Vậy lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế, những nguyên nhân nào gây ra lạm phát ở nước ta…là những vấn đề cần được làm sáng tỏ, để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thíc
Trang 1MỤC LỤC
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 5
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 5
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
4.1 Phương pháp luận 5
4.2 Phương pháp khác 6
5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 1.1 CÁC QUAN ĐIỂM VỀ LẠM PHÁT – ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT 8
1.1.1 Các quan điểm về lạm phát 8
1.1.1.1.Trường phái lưu thông tiền tệ 8
1.1.1.2 Trường phái cầu kéo 8
1.1.1.3 Trường phái lạm phát và giá cả 8
1.1.1.4 Trường phái K.Max 9
1.1.2 Đo lường lạm phát 9
1.1.2.1 Chỉ số tiêu dùng CPI 9
1.1.2.2 Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội 10
1.1.2.3 Chỉ số lạm phát cơ bản 10
1.2 PHÂN LOẠI LẠM PHÁT 11
1.2.1 Lạm phát vừa phải 11
1.2.2 Lạm phát cao 11
1.2.3 Siêu lạm phát 11
1.3 NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT 12
3.1.1.Lạm phát do cầu kéo 12
1.3.2 Lạm phát do chi phí đẩy 12
3.3.1 Lạm phát do cung tiền tăng 13
1.3.4 Lạm phát do dự kiến 13
1.4 HẬU QUẢ CỦA LẠM PHÁT 13
1.5 TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT 13
Trang 21.5.1 Lạm phát không dự kiến 15
1.5.2 Lạm phát dự kiến 16
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1976 ĐẾN NAY 16
2.1.1 Khái quát tình hình lạm phát Việt nam từ năm 1976 đến 1995 16
2.1.1.1 Giai đoạn từ 1976 đến 1980 17
2.1.1.2 Giai đoạn từ 1981 đến 1988 16
2.1.1.3 Giai đoạn từ1989 đến 1995 18
2.1.2 Khái quát tình hình lạm phát Việt Nam từ năm 1996 đến 1999 19
2.1.3.Khái quát tình hình lạm phát Việt Nam từ năm 2000 đến 2006 19
2.1.4 Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007 đến 9/2011 20
2.1.4.1 Giai đoạn từ 2007 đến 2009 20
2.1.4.2 Giai đoạn từ 2010 đến 9/2011 21
2.2 TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT 24
2.2.1 Tác động của lạm phát đến tình hình kinh tế 24
2.2.1.1 Lĩnh vực tiền tệ tín dụng 25
2.2.1.2 Lĩnh vực sản xuất 25
2.2.1.3 Lĩnh vực lưu thông 26
2.2.2 Tác động của lạm phát đến tình hình xã hội 27
2.3 NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 28
2.3.1 Nguyên nhân khách quan 28
2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 29
2.3.2.1 Chi tiêu công và độc lập của ngân hàng nhà nước 30
2.3.2.2 Khả năng điều hành nền kinh tế 31
CHƯƠNG III : CÁC GIẢI PHÁP VẬN DỤNG VÀO VIỆT NAM NHẰM KIỀM CHẾ VÀ KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG LẠM PHÁT TRONG NỀN KINH TẾ 3.1 GIẢI PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ ĐƯA RA 33
Trang 33.1.2 Chính sách tiền tệ 35
3.1.3 Về công tác quản lý 36
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ 37
3.3 DỰ BÁO TÌNH HÌNH LẠM PHÁT TRONG THỜI GIAN TỚI 39
KẾT LUẬN 41
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế và lạm phát 1988-1995 (tỷ lệ %) 18 Bảng 2: Tăng trưởng GDP của Việt Nam qua các năm (%) 26 Bảng 3: Số liệu CPI, GDP, lương tối thiểu qua các năm 2001-2011 29 Bảng 4: Điều chỉnh tỷ giá tiền qua các thời kỳ 32 Bảng 5: Dự báo một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn 2012-2013 32 Hình 1: Mô hình tổng cung và tổng cầu 13 Hình 2: Diễn biến tốc độ tăng CPI năm 2010 22 Hình 3: Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tốc độ tăng GDP 2007-2011 31 Hình 4: Tốc độ tăng giá điện giai đoạn 2009-2011 40
Trang 4Vậy lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế, những nguyên nhân nào gây ra lạm phát ở nước ta…là những vấn đề cần được làm sáng tỏ, để trên cơ sở
đó đề xuất những giải pháp thích hợp kiểm soát lạm phát góp phần thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô, bảo đảm an ninh xã hội
Bài viết này với đề tài: “TÌM HIỂU VỀ LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY” Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là
cần thiết, cấp bách, đặc biệt thấy được tầm quan trọng của lạm phát Vì vậy, với lực
Trang 5lượng kiến thức còn hạn chế, em thiết nghĩ nghiên cứu đề tài này cũng là một phương pháp để hiểu nó một cách thấu đáo hơn, sâu sắc hơn.
Rất mong nhận được sự thông cảm của các thầy, cô giáo và các bạn đọc Em xin chân thành cảm ơn Thạc Sĩ Lưu Thị Minh Hà đã tận tình hướng dẫn cho em hoàn thành đề án này một cách thuận lợi nhất
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Xuất phát từ lý do như trên, đề tài đi vào nghiên cứu những vấn đề sau:
Thứ nhất, làm rõ những quan điểm, lý luận về lạm phát, từ đó xem xem những
quan điểm nào được vận dụng phổ biến và phù hợp với nền kinh tế Việt Nam
Thứ hai, khái quát lại tình hình lạm phát của Việt Nam từ sau khi thống nhất
(1976) đến nay đặc biệt là giai đoạn 2007-2011
Thứ ba, chỉ ra được ảnh hưởng của lạm phát tới 3 biến số kinh tế vĩ mô quan
trọng còn lại trong tứ giác kinh tế, đó là tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và cán cân thanh toán
Thứ tư, trên cơ sở diễn biến tình hình lạm phát ở nước ta rút ra được những
nguyên nhân cơ bản nào tác động tới lạm phát ở nước ta
Thứ năm, xem xét lại cách đo lường lạm phát ở nước ta hiện nay, từ đó rút ra
những hạn chế để đề xuất một cách đo lường tốt hơn
Thứ sáu, đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát để ổn định kinh tế vĩ mô
giai đoạn hiện nay
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Để giải quyết những vấn đề nêu ra ở trên đề tài cần trả lời được những câu hỏi như sau:
- Một là nêu thực trạng lạm phát trong những năm gần đây, cụ thể là trong giai đoạn 2007-2011
- Hai là các nhân tố chủ yếu tác động đến lạm phát ở Việt Nam
- Ba là lạm phát ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp
và cán cân thanh toán
- Bốn là những nguyên nhân nào gây ra lạm phát trong thời gian qua
- Năm là phân tích ảnh hưởng của lạm phát tới đời sống xã hội… Đưa ra các ý kiến, đề xuất về các biện pháp kiềm chế lạm phát sao cho phù hợp với tình hình thực tế
Trang 64 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a Phương pháp luận :
Do vấn đề lạm phát có liên quan mật thiết đến nhiều vấn đề khác như tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp, cán cân thanh toán…thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như tài chính nhà nước, tín dụng ngân hàng…nên khi nghiên cứu lạm phát phải đặt trong mối quan hệ tương hỗ qua lại giữa các yếu tố trên, giữa các lĩnh vực trên Do vậy, phương pháp luận chủ đạo là vận dụng phép duy vật biện chứng
Tuy nhiên vận dụng phương pháp nghiên cứu như thế nào đi nữa thì cũng có thể
xa rời, thoát li khỏi thực tiễn Do vậy phải căn cứ vào tình hình thực tiễn kinh tế-xã hội Việt Nam của Đảng làm kim chỉ nam cho mọi vấn đề, khi đó giải pháp đưa ra mới phù hợp Do vậy phương pháp luận của bài là vận dụng quan điểm của Đảng về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ
b Phương pháp khác:
Trên cơ sở phương pháp lẫn chủ đạo, trước tiên bài làm sẽ đi vào thu thập các số liệu về lạm phát, tăng trưởng kinh tế…và các số liệu cần cho nghiên cứu Do vậy, phương pháp nghiên cứu của bài là phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp thống kê, sưu tầm các số liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là từ các bộ và ban ngành Công việc này tiến hành qua 2 bước như sau:
- Thống kê các số liệu cần thiết cho nghiên cứu như tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, tốc độ tăng trưởng kinh tế…qua các năm
- Tùy vào mục đích nghiên cứu mà trích lọc số liệu từng giai đoạn khác nhau.Dựa trên số liệu thống kê được luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, đồ thị có sự hỗ trợ của máy tính để xử lí và biểu diễn số liệu có được theo nội dung cần thiết
Để có thể thấy được vấn đề nghiên cứu thay đổi như thế nào qua thời gian, bài
viết sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu nhằm xem xét vấn đề trong mối tương
quan, so sánh đối chiếu trong những thời kì khác nhau
Ngoài ra, để mổ xẻ vấn đề nghiên cứu một cách tỉ mỉ, bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành: xem xét, nghiên cứu vấn đề dưới góc độ từ nhiều ngành khác nhau
Trang 7Cuối cùng, một phương pháp khác không kém phần quan trọng đó là phương pháp chuyên gia: tìm hiểu vấn đề thông qua hình thức thu thập ý kiến của những người
có nhiều kinh nghiệm (đặc biệt là các thầy cô giảng viên), am hiểu trên từng lĩnh vực
để từ đó rút ra những kết luận xác thực
5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh khu vực và thế giới có nhiều bất ổn do chiến tranh, xung đột, thiên tai đặc biệt là nạn khủng bố thì Việt Nam trong những năm gần đây được xem là điểm đến an toàn nhất, có tình hình chính trị ổn định nhất Nếu như chúng ta tạo được một sự ổn định nữa về mặt kinh tế thì khả năng thu hút đầu tư nước ngoài là rất lớn Nhưng trước hết là tạo được tâm lí ổn định trong nước, khuyến khích mọi tầng lớp dân
cư an tâm làm ăn lâu dài góp phần vào việc phát triển kinh tế một cách ổn định, bền vững
Để tạo đươc một sự ổn định về kinh tế, cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng
bộ trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội Trong đó một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đặt ra là phải ổn định nền tài chính tiền tệ của quốc gia mà nổi lên
đó là vấn đề kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị tiền tệ để tăng trưởng ổn định, bền vững và có hiệu quả
Bằng việc đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề liên quan đến lạm phát cùng với việc đề ra các biện pháp kiềm chế lạm phát, em mong muốn góp chút công sức để người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về nền kinh tế Việt Nam
Trang 81.1.1.1 Trường phái lưu thông tiền tệ:
Theo trường phái lạm phát "lưu thông tiền tệ" (đại diện là Miltơn Priedman) họ cho rằng lạm phát tiền tệ là đưa nhiều tiền thừa vào lưu thông làm cho giá cả hàng hoá tăng lên Chúng ta đều biết rằng không phải bất cứ số lượng tiền nào tăng lên trong lưu thông với nhịp điệu nhanh hơn sản xuất cũng đều là lạm phát, nếu như nhà nước không giảm bớt nội dung vàng hoặc giá trị tượng trưng trong đồng tiền để bù đắp cho bội chi ngân sách, K.Mazx đã chỉ ra rằng ý nghĩ về lạm phát của học thuyết này là quá đơn giản Những người theo học thuyết này đã dùng logic hình thức để kết hợp một cách máy móc hiện tượng tăng số lượng tiền với hiện tượng tăng giá để rút ra bản chất kinh tế của lạm phát
1.1.1.2 Trường phái cầu kéo:
Trường phái lạm phát do cầu kéo mà đại diện là J.Keynes cho rằng Lạm phát là
"cầu dư thừa tổng quát cho phát hành tiền ra quá mức sản xuất trong thời kỳ toàn dụng dẫn đến mức giá chung tăng Chúng ta nhận thức được rằng nói lạm phát là "cầu dư thừa tổng quát" là không chính xác, vì trong giai đoạn khủng hoảng ở thời kỳ CNTB phát triển mặc dù có khủng hoảng sản xuất thừa mà không có lạm phát Còn ở Việt Nam trong năm 1991 có tình trạng cung lớn hơn cầu mà vẫn có lạm phát giá cả và lạm phát tiền tệ Tuy Keynes đã tiến sâu hơn trường phái lạm phát lưu thông tiền tệ là không lấy hiện tượng bề ngoài, không coi điều kiện của lạm phát là nguyên nhân của lạm phát nhưng lại mắc sai lầm về mặt lôgíc là đem kết quả của lạm phát quy vào bản chất của lạm phát Khái niệm của Keynes vẫn chưa nên được đúng bản chất kinh tế -
xã hội của lạm phát
1.1.1.3 Trường phái lạm phát và giá cả :
Trường phái lạm phát giá cả họ cho rằng lạm phát là sự tăng giá Thực chất lạm phát chỉ là một trong nhiều nguyên nhân của tăng giá Có những thời kỳ giá mà không
có lạm phát như: thời kỳ "cách mạng giá cả" ở thế kỷ XVI ở châu Âu, thời kỳ hưng
Trang 9hiệu dễ thấy của lạm phát nhưng có lúc tăng giá lại trở thành nguyên nhân của lạm phát Lạm phát xảy ra là do tăng nhiều cái chứ không phải chỉ đơn thuần do tăng giá
Vì vậy quan điểm của trường phái này đã lẫn lộn giữa hiện tượng và bản chất, làm cho người ta dễ ngộ nhận giữa tăng giá và lạm phát
1.1.1.4 Trường phái K.Marx:
K.Marx đã cho rằng “lạm phát là sự tràn đầy các kênh, các luồng lưu thông những tờ giấy bạc thừa làm cho giá cả (mức giá) tăng vọt và việc phân phối lại sản phẩm xã hội giữa các giai cấp trong dân cư có lợi cho giai cấp tư sản’’ Ở đây Marx đã đứng trên góc độ giai cấp để nhìn nhận lạm phát, dẫn tới người ta có thể hiểu lạm phát
là do nhà nước do giai cấp tư bản, để bóc lột một lần nữa giai cấp vô sản Quan điểm này có thể xếp vào quan điểm lạm phát "lưu thông tiền tệ" song định nghĩa này hoàn hảo hơn vì nó đề cấp tới bản chất kinh tế - xã hội của lạm phát Tuy nhiên nó có nhược điểm là cho rằng lạm phát chỉ là phạm trù kinh tế của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và chưa nêu được ảnh hưởng của lạm phát trên phạm vi quốc tế
Trên đây là các quan điểm của các trường phái kinh tế học chính Nói chung các quan điểm đều chưa hoàn chỉnh, nhưng đã nêu được một số mặt của hai thuộc tính
cơ bản của lạm phát Bàn về lạm phát là vấn đề rộng và để định nghĩa được nó đòi hỏi phải có sự đầu tư sâu và kỹ càng Chúng ta có thể dễ chấp nhận quan điểm của trường phái giá cả, (ở nước ta và nhiều nước quan niệm này tương đối phổ biến) Sở dĩ như vậy là vì thế kỷ XX là thế kỷ lạm phát, lạm phát hầu như diễn ra ở đại bộ phận các nước mà sự tăng giá lại là tín hiệu nhạy bén, dễ thấy của lạm phát
Như vậy chúng ta sẽ hiểu đơn giản là "lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian” Hay lạm phát là chính sách đặc biệt nhanh
chóng và tối đa nhất trong các hình thức phân phối lại giá trị vật chất xã hội mà giai cấp cầm quyền sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu Nhưng nói chung lạm phát là một hiện tượng của các nền kinh tế thị trường
1.1.2 Đo lường lạm phát:
1.1.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng CPI
CPI được sử dụng một cách phổ biến trong việc đánh giá mức lạm phát CPI đo lường mức giá trung bình của 1 nhóm hàng hoá và dịch vụ cần cho tiêu dùng của các
hộ gia đình trong 1 giai đoạn nhất định Chỉ số CPI được tính bằng cách so sánh giá trị hiện tại và giá trị tại kỳ gốc của rổ hàng hoá đã được chọn theo quy định:
Trang 10 Ưu điểm: Cho phép so sánh sự biến động mức giá tiêu dùng theo thời gian.
Nhược điểm: Không phản ánh được sự thay đổi trong cơ cầu tiêu dùng, đồng
thời cũng không phản ánh được sự thay đổi về chất lượng của hàng hoá dịch vụ
Ở Việt Nam, CPI được tính cho toàn quốc và cho từng địa phương, chỉ số giá bình quân được thông báo hàng tháng, tổ hợp của nhiều tháng và cho cả năm và được công bố cùng chỉ số giá vàng và chỉ số đô la Mỹ
1.1.2.2 Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội
Chỉ số giảm phát GDP là chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước Chỉ số điều chỉnh GDP cho biết một đơn vị GDP điển hình của kỳ nghiên cứu có mức giá bằng bao nhiêu phần trăm so với mức giá của năm cơ sở
Ưu điểm: Phản ánh được sự thay thế giữa các hàng hoá, dịch vụ với nhau.
Nhược điểm: Chỉ phản ánh mức giá của những hàng hoá sản xuất trong nước
(vì GDP chỉ tính sản phẩm trong nước), không phản ánh được sự giảm sút phúc lợi của người tiêu dùng trong trường hợp phải tiêu dùng ít hơn một loại hàng nào đó
1.1.2.3 Chỉ số lạm phát cơ bản
Chỉ số lạm phát cơ bản có cách tính tương tự như chỉ số CPI nhưng loại trừ một
số mặt hàng dễ thay đổi giá như lương thực và năng lượng Hiện nay trên thế giới có nhiều phương pháp đo lường lạm phát cơ bản nhưng có thể cho chúng vào 3 nhóm chính:
được thực hiện bằng cách loại bỏ 1 số mặt hàng khỏi rổ CPI với nguyên tắc loại bỏ
Tỷ lệ lạm phát =
CPI năm hiện tại – CPI năm trước
CPI năm trước
Chỉ số giảm phát GDP = GDP thực tế
GDP danh nghĩa
Trang 11những hàng hoá đặc trưng bởi những cú sốc mạnh (có tính mùa vụ hay liên quan tới cung và giá cả không được hình thành bởi thị trường).
thái quá của giá cả ảnh hưởng tới tỷ lệ lạm phát chung Nhóm mặt hàng bị loại trừ thay đổi theo từng tháng và phụ thuộc vào độ biến động giá cả của hàng hoá đó Các phương pháp thống kê phổ biến nhất bao gồm phương pháp bình quân thu gọn và phương pháp bình quân gia quyền cộng dồn
Nhóm phương pháp hồi quy: Sử dụng mô hình hồi quy trong kinh tế lượng để
đưa các số liệu thực tế của các biến số vào đánh giá lạm phát cơ bản
1.2 Phân loại lạm phát
1.2.1 Lạm phát vừa phải
Còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối Trong thời kì này nền kinh tế hoạt động một cách bình thường, đời sống của người lao động ổn định Sự ổn định đó được biểu hiện: Giá cả tăng chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xảy ra tình trạng mua bán
và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn…Có thể nói đây là mức lạm phát mà nền kinh tế chấp nhận được, những tác động của nó là không đáng kể
đó lạm phát phi mã còn là mối đe doạ đối với sự ổn định của nền kinh tế
1.2.3 Siêu lạm phát :
Với 3 con số một năm xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ rất nhanh, tỷ lệ lạm phát cao Tốc độ và tỷ lệ siêu lạm phát vượt xa lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng nhanh và không ổn định, tiền lương thực tế của người lao động bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng
Trang 12và hoạt động sản xuất kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn, mất phương hướng Tóm lại, siêu lạm phát làm cho đời sống và nền kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng Tuy nhiên siêu lạm phát rất ít xảy ra.
1.3 NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT:
1.3.1 Lạm phát do cầu kéo:
Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng
đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng Biểu hiện rõ nhất của lạm phát cầu kéo là nhu cầu nhập khẩu lương thực trên thị trường thế giới tăng, làm giá xuất khẩu tăng Trong khi
đó, nguồn cung trong nước do tác động của thiên tai, dịch bệnh không thể tăng kịp.Tất
cả các yếu tố nói trên gây ra lạm phát cầu kéo, đẩy giá một số hàng hoá và dịch vụ, nhất là lương thực thực phẩm tăng theo
Nếu có một cú sốc (nhập khẩu chiếm đến 90% GDP) giá nguyên liệu nhập tăng làm tăng giá thị trường về tổng cung (chi phí sản xuất tăng lên) làm cho đường AS dịch chuyển lên trên dẫn đến giá tăng, sản lượng giảm Phổ biến nhất là sự tăng của giá xăng, thép… Giá nguyên liệu, nhiên liệu (đặc biệt là xăng dầu, các sản phẩm hoá dầu, thép và phôi thép…) trên thế giới trong những năm gần đây tăng mạnh Trong điều kiện kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu trong nước
Đồ thị dưới sẽ minh hoạ cho 2 trường hợp trên
Trang 13Hình 1 : Mô hình tổng cung và tổng cầu
Cung tiền tăng (chẳng hạn do NHTW mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do NHTW mua công trái theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát
Lạm phát do dự kiến là tỷ lệ lạm phát hiện tại mà mọi người dự kiến nó sẽ tiếp tục trong tương lai Tỷ lệ này thường được đưa vào các hợp đồng kinh tế, các kế hoạch hay các thoả thuận khác Và chính vì mọi người đều đưa tỷ lệ lạm phát vào các hoạt động của mình nên cuối cùng nó trở thành hiện thực Một ví dụ cụ thể của hiện tượng lạm phát do quán tính là khi nền kinh tế có lạm phát cao, mọi người có xu hướng chỉ giữ lại một lượng tiền mặt tối thiểu để chi tiêu hàng ngày, họ đem tiền đổi lấy các loại tiền mạnh khác, vàng hay các loại hàng hóa để tích trữ giá trị, làm tăng lượng tiền lưu thông trên thị trường, càng làm đồng tiền mất giá và tăng lạm phát
Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác liên quan đến xuất nhập khẩu, do thiên tai…
1.4 HẬU QUẢ CỦA LẠM PHÁT:
P
AD0
y* y0 y1 y y1 y0 y* y
E1AD1
E0
Trang 14Qua thực tế của lạm phát ta thấy rằng hậu quả của nó để lại cho nền kinh tế là rất trầm trọng, nó thể hiện về mọi mặt của nền kinh tế, đặc biệt là một số hậu quả sau:
- Xã hội không thể tính toán hiệu quả hay điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của mình một cách bình thường được do tiền tệ không còn giữ được chức năng thước
đo giá trị hay nói đúng hơn là thước đo này bị co giãn thất thường
- Tiền tệ và thuế là hai công cụ quan trọng nhất để nhà nước điều tiết nền kinh
tế đã bị vô hiệu hoá, vì tiền mất giá nên không ai tin vào đồng tiền nữa, các biểu thuế không thể điều chỉnh kịp với mức độ tăng bất ngờ của lạm phát và do vậy tác dụng điều chỉnh của thuế bị hạn chế, ngay cả trường hợp nhà nước có thể chỉ số hoá luật thuế thích hợp với mức lạm phát, thì tác dụng điều chỉnh của thuế cũng bị hạn chế
- Phân phối lại thu nhập làm cho một số người nắm giữ các hàng hoá có giá cả tăng đột biến giàu lên nhanh chóng và những người có các hàng hoá mà giá cả của chúng không tăng hoặc tăng chậm và người giữ tiền bị nghèo đi
- Kích thích tâm lý đầu cơ tích trữ hàng hoá, bất động sản, vàng bạc gây ra tình trạng khan hiếm hàng hoá không bình thường và lãng phí
- Xuyên tạc, bóp méo các yếu tố của thị trường làm cho các điều kiện của thị trường bị biến dạng Hầu hết các thông tin kinh tế đều thể hiện trên giá cả hàng hoá, giá cả tiền tệ, giá cả lao động một khi những giá cả này tăng hay giảm đột biến và liên tục, thì các yếu tố của thị trường không thể tránh khỏi bị thổi phồng hoặc bóp méo
- Sản xuất phát triển không đều, vốn chạy vào những ngành có lợi nhuận cao
- Ngân sách bội chi ngày càng tăng trong khi các khoản thu ngày càng giảm về mặt giá trị
- Đối với ngân hàng, lạm phát làm cho hoạt động bình thường của ngân hàng bị phá vỡ, ngân hàng không thu hút được các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội
- Đối với tiêu dùng: làm giảm sức mua thực tế của nhân dân về hàng hoá tiêu dùng và buộc nhân dân phải giảm khối lượng về hàng hoá tiêu dùng, đặc biệt là đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng khó khăn Mặt khác lạm phát cũng làm thay đổi nhu cầu tiêu dùng Khi lạm phát gay gắt sẽ gây nên hiện tượng mọi người tìm cách tháo chạy khỏi đồng tiền tức là không muốn giữ và cất giữ đồng tiền mất giá bằng cách họ sẽ tìm mua bất kỳ hàng hoá dù không có nhu cầu để cất trữ, từ đó làm giàu cho những người đầu cơ tích trữ
Trang 15Chính vì các tác hại trên của lạm phát nên việc kiểm soát lạm phát và giữ lạm phát ở mức độ vừa phải đã trở thành một trong những mục tiêu lớn của mọi nền kinh
tế hàng hoá Tuy nhiên, mục tiêu kiềm chế lạm phát không có nghĩa là phải đưa lạm phát ở mức bằng không tức là nền kinh tế không có lạm phát mà phải duy trì mức lạm phát ở một mức độ nào đó phù hợp vơí nền kinh tế bởi vì lạm phát không phải hoàn toàn là tiêu cực, nếu như một quốc gia nào đó có thể duy trì được mức lạm phát vừa phải và kiềm chế, có lợi cho sự phát triển kinh tế thì ở quốc gia đó lạm phát không còn là mối nguy hại cho nền kinh tế nữa mà nó đã trở thành một công cụ đắc lực giúp điều tiết và phát triển kinh
- Tích cực: khi lạm phát xảy ra với một tỷ lệ chấp nhận được thì sẽ có lợi cho nền kinh tế Lãi suất giảm khuyến khích doanh nghiệp gia tăng vốn đầu tư để mở rộng sản xuất Đồng thời cũng khuyến khích tiêu dùng làm cho hàng hóa được bán chạy hơn Do đó, lúc này lạm phát sẽ có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế
Tác động đến lĩnh vực lưu thông:
Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ, tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hóa, làm mất cân đối quan hệ cung cầu trên thị trường Đồng thời do đồng tiền đang bị mất giá nên không ai muốn giữ tiền Tiền nhanh chóng bị đẩy ra kênh lưu thông Do có nhiều người tham gia vào lưu thông nên lĩnh vực này trỏ nên hỗn loạn, tốc độ lưu thông tiền tăng vọt và điều này càng thúc đẩy lạm phát gia tăng
Tác động đến lĩnh vực tiền tệ, tín dụng:
Lạm phát làm cho quan hệ thương mại, tín dụng, ngân hàng bị thu hẹp Lượng tiền gửi vào ngân hàng giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu của người đi vay, cộng với việc giảm sút quá nhanh của đồng tiền, sự điều chỉnh lãi suất tiền gửi không làm an tâm những các nhân, doanh nghiệp đang có lượng tiền nhàn rỗi trong tay Ngân hàng gặp khó khăn trong viêc huy động vốn, hệ thông ngân hàng phải luôn
Trang 16cố gắng duy trì mức lãi suất ổn định Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát Khi tỷ lệ lạm phát cao, muốn lãi suất thực tế ổn định thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng với tỷ lệ lạm phát Trong khi đó, người đi vay là những người có lợi từ
sự mất giá của đồng tiền Do vậy hoạt động của hệ thống ngân hang không còn bình thường nữa, chức năng kinh doanh tiền tệ bị hạn chế
Tác động đến cán cân ngân sách – chính sách tài chính của nhà nước:
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hóa Khi lạm phát xảy ra thì những thông tin trong xã hội bị phả hủy do biến động của giá cả và làm cho thị trường bị rối loạn Khi đó khó cố thể phân biệt được doanh nghiệp làm ăn tốt hay kém Đồng thời làm cho nhà nước thiếu vốn, giảm các nguồn thu Do đó, các khoản chuyển nhượng, trợ cấp, phúc lợi xã hội hay các khoản đầu tư của nhà nước trong các ngành nghề, lĩnh vực đều bị cắt giảm Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiên và nâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện thực hiện
Tác động làm phân phối lại của cải trong xã hội:
Lạm phát có xu hướng phân phối lại của cải từ những người có tài sản với lãi suất danh nghĩa cố định sang tay những người có những khoản nợ với lãi suất danh nghĩa cố định
1.5.2 Lạm phát dự kiến được:
Trong trường hợp lạm phát dự kiến được, ta có thể chủ động ứng phó Tuy nhiên, nó vẫn gây ra những tổn thất nhất định Lạm phát làm thay đổi giá một cách không mong muốn
Khi lạm phát xảy ra, một số doanh nghiệp tăng giá, bên cạnh đó cũng có một
số doanh nghiệp không tăng giá do không muốn phát sinh thêm một số chi phí khi tăng giá Do vậy có một sự chênh lệch giứa các doanh nghiệp tăng giá và các doanh nghiệp không tăng giá Do nền kinh tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giá tương đối nên lạm phát đã dẫn tới tình trạng kém hiệu quả xét trên gốc độ vi mô
Lạm phát còn gây ra sự nhầm lẫn bất tiện Đồng tiền được sử dụng để làm thước đo giá trị Khi có lạm phát, thước đo này bị co giãn Vì thế gây khó khăn cho quá trình ra quyết định của cá nhân, tổ chức
Đồng thời, lạm phát còn làm phát sinh các chi phí như in ấn, phát hành bảng
Trang 17CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY 2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ 1976 ĐẾN NAY 2.1.1 Khái quát tình hình lạm phát từ 1976-1995:
2.1.1.1 Giai đoạn từ 1976 đến 1980:
Là giai đoạn được coi là không có lạm phát theo quan niệm kinh tế chính trị phổ biến trong các nước xã hội chủ nghĩa đương thời và không được phản ánh trong các thống kê chính thức Tuy nhiên, trên thực tế ở Việt Nam khi đó vẫn có lạm phát, thể hiện ở sự khan hiếm hàng hoá, dịch vụ và sự giảm sút của chúng, đồng thời được ghi nhận trong sự diễn biến gia tăng giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng trên thị trường xã hội trên dưới 20% trên một năm và đó là lạm phát của nền kinh tế kém phát triển và đang trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế Vào thời kỳ này khu vực kinh tế nhà nước chiếm khoảng 85 - 87% vốn cố định, 95% lao động lành nghề mà chỉ tạo ra 30 – 37% tổng sản phẩm xã hội Trong khi đó khu vực kinh tế tư nhân chỉ chiếm 13,2% sức lao động xã hội và suốt thời kỳ dài trước năm 1986 bị nhiều sức ép kiềm chế , xong lại sản xuất ra tới 32 – 43% tổng sản phẩm xã hội và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất so với khu vực kinh tế quốc doanh và hợp tác xã
Mặt khác lạm phát ở Việt Nam diễn ra trong suốt nền kinh tế đóng cửa phụ thuộc nhiều vào nguồn viện trợ bên ngoài Trên thực tế, trước năm 1988 không có đầu
tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam Cơ cấu chủ yếu có tính hướng nội, khép kín, thay thế hàng nhập khẩu và không khuyến khích xuất khẩu Cùng với chính sách định hướng phát triển và đầu tư có nhiều bất cập, nên cơ cấu kinh tế Việt Nam bị mất cân đối và không hợp lý nghiêm trọng giữa công nghiệp – nông nghiệp, công nghiệp nặng - công nghiệp nhẹ, nhất là ngành sản xuất hàng tiêu dùng, giữa sản xuất – dịch
vụ Đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hoá, dịch vụ, tăng chi phí sản xuất, thiếu hụt ngân sách triền miên, tăng mức cung tiền không tuân theo quy luật lưu thông tiền tệ, và do đó gây ra lạm phát
Trang 18sau đó có giảm Như vậy mức lạm phát cao và không ổn định Song vấn đề lạm phát
chưa được thừa nhận trong các văn kiện chính thức Vấn đề này chỉ được quy vào xử
lý các khía cạnh giá - lương- tiền, mà lại chủ yếu bằng các giải pháp hành chính, như xem xét và điều chỉnh đơn giản giá cả trong khu vực thị trường có tổ chức những năm 1981,1983,1987,và bù vào giá lương đổi tiền năm 1985…Đây là thời kì xuất hiện siêu lạm phát với 3 chữ số kéo dài suốt 3 năm 1986-1988 và đạt đỉnh cao nhất trong lịch
sử kinh tế hiện đại nước ta suốt nửa thế kỉ nay
2.1.1.3 Giai đoạn từ 1989 đến 1995:
Liên tục từ năm 1988, mọi nỗ lực của chính phủ được tập trung vào kiềm chế, đẩy lùi lạm phát từ mức 3 chữ số xuống còn 1 chữ số Đây là kết quả của quá trình đổi mới và phát triển kinh tế ở Việt Nam Trong khi lạm phát được kéo xuống thì kinh tế vẫn tăng trưởng cao và khá ổn định, bình quân hàng năm tăng 7 – 8%
Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế và lạm phát 1988-1995 (tỷ lệ %)
Mức độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong năm qua có được là nhờ kinh
tế tăng trưởng cao trong khi lạm phát bị đẩy lùi và bị khống chế ở mức hợp lý Điều này trái ngược hẳn với một số quốc gia khi chống lạm phát thường làm kinh tế suy thoái
Trang 19Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 1991-1995 là 8,2% và có khả năng tiếp tục tăng mạnh khi năm 1995 đạt tỷ lệ tăng trưởng 9,5% đã khiến các nhà hoạch định chính sách nghĩ đến việc phải kiềm chế tốc độ tăng trưởng cao quá đáng và
đề ra những giải pháp cấp bách để kiềm chế lạm phát Tuy nhiên từ năm 1996, cụ thể hơn từ 1997, xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó có ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như mức lạm phát của Việt Nam đã liên tục giảm Đáng lưu ý là đã có mầm mống xuất hiện hiện tượng giảm phát thông qua chỉ số giá âm ở một vài tháng trong các năm 1996, 1997 và
1999 Tuy nhiên xét về chung và dài hạn, tuy tốc độ tăng trưởng có giảm sút song nền kinh tế nước ta vẫn chủ yếu ở xu hướng lạm phát với mức độ vừa phải, bình quân 6%/năm kể từ 1995-1999
2.1.3 Khái quát tình hình lạm phát Việt Nam từ năm 2000 đến 2006:
Năm 2000, CPI cả năm đã giảm 0,6% so với năm 1999 Sáu tháng đầu năm
2001 CPI vẫn giảm, CPI tháng 6/2001 giảm 0,3% so với tháng 6/2000 và giảm 0,7% so với tháng 12/2000 Kết quả là đến cuối năm 2001 nhờ nhiều nỗ lực, chúng
ta đã đẩy được tỉ lệ lạm phát lên 0,8%
Tình hình kinh tế năm 2002 có nhiều sự khởi sắc mới, nhờ có sự cố gắng, nỗ lực của các nghành, các cấp, năm 2002 chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế Mặc dù năm 2002 tình hình kinh tế thế giới có nhiều khó khăn, nhưng nước ta vẫn đạt tỉ lệ tăng trưởng kinh tế là 7,04% Tỉ lệ tăng trưởng cao thứ hai trong khu vực Châu Á chỉ sau có Trung Quốc (8%), các chỉ tiêu kinh tế khác chúng ta hầu hết đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra Lạm phát trong năm 2002 là 4%, một tỉ lệ lạm phát chấp nhận được mặc dù cao hơn so với mục tiêu 35 của chúng ta
đã đề ra
Hơn hai tháng đầu năm 2003, tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới có nhiều biến động đã khiến cho tình hình kinh tế thế giới rơi vào tình trạng hầu hết các mặt hàng trên thế giới đều tăng cao, đặc biệt là giá xăng dầu, giá vàng tăng mạnh Theo Tổng cục Thống kê, tính chung cả năm 2004 lạm phát lên đến 9,5% Tính đến hết tháng 12-2005, chỉ số giá tiêu dùng của cả nước đã lên tới 8,4%, vượt xa so với mức 6,5% theo Nghị Quyết của Quốc hội đề ra từ đầu năm, thấp hơn so với mức 9,5% của năm 2004 và cao gấp 3 lần so với mức 3,0 % của năm 2003
Trang 20CPI tháng 12/2006 chỉ tăng 0,5% so với tháng 11, đưa mức tăng chung cả năm lên 6,6%, thấp hơn cả mức NHNN dự kiến và thấp hơn nhiều so với mục tiêu mà Quốc hội đề ra (thấp hơn tốc độ tăng trưởng) Trong tháng 12, ngoài nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng cao, hầu hết các nhóm hàng còn lại đều tăng nhẹ dưới 1%; riêng nhóm hàng bưu chính viễn thông đứng yên và nhóm hàng thuốc uống là giảm 0,1% Như vậy, mục tiêu kiềm chế mức tăng CPI của NHNN năm 2006 đã hoàn thành Mức 6,6% cũng là mức khả quan nhất trong vòng ba năm qua
2.1.4.Tình hình lạm phát Việt Nam giai đoạn 2007 đến 9/2011
2.1.4.1 Giai đoạn từ 2007 đến 2009:
Giai đoạn lạm phát tăng nhanh.
Dấu hiệu lạm phát đã xuất hiện từ tháng 6 năm 2007 khi CPI tháng 6 tăng vọt lên 1%, trái hẳn với thông lệ giá cả hơn một thập kỉ qua Tín hiệu này đã được ghi nhận và
xử lý kịp thời Tuy nhiên do phân tích không đúng nguyên nhân của lạm phát, thêm vào đó việc triển khai thực hiện không nghiêm túc nên mặc dù tăng trưởng kinh tế cả năm 2007 ở mức cao trên 8.5%, song lạm phát cũng ở mức kỷ lục 12.63%
Chỉ sau 6 tháng, Tổng cục thống kê công bố chỉ số CPI đã lên tới 26.8% so với tháng 6 năm 2007 và 18.44% so với cuối năm 2007 Riêng nhóm hàng lương thực thực phẩm tăng tương ứng tới 74.3% và gần 60% Điều này đã phá vỡ mọi dự tính của chúng ta về kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô Càng nghiêm trọng hơn khi Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 60% dân số và lực lượng lao động là nông dân Sự phụ thuộc của nền kinh tế nói chung và của giá cả thị trường nói riêng vào những biến động trong khu vực sản xuất lương thực thực phẩm của nước ta còn rất lớn, mặc dù tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP giảm xuống chỉ còn 20%
Trong những tháng đầu năm vật giá leo thang từng tháng Giá cả tăng liên tục đã đẩy mức lạm phát tháng sau cao hơn tháng trước So với tháng 12 (2007), CPI tháng 1 (2008) tăng 2.4%, sang tháng 2 tăng vọt lên 6%, tháng 3 là 9.2% Đến tháng 4 chỉ số CPI đã lên tới 2 con số (11.6%) và tháng 5 lại tăng đột ngột tới 16% Đỉnh điểm lạm phát đã đến mức 3.91% vào tháng 5 (2008), trùng với thời điểm giá gạo trên thị trường quốc tế ở mức 1000 USD/ tấn, khủng hoảng lương thực đã trở thành mối đe dọa toàn cầu Bên cạnh đó tốc độ tăng trưởng kinh tế bắt đầu suy giảm trong khi tỷ lệ đầu tư vẫn ở mức cao GDP nửa đầu năm chỉ tăng 6.5% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn
Trang 21USD, vàng, gạo, thép, vật liệu xây dựng,…Thâm hụt thương mại tăng vọt (gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu) Thị trường chứng khoán thiết lập đáy mới chỉ bằng khoảng
¼ đỉnh cao nhất là 1173 điểm, đánh mất toàn bộ điểm tích lũy được 3 năm qua Giá vàng có thời điểm lên đến xấp xỉ 20 triệu VND/ lượng, tỷ giá hối đoái trên thị trường
đã từng vượt mốc 19000 VND/ USD…
Nền kinh tế Việt Nam cuối tháng 5 đầu tháng 6 mấp mé bờ vực khủng hoảng với những “bong bóng” khổng lồ chực chờ nổ tung trên thị trường tài chính tiền tệ, thị trường tín dụng ngân hàng, thị trường bất động sản Các tháng 6,7,8 chỉ số CPI đã lên cao chóng mặt lần lượt là 18.4%, 19.8% và 21.7%
Chỉ sau 3 quý đầu năm, CPI đã vượt mức 20%, đạt được mức kỷ lục từ 17 năm qua Điều đó cũng góp phần đẩy nhanh tốc độ mất giá của đồng tiền: sau 3 năm (tính đến tháng 9/2008) đồng tiền đã mất giá 48.5% so với kỳ gốc 2005
Giai đoạn giảm lạm phát.
Sang tháng 10,11,12 liên tiếp 3 tháng giá nhiều loại hàng hóa đã chững lại và giảm xuống CPI cũng giảm, tốc độ tăng trưởng kinh tế tháng âm: -0.19 (tháng 10), -0.76 (tháng 11), -0.66 (tháng 12) Tỷ lệ lạm phát từ 21.9% vào thời điểm tháng 9 chỉ còn 19.89% so với tháng 12 (2007), làm dịu bớt cơn lạm phát của Việt Nam Nguyên nhân
là do những tháng đầu năm giá mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng nhanh, hàng phi lương thực thực phẩm mặc dù chậm nhưng vẫn tăng giá Đến cuối năm, hàng lương thực thực phẩm dường như không tăng nữa và đồ thị là một đường nằm ngang Trong khi đó giá hàng hóa phi lương thực thực phẩm giảm nhanh nên tốc độ tăng giá chung giảm xuống Bên cạnh đó là nhờ những biện pháp kiềm chế lạm phát của chính phủ đã phát huy tác dụng chẳng hạn như Nghị quyết số 10/2008/ NQ- CP ngày 17/4/2008 về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững với 8 nhóm giải pháp…
Chúng ta đã chủ trương đúng khi giảm tốc độ tăng trưởng và tập trung vào chống lạm phát Thành công nhờ hệ thống chống lạm phát bảo đảm tính trọn gói, sát với nguyên nhân Đặc biệt chúng ta có sức mạnh khi tập hợp, huy động cả hệ thống chính trị, cả dân tộc và các doanh nghiệp tham gia chống lạm phát
2.1.4.2 Giai đoạn từ 2010 đến 9/2011: