coi PTLK là những quan hệ, là
điều kiện để tạo ra VB, góp phần tạo ra những quan hệ ý nghĩa trong VB Các quan hệ
đó phải được diễn đạt bằng các phương tiện hình thức ngôn ngữ
Ví dụ:
Trang 36(6) Cho dù tôi sẽ sung sướng hay khổ sở, cái đó sẽ tùy ở tính tình tôi khôn ngoan
hay đần độn Song tôi chưa biết đến thế Mà h y lấy sự được ung dung và độc
lập một mình là điều thích lắm rồi
[80, TH, DMPLK] Nội dung được nói đến trong đoạn văn này được diễn đạt qua các phát ngôn có
LK chặt chẽ nhờ các phương tiện LK là 'cho dù', 'song', 'mà'
Hiển nhiên, nói đến VB là nói đến LK và LK là một phổ niệm NNH Vấn đề là
ở ch nó được thể hiện cụ thể như thế nào trong những ngôn ngữ khác nhau Trước đây
người ta xuất phát từ hình thức để khảo sát nội dung Trường phái ngữ pháp chức năng
hệ thống lại chủ trương ngược lại Nói như M.A.K.Halliday “vấn đề là ở ch nội dung
này được diễn đạt bằng hình thức nào chứ không phải ngược lại” Và vì vậy, trong VB
không chỉ có LK mà còn có mạch lạc Chúng ta tiếp tục tìm hiểu khái niệm này
1.3.2 Mạch lạc
Quan hệ giữa LK và mạch lạc đ được nhiều nhà NNH trong và ngoài nước
nghiên cứu và biện giải bằng nhiều cách khác nhau Van Dijk (1985) xem LK như một
trường hợp của mạch lạc 152 M.A.K Halliday và R Hassan cho rằng mạch lạc được
tạo bởi LK 137 B Widdo son thì quan niệm LK không quan trọng bằng mạch lạc
xét về mặt ý nghĩa
Một VB có thể rất ngắn, chỉ gồm một từ, một câu Đây là những VB tối giản và
không điển hình Còn nhìn chung nói đến VB là nói đến độ phức tạp nào đó, ít nhất là
một chùm phát ngôn mà như đ đề cập ở trên Chúng phải ‘mắc vào nhau’ (to stick
together) để tạo ra mạch lạc Thế nhưng, nói như D Nunan (1993): mạch lạc là hiện
tượng khá mơ hồ
Hãy nghe G.M Green (1989) biện giải:
Một VB mạch lạc là một đơn vị mà ở đó người giải thích có thể khôi phục
không mấy khó khăn cái dàn ý của người nói với lý do vững chắc, bằng cách
Trang 37suy luận những mối quan hệ giữa các câu, và giữa những mối quan hệ cá thể
của chúng với những cái đích bộ phận khác nhau trong cái dàn ý được suy đoán,
để sự hoạch định được hiểu ra ngay
[8, tr 211]
Khi nói về mạch lạc trong văn học , K Wales viết:
Để cho một VB hay một diễn ngôn nào đó mạch lạc, thì nó phải có nghĩa và cần
có một chỉnh thể, và cũng cần được định hình tốt Mạch lạc được coi như là một
trong những điều kiện đầu tiên hay là một trong những đặc trưng của VB:
không có mạch lạc một VB không đích thực là một VB”
[8, tr 176]
G Brown và G Yule (1983) cho rằng, mạch lạc là kết quả của sự tương tác giữa
VB và người tiếp nhận Trong đó, có ba bình diện cần được xem xét trong quá trình
phân tích mạch lạc là: i gi i thích chức n ng giao tiếp, ii sử dụng kiến thức tổng
quát ề n hóa xã hội, iii xác định loại suy luận nào đã được sử dụng Ngoài ra,
mạch lạc không chỉ dựa trên mối quan hệ giữa các phát ngôn mà còn phải phân tích
mối quan hệ giữa các hành động được thực hiện bằng các phát ngôn Ví dụ, mạch lạc
của một cuộc hội thoại được nhận biết được là nhờ nguyên tắc cộng tác trong hội thoại
Có nghĩa là, trong m i lời thoại đều có ẩn chứa một hành động phù hợp với mục tiêu
của cuộc giao tiếp Như vậy, có những chu i câu hoàn toàn không có sự hiện diện của
LK nhưng vẫn có mạch lạc Mạch lạc có khi được xác định dựa theo chức năng của các
hành động nói và ngữ cảnh mà cuộc giao tiếp, hội thoại đ diễn ra
Sau khi xem xét những cách tiếp cận khác nhau về mạch lạc, thiết nghĩ cần phân
định nội hàm, ngoại diên của các mối quan hệ giữa chúng Đây có thể coi là cơ sở để
giải quyết những vấn đề liên quan sau:
- Các biểu hiện của mạch lạc và LK là khác nhau, nhưng không hoàn toàn đối
lập nhau Biểu hiện của mạch lạc được hiểu rộng, bao gồm các kiểu quan hệ nghĩa -
logic giữa các câu – mệnh đề với nhau (mạch lạc trong triển khai mệnh đề), quan hệ
Trang 38của yếu tố ngôn ngữ với ngữ cảnh tình huống (mạch lạc ới ng c nh tình huống),
quan hệ dung hợp nhau giữa các hành động nói (mạch lạc diễn ngôn hay mạch lạc
trong chức n ng) và quan hệ theo nguyên tắc cộng tác giữa các bộ phận của VB (mạch
lạc theo nguyên tắc cộng tác)
- VB mạch lạc có thể không được đánh dấu bằng các phương tiện LK Ngay cả
những VB có xuất hiện trên bề mặt các phương tiện LK được đánh dấu thì có hay
không có mạch lạc hoặc các mức độ mạch lạc cũng không hoàn toàn giống nhau Vấn
đề sâu xa ở đây, một mặt là liên quan đến phạm trù hình thức và phạm trù nội dung,
mặt khác lại chịu sự tác động của ngữ cảnh, bao gồm có ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh
hẹp Quan sát những cứ liệu cụ thể, có thể nhận thấy rằng trong một chừng mức nhất
định nào đó, LK có tác động làm rõ mặt ngữ nghĩa
- Về mặt định tính, rất khó xác định một cách cụ thể một VB này có tính mạch
lạc nhiều hơn VB kia Tuy nhiên, mạch lạc là yếu tố quyết định sự triển khai VB, dẫn
dắt VB theo những định hướng và mục tiêu đ dự định của người tạo lập VB [8, tr 145]
Cần nói thêm đối với người tiếp nhận VB thì đây là nhân tố giúp cho họ lĩnh hội
nội dung và những tiêu điểm của nội dung
Ngoài ra, chúng ta cũng cần lưu ý rằng phương thức thể hiện tính mạch lạc
không giống nhau trong các kiểu loại VB khác nhau Phương thức thể hiện của kiểu
VB tự sự (truyện, ký…) là tính khách quan, tính liên tục của sự kiện và sự việc được
trình bày Tính liên tục của sự kiện được diễn tả, bị chi phối bởi nhân tố thời gian và
tính hình tuyến của ngôn ngữ Tính hình tuyến của ngôn ngữ thì quy định nghiêm ngặt
trình tự trình bày diễn tiến của sự việc Do đó, trong những trường hợp, những chi tiết,
những sự việc mà tính hình tuyến của ngôn ngữ và nhân tố thời gian không đáp ứng
được yêu cầu của việc thể hiện, trình bày thì bắt buộc phải dùng những phương tiện
Trang 39ngôn ngữ Đó là những phương thức LK có giá trị hồi chỉ để quay về quá khứ hoặc có giá trị dự báo để hướng đến tương lai, tức khứ chỉ Nếu không thì VB sẽ không đáp ứng được tính mạch lạc và tính logic của hiện thực
(7) Chỉ lát n a người ta rước Dần đi Đêm hôm nay chỉ còn mình ông với hai đứa
trẻ con Nhà sẽ vắng ngắt vắng ngơ, chẳng khác gì ngày vợ ông mới chết đi
Rồi chỉ mươi bữa, nửa tháng là ông phải bỏ nốt hai đứa con trai để đi ngược
[37, NC, ĐMG
Các từ ngữ được in nghiêng chính là các phương tiện, làm cho các sự kiện đ
diễn ra trước được nói sau mà vẫn đảm bảo tính logic ề thời gian Bởi vì, mạch lạc là
sự liên tục logic (về thời gian hoặc không gian), là sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các thông báo, sự kiện, hành động cụ thể Các phương tiện và phương thức LK giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc thể hiện tính mạch lạc của VB tự sự nói riêng và các VB nói chung
VB trữ tình tiêu biểu là VB thơ VB trữ tình dùng ngôn ngữ để phản ánh thế giới nội tâm của con người (chủ yếu là của tác giả) bằng cách trực tiếp bộc lộ những cảm xúc, nêu lên những suy nghĩ, tình cảm, tâm trạng Tính mạch lạc ở VB trữ tình được xây dựng từ quá trình phát triển cảm xúc, tình cảm, tâm trạng của người viết Vậy, tính
mạch lạc trong VB trữ tình là sự thể hiện ở logic tâm trạng Do đó, trong thơ, chúng ta
sẽ thường gặp những trường hợp mà logic sự việc, sự kiện bị đảo lộn, đồng thời xuất hiện những yếu tố thoạt nhìn có vẻ phi lý để biểu đạt tâm trạng của nhân vật trữ tình,
và như thế mà vẫn đảm bảo tính mạch lạc của VB Nguyễn Du có thể được xem là nhà thơ bậc thầy trong nghệ thuật thể hiện tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình:
(8) Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa …
[49, ND, TK]
Trang 40Tâm trạng phức tạp của Thuý Kiều trong đêm ‘trao duyên’ cho Thuý Vân, được diễn tả bằng những ngôn từ rất ‘lạ lẫm, phi lý’ đối với Thuý Vân Thuý Vân rất ngạc
nhiên khi nghe chị nói những từ ngữ bất thường đối với mình!
em xét một vài ví dụ khác:
(9) Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá, Rất đậm hương và rộn tiếng chim… [82, TH, TÂ]
(10) Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!
Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp!
Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn [7, CLV, TT] Trong khi đó tính mạch lạc trong VB nghị luận thể hiện cách lập luận của người nói hoặc người viết Lập luận thì phải tuân thủ theo quy tắc logic Lập luận không mạch lạc thì biểu hiện một tư duy lộn xộn, gây khó hiểu hoặc nhàm chán cho người đọc hoặc người nghe Quy tắc logic của lập luận là sự thể hiện việc sắp xếp các luận điểm, luận chứng, luận cứ… và phải gồm có các phần nêu vấn đề, giải quyết vấn đề và kết luận Chắc chắn các phương thức LK, nhất là PN phải được sử dụng để đảm bảo tính logic, tính mạch lạc của VB nghị luận
(11) Một sự thực cần thừa nhận là: virus máy tính đang tồn tại và đang phá hoại (1)
hưng chúng ta có thể hoàn toàn ngăn chặn và tiêu diệt vì cho dù có tinh quái đến mấy thì chúng cũng chỉ là những chương trình máy tính do con người bằng
xương bằng thịt lập ra Và cách phòng chống virus tốt nhất là chủ động tấn công vào chúng Cũng như trên chiến trường, càng hiểu biết vầ kẻ thù bao nhiêu thì khả năng chiến thắng càng lớn bấy nhiêu Quyển sách này ra đời nhằm đáp ứng cho mục tiêu đó: hiểu biết và phòng chống virus máy tính (5)
[63, NMT & NVH, TVTH]