1.3.2 Thực trạng phát triển DV NHBL tại các NHTM VN Trong những năm gần đây, các ngân hàng VN bắt đầu quan tâm và tậptrung khai thác thị trường bán lẻ như đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ
Trang 1CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm
năm, gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa Sự có mặt của NHTM
trong hầu hết các hoạt động kinh tế, xã hội đã chứng minh rằng “Ở đâu có
một hệ thống ngân hàng thương mại phát triển thì ở đó có sự phát triển cao
của nền kinh tế xã hội và ngược lại” Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về
Trang 2phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước”
Qua các khái niệm trên chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau:
NHTM là một loại hình doanh nghiệp vì nó có cơ cấu, tổ chức bộ máy, cấu
trúc tài chính giống như một doanh nghiệp Bên cạnh đó, hoạt động của
Trang 3NHTM là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Tuynhiên, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt bởi vì:
Lĩnh vực kinh doanh của NH là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ NH Đây làlĩnh vực rất nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành cũngnhư mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội
Chất liệu kinh doanh của NH là tiền tệ - một công cụ được nhà nước sửdụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế và quyết định đến sự phát triển haysuy thoái của nền kinh tế nên được nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ
Nguồn vốn chủ yếu NH sử dụng là vốn từ bên ngoài Tỷ trọng vốnriêng trong tổng nguồn vốn kinh doanh rất thấp
Hoạt động kinh doanh của NH chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sáchtiền tệ của NH trung ương
NHTM là một một trung gian tín dụng, đóng vai trò một tổ chức trunggian huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi biến nguồnvốn đó để cấp tín dụng đáp ứng các nhu cầu vốn cho kinh doanh, đầu tư
và tiêu dùng của nền kinh tế
1.1.2 Phân loại
- Dựa vào hình thức sở hữu có thể phân loại gồm: NHTM quốc doanh,NHTM cổ phần, NHTM liên doanh, NHTM 100% vốn nước ngoài, chi nhánhNHTM nước ngoài tại Việt Nam
- Dựa vào chiến lược kinh doanh có thể phân thành:
• Ngân hàng bán buôn: là ngân hàng tập trung cung cấp một vài sảnphẩm cho khách hàng, tuy số lượng sản phẩm không lớn nhưnggiá trị của từng sản phẩm là rất lớn Khách hàng của ngân hàngchủ yếu là các công ty, xí nghiệp có quy mô lớn, các tập đoànkinh tế, các tổng công ty
• Ngân hàng bán lẻ: ngân hàng loại này chú trọng đến việc đa dạnghóa các sản phẩm Số lượng sản phẩm rất nhiều, rất lớn để đáp
Trang 4ứng được các nhu cầu của nhiều khách hàng Tuy giá trị của từngsản phẩm không lớn nhưng bù lại là một lực lượng khách hàng rấtlớn Hoạt động của ngân hàng này chủ yếu là huy động vốn từmọi thành phần kinh tế, và cho vay để giải quyết vấn đề tiêu dùnghoặc các dự án sản xuất với quy mô nhỏ và vừa.
• Ngân hàng vừa bán buôn, vừa bán lẻ: Là dạng ngân hàng bao gồm
cả hai hoạt động nêu trên Ngân hàng nhắm vào tất cả các dạngkhách hàng từ nhỏ đến lớn
1.1.3 Một số dịch vụ NHTM tiêu biểu
Dịch vụ tiền mặt, thanh toán chuyển khoản, uỷ nhiệm chi, séc, thẻ Dịch vụ tiền gửi, cho vay, bảo lãnh
Dịch vụ chuyển tiền, Bankdraft, tư vấn, uỷ thác, kiều hối
Dịch vụ khấu trừ tự động, uỷ nhiệm chi định kỳ (Standing order)Dịch vụ cho thuê két sắt, bảo hiểm, bất động sản,
Dịch vụ thanh lý tài sản theo di chúc của khách hàng
Dịch vụ thiết lập và thẩm định dự án, môi giới tiền tệ
Dịch vụ ngân hàng trên thị trường chứng khoán
Dịch vụ mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế
1.1.4 Đặc trưng của dịch vụ ngân hàng
Tính vô hình: Khách hàng khi mua dịch vụ tài chính ngân hàng thường
không nhìn thấy hình dạng cụ thể của loại hình dịch vụ nên rất khó đánh giá
và so sánh chất lượng như các hàng hoá hữu hình khác, chỉ có thể cảm nhậnthông qua các tiện ích mà sản phẩm mang lại
Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm diễn ra đồng thời: Chu kỳ của
một sản phẩm chia làm hai giai đoạn: sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Tuynhiên đối với sản phẩm tài chính, chúng được tạo ra khi khách hàng có yêucầu và tiêu thụ ngay
Trang 5Không ổn định về mặt chất lượng và dễ sao chép (cả về tính chất và hình
thức) và do nhiều yếu tố cấu thành: Một sản phẩm dịch vụ tài chính do sự kết
hợp của các yếu tố bên trong (nhân lực, công nghệ ) và bên ngoài (môi
trường, thể chế ) Ngoài ra còn có sự tham gia của các NHTM và các tổ chứcphi tài chính
cá nhân và doanh nghiệp nhỏ
1.2.1.2 Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á
Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á, dịch vụNHBL là dịch vụ cung ứng sản phẩm - dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhânriêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, kháchhàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông quacác phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin
Như vậy, chúng ta có thể hiểu theo cách phổ biến nhất, dịch vụ ngânhàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính chokhách hàng là các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL vô cùng lớn nhưng giá trị từngkhoản giao dịch không cao
Trang 6Sản phẩm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ vừa có sản phẩm thuộc tài sản
nợ vừa có sản phẩm thuộc tài sản có (tài khoản tiết kiệm, tài khoản vãng lai,thanh toán hóa đơn, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, vay tiêu dùng, )
Sự phát triển dịch vụ NH bán lẻ phụ thuộc rất nhiều vào trình độ côngnghệ thông tin của nền kinh tế nói chung và của bản thân mỗi ngân hàng nóiriêng Ngoài ra, một trong những yếu tố thành công của dịch vụ NHBL làkênh phân phối sản phẩm
1.2.3 Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Đối với nền kinh tế: Dịch vụ NHBL trực tiếp làm biến đổi từ nền kinh tế
tiền mặt sang nền kinh tế không dùng tiền mặt, nâng cao hiệu quả quản lý củanhà nước, giảm chi phí xã hội của việc thanh toán và lưu thông tiền mặt Bêncạnh đó, thông qua dịch vụ ngân hàng bán lẻ, quá trình chu chuyển tiền tệđược tăng cường và có hiệu quả hơn, tận dụng và khai thác các tiềm năng vềvốn để góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, nâng cao đờisống của người dân
Đối với ngân hàng: Đa dạng hoá sản phẩm và đem lại nguồn thu ổn định
cho ngân hàng, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, nângcao khả năng cạnh tranh trên thị trường tài chính tiền tệ
Đối với khách hàng: Cung cấp các sản phẩm một cách đa dạng, thuận
tiện và an toàn cho khách hàng
1.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHBL TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM:
Hoạt động NHBL ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động củacác NHTM trên thế giới Các NHBL sẽ đóng vai trò chủ đạo trong danh sách
20 ngân hàng toàn cầu hàng đầu theo xếp hạng của tạp chí The Banker vàonăm 2015
Trong quá trình hội nhập và mở cửa, các NHTM Việt Nam đã và đangphát triển dịch vụ NHBL Đây là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng chung
Trang 7của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới cũng như định hướng pháttriển của ngành ngân hàng Việt Nam.
1.3.1 Xu thế phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam
Việt Nam có dân số hơn 85 triệu người với mức thu nhập ngày càngtăng nhưng số người có tài khoản tại ngân hàng vẫn còn thấp
Bên cạnh đó, môi trường chính trị ổn định, hệ thống pháp luật VN ngàycàng được hoàn thiện, môi trường kinh tế tăng trưởng liên tục và ổn định quanhiều năm cùng với các cơ hội mở ra trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhâpkinh tế quốc tế là điều kiện tốt để các NHTM VN phát triển mảng DV NHBL.Chính vì thế, phát triển dịch vụ NHBL là xu thế tất yếu của các NHTMCPViệt Nam
Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường tài chính đồng nghĩa với việc giatăng áp lực cạnh tranh giữa các NHTM trong nước cũng như giữa các NHTMtrong nước với các ngân hàng nước ngoài Do đó, “Làm thế nào để các
NHTMVN có thể giành chiến thắng ngay trên sân nhà?’ - Một bài toán không
dễ chút nào đối với các ‘chiến binh ngoại’ dày dạn kinh nghiệm và ‘chiếntích’ trong lĩnh vực tài chính nói chung cũng như lĩnh vực kinh doanh NHBLnói riêng
1.3.2 Thực trạng phát triển DV NHBL tại các NHTM VN
Trong những năm gần đây, các ngân hàng VN bắt đầu quan tâm và tậptrung khai thác thị trường bán lẻ như đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ ngânhàng, phát triển các loại hình dịch vụ mới, đa tiện ích và đã được xã hội chấpnhận như máy giao dịch tự động (ATM), internet banking, home banking,mobile banking Thực tế đó đã đánh dấu bước phát triển mới của thị trườngdịch vụ NHBL tại Việt Nam
Có thể nói dịch vụ NHBL của các NHTM Việt Nam đã đạt được một
số thành tựu đáng kể như:
Trang 8Các NHTM Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể về năng lực tàichính, công nghệ, quản trị điều hành, cơ cấu tổ chức và mạng lưới kênh phânphối, hệ thống sản phẩm dịch vụ ngân hàng, góp phần phát triển dịch vụNHBL, đem lại cho khách hàng ngày càng nhiều tiện ích mới và văn minhtrong thanh toán.
Tỷ trọng nguồn vốn huy động từ dân cư tăng lên đáng kể và chiếm 40% tổng vốn huy động Hình thức huy động ngày càng đa dạng và linh hoạthơn như tiết kiệm lãi suất bậc thang, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm rút lãi vàgốc linh hoạt, tiết kiệm kết hợp bảo hiểm
35-Lượng kiều hối chuyển qua các ngân hàng ngày càng tăng (năm 2007đạt khoảng 6,5 tỷ USD), góp phần tạo nguồn ngoại tệ đáng kể cho các ngânhàng và tăng thu nhập từ phí thanh toán
Đến cuối năm 2007, hầu hết các NHTM đã xây dựng phần mềm NHBLdựa trên nền tảng quy trình xử lý nghiệp vụ bằng việc phân chia xử lý nghiệp
vụ thành hai bộ phận: Bộ phận giao dịch tại quầy và bộ phận hỗ trợ xử lýnghiệp vụ Hệ thống này đã tạo ra nhiều giao diện rất tiện ích, tài khoản củakhách hàng được kết nối trên toàn hệ thống, tạo nền tảng mở rộng thanh toánkhông dùng tiền mặt và đưa các sản phẩm dịch vụ NHBL đến tay người tiêudùng
Trong hệ thống NHTMCP, ACB có thể được xem là một điển hình cho
sự thành công về dịch vụ NHBL ở VN với nhiều giải thưởng vinh dự như
“Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ được hài lòng nhất năm 2008”, “Ngân hàng bán lẻxuất sắc nhất Việt Nam”
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, dịch vụ NHBL của các NHTM
VN vẫn còn nhiều bất cập:
Thứ nhất, sản phẩm dịch vụ NH còn mang tính truyền thống, nghèo nàn
về chủng loại, chất lượng dịch vụ thấp, tính tiện ích chưa cao, chưa địnhhướng theo nhu cầu khách hàng Mặt khác, ở các nước phát triển họ có vài ba
Trang 9nghìn sản phẩm khác nhau còn ngân hàng VN được gọi là mạnh lắm thì cũngchỉ có được dăm ba trăm loại Chính vì thế, dịch vụ ngân hàng ở Việt Namcòn nghèo nàn, sơ khai và là ‘mảnh đất hoang’ cho bất cứ ai có công cụ, cóđầu óc và nhanh nhạy đều cơ hội để khai phá.
Thứ hai, tính cạnh tranh chưa cao, chưa có sự liên kết giữa các ngânhàng trong việc phát hành các loại thẻ và khai thác dịch vụ mới dẫn đến lãngphí trong việc đầu tư mua sắm máy móc cũng như chưa tạo sự thuận lợi chokhách hàng
Thứ ba, các NHTM Việt Nam chưa có chiến lược tiếp thị cụ thể tronghoạt động NHBL, thiếu đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp về tiếp thị dịch vụNHBL, tỷ lệ khách hàng cá nhân tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng vẫncòn ở mức khiêm tốn
Bên cạnh đó, kênh phân phối không đa dạng, phương thức giao dịch vàcung cấp các dịch vụ chủ yếu vẫn là giao dịch trực tiếp tại quầy, các kênhphân phối DV hiện đại mới chỉ được cung ứng tại một số ngân hàng, cácphương thức giao dịch từ xa dựa trên nền tảng công nghệ thông tin và điện tửchưa phổ biến Số lượng máy giao dịch tự dộng (ATM) đến nay mới có
khoảng 4300 máy, mạng lưới các đơn vị chấp nhận thẻ còn ít, chủ yếu tậptrung ở các thành phố và đô thị lớn, việc kết nối hệ thống các máy ATM vẫnđang trong giai đoạn thử nghiệm, đo đó đã làm hạn chế khả năng tiếp cận dịch
vụ ngân hàng
Kế đến, nhân sự của ngành ngân hàng hiện nay đang thiếu những nguồnnhân lực có trình độ cao (thiếu cán bộ quản lý cấp cao theo thông lệ quốc tế,thiếu chuyên gia trong lĩnh vực mới như kiểm toán, kiểm soát nội bộ, thiết kếsản phẩm mới hoặc quản trị rủi ro ) Ngoài ra, đối với những loại hình dịch
vụ - sản phẩm mới, gắn bó chặt chẽ với tất cả hoạt động kinh doanh của ngânhàng hiện có nên nó đòi hỏi nhân sự phải có một kiến thức tổng hợp và kinhnghiệm trong lĩnh vực ngân hàng mới có thể thiết kế được
Trang 10Như vậy, với những hạn chế như đã trình bày ở phần trên, chúng ta sẽ đitìm hiểu đâu là những nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại này?
1.3.3 Một số nguyên nhân dẫn đến tồn tại của dịch vụ NHBL VN:
Ba yếu tố chính dẫn đến sự hạn chế của các DV NHBL VN:
Nét đặc thù của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là nhắm tới đối tượng kháchhàng cá nhân, song người dân trong nước chưa biết nhiều về dịch vụ ngânhàng nói chung và dịch vụ NHBL nói riêng; cũng như thói quen sử dụng tiềnmặt của người dân vẫn còn phổ biến
Môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng chưa thực sự phù hợp vớitình hình thực tế Các văn bản pháp quy về hoạt động ngân hàng chủ yếuđược xây dựng trên cơ sở các giao dịch thủ công với nhiều loại giấy tờ và quytrình xử lý nghiệp vụ phức tạp Trong khi đó, phát triển dịch vụ NHBL đòihỏi phải áp dụng công nghệ mới và quy trình nghiệp vụ hiện đại, nhanhchóng Với tốc độ phát triển dịch vụ như hiện nay, nhiều quy định pháp lý đã
tỏ ra bất cập và không bao hàm hết các mặt nghiệp vụ, gây khó khăn cho cácNHTM khi muốn triển khai dịch vụ mới
Về phía các NHTM, các ngân hàng chưa xây dựng được chiến lượcđồng bộ về phát triển dịch vụ NHBL, sản phẩm và dịch vụ NHBL còn đơnđiệu, chưa đáp ứng nhu cầu khách hàng, bộ máy tổ chức chưa xây dựng theođịnh hướng khách hàng, chưa có đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp về nghiệp vụNHBL, mạng lưới kênh cung cấp dịch vụ còn mỏng, nền tảng công nghệ vàkhả năng ứng dụng công nghệ mới còn hạn chế
1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN
LẺ TRÊN THẾ GIỚI:
Dịch vụ tài chính ngân hàng đang chuyển sang một bước chuyển mới,cuộc cách mạng của dịch vụ NHBL Chưa bao giờ trong lịch sử tài chính thếgiới lại chứng kiến một khối lượng lớn cư dân tiếp cận với các sản phẩm dịch
vụ ngân hàng nhiều đến thế Ước tính đến năm 2015, số lượng khách hàng
Trang 11của các ngân hàng sẽ tăng lên gấp đôi, đồng thời tổng tài sản của các ngânhàng cũng tăng lên đáng kể Do đó, để có thể phát triển mảng thị trường tiềmnăng này, các NHTM Việt Nam nên tìm hiểu kinh nghiệm của các ngân hàngbán lẻ trên thế giới Dưới đây là kinh nghiệm của Ngân hàng hồi giáo Dubai
và ngân hàng BNP – Paribas:
1.4.1 Ngân hàng hồi giáo Dubai (DUBAI ISLAMIC BANK: DIB)
Khách hàng luôn luôn là ưu tiên hàng đầu tại DIB Đó là lý do vì sao
bộ phận NHBL của DIB đưa ra một loạt những giải pháp cũng như những sảnphẩm và dịch vụ sinh lợi đáp ứng nhiều nhu cầu khác của những khách hàng,bảo đảm rằng khẩu hiệu ‘hướng tới khách hàng cá nhân’ của NH không chỉđơn thuần là một khẩu hiệu mà nó sẽ trở thành một phần của mỗi giao dịch tạiDIB Với 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng, Ngân hàng Hồi giáoDubai đã kết hợp những tiêu chuẩn đạo đức cao nhất của đạo Hồi với côngnghệ tiên tiến để cung cấp ‘một danh mục sản phẩm tốt nhất trên thế giới’
Với hệ thống ngân hàng hiện đại, mạng lưới rộng lớn và các máy ATMxuyên qua UAE, DIB bảo đảm rằng họ là NHBL duy nhất của khách hàng.Bởi tất cả các dịch vụ của NH đều dựa trên những giải pháp điện tử tổng hợpnhư Internet, điện thoại di động và các giao dịch ngân hàng qua điện
thoại…DIB sẽ giúp các khách hàng tiết kiệm được thời gian, công sức, giảmchi phí đồng thời hỗ trợ tư vấn cho khách hàng
Bên cạnh đó, một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của NH là sựgắn bó của khách hàng với DIB Chính vì thế, nếu khách hàng cần, DIB sẽsẳn sàng tư vấn cho khách hàng suốt những chu trình tài chính khác nhautrong cuộc sống họ, bao gồm lập kế hoạch cho việc học hành, mua xe, muanhà lần đầu tiên, thành lập doanh nghiệp, đi du lịch Như thế, mỗi kháchhàng của DIB có thể tăng gấp đôi lợi thế từ việc linh hoạt lựa chọn những giảipháp và những lợi ích tối ưu do ngân hàng cung cấp để hoàn thành toàn bộnhững nhu cầu tài chính của mình từ thời thơ ấu cho đến khi về hưu
Trang 12Với khẩu hiệu: “Chúng tôi quan tâm, Chúng tôi lắng nghe, và Chúngtôi hành động”, DIB luôn mong đợi sự phản hồi từ phía khách hàng để khôngngừng hoàn thiện, nhằm cung cấp cho khách hàng những tiện ích ngân hàngtốt nhất.
1.4.2 BNP Paribas - Ngân hàng bán lẻ số 1 của Pháp
BNP Paribas là ngân hàng có hoạt động bán lẻ rộng lớn tại Pháp, với 6triệu khách hàng và giữ vị trí dẫn đầu trong những dịch vụ ngân hàng quamạng Internet
Thông qua 2200 chi nhánh bán lẻ khắp quốc gia, BNP Paribas duy trìmối quan của họ với các khách hàng cá nhân, với các tập đoàn chuyên nghiệp
và độc lập Trong năm 2000, sự thắt chặt của việc kinh doanh ngân hàng dựatrên chi phí đã không cản trở BNP Paribas đạt được một sự tăng trưởng doanhthu khoảng 5%, số sản phẩm trung bình được bán/khách hàng tăng trưởng đikèm với một sự gia tăng số lượng các khách hàng cơ sở
BNP Paribas dẫn dắt thị trường Pháp bởi một bề dày kinh nghiệm về thịtrường dịch vụ NHBL và mục tiêu thâu tóm các NH còn non trẻ hơn bằngviệc đề xuất cho họ những sản phẩm đặc biệt đáp ứng những nhu cầu của họ.Trong năm 2000, số lượng tài khoản của các cá nhân tại PNB Paribas lên đến
73000 tài khoản, nợ tồn đọng tăng 2.6% (trong đó vay tiêu dùng tăng 9.4%),tiền gửi tăng 9.1%, quỹ đầu tư bảo hiểm nhân thọ tăng đến 15% và quỹ hỗ trợtăng 11.2% Đối với các doanh nghiệp, thu nhập của ngân hàng từ những giaodịch quốc tế tăng 13%, từ dịch vụ quản lý tiền mặt tăng 10%, 20% trong sốnhững khách hàng tập đoàn muốn đăng ký dịch vụ sử dụng mạng dịch vụ củaBNP hơn 18 tháng Bên cạnh đó, BNP Paribas là ngân hàng Pháp đầu tiênthực hiện một nền tảng Internet toàn quốc Tháng 12/2000, công ty nghiêncứu Forrester xếp hạng BNP là ngân hàng trực tuyến tốt thứ tư ở Châu Âu
Trang 13Để có thể tối đa hóa hiệu quả dịch vụ ngân hàng bán lẻ và đáp ứng nhucầu khách hàng tốt hơn, PNB Paribas đã tái cơ cấu tổ chức gồm có ba nhómcốt lõi.
Nhóm 1: Phân phối và phát triển sản phẩm
(chú trọng liên kết giữa bán hàng và tiếp thị)
Nhóm này tập trung vào doanh số và chiến lược phát triển sản phẩm trên
cơ sở mối quan hệ khách hàng bao gồm nghiên cứu hành vi và mong đợi củakhách hàng, theo dõi thị trường cũng như đối thủ cạnh tranh và tạo ra sảnphẩm mới Doanh số bán sẽ giúp nhóm xác định làm thế nào những sản phẩm
và dịch vụ được bán, từ đó nhóm có thể đề ra những mục tiêu và biện phápthực hiện
Một trong những ưu tiên hàng đầu của nhóm là thường xuyên điều chỉnhcác loại sản phẩm và dịch vụ cho nhiều kênh phân phối khác nhau của ngânhàng, mở rộng cung cấp các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Pháp và thúc đẩy cơhội bán chéo sản phẩm cho các tập đoàn và bộ phận đầu tư khác của ngânhàng
Nhóm 2: Thực hiện nghiệp vụ và chăm sóc khách hàng
(đặc biệt lưu ý dịch vụ hậu mãi)
Nhóm này có 2 nhiệm vụ chính là tổ chức và thực hiện các công việchàng ngày (bộ phận ‘back office’ trong ngân hàng) Mục tiêu của nhóm là xử
lý các giao dịch một cách chuyên môn hóa để đạt chất lượng tốt nhất Nềntảng đặc biệt này được thiết kế cho từng sản phẩm riêng biệt chứ không phụthuôc vào vùng địa lý
Nhóm 3: Phân tích và nghiên cứu chiến lược phát triển
BNP muốn các khách hàng của họ tiếp cận ngân hàng không chỉ qua cácchi nhánh mà còn với các điểm giao dịch khác, cũng như việc cung cấp sảnphẩm của họ không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia
Trang 14Công việc chính của nhóm 3 là đưa ra cách thức thực hiện các dự ántheo đúng chiến lược của ngân hàng Trong quá trình thực hiện, nhóm có 2cách: Một là, trước mắt họ sẽ cung cấp dịch vụ qua mạng lưới các chi nhánh,sau đó họ mới thiết kế và triển khai hệ thống các kênh phân phối khác Ngượclại, họ sẽ tái cơ cấu toàn bộ các kênh phân phối sản phẩm.
Ngoài ra, BNP Paribas đã thực hiện một chương trình đầu tư rất quy mô
để hiện đại hóa mạng chi nhánh của nó Sự lớn mạnh của mạng lưới tiêu thụphối hợp với nhân viên trẻ hơn tạo ra thế mạnh cho họ Với cam kết đảm bảochất lượng dịch vụ, thương hiệu PNB Paribas sẽ ngày càng xứng đáng là
“Ngân hàng bán lẻ hàng đầu của Pháp”
Trang 15CHƯƠNG 2
DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
Tạp chí Stephen Timewell đã nhận định: “Xu hướng ngày nay cho thấyngân hàng nào nắm bắt được cơ hội mở rộng cung cấp dịch vụ NHBL chomột khối lượng lớn dân cư đang đói các dịch vụ tài chính, tại các nước có nềnkinh tế mới nổi sẽ trở thành những gã khổng lồ toàn cầu trong tương lai”.Nắm bắt được xu thế này, SCB đã từng bước thay đổi cơ cấu tổ chức và môhình kinh doanh theo hướng mở rộng mảng bán lẻ Tuy nhiên, dịch vụ bán lẻcủa SCB không định vị rõ nét đặc trưng của SCB so với các NHTMCP kháccũng như chưa có chiến lược hoạt động cụ thể Chính vì thế, để xây dựngchiến lược hoạt động ngân hàng bán lẻ, SCB phải xác định được vị trí tronghoạt động ngân hàng bán lẻ của mình hiện nay đang ở đâu?
2.1 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
Để xác định vị trí trong hoạt động NHBL của SCB, luận văn sẽ tập trungphân tích theo hướng “top – bottom”; tức đi từ phân tích môi trường vĩ môđến phân tích môi trường vi mô rồi đến bản thân nội tại của SCB để từ đógiúp SCB nhận diện các cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu của mìnhtrong hoạt động NHBL
2.1.1 Phân tích môi trường vĩ mô:
Phân tích môi trường vĩ mô sẽ giúp chúng ta xác định được các cơ hội vàthách thức đối với ngành NHBL ở VN Môi trường vĩ mô bao quanh hoạtđộng NH bao gồm bốn yếu tố chính: môi trường chính trị, kinh tế, xã hội vàcông nghệ
Trang 162.1.1.1 Môi trường chính trị
Hệ thống chính trị VN ổn định dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng CộngSản VN Nền kinh tế VN được xác định là nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa gồm nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhànước đóng vai trò chủ đạo
Trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, trước yêu cầu phát triển kinh tế và
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, NHNN đã xây dựng một kế hoạch cụ thể tậptrung vào các nội dung cơ bản như sau:
Hình thành đồng bộ khung pháp lý minh bạch, công bằng nhằm thúcđẩy cạnh tranh và bảo đảm an toàn hệ thống Trọng tâm của nội dungnày là triển khai xây dựng 4 luật về ngân hàng: Luật NHNN, LuậtCác TCTD, Luật Bảo hiểm tiền gửi và Luật Giám sát an toàn hoạtđộng NH theo hướng áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế phùhợp với thực tiễn của Việt Nam và xu hướng phát triển của ngànhNgân hàng trong bối cảnh hội nhập
Từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động của NHNN; nâng cao nănglực xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ của NHNN; tăng cườngnăng lực thanh tra, giám sát của NHNN
Đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động hội nhậpquốc tế về tài chính NH theo lộ trình và bước đi thích hợp với nănglực cạnh tranh của các TCTD và khả năng của NHNN về kiểm soát hệthống
Phát triển hệ thống các TCTD VN theo hướng hiện đại, hoạt động đanăng, đa dạng về sở hữu và loại hình TCTD, có qui mô hoạt động vàtiềm lực tài chính mạnh Đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại các NHTM vàtiến độ hiện đại hóa công nghệ ngân hàng
Tăng cường năng lực tài chính của các TCTD theo hướng tăng vốn tự
có và nâng cao chất lượng tài sản và khả năng sinh lời
Trang 17Như vậy, NHNN củng cố và phát triển hệ thống ngân hàng trong nước,bao gồm cả việc cổ phần hóa các NHTM quốc doanh, cải tạo và phát triển cácNHTMCP theo hướng tăng cường khả năng cạnh tranh, qui mô hoạt động,năng lực tài chính và quản lý, đồng thời giải thể, sáp nhập, hợp nhất hoặc bánlại các NHTMCP yếu kém về hiệu quả kinh doanh và có khả năng gây ra rủi
ro lớn cho hệ thống ngân hàng Các ngân hàng trong nước tự do cạnh tranhvới nhau nhưng dưới sự giám sát của NHNN
2.1.1.2 Môi trường kinh tế
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế và sự hình thành nền kinh tế tri thức đã vàđang mở ra nhiều cơ hội lớn cho VN Song bên cạnh các cơ hội, VN cũngphải đối mặt với nhiều thách thức mà đối với ngành tài chính - tiền tệ tháchthức chính là dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều nhưng cải cách nội địakhông đủ mạnh để hấp thụ
Theo báo cáo của World Bank, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm
2007 đạt 8,5% Đây là năm thứ ba liên tiếp kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăngtrưởng trên 8% Hoạt động kinh doanh tại Việt Nam tiếp tục được cải thiện, tỷ
lệ đầu tư của nền kinh tế đạt 40,4% so với GDP Vốn đầu cam kết đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI) tăng gần gấp đôi (lên 20,3 tỷ USD)
Tính đến cuối năm 2007, vốn hoá thị trường chứng khoán đạt 43% GDP(hai năm trước mới đạt 1,5% GDP) Mức dự trữ ngoại hối đã tăng từ 10 tỷ lên21,6 tỷ USD, tương đương 30,2 % GDP Xuất khẩu (không tính dầu thô) tăng27%, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 48,5 tỷ USD, đạt hơn 68% GDP…Tuy nhiên, tình hình lạm phát tăng cao, cán cân thanh toán thâm hụt, sựtăng trưởng quá nóng của lĩnh vực tín dụng, thị trường chứng khoán cũng nhưthị trường bất động sản tạo ra nguy cơ cho nền kinh tế VN Và khi lạm pháttăng cao, người gửi tiền có xu hướng tìm các kênh đầu tư khác, trong khingười vay tiền sẽ được lợi do lãi suất thực trả thấp Do đó, lạm phát sẽ ảnhhưởng trực tiếp đến hoạt động NHBL vì nó tác động tới hành vi của người gửi
Trang 18tiền và người vay tiền Tính đến tháng 6 năm 2008, lạm phát ở Việt Nam đã là18.44% và ngành ngân hàng được Chính Phủ giao nhiệm vụ ưu tiên hàng đầukìm chế, giảm lạm phát thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thông qua cácbiện pháp như: tăng dự trữ bắt buộc, kìm hãm tăng trưởng tín dụng, tăng lãisuất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn Hoạt động ngân hàng nói chung vàhoạt động NHBL nói riêng của các NHTM VN trong năm 2008 và có thể cảnăm 2009 sẽ gặp khó khăn.
Bảng 2.1 : Tăng trưởng kinh tế khu vực Đông Á - Thái Bình Dương
Thị trường chứng khoán VN trải qua 5 năm hình thành và hoạt động đãphát triển cực nóng trong năm 2006 và chuyển qua giai đoạn trầm lắng, thậmchí là suy thoái trong năm 2007 và 5 tháng đầu năm 2008, làm cho đầu tư vốnqua kênh tiền gửi NH trong điều kiện “lãi suất thực âm” vẫn là một chọn lựachính của người dân Bên cạnh chứng khoán, bất động sản cũng là một lĩnh
Nền kinh tế 2007
2008E 2009E
Nhật Bản2,11,52,0Trung Quốc11,4
9,49,2Hàn Quốc4,9
4,65,0
Trang 19vực khá hấp dẫn Tuy nhiên, giá cả bất động sản của VN đã tăng quá cao sovới mặt bằng chung của thế giới nên khi muốn đầu tư vào lĩnh vực này đòihỏi nhà đầu tư phải có một khối lượng vốn lớn và khả năng chấp nhận rủi rocao Ngoài ra, do ảnh hưởng mạnh của tình hình kinh tế thế giới, giá vàngbiến động thất thường, phức tạp nên đầu tư vào vàng cũng khá rủi ro (giávàng đã có lúc tăng kỷ lục trong 3 tháng đầu năm 2008, gần 2 triệu VND/1chỉ) Chính vì thế, tiền gửi tiết kiệm vẫn sẽ tăng bất kể độ hấp dẫn của đầu tưvào bất động sản hay vàng.
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu kinh tế chính của Việt Nam
Chỉ tiêu 2006 2007 2008E 2009E
Tăng trưởng GDP (%)8,2
8,57,08,5Chỉ số sản xuất công nghiệp (%)17,0
17,116,817,2
Tỷ lệ thất nghiệp (% khu vực thành phố)4,8
4,6
Trang 202.1.1.3 Môi trường văn hoá - xã hội
Bảng 2.3: Tỷ lệ dân số theo độ tuổi
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu dân số Việt Nam theo giới tính và độ tuổi
65-69 60-64 55-59 50-54 45-49 40-44 35-39 30-34 25-29 20-24 15-19 10-14 5-9 0-4
Qua phân tích điều tra, các nhà dân số học đưa ra một số nhận xét sau:Dân số VN tương đối đồng nhất về tính chất theo độ tuổi Từ 18 tuổi trởxuống là trẻ vị thành niên, sống phụ thuộc vào gia đình Từ 19 đến 24 tuổi cóđộc lập một phần về thu nhập nhưng vẫn sống phụ thuộc Từ 25 đến 34 tuổi,người dân bắt đầu cuộc sống tự lập và có thu nhập vừa phải Từ 35 đến 55tuổi, công việc ổn định hơn và có thu nhập cao Trên 55 tuổi là tuổi về hưu,thu nhập giảm xuống nhưng có tích lũy
Độ tuổi
Tỷ lệ dân số theo độ tuổi (%)
Độ tuổi Năm 1999 Năm 2004
Dự báo năm 2009
Dưới 18
47,3039,60
Trang 21VN có cơ cấu dân số trẻ, số người trong độ tuổi lao động ngày càng tăng.
Dự đoán năm 2020, dân số VN sẽ vượt qua Nhật Bản đứng thứ tư châu Á chỉsau Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia Nền kinh tế tiêu thụ sẽ trở thành mộtyếu tố lớn trong tổng quan kinh tế Sự phát triển dân số và sự di dân vào đôthị sẽ đưa nền kinh tế tiêu dùng tại Việt Nam đạt đến những tầm cao mới Dựbáo rằng sẽ xuất hiện một tầng lớp mới có thu nhập cao ở Việt Nam vào năm
2016, chiếm ít nhất 10% trong tổng số dân Tầng lớp này sẽ là lực lượng thúcđẩy sự tăng trưởng các mặt hàng xa xỉ phẩm, từ xe hơi BMW đến các ngôinhà được thiết kế độc đáo và những chiếc đồng hồ sang trọng
Thu nhập bình quân đầu người của VN tăng từ mức 423 USD năm 2001lên 722 USD năm 2006, 835 USD năm 2007, phấn đấu đạt 960 USD vào năm
2008 và khoảng 1.100 USD vào năm 2009
Trình độ dân trí ngày một nâng cao giúp người dân VN có hiểu biết tốthơn về vai trò và hoạt động ngân hàng, làm tăng khả năng đón nhận sản phẩmdịch vụ mới của NH đồng thời nhu cầu về dịch vụ ngân hàng của người dâncũng ngày càng phức tạp hơn Mỗi năm cả nước có hàng triệu sinh viên đạihọc, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, hàng chục ngàn du học sinh sẽ làthị trường tiềm năng để các NHTM phát triển dịch vụ bán lẻ Theo Báo cáophát triển con người năm 2007- 2008 của Liên Hiệp Quốc: VN hiện có chỉ sốphát triển con người HDI là 0,733 - hạng trung bình, tăng 4 bậc từ vị trí 109lên vị trí 105 trong tổng số 177 nước và đặc biệt từ năm 1990 đến nay, chỉ sốphát triển con người của Việt Nam liên tục tăng
Nền kinh tế VN có tốc độ tăng trưởng cao liên tục trong nhiều năm liền(trong 5 năm gần đây luôn đạt 7-8%) không chỉ giúp thu hút vốn đầu tư nướcngoài cả trực tiếp lẫn gián tiếp mà còn cải thiện mức sống người dân Sự pháttriển của đời sống kinh tế xã hội và thu nhập gia tăng cũng dẫn đến nhữngthay đổi trong thói quen tiêu dùng của người dân Một trong những thay đổiđáng chú ý là tỉ lệ tiêu dùng của nguời dân dành cho hoạt động vui chơi giải
Trang 22trí đặc biệt là du lịch có xu hướng tăng lên Chất lượng cuộc sống của ngườidân không ngừng được cải thiện, người tiêu dùng khó tính hơn và có nhu cầucho cuộc sống cao hơn, đặc biệt là nhu cầu bức xúc về nhà ở, và họ sẵn sàngvay để sắm sửa nghĩa là họ đã có tâm lý thoáng hơn trong việc “xài trước, trảsau” Do đó, dịch vụ cho vay tiêu dùng sẽ tiếp tục tăng trưởng trong nhữngnăm tới, nhất là cho vay trung - dài hạn.
Bên cạnh đó, lượng khách quốc tế đến VN không ngừng gia tăng, trong
đó có một phần không nhỏ khách tạm trú dài hạn và làm việc ở VN Đây cũng
là một thị trường tiềm năng để phát triển các hoạt động NHBL, đặc biệt là cácsản phẩm thẻ, tài khoản thanh toán nhưng đồng thời cũng đặt ra những tháchthức lớn về việc phát triển và hoàn thiện sản phẩm – dịch vụ cũng như mạnglưới phân phối cho các NHTM VN
2.1.1.4 Môi trường công nghệ
Theo Báo cáo Diễn đàn kinh tế thế giới về công nghệ thông tin năm2007-2008, công nghệ thông tin VN tăng 9 bậc, từ 82 lên 73/127 nước vớinhiều chỉ số khả quan như: phát triển hạ tầng (đứng thứ 16), giá cước di động(28), ưu tiên của chính phủ (37) Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điểm yếu như: anninh mạng (101), quyền sở hữu trí tuệ (100), chất lượng đào tạo kém (109),gánh nặng do các qui định nhà nước (105), sử dụng Internet trong kinh doanh(101) Và qua thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, mạng viễn thông
ở VN năm 2007 tiếp tục tăng trưởng mạnh, phát triển mới trên 19,5 triệu thuêbao, nâng tổng số điện thoại của cả nước lên 46,94 triệu thuê bao, trong đóthuê bao di động chiếm 75%, đạt mật độ trên 55,5 máy/100 dân Tổng CụcBưu chính Viễn thông cũng đã có kế hoạch đầu tư hàng trăm triệu USD đểphát triển mạng lưới thông tin viễn thông
Điện thoại hữu tuyến, điện thoại di động, máy tính cá nhân tăng trưởngmạnh Sau ngày Việt Nam đã chính thức kết nối vào mạng Internet toàn cầu(19/11/1997) đến năm 2007, VN đã nằm trong tốp đầu thế giới về phát triển
Trang 23và ứng dụng Internet (từ mạng Internet cho đến các mạng cục bộ Intranet,LAN, WAN; từ phương thức có dây cho đến phương thức không dây) Hiệnnay đã có gần 20 triệu dân VN sử dụng internet.
Năm 2007 cũng đánh dấu mốc quan trọng khi VN ứng dụng công nghệthông tin trong các cơ quan nhà nước, ứng dụng công nghệ trực tuyến; gópphần bước đầu hình thành Chính phủ điện tử một cách chuyên nghiệp và có
hệ thống Các sản phẩm điện tử, máy tính và linh kiện của VN tiếp tục là mộttrong các sản phẩm xuất khẩu hàng đầu và đạt giá trị gần trên 3,9 tỷ USD.Đặc biệt, lúc 5 giờ 16 phút (giờ VN) ngày 19.04.2008, tên lửa mang vệtinh VINASAT đã khai hỏa và đã được phóng thành công vào vũ trụ Nhưvậy, sự thành công của Vinasat - 1 là cầu nối truyền thông giữa VN với khuvực, đưa viễn thông VN lên một tầm cao mới; mở rộng dịch vụ viễn thông tớicác xã vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ hiệu quả cho công tác thông tin ngư dânphục vụ kinh tế biển, phòng chống thiên tai, vệ an ninh quốc phòng
Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng: VN đã có Luật giao dịch điện tử,Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “đề án thanh toán không dùng tiền mặtgiai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020” cũng như “đề án hiệnđại hóa NH” của NHNN Song, trình độ cán bộ không theo kịp những yêu cầuphát triển công nghệ đã trở thành một lực cản không nhỏ đối với nhiều ngânhàng khi muốn hiện đại hóa các hoạt động của mình Các ngân hàng vẫn chưa
có một bộ phận chuyên trách nghiên cứu chiến lược công nghệ thông tin, trình
độ thiết kế tổng thể còn yếu, hệ thống ứng dụng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đầu tưthiếu đồng bộ, thiếu định hướng dẫn đến hoạt động kém hiệu quả, nhanhchóng bị lạc hậu sau khi đưa vào hoạt động
Trong số gần 100 NHTM VN và các định chế NH đang hoạt động trênthị trường thì chỉ có khoảng 16 đơn vị đầu tư hệ thống “core banking” trong
đó một số NHTM đã trang bị “core banking” trong gấp rút, và áp vào một quitrình làm việc giống hệt như cũ nên việc mua core banking không mang lại
Trang 24kết quả gì nhiều, ngoại trừ số liệu có thể chính xác hơn, nhanh hơn Tính đếnthời điểm hiện tại, nhiều NHTM đã thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng điện tửnhưng đa phần mới chỉ dừng lại chủ yếu ở mức truy vấn thông tin Mặt khác,
dù hoạt động NHBL đã được phân phối qua nhiều kênh khác nhau: mạng lướichi nhánh, mạng lưới ATM, các trung tâm xử lý, SMS banking, phone
banking, mobile banking, internet banking… nhưng chủ yếu vẫn là thực hiệntrực tiếp tại quầy, chứ các giao dịch từ xa dựa trên nền tảng công nghệ thôngtin và điện tử chưa phổ biến hoặc đang hoạt động ở mức độ thử nghiệm
DV thanh toán thẻ còn hạn chế về phạm vi sử dụng và chưa phát triểnđược sâu rộng trong đại bộ phận dân chúng Số lượng máy ATM ở VN cònquá ít, chỉ 46 máy trên 1 triệu người dân trong khi các nước trong khu vựcnhư Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Malaysia, Thái Lan, Hongkong,Singapore, Nhật tuần tự là 65, 66, 77, 142, 251, 405, 415, 1246 Dù rằng lợiích của việc chia sẻ hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới đã là điều được khẳng định
từ lâu trong cộng đồng ngân hàng, nhưng trên thực tế việc kết nối giữa các
NH trong nước với nhau vẫn triển khai chậm chạp và càng kết nối kém vớicác NH nước ngoài; nhất là hệ thống này vẫn chưa cho phép tự động gửi tiền,kiểm đếm tiền gửi (Thẻ đa năng của NH Đông Á có chức năng gửi tiền nhưngmang nặng tính chất thủ công) Ngoài ra, do thiếu sự phối hợp giữa các
NHTM trong việc lắp đặt và ứng dụng công nghệ thanh toán này vào thực tiễnnên tiện ích của thẻ ATM chưa cao Nhiều ngân hàng chưa triển khai phươngthức thanh toán qua thẻ nên khách hàng muốn sử dụng tiền chỉ có cách duynhất là rút tiền mặt với số lượng đạt tới 70% giao dịch trên máy ATM Tuynhiên, thị trường thẻ tại VN đang dần có xu hướng quốc tế hóa đặc biệt sauchỉ đạo của Thủ tướng về việc tăng thanh toán không dùng tiền mặt Tháng12/2007, hai liên minh thẻ lớn nhất VN là Smartlink và Banknetvn đã chínhthức ký thỏa thuận hợp tác kết nối hệ thống giữa hai bên Dịch vụ thẻ tín dụngquốc tế hay một số dịch vụ thẻ hiện đại khác vẫn chưa được ngân hàng áp
Trang 25dụng rộng rãi DV mua bán trực tuyến khá phổ biến ở các nước tiên tiến trênthế giới nhưng chưa phát triển mạnh ở VN do thói quen của người dân VN làphải nhìn tận mắt mặt hàng định mua và trình độ công nghệ ngân hàng chưacho phép triển khai mạnh mẽ loại hình dịch vụ này.
Theo đánh giá của các chuyên gia và cả người tiêu dùng, DV giao dịch
NH trực tuyến của hệ thống NH VN chưa đạt tiêu chuẩn và chưa theo kịp tốc
độ phát triển của thị trường, cũng như thiếu đầu tư chiều sâu về công nghệnên dễ dẫn đến mất lòng tin ở người tiêu dùng
2.1.2 Môi trường vi mô
Phân tích môi trường vi mô (môi trường ngành) thông qua phân tích cácyếu tố: mức cạnh tranh của ngành, tác động của khách hàng (ở đây là kháchhàng sử dụng dịch vụ và tín dụng, khách hàng tiền gửi); đối thủ tiềm tàng vàsản phẩm thay thế
2.1.2.1 Phân tích khách hàng tiền gửi:
Nguồn vốn chủ yếu để một ngân hàng có thể cho vay và cung cấp cácdịch vụ khác phụ thuộc rất nhiều vào vốn huy động từ các khách hàng gửitiền Chính vì thế, các khách hàng tiền gửi đóng vai trò rất quan trọng đối vớihoạt động của một ngân hàng Do đó, họ là đối tượng khách hàng có khả năngthương lượng cao và dễ dàng chuyển sang các sản phẩm thay thế
Với sự phát triển của thị trường tài chính cũng như trình độ kiến thức vàkinh nghiệm ngày càng cao, các khách hàng tiền gửi sẽ ngày càng lựa chọnnhững sản phẩm có khả năng sinh lời cao hơn sổ tiết kiệm để đầu tư Một sốlĩnh vực mà họ có thể đầu tư ngoài gửi tiền tiết kiệm như: bảo hiểm, chứngkhoán, tự doanh (thành lập doanh nghiệp, mở cửa hàng; sạp, quầy mua bántrong các chợ hay trung tâm thương mại ), đầu tư vào bất động sản, căn hộcao cấp, chung cư cao tầng, mua đất làm trang trại, quyền sử dụng đất trồngrừng, trái phiếu kho bạc, ngoại tệ, vàng …
Trang 26Mức độ tín nhiệm là tiêu chí số 1 trong lựa chọn ngân hàng của cáckhách hàng tiền gửi Do sự sụp đổ của các quỹ tín dụng tư nhân trong lịch sử,lòng tin của các khách hàng cá nhân vào khối NHTMNN cao hơn khối
NHTMCP Tuy nhiên, khối NHTMCP ngày càng chiếm được lòng tin của
KH trong những năm qua bằng kết quả kinh doanh và chất lượng dịch vụ.Các khách hàng tiền gửi ở VN có thói quen dùng tiền mặt, vì thế tiền gửithanh toán chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tiền gửi tiết kiệm; họ gửi tiền chủ yếu đểtích lũy an toàn và hưởng lãi suất, chứ chưa tính đến hiệu quả đầu tư Theothống kê của tổ chức thẻ Visa International cho thấy, lượng cung tiền mặttrong lưu thông ở các nước phát triển chỉ 10 – 25% trong khi ở các nước đangphát triển là 75 – 90% Riêng Việt Nam, theo trưởng đại diện Visa GordonCooper, tiền mặt vẫn là vua với trên 99% chi tiêu tiêu dùng cá nhân
2.1.2.2 Phân tích khách hàng tín dụng và khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng:
Khách hàng tiền vay và khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng là đốitượng ‘tiêu thụ’ các sản phẩm đầu ra của ngân hàng Khách hàng cá nhân sửdụng các dịch vụ ngân hàng có khả năng thương lượng trung bình Những sảnphẩm tiện ích cá nhân mà ngân hàng cung cấp ở VN vẫn còn khá nghèo nàn,chất lượng kém Do đó, người tiêu dùng dễ dàng chuyển đổi sang các sảnphẩm thay thế Chất lượng phục vụ rồi đến giá cả và sự đa dạng hóa sản phẩm
là tiêu chí quan trọng nhất giữ chân các khách hàng này
So với các nhóm khách hàng khác, khách hàng tín dụng hầu như không
có khả năng thương lượng với ngân hàng Do đó, khi cần vay tiền họ sẽ lựachọn ngân hàng nào có chất lượng phục vụ tốt nhất, ít phiền hà và ít tiêu cựcnhất rồi đến sự đa dạng hóa của sản phẩm tín dụng và giá cả Các khách hàng
cá nhân vay tiền nhận biết khá rõ sự khác biệt giữa các sản phẩm (họ thường
so sánh các sản phẩm cùng loại của các ngân hàng khác nhau) Trước đây, cáckhách hàng cá nhân vay tiền ở VN khó có thể chọn lựa sản phẩm thay thế
Trang 27Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, thị trường tín dụng tiêu dùng phát triển khámạnh Bên cạnh ngân hàng đã có thêm các tổ chức tài chính, bảo hiểm haynhững công ty cho cá nhân mua nhà trả góp, mua xe trả góp không qua ngânhàng Tuy nhiên, con số này không đáng kể và đôi khi kiểu kinh doanh nàyvẫn cần có ngân hàng đứng đằng sau hưởng phí dịch vụ.
2.1.2.3 Mức cạnh tranh ngành ngân hàng VN:
Giống như nhiều quốc gia khác ở Châu Á và trên thế giới, hệ thống tàichính tín dụng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam với tổngtài sản có chiếm khoảng 80% GDP, cung cấp 96% tổng số tín dụng chính thứccủa khu vực tài chính
Hệ thống tài chính tín dụng VN được chia thành 2 khu vực cụ thể như:
Mặc dù hệ thống TCTD VN gồm 2 khu vực chính nói trên nhưng thực tếkhu vực ngân hàng chiếm vai trò chủ đạo Tính đến tháng 06/2008, hệ thốngTCTD ở VN gồm có: 4 NHTMQD, 1 NH chính sách xã hội, 1 NH phát triển,
38 NHTMCP, 6 NH liên doanh, 47 chi nhánh NH nước ngoài, 51 văn phòngđại diện Hệ thống QTDND gồm: 23 chi nhánh QTDNDTW, 998 QTD cơ sở,
14 công ty tài chính và 13 công ty cho thuê tài chính Theo thống kê, ViệtNam là nước có nhiều ngân hàng nhất trong khu vực (Singapore chỉ có 4 ngânhàng nội địa, Thái Lan có khoảng 10 còn Trung Quốc gần như không có ngânhàng cổ phần)
Trong bối cảnh hội nhập tài chính vào cuối năm 2008 theo Hiệp địnhThương mại Việt Mỹ và Hiệp ước Basel II (2007), các NH “đua nhau” tăng
Khu vực ngân hàng Khu vực các TCTD phi ngân hàng
NHTMQD
NHTMCP
Trang 28vốn điều lệ và vốn cổ phần nhằm nâng cao uy tín, khẳng định vị thế của mìnhđồng thời mở rộng hoạt động kinh doanh, đa dạng hoá các sản phẩm – dịch
vụ, phát triển mạng lưới tăng cường khả năng tiếp cận khách hàng và giànhthị phần, trong đó tập trung phát triển các dịch vụ tài chính cá nhân
Cách đây khoảng 10 năm, dịch vụ NHBL chủ yếu do các NHTMCP cungcấp Thế nhưng, những năm gần đây, thị trường dịch vụ NHBL đã có sự thamgia tích cực của các NHTMQD So với các NHTMCP, các NHTMQD cónhiều lợi thế hơn do có ưu thế về vốn, khả năng đầu tư phát triển hệ thốngcông nghệ hiện đại, mạng lưới rộng khắp sẵn có và uy tín lâu năm trong hoạtđộng NH, đồng thời đã tạo dựng được một nền tảng KH cơ sở đáng kể Tuynhiên, các NHTMQD vẫn chưa thực sự phát huy hết khả năng nắm bắt vàchiếm lĩnh thị trường một cách nhanh nhạy như các NHTMCP do mảng bánbuôn vẫn đem lại phần lớn nguồn thu cho họ; mảng bán lẻ còn nhiều mới mẻtrong đầu tư về công nghệ, nhân lực, quảng cáo và đòi hỏi phải có một lộ trìnhdịch chuyển hợp lý Thực tế hiện nay, hầu hết các NHTM trong nước đã vàđang cung ứng tương đối đầy đủ các nhóm sản phẩm dịch vụ NHBL như:nhóm sản phẩm tiền gửi (tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm), nhóm sảnphẩm tiền vay (cho vay cán bộ công nhân viên, cho vay thế chấp, cho vaycầm cố, cho vay tín chấp, cho vay tiêu dùng, …), sản phẩm thẻ (thẻ ghi nợquốc tế và nội địa, thẻ tín dụng ), dịch vụ chuyển tiền, các sản phẩm ngânhàng điện tử Thế nhưng, dịch vụ NHBL VN còn nhiều bất cập, nghèo nàn vềchủng loại, chất lượng DV chưa cao, sức cạnh tranh yếu, chưa tạo dựng đượcthương hiệu riêng cho từng DV và chưa có định hướng theo nhu cầu củakhách hàng
Theo kết quả điều tra của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, có45% khách hàng (doanh nghiệp và cá nhân) sẽ chuyển sang vay vốn của ngânhàng nước ngoài; 50% chọn dịch vụ ngân hàng nước ngoài thay thế Ngoài ra,hoạt động NHBL của các NHTM VN đang gặp những thách thức như: huy
Trang 29động vốn chủ yếu ngắn hạn nhưng nhu cầu cho vay lại dài hạn; khả năng tổnthất tín dụng gia tăng do phát triển sản phẩm tín dụng tiêu dùng nhưng không
có Trung tâm Thông tin tín dụng hiệu quả
Mặc dù hoạt động bán lẻ của các NHTM VN còn rất non trẻ nhưngchúng ta vẫn không thể không kể đến thành tựu của các NHTMCP như ACB,Sacombank, Đông Á, Techcombank hay Vietcombank – một NHTMQDmạnh nhất vừa cổ phần hoá trong năm 2007 Do đó, muốn phát triển mảngbán lẻ, trước tiên SCB nên đi sâu phân tích mức độ cạnh tranh giữa các đốithủ của mình căn cứ vào một số tiêu chí cụ thể như sau:
2.1.2.3.1 Quy mô và năng lực tài chính
Quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu của các ngân hàng Việt Nam trongnhững năm qua đã có sự tăng trưởng mạnh giúp các ngân hàng cải thiện đáng
kể năng lực tài chính, song vẫn còn thấp hơn nhiều so với mức trung bìnhtrong khu vực Khối NHTMQD có quy mô vượt trội nhưng tốc độ tăng trưởngchậm hơn so với khối NHTMCP Trong các NHTMCP thì ACB đứng thứ ba
về vốn điều lệ, sau Sacombank ở vị trí thứ nhất, Eximbank ở vị trí thứ hainhưng tổng tài sản của ACB vượt trội so với Sacombank và Eximbank Hệ số
an toàn vốn của các ngân hàng cũng đạt yêu cầu tối thiểu khi đa số các ngânhàng có hệ số CAR > 8%
Bảng 2.4: Quy mô vốn điều lệ, vốn tự có và tổng tài sản của một số
NHTMCP tính đến 30/06/2008
Đơn vị tính: tỉ đồng
STT NGÂN HÀNG VỐN ĐIỀU LỆ VỐN TỰ CÓ
Trang 302.1.2.3.2 Chiến lược Marketing:
Do có sự cạnh tranh mạnh giữa các ngân hàng nên hầu như không có sựkhác biệt đáng kể về phí dịch vụ, lãi suất huy động cũng như cho vay
Hầu hết các NH đều nỗ lực phát triển các SP mới nhằm khai thác các đốitượng khách hàng khác nhau trên thị trường Tuy nhiên, đặc điểm và số lượng
SP hầu như tương tự, chỉ khác biệt chủ yếu ở DV khách hàng Đối với DVkhách hàng cá nhân, VCB rất mạnh về thẻ, chiếm gần 50% thị phần với mạnglưới chấp nhận thẻ ở hầu hết các tỉnh thành, rồi đến EAB Techcombank cũng
nỗ lực đưa ra các SP khác lạ như tín dụng mua nhà trả góp 20 năm Tháng04/2007, Techcombank đã vượt qua gần 70 ứng viên là các tổ chức tài chính,
NH lớn trong khu vực để nhận giải thưởng uy tín về ứng dụng công nghệ doFinancial Insights, một chi nhánh của công ty tư vấn công nghệ IDC trựcthuộc tập đoàn IDG công nhận những thành tựu về ứng dụng công nghệ điđầu trong giải pháp pháp triển thị trường
Tuy nhiên, có thể nói là đối thủ cạnh tranh đáng chú ý nhất hiện nay củaSCB trong lĩnh vực NHBL chính là ACB, Sacombank Hai ngân hàng này
4 ABB 2.300 2.535 15.943 5
SCB 1.970 2.702 32.687 6
EAB 1.600 3.338
Trang 31luôn thể hiện quyết tâm đẩy mạnh hoạt động NHBL, khả năng nghiên cứu vàphát triển các SP khi liên tục đưa ra các sản phẩm mới (tiết kiệm tích lũy, DVgiữ hộ tài liệu quan trọng, cho vay bất động sản cấn trừ lãi suất, chi nhánh 8-3dành cho phái nữ, chi nhánh Hoa Việt… của Sacombank; DV quản lý tiềncho các doanh nghiệp, vay trung dài hạn lãi suất cố định, vay qua mạng, đăng
ký dịch vụ qua mạng, sàn giao dịch vàng và SP vay đầu tư vàng… của ACB).Sacombank được Asia Banking and Finance bình chọn là NHBL của năm
2007 tại VN, Tạp chí Euromoney bình chọn là NH tốt nhất VN 2007 ACBcũng được Tạp chí Euromoney bình chọn là NH tốt nhất VN 2006, Tạp chíThe Asian Banker trao tặng danh hiệu NHBL xuất sắc nhất VN 2006, Tạp chíThe Banker trao tặng danh hiệu NH tốt nhất VN 2005 ACB và EAB là 2ngân hàng nhanh chân nhất trong việc nắm bắt cơ hội từ hai chủ trương lớncủa Nhà nước và của ngành là chủ trương các đối tượng hưởng lương ngânsách phải trả lương qua tài khoản NH và chủ trương tài khoản giao dịch củanhà đầu tư phải chuyển từ công ty chứng khoán về ngân hàng
Trong thời gian qua, phần lớn các ngân hàng ngoại trừ VCB, tận dụng
hầu hết các phương tiện truyền thông để quảng bá thương hiệu của mình.
ACB, Sacombank còn đẩy mạnh hoạt động tiếp thị truyền thông bằng việcxây dựng bộ phận PR và liên tục đưa ra những bài phân tích trên các báo có
uy tín Do việc huy động vốn rất cạnh tranh nên các NH đã tiến hành thườngxuyên các chương trình khuyến mãi với nhiều giải thưởng hấp dẫn nhằm thuhút KH gửi tiền, tuy nhiên, các chương trình rất ít có sự khác biệt
Bảng 2.5: Bảng thống kê hoạt động quảng bá thương hiệu của các NH
VCB ACB Sacombank TCB
Trang 322.1.2.3.3 Mạng lưới phân phối:
Mạng lưới phân phối đang và sẽ là lợi thế cạnh tranh của các NH trongthời gian tới, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ Với hệ thống mạnglưới rộng và hạ tầng cơ sở ổn định sẽ giúp các NH nhanh chóng chiếm lĩnhcho mình một thị phần nhất định Ở VN, khối các NHTMQD có hệ thốngmạng lưới phát triển khá lâu và bao phủ khắp nước Đây chính là lợi thế củakhối so với các NHTMCP Tuy nhiên, các NHTMCP cũng đang nỗ lực mởrộng mạng lưới với tốc độ khá nhanh và có trọng điểm
Bảng 2.6 : Mạng lưới chi nhánh của một số NHTMCP
tính đến 20/08/2008
QC RadioKhôngCó
Có, ít
Có, ítCó
Có, ít
QC InternetCó
CóCóCóCóCó
QC Billboard
Có, ít
Ngân hàng
Số lượngSacombank237
Techcombank140
ACB159
Trang 33Phát triển mạng lưới sẽ làm tăng tổng tích tài sản của một NH thông quagiá trị đầu tư, thương hiệu và cả thị phần NH đó đang nắm giữ tại một địabàn Từ đó, cổ phiếu cũng có giá hơn khi giao dịch trên thị trường, việc liêndoanh liên kết tìm đối tác chiến lược, thậm chí bán cổ phần cho đối tác trong
và ngoài nước sẽ hết sức thuận lợi Tuy nhiên, mở rộng quá khả năng và nănglực quản trị sẽ dẫn đến hoạt động kém hiệu quả, thậm chí mất an toàn
Sacombank cho thấy tham vọng lớn trong việc chiếm lĩnh thị phần quaviệc liên tục thành lập các chi nhánh giao dịch rải đều từ Bắc vào Nam VCB
đã chiếm lĩnh thị trường thông qua hệ thống máy ATM - một kênh phân phốihiệu quả Do tính chất dân số và địa bàn, TPHCM và Hà Nội sẽ là đích nhắmkhai thác đầu tiên của các NH nước ngoài theo chiến lược bán lẻ, các địa bàn
ở các tỉnh thành sẽ là nơi cạnh tranh còn lại của các NH yếu thế hơn
sẽ xảy ra và số lượng các ngân hàng nhỏ sẽ giảm đáng kể
Đối với các tổ chức trong nước: Sau nhiều năm ngừng cấp phép thànhlập NHTM mới, SBV đã ban hành Qui chế cấp giấy phép thành lập và hoạtđộng NHTMCP (07/06/2007) cũng như Qui chế cấp giấy phép thành lập và
Trang 34hoạt động TCTD phi ngân hàng cổ phần (02/11/2007) (ngân hàng mới thànhlập phải có vốn điều lệ tối thiểu 1.000 tỷ đồng và đạt 3.000 tỷ vào năm 2010.Biên độ đối với các nhà đầu tư nước ngoài vẫn hạn chế ở mức 30% Các cổđông chiến lược nước ngoài chỉ được nắm giữ tối đa 20% vốn điều lệ và các
tổ chức này phải có tổng tài sản tối thiểu 20 tỷ USD ) Trong năm 2007, cóhơn 30 hồ sơ xin thành lập NH mới từ các doanh nghiệp lớn như: Tập đoànBảo Việt, tập đoàn Dầu khí, Tổng công ty thương mại Sài Gòn Như vậy, các
NH mới thành lập có một hậu thuẫn khá vững chắc bởi cổ đông họ sẽ lôi kéonhững khách hàng có quan hệ làm ăn hay các doanh nghiệp cùng tập đoàn,cùng ngành về NH do họ tham gia thành lập sẽ khiến các ngân hàng mất đimột lượng lớn KH tiềm năng Mặt khác, các ngân hàng ra sau có lợi thế hơn ởchỗ đã quan sát, nghiên cứu khá kỹ hoạt động ngân hàng Bên cạnh đó, một
số ngân hàng tham gia góp vốn, thậm chí tham gia vào HĐQT của các
NHTMCP mới thành lập (VCB góp vốn thành lập NH Ngoại thương Châu Á,Techcombank góp 10% vốn cổ phần vào NHTMCP Sao Việt, ACB góp vốnthành lập NHTMCP Việt Nam Thương Tín, NH Quốc Tế góp vốn thành lập
NH Tài chính Dầu khí ) Tính đến tháng 06/2008, NHNN đã cấp phép hoạtđộng cho NH Liên Việt (vốn điều lệ 3.300 tỷ đồng) và NH Tiên Phong (vốnđiều lệ 1.000 tỷ đồng) Với sự ra đời các NH mới thì tình hình cạnh tranhnhân sự ngành NH sẽ càng khốc liệt, nhất là nhân sự cấp cao đang trong tìnhtrạng thiếu hụt nghiêm trọng, dẫn đến hệ quả gia tăng chi phí tiền lương, rủi
ro vận hành đối với từng ngân hàng
2.1.2.3.5 Sự đe dọa của sản phẩm thay thế:
SP thay thế chủ yếu trong lĩnh vực huy động vốn đáng kể nhất là thịtrường chứng khoán và bảo hiểm, đặc biệt là các công ty bảo hiểm nướcngoài Cuối năm 2007, Prudential đã đưa ra thị trường sản phẩm bảo hiểmliên kết đầu tư đầu tiên tại VN “PRUlink-Phú-Bảo gia đầu tư”, Tổng công tyBảo hiểm Việt Nam đã được Thủ tướng phê duyệt cổ phần hoá và thành lập
Trang 35Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt hoạt động đa ngành trong lĩnh vựcbảo hiểm phi nhân thọ, nhân thọ, đầu tư, chứng khoán, ngân hàng…, rồi đếntiết kiệm bưu điện và các dịch vụ tài chính liên quan đến bưu điện.
Các DV cho vay cầm đồ, các sản phẩm cho vay với thủ tục rất đơn giản,nhanh chóng của SG Viet Finance hay Prudential Finance đã biến hoạt độngcho vay bán lẻ trở thành một hoạt động bán hàng trả góp đơn thuần Qua đócho thấy nếu các NH không nhanh chóng cải tiến thủ tục cho vay tín chấptheo hướng đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện cho KH chắc chắn sẽ bị bỏlại trong cuộc đua cạnh tranh bán lẻ đặc biệt khi có sự tham gia của các tổchức tài chính phi ngân hàng trong và ngoài nước
2.1.3 Phân tích môi trường bên trong:
Phân tích môi trường bên là đi sâu phân tích thực trạng dịch vụ ngânhàng bán lẻ của SCB về chiến lược, sản phẩm, thương hiệu, cơ cấu tổ chức,nhân sự, tài chính và công nghệ
2.1.3.1 Chiến lược:
SCB xây dựng chiến lược từ tháng 02/2006 với nội dung chính: khôngngừng đẩy mạnh các hoạt động hiệu quả cao trong các năm qua, nhanh chóngtiếp cận kinh nghiệm của các ngân hàng trong và ngoài nước, tạo những bướcphát triển đột phá để phát triển các SP - DV ngân hàng hiện đại trên nguyêntắc kinh doanh đảm bảo an toàn hiệu quả và phát triển bền vững; xây dựng và
mở rộng thị trường; giữ vững và nâng cao chữ uy tín của thương hiệu SCBtrong và ngoài nước, trong đó khẳng định:
Giai đoạn 2006 – 2007: tập trung củng cố cơ cấu tổ chức – hoạt động củatoàn hệ thống; hoàn thiện các qui trình, qui chế; điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn-
sử dụng vốn, đổi mới hệ thống công nghệ thông tin; xây dựng và phát triểnnguồn nhân lực; mở rộng mạng lưới và qui mô hoạt động; đẩy mạnh nhữnghoạt động nghiệp vụ hiện có đồng thời triển khai các loại hình dịch vụ mới,
Trang 36hiện đại để đủ sức cạnh tranh với các đối thủ trong xu thế hội nhập của nềnkinh tế nói chung và ngành NH nói riêng.
Giai đoạn 2008 – 2010: đẩy mạnh phát triển hoạt động cả về số lượng vàchất lượng, nhất là những SP - DV hiện đại; tiếp tục tăng cường năng lực tàichính cho ngân hàng nhằm giữ vững và tăng thị phần trong nước, từng bướcvươn rộng tầm hoạt động ra nước ngoài
Giai đoạn 2011 – 2020: phấn đấu xây dựng SCB trở thành một NH kinhdoanh đa năng với SP – DV đa dạng, chất lượng và hiệu quả cao, đáp ứngnhững tiêu chuẩn của một NH hiện đại
Mặc dù chiến lược này được xây dựng năm 2006 nhưng những địnhhướng của chiến lược còn khá chung chung và chưa đưa ra được các mục tiêu
cụ thể cho hoạt động kinh doanh của SCB
2.1.3.2 Thương hiệu:
Hiện nay, thương hiệu đóng vai trò rất quan trọng quyết định sự thànhcông của một ngân hàng Với tiền thân là NHTMCP Quế Đô hoạt động lỗ lã,
sau 5 năm đổi tên, đổi mới hoạt động và phát triển, với khẩu hiệu “SCB luôn
hướng đến sự hoàn thiện vì khách hàng”, SCB đã khẳng định vị trí của mình
trên thị trường tài chính Việt Nam, thể hiện qua sự tăng trưởng không ngừng
về lợi nhuận hàng năm, chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao cũngnhư định hình rõ nét thương hiệu SCB trong cộng đồng Tính đến quý 2/2008,SCB đã vươn lên đứng hàng thứ 5 về tổng tài sản trong số các NHTMCP trênđịa bàn TP HCM và là ngân hàng đầu tiên có chính sách tặng thêm lãi suấttiền gửi cho người trên 50 tuổi (SCB đã đoạt cúp Vàng sản phẩm uy tín chấtlượng năm 2005 do bạn đọc bình chọn qua mạng Thương hiệu Việt cho sảnphẩm này) Ngoài mục tiêu kinh doanh đạt hiệu quả, SCB cũng rất chú trọngtham gia các hoạt động của cộng đồng, các công tác xã hội và từ thiện vàđược xã hội ghi nhận như là một NH kinh doanh uy tín, hiệu quả, mang đậmnét nhân văn và hướng tới cộng đồng
Trang 372.1.3.3 Sản phẩm:
Mặc dù SCB có riêng Phòng Nghiên cứu phát triển sản phẩm cá nhânnhưng nhiệm vụ chính của phòng còn yếu do nhân lực vừa thiếu, vừa yếu, lạikiêm cả công việc hot line, chăm sóc khách hàng và quản lý website, trang tinnội bộ Do đó, việc nghiên cứu phát triển sản phẩm của SCB còn mang tínhchất tự phát, bị động và chỉ mạnh ở mảng tiền gửi tiết kiệm nên các sản phẩmchưa có tính hệ thống cao mà thường rời rạc và thiếu tính bứt phá, khác biệthóa so với các sản phẩm khác trên thị trường
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp các sản phẩm bán lẻ của SCB
Sản phẩm Phân tích và nhận xét
Nhóm sản phẩm tiết kiệm:
TK thông thường, TK tích luỹ linhhoạt, TK rút gốc từng phần hưởnglãi suất bậc thang, TK nhân văn,
TK hưu trí, TK tích luỹ học tập, TKlạm phát vẫn có lãi, TK lãi suất tựđộng điều chỉnh
Các sản phẩm tiết kiệm của SCB nội bật
ở tính nhân văn và khả năng sinh lờicao, nhưng chưa tạo được sự khác biệt
rõ nét so với các ngân hàng khác Đặctính của các sản phẩm được thiết kế quáphức tạp kiến cho các KH khó hiểu, khótiếp cận Đối tượng KH của SCB chủyếu là các KH từ 50 tuổi trở lên
Trang 38Biểu đồ 2.2: So sánh sự đa dạng hoá sản phẩm của
cho vay cá nhân – một mảng không thể
thiếu nếu muốn phát triển dịch vụ
NHBL
Nhóm các sản phẩm khác
Thẻ, Kiều hối, SMS Banking,
Phone Banking, Internet Banking,
DV chuyển tiền trong – ngoài
nước
Trong giai đoạn cạnh tranh như hiện
nay, đặc biệt với mục tiêu kìm hãm sự
tăng trưởng tín dụng quá nóng của
Chính phủ Việt Nam thì việc đa dạng
hoá các dịch vụ tài chính là một điều
kiện vô cùng cần thiết đối với các NH,
S lưngsảnphẩm
Trang 39Như chúng ta đã biết, qui mô của các NH trong nước lớn lên rất nhanh,khoảng cách giữa các ngân hàng ngày càng thu hẹp, không còn sự phân biệtgiữa các NHTMNN và NHTMCP cùng với sự xuất hiện của các NH 100%vốn nước ngoài sẽ làm tính chất của thị trường thay đổi cơ bản bởi sự phongphú của sản phẩm, sự đa dạng trong cạnh tranh và sự phức tạp của cấu trúckhách hàng Chính vì thể, sản phẩm là một trong những yếu tố quan trọngquyết định đến sự thành công trong chiến lược hoạt động nói chung và chiếnlược phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói riêng Do đó, SCB phải nhanhchóng triển khai một quy trình phát triển sản phẩm chuyên nghiệp hơn trên cơ
sở tiếp tục tận dụng và phát huy điểm mạnh của các sản phẩm tiền gửi, nghiêncứu – phát triển nhiều sản phẩm mới theo đúng định hướng của khách hàng,tránh tình trạng ‘sản phẩm chết’ Đặc biệt, các sản phẩm phải ‘lột tả’ đượcdấu ấn của SCB trong tâm trí khách hàng
2.1.3.4 Cơ cấu tổ chức và nhân sự:
SCB vừa chuyển đổi cơ cấu tổ chức mới tách bạch các khối kinh doanh,
hỗ trợ và quản lý rủi ro từ tháng 02/2007 – một cơ cấu tổ chức khá khoa học,phù hợp với tình hình phát triển trong và ngoài nước Tuy nhiên, cơ cấu tổchức này chỉ mới định hình rõ ở cấp Hội sở mà vẫn chưa được xây dựng ởcấp Sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch cũng như thiếu sự phối hợp nhịpnhàng giữa các bộ phận với nhau
Khối Bán lẻ là một bộ phận của khối kinh doanh gồm 3 phòng: PhòngTín dụng cá nhân, Phòng Dịch vụ khách hàng cá nhân (thực hiện huy độngvốn cá nhân, kiều hối, thu đổi séc du lịch, nhờ thu séc… nhưng không baogồm sản phẩm thẻ ATM) và Phòng Nghiên cứu phát triển sản phẩm cá nhân(nghiên cứu phát triển sản phẩm cá nhân, quản lý website và trang tin nội bộ,hotline ) Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức này chưa được hợp lý lắm khi thiếumảng quan trọng của dịch vụ NHBL là thẻ và chưa theo định hướng củakhách hàng Bên cạnh đó, SCB chưa có đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp về
Trang 40nghiệp vụ NHBL, phải tập trung từ các mảng hoạt động khác của SCB - vốn
dĩ kinh nghiệm, kiến thức về hoạt động NHBL rất hạn chế Điều này dẫn tớitình trạng nhân lực cho hoạt động NHBL của SCB vừa thiếu vừa yếu ngoạitrừ giao dịch viên tiền gửi Nhưng so với một cơ cấu tổ chức NHBL chuyênnghiệp thì chức năng, nhiệm vụ của giao dịch viên tiền gửi hiện nay ở SCBcòn nhiều bất hợp lý do phải kiêm nhiệm các việc lẽ ra của chuyên viên quan
hệ khách hàng cá nhân Do đó các giao dịch viên đang bị khách hàng đánh giá
là chậm chạp Chính vì thế, khi triển khai kế hoạch kinh doanh NHBL, SCBchưa có nguồn nhân sự để triển khai thực hiện, dẫn đến giảm hiệu quả phục
vụ khách hàng, phân tán nguồn lực do không chuyên sâu nghiệp vụ của nhânviên, khiến cho hoạt động NHBL hiện nay chưa đạt hiệu quả cao Thế nhưng,SCB có một đội ngũ cán bộ nhân viên trẻ đầy nhiệt huyết, độ tuổi trung bình
26, trình độ chủ yếu là đại học và đa phần được tuyển từ sinh viên mới tốtnghiệp nên cần phải có thời gian đào tạo
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu cán bộ nhân viên SCB theo trình độ chuyên môn
2.1.3.5.1 Đánh giá tổng quát tình hình hoạt động kinh doanh của SCB:
Tính đến quý 2/2008, qui mô tổng tài sản của SCB đứng hàng thứ 5, dư nợ