Tuy nhiên, Việt Nam lại chưa chú trọng đúng mức đến việc khai thác các quy định của tổ chức này, tạo cơ sở cho việc xây dựng và sử dụng các rào cản hợp pháp trong thương mại quốc tế nhằm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
HÀ THỊ THANH BÌNH
KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THỊ BÍCH THỌ
PGS.TS PHẠM DUY NGHĨA
TP HỒ CHÍ MINH - 2010
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin nêu trong Luận án là trung thực và chính xác Các kết quả nghiên cứu trình bày trong Luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tất cả các trích dẫn sử dụng trong Luận án đều được chú thích đầy đủ và chính xác.
Tác giả Luận án
Hà Thị Thanh Bình
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ 11
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề hạn chế thương mại 11
1.1.1 Tính chất hai mặt của tự do hóa thương mại 12
1.1.1.1 Lợi ích của tự do hóa thương mại 12
1.1.1.2 Mặt trái của tự do hóa thương mại 13
1.1.2 Hạn chế thương mại 16
1.1.2.1 Khái niệm hạn chế thương mại 16
1.1.2.2 Dấu hiệu của hạn chế thương mại 18
1.1.3 Cơ sở lý luận của việc duy trì các biện pháp hạn chế thương mại 19
1.1.3.1 Dưới góc độ kinh tế 20
1.1.3.2 Dưới góc độ chính trị 24
1.2 Khía cạnh pháp lý của vấn đề hạn chế thương mại 29
1.2.1 Cơ sở lý luận của việc duy trì các biện pháp hạn chế thương mại trong hệ thống pháp luật thương mại quốc tế của WTO 30
1.2.2 Khái quát về các biện pháp hạn chế thương mại theo quy định của WTO 33
1.2.3 Cơ sở lý luận của việc duy trì các biện pháp hạn chế thương mại trong hệ thống pháp luật quốc gia 37
1.2.4 Sự cần thiết của việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại ở Việt Nam .39
Kết luận Chương 1 44
CHƯƠNG 2 46
CƠ SỞ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM 46
2.1 Khái quát về cơ chế pháp lý điều chỉnh hoạt động nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam 46
2.1.1 Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu 47
Trang 42.1.2 Các biện pháp kiểm soát nhập khẩu chuyên ngành 51
2.2 Các quy định của WTO và việc sử dụng một số biện pháp hạn chế thương mại hàng hóa cụ thể ở Việt Nam 55
2.2.1 Biện pháp thuế quan 55
2.2.1.1 Theo quy định của WTO 55
2.2.1.2 Việc áp dụng ở Việt Nam 58
2.2.2 Các biện pháp phi quan thuế 60
2.2.2.1 Biện pháp hạn chế định lượng 61
2.2.2.2 Biện pháp tiêu chuẩn kỹ thuật 69
2.2.2.3 Biện pháp trợ cấp 79
2.2.2.4 Biện pháp tự vệ 83
2.2.2.5 Các biện pháp mang tính hành chính 87
2.2.3 Các quy định của WTO về đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển và khả năng áp dụng cho Việt Nam 93
2.3 Đánh giá chung việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 97
Kết luận Chương 2 100
CHƯƠNG 3 102
CƠ SỞ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM 102
3.1 Đặc trưng của thương mại dịch vụ và của các biện pháp hạn chế thương mại trong lĩnh vực này 102
3.1.1 Đặc trưng của thương mại dịch vụ 102
3.1.2 Đặc trưng của các biện pháp hạn chế thương mại trong lĩnh vực dịch vụ 104 3.2 Khái quát về tình hình mở của thị trường dịch vụ của Việt Nam với tư cách là một thành viên WTO 106
3.3 Các quy định của WTO và việc sử dụng một số biện pháp hạn chế thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam 114
3.3.1 Các biện pháp liên quan đến việc gia nhập thị trường 116
3.3.1.1 Theo quy định của WTO/GATS 116
3.3.1.2 Mức độ tương thích của pháp luật và thực tiễn ở Việt Nam 119
Trang 53.3.2 Các biện pháp liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia 124
3.3.2.1 Theo quy định của WTO/GATS 124
3.3.2.2 Mức độ tương thích của pháp luật và thực tiễn ở Việt Nam 126
3.3.3 Các biện pháp hình thành do quy định của pháp luật trong nước 128
3.3.3.1 Theo quy định của WTO/GATS 128
3.3.3.2 Mức độ tương thích của pháp luật và thực tiễn ở Việt Nam 132
3.3.4 Các biện pháp hình thành do việc áp dụng ngoại lệ 138
3.3.4.1 Theo quy định của WTO/GATS 138
3.3.4.2 Việc vận dụng ở Việt Nam 141
3.3.5 Các biện pháp hình thành do trợ cấp 142
3.3.5.1 Theo quy định của WTO/GATS 142
3.3.5.2 Việc vận dụng ở Việt Nam 142
3.3.6 Các quy định của WTO về đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển 143
3.4 Một số quy định khác của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng có tính chất hạn chế việc cung ứng dịch vụ qua phương thức hiện diện thương mại 144
3.4.1 Các quy định mang tính thủ tục để thiết lập hiện diện thương mại 145
3.4.2 Các quy định về kinh doanh có điều kiện đối với một số ngành, phân ngành dịch vụ nhất định 150
3.4.3 Các quy định nhằm mục đích hỗ trợ và hiện thực hóa quyền tiếp cận thị trường của dịch vụ và nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài 156
Kết luận Chương 3 159
CHƯƠNG 4 161
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI SAU KHI GIA NHẬP WTO 161
4.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định pháp luật và các nguyên tắc hoàn thiện pháp luật Việt Nam 161
4.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định pháp luật 161
4.1.2 Các nguyên tắc hoàn thiện các quy định của pháp luật 162
Trang 64.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam liên quan đến việc sử dụng
các biện pháp hạn chế thương mại 164
4.2.1 Tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế theo quy định của WTO và vận dụng linh hoạt các ngoại lệ để bảo vệ lợi ích quốc gia .164
4.2.2 Nghiên cứu và vận dụng triệt để các quy định của WTO về đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển, tranh thủ cơ hội nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngành kinh tế trong nước .166
4.2.3 Nhận thức rõ ràng về vai trò và mục tiêu của việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại nhằm duy trì hợp lý việc bảo hộ theo nguyên tắc có chọn lọc 167 4.2.4 Chuyển hóa các cam kết gia nhập WTO vào pháp luật quốc gia 170
4.2.4.1 Cơ sở pháp lý của yêu cầu nội luật hóa các cam kết gia nhập WTO 170
4.2.4.2 Yêu cầu của thực tiễn đối với việc chuyển hóa các cam kết gia nhập WTO vào pháp luật quốc gia 171
4.3 Những giải pháp cụ thể để sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại một cách hữu hiệu ở Việt Nam 174
4.3.1 Trong lĩnh vực thương mại hàng hóa 174
4.3.1.1 Biện pháp thuế quan 175
4.3.1.2 Các biện pháp phi quan thuế 177
4.3.2 Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ 186
Kết luận Chương 4 200
KẾT LUẬN 202
CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 205
ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 205
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 206
PHỤ LỤC I 221 CÁC YÊU CẦU VỀ MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ THEO WTO/GATS.221
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ACV : Hiệp định về Xác định trị giá hải quan
AoA : Hiệp định Nông nghiệp
ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Châu Á
ATC : Hiệp định về thương mại hàng dệt may
CPC : Hệ thống phân loại các sản phẩm chủ yếu
DNCVĐTNN : Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
DSU : Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
GATS : Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ
GATT : Hiệp định chung về Thương mại và thuế quan
GSP : Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập
ILP : Hiệp định về Các thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PSI : Hiệp định về Kiểm định hàng hóa trước khi vận
chuyển/đưa xuống tàu
SA : Hiệp định về Các biện pháp tự vệ
SCM : Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng
SPS : Hiệp định về Các biện pháp kiểm dịch động thực vậtTBT : Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại TRIMS : Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương
mại TRIPS : Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến thương mại
của quyền sở hữu trí tuệ WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
UNCTAC : Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế góp phần làm cho thương mại quốc
tế ngày càng phát triển Tự do hóa thương mại đang là một xu thế của thế giới với mục tiêu tối đa hóa lợi thế so sánh của các quốc gia, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Tuy nhiên, tự do hóa thương mại là một vấn đề mang tính hai mặt Trong quá trình hướng tới thương mại
tự do, nhiều thách thức và khó khăn đòi hỏi các quốc gia phải vượt qua Đặc điểm cơ bản của kinh tế thế giới hiện nay là sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia
và vì thế tự do hóa thương mại có thể đem lại lợi ích to lớn cho quốc gia này nhưng đồng thời có thể gây thiệt hại cho nền kinh tế trong nước của quốc gia khác Ngay cả trong nội bộ một nước, tự do hóa thương mại đôi khi mang lại lợi ích cho một ngành sản xuất này nhưng lại gây thiệt hại cho một ngành sản xuất khác Vì nhiều lý do khác nhau, các quốc gia đã, đang và sẽ tiếp tục sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ các ngành sản xuất cũng như các doanh nghiệp trong nước trước áp lực cạnh tranh từ bên ngoài Tuy nhiên, việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại phải trong khuôn khổ pháp luật quốc tế, phù hợp với cam kết của mỗi quốc gia trong hệ thống thương mại quốc tế Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề pháp lý liên quan đến việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại là một vấn đề được mọi quốc gia quan tâm, đặc biệt là các nước đang phát triển
Đối với Việt Nam, vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng vì nước ta đang nỗ lực để tham gia vào quá trình tự do hóa thương mại với mong muốn tranh thủ các cơ hội mà quá trình này tạo ra cũng như hạn chế những tác động tiêu cực mà quá trình này có thể đem lại Thực tiễn sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cho thấy, nước ta đang nỗ lực để thực hiện các cam kết của mình trong đó có việc hoàn thiện các quy định của pháp luật trong nước Tuy nhiên, Việt Nam lại chưa chú trọng đúng mức đến việc khai thác các quy định của tổ chức này, tạo cơ sở cho việc xây dựng và sử dụng các rào cản hợp pháp trong thương mại quốc tế nhằm đối phó với những thách thức mà một nước đang phát triển phải đối mặt trong quá trình tự do hóa thương mại Hiện tại, Việt Nam mới chỉ chú ý đến vấn đề làm thế nào để thực hiện các cam kết quốc tế và làm thế nào để có
Trang 9thể vượt qua những quy định có tính rào cản do các nước khác đặt ra đối với hoạt động xuất khẩu của mình mà chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng những quy định pháp lý để có thể sử dụng những biện pháp hạn chế sự tham gia thị trường trong nước của hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ trong nước, chống lại các tác động bất lợi của quá trình tự do hóa thương mại Nghiên cứu về vấn đề này sẽ góp phần tìm ra các giải pháp pháp lý nhằm xây dựng và sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại theo hướng vừa bảo hộ được các ngành sản xuất trong nước vừa không vi phạm các “luật
chơi” quốc tế Từ những lý do nêu trên, tác giả đã chọn vấn đề “Khía cạnh pháp lý
của vấn đề hạn chế thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” làm đề tài
của Luận án tiến sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề hạn chế thương mại nói chung và đặc biệt là đối với thương mại hàng hóa thực chất không phải là vấn đề mới trong thương mại quốc tế Hạn chế thương mại với ý nghĩa vừa là những biện pháp bảo hộ, vừa là những rào cản trong thương mại quốc tế cũng đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu, trong đó tiêu biểu là các công trình dưới đây:
2.1 Ở nước ngoài
Trên thế giới đã có một số sách chuyên khảo nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến tự do hóa thương mại và các quy định pháp lý của WTO, trong đó ít nhiều
có đề cập đến các biện pháp hạn chế thương mại Có thể liệt kê như: các sách
International Trade and Investment của Franklin R Root (1973), The World Trading System: Law and Policy of International Economic Relations của John H
Jackson (1997), Global Political Economy: Theory and Practice của Theodore H Cohn (2000), International Trade Law: Theory and Practice của Raj Bhala (2001),
The Political Economy of the World Trading System của Bernard M Hoekman và
Michel M Kostecki (2001), Globalisation and Its Discontents của Joseph E Stiglitz (2002), Toàn cầu hóa và những hiện thực mới của Mahathir Mohamad (2004),
International business – the challenges of globalization của John J Wild et al
(2005), the Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Case and
Materials của Peter Van den Bossche (2005), và Making Globalization Work của
Trang 10Joseph E Stiglitz (2006) …; các bài báo như “Services trade: past liberalization and future challenges” của Gary Hufbauer and Sherry Stephenson (2007) đăng trên tạp
chí Journal of International Economic Law, bài “Determining the necessity of
domestic regulations in services: the best is yet to come” của Panagiotis Delimatsis
(2008), đăng trên tạp chí European Journal of International Law v.v
Mặc dù có đề cập ở các mức độ khác nhau đến các biện pháp hạn chế thương mại với ý nghĩa là các công cụ để bảo hộ một số ngành sản xuất và dịch vụ trong nước, các công trình nghiên cứu nêu trên chưa tiếp cận đến các vấn đề pháp lý về hạn chế thương mại của Việt Nam
2.2 Ở Việt Nam
Ở trong nước, cũng đã có nhiều sách chuyên khảo và nhiều bài báo đề cập
đến vấn đề hạn chế thương mại ở các mức độ khác nhau như cuốn Lựa chọn bước đi
và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại của GS TS Nguyễn Thị
Mơ (2004), cuốn Pháp luật thương mại dịch vụ Việt Nam và hội nhập kinh tế quốc
tế của PGS TS Nguyễn Như Phát và TS Phan Thảo Nguyên (2006), cuốn Các ngành dịch vụ Việt Nam: Năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế Quốc tế của
PGS.TS Nguyễn Hữu Khải và ThS Vũ Thị Hiền (2007), cuốn Quản lý hoạt động
xuất nhập khẩu, cơ chế, chính sách và biện pháp của PGS TS Nguyễn Hữu Khải
(Chủ biên) (2007), cuốn Tự do hóa thương mại dịch vụ trong WTO: Luật và thông lệ của TS Vũ Như Thăng (2007), … Về các bài viết trên các tạp chí, có thể kể đến bài
“Tác động của hội nhập kinh tế khi Việt Nam gia nhập WTO” của Ths Trần Hồng
Minh (2006) đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự Báo, bài “Điều chỉnh các rào cản
thương mại của Việt Nam thời kỳ hậu WTO” của TS Nguyễn Tiến Thuận (2007)
đăng trên Tạp Chí Nghiên cứu Tài chính kế toán, bài “Tự do hóa thương mại và hiện tượng chảy máu tài chính” của TS Nguyễn Văn Minh (2007), đăng trên Tạp chí Tia
sáng và bài Necessary reform of insurrance business law in Vietnam after its
accession to the World Trade Organization: Prudential regulatory aspects của TS
Vũ Như Thăng (2007) đăng trên tạp chí Fordham Journal of Coporate and Finance
Law v.v.v… Liên quan nhiều hơn đến nội dung nghiên cứu của Luận án này có cuốn
“Rào cản trong thương mại quốc tế” của Viện nghiên cứu thương mại, Bộ Thương
mại, do PGS TS Đinh Văn Thành chủ biên (2005) Tuy nhiên, cuốn sách này đề
Trang 11cập đến các rào cản trong thương mại quốc tế nói chung và chỉ dừng lại ở việc mô tả các rào cản đối với thương mại hàng hóa mà chưa đề cập đến các biện pháp hạn chế thương mại, từ góc độ pháp lý, của riêng Việt Nam cũng như chưa nghiên cứu về các hạn chế thương mại trong lĩnh vực dịch vụ Ngoài ra, mặc dù trong công trình nghiên cứu này, các tác giả cũng ít nhiều để cập đến việc xây dựng các biện pháp để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, nhưng mục đích chính của các tác giả của công trình trên lại là phân tích các biện pháp để giúp các doanh nghiệp Việt Nam vượt qua các rào cản của các nước khác đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam
Cuốn “Hàng rào phi thuế trong chính sách thương mại quốc tế” của TS Nguyễn
Hữu Khải (2005) cũng chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp phi thuế đối với thương mại hàng hóa, trong đó chủ yếu là các khía cạnh kỹ thuật và kinh tế của các rào cản phi thuế và một số kiến nghị để doanh nghiệp Việt Nam đối phó với các rào cản khi xuất khẩu hàng hóa
Có thể nhận xét rằng phần lớn các công trình được đề cập ở trên tiếp cận vấn
đề ở khía cạnh đề cao tự do hóa thương mại, hoặc chủ yếu nhìn nhận vấn đề hạn chế thương mại với ý nghĩa là các rào cản trong thương mại quốc tế cần phải xóa bỏ hoặc tìm giải pháp để vượt qua Mặc dù các công trình nghiên cứu đã được công bố của các tác giả khác là nguồn tham khảo quý giá cho tác giả của Luận án này, chưa
có một luận án hay công trình nào phân tích khía cạnh pháp lý của các biện pháp hạn chế thương mại với ý nghĩa là các biện pháp vừa phù hợp với luật chơi chung vừa bảo hộ được các ngành sản xuất và các doanh nghiệp trong nước Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng, các công trình nghiên cứu nêu trên được thực hiện trước khi Việt Nam gia nhập WTO Luận án này được thực hiện trong giai đoạn cuối cùng của quá trình đàm phán và hoàn thành sau khi Việt Nam đã gia nhập WTO được hơn 2 năm nên tác giả Luận án dựa trên những cam kết đã có của Việt Nam khi gia nhập vào tổ chức này nhằm tìm kiếm các giải pháp phù hợp liên quan đến vấn đề hạn chế thương mại Có thể khẳng định rằng Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu khía cạch pháp lý của vấn đề hạn chế thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về hạn chế thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, sau khi phân tích khía cạnh pháp lý của vấn đề hạn chế thương mại ở Việt Nam, đặc biệt là những bất cập của pháp luật Việt Nam trong việc quy định về các biện pháp hạn chế thương mại, Luận
án đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam, tạo cơ sở cho việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại theo hướng vừa phù hợp cam kết quốc tế của Việt Nam trong WTO vừa có thể bảo hộ hợp pháp và hợp lý các ngành sản xuất trong nước và các doanh nghiệp Việt Nam trước áp lực cạnh tranh quốc tế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án phải thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại trong thương mại quốc tế thông qua việc phân tích các cơ sở kinh tế, chính trị
và pháp lý của việc duy trì các biện pháp này
- Phân tích các quy định của WTO tạo cơ sở cho việc duy trì các biện pháp hạn chế thương mại đối với việc lưu thông hàng hóa (thương mại hàng hóa), cung cấp dịch vụ xuyên biên giới (thương mại dịch vụ) cũng như thực tiễn áp dụng những quy định đó thông qua một số phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp của tổ chức này; qua đó đánh giá khả năng mang lại hệ quả hạn chế thương mại của các biện pháp này
- Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn sử dụng những quy định đó liên quan đến việc áp dụng những biện pháp hạn chế thương mại, đối chiếu với các quy định tương ứng của WTO và so sánh với một số quy định liên quan trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
- Đề xuất những giải pháp pháp lý để Việt Nam có thể tối đa hóa quyền lợi của mình với tư cách là một thành viên WTO trong việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại được phép nhằm góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và nhằm thực hiện những mục tiêu quốc gia khác Bên cạnh đó, Luận án cũng sẽ
Trang 13phân tích các biện pháp hạn chế thương mại đang được sử dụng ở Việt Nam nhưng không còn phù hợp với quy định của WTO nhằm khuyến cáo bãi bỏ hoặc hạn chế sử dụng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các biện pháp hạn chế thương mại được phép sử dụng theo quy định của WTO trong hai lĩnh vực thương mại chủ yếu là thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ Trong Luận án này, đôi lúc tác giả dùng thuật ngữ “rào cản thương mại” thay cho thuật ngữ “các biện pháp hạn chế thương mại” Về bản chất, hai thuật ngữ này đều dùng để chỉ các biện pháp có hệ quả hạn chế sự di chuyển tự do của hàng hóa và dịch vụ qua biên giới các quốc gia Tuy nhiên, khi sử dụng thuật ngữ “các biện pháp hạn chế thương mại”, tác giả tiếp cận vấn đề từ góc nhìn của quốc gia nhập khẩu Ngược lại, khi sử dụng thuật ngữ
“rào cản thương mại”, tác giả đứng từ góc nhìn của quốc gia xuất khẩu Hoạt động thương mại là đối tượng nghiên cứu của Luận án này là thương mại quốc tế, là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ xuyên biên giới quốc gia
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung, Luận án nghiên cứu các biện pháp hạn chế thương mại hợp pháp và
đang được sử dụng phổ biến theo quy định của WTO trong thương mại hàng hóa
và thương mại dịch vụ Luận án sẽ không nghiên cứu các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư có liên quan đến thương mại Nếu một đôi chỗ trong luận án có phân tích những vấn đề về đầu tư trực tiếp thì những phân tích đó là nhằm bổ trợ
và làm rõ thêm các biện pháp hạn chế thương mại trong hai lĩnh vực thương mại
hàng hóa và thương mại dịch vụ Luận án cũng không nghiên cứu việc sử dụng
các biện pháp hạn chế thương mại đối với từng hoặc tất cả các ngành hàng hoặc tất cả các lĩnh vực mà chỉ nghiên cứu cơ sở pháp lý của việc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại nói chung và thực tiễn áp dụng các biện pháp đó ở một
số lĩnh vực đáng lưu ý được lấy làm ví dụ minh họa
Mặc dù WTO còn cho phép các thành viên áp dụng các biện pháp khắc phục
thương mại tạm thời để hạn chế thương mại không công bằng như biện pháp
Trang 14chống bán phá giá và biện pháp áp dụng thuế đối kháng nhằm chống lại hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp bởi chính phủ nước xuất khẩu, Luận án sẽ không nghiên cứu các biện pháp này mà chỉ tập trung vào các biện pháp hạn chế thương mại đối với hoạt động thương mại hợp pháp và công bằng
Luận án cũng sẽ không nghiên cứu vấn đề hạn chế thương mại trong nước với tư
cách là một bộ phận của pháp luật quốc gia điều chỉnh hành vi cạnh tranh của
các doanh nghiệp trong nước và không nghiên cứu các quy định có tính chất hạn
chế thương mại nói chung áp dụng cho cả hàng hóa và dịch vụ trong nước Luận
án chỉ tập trung nghiên cứu dưới góc độ pháp lý việc áp dụng các biện pháp mang tính phân biệt đối xử đối với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam và đề xuất những giải pháp để có thể sử dụng các biện pháp đó một cách một cách hợp pháp và hữu hiệu
- Về không gian, Luận án chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp hạn chế thương mại theo các cam kết của Việt Nam trong WTO, không nghiên cứu các cam kết song phương và khu vực mà Việt Nam là thành viên vì các quy định của WTO liên quan đến vấn đề nghiên cứu của Luận án mang tính chuẩn mực, chi phối các cam kết song phương và đa phương khác
- Về thời gian, Luận án phân tích các biện pháp hạn chế thương mại đang được thừa nhận từ các quy định của pháp luật cũng như một số án lệ liên quan của WTO (từ ngày 1/1/1995 - ngày WTO chính thức hoạt động), các cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức này và pháp luật hiện hành của Việt Nam Khi đề xuất các giải pháp, luận án đưa ra các giải pháp để Việt Nam áp dụng cho giai đoạn sau khi gia nhập WTO
- Bối cảnh hội nhập được nghiên cứu trong Luận án này là hội nhập kinh tế quốc tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước liên quan đến đường lối, chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách về hội nhập kinh tế quốc tế Để luận giải và chứng minh cho các quan điểm của mình, tác giả còn dựa vào các quy định pháp
Trang 15luật quốc tế và pháp luật trong nước, quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế, các nhà nghiên cứu pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật
Tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu của từng chương, mục, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau và nhiều lúc sử dụng tổng hợp các phương pháp nhằm đạt được mục đích nghiên cứu Ví dụ: để làm rõ cơ sở kinh tế của xu hướng tự do hóa thương mại cũng như yêu cầu về bảo hộ các ngành kinh tế trong nước, tác giả đã phân tích và luận giải một số học thuyết kinh tế về thương mại quốc
tế điển hình Sau đó, dựa trên cơ sở phương pháp luận của học thuyết Mác Lênin về hình thái kinh tế xã hội nhằm đánh giá một cách khách quan các học thuyết kinh tế, góp phần luận giải xu thế chung của nền kinh tế toàn cầu…
Tóm lại, trong Luận án này, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phương pháp hệ thống hóa, phương pháp thống kê, phương pháp luận giải, phương pháp phân tích và phương pháp so sánh luật học
6 Những điểm mới và giá trị thực tiễn của Luận án
6.1 Những điểm mới của Luận án
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về khía cạnh pháp
lý của vấn đề hạn chế thương mại đối với thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ theo quy định của WTO tại Việt Nam Điểm mới đáng lưu ý của Luận án
là đã chú trọng phân tích khía cạnh pháp lý của vấn đề hạn chế thương mại trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, vấn đề mà các công trình nghiên cứu trước đó chưa quan tâm hoặc mới chỉ đề cập ở mức độ khái quát
- Luận án đã nghiên cứu và đưa ra những luận cứ khoa học luận giải cho việc duy trì và áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại trong thương mại quốc tế hiện nay trên thế giới và ý nghĩa thiết thực của việc khai thác các biện pháp này ở mức độ phù hợp đối với Việt Nam
- Luận án đã sử dụng các quy định của WTO về vấn đề hạn chế thương mại như một chuẩn pháp lý để đánh giá sự phù hợp của pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề này, qua đó làm rõ những bất cập trong những quy định của pháp luật Việt Nam
Trang 16- Luận án cũng nghiên cứu pháp luật và thực tiễn liên quan đến việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại của một số nước nhằm so sánh với Việt Nam để rút ra những bài học cần thiết.
- Luận án đề xuất những giải pháp pháp lý nhằm giúp Việt Nam khai thác triệt để các qui định của WTO cho phép duy trì việc áp dụng một số biện pháp hạn chế thương mại để bảo hộ hợp lý nền kinh tế trong nước và thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định Đồng thời, Luận án cũng chỉ ra những vấn đề cần hoàn thiện liên quan đến các quy định của pháp luật thực định điều chỉnh vấn đề hạn chế thương mại để Việt Nam có thể thực hiện tốt các cam kết về vấn đề này trong WTO Cần nhấn mạnh rằng do đối tượng nghiên cứu của Luận án mang tính chất chính sách – luật, các kiến nghị được đề xuất phần lớn không nhằm hoàn thiện những điều khoản cụ thể của một văn bản pháp luật cụ thể mà là việc
đề xuất các giải pháp mang tính chính sách chi phối việc ban hành những quy định pháp luật phù hợp để thực hiện mục tiêu khai thác và sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại hợp pháp ở nước ta
6.2 Giá trị thực tiễn của Luận án
Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc nghiên cứu một cách hệ thống khía cạnh pháp lý của vấn đề hạn chế thương mại mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Đề tài có ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ, phù hợp với luật pháp quốc tế và là công cụ pháp lý cho việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại khi cần thiết ở Việt Nam Về ý nghĩa thực tiễn, tác giả hy vọng rằng những kiến nghị nêu trong Luận án sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật của Việt Nam tạo cơ sở cho việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại nhằm mục đích vừa thực hiện đúng các cam kết quốc
tế, vừa sử dụng được các biện pháp hợp pháp để bảo hộ sản xuất trong nước và việc cung ứng dịch vụ nội địa, đối phó với thực tiễn cạnh tranh gay gắt của hàng hóa, dịch vụ và nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài Tác giả tin tưởng rằng kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà nghiên cứu để hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện các qui định của pháp luật có liên quan cũng như là tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập cho giáo viên và sinh
viên ở các cơ sở đào tạo luật Ngoài ra, những nghiên cứu được trình bày trong
Trang 17Luận án này là một kênh thông tin hữu ích cho các doanh nghiệp xuất khẩu đối phó với các rào cản thương mại của các nước vì Luận án có đối chiếu với việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại của một số nước nhằm so sánh và học tập kinh nghiệm của các nước này
7 Kết cấu của luận án
Ngoài lời nói đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận án được trình bày thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và khía cạnh pháp lý của vấn đề hạn chế thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế
Chương 2: Cơ sở pháp luật quốc tế và vấn đề hạn chế thương mại hàng hóa ở Việt Nam
Chương 3: Cơ sở pháp luật quốc tế và vấn đề hạn chế thương mại dịch vụ ở Việt Nam
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về các biện
pháp hạn chế thương mại sau khi gia nhập WTO
Trang 18tế đóng cửa, tự cung tự cấp Tuy nhiên, tự do hóa thương mại có những mặt trái của
nó Lịch sử thương mại quốc tế luôn chứng kiến hai xu hướng chính sách thương mại cùng tồn tại: tự do hóa và bảo hộ, mặc dù trong một số giai đoạn lịch sử nhất định, một trong hai xu hướng có thể thắng thế hơn Thực tiễn cho thấy, tự do hóa thương mại và bảo hộ tồn tại song song như hai mặt của một quá trình, cùng tồn tại
và đấu tranh với nhau, tạo động lực cho sự phát triển của cả thương mại trong nước
và thương mại quốc tế Trong giai đoạn hiện nay, mặc dù tự do hóa thương mại vẫn đang là một xu hướng chiếm ưu thế, không phải là không có những cơ sở cho phép duy trì các biện pháp bảo hộ Đặc biệt là trong bối cảnh mà toàn cầu hóa đang chịu tác động đáng kể của cuộc khủng hoảng tài chính, tín dụng, việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại có khả năng gia tăng trở lại Trong những phân tích cụ thể dưới đây, tác giả Luận án tìm kiếm câu trả lời cho cơ sở lý luận và pháp lý của việc
áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại trong thương mại quốc tế
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề hạn chế thương mại
Tự do hóa thương mại là một quá trình mà việc loại bỏ các rào cản diễn ra dần dần, từng bước Trong thực tiễn thương mại quốc tế, mặc dù tiến trình tự do hóa đang diễn ra với một mức độ tự do cao hơn, chưa lúc nào thương mại quốc tế đạt đến mức độ tự do hoàn toàn và có lẽ khó có thể dự báo đến một lúc nào đó, mức độ
tự do hóa hoàn toàn có thể đạt được khi mà trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới đang ở các mức độ rất khác nhau và mỗi nước đều đang theo đuổi các lợi ích khác biệt Tự do hóa thương mại có mặt trái của nó, bên cạnh những lợi ích mà quá trình này mang lại cho tăng trưởng kinh tế, tự do hóa thương mại cũng
Trang 19tạo ra những thách thức và những rủi ro không nhỏ cho các quốc gia Vì vậy, hầu như không có quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù có nền kinh tế phát triển, đang phát triển hay chậm phát triển lại không có những chính sách nhằm bảo hộ nền kinh tế trong nước ở một mức độ nhất định, trong những giai đoạn lịch sử nhất định và đối với một số ngành, lĩnh vực nhất định.
1.1.1 Tính chất hai mặt của tự do hóa thương mại
1.1.1.1 Lợi ích của tự do hóa thương mại
Thương mại tự do mang tính hai mặt, về cơ bản quá trình tự do hóa thương mại đem lại những lợi ích sau đây:
Thứ nhất, tự do hóa thương mại hai chiều hỗ trợ cho các quốc gia phát huy
lợi thế so sánh, tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà mình
có lợi thế và mua từ bên ngoài các sản phẩm mà mình phải sản xuất với chi phí cao hơn, kém hiệu quả hơn Tự do hóa thương mại tạo áp lực để các quốc gia chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ đó, thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa sản xuất, làm gia tăng cạnh tranh, thúc đẩy sáng tạo và qua đó làm giảm giá thành sản phẩm [13, tr 35] Bằng cách này, tự do hóa thương mại mang lại cơ hội cho người tiêu dùng trong nước được sử dụng nhiều chủng loại sản phẩm với giá cả thấp Như vậy, xét dưới góc độ kinh tế, tự do hóa thương mại nhìn chung đã giúp nâng cao chất lượng cuộc sống
Thứ hai, tự do hóa thương mại làm tăng cường quá trình chuyển giao công
nghệ và tri thức giữa các nước, đặc biệt là giữa những nước phát triển và các nước đang phát triển, tạo điều kiện để các nước này phát triển nhanh hơn thông qua việc khai thác có hiệu quả hơn các tài nguyên trong và ngoài nước
Thứ ba, tự do hóa thương mại giúp các dòng vốn được điều tiết và đưa đến
những nơi đầu tư hiệu quả Trong quá trình này, nhiều nước đang phát triển biết tận dụng lợi thế so sánh của mình có thể thu hút được các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài để phục vụ cho sự phát triển nền kinh tế nội địa Thực tiễn cho thấy sự phát triển của các nước công nghiệp mới (New Industrialized Countries – NICs), các con rồng châu Á, một số nước thuộc Hiệp hội các nước Đông Nam Châu Á
Trang 20(ASEAN) và Trung quốc cũng nhờ một phần rất quan trọng vào nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài [65, tr 193]
Thứ tư, tự do hóa thương mại còn giúp các quốc gia tăng cường hiểu biết lẫn
nhau với tư cách là các bạn hàng, là đối tác kinh tế nhờ đó tạo nên “tấm bình phong vật chất to lớn có khả năng ngăn ngừa xung đột quốc tế, tăng thêm lòng tin và hợp tác giữa các quốc gia” [31, tr 6-7], [42, tr 15]
1.1.1.2 Mặt trái của tự do hóa thương mại
Bên cạnh việc đem lại những cơ hội tốt cho các quốc gia, quá trình tự do hóa thương mại cũng khiến các nền kinh tế phải đối mặt với những thách thức lớn do những tác động tiêu cực mà quá trình này mang lại, cụ thể như sau:
Thứ nhất, thương mại tự do làm gia tăng sự bất bình đẳng và trầm trọng thêm
sự bất công xã hội trên thế giới và trong nội bộ mỗi quốc gia Sự phân hóa giàu, nghèo ngày càng trở nên sâu sắc [125, tr 13] vì tự do hóa thương mại phần lớn chỉ mang lại lợi ích cho những ai biết vận dụng lợi thế, vượt qua thách thức Trong thực
tế, các quốc gia phát triển được lợi nhiều nhất từ tự do hóa thương mại Sau Vòng Đàm phán Uruguay, 70% thặng dư thương mại dồn về các nước phát triển, trong khi các nước đang phát triển với 85% dân số toàn cầu chỉ nhận được 30% thặng dư đó
và chúng chủ yếu đến với các nước có thu nhập trung bình [122, tr 78] Số liệu thống kê cũng cho thấy rằng mặc dù thu nhập bình quân đầu người trên thế giới tăng 2,5% hàng năm, trong hai thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, số người nghèo đói với thu nhập dưới một đô la Mỹ một ngày tăng thêm khoảng 100 triệu người [121, tr 17] Như vậy, bản thân tự do hóa thương mại không giải quyết được vấn đề nghèo đói mà còn có thể làm cho vấn đề này trở nên trầm trọng hơn Đối với mỗi nền kinh
tế, tự do hóa thương mại có thể đem lại sự tăng trưởng và phát triển cho một vài ngành kinh tế nhưng cũng có thể có những ảnh hưởng tiêu cực đến các ngành kinh tế khác và có thể gây nên những vấn đề kinh tế xã hội nhất định như tình trạng mất việc làm, giảm thu nhập của các ngành, lĩnh vực có năng lực cạnh tranh quốc tế kém Một nghiên cứu của WTO trong năm 2003 cho thấy tại Hoa Kỳ, khi nhập khẩu thép gia tăng, 45.000 công nhân trong ngành thép đã bị thất nghiệp tính từ năm 1997
và 30% năng lực sản xuất thép của nước này đã bị giảm tính từ năm 1998; tại
Trang 21Mozambique, tự do hóa thương mại đối với sản phẩm hạt điều đã làm cho từ 8.500 đến 10.000 công nhân chế biến hạt điều bị thất nghiệp [124, tr 26]
Thứ hai, sự gia tăng cạnh tranh toàn cầu do kết quả của quá trình tự do hóa
thương mại làm cho các ngành sản xuất và dịch vụ có năng lực canh tranh thấp trong
đó có cả các ngành công nghiệp truyền thống ở các nước đang phát triển bị tác động mạnh và có nguy cơ bị xóa bỏ Trong khi xuất khẩu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia xuất khẩu thì việc nhập khẩu quá ồ ạt do thiếu các biện pháp hạn chế hợp lý
sẽ có nguy cơ bóp chết sản xuất trong nước của nước nhập khẩu, đặc biệt đối với những ngành sản xuất non trẻ và cuối cùng dẫn đến sự phụ thuộc vào sản phẩm nhập khẩu Chuyển giao công nghệ nếu thực hiện không có chọn lọc sẽ dẫn đến tình trạng quốc gia tiếp nhận công nghệ sẽ trở thành nơi tiêu thụ công nghệ cũ và lạc hậu của các nước khác Việc cho phép đầu tư nước ngoài một cách tự do và thiếu định hướng về lĩnh vực và địa bàn có thể dẫn đến mất cân đối nền kinh tế Điều này ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của những quốc gia đang và kém phát triển
Thứ ba, tự do hóa thương mại làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nước, đặc biệt là sự phụ thuộc của những nước nghèo, những nước đang phát triển vào những nước giàu, những nước phát triển Sự phụ thuộc này dẫn đến tình trạng giảm bớt hoặc hạn chế khả năng hành động độc lập, tự chủ trong chính sách kinh tế của những quốc gia bị phụ thuộc Nền kinh tế và đến một mức độ nào đó là cả chế
độ chính trị của các quốc gia bị phụ thuộc sẽ có thể phải chịu ảnh hưởng của những quyết định và sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát và định đoạt của quốc gia đó Sự phụ thuộc càng lớn càng làm cho các nước đang phát triển dễ dàng bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn kinh tế của các nước khác [42, tr 16] Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay bắt đầu từ Hoa Kỳ và dưới sự xúc tác của toàn cầu hóa cũng đã lan rộng và tác động đến hầu hết các quốc gia trên thế giới
Thứ tư, một thách thức không kém phần gay gắt nữa là tự do hóa thương mại
đang được điều hành một cách thiếu công bằng [122, tr 9] Trong thực tế, các luật lệ chi phối quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu chủ yếu được thiết lập bởi WTO Trong khi đó, WTO là tổ chức quốc tế được vận hành trên cơ sở các quy định đạt được do thương lượng của các quốc gia thành viên Vì thế sự đồng thuận có được ở
tổ chức này là sự cân bằng về khả năng đàm phán và nhân nhượng lẫn nhau Kết quả
Trang 22là chính sách bảo hộ của các nước giàu và sức ép của họ buộc các nước đang và kém phát triển phải tự do hóa hơn nữa để mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa cho các nước công nghiệp phát triển Điều này góp phần làm gia tăng sự bất bình đẳng về lợi ích giữa các nước trên thế giới Mặc dù các quyết định của WTO về thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận, các quyết định này trên thực tế được thông qua một cách không chính thức bởi các cuộc họp kín giữa những thành viên lớn và áp đặt quyết định đó lên các thành viên còn lại của
tổ chức này, do các thành viên đang và kém phát triển bị đặt dưới nhiều áp lực để không thể phản đối [97, tr.5]
B.Jordan, trong bài “Yes to Globalization, But Protect the Poor” đăng trên tạp
chí International Herald Tribune, ngày 21/12/2000, cho rằng “toàn cầu hóa không
bao giờ chỉ toàn đem lại lợi ích hay chỉ đem lại những điều có hại Nó không phải là một thế lực tự nhiên không thể dừng lại mà nó được định hình bởi những người đặt
ra luật lệ.”1 Thêm vào đó, J Stiglitz lý luận rất thuyết phục rằng tự do hóa thương mại có cái giá của nó, chính điều này đã cổ vũ cho việc duy trì các biện pháp hạn chế thương mại [120, tr 18] Ông cho rằng mặc dù các lợi ích mà tự do hóa thương mại đem lại vượt xa cái giá phải trả, điều đó không cho phép chúng ta bỏ qua cái giá phải trả đó Các quốc gia phát triển nhận thức được điều này và bằng chính sách quốc gia của mình họ chú ý giải quyết chúng Như vậy, chính sách kinh tế của mỗi quốc gia phải được xây dựng trên cơ sở chấp nhận và ủng hộ xu thế tự do hóa thương mại, bên cạnh đó chính sách này phải được thiết kế theo cách thức vẫn duy trì được tính tự chủ và khả năng hành động độc lập để quản lý nền kinh tế trong nước Tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế đặt các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển và các nước đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh
tế thị trường (như Việt Nam) trước áp lực cạnh tranh quốc tế Thách thức đặt ra cho các quốc gia này yêu cầu phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ chế quản lý nền kinh tế Việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế như vậy là những cải cách rất lớn và đòi hỏi phải có thời gian và cần nhiều biện pháp để thực hiện Trong quá trình đó, việc vận dụng được các biện pháp hạn chế thương mại được phép theo các cam kết quốc tế là cách hành xử khôn ngoan và có hiệu quả để có thể tranh thủ thời gian, phát huy nội
1 Nguyên bản tiếng Anh: “Globalization is never entirely beneficial nor entirely harmful It is not an unstoppable force of nature, but is shaped by those who set the rules” Xem [129, tr.15]
Trang 23lực, đối phó với cạnh tranh từ bên ngoài, hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới Đối với các nước đang và chậm phát triển, tự do hóa từng bước và thực hiện có
lộ trình làm giảm bớt tác động bất lợi của sự điều chỉnh nền kinh tế, hạn chế những tiêu cực nhất thời của tự do hóa thương mại như nạn thất nghiệp hay sự suy giảm quá đột ngột của một số ngành kinh tế không có lợi thế cạnh tranh v.v Tính hai mặt của tự do hóa thương mại đã tạo cơ sở lý luận cho việc sử dụng các biện pháp có tính chất hạn chế thương mại trong thương mại quốc tế
1.1.2 Hạn chế thương mại
1.1.2.1 Khái niệm hạn chế thương mại
Các lý thuyết của thương mại quốc tế chứng minh rằng thương mại tự do sẽ thúc đẩy việc gia tăng sản lượng hàng hóa và thu nhập của toàn thế giới với hao phí lao động không đổi [128, tr 410] Đồng thời, tự do hóa thương mại cũng giúp cho các quốc gia tăng năng suất lao động và tăng cường việc tiêu thụ hàng hóa hơn so với nền kinh tế tự cung tự cấp Tuy nhiên, cũng không thực tế nếu cho rằng tự do hóa thương mại sẽ mang lại lợi ích cho tất cả mọi người mà không làm cho một bộ phận nhất định của xã hội bị đặt vào tình trạng bất lợi hơn [109, tr 303] Do trình độ phát triển về kinh tế của các quốc gia là khác nhau nên việc xóa bỏ biên giới các quốc gia thông qua tự do hóa thương mại không phải là một việc làm đơn giản và có thể thực hiện được ngay một lúc Mặc dù thương mại tự do mang tính hai chiều, do hạn chế về trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh mà tự do hóa thương mại thực chất đôi khi chỉ mang lại lợi ích cho các nước lớn, các nước phát triển trong khi lại
có thể gây thiệt hại cho các nước nhỏ và nước có trình độ phát triển thấp Thực tiễn toàn cầu hóa kinh tế mà chủ yếu thông qua tự do hóa thương mại trong vài thập niên gần đây cho thấy quá trình này đã có thể mang lại lợi ích cho các quốc gia đang phát triển có chính sách tốt, nhưng lại gây tác hại cho các quốc gia có chính sách tồi [66,
tr 9] Một số kết quả nghiên cứu cho thấy không phải đối với tất cả các quốc gia, tự
do hóa thương mại luôn luôn đem lại tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Trong khi các công trình nghiên cứu kinh tế đều cho rằng chính sách thương mại mở cửa có chọn lọc (tức là vấn đề bảo hộ, nhập khẩu và xuất khẩu đều có sự chọn lựa cho phù hợp với sự phát triển của quốc gia mình) sẽ đem lại kết quả khả quan hơn [55, tr 38] Điều này có nghĩa là, bên cạnh những quy định mang tính chất xúc tiến và thúc đẩy
Trang 24tự do hóa thương mại, các nước cũng đều đưa ra những quy định có tính chất hạn chế thương mại trong một chừng mực nhất định và ở một số giai đoạn nhất định Và chính những quy định mang tính hạn chế thương mại được sử dụng trong những điều kiện nhất định, ở một mức độ nhất định và trong những giai đoạn nhất định lại tạo động lực cho quá trình tự do hóa thương mại
Khó có thể tìm thấy một định nghĩa bao quát cho thuật ngữ “hạn chế thương mại (trade restriction)” trong thương mại quốc tế do xuất phát từ các mục tiêu khác nhau mà cách giải thích về hạn chế thương mại cũng khác nhau Theo Cơ quan thông tin Hoa Kỳ (United State Information Agency - USIA), hạn chế thương mại là
“sự phân biệt đối xử thương mại được áp dụng cho hàng hóa xuất khẩu của một số quốc gia nhất định nhưng lại không áp dụng cho hàng hóa tương tự của các quốc gia khác”2 Theo từ điển Wikipedia, “hạn chế thương mại được coi là một sự hạn chế nhân tạo áp đặt cho việc trao đổi hàng hóa giữa hai quốc gia Đó là kết quả của chính sách bảo hộ nền sản xuất trong nước”3
Các quan điểm nói trên đều coi hạn chế thương mại là các biện pháp chỉ áp dụng đối với thương mại hàng hóa, và về bản chất các biện pháp đó là có tính chất phân biệt đối xử đối với hàng hóa nhập khẩu, có thể là sự phân biệt đối xử đối với hàng hóa tương tự của quốc gia khác (theo định nghĩa của USIA), hay là sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa nhập khẩu so với hàng hóa trong nước (như định nghĩa của Wikipedia)
Hạn chế thương mại với tư cách là đối tượng nghiên cứu của Luận án này có
nghĩa rộng hơn, đó là những quy định pháp luật của một quốc gia có tính chất
phân biệt đối xử và/hoặc việc thực thi các qui định đó mang lại hậu quả phân biệt đối xử đối với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài so với hàng hóa và dịch vụ trong nước nhằm mục đích hạn chế sự tham gia thị trường trong nước của hàng hóa, dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.
2 Nguyên bản tiếng Anh “Commercial discrimination that applies to the exports of certain countries but not to similar goods from other countries” [152]
3 Nguyên bản tiếng Anh “A trade restriction is an artificial restriction on the trade of goods between two countries It is the result of protectionism.” [150].
Trang 25Hạn chế thương mại theo cách tiếp cận này được thể hiện thông qua các biện pháp hạn chế thương mại cụ thể sẽ được phân tích trong Chương II và Chương III của Luận án này.
1.1.2.2 Dấu hiệu của hạn chế thương mại
Hạn chế thương mại được nghiên cứu trong Luận án này là hạn chế thương mại trong thương mại quốc tế Với tư cách là đối tượng nghiên cứu và phù hợp với phạm vi nghiên cứu của Luận án này, hạn chế thương mại có những đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, hạn chế thương mại thể hiện thông qua các biện pháp có tính chất
hoặc mang lại hệ quả phân biệt đối xử với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu so với hàng hóa, dịch vụ được sản xuất và cung cấp bởi pháp nhân và thể nhân trong nước Như vậy, hạn chế thương mại thường được biểu hiện cụ thể bằng các rào cản thương mại (trade barriers) ngăn cản dòng chảy tự nhiên của thương mại từ bên ngoài vào thị trường nội địa Đặc điểm này giúp phân biệt các biện pháp hạn chế thương mại được nghiên cứu trong luận án này với các biện pháp khác nhằm hạn chế kinh doanh đối với một số ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế nội địa như hạn chế cấp phép kinh doanh karaoke tại nơi có mật độ dân cư đông, quy định hạn chế loại hình doanh nghiệp được kinh doanh một số ngành, nghề nhất định như kinh doanh xổ số…
Thứ hai, hạn chế thương mại có thể là kết quả của việc áp dụng những quy
định pháp luật có chủ ý của quốc gia nhập khẩu (pháp luật trong nước) hoặc việc thực thi chúng (thực tế áp dụng pháp luật) mang lại hệ quả hạn chế việc tiếp cận thị trường trong nước của hàng hóa và dịch vụ nước ngoài Thực tế nghiên cứu cho thấy rằng các quy định pháp luật mang tính chất hạn chế thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài một cách trực tiếp ngày càng giảm xuống về số lượng do kết quả của quá trình tự do hóa thương mại quốc tế Trong khi đó, hạn chế thương mại
là kết quả của việc thực thi các quy định pháp luật hoặc do chưa có các quy định của pháp luật điều chỉnh lại ngày càng được các nước sử dụng một cách phổ biến hoặc tinh vi hơn
Thứ ba, trong xu thế toàn cầu hóa về kinh tế hiện nay, hầu hết các quốc gia
đều tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế ủng hộ và thúc đẩy quá trình tự do hóa
Trang 26thương mại mà đại diện điển hình là WTO Vì thế mà hiện nay các quy định có tính chất hạn chế thương mại ở mỗi quốc gia đều phải được xây dựng và thực hiện phù hợp với các quy định của các tổ chức quốc tế mà quốc gia đó là thành viên Mặc dù trong thực tế các quốc gia vẫn còn sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại không phù hợp với pháp luật quốc tế, do giới hạn của phạm vi nghiên cứu, luận án này chỉ
đề cập đến các biện pháp hạn chế thương mại được phép sử dụng theo quy định của WTO
Thứ tư, mục đích chính của các biện pháp hạn chế thương mại là nhằm điều
chỉnh và kiểm soát dòng lưu chuyển của thương mại quốc tế có tác động đến thị trường trong nước Các biện pháp này có thể được thực hiện với chủ đích nhằm bảo
hộ sản xuất trong nước, cân bằng cán cân thanh toán hoặc vì các mục đích không liên quan đến thương mại như thúc đẩy việc sử dụng lao động trong nước, đa dạng hóa hàng hóa sản xuất trong nước hoặc để đạt được các mục tiêu khác của quốc gia
Vì thế, trong một chừng mực nhất định, các biện pháp hạn chế thương mại góp phần bảo vệ được những giá trị quan trọng của mỗi quốc gia [111, tr 811] Tiếp cận từ góc độ này, các biện pháp hạn chế thương mại được các quốc gia vận dụng một cách triệt để, kể cả trong thời kỳ mà xu hướng tự do hóa thương mại đang chiếm ưu thế như hiện nay
Thứ năm, lịch sử phát triển thương mại quốc tế chứng minh rằng hạn chế
thương mại và tự do hóa thương mại luôn đi kèm với nhau, là động lực của nhau và
là động lực cho sự phát triển Các biện pháp hạn chế thương mại thường được sử dụng để hạn chế những tác động tiêu cực của quá trình tự do hóa thương mại nên có tác dụng như là bộ thắng trong một cỗ xe Chính việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại ở mức độ nhất định sẽ tạo động lực cho việc thúc đẩy tự do hóa thương mại
1.1.3 Cơ sở lý luận của việc duy trì các biện pháp hạn chế thương mại
Mặc dù tự do hóa thương mại đã trở thành nội dung nổi bật của thương mại quốc tế, môi trường cạnh tranh quốc tế khốc liệt và mức độ phát triển không đồng đều của các nền kinh tế là các nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc hình thành và tồn tại của các biện pháp hạn chế thương mại Việc duy trì các biện pháp hạn chế thương mại dựa trên những cơ sở kinh tế và chính trị sau đây:
Trang 271.1.3.1 Dưới góc độ kinh tế
Dưới góc độ kinh tế, các biện pháp hạn chế thương mại được hình thành dựa trên những luận điểm sau:
Thứ nhất, trong lịch sử phát triển của kinh tế quốc tế, xu thế bảo hộ mậu dịch
được khởi xướng từ những người theo chủ nghĩa trọng thương với chủ trương thương mại một chiều (xuất siêu) Tiếp sau đó, các nguyên tắc bảo hộ mậu dịch xuất phát từ quan điểm bảo hộ ngành sản xuất non trẻ trong nước của những người theo chủ nghĩa hiện thực trong bối cảnh của cuộc Cách mạng Công nghiệp cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX mà tiêu biểu là Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của Hoa Kỳ - Alexander Hamilton (1755-1804) và nhà kinh tế duy thực người Đức Friedrick List (1789-1864) Theo quan điểm của những nhà kinh tế này, chính sách phát triển kinh
tế phải mang tính hiện thực, bao gồm việc nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển công nghiệp, vai trò của sự can thiệp của nhà nước và chế độ bảo hộ mậu dịch [134,
tr.63] Alexander Hamilton, trong tác phẩm Report on Manufactures năm 1791 [134,
tr 64], mặc dù đề cao tầm quan trọng của nông nghiệp vẫn tin tưởng rằng công nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế Hoa Kỳ, phát triển công nghiệp không những chỉ đem lại sự giàu có mà còn là vấn đề độc lập và an ninh quốc gia Ông cho rằng sự hỗ trợ và xúc tiến của Chính phủ sẽ làm tăng tốc quá trình
đó Tuy sự hỗ trợ này sẽ làm gián đoạn xu thế thương mại tự do một cách tạm thời, chúng có thể đem lại một sự phát triển nhanh chóng, an toàn và vững chắc [116, tr
316] Giống như Hamilton, Friedrick List trong tác phẩm The National System of
Political Economy (1841), đề cao vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế mỗi
quốc gia [134, tr.64] Ông cũng cho rằng một quốc gia đang phát triển sẽ không thể phát triển những ngành công nghiệp mới nếu không có sự bảo hộ tạm thời [110, tr 316] Ông lập luận rằng việc áp dụng chính sách tự do hóa thương mại trong điều kiện một số nước do những thuận lợi về lịch sử đã vượt lên trên các nước khác về phát triển công nghiệp, thương mại là chấp nhận một cuộc cạnh tranh không cân sức
và bất lợi đối với những nước mà nền công nghiệp còn non trẻ [65, tr 28] Ông cho rằng thương mại tự do không bảo đảm sẽ đem lại lợi ích tốt nhất cho một quốc gia đang ở giai đoạn phát triển trung bình Luận cứ về bảo hộ các nền công nghiệp mới của ông còn được gọi là chủ nghĩa bảo hộ có tính “huấn luyện”, giúp cho một nền công nghiệp non trẻ và yếu ớt có thời gian để củng cố tính cạnh tranh của mình [8,
Trang 28tr 66] Tuy nhiên, Friedrick List nhấn mạnh rằng giai đoạn thực thi chủ nghĩa bảo
hộ để huấn luyện phải được hạn chế trong một thời gian nhất định, nó phải được dỡ
bỏ khi nền công nghiệp trong nước đủ mạnh để có thể cạnh tranh Như vậy, các nhà kinh tế duy thực cho rằng bảo hộ ngành công nghiệp còn non trẻ trong nước là động
cơ kinh tế quan trọng cho việc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại để giảm thiểu áp lực cạnh tranh từ bên ngoài Trong thực tế, các nước công nghiệp phát triển như Anh, Đức, Hoa Kỳ, Pháp v.v cũng đã từng áp dụng thành công chính sách bảo
hộ trong những giai đoạn lịch sử nhất định khi bắt đầu thời kỳ công nghiệp hóa Tự
do hóa thuế quan chỉ xuất hiện khi nền công nghiệp trong nước đã đủ mạnh, đủ hiệu quả để cạnh tranh với hàng nhập khẩu Một số ví dụ có thể liệt kê như: nước Anh đã thực hiện xong cuộc cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII trước khi thực hiện tự do hóa thương mại Đức áp dụng chính sách bảo hộ mậu dịch trong thời kỳ thống nhất những tiểu vương quốc thuộc Đế chế Đức – Phổ Việc áp dụng chính sách này đã góp phần đưa nền công nghiệp Đức phát triển và đuổi kịp Anh trong vòng 50 năm Hoa Kỳ cũng là nước áp dụng khá thành công thuyết bảo
hộ mậu dịch trong khoảng thời gian cuối thế kỷ XIX Nhật Bản áp dụng thành công thuyết này vào cuối thế kỷ XIX Dựa trên chính sách này, Hàn Quốc, Malaysia trong các thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX cũng đã tạo nên “sự thần kỳ” Đông Á và Đông Nam Á Ngoài ra, thực tế thương mại quốc tế cho thấy, ngay khi các quốc gia áp dụng chế độ tự do hóa thương mại, một số biện pháp bảo hộ vẫn tiếp tục được thực
hiện Trong quyển “The Nature of Economic Growth”, Thirlwall (2002) đã kể lại lời
dạy của một nhà kinh tế học nổi tiếng (Nicholas Kaldor) cho một nhà kinh tế học nổi tiếng khác (Ajit Singh) khi Ajit Singh lần đầu tiên đến Cambridge để học kinh tế ba điều: Điều 1: cách duy nhất để một quốc gia phát triển là công nghiệp hóa Điều 2: cách duy nhất để công nghiệp hóa là bảo hộ Và điều 3: một ai đó nói cách khác đều
là không thành thật [57, tr 77] Ngày nay, thuyết bảo hộ mậu dịch với lý do bảo vệ ngành sản xuất non trẻ vẫn tiếp tục là cơ sở lý luận nền tảng cho chính sách kinh tế
mà nhiều nước đang áp dụng, đặc biệt là các nước đang phát triển do tầm quan trọng của ngành công nghiệp chế tạo đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia này Ngoài ra, khi nền kinh tế có những biến động nhất định, chính phủ các nước cũng có thể phải sử dụng chính sách bảo hộ để bảo vệ và vực dậy nền kinh tế trong nước Hiện nay, để đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế đang diễn ra trên toàn cầu, chính
Trang 29phủ Hoa Kỳ cũng đã dành các khoản ngân sách để cứu trợ tài chính trong các lĩnh vực quốc phòng, giáo dục, nông nghiệp và một số ngành công nghiệp then chốt như ngành sản xuất ô tô trong nước để giúp kích thích thị trường, khuyến khích sử dụng các sản phẩm nội địa trong sản xuất và tiêu dùng.
Thứ hai, học thuyết Thương mại mới [106, tr 167] (New Trade Theory) xuất
hiện trong những năm 70 và 80 của thế kỷ XX cho rằng một quốc gia sẽ có lợi từ việc chuyên môn hóa và cắt giảm chi phí, những doanh nghiệp đầu tiên của một ngành công nghiệp nhất định sẽ có những lợi thế rất lớn để phát triển (first-mover advantage) vì vậy mà những doanh nghiệp này (thường là những doanh nghiệp trong nước) cần phối hợp với chính quyền để duy trì và đẩy mạnh ưu thế này [119, tr 167-168] Nói cách khác, thuyết này khẳng định Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước Theo thuyết này, bằng cách áp đặt thuế quan và duy trì các biện pháp hạn chế định lượng, Chính phủ có thể dành thị trường trong nước cho các doanh nghiệp trong nước, cho phép các doanh nghiệp này cắt giảm chi phí sản xuất và từ đó có thể triệt tiêu bớt các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường [129, tr 28] Trên cơ sở chính sách kinh tế đã được xác định, chính phủ các nước đã và đang duy trì những biện pháp bảo hộ đối với một số ngành kinh
tế nhất định để thực hiện chính sách kinh tế của mình và làm như thế có nghĩa là đã gián tiếp tạo ra những rào cản cho sự tham gia thị trường của hàng hóa và dịch vụ nước ngoài trong những ngành kinh tế được bảo hộ
Thứ ba, năm 1990, Michael E Porter [13, tr 152], [125, tr 168] đưa ra một
lý thuyết kinh tế mới để giải thích nguyên nhân của hiện tượng chỉ có một số quốc gia dẫn đầu thế giới trong việc sản xuất một số sản phẩm nhất định – lý thuyết Lợi thế cạnh tranh quốc gia (National Competitive Advantage) Theo thuyết này, khả năng cạnh tranh của một quốc gia đối với một sản phẩm nhất định nào đó phụ thuộc vào khả năng đổi mới và nâng cao chất lượng của ngành sản xuất đó Lợi thế so sánh của một quốc gia không phải luôn luôn cố định Chẳng hạn như một nước có thể dành được một lợi thế so sánh thông qua đầu tư để lực lượng sản xuất của họ nắm được kỹ năng [13, tr 49] và từ đó tăng năng suất lao động Lý thuyết này thúc đẩy các quốc gia đầu tư vào việc nghiên cứu và phát triển công nghệ để đem lại lợi thế cạnh tranh cho những sản phẩm mà trước đây chúng không có lợi thế Để làm được
Trang 30điều này, trong một thời gian nhất định, Chính phủ có thể phải duy trì các biện pháp bảo hộ để tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm nhất định theo chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia đó
Thứ tư, mặc dù lý thuyết về lợi thế so sánh4 (Comperative Advantage) của David Ricardo (1772 -1823) là cơ sở lý luận về khả năng hòa nhập vào nền kinh tế thế giới của các nước có trình độ kinh tế khác nhau và là cơ sở lý luận cho chính sách ngoại thương tự do [61, tr 114], lý thuyết về lợi thế so sánh không phải là không có những hạn chế nhất định Những hạn chế này nằm ở các giả định của nó Phân tích của Ricardo dựa trên những giả định như: không có chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí sản xuất cố định không thay đổi theo quy mô, những hàng hóa trao đổi giống hệt nhau, các nhân tố sản xuất chuyển dịch một cách hoàn hảo và không
có hàng rào thuế quan Khi trong thực tế những giả định như vậy không thỏa mãn thì kết quả của việc áp dụng lý thuyết lợi thế so sánh sẽ không đạt được như phân tích của Ricardo Ngoài ra, một trong những giả định để xây dựng nên học thuyết này lại thường khó xảy ra trong một thế giới thương mại tự do, đó là giả định về yếu tố vốn trong sản xuất Khi vốn và lao động được luân chuyển quốc tế thì vốn sẽ theo dòng lợi thế tuyệt đối để đến với những nước có mức lương thấp để sử dụng nguồn vốn đó một cách có hiệu quả hơn, chứ không luôn luôn tự tái phân bổ trong nội bộ nước chủ nhà theo quy luật của lợi thế so sánh [20, tr 44] Học thuyết Heckscher và Ohlin5mặc dù được coi là có thể khắc phục các hạn chế của David Ricardo nhưng cũng chưa được thực tiễn chứng minh Nhà kinh tế học người Hoa Kỳ Wassily Leontief [136, tr 164] đã phân tích số liệu thống kê đầu vào và đầu ra của Hoa Kỳ vào năm
1953 và phát hiện ra rằng Hoa Kỳ, mặc dù là một nước giàu về vốn, đã xuất khẩu những sản phẩm có hàm lượng lao động cao thành công hơn là những sản phẩm cần tập trung vốn lớn Vì thế mặc dù nguyên tắc lợi thế so sánh là nền tảng của thương mại tự do, những hạn chế vừa trình bày lại là lập luận để bảo vệ việc duy trì các biện
4 Theo lý thuyết về lợi thế so sánh, mọi nước luôn có thể và rất có lợi khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Các quốc gia có thể chuyên môn hóa và xuất khẩu sản phẩm mà họ có thể không có lợi thế tuyệt đối so với sản phẩm tương tự của nước khác nhưng lại có lợi thế tuyệt đối so với một sản phẩm khác trong nước và nhập khẩu sản phẩm mà lợi thế tuyệt đối nhỏ hơn giữa hai sản phẩm trong nước [58, tr.11].
5 Vào những năm đầu tiên của thế kỷ XX, hai nhà kinh tế học người Thụy Điển là Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã xây dựng Thuyết về Cân đối các yếu tố của sản xuất (Factor Proportions Theory) Lý thuyết này đã dựa vào các nguồn lực (resources) mà các quốc gia có để xác định lợi thế so sánh Theo thuyết này, các quốc gia nên sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có nguồn lực dồi dào và nhập khẩu những hàng hóa
mà nguồn lực dùng để sản xuất chúng bị hạn chế Xem thêm [119, tr 172].
Trang 31pháp hạn chế thương mại Thêm vào đó, theo thuyết lợi thế so sánh, tự do hóa thương mại có thể mở rộng một số ngành kinh tế, đồng thời thu hẹp một số ngành khác [49, tr 14] Đây cũng chính là một trong những lý do mà Chính phủ các nước thường có chính sách trợ cấp để hỗ trợ một ngành sản xuất có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nhằm tạo lợi thế so sánh cho ngành đó
Tóm lại, tuy học thuyết về lợi thế so sánh về cơ bản là có thể thuyết phục để các quốc gia ủng hộ thương mại tự do, bản thân học thuyết này cũng tồn tại các mâu thuẫn nội tại và những yếu tố phi thực tế Ngoài ra, các lý thuyết kinh tế khác đã trình bày ở trên chứng minh rằng các yếu tố như công nghệ, nghiên cứu và phát triển cho phép một nước đạt được lợi thế cạnh tranh mà trước đây nó không có Những lý thuyết kinh tế như vậy tạo cơ sở lý luận cho việc duy trì các biện pháp hạn chế thương mại với mục đích giúp các ngành sản xuất quan trọng trong nước xây dựng lợi thế so sánh hoặc nâng cao năng lực cạnh tranh Vì thế, các quốc gia đã, đang và vẫn sẽ tiếp tục sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình
1.1.3.2 Dưới góc độ chính trị
Chính phủ các quốc gia với vai trò quản lý một lãnh thổ nhất định có xu hướng can thiệp vào thương mại quốc tế để bảo vệ cho lợi ích cá biệt của quốc gia mình mà cụ thể hơn là nhằm làm vừa lòng các lực lượng xã hội ủng hộ Chính phủ
đó [8, tr 17] Động cơ chính trị của xu hướng này biểu hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, Chính phủ các quốc gia do cử tri trong nước lập lên nên Chính phủ
có nghĩa vụ phải bảo vệ lợi ích của họ Trong thực tế, vì lý do chính trị mà chính phủ các nước thường ít khi có một quyết định nhằm thúc đẩy thương mại tự do khi quyết định đó ảnh hưởng đến quyền lợi của một hoặc một số ngành sản xuất trong nước, đặc biệt là khi các ngành sản xuất này có thể kết hợp với nhau để vận động hành lang cho lợi ích của từng ngành trong từng thời điểm nhất định Ví dụ như ngành dệt may có thể thuyết phục các nhóm vận động chính trị có mục tiêu bảo vệ nông dân trong nước ủng hộ ngành này kiến nghị Chính phủ áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu các sản phẩm dệt may, đổi lại ngành dệt may sẽ ủng hộ các nhóm vận động chính trị này trong những vấn đề liên quan đến chính sách bảo vệ các sản phẩm nông nghiệp nội địa mà các nhóm vận động này đang theo đuổi Bảo hộ mậu dịch
Trang 32trong lĩnh vực nông nghiệp ở nhiều quốc gia phát triển thường là do nông dân ở các quốc gia này có ảnh hưởng chính trị tương đối lớn [128, tr 426].
Thứ hai, mục tiêu “an ninh quốc gia” thường được sử dụng cho việc duy trì
các biện pháp hạn chế thương mại An ninh quốc gia bao gồm cả an ninh quốc phòng và an ninh kinh tế Hầu như Chính phủ các nước đều duy trì những bảo hộ nhất định và đặt ra các rào cản cho sự tiếp cận tự do của những hàng hóa và dịch vụ nước ngoài gây ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng và an ninh kinh tế, trong đó có yêu cầu về việc giữ vững sự ổn định của nền kinh tế trong nước, vấn đề việc làm cho người lao động và duy trì sự chủ động đối với các mặt hàng thiết yếu Những vấn đề nêu trên đã đặt Chính phủ các nước trước yêu cầu phải điều tiết nền kinh tế trong nước thông qua việc xác định mục tiêu phát triển, chiến lược ngành hàng, hay nói cách khác là xác định chính sách thương mại của quốc gia mình theo từng thời kỳ Dưới góc độ chính trị, sự phụ thuộc của một quốc gia vào hàng hóa và dịch vụ nước ngoài làm giảm đi chủ quyền thực tế của một quốc gia và khiến cho quốc gia đó dễ
bị tổn thương trước những thế lực kinh tế và chính trị nằm ngoài tầm kiểm soát của mình [24, tr 46] Do vậy, trong thực tiễn thương mại thế giới, các quốc gia thường
có xu thế đóng cửa thị trường, hạn chế sự phát triển tự do của thương mại quốc tế khi muốn ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của sự đình trệ thương mại toàn cầu Lịch
sử thương mại thế giới đã chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề trong nửa đầu thế kỷ XX do tác động tiêu cực của hai cuộc chiến tranh thế giới Vào thời gian
đó các quốc gia đã nâng cao hàng rào bảo hộ bằng cách tăng thuế quan, kiểm soát chặt chẽ ngoại hối, hạn ngạch nhập khẩu.v.v… Nhiều nhà hoạch định chính sách cho rằng ngoại thương sẽ gây thiệt hại cho nền kinh tế trong nước trừ khi nó được kiểm soát một cách cẩn trọng bằng một qui hoạch mang tính tổng thể [109, tr 20] Mặc dù bảo hộ một ngành sản xuất này có thể ảnh hưởng bất lợi đến một ngành sản xuất khác, hoặc có thể không đem lại lợi ích nào về mặt kinh tế nhưng Chính phủ các nước vẫn duy trì các biện pháp bảo hộ cần thiết đối với những ngành sản xuất nhất định vì những động cơ chính trị
Thứ ba, do cán cân quyền lực chính trị trên thế giới mà các biện pháp mang
tính chất hạn chế thương mại vẫn tiếp tục được duy trì Các nước lớn thường thực hiện các biện pháp hạn chế thương mại nhằm mục đích gia tăng sự kiểm soát của
Trang 33mình đối với thương mại thế giới (nhằm đóng vai trò là trung tâm của thị trường), còn các nước nhỏ nếu không muốn là vệ tinh của các nước lớn thì sử dụng các biện
pháp này nhằm ngăn cản sự bành trướng thương mại, và hạn chế việc các nước lớn gây khó khăn cho nền kinh tế trong nước của các nước nhỏ và chậm phát triển hơn6
Có chính trị gia [33, tr 72] cho rằng nếu các cường quốc hôm nay là Trung Quốc và
Ấn Độ chứ không phải là Hoa Kỳ và Tây Âu, thì tự do hóa thương mại được thảo luận có lẽ không phải là vấn đề sự di chuyển tự do của đồng vốn, hàng hóa và dịch
vụ mà sẽ là sự di chuyển tự do qua biên giới của lao động Thực tiễn thương mại quốc tế cho thấy các nước giàu là những nước thiết lập “luật chơi” của tự do hóa thương mại Vì thế, những luật lệ này được thiết kế để ngăn cản việc nhập khẩu ồ ạt vào các nước phát triển những mặt hàng mà các nước đang hoặc kém phát triển có lợi thế cạnh tranh và xúc tiến việc xuất khẩu các sản phẩm mà các nước phát triển có
ưu thế cạnh tranh Đây là cách thức thực hiện việc bảo hộ cho quyền lợi của các nước phát triển một cách tinh vi nhất Chương trình nghị sự tự do hóa thương mại của WTO – diễn đàn thương mại toàn cầu bao giờ cũng do các nước công nghiệp phát triển đưa ra và trước hết luôn vì lợi ích của các nước này vì các thị trường lớn hơn và phát triển hơn sẽ có lợi thế trong đàm phán thương mại hơn các thị trường nhỏ hơn [118, tr 41] Sau vòng đàm phán Uruguay, Ngân hàng Thế giới đã thống kê
và kết luận rằng Hoa Kỳ và châu Âu đã thành công khi đạt được thỏa thuận về việc
mở cửa thị trường các sản phẩm công nghiệp của các nước nghèo cho hàng hóa của
họ, trong khi đó lại không mở cửa thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp và dệt may của các nước nghèo (những sản phẩm mà những nước nghèo có lợi thế cạnh tranh), vì các Hiệp định thương mại không xóa bỏ được các trợ cấp nông nghiệp và việc áp dụng các hạn chế định lượng đối với các sản phẩm dệt may của các nước phát triển [122, tr 75] Thống kê cho thấy, các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thống trị việc mua bán nông phẩm thế giới với 70% xuất khẩu
và 75% nhập khẩu, so với 1% nhập khẩu và xuất khẩu của tất cả các nước kém phát triển [54, tr 213] Trong lĩnh vực dịch vụ, các dịch vụ được đưa vào chương trình nghị sự cũng là những lĩnh vực mà các nước công nghiệp phát triển có ưu thế: như dịch vụ cần qua đào tạo và sử dụng kỹ năng như dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm và
6 Xem thêm lý luận của TS Nguyễn Văn Minh [37, tr 37] về hiện tượng trung tâm và vệ tinh trong xu thế tự
do hóa thương mại hiện nay trên thế giới.
Trang 34công nghệ thông tin Trong khi đó, các dịch vụ mà các nước đang phát triển có lợi thế so sánh như dịch vụ xây dựng và hàng hải thì không được chú trọng [122, p 88] Ngoài ra, do thiếu nguồn lực và thông tin để đàm phán một cách có hiệu quả, các nước đang phát triển khó có thể thực hiện và khai thác được những quy định trong
hệ thống thương mại thế giới theo cách có lợi cho các nước này [129, tr 17] J Stiglitz, nhà kinh tế Hoa Kỳ được trao giải thưởng Nobel về kinh tế năm 2001 đã cho rằng bản thân toàn cầu hóa, trong đó có toàn cầu hóa về kinh tế không phải là vấn đề cần chê trách hay nên phản đối mà vấn đề là ở chỗ toàn cầu hóa được quản lý
và vận hành như thế nào Ông khẳng định toàn cầu hóa đang được điều hành một cách không dân chủ và bất lợi cho các nước đang phát triển, nhất là những nước nghèo [25, tr 40]
Một số nước đang phát triển, để đối phó lại với các chính sách của các nước công nghiệp phát triển, cũng tìm những cách thức riêng cho mình Theo nguyên Tổng thống Malaysia, ông Mahathir Mohamad, do các hứa hẹn huy hoàng về toàn cầu hóa vẫn chưa thành hiện thực, việc tiếp cận thiếu cẩn trọng đối với tự do hóa thương mại mà “không cân nhắc cặn kẽ về khả năng đối phó sẽ làm gia tăng vòng xoáy ác nghiệt của thâm hụt mậu dịch và cán cân thanh toán, bất ổn tài chính, nợ nần và suy thoái”[33, tr 52] Vì vậy, các Chính phủ có chính sách hội nhập thông minh vào nền kinh tế thế giới hầu hết đều biết khai thác thế mạnh của quốc gia mình, sử dụng những biện pháp hạn chế việc tiếp cận thị trường trong nước của hàng hóa và dịch vụ nước ngoài một cách có chọn lọc Ví dụ tiến trình hội nhập của Nhật Bản những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai được thực hiện qua từng thời
kỳ khác nhau Thời gian đầu, Chính phủ Nhật Bản đã phải tạm gác lại một số yêu cầu của Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) và Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) do chưa đủ các điều kiện thực hiện Trong thời gian đó, một mặt Chính phủ Nhật Bản cải cách chính sách nhập khẩu sao cho phù hợp với năng lực cạnh tranh của từng ngành công nghiệp, mặt khác sử dụng chính sách bảo hộ để nuôi dưỡng một số ngành công nghiệp Tuy nhiên, chính sách bảo hộ đó chỉ được thực hiện trong thời gian ngắn [66, tr 28] Chính vì có chiến lược mở cửa thị trường và hội nhập một cách có tính toán và được định hướng đúng đắn, Nhật Bản đã đạt được thành quả tăng trưởng kinh tế mỗi năm 10% trong gần hai mươi năm từ năm 1955 đến 1973 (một hiện tượng chưa từng xảy ra với bất kỳ nước nào) trong bối cảnh
Trang 35trước khi bước vào giai đoạn tăng trưởng cao, Nhật Bản đối mặt với tình trạng nền kinh tế phát triển ở mức độ thấp [66, tr 28] Malaysia là một ví dụ thứ hai về chính sách mở cửa thận trọng, từng bước và có sự tính toán kỹ lưỡng Nhận thức được rằng xóa bỏ tất cả các rào cản biên giới trong thương mại giữa các nước không mạnh như nhau sẽ đặt các nước yếu hơn trước những thách thức to lớn nên những nước này cần được bảo hộ, ít nhất là trong một thời gian nhất định Malaysia đã có một nền công nghiệp ô tô phát triển tương đối trong khu vực vì đã được Chính phủ nước này duy trì chính sách bảo hộ bằng cách đánh thuế nhập khẩu ô tô ở mức khá cao Công nghiệp ô tô phát triển đã thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp chế tạo khác, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa đất nước của Malaysia Sau khi nền kinh tế đã được công nghiệp hóa ở một mức độ nhất định thì việc mở cửa cho hàng hóa và dịch vụ nước ngoài cũng không tạo ra nhiều biến động lớn cho nền kinh tế mà nhiều khi còn đem lại động lực cho sự phát triển kinh tế Mahathir Mohamad cho rằng “chúng ta toàn cầu hóa nhưng các quốc gia phải được phép mở cửa tùy theo thời biểu riêng, khi họ đã sẵn sàng” [33, tr 193] Trung Quốc là một ví
dụ cũng rất điển hình về việc hội nhập có kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện được chính sách đẩy mạnh xuất khẩu nhưng lại mở cửa cho hàng hóa nhập khẩu vào Trung quốc một cách rất thận trọng [122, tr 10] Chính vì vậy
mà Trung Quốc đã đạt được những thành quả tăng trưởng rất thuyết phục: thu nhập trung bình tăng 8 lần kể từ năm 1978, số người nghèo có thu nhập dưới một đô la
Mỹ một ngày giảm ¾ kể từ năm 1981 [133, tr 31] Chính vì những giằng co này mà Vòng đàm phán Doha đang lâm vào tình trạng bế tắc Các nước phát triển, đại diện
là Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU) cương quyết không chịu cắt giảm trợ cấp nông nghiệp [40, tr 32]7 Các nước đang phát triển cũng nhất quyết không nhân nhượng, không mở rộng thêm nữa thị trường nhập khẩu hàng công nghiệp [37, tr 37]
Ngoài những lập luận dưới giác độ kinh tế và chính trị trên đây, Chính phủ các nước còn duy trì các biện pháp mang tính chất hạn chế thương mại dựa trên các lập luận mang tính xã hội như để bảo vệ đạo đức xã hội, truyền thống văn hóa của quốc gia, sức khỏe con người hay bảo vệ môi trường.v.v…
7 EU đang áp dụng trợ cấp nông nghiệp theo Chương trình Nông nghiệp chung với giá trị ước tính mỗi năm khoảng 240 tỷ đô la Mỹ.
Trang 36Tóm lại, tự do hóa thương mại tạo cơ hội cho tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên quá trình này không tự động đảm bảo cho việc đem lại lợi ích cho đại bộ phận công dân và không chắc chắn là tất cả mọi người đều được hưởng lợi [122, tr xiv], [140]
Do thương mại tự do có tính hai mặt như đã phân tích ở trên, khả năng phản hồi của các nước đối với những cơ hội do hệ thống thương mại quốc tế tạo nên là một điều cực kỳ quan trọng [50, tr 51] Thị trường không thể vận hành tốt nếu không có sự can thiệp của nhà nước và thực tế chứng minh là không Chính phủ nào ngồi yên để thị trường tự vận hành một cách tự do [123] Việc các Chính phủ ủng hộ thương mại
tự do không có nghĩa là sẽ không can thiệp vào quá trình đó Mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại và bảo hộ được ví như hai mặt của quá trình phát triển, mỗi mặt là động lực cho sự phát triển của mặt kia Vấn đề đặt ra là làm thể nào để có thể sử dụng các biện pháp có tính chất hạn chế thương mại theo cách có lợi cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững
Việc duy trì các biện pháp bảo hộ nền sản xuất trong nước một cách trực tiếp thông qua trợ cấp hay gián tiếp thông qua các biện pháp hạn chế thương mại vẫn được các quốc gia trên thế giới duy trì với những lý do kinh tế và chính trị được phân tích ở trên Việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại như thế nào để phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế và góp phần làm tăng trưởng kinh tế là tùy thuộc vào chính sách kinh tế của mỗi quốc gia và sự phù hợp của chính sách đó với điều kiện thực tế và đặc điểm cụ thể của từng nước
1.2 Khía cạnh pháp lý của vấn đề hạn chế thương mại
Để có thể duy trì các biện pháp hạn chế thương mại một cách hợp pháp trong
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các quốc gia phải căn cứ vào các cam kết quốc tế của mình để vận dụng chúng thông qua những quy định cụ thể của pháp luật trong nước Nói cách khác, vấn đề hạn chế thương mại trong bối cảnh tự do hóa thương mại ngày nay đòi hỏi các quốc gia phải đặc biệt chú trọng đến cơ sở pháp lý khi xây dựng và thực thi các biện pháp hạn chế thương mại Đó chính là lý do của việc nghiên cứu khía cạnh pháp lý của vấn đề hạn chế thương mại
Trang 371.2.1 Cơ sở lý luận của việc duy trì các biện pháp hạn chế thương mại trong hệ thống pháp luật thương mại quốc tế của WTO
Cơ sở pháp lý quốc tế để duy trì các biện pháp hạn chế thương mại bao gồm
cả những quy định rõ ràng hoặc mang tính mặc thị trong các điều ước quốc tế về thương mại Ngoài ra, các biện pháp hạn chế thương mại còn hình thành và tồn tại ít nhất là do không có những quy định cấm đoán trong các điều ước quốc tế đó Các Hiệp định thương mại song phương hoặc khu vực có thể có những quy định mang tính nghiêm ngặt hơn trong việc sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại8; tuy nhiên, trên phạm vi toàn cầu9, các biện pháp như vậy chỉ có thể được sử dụng một cách hợp pháp khi được “bật đèn xanh” bởi các văn bản pháp lý quốc tế mà theo phạm vi nghiên cứu của luận án này là các Hiệp định của WTO Các quy định trong các Hiệp định của WTO không chỉ có giá trị pháp lý đối với các quốc gia thành viên
mà còn có ảnh hưởng sâu rộng đến các thỏa thuận song phương và khu vực, chúng tạo nên những chuẩn mực chung cho pháp luật quốc tế liên quan đến hoạt động thương mại [48, tr 81]
Đặt ra vấn đề hạn chế thương mại trong xu thế toàn cầu hóa mà tự do hóa thương mại đang được coi là một thực tế khách quan có vẻ như đi ngược lại với các mục tiêu mà WTO theo đuổi Tuy nhiên, về mặt logic, tự do hóa thương mại là một quá trình đi từ thấp đến cao, từ cục bộ đến toàn thể Với tư cách là một quá trình, tự
do hóa thương mại luôn đi kèm với bảo hộ, mâu thuẫn nhau nhưng lại thống nhất với nhau, sự thống nhất giữa hai mặt đối lập [17, tr.178] Chính vì vậy, trong thực tế, WTO vẫn có những quy định mà các quốc gia có thể vận dụng theo cách có lợi cho mình để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước Các lý do sau đây lý giải cho thực tế này:
Thứ nhất, các quốc gia trên thế giới có trình độ phát triển không đồng đều
Mặc dù tự do hóa thương mại về cơ bản đem lại lợi ích cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu, quá trình này vẫn đặt ra những thách thức không nhỏ cho nền kinh tế của mỗi nước, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển với khả năng cạnh tranh tương đối
8 Trong giới hạn của phạm vi nghiên cứu đã được xác định, tác giả chỉ tập trung vào các quy định của WTO
mà không tập trung vào các quy định trong các Hiệp định thương mại song phương và khu vực.
9 Mặc dù không phải tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ hải quan riêng biệt đều là thành viên của WTO, đây
là tổ chức thương mại quốc tế lớn nhất hành tinh với hơn 150 thành viên và nắm giữ trên 95% thương mại toàn cầu.
Trang 38thấp trong hầu hết các ngành kinh tế Vì vậy, tự do hóa thương mại phải được đặt trong những lộ trình thích hợp hay nói cách khác là tự do “dần dần”, và trong các giai đoạn nhất định của lộ trình đó, bảo hộ một số ngành kinh tế trong nước khỏi áp lực cạnh tranh quốc tế bằng những biện pháp mang tính hạn chế thương mại là yêu cầu thực tế của nhiều nếu không muốn nói là hầu hết các quốc gia.
Thứ hai, WTO là một tổ chức quốc tế về thương mại lớn nhất hành tinh, với
hơn 150 thành viên là các quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 2/3 là các thành viên đang và kém phát triển [153], có chế độ kinh tế và trình độ phát triển rất khác nhau Chức năng quan trọng của tổ chức này là điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế bằng các quy định được hình thành trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện và là kết quả của quá trình đàm phán có sự thương lượng và nhân nhượng lẫn nhau của các quốc gia thành viên Vì thế mà các quy định của tổ chức này trong đại đa số các trường hợp là hài hòa các lợi ích nhằm đáp ứng nhu cầu điều chỉnh của các thành viên để thích ứng dần dần với xu thế tự do hóa thương mại quốc tế Các Hiệp định của WTO vẫn dành chỗ cho những quy định mà về bản chất là có tính chất hạn chế
ở một mức độ nhất định dòng lưu chuyển thương mại giữa các quốc gia, để các thành viên có thể sử dụng khi cần thiết và khi đáp ứng những điều kiện nhất định nhằm đảm bảo lợi ích cá biệt của từng quốc gia vào những thời điểm nhất định Ngoài ra, WTO còn có các quy định ngoại lệ cho phép miễn thực hiện một số nghĩa
vụ tự do hóa đã cam kết, các quy định về việc áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời… cho phép Chính phủ các thành viên tạm thời hoãn việc thực hiện các cam kết
để đối phó với những hậu quả không mong đợi của quá trình tự do hóa thương mại
Thứ ba, WTO không phải là một “siêu quốc gia”, có quyền đặt ra những quy
định để thúc đẩy thương mại tự do và có nghĩa vụ phải đảm bảo cho những quy định
đó được thực hiện để bảo vệ lợi ích của mọi giai tầng trong xã hội Các quy định pháp lý của tổ chức này nói chung là mang tính linh hoạt và mềm dẻo, chủ yếu là vạch ra các tiêu chuẩn quan trọng và cần thiết để các nhà làm luật của các quốc gia thành viên tuân thủ khi ban hành những quy định pháp luật của riêng mình nhằm thực hiện các mục tiêu của tổ chức này Chính điều này cũng tạo cơ sở cho các quốc gia tiếp tục xây dựng và duy trì các biện pháp hạn chế thương mại mới, tinh vi hơn
Trang 39Trong các văn bản pháp luật của WTO, vẫn tồn tại những cơ sở pháp lý cho phép việc áp dụng các biện pháp bảo hộ, bao gồm các biện pháp thuế quan và các biện pháp bảo hộ phi quan thuế khác Những cam kết về tự do hóa thương mại đạt được thông qua các đàm phán và nhân nhượng của các thành viên WTO vẫn cho phép các thành viên sử dụng các biện pháp mà về bản chất là có tác động hạn chế giao lưu thương mại trong những trường hợp cần thiết với điều kiện là chúng phải được thực hiện phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của WTO như nguyên tắc tối huệ quốc (MFN), nguyên tắc minh bạch và nguyên tắc đối xử quốc gia (NT), mặc dù những nguyên tắc này đến lượt mình cũng lại có các ngoại lệ, tuy việc áp dụng các ngoại lệ như vậy phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện được quy định trong các ngoại lệ đó.
Các biện pháp hạn chế thương mại đối với sự dịch chuyển quốc tế của hàng hóa và dịch vụ có cơ sở pháp lý rải rác trong các Hiệp định đa phương của WTO,
bao gồm Hiệp định chung về chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) 1994 [70]
và các hiệp định đi kèm: Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) [73], Hiệp định về các biện pháp tự vệ (SA) [74], Hiệp định về kiểm định hàng hóa
trước khi vận chuyển/đưa xuống tàu (PSI) [75], Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) [76], Hiệp định về quy tắc xuất xứ hàng hóa [77], Hiệp định về các thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu và điều VIII của GATT (ILP) [78], Hiệp định về thực thi Điều VII của GATT (Hiệp định về định giá hải quan) [79], Hiệp định về trợ cấp và các các biện pháp đối kháng của WTO [80], Hiệp định nông nghiệp (AoA) [81], Hiệp định về thương mại hàng dệt may (ATC) [82], Hiệp định
về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) [83], Hiệp định thực thi Điều VI về chống bán phá giá và thuế đối kháng [84] và Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) [71] Các Hiệp định này tuy có chung một mục tiêu là nhằm tạo
ra một hệ thống thương mại tự do và thông thoáng hơn, chúng vẫn cho phép duy trì các biện pháp bảo hộ hoặc các rào cản hợp lý trong một thời hạn nhất định và/hoặc khi đáp ứng những điều kiện nhất định
Trang 401.2.2 Khái quát về các biện pháp hạn chế thương mại theo quy định của WTO
Như đã trình bày trong phần phạm vi nghiên cứu, trong Luận án này, tác giả chỉ tập trung vào việc phân tích một số biện pháp hạn chế thương mại có thể được
sử dụng dựa vào các quy định của WTO (mà không tập trung vào các cam kết song phương và khu vực) và đối chiếu chúng với các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam Mặc dù đa số các biện pháp hạn chế thương mại không được định danh một cách chính thức và rõ ràng trong các văn bản pháp luật của WTO và các văn bản này cũng không trực tiếp thừa nhận và điều chỉnh việc sử dụng các biện pháp có thể đem lại hệ quả hạn chế thương mại (trừ một số biện pháp như biện pháp tự vệ hoặc các biện pháp hạn chế thương mại khác được sử dụng khi thỏa mãn các điều kiện áp dụng các trường hợp ngoại lệ), trong nhiều Hiệp định của tổ chức này vẫn tồn tại những quy định tạo cơ sở pháp lý cho các biện pháp này tồn tại hay ít nhất cũng không đặt ra yêu cầu xóa bỏ chúng Các cơ sở pháp lý này được chính phủ các nước vận dụng trong việc ban hành các quy định trong pháp luật quốc gia để tạo thành những hàng rào thực tế đối với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài Trong hệ thống pháp luật quốc gia, đa số những biện pháp mang tính hạn chế thương mại này cũng không được định danh chính thức mà chúng thường được tạo ra do hệ quả của việc áp dụng các quy định pháp luật nằm rải rác ở những văn bản pháp luật khác nhau Theo WTO, thương mại được chia ra làm hai lĩnh vực chính10: thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ Tuy có những khác biệt cơ bản để phân biệt sản phẩm dịch vụ vô hình với sản phẩm hàng hóa hữu hình, sự phân biệt này là không tuyệt đối Ví dụ, một số loại hình dịch vụ khi kết thúc quá trình cung ứng sẽ tạo ra một sản phẩm có hình thái vật chất, ví dụ như dịch vụ xây dựng Trái lại, khi tiến hành trao đổi, mua bán các sản phẩm hữu hình cũng cần đến các dịch vụ hỗ trợ như dịch vụ vận tải, dịch vụ giao nhận v.v…Chính vì vậy, nhiều biện pháp hạn chế thương mại có thể được áp dụng cả với thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ, hoặc cũng có biện pháp có mục đích hạn chế thương mại hàng hóa nhưng đồng thời
10 Tuy WTO còn có những quy định pháp lý liên quan đến thương mại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và thương mại về đầu tư nhưng trong giới hạn của phạm vi nghiên cứu, Luận án sẽ không nghiên cứu về vấn đề hạn chế thương mại trong hai lĩnh vực này Mặc dù vậy, khi nghiên cứu về hạn chế thương mại đối với hiện diện thương mại của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, một số vấn đề liên quan đến đầu tư cũng sẽ được đề cập đến nhưng chủ yếu dưới góc độ pháp luật quốc gia của nước tiếp nhận dịch vụ.