Một số rủi ro cơ bản trong ngân hàng: • Rủi ro tín dụng Credit Risk: là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng khôn
Trang 1BÀI THẢO LUẬN RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY Nhóm 8 – Lớp NVNH02
Danh sách thành viên:
1 Lê Phương Anh
2 Trần Kiều Anh (Nhóm trưởng)
3 Nguyễn Thị Hạnh
4 Trương Thị Hà
5 Nguyễn Thị Huyền
6 Phạm Thị Phượng
7 Ngô Xuân Sơn
8 Đặng Minh Thúy
NỘI DUNG
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một bộ phận không thể tách rời khỏi đời sống
xã hội, là một sản phẩm đặc biệt của nền kinh tế thị trường Sự ra đời của NHTM đánh dấu một bước nhảy vọt trong quá trình phát triển đi lên của nhân loại Lênin đã coi sự
ra đời của ngân hàng như: “ Sự phát minh của lửa hay Ngân hàng thương mại hiện nay
là kết quả tất yếu của quá trình phát triển của nền kinh tế tiền tệ Hệ thống ngân hàng thương mại có một bước lịch sử hình thành và phát triển hết sức riêng biệt với các ngành kinh doanh khác Hiện nay, sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại ngày càng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
Cũng giống như các tổ chức kinh doanh khác, mục đích của các NHTM là thu được lợi nhuận tối đa Thực tế cho thấy, thị trường tài chính tín dụng Việt Nam hiện nay đang chứng kiến cuộc đua tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại Mức độ cạnh tranh sẽ càng khốc liệt trong thời gian tới khi nhà nước thực hiện mở rộng hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực ngân hàng Để có thể tồn tại và phát triển bền vững, các ngân hàng thương mại phải nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh, một mặt không ngừng gia tăng các dịch vụ và mặt khác nâng cao năng lực quản trị trong đó năng lực quản trị rủi ro được xem là quan trọng hàng đầu, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những nguy cơ tiềm ẩn dẫn tới rủi ro
Bởi vậy nghiên cứu về rủi ro tín dụng và việc quản lý rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại là rất cần thiết
Trang 2Phần 1: Khái quát chung về rủi ro
1.1 Rủi ro trong ngân hàng
2.1.1 Bản chất của rủi ro
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được hiểu là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế
so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định
Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định
Khi đề cập đến rủi ro, người ta thường nhắc đến hai yếu tố mang tính đặc trưng của rủi ro là biên độ rủi ro: mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra và tần suất xuất hiện rủi ro;
số trường hợp thuận lợi để rủi ro xuất hiện/tổng số trường hợp đồng khả năng
Rủi ro là yếu tố khách quan, nên người ta không thể nào loại trừ được hẳn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện và những tác hại của chúng gây ra
2.1.2 Một số rủi ro cơ bản trong ngân hàng:
• Rủi ro tín dụng (Credit Risk): là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín
dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng
• Rủi ro tỷ giá hối đoái (Foreign Exchange Rate (Forex) Risk): là loại rủi ro
phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng
• Rủi ro lãi suất (Interest Rate Risk): là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi
của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất
về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng
• Rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk): là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp
ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán
• Rủi ro tác nghiệp (Operational Risk): là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián
tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng
1.2 Rủi ro tín dụng
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Trang 3Rủi ro tín dụng hiểu một cách chung nhất là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng, thể hiện qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng Nói một cách khác là người vay, không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu khi khách hàng vay không trả đúng hạn ,không trả hoặc không trả đầy đủ cả vốn lẫn lãi Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn ban gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh ,cam kết ,chấp thuận tài trợ
thương mại ,cho vay ở thị trường liên ngân hàng,tín dụng thuê mua,đồng tài trợ
Bản chất: Trong kinh doanh ngân hàng, việc ngân hàng đương đầu với rủi ro tín
dụng là điều không thể tránh khỏi được Thừa nhận một rủi ro tự nhiên trong họt động kinh doanh ngân hàng là yêu cầu khách quan ,hợp lý Vấn đề là làm thế nào để hạn chế rủi ro này ở 1 tỷ lệ chấp thuận được.Theo thông lệ quốc tế tổn thất 1 % tổng dư nợ bình quân hàng năm là 1 ngân hàng có trình độ quản lý tốt và hoàn toàn không có tác động đến ngân hàng
Về mặt định lượng: Rủi ro tín dụng được phản ánh bởi chính số tiền nợ quá hạn,
nợ đọng của mỗi ngân hàng
Về mặt định tính: Rủi ro tín dụng có quan hệ ngược chiều với chất lượng tín dụng Theo đó chất lượng tín dụng càng cao thì rủi ro càng thấp và ngược lại
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
1.2.2.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro
Rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau :
Rủi ro giao dịch : là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân
phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng
Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro lựa chọn : là rủi ro có liên quan đến thẩm định và phân tích tín dụng
+ Rủi ro bảo đảm : phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản
trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo và mức an toàn của nó
Trang 4+ Rủi ro nghiệp vụ : là rủi ro liên quan đếnquản trị hoạt động cho vay
Rủi ro danh mục : là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân
phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 02 loại : rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
+ Rủi ro nội tại : xuất phát từ các yếu tố riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc
ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
+ Rủi ro tập trung : là mức dư nợ cho vay được dồn cho một số khách hàng,
một sô ngành kinh tế hoặc một số loại cho vay hoặc một khu vực địa lý
1.2.2.2 Phân loại theo nguyên nhân gây ra rủi ro
• Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên
tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, người đi vay chết hoặc mất tích, chính sách của chính phủ và các biến động ngoài dự kiến khác làm người vay không trả đủ nợ gốc và lãi đúng hạn hoặc không thể trả được
• Rủi ro chủ quan: là rủi ro do chính người đi vay làm thất thoát vốn vay,
do ngân hàng cho vay
1.2.3 Đặc điểm
• Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu: Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn
liền với hoạt động tín dụng Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động ngân hàng.Các ngân hàng phải đánh giá các cơ hội dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội mang lại lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận
• Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân
vốn vay trong quá trình sử dụng vốn vay của khác hàng Ngân hàng thường ở thế bị động, thường biết thông tin sau hoặc không chính xác về những khó khăn thất bại của khách hàng và do đó thường có những phản ứng chậm trễ
• Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng, phức tạp: biểu hiện ở sự đa dạng
và phức tạp của các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, cũng như các hậu
quả do rủi ro tín dụng gây ra.
Trang 5Phần 2: Quản lý rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt
Nam hiện nay
2.1 Mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng
Quản lý mục tiêu rủi ro tín dụng nhằm mục đích:
• Tăng lợi nhuận: rủi ro xảy ra phát sinh khoản nợ khó đòi, làm ứ đọng vốn dẩn
đến làm hỏng vòng quay vốn của ngân hàng.Do đó,làm tốt công tác quản lý sẽ đảm bảo được mục tiêu tăng lợi nhuận
• Đảm bảo khả năng thanh toán: ngân hàng thường lập kế hoạch cân đối dòng
tiền ra và dòng tiền vào tại các thời điểm trong tương lai.Khi các món vay không được thanh toán đúng hạn sẽ không cân đối giữa hai dòng tiền.Nếu ngân hàng không đi vay hoặc bán các tài sản của mình thì khả năng chi trả của ngân hàng sẽ bị suy yếu và hạn chế, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong thanh toán
• Đảm bảo uy tín: Nếu khả năng chi trả tái diễn nhiều lần hay những thông tin về
rủi ro tín dụng của ngân hàng bị tiết lộ ra công chúng, uy tín của ngân hàng bị tiết lộ ra công chúng, uy tín trên thị trường tài chính sẽ bị giảm sút Hậu quả là khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường sẽ yếu đi, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong huy động tiền gửi của dân cư Các ngân hàng hoạt động trong nền kinh tế thị trường khi đã
để mất đi niềm tin thì sự khôi phục niềm tin là điều hết sức khó khăn
2.2 Các nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng
• Nguyên tắc chấp nhận rủi ro:Các nhà quản lý phải chấp nhận rủi ro ở mức cho
phép nếu muốn có thụ nhập phù hợp từ hoạt động tín dụng của mình Do đó, nguyên tắc đầu tiên trong quản lý rủi ro tín dụng là phải phân biệt rủi ro cho phép Việc chấp nhận ở mức độ rủi ro tín dụng là điều kiện quan trọng để điều tiết các tác động tiêu cực của chúng trong quá trình quản lý rủi ro
• Nguyên tắc điều hành rủi ro ở mức cho phép: Nguyên tắc này đòi hỏi phần
lớn rủi ro tín dụng trong mức cho phép phải được điều hành sao cho hạn chế nó ở mức tối thiều
• Nguyên tắc quản lý độc lập rủi ro tín dụng với các loại rủi ro khác trong ngân hàng: Nhìn chung sự thiệt hại đối với ngân hàng do các loại rủi ro khác nhau gây
nên là khá độc lập nhau nên quá trình quản lý chúng phải được điều tiết cách biệt Không thể gộp rủi ro khác nhau vào một nhóm để đưa ra phương án điều hành
• Nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng: Hệ thống quản lý
rủi ro tín dụng cần phải dựa trên nền tảng những tiêu chí chung phát triển ngân hàng
Trang 62.3 Thực trạng về tình hình quản lý rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam
2.3.1 Diễn biến tình hình tình hình tín dụng của các ngân hàng thương mại trong
thời gian qua
Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với NH, gây tổn thất cho
NH, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho NH.Từ đó, có nhiều tiêu chí phản ảnh rủi ro tín dụng của NHTM như:
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
- Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu
- Tỷ lệ nợ xấu trên quĩ dự phòng tổn thất
- Nợ đáng nghi ngờ (nợ có vấn đề) – có khả năng chuyển thành nợ xấu cao
- Nợ không có tài sản đảm bảo
Theo Báo cáo giải trình chất vấn của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại Phiên họp thứ 10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 15/8/2012
Theo kết quả giám sát của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 31/3/2012 nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 202.099 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ cấp tín dụng Trong đó, nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước là 125,8 ngàn tỷ đồng, chiếm 10,37% dư nợ cấp tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước; nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là 60,9 ngàn tỷ đồng, chiếm 5,8% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần
Từ năm 2008 đến nay, nợ xấu của các tổ chức tín dụng có xu hướng tăng
nhanh Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, đến ngày 31/5/2012, nợ xấu của hệ thống là 117.723 tỷ đồng, chiếm 4,47% so với tổng dư nợ tín dụng Trong đó, nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước là 54,6 ngàn tỷ đồng, chiếm 3,96% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước; Nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là 41 ngàn tỷ đồng, chiếm 4,54% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần
Nghiên cứu trực tiếp với 8 ngân hàng thương mại điển hình:
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam-Vietinbank (CTG),
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Vietcombank (VCB),
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Sacombank (STB)
Trang 7Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam – Eximbank (EIB)
Ngân hàng Á Châu (ACB)
Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội – Habubank(SHB)
Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội (HBB)
Ngân hàng TMCP Nam Việt- (NVB),sử dụng số liệu về các chỉ tiêu rủi ro tín dụng
như sau
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, việc chia nhóm nợ thành 5 nhóm như:
Bảng 1:
Phân
Nhóm
1
Nợ
đủ
tiêu
chuẩn
Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có
đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn 0%
Nhóm
2
Nợ
cần
chú ý
Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời
hạn nợ đã cơ cấu lại
5%
Nhóm
3
Nợ
dưới
tiêu
chuẩn
Các khoản nợ quá hạn từ 90-180 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90
ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
20%
Nhóm
4
Nợ
nghi
ngờ
Các khoản nợ quá hạn từ 180-360 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90-180
ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
50%
Nhóm
5
Nợ có
khả
năng
mất vốn
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
Các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý
100%
Trang 8Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm
3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng của các NHTM ( số liệu lấy từ 31/12/2010 đến 30/9/2011)
Nguồn: Diễn đàn kinh tế Việt Nam-vef.vn
Vietcombank (VCB) bất ngờ lại là ngân hàng có nợ xấu cao nhất 3,9%, tiếp theo
là NVB (2,8%), HBB (2,8%) Sacombank (STB) là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất (0,6%)
NHTM niêm yết đều có tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh so với cuối năm 2010 Đáng chú
ý, nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5 - phải trích lập dự phòng 100%) tăng mạnh
Tại
30/9/201
Trang 9Nợ có
khả năng
mất vốn
(nhóm 5)
- tỷ đồng
Nguồn: Diễn đàn kinh tế Việt Nam-vef.vn Trong đó cơ cấu nợ của các NHTM như sau:
Nguồn: Diễn đàn kinh tế Việt Nam-vef.vn
Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) của HBB chiếm 24% tổng dư nợ, của VCB là 18,78% tổng dư nợ Mặc dù nợ nhóm 2 chưa được tính vào nợ xấu nhưng chỉ cần các khoản
nợ này quá hạn trên 90 ngày hoặc các khách hàng có thêm một khoản nợ bị chuyển vào nhóm rủi ro cao hơn thì khoản nợ đó sẽ bị cơ cấu lại thành nợ xấu Tỷ lệ nợ nhóm
2 cao cũng là một tín hiệu đáng lưu ý
Rủi ro thanh khoản
Để làm rõ tình trạng rủi ro thanh khoản ta dựa vào:
Trang 10Nếu nhìn vào cơ cấu kỳ hạn huy động vốn và cho vay của các NHTM, chúng ta
sẽ không khỏi "giật mình" vì ngoại trừ các NHTM lớn có vốn huy động dài hạn, các NHTM nhỏ hầu như không có khoản tiền gửi trên 5 năm, đa số là các khoản tiền gửi 1 tháng đến 3 tháng.Mặt khác:
Trang 11Các NHTM cho vay trung và dài hạn trong khi các khoản tiền gửi của khách hàng lại chỉ tập trung vào các kỳ hạn ngắn từ 1-3 tháng sẽ khiến các ngân hàng có thể gặp rủi ro về thanh khoản Hơn nữa, nợ xấu tăng nhanh qua các tháng, đặc biệt nợ có khả năng mất vốn tăng cao (lên tới 8.293 tỷ) là 1 khó khăn của các ngân hàng hiện nay
2.3.2 Đánh giá về hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của các NHM hiện nay:
Theo ông Phạm Xuân Hoè, Trưởng phòng Quản lý vốn và Khai thác tài sản, Ngân hàng Công thương:"Các khoản cho vay khó đòi bắt nguồn từ sự yếu kém trong quản lý, cho vay không tuân thủ đúng nguyên tắc tín dụng, chính sách cho vay không hợp lý và tình trạng suy thoái ngoài dự kiến của nền kinh tế Tuy nhiên, phải thừa nhận, rủi ro tín dụng trước hết xuất phát từ phía chủ quan của ngân hàng, đáng chú ý là chính sách cho vay.”Chính sách cho vay của hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay, theo ông Hoè, phần lớn đều chưa đạt tầm chiến lược, chưa theo nguyên tắc thị trường, thậm chí còn bị cuốn theo các hội chứng kinh tế Ám ảnh về sự thiếu lành mạnh trong hoạt động của khối doanh nghiệp dân doanh, đặc biệt từ sau vụ án Epco - Minh Phụng , khiến các ngân hàng thương mại quốc doanh tập trung cho vay với nhiều tổng công ty nhà nước
dù thực lực tài chính của nhóm khách hàng này rất yếu kém Các ngân hàng thương mại thậm chí còn ngấm ngầm đua nhau tiếp thị tới các tổng công ty để cho vay, dù không phải không có sự cảnh báo từ giới nghiên cứu, phân tích Theo ông Hoè, thực trạng dư nợ cho vay với các tổng công ty chiếm tới 35-40% tổng dư nợ của một số ngân hàng thương mại nhà nước là tín hiệu báo động đỏ
về chất lượng tín dụng Hiện số công nợ của các tổng công ty thuộc ngành xây dựng và giao thông vận tải lên tới hơn 11.000 tỷ đồng Theo báo cáo của Bộ Tài chính, trên 90% khoản nợ này là thuộc vốn vay của ngân hàng thương mại
Các cơ chế quản trị rủi ro cho hệ thống ngân hàng Việt Nam đang tiến dần tới thông lệ quốc tế và được đánh giá là khá chặt chẽ "Tuy nhiên, giải pháp hữu hiệu nhất chính là nâng cao năng lực tự quản trị rủi ro của các ngân hàng chứ không phải là khống chế từ trên ngân hàng trung ương xuống theo các tỷ lệ, chỉ tiêu nhất định, để từ đó ngân hàng thương mại cố gắng làm mọi việc để đạt chỉ tiêu đó, kể cả chuyện bóp méo số liệu Việc đảm bảo an toàn chỉ có mỗi yêu cầu
từ ngân hàng trung ương dội xuống thì vô cùng mỏng manh, bởi cơ chế đó do ngân hàng trung ương đưa ra, rồi chính ngân hàng trung ương kiểm soát và đánh giá", bà Tô Kim Ngọc, Phó giám đốc Học viện Ngân hàng
2.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng và nguyên nhân
2.4.1 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
2.4.1.1 Tác động đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM
Khi gặp rủi ro tín dụng, các NHTM chẳng những không thu hồi được vốn tín dụng đã cấp và lãi từ hoạt động cho vay, mà còn phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy