Các chế độ tỷ giá tiêu biểu Chế độ tỷ giá hối đoái là cách thức một đất nước quản lý đồng tiền củamình liên quan đến các đồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường ngoại hối.Chế độ tỷ
Trang 1MỤC LỤC :
PHẦN GIỚI THIỆU 2
1 Tổng quan về tỷ giá hối đoái _ 2
1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái _ 21.2 Phân loại tỷ giá _ 21.3 Các chế độ tỷ giá tiêu biểu 4
2 Các yếu tố tác động đến tỷ giá _62.1 Yếu tố trực tiếp: Cung – Cầu ngoại tệ 62.2 Các yếu tố làm dịch chuyển cung cầu ngoại tệ _ 72.2.1 Chênh lệch lạm phát giữa hai nước _72.2.2 Chênh lệch lãi suất giữa hai nước 82.2.3 Mức tăng trưởng thu nhập tương đối _ 82.2.4 Sự can thiệp của chính phủ _ 92.2.5 Các yếu tố khác _ 10
3 Diến biến tình hình tỷ giá từ năm 2008 đến tháng 10/2010 và những nguyênnhân của những sự biến động đó 103.1 Diễn biến tỷ giá năm 2008 103.2 Diễn biến tỷ giá năm 2009 143.3 Diễn biến tỷ giá năm 2010 _ 18
4 Xu hướng lựa chọn chính sách tỷ giá của Việt Nam trong thời gian tới 21TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 2LỜI GIỚI THIỆU
Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế với nhiều cơ hội cũngnhư những thách thức lớn phải đương đầu Trong những năm gần đây tình hình
tỷ giá nước ta đang trở nên cực kỳ nóng bỏng với những diễn biến bất ngờ củanhững đợt điều chỉnh tỷ giá lớn Như chúng ta đã biết, tỷ giá hối đoái có vai trò
vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, nó không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến hoạtđộng ngoại thương mà còn tác động trực tiếp đến các yếu tố kinh tế khác.Ngoài ra tỷ giá hối đoái cũng phải chịu nhiều tác động từ nhiều yếu tố trongnước cũng như trên thế giới Với tầm quan trọng của nó cùng với sự hiếu kỳ vềnhững diễn biến phức tạp của tình hình tỷ giá trong những năm gần đây, đặcbiệt là sự manh nha về một cuộc “ chiến tranh tiền tệ” sắp nổ ra giữa các nướctrên thế giới gần đây đã thôi thúc nhóm chúng tôi nghiên cứu về đề tài: “ CÁCNHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM VÀNHỮNG DIỄN BIẾN CỦA NÓ TỪ NĂM 2008 ĐẾN THÁNG 10/2010”
1 Tổng quan về tỷ giá hối đoái
1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là sự so sánh về mặt giá cả
giữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái làgiá của một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác
VD: Tỷ giá bán ra của ngân hàng ngoại thương Việt Nam ngày09/10/2010:1USD=19.58157VND
Như vậy, bản chất của tỷ giá hối đoái là loại giá cả nhưng là giá cả củamột loại hàng hóa đặc biệt đó là tiền tệ
1.2 Phân loại tỷ giá
Tỷ giá hối đoái có nhiều loại dựa trên các căn cứ:
Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối :
- Tỷ giá mua vào – Bid Rate: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng sẵn sàngmua vào đồng tiền yết giá
- Tỷ giá bán ra: - Ask (Offer) Rate: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá
sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá
- Tỷ giá giao ngay – Spot Rate: Là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay,nhưng việc thanh toán xảy ra trong hai ngày làm việc tiếp theo (nếu không cóthỏa thuận khác thì thường là ngày làm việc thứ 2)
- Tỷ giá kỳ hạn – Forward Rate: Là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay,nhưng việc thanh toán xảy ra từ 3 ngày làm việc trở lên
- Tỷ giá mở cửa – Opening Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giaodịch đầu tiên trong ngày
- Tỷ giá đóng cửa – Closing Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng cuốicùng được giao dịch trong ngày Thông thường Ngân hàng chỉ công bố tỷ giá
Trang 3trong ngày Tỷ giá hôm nay thường là cơ sở quan trọng giúp NHNN xác định
tỷ giá phiên giao dịch đầu tiên ngày hôm sau
- Tỷ giá chéo – Crosed Rate: Là tỷ giá giữa 2 đồng tiền được suy ra từđồng tiền thứ 3 (là đồng tiền trung gian)
- Tỷ giá chuyển khoản – Transfer Rate: Tỷ giá chuyển khoản áp dụngcho các giao dịch mua bản ngoại tệ là các khoản tiền gửi ngân hàng
- Tỷ giá tiền mặt – Bank Note Rate: Tỷ giá tiền mặt áp dụng cho ngoại
tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc và thẻ tín dụng Thông thường, tỷ giá tiền mặtmua thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn so với tỷ giá chuyển khoản
- Tỷ giá điện hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện Ngày nay, dongoại hối được chuyển chủ yếu bằng điện nên tỷ giá niêm yết tại ngân hàng là
tỷ giá điện hối
- Tỷ giá thư hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư
Căn cứ vào cơ chế điều hành tỷ giá:
Tỷ giá chính thức – Official Rate (Ở Việt Nam là tỷ giá giao dịch bìnhquân trên thị trường liên ngân hàng): Là tỷ giá do NHTW công bố Tỷ giá chínhthức được áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu và hoạt động khác liên quan tỷgiá chính thức Ngoài ra, tỷ giá chính thức còn là cơ sở NHTW xác định tỷ giákinh doanh biến độ cho phép
- Tỷ giá chợ đen – Black Market Rate: Là tỷ giá hình thành bên ngoài hệthống ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định
- Tỷ giá cố định – Fixed Rate: Là tỷ giá do NHTW công bố cố địnhtrong một biên độ dao động hẹp Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duytrì tỷ giá cố định, NHTW phải thường xuyên can thiệp, vì vậy dự trữ ngoại hốiquốc gia luôn thay đổi
- Tỷ giá thả nổi hoàn toàn – Freely Floating Rate: Là tỷ giá được hìnhthành theo quan hệ cung cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp vàoloại tỷ giá này
- Tỷ giá thả nổi có điều tiết – Managed Floating Rate: Là tỷ giá được thảnổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động có lợi cho nền kinhtế
Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng lên cán cân thương mại:
- Tỷ giá danh nghĩa song phương: Là tỷ giá của một đồng tiền được biểuthị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóagiữa chúng Vì vậy khi tỷ giá danh nghĩa thay đổi không nhất thiết phải tácđộng đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
- Tỷ giá thực song phương (Bilateral real exchange Rate): Là tỷ giáđược xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạmphát ở trong nước và ở nước ngoài, do đó nó phản ánh tương quan sức muagiữa nội tệ và ngoại tệ
Trang 4- Tỷ giá danh nghĩa trung bình (Nominal effective exchange Rate –NEER): NEER phản ánh sự thay đổi giá trị của một đồng tiền đối với tất cả cácđồng tiền còn lại hay một số các đồng tiền.
- Tỷ giá thực trung bình (Real effective exchange rate – REER): REERcho biết tương quan sức mua giữa nội tệ với các đồng tiền còn lại REER đượcxác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đa biên đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạmphát ở trong nước và tất cả các nước còn lại Vì vậy nó phản ánh tương quansức mua giữa nội tệ và tất cả các đồng tiền còn lại
1.3 Các chế độ tỷ giá tiêu biểu
Chế độ tỷ giá hối đoái là cách thức một đất nước quản lý đồng tiền củamình liên quan đến các đồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường ngoại hối.Chế độ tỷ giá hối đoái ở mỗi nước và mỗi thời kỳ có thể khác nhau, song
về cơ bản là chế độ tỷ giá "thả nổi" theo đó thị trường quy định những biếnđộng của tỷ giá hối đoái, hoặc ngược lại hoàn toàn là chế độ tỷ giá hối đoái "cốđịnh" theo đó nhà nước sẽ can thiệp để tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của nướcmình với đồng tiền (các) nước khác không đổi, hoặc là một chế độ nằm giữahai giải pháp gốc đó
Chế độ tỷ giá hối đoái cố định, đôi khi còn được gọi là tỷ giá hối đoái neo, là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền
được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác,hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn Khi giá trị tham khảotăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm Đồngtiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định Tỷ giá hốiđoái cố định là một lựa chọn chế độ tỷ giá ngược hoàn toàn với tỷ giá hối đoáithả nổi
Ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định:
Tạo được sự ổn định cho nền kinh tế như việc tạo điều kiện thuận lợi chocác doanh nghiệp và nhà đầu tư tránh được những rủi ro về tỷ giá, biết đượckhoảng lợi nhuận và chi phí phải trả trong tương lai; ổn định giá cả hàng hóa,
…
Chế độ tỷ giá này tạo điều kiện cho các nước có thị trường ngoại hối chưathật sự phát triển đảm bảo những rủi ro do biến động tỷ giá khi các công cụgiao dịch ngoại hối phái sinh còn hạn chế
Nhược điểm:
Nhằm đảm bảo cho tỷ giá cố định thì buộc Ngân hàng Trung Ương cácnước phải có những biện pháp can thiệp, chính điều này đã tạo nên những hạnchế cho nền kinh tế, cụ thể:
Việc sử dụng một khoảng dự trữ ngoại tệ nhằm can thiệp vào thị trườngkhi cần thiết đã gây một sự lãng phí lớn cho tài nguyên vốn, nếu khoản dự trữnày được đem đầu tư sẽ mang lại những lợi ích đáng kể cho nền kinh tế
Trang 5Khi NHTW buộc phải điều chỉnh tăng hoặc giảm tỷ giá bằng biện phápphá giá thì sẽ gây ảnh hưởng tâm lý của người dân và nhà đầu tư về sự ổn địnhcủa nền kinh tế và khả năng quản lý nền kinh tế của chính phủ.
Việc cố định tỷ giá còn gây ra lãng phí trong chi phí quản lý khi phải điềutiết lạm phát, lãi suất,… ( như việc lập quỹ bình ổn hàng hóa, chi phí quản lýtránh nạn đầu cơ tăng giá…); cố định tỷ giá có thể dẫn đến việc nhập khẩu cảlạm phát từ quốc gia đoái tác gây khó khăn trong việc điều hành chính sáchtrong nước; đặc biệt là sự hạn chế lưu chuyển dòng vốn đi vào và đi ra củaquốc gia từ đó hạn chế sự phát triển( như việc quy định về thuế thu nhập củanhà đầu tư trong nước ra nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài, các quy địnhrút vốn…); việc cố định tỷ giá còn dễ dẫn đến sự bất hòa giữa các quốc gia màtiêu biểu hiện nay là tình hình căng thẳng giữa Trung Quốc và Mỹ
Việc theo đuổi một chế độ tỷ giá cố định sẽ tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn,tạo điều kiện cho giới đầu cơ tấn công khi biết rằng NHTW của nước đó sẽ cốgắng bảo vệ đồng tiền của mình chứ không chịu để nó mất giá, tiêu biểu là hiệntượng đầu cơ của Soros đối với đồng bảng Anh, và sự kiện Thái Lan trongkhủng hoảng tài chính châu Á là một ví dụ
Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi
Chế độ tỷ giá thả nổi hay còn gọi là chế độ tỷ giá linh hoạt là một chế
độ trong đó giá trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị trường ngoại
hối Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là một đồng tiền thả nổi.
Theo chế độ tỷ giá này thì cung cầu về ngoại tệ sẽ tuân theo quy luật cungcầu trên thị trường vì thế mà nó phản ánh được giá trị thực của đồng nội tệ vàtránh được những phản ứng phụ hay hạn chế của chế độ tỷ giá cố định lên nềnkinh tế Bên cạnh những ưu điểm đó thì chế độ tỷ giá thả nổi lại không đảm bảođược cho những rủi ro về biến động tỷ giá Tuy nhiên ở các nước phát triển thịcác công cụ giao dịch ngoại hối phái sinh đã phát triển rất mạnh vì vậy mà hạnchế này cũng coi như một phần đã được khắc phục
Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm
giữa hai chế độ thả nổi và cố định Theo đó thì chính phủ sẽ không cam kết duytrì ở một tỷ giá trung tâm cũng nhưng một biên độ tỷ giá nào mà chính phủ chỉcan thiệp khi tỷ giá biến động mạnh vượt mức cho phép Ưu điểm của chế độ tỷgiá này là việc vẫn đảm bảo cung cầu ngoại tệ tuân theo quy luật cung cầu màtheo đó còn có sự can thiệp của chính phủ khi cần thiết, vì thực tế thì việc thảnổi hoàn toàn là quá bất ổn định
Trang 62 Các yếu tố tác động đến tỷ giá
2.1 Yếu tố trực tiếp: Cung – Cầu ngoại tệ
Tỷ giá phản ánh sự cân bằng trên thị trường tiền tệ Khi cung cầu thịtrường thay đổi các đường cung cầu dịch chuyển tỷ giá thay đổi
Bất cứ yếu tố nào làm tăng cầu ngoại tệ đường cầu dịch chuyển sangphải tỷ giá tăng lên
Các yếu tố làm giảm cầu ngoại tệ đường cầu dịch chuyển sangtrái tỷ giá giảm
Các yếu tố làm tăng cung ngoại tệ đường cung dịch chuyển sangphải tỷ giá giảm
Trang 7 Các yếu tố làm giảm cung ngoại tệ đường cung ngoại tệ dịch chuyểnsang trái tỷ giá tăng.
2.2 Các yếu tố làm dịch chuyển cung cầu ngoại tệ
2.2.1 Chênh lệch lạm phát giữa hai nước
Mức chênh lệch lạm phát của hai nước cũng ảnh hưởng đến sự biến độngcủa tỷ giá Giả sử trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suất lao động củahai nước tương đương như nhau, cơ chế quản lý ngoại hối tự do, khi đó tỷ giábiến động phụ thuộc vào mức chênh lệch lạm phát của hai đồng tiền Nước nào
có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiền của nước đó bị mất giá so với đồngtiền nước còn lại
+ Điển hình là khi lạm phát trong nước cao hơn nước ngoài thì làmcho giá cả hàng hóa trong nước đắt hơn hàng hóa nước ngoài Nên người dântrong nước có nhu cầu hàng ngoại hơn và người dân ở nước ngoài hạn chếdùng hàng trong nước Từ đó làm cho xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng haycung ngoại tệ giảm và cầu ngoại tệ tăng => tỷ giá tăng
+ Khi lạm phát cao làm cho lãi suất tương đối của ngoại tệ cao hơnnội tệ , các nhà đầu tư sẽ bán các tài sản tài chính định giá bằng đồng nội tệ đểmua tài sản tài chính định giá bằng ngoại tệ, hành động này làm cho cầu ngoại
tệ tăng và dẫn đến tỷ giá tăng
+ Khi có lạm phát cao thì người dân mất lòng tin vào đồng nội tệ, từ
đó họ sẽ chuyển sang găm giữ ngoại tệ làm cho cầu ngoại tệ tăng , dẫn đến tỷgiá tăng
Chênh lệch lạm phát dựa vào thuyết ngang giá sức mua của đồng tiềnPPP Theo thuyết này, mức giá của một nước tăng lên tương đối so với mứctăng giá của nước khác trong dài hạn sẽ làm cho đồng tiền của nước đó giảm
Trang 8giá và ngược lại Như vậy, yếu tố chênh lệch lạm phát chỉ có ảnh hưởng đếnbiến động của tỷ giá trong dài hạn Việc nghiên cứu yếu tố này để làm cơ sở
dự đoán biến động của tỷ giá trong ngắn hạn sẽ đem lại kết quả không đángtin cậy
2.2.2 Chênh lệch lãi suất giữa hai nước
Lãi suất là một trong những công cụ được các chính phủ sử dụng trongquản lý vĩ mô nền kinh tế nhất là trong cơ chế thị trường, nó kích thích tậptrung nguồn lực tài chính và phân bổ nguồn lực đó một cách có hiệu quả, thúcđẩy nền kinh tế phát triển, ổn định mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.Đặcbiệt,Lãi suất còn là công cụ được sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thịtrường, điều chỉnh giá trị đối ngoại của nôi tệ Chính sách lãi suất cao có xuhướng hỗ trợ sự lên giá của nội tệ, bởi vì nó hấp dẫn các luồng vốn nước ngoàichảy vào trong nước, nếu lãi suất trong nước cao hơn so với lãi suất nước ngoàihay lãi suất ngoại tệ sẽ dẫn đến những dòng vốn chảy vào hay sẽ làm chuyểnlượng hóa ngoại tệ trong nền kinh tế sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất caohơn Điều này làm cho tăng cung ngoại tệ trên thị trường (cũng có nghĩa làmtăng cầu đối với đồng nội tệ), từ đó đồng ngoại tệ sẽ có xu hướng giảm giá trênthị trường, hay đồng nội tệ sẽ tăng giá Trong trường hợp ngược lại, nếu lãi suấttrong nước thấp hơn so với lãi suất nươc ngoài hay lãi suất ngoại tệ, đồng ngoại
tệ có xu hướng tăng giá trên thị trường hay đồng nội tệ sẽ giảm giá
2.2.3 Mức tăng trưởng thu nhập tương đối:
Khi thu nhập của một nước tăng đáng kể đối với đối tác thương mại của
nó thì nhu cầu về hàng nhập khẩu của nước có thu nhập tăng cao hơn sẽ tăng
Trang 9lên, từ đó làm tăng cầu ngoại tệ của nước đó, tạo áp lực tăng tỷ giá và ngượclại.
2.2.4 Sự can thiệp của chính phủ
Chính phủ của bất kỳ một nước nào cũng có thể thực hiện các chính sáchtài khóa, tiền tệ và các biện pháp hành chính riêng của mình để can thiệp, kiểmsoát nền kinh tế Thị trường ngoại hối là một trong những thị trường quan trọngđối với nền kinh tế của một nước, để quản lý thì mỗi quốc gia thường có một
cơ quan chính phủ can thiệp thị trường vào thị trường này nhằm khống chế giátrị của một đồng tiền, thông thường là ngân hàng trung ương (NHTW) Tỷ giáhối đoái là một yếu tố có liên quan chặt chẽ tới ngoại thương cũng như các biếnđộng kinh tế vĩ mô cho nên tất cả các NHTW đều phải can thiệp vào tỷ giá khicần thiết, thông qua:
Can thiệp trực tiếp: Các NHTW có thể tác động đến tỷ giá bằng cáchtrực tiếp mua vào ngoại tệ hoặc bán nội tệ ra thị trường Khi NHTW can thiệpvào thị trường hối đoái mà có sự điều chỉnh sự thay đổi trong mức cung tiền tệ,điều này gọi là can thiệp không vô hiệu hóa Ngược lại, nếu muốn can thiệpvào thị trường hối đoái, trong khi vẫn duy trì mức cung tiền tệ, NHTW sẽ sửdụng can thiệp vô hiệu hoá bằng cách áp dụng các giao dịch trên thị trườngngoại hối đồng thời với các hoạt động trên thị trường mở Thông thường là hoạtđộng của NHTW trên thị trường ngoại hối thông qua việc mua bán đồng nội tệnhằm duy trì một tỷ giá cố định nhưng để can thiệp thì NHTW cần có mộtlượng dự trữ ngoại hối đủ mạnh, hơn nữa can thiệp của NHTW tạo hiệu ứngthay đổi lượng cung tiền trong lưu thông tạo ra áp lực lạm phát hay giảm phát.Chính vì vậy mà chính phủ phải sử dụng thêm nghiệp vụ thị trường mở để hấpthụ lượng dư cung hay bổ sung thiếu hụt tiền tệ trong lưu thông Chính nhữnghạn chế đó mà NHTW đã chuyển từ can thiệp trực tiếp đến gián tiếp Ngoài ra,thuộc nhóm công cụ trực tiếp còn có biện pháp hành chính như: biện pháp kếthối, quy định đối tượng được mua ngoại tệ, các điều kiện và thời gian rút vốncủa các nhà đầu tư nước ngoài…
Can thiệp gián tiếp: NHTW có thể tác động đến đồng nội tệ một cáchgián tiếp bằng cách tác động đến các yếu tố ảnh hưởng đến đồng nội tệ như lãisuất, các biện pháp kiềm chế lạm phát… Một chính phủ cũng có thể tác độngđến đến các tỷ giá hối đoái bằng cách áp đặt các hàng rào đối với tài chính vàmậu dịch quốc tế như thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, thuế đánh trên bất
cứ thu nhập nào do đầu tư ở nước đó của các nhà đầu tư nước ngoài Cụ thể:Ngân hàng trung ương quy định lãi suất tái chiết khấu, dự trữ bắt buộcnhằm điều chỉnh lãi suất trên thị trường Khi các yếu tố khác không đổi,NHTW tăng lãi suất tái chiết khấu sẽ làm tăng lãi suất thị trường, làm tăngnguồn vốn ngoại tệ và kết quả là tạo áp lực tăng giá nội tệ
Chính phủ có thể thông qua việc kiềm chế lạm phát để tác động làm mấtgiá đồng nội tệ tức tăng tỷ giá để thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu
Trang 10Chính phủ còn có thể tiến hành một số quy định và biện pháp hành chínhtrong hoạt động lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế và các hoạt động ngoạithương đối với các quốc gia khác như:
Thuế quan: thuế nhập khẩu cao hạn chế nhập khẩu cầu ngoại tệ
giảm nội tệ lên giá Việc đánh thuế vào nguồn thu nhập của các nhà đầu tưnước ngoài cũng có tác dụng tương tự Bên cạnh đó chính phủ còn có thể hạnchế luồng vốn đầu tư từ trong nước ra nước ngoài bằng việc đánh thuế trên thunhập của những nhà đầu tư ra nước ngoài từ đó làm giảm cầu ngoại tệ giảmgiá ngoại tệ tỷ giá tăng
Hạn ngạch : việc đặt ra một hạn ngạch trong nhập khẩu sẽ hạn chế cầu về
hàng hóa nước ngoài, giảm cầu ngoại tệ, tạo áp lực tăng giá nội tệ
Giá cả: việc chính phủ trợ giá cho những mặt hàng xuất khẩu chiến lược
sẽ làm cho xuất khẩu tăng tăng cung ngoại tệ nội tệ tăng giá Bù giá thì
cơ chế như sau : việc chính phủ bù giá cho những mặt hàng nhập khẩu sẽ làmcho nhập khẩu tăng tăng cầu ngoại tệ ngoại tệ tăng giá tỷ giá tăng
2.2.5 Các yếu tố khác
Kỳ vọng về tỷ giá:
Kì vọng của thị trường vào tỷ giá tuơng lai cũng là một trong những nhân
tố tác động đến tỷ giá hối đoái Như các thị trường tài chính khác, thị trườngngoại hối phản ứng lại với các thông tin trong tương lai có liên quan đến tỉ giá
Ví dụ : khi các nhà đầu cơ kỳ vọng đồng tiền của một nước nào đó sẽ giảm giáthì họ sẽ bán tháo đồng tiền đó dẫn đến kết quả làm cho đồng tiền đó thật sự bịmất giá và ngược lại Đây chính là yếu tố kỳ vọng tạo ra kỳ vọng của chính nó.Tuy nhiên chính hành động của nhà đầu cơ đã đưa đồng tiền về giá trị thực củachính nó
Một kỳ vọng về sự giảm giá của VND so với USD và những diễn biến bấtthường trên thị thường vàng được phản ánh qua diễn biến tỷ giá qua nhữngtháng vừa qua:
Trang 11Nhiều nhà đầu tư định chế (như các ngân hàng thương mại và các công tybảo hiểm) thực hiện vị thế tiền tệ dựa trên biến động lãi suất dự kiến ở cácnước khác nhau.
Ví dụ: Các nhà đầu tư định chế có thể đầu tư một cách thường xuyên ngânquỹ vào Việt Nam nếu họ dự kiến lãi suất của Việt Nam tăng, một gia tăng nhưthế sẽ thu hút vốn vàoViệt Nam nhiều hơn và tạo áp lực tăng giá đồng ViệtNam Bằng cách thực hiện vị thế mua bán tiền dựa vào kì vọng, họ có thể đạtđược lợi ích từ sự thay đổi trong giá trị của đồng Việt Nam vì họ sẽ mua đồngViệt Nam trước khi sự thay đổi xảy ra
Ứng xử của công chúng: sự ưa thích hàng nội hay hàng ngoại Nếu sự
ưa thích hàng ngoại tăng thì nhu cầu về hàng nhập khẩu tăng làm cho ngoại tệtăng giá Nếu cầu về hàng xuất khẩu của một nước tăng lên về lâu dài làm chođồng tiền của nước đó tăng giá tức tỷ giá giảm
3 Diến biến tình hình tỷ giá từ năm 2008 đến tháng 10/2010 và những nguyên nhân của những sự biến động đó:
3.1 Diễn biến tỷ giá năm 2008
Tỷ giá VND/USD qua năm 2008 đã có ba lần nới biên độ tỷ giá và cơnsốt USD vào giữa tháng 6/2008 Có thể phân thị trường ngoại tệ ở Việt Namtrong năm 2008 thành 4 giai đoạn sau:
Diễn biến tỷ giá USD/VND năm 2008 - Nguồn: BIDV
Giai đoạn đầu (3 tháng đầu năm từ 01/01/2008 – 25/03/2008): Tỷ giá liêntục giảm, dưới mức sàn
Trong giai đoạn 3 tháng đầu năm, tỷ giá USD/VND trên thị trường liênngân hàng liên tục sụt giảm (từ mức 16.112 đồng xuống 15.960 đồng mức thấpnhất là 15.560 đồng/USD) Trên thị trường tự do, USD dao động từ mức15.700 – 16.000 đồng/USD
Nguyên chính của tình trạng trên là do:
Khan hiếm VND do các biện pháp kiềm chế lạm phát của chính phủ:Theo công bố của Tổng cục Thống kê, giá tiêu dùng tháng 1/2008 đã tăng2,38% so với tháng 12/2007 và tăng 14,11% so với tháng 1 cùng kỳ năm ngoái.Với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ngày 30/1/2008, NHNN thông báo điều chỉnh
Trang 12các lãi suất: lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm tăng lên 8,75%/năm, tăng 0,5%/năm;lãi suất tái cấp vốn từ 6,5%/năm tăng lên 7,5%/năm, tăng 1,0%/năm; lãi suấtchiết khấu từ 4,5%/năm tăng lên 6,0%/năm, tăng 1,5%/năm… đi kèm theo đó
là việc Ngân hàng Nhà Nước phát hành 20300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc với
41 NHTM, kỳ hạn là 364 ngày, lãi suất là 7,80%/năm Hệ quả tức thời của cáctác động trên là dòng tiền VND bị chặn lại, gây ra hiện tượng khan hiếm tiềnmặt, thừa USD giữa các NHTM
Chênh lệch lãi suất lớn giữa USD và VND nên các nhà đầu tư đẩy mạnhviệc bán USD chuyển qua VND : Lãi suất gửi bằng VND tăng cao do việcNHNN tăng lãi suất cơ bản để kiềm chế lạm phát đồng thời các NHTM cũngchạy đua lãi suất huy động để thu hút tiền mặt nhằm đáp ứng yêu cầu mua tínphiếu bắt buộc từ NHNN Sự kết hợp của các yếu tố trên đã đẩy lãi suất VNDcao hơn nhiều so với USD, thêm vào đó thì tỷ giá VND/ USD sụt giảm nghiêmtrọng, lãi suất cơ bản tại Mỹ sụt giảm để kích thích nền kinh tế đang trongkhủng hoảng làm cho dòng vốn lớn từ nước ngoài đổ vào Việt Nam Các nhàđầu tư nước ngoài bán USD lấy VND rồi đem gửi tiết kiệm, kiều bào nướcngoài cũng gửi tiền về cho người thân ở Việt Nam để hưởng lãi suất
Những nguyên nhân nổi cộm trên đã tạo ra một áp lực tăng giá lớn lênVND dẫn đến sự sụt giảm mạnh tỷ giá trong giai đoạn này
Giai đoạn 2 (từ 26/03 – 16/07): Tăng với tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do.
Trong tháng 4/2008, tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục tăng lên, để ổn định tỷgiá, NHNN phải bán ngoại tệ can thiệp thị trường Từ đầu tháng 5 có sự xáođộng mạnh trong cung-cầu ngoại tệ trên thị trường, sau kỳ nghỉ lễ, giá USDbán ra của các NH bất ngờ tăng mạnh thêm 20 VND, đợt biến động mạnh thứ 2sau đợt biến động mạnh từ 20 đến 31/3 Tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục tăngkhiến lãi suất USD bước vào cuộc đua mới Ở hầu hết các NHTM, giá USDtăng kịch trần, hết biên độ cho phép, trên thị trường tự do, giá bán dao độngxung quanh 17.100 – 17.500 VND/USD Tính toán của Tổng cục Thống kêcông bố cho thấy, trong tháng 5, giá USD tính theo VND đã tăng mạnh với1,02% so với tháng trước đó Đặc biệt trung tuần tháng 6/2008, cơn sốt USDbùng phát, có thời điểm giá chợ đen lên tới 19.000-19.800 VND/USD
Nguyên nhân là do: việc thắt chặt tiền tệ quá mức để kiềm chế lạm phát
đã dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản trầm trọng trong hệ thống các NHTM
Vì thế 10/3/2008, NHNN cũng tung ra thị trường 33.000 tỷ đồng vay ngắn hạn;gấp 1,5 lần số lượng tiền định rút về qua tín phiếu bắt buộc, làm cho lạm pháttăng cao Mặc dù NHNN đã ban hành cơ chế mới về điều hành lãi suất, nânglãi suất cơ bản từ 8,75%/năm lên 12%/năm vào tháng 5, rồi sau đó tăng lên14%/năm vào tháng 6, nhưng việc áp dụng trần lãi suất làm cho các NHTMkhông thể tăng lãi suất lên, lãi suất thực âm, lượng tiền huy động giảm sút nhưvậy làm trậm trọng hơn vấn đề lạm phát vì không thể hút tiền từ trong lưuthông về vì trong tình hình lạm phát cao Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng4/2008 so với tháng 12/2007 đã tăng lên hai chữ số là 11,6%; gần bằng tốc độcủa cả năm 2007 (12,63%) Lạm phát tháng 5 tiếp tục tăng 3,91%, cao nhất kể